Browsing Category

Thinking

Phật giáo Thinking Việt Nam học

Tạp chí Heritage của Vietnam Airlines có “làm nhục trái tim người Myanmar”?

Tà áo dài trên bìa Tạp chí Heritage của Vietnam Airlines gây tranh luận.
Tà áo dài trên bìa Tạp chí Heritage của Vietnam Airlines gây tranh luận.

Sự việc diễn ra từ ngày 18-11, một nickname có tên Venerable Nayaka đăng tải trên trang facebook cá nhân của mình sự bức xúc về trang bìa tạp chí tạp chí Heritage.

“Gửi các hãng hàng không Việt Nam, các nhà thiết kế và những người mẫu. Người Myanmar chúng tôi thực sự rất khó chịu về bức ảnh này. Shwedagon là nơi tôn giáo linh thiêng của chúng tôi và các phật tử, và có những di tích cần được tôn trọng.

Các bạn làm ơn chấm dứt ngay việc cư xử thiếu tôn trọng xúc phạm tới văn hóa và tín ngưỡng của người khác. Làm ơn đừng dùng bức ảnh về Shwedagon để in lên áo dài cho  phụ nữ mặc. Các bạn thực sự làm nhục trái tim người Miến Điện.

Các bạn có thể nhìn cách chúng tôi tôn trọng tôn giáo ở mọi nơi. Chúng tôi không thể cho phép mọi người, những người mặc quần áo ngắn để lên chùa, thậm chí là người địa phương hay du khách.

Còn bây giờ, những cô gái Việt Nam các bạn lại mặc trang phục áo dài truyền thống có hình chùa Vàng. Thật là lố lăng. Những người Miến Điện chúng tôi luôn tôn trọng mọi người Việt Nam khi chúng tôi gặp ở mọi nơi nhưng các bạn thì lại không.

Làm kinh doanh hay thương mại thì phải rất nhạy cảm để thu hút sự chú ý của mọi người. Bởi vậy, nhân danh người Miến Điện, tôi thực sự rất khó chịu và sẽ báo cáo với đại sứ Việt Nam tại Yangon cũng như báo cáo lãnh sự quán của chúng tôi tại Việt Nam và các đại lý của hãng hàng không của Vietnam Airlines ở Yangon.

Làm ơn hãy hành động ngay để chấm dứt việc này. Thực sự thấy xấu hổ cho việc tiếp thị của hãng. Tôi không thể nói lên lời nào nữa”.

Cùng với những lời chỉ trích trên, Venerable Nayaka đăng kèm 9 hình ảnh bìa tạp chí Heritage Fashion và một số trang bên trong có hình người mẫu Việt Nam mặc áo dài có hình chùa Vàng.

Theo thông tin ghi trên tạp chí, thì bộ trang phục trên, do người mẫu Hồng Quế mặc, được thiết kế bởi Thái Tuấn, chụp tại Mù Cang Chải, Yên Bái. Tạp chí được phát hành tháng 11-2015.

Cộng đồng mạng chia sẻ thông tin này. Đến ngày 20-11, có gần 2.200 lượt chia sẻ thông tin của Venerable Nayaka.

Như Tuổi Trẻ đã đưa tin, ngày 20-11, Ban biên tập tạp chí Heritage đã có thư ngỏ gửi các cơ quan truyền thông, giải thích về sự việc, thừa nhận “việc chọn lựa hình ảnh chùa tháp trên áo dài truyền thống đã làm cho một bộ phận độc giả không hài lòng và có những phản ứng trái chiều không tích cực trên trang facebook của một số cá nhân”.

Đồng thời Ban biên tập Heritage cũng “nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc sử dụng các hình ảnh mang tính biểu tượng tôn giáo”.

Chùa Shwedagon ở Yangon (Myanmar) có lịch sử 2.500 năm, được coi là ngôi chùa linh thiêng nhất Myanmar. Tại đây còn lưu giữ những báu vật thiêng liêng đối với các tín đồ Phật giáo.

V.V.TUÂN

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20151120/tap-chi-heritage-cua-vietnam-airlines-co-lam-nhuc-trai-tim-nguoi-myanmar/1006372.html
Dear Vietnamese Airlines ,
designers and models.
We Myanmar people really got upset for this photo.
Shwedagon is Holy place of a religion and Buddha hair ,robes,and other relics were enshrined ..
Plz avoid the disrespectful behavior which insult other people’s culture and beliefs..
Plz don’t use the pictures of Shwedagon
Pagoda for women wearing.
is that your inflight magazine?????
You guys really fuck to all our burmese people heart.
U can see how we respect on religious in everywhere
We can’t allow everyone who wears short skirts and pants to climb up to the pagoda even u r local or tourist
Now your vietnamese girl wear pagoda as your traditional dress.
it’s very ridiculous
We burmese respect each and everyone of vietnamese when we meet everywhere but you guys are not.
Doing business or marketing is very sensitive to attract people.
So I really upset on behalf of Burmese and will report to your vietnam embassy in Yangon as well as report our embassy in Vietnam more over your airline office in Yangon.
please do some action in urgent for this matter.
Really shameful for your company marketing
Speechless
Venerable Nayaka

Đại diện Ban biên tập tạp chí Heritage cho biết bộ sưu tập áo dài mang tên gọi “Nét đẹp Á Đông” được đăng trang bìa và trong nội dung trên số Heritage Fashion tháng 11-2015 là do Lụa Thái Tuấn thiết kế, với tình cảm trân trọng tà áo dài Việt Nam cũng như trân trọng những danh lam thắng cảnh của châu Á nói chung.

Hình ảnh chùa tháp trên áo dài truyền thống cũng là cách giới thiệu đặc trưng tín ngưỡng văn hóa Phật Giáo của các vùng đất Châu Á.

Ý thức được sự khác biệt trong văn hoá thể hiện qua những góp ý này, ban biên tập tạp chí thu hồi tất cả ấn bản Heritage Fashion số tháng 11-2015, đồng thời gửi thông điệp xin lỗi tới các độc giả đã quan tâm góp ý.

Theo đó, Ban biên tập Tạp chí Heritage nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc sử dụng các hình ảnh mang tính biểu tượng tôn giáo. Tạp chí Heritage khẳng định “luôn đặt sự kính ngưỡng và tôn trọng tất cả thánh tích thờ tự của các tôn giáo cũng như những tín ngưỡng tâm linh và văn hóa của mỗi quốc gia trên thế giới trong tôn chỉ hoạt động”.

Trong khi đó, việc các nhà thiết kế trang phục (không riêng gì áo dài) lấy cảm hứng và đưa hình ảnh các công kiến trúc nổi tiếng, di sản văn hóa thế giới lên mẫu thiết kế của mình không phải là chuyện lạ.

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20151120/in-hinh-ao-dai-phan-cam-vietnam-airlines-thu-hoi-tap-chi-heritage/1006330.html

Thinking

Về con người cô đơn trong tiểu thuyết “Rừng Nauy” của Haruki Murakami

15:04 | 28/04/2009
NGUYỄN VĂN THUẤN          (Nhóm nghiên cứu – lý luận phê bình trẻ)
Thời gian gần đây, tại Việt , các tác phẩm của nhà văn Nhật Bản H.Murakami thường xuyên được dịch và xuất bản. Là một giọng nói hấp dẫn trên văn đàn thế giới, sáng tác của ông thu hút đông đảo công chúng và dành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình. Một trong những tiểu thuyết làm nên danh tiếng của ông là Rừng Nauy.
Về con người cô đơn trong tiểu thuyết “Rừng Nauy” của Haruki Murakami

Đây là một best – seller, nhưng thời gian đã chứng tỏ nó là cuốn tiểu thuyết tuyệt vời về tình yêu, về nỗi cô đơn của con người hiện đại. Qua tiểu thuyết này, H.Murakami đã khẳng định tài năng của mình trước công chúng yêu văn chương trên thế giới.

Không xuất hiện những bonsai, chiếu tatami, trà đạo, vũ nữ… nhưng Rừng Nauy vẫn thoáng hiện ra ở đâu đó nỗi buồn và cái đẹp mà người ta vẫn thường bắt gặp trong truyện Genji của thế kỷ XI hay trong tác phẩm của Kawabata. Đó là nỗi buồn ẩn hiện thông qua những bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, vắng lặng; là những ám ảnh về sự cô đơn, về sự sống, cái chết trong cuộc đời dằng dặc, vô định và phù phiếm, là khúc bi ca sầu tư và hài hước về đời sống tình dục, là những khoảnh khắc hiện sinh ngắn ngủi thấm đượm triết lý về những gì bất biến vẫn tồn tại trong cuộc đời con người. Nói cách khác, nỗi buồn bi cảm ấy thoát thai từ sự cô đơn trống vắng khi con người muốn đi tìm ý nghĩa đích thực của cuộc sống, tình yêu, tình dục và cái chết.

