History of Eastern Thought

FILM STUDY

WORKSHOP

Film studies Kim Ki Duk

Samaritan Girl – Kim Ki Duk

 

Tuổi thơ lạc lối (Samaria/Samaritan Girl)
Film studies Kim Ki Duk

Seom (The Isle) – Kim Ki-Duk

https://www.youtube.com/watch?v=lH0qPk9fRlA&list=PLG329sd9VFgYp6penOQSBu7a4g6Q-9IFT&index=3

https://www.youtube.com/watch?v=lH0qPk9fRlA

http://www.roeung.com/kim-ki-duk-seom-the-isle-video_b8cd500ce.html

 

Film studies Kim Ki Duk

Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring – Kim Ki Duk

‘Xuân, hạ, thu, đông rồi lại xuân’ – chuyện của 4 mùa

(Nhấn vào nút góc phải phía dưới phim để chỉnh phụ đề. Phụ đề có nhiều thứ tiếng, nhấn đến khi nào thấy tiếng Việt)
 968full-spring-summer-fall-winter...-and-spring-screenshot
Bộ phim của Kim Ki Duk có tham vọng lớn lao cắt nghĩa được bản chất sự sống và cuộc đời thông qua câu chuyện về ba thế hệ nam sư trong một ngôi thủy am.

Bộ phim được chia thành 5 phần, tương ứng với các mùa trên nhan đề: Xuân, Hạ, Thu, Đông rồi lại Xuân. Bối cảnh phim đặt tại nơi thâm sơn cùng cốc, nơi có một cái hồ nhỏ được bao phủ bởi núi rừng, giữa hồ là một ngôi chùa nhỏ. Ở đó có một vị cao tăng và một chú tiểu hằng ngày ăn chay, tụng kinh niệm Phật, vào rừng hái thuốc, sống chan hòa với thiên nhiên.

ssfws-jpg-1366736087_500x0.jpg

Đặt nhân vật của mình trong một bối cảnh mang đầy tính thiện như thế, Kim Ki Duk dường như phá vỡ quan điểm truyền thống vốn có thói quen đổ lỗi cho hoàn cảnh làm tha hóa con người. Ông muốn nhấn mạnh cái ác như một bản chất của con người, một điều không tránh khỏi, cho dù con người ở bất cứ đâu và là bất cứ ai.

Bộ phim bắt đầu vào mùa Xuân, chú tiểu do buồn chán đã lần lượt lấy dây buộc những hòn đá nhỏ vào ba con vật: Cá, Ếch và Rắn. Nhìn những con vật di chuyển chật vật khó khăn, chú cười phá lên vô tư mà không hề biết rằng toàn bộ những hoạt động của mình đều lọt vào tầm mắt nghiêm khắc của sư phụ. Vị sư phụ không can thiệp ngay, đợi cho đến đêm tối bèn buộc đá vào lưng chú tiểu để cho chú hiểu được tội ác của mình đối với mấy con vật. Sư phụ bắt chú phải quay trở lại giải phóng cho Cá, Ếch và Rắn cùng lời đe “Nếu một trong những nhân vật đó chết, con sẽ phải chịu dằn vặt suốt cuộc đời”.

Trong ba con vật đó, Cá và Rắn đã chết. Chú Tiểu bật khóc nức nở. Đó là nước mắt của sự sám hối muộn màng, sự thức tỉnh của lương tâm hay đó là sự sợ hãi trước cái nghiệp mà chú sẽ phải gánh chịu suốt đời vì đã gây ra những cái chết đó? Khán giả không thể biết chắc được. Chưa kịp thấm nhuần bài học về nhân quả, nghiệp báo, mùa xuân của trời đất và của đời người đã qua đi…

Rồi mùa Hạ, mùa Thu và mùa Đông nối tiếp nhau. Chú tiểu dần lớn lên, ngã vào tình yêu, phạm giới luật, bỏ đi, giết người, cuối cùng trở về thành một ông sư… Như thể trải qua mọi hỷ, nộ, ái, ố của cuộc đời, người ta mới đủ sức rũ bỏ được mọi ham muốn của cuộc sống trần tục để quay về với con đường tu hành. “Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc” – những hàng chữ trong Bát nhã tâm kinh mà chú tiểu xưa lấy dao khắc ở chùa, có lẽ đi đến tận cùng cũng được lĩnh hội.