Cô đơn là bản chất của con người, vì như một nhân vật trong tiểu thuyết Rừng Nauy đã tuyên bố thẳng thắn: “Bản ngã và tha nhân là cách biệt”. Cá nhân là riêng tư, cá thể, không trộn lẫn với ai và không có phiên bản khác. Mỗi cá nhân là một tiểu vũ trụ bí ẩn. Không ai hoàn toàn hiểu nó, và bản thân nó cũng không thể hiểu được người khác dù luôn có ý thức muốn được hiểu và hiểu được người khác. Nhu cầuhiểu và được hiểu này thể hiện qua nhu cầu giao tiếp, tự thể hiện, nhu cầu nhập cuộc với xã hội để trưởng thành, để tồn tại. Nhưng trong quá trình nhập cuộc, dấn thân, con người luôn phải trượt từ môi trường đang là sang môi trường sẽ là, từ môi trường quen thuộc sang môi trường xa lạ để tương thông với tha nhân, để tìm thấy hơi ấm của bầy đàn, để hóa giải sự cô đơn, cô độc. Hành trình đó có sự chi phối của bản năng vô thức vì theo E.Fromm, con người luôn hoài nhớ một cách vô thức thời kì bào thai của mình, thời kì nó nằm trong Thiên đường bụng mẹ, nay không còn nữa, nó phải tìm đến tình bạn, tình yêu, tình dục nhằm thấy lại sự thanh bình, ấm áp và an toàn đã mất. Nhưng không bao giờ nó tìm lại được, bởi theo Octavio Paz, tình yêu và tình dục đều mang bản chất thời gian. Nó là giây, phút, giờ, ngày, tháng, năm. Có khởi đầu và có kết thúc. Hơn nữa, tất cả chúng ta đều phải đối diện với cái chết. Trước nó, con người ý thức đầy đủ về sự phù phiếm của vật chất, danh vọng, sự ngắn ngủi của khoảnh khắc yêu đương và sự cô đơn như là thứ tội tổ tông không ngừng đeo bám con người.

Nhân vật trong Rừng Nauy đi tìm giá trị của bản thân mình, tự xác lập nhân vị của mình giữa biển người mênh mông, giữa những đô thành rộng lớn: Tokio, Kioto… Họ vẫn nói chuyện, yêu đương, chung đụng, sẻ chia và thông cảm cho nhau. Nhưng tất cả đều rất cô đơn. Họ cô đơn trong không- thời gian văn hóa Nhật Bản hậu hiện đại với sự phân mảnh cực đoan, họ cô đơn trong ý thức về cái tôi cá nhân độc đáo của mình, họ cô đơn trong khát vọng về một tình yêu vĩnh viễn và sự hài hòa tuyệt đối giữa tinh thần và thể xác, họ cô đơn ngay giữa lúc chung đụng với kẻ khác, ngay trong lúc tiếng kêu cực cảm thốt lên giữa vòng tay ôm chặt mà thân xác lạnh lẽo như băng.

Trong tiểu thuyết Rừng Nauy, có hai loại không gian chính: không gian nhà nghỉ Ami và không gian bên ngoài nhà nghỉ Ami. Hai kiểu không gian đó cũng chính là biểu tượng cho hai phần của Nhật Bản: truyền thống và hiện đại. Nhật Bản hiện đại đã Âu – Mỹ hóa với ê chề vật chất, tự do quá trớn, dục tình buông thả lấn át một Nhật Bản truyền thống: tôn trọng các giá trị đạo đức, danh dự và lối sống cộng đồng. Giữa hai phần truyền thống và hiện đại ấy đã không có sự tương thông, giao cảm để tạo lập sự hài hòa. Ranh giới của nó là sự ngăn cách của những ám ảnh cạm bẫy, chết chóc, là sự cách ngăn giữa quá khứ và hiện tại. Con người sinh tồn trong những mảng không gian đó luôn mang cảm giác cô đơn. H.Murakami đã thổi vào không – thời gian cảm giác nhàm chán vì sự thiếu vắng lí tưởng, thiếu vắng những mục đích sống chân chính khiến cho sự cô đơn như vón cục lại. Nhân vật cô đơn trong thời gian, trong những khoảnh khắc tuyệt vọng khi người yêu tự sát, bạn bè rời xa: “Tôi không có ai để chào buổi sáng hoặc chúc một ngày tốt lành”. Trong cô đơn, vô vọng và tột cùng đau khổ, họ căm ghét ngày mai sắp đến. Đối với họ, hiện tại ngưng đọng, nhàm chán còn tương lai chỉ là đón chờ việc cái đẹp đang biến đi và thế vào đó là sự dung tục, là nỗi buồn: “Này Kizuki, tôi nghĩ cậu chẳng lỡ làng cái quái gì đâu. Thế giới này là một bãi cứt. Lũ khốn kia đang được điểm tốt và sẽ tạo ra một xã hội theo hình ảnh ghê tởm của chính chúng”. Các nhân vật của Murakami đã đưa quá khứ lên bệ thờ. Vì vậy, họ thấy hiện tại như cái gì đó quái dị. Bởi thế, quá khứ trong Rừng Nauy trùm lên hiện tại, ám ảnh hiện tại, khống chế hiện tại. Nhân vật sống với quá khứ, chịu đựng hiện tại  hi vọng trong một tương lai bấp bênh, vô định.

Theo E.Fromm, con người muốn thoát khỏi cô đơn không còn cách nào khác là phải hợp nhất với người khác. Và con đường hữu hiệu nhất là tình yêu. Với E.Fromm “Tình yêu là một quyền năng chủ động trong con người; quyền năng chọc thủng những bức tường ngăn cách người với người, hợp nhất mình với kẻ khác, tình yêu khiến mình vượt qua được ý vị cô lập và li cách nhưng nó cho phép mình là mình, giữ lại sự toàn vẹn của mình”. Triết gia hiện sinh Kierkegaard cũng đã viết: “Nơi nào có tình yêu, nơi đó hết cô đơn”. Trong Rừng Nauy, chủ đề tình yêu đan bện chặt chẽ với chủ đề về sự cô đơn, cô độc của con người. Đồng thời, với Murakami, tình yêu không hề chỉ là một ý niệm kiểu Platon mà nó gắn bó chặt chẽ với khao khát hòa hợp thể xác và tâm hồn. Như S.Freud đã khẳng định: gốc rễ của mọi hành vi con người là lòng ham muốn tính dục, là sự giải phóng dục năng. Cho nên, có thể nói trong tình yêu, tình dục là biểu hiện cao nhất của cảm xúc yêu thương. Vì vậy, chúng ta mới hiểu vì sao Kizuki đã lựa chọn cái chết. Đối với nhân vật này, chỉ khi có sự hòa hợp thân xác với Naoko thì tình yêu của họ mới đích thực đạt đến trạng thái hài hòa, mới đi đến tuyệt đỉnh của hạnh phúc. Nhưng cả hai không bao giờ đi đến giới hạn tận cùng của tình yêu thương. Họ bị bất lực trong tình dục. Có thể nói tiểu thuyết Rừng Nauy đã được triển khai xung quanh sự cố này. Với các nhà văn như Murakami, tình dục bất lực là một biểu hiện của mỹ học tính dục hậu hiện đại (Hạt cơ bản – Michel Houellebecq, Biên niên kí chim vặn dây cót – H.Murakami). Thông qua sự bất lực tình dục của nhân vật, Murakami cũng đã chạm đến đáy nỗi cô đơn tận cùng của con người.

Nhân vật trong Rừng Nauy tìm đến tình yêu nhưng không sao thoát ra ngoài nỗi ám ảnh của quá khứ, cảm giác bất toàn trong tình yêu, bất lực trong tình dục và sự phức tạp đa đoan của cuộc đời. Murakami đã xây dựng hình ảnh giếng đồng như một biểu tượng nhằm chỉ tất cả những ám ảnh đó – những ám ảnh khiến con người cô đơn cô độc và bị li cách mãi mãi.