Spring, Summer, Fall, Winter and Spring cũng đầy ám ảnh về lẽ nhân quả, báo ứng ở đời. Chú tiểu xưa từng đeo đá hại chết những con vật vô tội về sau phải trải qua bao nhiêu sóng gió, khổ đau như một cách trả nợ. Gần cuối phim, chú tiểu, giờ đã trở thành một người đàn ông trung tuổi (do chính đạo diễn Kim Ki Duk diễn xuất), vai mang đá nặng, tay cầm tượng Phật trèo lên núi cao như một cách để sám hối, chuộc tội. Đây cũng là một hình ảnh biểu tượng cho việc con người luôn phải trả giá cho những nghiệp báo được tạo ra từ những lỗi lầm trong quá khứ.

1184702809493-jpg-1366736087_500x0.jpg

Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring sẽ là một phim hay nếu dừng lại ở đây, khi câu chuyện chấm dứt ở thế hệ sư nam thứ hai biết quay đầu là bờ, phục thiện. Nhưng bộ phim đã trở nên đặc biệt xuất sắc, xuất chúng khi có thêm một phần nữa “và mùa Xuân”, tạo thành một vòng tròn khép kín với phần đầu, thể hiện sự tuần hoàn của tạo hóa.

Vẫn lại có một vị sư già và một chú tiểu nhỏ sống êm đềm bên nhau. Chú tiểu vì nhàm chán lại tìm cách hành hạ các con vật để mua vui, lần này tăng mức độ độc ác lên bằng cách nhét sỏi vào miệng cá, ếch và rắn.

Nếu cứ chăm chú quan sát thì chẳng cuộc đời nào giống cuộc đời nào, nhưng nếu từ cao và xa nhìn xuống thì sẽ thấy mọi thứ chẳng qua chỉ là sự lặp đi lặp lại, đời này qua đời khác, chẳng có gì thay đổi. Con người vẫn lặp đi lặp lại những lỗi lầm cũ và phải trả giá đắt cho những hành động của mình.

Giống như hầu hết những bộ phim khác của Kim Ki Duk; SpringSummer, Fall, Winter… and Spring sử dụng rất ít lời thoại. Hai phần cuối của phim là mùa Đông và mùa Xuân gần như vắng bóng hoàn toàn âm thanh, tiếng nói của con người. Đạo diễn Kim Ki Duk diễn giải một cách xuất sắc cho sự lựa chọn có chủ ý của mình: “Tôi không cố ý giảm lời thoại trong phim, mà đơn giản tôi nghĩ, im lặng cũng là thoại”.

Phần hình ảnh đóng một vai trò quan trọng trong việc thể hiện chủ đề phim. Xuyên suốt bộ phim là hình ảnh cánh cửa mở ra khép vào như một hình thức giới thiệu các mùa. Cảnh mây trời vẩn đục che lấp mặt trời khi chú tiểu dứt áo ra đi đuổi theo tình yêu đầu đời như dự báo về một tương lai nhiều sóng gió. Những đường kim mũi chỉ vội vã của người sư phụ khi đọc được mẩu tin về người chồng giết vợ cho thấy người sư già đã nhận ra người học trò nhỏ của mình và biết rằng cậu sẽ quay trở về.

[Caption]

Hình ảnh con thuyền chở hai người cảnh sát và chú tiểu sang bờ bên kia chợt khựng lại, không đi nữa thể hiện sự vương vấn, nặng lòng của người sư thầy đối với học trò của mình. Bộ phim hầu như không có cảnh quay thừa và mỗi cảnh quay đều được gửi gắm dụng ý riêng của đạo diễn. Rõ ràng cảnh quay trong phim giàu tính ẩn dụ, thậm chí còn diễn đạt hùng hồn hơn cả lời nói.

Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring còn khiến khán giả say mê vì những khung cảnh thiên nhiên đẹp như tranh vẽ. Đó là khu hồ vào mùa Xuân với làn nước trong veo và cây cối bừng bừng sức sống, mùa Hạ với những cơn mưa bất chợt, sóng lăn tăn mặt hồ, mùa Thu với lá phong đỏ rực, mùa Đông với băng tuyết phủ trắng xóa. Cảnh ngôi chùa nhỏ xinh, rêu phong cổ kính tọa lạc giữa mặt hồ bao quanh là rừng cây đặc biệt thơ mộng. Cảnh người đàn ông tóc điểm bạc lặng lẽ đi một mình giữa băng giá gây ám ảnh mạnh mẽ.

Bộ phim để lại một cảm giác đặc biệt pha trộn giữa nặng nề và nhẹ nhõm. Cảm giác nặng nề bởi vì phim gợi nên quá nhiều trăn trở về cuộc sống, tình yêu, cám dỗ, sự sa ngã và cứu rỗi cũng như quy luật nhân quả. Tuy nhiên cảm giác nhẹ nhõm thanh bình cũng sẽ đến với khán giả, vì sau tất cả mọi chuyện, hình ảnh cuối phim vẫn là Tượng Phật ung dung dưới nắng trời, từ trên cao nhìn xuống toàn bộ khu hồ và thế giới loài người. Từ điểm nhìn ấy, khán giả sẽ cảm thấy mọi lo lắng, phiền muộn của mình đều phù phiếm nhỏ bé, chẳng có gì đáng kể.

Đạo diễn Kim Ki Duk từng chia sẻ: “Phim tôi không có lời đáp, mà luôn đưa ra những câu hỏi”. Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring sẽ không cầm tay chỉ lối khán giả đến bất kỳ một con đường, một quan điểm sống nào. Bộ phim chỉ đặt ra những vấn đề giàu tính khơi gợi, khiến khán giả muốn dừng lại ngẫm ngợi về cuộc đời để từ đó tìm ra câu trả lời của riêng mình và sống sâu sắc hơn.

Anh Trâm

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/diem-phim/xuan-ha-thu-dong-roi-lai-xuan-chuyen-cua-4-mua-2662319.html

Akira Kurosawa Film studies

Akira Kurosawa và điện ảnh Nhật Bản 100 năm qua

Nói đến điện ảnh cùng lịch sử không phải quá lâu đời của nó hẳn người ta sẽ nhớ đến châu Âu – cái nôi của điện ảnh và Hollywood đầu tiên.

Nhưng có 1 cái tên đến từ châu Á mà khi nhắc đến ta cũng phải khâm phục về số lượng và chất lượng của các tác phẩm – không hề kém cạnh các quốc gia khác và là bậc đàn anh ở châu Á: Nhật Bản.

Năm 2008, dựa vào đánh giá từ 1825 nhà phê bình và đạo diễn phim nổi tiếng trên khắp thế giới, danh sách 1000 phim xuất sắc nhất của nhân loại của trang theyshootpictures.com đã cho thấy được vị thế của nền điện ảnh Nhật Bản ở châu Á.

Châu Á – vốn là vùng trũng về điện ảnh cũng đã có tận 79 cái tên, trong đó đến 41 phim của Nhật. Ngoài ra còn có Ấn Độ 9 phim; Đài Loan và Iran mỗi nước 7 phim; 1 phim hợp tác giữa Trung Quốc – Đài Loan – Mỹ; 1 phim hợp tác giữa Trung Quốc – Hong Kong; Trung Quốc và Hong Kong mỗi nước có 6 phim riêng và Hàn Quốc 1 phim.