Cô đơn, nhân vật trong Rừng Nauy tìm đến tình dục, đơn giản vì “Thân thể tôi đói đàn bà”, vì “nhiều lúc tớ rất thèm mùi người ấm áp”. Đó là thứ tình dục bừa bãi, lang chạ, nhằm thỏa mãn nhu cầu bản năng vốn quá dễ dãi trong xã hội Nhật Bản những năm 60. Nagasawa gọi đây là những “cơ may”: “Nó đầy rẫy xung quanh. Làm sao có thể phớt lờ nó đi được” (tr 82). Nhân vật tự do buông thả quá trớn “sẵn sàng ngủ với bất kì người nào, bất kể là ai” (tr 161). Vì vậy, tình dục cuối cùng đã mất đi ý nghĩa vốn có, chỉ còn lại cảm giác trống rỗng: “trở về khu học xá với đầy những thất vọng và ghê tởm bản thân trong khi nắng sáng như dao đâm vào mắt, mồn miệng khô như ngậm cát, còn đầu óc thì như của ai khác vậy”. Nói như một nhà nghiên cứu văn học của Nga, Vitali Dagrôbennưi, thì yếu tố tình dục trong tác phẩm của Murakami hoàn toàn được đưa với liều lượng có chủ ý, trong một ý đồ nghệ thuật nhất quán của nhà văn: “những sự chung đụng thể xác không cứu vãn nổi tâm hồn của những con người cô đơn”. Murakami nhìn thấy mặt trái của lối sống buông thả, “trái tự nhiên” và phê phán nó nhưng cũng thấu hiểu sâu xa bản chất của quan hệ thân xác: “nếu tớ không có được cái ấm áp như của da thịt đàn bà, tớ thấy cô đơn đến mức không thể chịu nổi”. Dường như, đối với những ai còn trân trọng giá trị của tình yêu, tình dục vừa gần gũi, lại vừa thiêng liêng, cao cả. Với họ, những hành vi tình dục nhiều khi sẽ là “nói cho nhau biết rằng có những điều chỉ có thể nói bằng cách cọ xát hai khối thịt bất toàn như thế này. Làm như vậy chúng mình mới chia sẻ được những bất toàn của nhau”. Theo chúng tôi, đây là một kênh giao tiếp đặc biệt, cho phép các nhân vật của ông không chỉ thõa mãn nhu cầu bản năng trong điều kiện xã hội tồn tại một sự dễ dãi buông thả không giới hạn mà còn biểu hiện một nhu cầu thực có, giúp con người khỏa lấp nỗi cô đơn trống trải chưa bao giờ lại đầy ăm ắp như thế trong đời sống của mình. Đối với các nhân vật trong Rừng Nauy, nhiều khi đây là kênh duy nhất, là cách thức duy nhất để con người đạt đến sự hài hòa và bình an trong đời sống, như Toru đã làm với Naoko đêm sinh nhật lần thứ 20 của nàng. Đối với Murakami, cách ứng xử của con người trong tình dục trở thành một tiêu chuẩn đạo đức. Nó là nơi biểu hiện chất người trong con người. Bởi thế, trong truyện ngắn Người đàn ông băng, khi H.Murakami dùng biểu tượng người đàn ông băng để thể hiện cảm giác lạnh toát vô hồn trong khoảnh khắc ái ân đã cho thấy ý nghĩa cao cả của hành vi tình dục trong quan hệ con người. Nó là tấm gương soi sáng sự thiếu thốn của tình người, sự cô đơn, cô độc của nhân thế. Và đó cũng là những lí do để người đọc lí giải được vì sao có sự chung đụng thân xác giữa Toru và Reiko ở cuối tác phẩm. Trong hành vi này, mà sự miêu tả của Murakami khá chi tiết, chỉ làm tăng thêm tính người trong con người. Nó giúp con người dũng cảm hơn để đối diện với cái thực tại bất an, phức tạp, rối bời và phù vân xung quanh mình. Người ta không chỉ ngủ với nhau vì yêu nhau, người ta không chỉ làm tình vì khát thèm bản năng, người ta còn có thể ngủ với nhau khi là bạn. Ở đây, tình dục đã không còn nguyên nghĩa của một hành vi thỏa mãn bản năng. Tình dục đã trở thành một nghĩa cử hào hiệp giữa những người bạn tri âm, tri kỉ. Sự hài hòa tình dục đã kết nối hai thế giới: Thế giới xưa cũ, truyền thống và khép kín: nhà nghỉ Ami và thế giới hiện đại, phức tạp, đang biến động không ngừng: Nhật Bản hiện đại.

Trong các tác phẩm viết về chủ đề cô đơn như kịch phi lý, tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…, các nhà văn thường xây dựng những đối thoại trật khớp. Nhân vật như đang trong một cái “tháp Babel ”, ông nói gà, bà nói vịt, đối thoại mà như độc thoại nhằm thể hiện sự phi lý, sự cô đơn cô độc của con người. Đối thoại trong tiểu thuyết Rừng Nauykhông phải là những đối thoại trật khớp mà ta thường thấy. Nhà văn làm lộ diện trạng thái cô đơn của nhân vật thông qua những cuộc thoại mà nhân vật thường không có khả năng diễn đạt, luôn rơi vào tình trạng bấn loạn ngôn từ, thể hiện sự bất lực trong khả năng giao tiếp với xã hội hiện đại. Đó là các cuộc thoại giữa Toru và Quốc xã, Toru và Naoko, Toru – Nagasawa và Hatsumi… Chẳng hạn, nhân vật Quốc xã luôn lắp bắp với từ “bản đồ” – cũng là lí tưởng sống của anh ta; một nhân vật khác, Naoko, thì luôn rất khó khăn để tìm cách biểu cảm bằng lời nói. Có lẽ đây không phải là sự hoài nghi ngôn ngữ như các nhà viết kịch phi lý. Những lời lắp bắp ấy của Quốc xã cho thấy một sự thật là lí tưởng sống trong xã hội hiện đại Nhật Bản đã trở thành một cái gì đó không bình thường, không hiển nhiên, như là kí ức xa xưa, ẩn ức vô thức trỗi dậy và tìm đến kẻ phát ngôn kì quặc của nó. Với Naoko, nhân vật này bị một tha lực tước đoạt mất năng lực diễn đạt. Tha lực đó chính là sự áp chế đầy phi lý của cái quá khứ, cái đã xảy ra vớicái hiện tại đang xảy ra và nhất là với cái đã có thể xảy ra. Bởi vậy, kênh giao tiếp bằng lời đối thoại bị lung lay, nhân vật thường “trò chuyện nhát gừng”, trong ngôn từ thường trực một chữ NẾU. NẾU thế này, NẾU thế kia… hoặc là sự “im lặng” bởi “sợ cả việc phát âm ra”. Như một điều hiển nhiên, nhân vật tìm đến với kênh thư từ – một hệ thống chuyển mã mới từ ngôn ngữ nói sang ngôn ngữ viết. Nhưng với Naoko, “viết là một quá trình đau đớn”. Đó không phải là cách giao tiếp tự nhiên giữa con người – con người. Naoko đã tìm đến cái chết khi cô không thể tìm thấy khả năng nào có thể kết nối mình với thực tại, với Toru và những người thân yêu khác, khi trong tai cô không ngừng ong ong những âm thanh của bóng tối, của quá khứ, của cái chết.

Trong truyện ngắn Thuyền hàng đi Trung Quốc, nhà văn H.Murakami đã viết về trạng thái con người bị mất khả năng giao tiếp. Tất cả chỉ còn là sự im lặng và bóng tối. Đó sẽ là ngày tận thế, là điểm mút của thân phận con người cô đơn.

Thế giới Rừng Nauy thiếu vắng lí tưởng, thiếu vắng các giá trị truyền thống có khả năng dẫn dắt cuộc sống hiện tại, cũng không có mẫu hình tương lai nào khả dĩ làm điểm tựa; cái đẹp phải trôi dạt và tự hủy diệt; tàn bạo, dung tục lên ngôi, nhân vật trong Rừng Nauy hoang mang, họ cô đơn, cố gắng tìm cách tương thông với người khác trong tình bạn, tình yêu, tình dục mong tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi nhất. Nhưng cô đơn vẫn hoàn cô đơn. Bế tắc, buồn chán, nhân vật tìm đến cái chết, đến rượu, đến sự hành xác và lang thang vô hướng, đến sự phá phách và thây kệ rất mù quáng, đến thái độ bất cần, bất hợp tác, li thân với ngoại giới; đến tiểu thuyết, âm nhạc, và cả phim ảnh. Nhưng cô đơn chỉ vợi đi chứ không biến mất. Nó như một thứ tội tổ tông cứ bám riết lấy các nhân vật, thành một khối đặc quánh bao vây họ, như một bầu khí quyển riêng của Rừng Nauy. Dẫu biết rằng cần phải làm khác đi để thoát khỏi bầu khí quyển đặc quánh ấy như Naoko và Reiko đã nói: “Đây có lẽ là việc chúng ta nên làm: hãy tìm cách hiểu nhau hơn”. Nhưng đã không ai hoàn toàn vượt khỏi cái ngãcủa mình để hòa nhập thực sự với người khác.

Cô đơn trong Rừng Nauy là cảm giác mang tính thời đại. Cảm giác ấy được khơi gợi từ chính nhan đề của tiểu thuyết. Tên tiểu thuyết trùng với tên bài hát Rừng Nauy của nhóm Beatles, là bài hát nổi tiếng và rất phổ biến những năm 60 – 70 trên phạm vi cả thế giới. Nó được các nhân vật thanh niên trong tiểu thuyết này yêu thích đặc biệt. Nó gọi hồi ức, nó gợi kỷ niệm, nó tạo hưng phấn cho các nhân vật. Họ nghe nó thật trịnh trọng, như nghe lễ ca. Đặc biệt, mỗi lần nghe bài hát này, Naoko luôn cảm thấy chính nó đã vẻ nên số phận bất hạnh của mình: “Bài hát có thể làm cho mình thật buồn”, “mình tưởng tượng như đang lang thang trong một khu rừng sâu. Mình chỉ có một mình và trời thì lạnh và tối, và chẳng có ai đến cứu mình”. Về sau, chính Naoko tìm đến cái chết trong một khu rừng hoang vắng, trong cô độc hoàn toàn. Bởi vậy, tên tiểu thuyết là Rừng Nauy, đâu chỉ thuần tuý là tên một bài hát. Nó còn là tên một nỗi ám ảnh về sự cô độc nơi phương xa xứ lạ. Là tên một dự báo buồn mang tính thời đại, cũng là tên của những khoảnh khắc hạnh phúc ngắn ngủi, chóng vánh như nội dung của ca từ: “Tôi từng có một cô gái…”.

Rừng Nauy là một best seller, nhưng thời gian đã chứng tỏ nó là một tiểu thuyết tuyệt vời về tình yêu, về nỗi cô đơn, về những nhịp đập của thời đại. Tác giả của nó thật xứng đáng với lời khen tặng: “Murakami là một trong những tiểu thuyết gia tinh tế nhất thế giới” (Glasgow Herald).