Cũng trong danh sách top 100 đạo diễn xuất sắc nhất có 7 gương mặt tiêu biểu đại diện cho châu Á – và 3 cái tên Nhật đó là:

“Hoàng đế” Akira Kurosawa với 11 phim:

09. The Seven Samurai (1954)
19. Rashomon (1950)
81. Ikiru (1952)
121. Ran (1985)
227. Throne of Blood (1957)
310. High and Low (1963)
363. Yojimbo (1961)
451. Dersu Uzala (1975)
547. Kagemusha (1980)
650. The Hidden Fortress (1958)
703. Red Beard (1965)

Thiền sư Ozu Yasujiro

10. Tokyo Story (1953)
190. Late Spring (1949)
396. An Autumn Afternoon (1962)
429. I Was Born, But … (1932)
754. Early Summer (1951)
808. Early Autumn (1961)
916. Late Autumn (1960)

Và cái tên tài năng không kém Kenji Mizoguchi

54. Ugetsu monogatari (1953)
88. Sansho the Bailiff (1954)
228. The Story of the Late Chrysanthemums (1939)
258. The Life of Oharu (1952)
617.Princess Yang Kwei Fei (1955)
655. The 47 Ronin (1941)
850. Utamaro and His Five Women (1946)
905. Shin heike monogatari (1955)
969. Chikamatsu monogatari (1954)
999. My Love Has Been Burning (1949)

Nói thêm về điện ảnh Nhật Bản, từ trước đến giờ ko phải phổ biến ở châu Á nói chung cũng như ở VN nói chung.
Vì cao ngạo? Không thèm PR? Tiền bản quyền đắt?…
Cho dù vì lí do gì đi nữa ta cũng có thể nhận thấy điều đó 1 cách dễ dàng trên sóng các đài truyền hình khi hàng loạt những phim Hàn, Tàu,…rẻ tiền và dễ dãi tấn công từ nhà này sang nhà khác.

Gần đây văn hóa Nhật nói chung và điện ảnh nói riêng cũng đã phần nào có 1 vị trí nhất định ở VN, chủ yếu là thông qua các phim điện ảnh và dài tập dành cho tuổi trẻ (có thể vào club phim Nhật để tham khảo thêm) hay đặc biệt như anime/manga.
Nhưng chắc chắn nó chỉ như phần nổi của tảng băng chìm. Chỉ tìm hiểu và thỏa mãn đến đấy mà không tiếp tục đào sâu thì thật quá phí phạm.

Chúng ta cùng đến với “vị hoàng đế”, đạo diễn, nhà sản xuất và biên kịch xuất chúng của điện ảnh Nhật Bản Akira Kurosawa – cũng là người tớ khâm phục nhất trong 3 người. Ông sinh ngày 23 tháng 3 năm 1910 tại Ota, Tokyo trong 1 gia đình khá giả và mất năm 1988. Gia đình ông vốn có dòng dõi Samurai, điều đó phần nào có ảnh hưởng đến phong cách và chủ đề của Kurosawa trong đó phải kể tới những tác phẩm kinh điển về Samurai – khi mà nhắc đến ông là người ta nghĩ ngay đến The Seven Samurai (1954) – 1 tuyệt tác xuất sắc nhất của ông và cũng được thừa nhận là có ảnh hưởng cực lớn ở Nhật cũng như trên thế giới. Đối với những người quan tâm đến chủ đề này hẳn không thể không quan tâm tới những tác gia lớn như Kurosawa hay Yoji Yamada (với bộ 3 kinh điển Twilight Samurai (2004), Hidden Blade (2005) và Love and Honor (2006)).

Năm 1941, Kurosawa bắt đầu sự nghiệp bằng vị trí biên kịch và rồi trợ lí đạo diễn. Hai năm sau ông bắt tay vào làm những bộ phim đầu tiên nhưng hầu như không gây được tiếng vang hay triển vọng nào. Những nhà phê bình thuở đó hẳn sẽ không tưởng tượng ra được sau này sự nghiệp của ông sẽ còn vĩ đại thế nào.

Chính Kurosawa cũng thừa nhận mình chịu nhiều ảnh hưởng của Shakespeare và văn học Liên Xô cũ như Ran dựa theo King Lear, Throne of Blood theo MacBeth, The Bad sleep Well dựa trên Hamlet hay các tác gia Dostoevsky, Leo Tolstoy. Dù cho chịu nhiều ảnh hưởng của phương Tây nhưng những tác phẩm của Kurosawa vẫn in đậm chất Nhật Bản.

Quay lại với sự nghiệp của Kurosawa thì Rashomon là tác phẩm đình đám đầu tiên của ông. Nhưng khi nó ra đời thì không hề nhận được sự ủng hộ của các nhà phê bình cũng như khán giả. Rashomon thất bại thảm hại về mặt doanh thu và tên tuổi của Kurosawa giảm sút tệ hại. Bộ phim lúc đó đã bị vứt vào kho cho bụi mốc meo.
Nhưng có 1 phái đoàn gì đấy (quên tên) về phim ảnh của Ý đến Nhật Bản và yêu cầu được xem 2 bộ phim hay nhất và dở nhất năm đó. Phim dở nhất người ta đã mang ra Rashomon. Thật bất ngờ là họ lại có ấn tượng mạnh về bộ phim này và mang nó đến liên hoan phim Venice năm 1951. Ở đó Rashomon đã gây được tiếng vang lớn và làm thay đổi hoàn toàn cách nhìn nhận về điện ảnh châu Á của giới phương Tây. Cũng cùng năm đó, Rashomon được giải Oscar cho phim nước ngoài hay nhất.
(Giải Oscar đầu tiên cho phim Nhật). Thật mỉa mai khi trước đó nó còn bị người Nhật quay lưng và vứt xó nay lại mang đến cách nhìn khác của thế giới – tôn trọng hơn – với nền điện ảnh và các đạo diễn của Nhật lúc đó.

Không chỉ là 1 đạo diễn tài năng, Kurosawa còn tự tay chỉnh sửa cho các bộ phim của mình và hơn thế, ông là người phát minh ra nhiều kĩ thuật quay phim mới lạ và độc đáo vào lúc đó và hẳn hiện nay chúng ta ko xa lạ gì. Có thể lấy Rashomon làm ví dụ.

Đầu tiên là 1 kĩ thuật mà nay đã tuyệt chủng đó là dùng máy quay từ xa kết hợp với ống kính tele để làm khung hình trở nên phẳng hơn, ngoài ra theo ông nó cũng làm cho diễn viên nhập tâm diễn hơn khi ko bị ảnh hưởng bởi người khác.
Một kĩ thuật khác cũng ko xa lạ gì bây giờ đó là Multi-cam: Kurosawa dùng 3 máy quay ở 3 cự li xa, trung bình và gần – dùng các góc quay rộng và di chuyển nhanh để tạo ra sự quyết liệt và gay cấn của các cảnh hành động.

Hẳn ở đây ai cũng đã xem Cloverfield – 1 bộ phim được quay từ góc nhìn người thứ nhất, máy quay chính là đôi mắt nhân vật và các khung hình rung lên theo từng hơi thở, từng nhịp bước.Ý tưởng đó thực ra đã được Kurosawa sử dụng lần đầu tiên trong Rashomon.

1 thủ pháo độc đáo nữa của ông đó là cách kể hồi tưởng qua lời kể của các nhân vật, thậm chí là hồi tưởng chồng bên trong một hồi tưởng khác. Các nhân vật kể cùng một câu chuyện nhưng lại kể khác nhau, theo quan điểm và mục đích của mình, do đó làm cho khán giả lẫn lộn không biết chuyện nào là thật. 1 ví dụ tiêu biểu nhất của sự ảnh hưởng này đó là bộ phim Vantage Point (2008) khi chúng ta lần lượt đi qua cùng 1 sự kiện bởi 8 hồi ức, 8 thế giới quan của 8 con người khác nhau.

Một đặc điểm khác trong phim của Kurosawa là việc sử dụng các yếu tố thời tiết để nhấn mạnh tâm trạng nhân vật, ví dụ như mưa nặng hạt trong cảnh đầu phim Rashomon và trận chiến cuối cùng trong Seven Samurai, cái nóng dữ dội trong Stray Dog, gió lạnh trong Yojimbo, tuyết trong Ikiru và sương mù trong Throne of Blood.

Vì sao ông lại có biệt danh là “Hoàng đế” – vì sự cầu toàn đáng ngạc nhiên của Kurosawa. Ông ko ngại bỏ thời gian, tiền bạc, công sức để đạt được hiệu quả cao nhất về hình ảnh như mong muốn.