N.V.T
(242/04-09)

http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c156/n2031/Ve-con-nguoi-co-don-trong-tieu-thuyet-Rung-Nauy-cua-Haruki-Murakami.html

Thinking

【演講紀錄】陳益源-《金雲翹傳》的影響與「翹傳」現象的省思

國立東華大學中國語文學系有鑑於「經典研讀」在人文領域之重要與不可或缺性已愈獲重視,並期盼以經典教學來重振大學教育之人文精神、拓展多元文化之共識,近年來多致力於「人文經典研讀」工作的推展。特於102學年度吳冠宏教授所主持之「言志與抒情的交響」經典研讀課程計畫既有之穩固根基上,由劉惠萍教授擔任計畫主持人,以「話語的流動」為主題,整合該系史籍與通俗文學等領域之師資,通過103年度「教育部人文藝術及社會學科經典研讀課程計畫」補助。

  課程研讀計畫大致分為三個層次,第一層為「研讀能力之奠基」,主要先透過吳儀鳳教授於大學部一年級所講授之「俗文學概論」課程作概念奠基;第二階段則為「經典內涵之深究」,更進一步透過分由魏慈德教授、賴芳伶教授於大學部二、三年級所開設之「史記」「紅樓夢」二課程,以兩部中國古代正史、小說的經典、顛峰之作,提取中國古代經典「話語流動」的特徵;第三層為「經典意義的延展」,則由王文進教授、劉惠萍教授分於碩、博士班講授之「三國學專題」「神話學研究」、「中國神話研究」三門課程,引領研究生探析、推衍中國古代經典「口傳/正史/小說」、「想像/紀實/虛構」之對話、互文現象。並將依照各課程之不同,邀請對經典具有精深學養之專家學者蒞校演講。希望能藉由課程的執行與相關學術活動之推動,拓寛傳統中國語文學研究的空間,並啟發同學更多在地關懷及全球視野。

2014年12月11日 星期四

【演講紀錄】陳益源-《金雲翹傳》的影響與「翹傳」現象的省思

《金雲翹傳》的影響與「翹傳」現象的省思

陳益源先生2014年12月11日東華大學演講紀錄

http://ndhudcll.blogspot.com/2014/12/blog-post_11.html
本次活動請到陳益源教授為我們演講《金雲翹傳》的影響與「翹傳現象」的省思。

《金雲翹傳》的故事曾經於明清兩代流行,一直以來她被視為是「才子佳人」小說之一種,才子佳人小說被視為一種類型化的小說,具有一定的公式可循,而《金雲翹傳》故事的開始和結束正符合這套公式,陳教授說:「歷來的小說文獻書目或小說的評論者,將他歸為才子佳人小說,但是這對金雲翹傳來說不公平,雖有才子佳人小說公式化的外衣,仔細看了之後,細節和人物形象的塑造,和一般才子佳人小說不同。」因為我們可以看到《金雲翹傳》的女主角王翠翹的成長,她淪落風塵十五年,屢遭挫折卻從不氣餒,同樣的我們也可以在《紅樓夢》裡看到賈寶玉、林黛玉等人的成長變化。公式化的才子佳人不會成長,但是王翠翹不一樣。

在日本、台灣,都有與《金雲翹傳》故事相關的改寫,高陽即寫過一本五十五萬字的歷史小說叫做《草莽英雄》,王教授經閱讀後認為,高陽並未閱讀過《金雲翹傳》,而是從短篇的筆記小說中,王翠翹與海盜徐海的事蹟改寫而成。

《金雲翹傳》最大的影響在南方的另一國度──越南。《金雲翹傳》在越南有時被簡稱為「翹傳」,或簡稱為「翹」。陳教授說:「你很難想像有一本中國小說,曾經在中國也流行過,不管是被其他的小說選集所選入改編,或者,被其他的劇作家,一而再、再而三的試著搬上舞台,所以有一定程度的流傳,但是到了現在,翻開文學史卻看不到他的蹤跡。當我們忘記的時候,越南人好幾個世代,過去從口耳相傳中得知,現在從課本中知道,他們所知道的故事背景橋段,都忠實於中國的《金雲翹傳》這本小說,他經過越南著名的詩人阮攸加以改編並且獲得成功。」
越南《金雲翹傳》的作者──阮攸,是十八世紀末,十九世紀初越南最重要的作家。陳教授特別強調:「不要以為那個《金雲翹傳》是中國的《金雲翹傳》,那個《金雲翹傳》是阮攸成功改編自小說的喃歌作品。用越南文字喃字書寫的。如果只能挑一部越南作品列入世界經典,大概就會是阮攸的《金雲翹傳》。」陳益源教授早年出版了《王翠翹故事研究》一書,並且翻譯成越南文。陳教授也驕傲地說:「在越南出版和翹有關的研究,一個外國人,在越南用越文出版翹的研究,有點像是外國人在中國或台灣,出版《紅樓夢》相關研究一樣。越南翹傳專家太多了,就好像中國很多紅學家一樣。越南版的翹傳作者或作品,越南人耳熟能詳。」

陳教授轉頭望向此次演講的海報說道:「海報上放的圖案是胡琴,這是忠於原著的,小說中王翠翹是擅彈胡琴的。他們(案:指越南)並沒有去改動金雲翹傳原始的時空背景和大致的情節敘事,阮攸成功把小說變成詩歌,但是他沒有改變王翠翹的身分,沒有去移動他的時間空間。我一開始不能理解,到後來蠻欽佩他們可以接受這樣一個外國女孩的故事。中國小說如何進入到越南人的心靈裡面,幾乎將他當成越南人一樣的接受他。」

陳教授提到,在越南,翹傳是一代傳一代,不論是搖籃曲或情書,甚至是戰爭時期給將士的文告都引用了翹傳。陳教授也提到許多他在越南採集資料時,翹傳如何深入民眾生活的各種故事。

陳教授說道:「在中國或台灣,絕大多數的老百姓心裡頭沒有一部經典,我說的不是信仰,是生活之中的經典。《金雲翹傳》這樣一本書,能夠讓一個中國姑娘,走進外國民族的生命裡面,讓外國人打從心裡面喜歡他,不是一個人,是幾個世代的人,共同喜歡王翠翹。雖然他們知道那是一個中國姑娘,但是經過詩人改編之後,他們沒有想到越南語言可以那麼美,可以隱含那麼多深奧微妙的意涵,因為詩人的成功創作,他們提升了民族語言的自信心和自豪感。假如有人可以用台語創造出一本經典作品,使得大家閱讀這本台灣文學作品,可以感受到台灣語言的美麗深奧維妙,使得台語再也不是一般認知的粗鄙粗俗,如果是這樣的話,那麼這一位經典的創作者,可以給民族帶來很大的自豪。阮攸用精練的文筆,和富有音樂特性的詩句,提昇了越南語言。一個詩人可以為民族做出這樣的貢獻,不是其他的革命家事業家做得到的。」
然而,由李向陽所採錄的「金仲與阿翹」的故事,是由三人所講述的同一故事,記錄在一起,三人所說各有不同卻沒有分開紀錄,使得故事的樣貌模糊不清。這個疑問一直存在陳教授心中,直到一九九九年,距離「金仲與阿翹」的故事被採集已經過了十五年,陳教授受邀至廣西,才終於有機會至紀載中的廣西防城縣一探究竟。《金雲翹傳》在越南成為經典後,又以不同的方式回到中國的土地上。陳教授提到他求學時期協助陳慶浩老師做民間文學故事的蒐集整理工作,正好分配到廣西和台灣的部分,從中見到了一則紀錄,由李向陽所採錄得廣西京族民間故事,題為「金仲與阿翹」,和《金雲翹傳》的男主角「金重」是同音。李向陽所採集的民間故事有四千字之多,一般的民間故事都極短,長篇故事背後多有完整的文本作為支撐。陳教授認為這是《金雲翹傳》的民間流傳版本之一。

陳教授用他高超的說故事技巧,講述了尋訪阮文龍、蘇維光、裴永彬三位老人的曲折的經過,最終甚至聽到了防城縣的京族老人演唱三千兩百五十四句的全本阮攸《金雲翹傳》。


最後陳教授總結道:「我真想告訴大家,金雲翹傳,確實,是一部經典。但是他不是天生的經典,他是經過外國偉大詩人的成功改造之後,才發揮他經典的價值。回過頭來我們也要思考,為什麼我們沒有讓金雲翹傳小說成為經典,反而是外國詩人讓他轉化成為經典。我們重新來閱讀的時候,他在中國通俗文學作品當中能不能重新獲得經典的地位?為什麼越南改編以後是世界經典,翻譯成十幾國的文字,翻譯的是阮攸的《金雲翹傳》,同一個故事,文體不一樣。面對這樣的「翹傳現象」,牆裡開花牆外香,是中國文學作品,但是在國外發現他的價值,這樣的現象,是因為我們對經典的輕忽,還是什麼原因讓我們把原本可以做為經典的東西這樣錯過?我以前研究的《剪燈新話》也是這樣,在明初盛極一時,是什麼讓外國人眼中的經典,和我們眼中的經典,這之間產生了落差,又是誰在創造經典?經典需要不斷被提起,否則他絕對不可能維持經典的地位。如果從現在開始認為紅樓夢研究已經夠了,大家再也不談紅樓夢,總有一天他也會失去經典的位置。金雲翹傳就是太不被提起了。我們要感謝越南有一位偉大的詩人喚起他經典的地位。」

http://ndhudcll.blogspot.com/2014/12/blog-post_11.html

Thinking

《梦幻中国——人的一生要去的55个地方》

以下是入选的地方:
千年城池:
西安——千年古都
南京——六朝金粉地,金陵帝王州
北京——举世无双的皇家建筑
苏州——苏州园林甲天下
大理——风花雪月地,山光水色城
澳门——东方的拉斯维加斯
文化名镇:
丽江——有一段时光叫丽江
腾冲——极边第一城
喀什——丝路明珠
伊犁——塞外江南
徽州——风雅山水田园,徽派古建长廊
凤凰——沉从文笔下的边城
日喀则——最如意美好的庄园
绍兴——水乡、桥乡、酒乡、……
曲阜三孔——儒学之源、儒教之根
野外探险:
喀纳斯——云间部落
阿里——千山之巅、万川之源
塔克拉玛乾沙漠——神秘瀚海
海螺沟——冰川森林公园泡温泉
三江源——母亲河的“母亲”
雅鲁藏布江大峡谷——人类最后的秘境
怒江——神秘的东方大峡谷
德天瀑布——中国最美的瀑布
黔东南——真人、真水、真情
神农架——野人出没的地方
壶口瀑布——黄河之水天上来,奔流到海不复回
人间天堂:
香格里拉——世外桃园
西湖——东方明珠
塔什库尔乾——冰山上的来客
丹巴——美人谷
林芝——西藏江南胜过江南
稻城亚丁——天堂的颜色
黄姚——诗境家园
蜀南竹海——蜀南竹海翠天下
阳朔——天上人间旅游乡
甘南——洗涤人心灵的地方
客家土楼——中国南方山中的传奇
婺源——江南曲阜,山里书乡