Trong Rashomon, Akira thậm chí còn dùng mực Tàu nhuộm nước mưa để tạo hiệu quả mưa nặng hạt, cảnh phim này cũng tiêu tốn tất cả lượng nước dự trữ xung quanh. Còn trong phim Throne of Blood, ở cảnh kết phim khi nhân vật do Mifune đóng bị trúng tên, Kurosawa đã dùng những mũi tên thật được những xạ thủ chuyên nghiệp bắn ở tầm gần và chỉ cách người của Mifune có vài phân. Còn trong phim Ran, cả một toà lâu đài đã được xây dựng ở sườn núi Phú Sĩ chỉ để sau đó bị đốt cháy trong cảnh cao trào của phim.

Tính cầu toàn của Kurosawa còn được thể hiện qua cách ông xử lý phục trang cho nhân vật: ông cảm thấy rằng một bộ phục trang mới sẽ làm nhân vật của mình trông không thật, vì vậy Akira thường giao trang phục cho diễn viên vài tuần trước khi quay và yêu cầu những người này mặc hàng ngày để làm những bộ trang phục này trông vừa vặn hơn với họ.

Thành công của Rashomon là tiền đề để Kurosawa tiếp tục cho ra đời các tác phẩm xuất sắc tiếp theo như The Idiot, Ikiru, The Hidden Fortress,… và nhất là The Seven Samurai.
Có thể nói thập niên 50 là thời kì đỉnh cao của điện ảnh Nhật Bản với những tác phẩm kinh điển như Seven Samurai và Rashomon của Kurosawa, Tokyo Story của Ozu Yasujiro,… Tí nữa quên, Rashomon là bộ phim đã mang lại cho Nhật giải Oscar đầu tiên cho phim nước ngoài hay nhất (1951).

Seven Samurai vốn đã nhận được quá nhiều mĩ từ như kiệt tác/kinh điển…cũng như được coi là nền móng và tiền đề cho thể loại phim hành động hiện đại.
1 kĩ thuật mà Kurosawa sử dụng trong phim này và đã được Matrix cải biến và thay đổi chút ít để sau này trở thành 1 trong những kĩ thuật chủ đạo đó chính là Slow Motion – ở những cảnh quay chậm khi các đối thủ bị giết.

Đây cũng là bộ phim có doanh thu cao nhất ở Nhật trong vòng 100 năm qua (500.000 $ vào thời điểm đó) – 1 sự kết hợp hoàn hảo giữa thương mại và nghệ thuật mà ta hiếm có thể thấy.
Seven Samurai cũng có rất nhiều ảnh hưởng trong các tác phẩm điện ảnh đương đại của thế giới.

Câu chuyện xảy ra ở nước Nhật vào đầu thế kỷ 1586, giai đoạn mà nạn đói hành hoành, giặc giã nổi lên khắp nơi bởi thiên tai và sự bóc lột của tầng lớp phong kiến thống trị. Bị đe dọa liên miên bởi một băng cướp gồm 40 tên, một ngôi làng tổ chức cuộc họp toàn thể để quyết định xem nên chống lại hay phục tùng. Khi ấy lúa đang chín và mọi nông dân đều hiểu rằng bọn cướp sẽ tấn công khi họ hoàn tất việc thu hoạch mùa màng. Khi trưởng làng tuyên bố sẽ đánh trả bọn cướp, một vấn đề lại nảy sinh: Tìm đâu ra võ sĩ đạo để giúp đỡ dân làng?

Đó quả là bài toán hóc búa bởi vì ở thời ấy, võ sĩ đạo phục vụ tầng lớp thượng lưu. Chỉ những võ sĩ đạo không có chủ mới chịu giúp đỡ tầng lớp lao động, nhưng lại đòi tiền công rất cao và hay dùng tài năng để quyến rũ các thôn nữ. Trưởng làng chỉ đạo đám chức sắc thuê những “võ sĩ đói ăn” ở thành phố. Mặc dù vậy, chiến dịch tìm kiếm của họ vẫn thất bại. Tất cả những người được mời đều đòi có một khoản tiền công ngoài 3 bữa cơm mỗi ngày – một điều kiện vượt quá khả năng của làng.