巧夺天工:
山南——藏族的发祥地
九寨沟——美丽的童话世界
青海湖——地球上的一滴眼泪
辉腾锡勒草原——风吹草低见牛羊
长白山——关东第一山
泸沽湖——东方女儿国
华山——奇险天下第一山
黄山——五岳归来不看山,黄山归来不看岳
四姑娘山——东方的阿尔卑斯山
三峡——曾经沧海难为水,除却巫山不是云
亚龙湾——三亚归来不看海,除却亚龙不是湾
文明奇迹:
德格——藏族地区璀璨的文化明珠
都江堰——“天府”富庶之源
拉萨——西藏的象征
西夏王陵——东方金字塔
云岗石窟——东方艺术宝库
敦煌——东方艺术明珠

main5de

《人一生要去的55个地方》,这让我实足梦游了一通,原来,生活可以这样进行的,简约而不简单。我就像一个虔诚的记录者,将美梦一点一点地移植,然后一遍一遍地流连忘返。
千年城池
西安——千年古都
西安与雅典、罗马、开罗并称为世界四大古都,可堪称一座天然的“立体历史博物馆”。大慈恩寺——华清池——兵马俑——碑林——骊山——半坡遗址——古城墙,这些地方就是“西安的象征”(大雁塔),让你感受“给我一天,还你千年”(陕西历史博物馆)的古都魅力。
南京——六朝金粉地,金陵帝王州
有着6000多年历史和2400多年建城史的南京,与北京、西安、洛阳并称为“中国四大古都”。历史上先后有十个朝代在此建都,故有“十朝都会”之称。古老的秦淮河玉带般蜿蜒舒展,站立桥头,眼前宛然是历史在悠悠流过;点缀两旁的玄武湖和莫愁湖静如处子,似在幽然倾诉;钟山、栖霞山迤逦悠长,神龙般延续着千年的守卫;金陵古城默然而立,城内的沧桑繁华刻写着它的年轮。
北京——举世无双的皇家建筑
从高空俯瞰,规模宏大的帝王宫殿、园林、庙坛、陵墓及其他古代建筑井然有序,错落有致,俨然可见昔日皇城的威严。 最大的宫殿建筑群故宫、中国的“心脏”天安门广场 、集江南水乡的玲珑精致和北方园林的豪迈大气于一身的颐和园、我国现存最大的古代祭祀建筑群天坛、人类建筑史上罕见的古代军事防御系统工程万里长城 ,此外,还有现代科技的结晶中关村,着名学府清华北大等,都将是每一个人 神往的理由。
苏州——苏州园林甲天下
苏州园林已被列入世界文化遗产名录,在中国四大名园中,苏州就占有拙政园、留园两席;“吴中第一名胜”虎丘深厚的文化积淀,使其成为游客来苏州的必游之地;而唐朝诗人张继的一首《枫桥夜泊》使得枫桥、寒山寺成为大家争相来访的地方。苏州既有园林之美,又有山水之胜,自然、人文景观交相辉映,加之文人墨客题咏吟唱,使苏州成为名副其实的“人间天堂”。
大理——风花雪月地,山光水色城
悠久的的历史和璀璨的文化,留下了丰富的文物古迹。玉洱银沧之间,自然风光绮丽多姿,苍山如屏,洱海如镜,蝴蝶泉深幽,兼有“风、花、雪、月”四大奇观(下关风、上关花、苍山雪、洱海月)。
澳门——东方的“拉斯维加斯”
妈祖阁、大三巴牌坊花、澳门赛马会都是这里着名的风景。

文化名镇
丽江——有一段时光叫丽江
不在晒太阳,就在酒吧,不在酒吧,就在去酒吧的路上。。。。。。这是驴友中流传的一句话。
有人说,丽江是上帝遗留在这个世界上唯一的一块人间仙境。那里瑞云缭绕、祥气笼罩,鸟儿在蓝天白云间鸣啭,牛羊在绿草红花中徜徉,人们在古桥流水边悠闲,阳光照耀着生命的年轮,雪山涧溪洗涤着灵魂的尘埃。在那里,只有聆听、只有感悟、只有凝视人与自然那种相处的和谐、那种柔情的倾诉、那种深深的依恋,把这些统统加在一起,告诉你,这,就是丽江。
腾冲——极边第一城
远山经雨翠重重,迭水声喧万树丰。路转双桥通胜地,春环一水似长虹。短堤杨柳会烟绿,隔岸荷花映日红。行过坡陀会受望,人家尽在画图中。——黄绮襄
腾冲 ,这座南方丝绸之路上的历史文化名城,历经沧桑,积淀了丰富深厚的历史文化,边陲古道的马铃声,记录着中、缅、印的商贸历史;春秋战国时期的铜案,铜鼓凝集着两千多年悠久灿烂的文明;石雕佛像,闪烁着中原与东南亚文化交流的光芒;第二次世界大战中,中国军民在这片热土上抗击日本侵略军,首创全歼侵略者的战例,捍卫了中华民族的尊严。 庄严肃穆的国殇园里安息着为国捐躯的抗日英烈,数千座墓碑向后人昭示着民族精英抵御外辱的浩然正气。
喀什——丝路明珠
不到喀什就不算到过新疆。(俗语)
伊犁——塞外江南
不到新疆,不知中国之大,不到伊犁,不知新疆之美。(俗语)
徽州——风雅山水田园 徽派古建长廊
一生痴绝处,无梦到徽州。(汤显祖)
凤凰——沉从文笔下的边城
中国有两座最美丽的小城,第一是湖南凤凰,第二是福建长汀。(新西兰着名作家路易艾黎)
日喀则——最如意美好的庄园
日喀则以其古老的文化,雄伟的寺庙建筑,壮丽的自然景观,优越的地理位置,成为西藏最有吸引力的旅游胜地之一。
绍兴——水乡、桥乡、酒乡、兰乡、书法之乡、名士之乡、山清水秀之乡,历史文化之邦,名人荟萃之地。
曲阜三孔——儒学之源,儒教之根
曲阜之所以享誉全球,被世人尊崇为世界三大圣城之一,因为这里是先秦时代着名思想家、教育家、儒学创始人孔子诞生、讲学、墓葬和后人祭祀之地,也是孔子的学生,中国另一位伟大的思想家、教育家孟子的出生地,是儒学的开山之地。