May mắn thay, trong lúc tuyệt vọng thì họ gặp Kambei Shimada (Takashi Shimura), một chiến binh già nhưng cực kỳ khôn ngoan. Đồng ý giúp đỡ dân làng, Kambei đi khắp thành phố để thuyết phục 5 võ sĩ đạo tự do khác cùng chiến đấu với ông. Sau đó họ kết nạp thêm Kikuchiyu, một võ sĩ đạo giả danh thích tìm kiếm cảm giác mạnh.

Họ sẽ cùng dân làng chống lại lũ giặc đó như thế nào?

Sau Seven Samurai, Kurosawa tiếp tục làm 2 bộ phim lớn và rồi kế đó là 1 thất bại với Dodesukaden – bộ phim màu đầu tiên của ông. Thập niên 70-80 sau chiến tranh là 1 nước Nhật phát triển về kinh tế và xã hội như vũ bão. Trong giai đoạn này những thể loại phim như Yakuza, Pinku eiga (phim khiêu dâm loại nhẹ), Kaiju (đề tài về quái vật mà tiêu biểu là series về Godzilla) phát triển mạnh mẽ…Chính vì thế Dodesukaden – một tác phẩm về những người nghèo khổ sống ở bãi rác hoàn toàn không phù hợp chút nào với hình ảnh một nước Nhật cường quốc mà người ta đang ra sức thổi phồng, thậm chí dưới mắt một số người, bức tranh ảm đạm mà tác giả đã vẽ nên là một phản ánh tiêu cực và “phản động”. Quá sốc trước điều này ông đã tự tử nhưng không thành.
Nhưng chính từ đó ông bước sang 1 hướng đi mới…

Những bộ phim nổi tiếng và đoạt nhiều giải thưởng như Dersu Uzala, Kagemusha (Bóng người chiến sĩ) và Ran (Thời hỗn mang) đều có sự giúp sức của bạn bè và các hãng phim nước ngoài, như Mosfilm tạo điều kiện thuận lợi để Kurosawa thực hiện Dersa Uzala, Kagemusha được sự giúp sức của hãng 20th Century và các đạo diễn lừng danh như Francis Coppola, George Lucas, Steven Spielberg…

Kiệt tác Kaghemusha được thực hiện trong sự gian truân. Kịch bản được Kurosawa đưa đến hãng Toho, nhưng cứ bị trả đi rồi lấy về trong suốt 4 năm trời, bởi nếu thực hiện theo đúng ý đồ của Kurosawa thì chi phí của phim sẽ là một kỷ lục. Trong lúc chờ đợi câu trả lời của các hãng phim trong nước, Kurosawa bắt đầu thực hiện bộ phim của mình bẳng những hình vẽ. Và khi Toho trả lời rằng không thể thực hiện vì chi phí quá lớn thì ông đã vẽ được 250 cảnh (khoảng nửa bộ phim). Qua các hình vẽ, các chuyên viên trong đoàn phim sẽ hiểu rõ hơn công việc, như Kurosawa nói: “Để giải thích với các trợ lý, diễn viên, một hình vẽ tốt còn rõ ràng hơn một bài diễn văn dài”. Nguyên tắc này cũng được Kurosawa tích cực áp dụng cho bộ phim Ran.Khi công chiếu lần đầu, Kagemusha không hề thành công, thậm chí có người bỏ ra khỏi phòng chiếu, chỉ đến khi nó đoạt giải Cành cọ Vàng, người ta mới ùn ùn kéo đến, và Kagemusha trở thành một trong những bộ phim có doanh thu cao nhất Nhật Bản.

Trong thập niên 1990 Kurosawa làm thêm 3 bộ phim nữa là Dreams, Rhapsody in August và Madadayo.
Ông cũng được giải Oscar thành tựu trọn đời.
Năm 1988, Kurosawa qua đời sau một cơn đột quỵ ở Tokyo vào tuổi 88.
Cả Nhật Bản và thế giới sẽ còn nhớ mãi tài năng của Kurosawa – 1 trong những đạo diễn bậc thầy…

https://anhtunguyenphotography.wordpress.com/2013/07/14/akira-kurosawa/

Film studies Yasujirō Ozu

Tokyo Story – Tuyệt tác phim gia đình của Ozu Yasujiro

Sự vĩ đại của Tokyo Story nằm ở tính giản dị nhưng vẫn mang ý nghĩa rất sâu sắc, vượt qua mọi không gian và thời gian

Khi nhắc đến Ozu Yasujiro, người ta thường nhớ ngay đến kiệt tác phim đen trắng Tokyo Story (1953). Đây không chỉ là phim xuất sắc nhất trong sự nghiệp của ông mà còn được xem là báu vật của điện ảnh thế giới.

Câu chuyện gia đình vượt thời gian

Tokyo Story kể câu chuyện của một cặp vợ chồng già ở tuổi gần đất xa trời lên thủ đô Tokyo, Nhật Bản, để thăm hai đứa con thành đạt. Người con trai cả làm bác sĩ, người con gái chủ một tiệm làm tóc. Cả hai đều đã lập gia đình và có cuộc sống khá ổn định. Nhưng đôi vợ chồng già hụt hẫng khi các con tiếp đón cha mẹ một cách nhạt nhẽo và tính toán. Người duy nhất ở Tokyo đối xử chân thành và tình cảm với hai ông bà, lại là cô con dâu, vợ của người con trai thứ đã qua đời.

phimgiadinh1

Tokyo Story kể về hành trình đến Tokyo thăm con cháu của một đôi vợ chồng già

Tokyo Story không hề có xung đột, không có kẻ xấu… chỉ có những người tốt làm cho nhau đau đớn. Bộ phim khiến khán giả phải “dán mắt” vào màn hình bởi chuyện phim giống như một lát cắt trần trụi của cuộc đời. Nó gần gũi đến mức dường như chúng ta vừa mới nghe thấy ở đâu đó hay là câu chuyện đã hoặc đang xảy ra trong gia đình mình.

Phong cách Ozu Yasujiro

phimgiadinh3

phimgiadinh4

Tokyo Story là phim thứ ba nằm trong trilogy (bộ ba) phim về gia đình của đạo diễn Ozu (hai phim kia là Late Spring và Early Summer). Cả ba đều nói về đề tài quan hệ trong gia đình giữa bố mẹ với con cái, giữa anh chị em và giữa vợ với chồng. Tokyo Story có cốt truyện giản dị và nhịp độ chậm rãi theo đúng phong cách đặc trưng của Ozu. Trong phim đạo diễn hầu như chỉ đặt máy cố định và không chuyển động với các góc quay thấp theo đúng tầm nhìn của người Nhật khi ngồi quỳ trên nệm tatami. Thoại của phim cũng giản dị, đời thường và không bao giờ bị cắt ngang giữa chừng. Đây cũng là bộ phim có thời lượng dài nhất (137 phút) và “buồn da diết nhất” (theo lời Ozu) trong sự nghiệp điện ảnh của ông. Phim đã ba lần đứng trong danh sách bình chọn mười năm một lần 10 phim hay nhất mọi thời đại của tạp chí Sight & Sound (1992, 2002 và 2012). Tạp chí Time cũng tôn vinh Tokyo Story vào danh sách 100 phim hay nhất mọi thời đại.

Nữ diễn viên đặc biệt

phimgiadinh5
Trong cả bộ ba phim về gia đình của đạo diễn Ozu đều xuất hiện những diễn viên được yêu thích của ông như Ryu Chishu, Hara Setsuko hay Sugimura Haruko. Đặc biệt, cô đào Hara Setsuko đóng vai chính trong cả ba phim với tên nhân vật là Noriko (dù nội dung không liên quan với nhau), nên bộ ba phim này còn được gọi là Noriko Trilogy.

BÁ VŨ

http://thegioivanhoa.sunflower.vn/gia_tai_van_hoa/phim-xua/41761001/tokyo-story-tuyet-tac-phim-gia-dinh-cua-ozu-yasujiro/