野外探险
喀纳斯——云间部落
阿里——千山之巅、万川之源
野生动物的乐园,艺术家的天堂,探险家的领地,旅行家的向往,朝圣者的圣地,投资者的处女地。(顺口溜)
塔克拉玛乾沙漠——神秘瀚海
海螺沟——冰川森林公园泡温泉
三江源——母亲河的“母亲”
青海的大美,因三江源方显气魄;大美的青海,因三江源更显独特。
雅鲁藏布江大峡谷——人类最后的秘境
想去西藏的雅鲁藏布江大峡谷旅行吗?去听轰鸣的水声,去看欲滴的绿色,去感悟真实的人生。
怒江——神秘的东方大峡谷
滩接一滩,一滩高千丈。水无不怒石,山有欲飞峰。(谚语)
德天瀑布——中国最美的瀑布
神农架——野人出没的地方
吃的洋芋果,烤的疙瘩火,烧酒配着腊肉喝,除了神仙就是我。(顺口溜)
壶口瀑布——黄河之水天上来,奔流到海不复回
秋风卷起千层浪,晚日迎来万丈红。(明 陈维藩)
人间天堂
香格里拉——世外桃源
太阳最早照耀的地方,是东方的建塘,人间最殊胜的地方,是奶子河畔的香格里拉。(英 詹姆士)
神奇的迪庆藏族自治州,景色朴质,仪态万方。金沙江,澜沧江流流贯全境;梅里、白茫、哈巴三大雪山雄踞迪庆。江峡奇险神工鬼斧,雪线风光旖旎迷醉。清冽的高原湖溪若丝胜玉,玛瑙般地镶嵌在如茵的翠锦上,静静地散发着素雅的丽质。草原风斜,牛羊相依奇花异草;平原莽漠,林涛互掩珍禽希兽。这就是梦中的香格里拉。
西湖——东方明珠
未能抛得杭州去,一半勾留是此湖。(白居易)
春有“苏堤春晓”,夏有“曲院风荷”,秋有“平湖秋月”,东有“断桥残雪”;晨有“宝石流霞”,晚有“雷锋夕照”。此情此景,让人沉醉。
塔什库尔乾——冰山上的来客
电影或是照片都无法表达她的美。惟有亲身去体验去感受才能明白那种不可逾越的美,雪山下的牧场,金色的麦田,寂寥的街巷,甚至是孩子的哭叫。。。。。。还有那百年孤独的墓士塔格峰上,一轮圆月悄然升起,秋日的塔什库尔乾,她的安宁与祥和,它不经意间所流露的淡淡忧郁,都令人如此痴迷。。。。。。
丹巴——美人谷
到了丹巴,忘了爹娘。(古谚)
康定的汉子,丹巴的美女,是四川省甘肃孜县最着名的人文景观。 大凡“美人谷”的女孩,不管身在乡村还是走出大山,几乎不施粉黛,不着华丽。稍加梳洗,便气韵毕现,曲线天成。天生的冰肌玉肤似乎永远含烟凝碧;瘦长而丰腴的体态似乎永远婉转有致,劳动的打磨没有使其粗糙变形,反而更增加了健美的必备要素。当然,她们并不拒绝盛装包裹,天生丽质衬以香榭名流,更凸显其佳人原质。
林芝——西藏江南胜过江南
有人称她是西藏的瑞士,也有人称她是西藏的江南,林芝却远远胜过瑞士和江南,她就是人间的香巴拉!
稻城。亚丁——天堂的颜色
血管里响着马蹄的声音,眼里是圣洁的太阳,胸膛里是野心和爱的草原。(民歌)
稻城亚丁沉睡在岁月的冰河,方圆7323平方公里的土地存留着大地最古老的记忆和大自然最真最纯的心灵。它被时光遗忘,千万年来,日升日落,默默地守着自己旷世的美景。这里拥有最纯的生灵,傲视天穹的神鹰,自由生活的各种野生动物,草场林间婉转歌唱的鸟儿,静静地放牧的牧人。稻城,有你能够想到的一切,也有你想象之外的一切。
黄姚——诗境家园
人与自然完美结合的艺术殿堂。(俗语)
蜀南竹海——蜀南竹海翠天下
中国最美十大森林之一。(中国国家地理)
阳朔——天上人间旅游乡
桂林山水甲天下,阳朔堪称甲桂林。(吴迈)
有这样一种家园——背景是暗青油亮的大理石径,翘角飞檐的清代瓦房。尝一尝啤酒鱼,田螺酿,品一品本土文化的小摊小贩,也不妨临街坐坐,看山水悠悠。
有这样一种宁静——一片如绿镜般静谧的水,微风轻拂,浅浅涟漪,天地悠悠,无声成乐。在这条被称为“外语角”的度假名街,感受一份地球村式的亲切。
有这样一种荣耀——踏着首脑们曾经走过的路,拿出领袖般的气派,享受同等的尊贵,自然山水面前,人人平等。
这个地方叫阳朔。。。。。。
甘南——洗涤人心灵的地方
旅游在甘南,从举世闻名的拉卜愣领略藏传佛教文化的风采后,直抵被列为国家级自然保护的则岔石林,然后到达侯鸟栖息地尕海湖,再领略黄河首曲雄伟壮观的大草原,体味莲花山工笔般的秀美,再会古刹禅定寺和风景秀丽的郎木寺,迭山的苍翠令人流连忘返,舟曲的风情更具南国特色,一路美景尽在眼前。
客家土楼——中国南方山中的传奇
世界上独一无二的神话般的山区建筑模式。(联合国教科文组织顾问)
婺源——江南曲阜,山里书乡
郁郁层峦夹岸青,春溪流水去无声。烟波一棹知何处,鶗鸠两山相对鸣。(朱熹)

巧夺天工
山南——藏族的发祥地
九寨沟——美丽的童话世界
青海湖——地球上的一滴眼泪
辉腾锡乐草原——风吹草地见牛羊
长白山——关东第一山 不登长白山,终身遗憾。(邓小平)
泸沽湖——东方女儿国 此景只应天上有,人间哪得几回见。(俗语)
华山——奇险天下第一山 灵境不可状,鬼工谅难求。(柳宗元)
黄山——五岳归来不看山,黄山归来不看岳
薄海内外,无如徽之黄山。登黄山,天下无山,观止也。(徐霞客)
四姑娘山——东方的阿尔卑斯山
三峡——曾经沧海难为水,除却巫山不是云
亚龙湾——三亚归来不看海,除却亚龙不是湾
亚龙湾是中国最美的海湾。(《中国国家地理》杂志)

文明奇迹
德格——藏族地区璀璨的文化明珠
都江堰——“天府”富庶之源
都江堰建成,使成都平原“水旱从人,不知饥馑,时无荒年”,天下谓之“天府”也。
拉萨——西藏的象征
西夏王陵——东方金字塔
云岗石窟——东方艺术宝库
凿石开山,因岩结构,真容巨壮,世法所希。山堂水殿,烟寺相望,林渊锦境,缀目所眺。 (郦道元《水经注》)

敦煌——东方艺术明珠
大漠长天,孤泉冷月,黄沙絮絮千年。今夜清风,蓦然梦醒,谁的姜笛声中?

Thinking

Một kho tàng giàu có đang trở nên trống rỗng

Một kho tàng giàu có đang trở nên trống rỗng

TTCT – LTS: Bốn tháng sau khi Tô Ngọc Vân – tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam 1906-1954 hoàn tất, gặp lại tác giả khảo cứu này, ông Phan Cẩm Thượng, vẫn thấy ông than buồn.

Họa sĩ Phan Cẩm Thượng (phải) và nhà văn Nguyễn Văn Thọ – Ảnh: Tường Linh

TTCT mời bạn nghe cuộc trò chuyện giữa nhà văn Nguyễn Văn Thọ với nhà nghiên cứu văn hóa và phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng.

Thấy được thân phận con người

* Nguyễn Văn Thọ: Năm nào, với tư cách như một nhà nghiên cứu văn hóa Việt, ông đã giới thiệu cuốn Văn minh vật chất của người Việt. Nay với tư cách nhà nghiên cứu hội họa, ông lại khảo cứu Tô Ngọc Vân – tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam 1906-1954 cho bộ sưu tập của nhà sưu tập Thái Tira Vanichtheeranont. Ngọn nguồn của quyển sách này là từ đâu, thưa ông?

Những công trình quan trọng của nhà nghiên cứu văn hóa và phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng:

+ Sách khảo cứu văn hóa: Văn minh vật chất của người Việt – Nhà xuất bản Tri Thức 2011.

+ Sách khảo cứu hội họa:

1- Những tác phẩm vô giá của hội họa Việt Nam hiện đại (đồng tác giả cùng Nguyễn Anh Tuấn) – Nhà xuất bản Mỹ Thuật 2010.

2- Tôn Đức Lượng ký họa lịch sử – Nhà xuất bản Mỹ Thuật 2012.

3- Tô Ngọc Vân – tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam 1906-1954 – Nhà xuất bản Tri Thức 2014.

– Phan Cẩm Thượng: Năm 2012, nhà sưu tập người Thái Tira Vanichtheeranont có ý định mua toàn bộ tư liệu ký họa của cố họa sĩ Tô Ngọc Vân thông qua người con trai ông là họa sĩ Tô Ngọc Thành. Ông Tira có nhờ tôi qua xem trước, tôi vô cùng ngạc nhiên về chất lượng và những vấn đề xã hội mà họa sĩ Tô Ngọc Vân ghi chép.

Tôi hình dung nếu xây dựng từ những tư liệu này sẽ là cuốn sách tốt để làm sáng tỏ lứa họa sĩ Việt Nam cùng một hoàn cảnh xã hội. Sau đó, họ tiến hành mua các ký họa làm hai đợt, việc này tôi không được tham gia, chỉ biết là với 380 ký họa sổ tay của Tô Ngọc Vân, ông Tira đã nhờ tôi dựng nên cuốn sách này. Cuối năm 2013 tôi viết xong, đầu năm 2014 cuốn sách được Nhà xuất bản Tri Thức phát hành, ông Tira là người đầu tư làm và in sách.

Tô Ngọc Vân là họa sĩ lứa Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, theo giáo sư Nora A. Taylor là “một trong những nghệ sĩ quan trọng nhất của Việt Nam trong thế kỷ 20”. Có phải đó là lý do ông nghiên cứu Tô Ngọc Vân?

– Tôi không kén chọn nghệ sĩ, miễn là đủ tài liệu về chính họ và đủ khả năng để làm. Nhưng xem trong tất cả các họa sĩ Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương không ai bám vào hiện thực xã hội Việt Nam rõ như Tô Ngọc Vân. Nghiên cứu Tô Ngọc Vân có khả năng dựng lên bức tranh toàn cảnh về đời sống của người Việt nửa đầu thế kỷ 20, đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

* Tựa đề sách rất quan trọng và ấn tượng: Tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam, xin họa sĩ lý giải cụm từ này?

– Có nhiều họa sĩ vẽ đẹp, nhưng không có nhiều nghệ sĩ là tấm gương phản chiếu xã hội, hai việc đó cũng khác nhau. Thời kỳ Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và chín năm kháng chiến chống Pháp, chúng ta chưa phát hiện được nghệ sĩ nào bao quát đời sống xã hội sâu sắc đến như thế, còn rõ hơn cả những tác phẩm văn học mà tôi được đọc, có thể đây là cảm giác của những người làm mỹ thuật chúng tôi.

Nhưng qua những gì ông Vân vẽ, tôi thấy được thân phận của con người, đặc biệt là người nông dân trong cuộc chiến. Tôi có đọc loạt bài của Lênin viết về Tolstoy với nhan đề “Tolstoy – tấm gương phản chiếu cách mạng Nga”. Tôi nghĩ là ở Việt Nam, Tô Ngọc Vân cũng làm được như vậy.

* Trong từng bức ký họa chi tiết đều có những dòng nhận xét khá cụ thể, đó là ý kiến của cá nhân ông hay là một tập thể? Ông có sự giúp đỡ nào của các đồng nghiệp không?

– Để tiến hành cuốn sách, trước tiên tôi nhờ hai bạn trẻ là Nguyễn Hoàng Yến và Phan Tường Linh đến nhà họa sĩ Tô Ngọc Thành ghi chép bất kỳ tư liệu nào mà ông Thành có thể kể được, trước tiên là giải thích những gì ông Vân vẽ. Ngoài cung cấp ít nhiều thông tin, ông Thành cho tôi xem rất nhiều tư liệu, ghi chép, thư từ, nhật ký, bản kiểm thảo, giấy công tác, giấy quyết định của chính ông Tô Ngọc Vân giữ và viết. Đây đều là tài liệu gốc đáng quý từ chính họa sĩ – là người rất có ý thức về cá nhân mình.

Tôi còn đi hỏi vài người từng biết Tô Ngọc Vân như họa sĩ Mai Long, học trò ông Vân trong khóa kháng chiến, nhà văn Nguyên Ngọc về Đại hội văn hóa văn nghệ Việt Bắc năm 1948, ông Lại Nguyên Ân về văn bản học, hỏi nhà lịch sử quân sự Hồ Sơn Đài về những đơn vị bộ đội ông Vân đến vẽ…

Những tham khảo này không nhiều lắm, vì câu chuyện ông Vân đã qua lâu rồi, vài người có gợi ý tôi nên hỏi nhà văn Tô Hoài và nhà văn Vũ Tú Nam nhưng tôi không làm, vì nghĩ thôi tự mình tìm những dấu vết của ông Tô Ngọc Vân cũng được. Tôi dành thời gian tìm lại những địa điểm mà ông Vân di chuyển trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt ở Thái Nguyên và Phú Thọ.

Công trình Tô Ngọc Vân 421 trang, trong đó ông đã loại bỏ 28 bức ký họa mà theo cá nhân ông thiếu độ xác tín rằng của họa sĩ.

– 28 ký họa, tôi không tin chắc rằng ông Vân đã vẽ nên loại bỏ không in vào sách, vì chất lượng vẽ rất thấp, chỉ na ná giống ông Vân vẽ. Nhà sưu tập cũng nhất trí với tôi việc này. Còn một số bức khác tôi chấp nhận theo kiểu người phương Tây làm là nghi vấn nhưng có thể tham khảo về họa sĩ và đề là Artist Studio, tức là bức họa đó xuất phát từ xưởng vẽ của họa sĩ nhưng không khẳng định do chính họa sĩ vẽ ra, nhưng có giá trị tham khảo vấn đề xã hội từ đó.

Để làm được điều đó, tôi nghiên cứu rất kỹ phong cách và bút pháp của Tô Ngọc Vân, tìm ra được những đặc điểm riêng mà chỉ chính ông làm được.

Nông thôn Minh Cầu, năm 1952. Bút sắt và bút chì trên giấy
Ký họa các dáng chiến sĩ trung đoàn Thủ đô. Khoảng những năm 1949. Bút sắt trên giấy
Phác thảo thiếu nữ, khoảng những năm 1939-1942. Bút sắt và bút chì trên giấy

Hoàn thành sách, chỉ thấy buồn

* Công trình này tiến hành trong hai năm, lại hai lần sang tận Thái Lan để trực tiếp thẩm tra từng trang tài liệu gốc của họa sĩ Tô Ngọc Thành. Theo tôi đây là một công trình lớn. Vậy chủ quan, nếu ở tầm nghiên cứu, Nhà nước phải chi phí khoảng bao nhiêu ở các công trình tương tự, và cá nhân ông thực tế được trang trải bao nhiêu để dành cho công trình này?

– Tôi không giấu gì việc này. Tôi chỉ có thể đi hai lần sang Bangkok để xem tư liệu, lần đầu để làm sách, lần cuối để đối chiếu xem mình có sai gì không, các chi phí cho chuyến đi nằm trong tiền nhà sưu tập trả một lần nên đi nhiều thì tự tốn thôi. Ông Tira trả cho chi phí biên soạn sách là 9.000 USD, tức khoảng 180 triệu đồng.

Chia ra cho hai năm làm việc, đi lại, tư liệu, coi như tôi nhận lương 10 triệu đồng/tháng để làm việc. Số tiền đó hoàn toàn hết sau khi cuốn sách in xong. Nhưng tôi thấy việc làm của ông Tira là vì nền văn hóa Việt Nam, Tô Ngọc Vân cũng xứng đáng như vậy, nên tôi không thấy thiệt thòi gì cả vì mình cũng đã làm được một việc tốt.

Tôi có hai lần được Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam cho 10 triệu đồng và hai lần của Hội Mỹ thuật cho 5 triệu đồng. Tổng cộng là 30 triệu cho cả 30 năm nghiên cứu, ngoài những đồng nhuận bút ít ỏi, nên số tiền của ông Tira với tôi là quá lớn rồi. Tôi không biết Nhà nước đầu tư cho các công trình nghiên cứu là bao nhiêu. Với số công trình tôi đã xuất bản mà không có đầu tư gì, tôi nghĩ đã được trời và tổ tiên thương rồi.

* Cuốn sách, một công trình đồ sộ về Tô Ngọc Vân, đã ra đời, nhưng tác động của nó như thế nào? Có ai quan tâm tới nó không?

– Sách in ra phần lớn thuộc về ông Tira, ngoài biếu một ít ở buổi giới thiệu, nhà xuất bản chỉ nhận 100 cuốn để bán, giá hơn 1 triệu đồng, cũng ít ai muốn mua. Có nhiều người biết, nhưng thật sự quan tâm, tôi nghĩ không nhiều. Báo chí, truyền hình cũng đưa tin giới thiệu rất trang trọng, nhưng rồi cũng như mọi chuyện khác thôi. Văn hóa chưa thật sự có được quan tâm theo chiều sâu và tâm hồn. Tôi không chắc Bộ Văn hóa, hội mỹ thuật, trường mỹ thuật biết có cuốn sách này.

* Ông suy nghĩ thế nào nếu như một nền hội họa với những người như Tô Ngọc Vân lại được người nước ngoài, những nhà sưu tập tranh nước ngoài quan tâm nhiều hơn trong nước?

– Trong họp báo, tôi nói khi sách hoàn thành tôi không thấy vui mà chỉ thấy buồn. Gọi là một danh họa mà tất cả sưu tập, xuất bản sách, gìn giữ đều do một người nước ngoài, trong khi trong nước ít ai quan tâm. Việc bộ ký họa đó của Tô Ngọc Vân ra nước ngoài là điều đáng tiếc với văn hóa Việt Nam – một kho tàng giàu có đang trở nên trống rỗng. Phải chăng đời sống văn hóa đang xuống cấp hiện nay vì cái kho trống rỗng này.

* Sau Tô Ngọc Vân, ông có dự kiến nghiên cứu ai nữa trong phạm vi nghiên cứu và phê bình hội họa?

– Nếu có người đặt viết sách như ông Tira, tôi vẫn có thể làm, còn để tự nhiên thì tôi dường như không còn khả năng (kinh tế) nữa. Tôi sẽ viết một vài cuốn cuối cùng về đời sống thôi, giống như cuốn Văn minh vật chất của người Viêt, vì tư liệu được chuẩn bị từ lâu rồi.

* Xin cảm ơn ông.

Một khám phá đầy trách nhiệm

Danh họa Tô Ngọc Vân là một tài năng lớn. Đã có quá nhiều nhà nghiên cứu khai thác về ông nhưng chỉ qua Phan Cẩm Thượng, với kiến thức uyên thâm, sự làm việc cần mẫn, nghiêm túc và khoa học, thì con người và sự nghiệp của danh họa Tô Ngọc Vân mới được giải mã một cách chuẩn xác nhất.

Tôi từng nghĩ mình đã hiểu về Tô Ngọc Vân, nhưng khi đọc và xem xong tập nghiên cứu của Phan Cẩm Thượng, tôi mới vỡ và hiểu thêm nhiều điều bổ ích khác. Công trình này là một sự khám phá đầy trách nhiệm. Mọi vấn đề phức tạp được Phan Cẩm Thượng trình bày một cách hết sức giản dị, chính xác, khoa học và dễ hiểu. Tập sách là một công trình nghiên cứu có giá trị cao, bổ ích và lý thú!

(Họa sĩ Thành Chương nhận định về Tô Ngọc Vân – tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam 1906-1954)

Thư của Tô Ngọc Vân gửi Matisse và Picasso

Trong tài liệu mà họa sĩ Tô Ngọc Vân để lại có hai bản thư nháp gửi danh họa Matisse và Picasso viết ngày 27-5-1951.

Kính gửi Họa sư Matisse

Tôi viết cho họa sư lá thư này ở một khu rừng rậm, chung quanh là những dẫy núi cao hiểm trở. Bên cạnh tôi mấy tấm chuyền bản in mầu một số tác phẩm của họa sư. Những chuyền bản này, khi tôi rời thủ đô Hà Nội, bị giặc tạm chiếm trở lại, tôi đã mang theo năm năm nay trong gói hành lý nhỏ của cuộc đời kháng chiến.

Lúc tôi mới vào học nghề họa năm 1926 ở Trường Mỹ thuật Đông Dương, lần đầu tiên được tiếp xúc với tác phẩm của các ông trong hàng ngũ mỹ thuật tân tạo (art modern), một số chúng tôi cảm thấy trong đó vẻ gì làm chúng tôi gần các ông lạ. Và xa lắc chúng tôi, những giáo viên người Pháp kiểu hàn lâm hồi đó có nhiệm vụ huấn luyện tại trường. Phải chăng cái vẻ ôn hòa, đầm ấm, thảnh thơi tiết ra ở mầu sắc của ông, của Marque, của Bonnard? Hay cái nhìn giản dị, hiền lành âu yếm của những tác phẩm ấy?

Ngày nay tôi được biết các ông cũng có nhiều người tranh đấu cho hòa bình, chống bọn thực dân xâm lăng, chúng tôi lại hiểu thêm tại sao chúng ta gần nhau đến thế…

Họa sĩ Tô Ngọc Vân

…Hồi bọn Nazis Đức chiếm đóng nước Pháp, các ông tổ chức công việc họa thế nào? Những kinh nghiệm của các ông, nếu chúng tôi được biết sẽ giúp ích chúng tôi lắm.

…Chúng tôi theo quân đội, ở tiền tuyến, hoặc sống với đồng bào hậu phương, chung nỗi sướng khổ với nhau, tin tưởng chờ ngày toàn thắng. Những nét sinh hoạt ấy đa số chúng tôi chỉ mới kịp ghi chép trong những bức ký hình (croquis). Ngoài ra, anh em có làm một số tranh có tính chất xây dựng, nhưng chẳng là bao. Năm nay tôi hi vọng làm việc hơn nhiều. Một thời gian ngắn nữa, chúng tôi mong có sản phẩm để gửi sang các ông, trông ở các ông lời phê bình thành thực.

Ngoài tranh sơn dầu, chúng tôi đang cùng nhau cải tiến kỹ thuật sơn mài (laque), cái thứ sơn mà Dumand ở Paris dùng làm tranh trang trí, nhưng chúng tôi lại hướng nó về phía khác, phía hội họa. Sơn mài có một chất phẩm (matière) phong phú lạ kỳ, ông ạ! Giá chúng tôi được gần ông lúc này nhỉ, để ông thấy sơn mài và góp ý kiến chúng tôi…

Kính gửi Họa sư Picasso

Nhân có bạn chúng tôi sang dự Festival de Berlin, tôi trân trọng gửi lời chào họa sư. Họa sư là một người anh cả trong nghề họa, đã xây dựng hội họa Âu châu hiện đại, họa sư lại còn là người anh cả chúng tôi đứng vào hàng ngũ dân chủ để tranh đấu cho hòa bình tự do của nhân loại! Họa sĩ đã làm vinh dự cho giới họa.

Chúng tôi nghĩ rằng con người có được tự do thời người nghệ sĩ trong con người ấy mới được phát triển đầy đủ và xứng đáng. Bởi vậy bị ép nén dưới sự đàn áp của thực dân Pháp, hội họa Việt Nam đã không có cơ tiến bộ. Bởi vậy những người văn nghệ chúng tôi, cùng toàn dân Việt Nam, quyết đứng dậy đuổi bọn thực dân ra khỏi nước Việt Nam, đuổi đến kỳ cùng.

Họa sư có thể ngờ rằng đã có lần bọn cai trị Pháp cấm chúng tôi triển lãm ở Hà Nội (năm 1941 thì phải), mà đề tài tranh lúc ấy chỉ là tranh đàn bà, hoa quả, phong cảnh. Thật là lố bịch. Chúng tưởng có thể kéo dài sự chà đạp ấy mãi.

Ngày nay chúng tôi không chịu thế nữa. Thế giới lành mạnh cũng không để như thế nữa. Những người văn nghệ có uy tín thế giới như họa sư cũng không muốn nhìn thấy những cảnh ấy nữa. Thì những bọn thực dân ở Pháp hay ở bất cứ nơi nào trên thế giới sẽ phải tiêu diệt. Lúc ấy, cái vườn tinh hoa hội họa sẽ tươi nở khắp nơi”…

NGUYỄN VĂN THỌ thực hiện

http://tuoitre.vn/tin/tuoi-tre-cuoi-tuan/20140512/mot-kho-tang-giau-co-dang-tro-nen-trong-rong/606286.html

VỀ HỌA SĨ – NHÀ PHÊ BÌNH MỸ THUẬT PHAN CẨM THƯỢNG:

Ang Lee Film studies Nghiên cứu khoa học Thinking Văn học & Điện ảnh Văn học Trung Quốc

Nhìn lằn ranh giữa văn học và điện ảnh qua “Sắc, giới”

  1. Sự trung thành về nội dung, sự “phản bội” về cảm xúc

sacgioilust_caution01

Truyện Sắc, giới chỉ dài khoảng chưa đầy ba mươi trang, còn phim Sắc, giới dài đến một trăm năm mươi phút. Nếu tính theo cách tính phổ biến nhất của các nhà biên kịch, mỗi phút một trang, một trăm năm mươi phút tương đương với một trăm năm mươi trang. Đạo diễn Lý An cùng hai biên kịch Vương Huệ Linh – James Schamus đã phải nỗ lực rất nhiều để có thể vừa trung thành với nội dung chính ban đầu, vừa xây dựng được một bộ phim hấp dẫn. Rất nhiều tình tiết không có trong nguyên tác được thêm vào. Tuy nhiên, đây không phải là những sáng tạo hoàn toàn mới, mà có thể coi là phần cụ thể hóa những lời nói đầy ẩn ý của tác giả Trương Ái Linh, hoặc cũng có thể coi là một động tác chi tiết hóa những vấn đề chỉ được đề cập một cách hết sức sơ lược trong tác phẩm.

Cả truyện và phim đều bắt đầu và kết thúc bằng cảnh chính là đánh mạt chược. Tóm tắt nội dung không có gì khác biệt. Phim còn cố tình trung thành với truyện đến từng chi tiết rất nhỏ: chiếc rèm cửa dày in hình cỏ phượng vĩ trong phòng khách, kiểu tóc và kỳ bào lụa xanh óng ả của nhân vật chính, quán Thục Du, đường Phúc Khai Sâm v.v… Dù vậy, cảm xúc nghệ thuật được thể hiện trong hai tác phẩm truyện và phim hoàn toàn không giống nhau. Nếu về mặt nội dung, phim được coi như “trung thành” với nguyên tác, thì trên phương diện cảm xúc, đó là sự “phản bội”.

Sự phản bội về cảm xúc ở đây, trước hết là cảm xúc của nhân vật chính Vương Giai Chi.

Vương Giai Chi của Lý An thuần khiết, yếu đuối, đơn giản và chân thành. Nàng có yêu tên Hán gian không? Câu trả lời dường như chắc chắn. Nàng chẳng qua cũng chỉ là một trong những cánh hồng bạc phận giữa sóng gió thời đại. Tất cả những quyết định của nàng, đều do dòng đời đưa đẩy. Dòng đời đẩy nàng từ Quảng Châu đến Hương Cảng, đưa nàng tới nhóm kịch sinh viên ái quốc với những vai diễn non nớt, rồi cuốn nàng vào màn kịch định mệnh: quyến rũ tên Hán gian họ Dị. Chính vì non nớt, nên nàng không thể tách bạch giữa kịch và đời. Nàng yêu hắn, như một điều hiển nhiên. Rất nhiều tình huống trong phim đã được dựng lên, chỉ để hợp lý hóa tình yêu giữa người đẹp và Hán gian. Vương Giai Chi của Lý An chưa bao giờ có sự chủ động trong cuộc sống của mình. Nhưng khi yêu, nàng bắt đầu tự quyết định. Nàng chủ động trong việc thả Dị tiên sinh đi, dùng cái chết của mình cùng nhiều người khác để bảo vệ tình yêu.

Vương Giai Chi của Trương Ái Linh lại hoàn toàn khác. Sắc sảo và khờ dại, tỉnh táo và huyễn hoặc, khao khát hư vinh và cảm giác tự ti… Vương Giai Chi của Trương Ái Linh mang trong mình tất cả những mâu thuẫn của chính tác giả. Nàng có yêu ngài Dị không? Câu trả lời là chính nàng cũng không biết. Nàng không chắc về mỗi cảm xúc mình có, mỗi hành động mình làm, mỗi điều đang diễn ra… Nàng lạc lõng giữa thế giới và thời đại của nàng. Nàng muốn làm điều gì đó để chứng tỏ mình, nhưng nàng lại không hề biết được ý nghĩa của nó. Nàng tự huyễn hoặc mình trong sự hy sinh và tình yêu mơ hồ. Tình yêu của nàng đối với ngài Dị không mạnh bằng mong muốn ngài Dị yêu nàng, và nàng tự đánh lừa cảm xúc của mình. Trong trái tim nàng chỉ có hai sắc thái rõ rệt nhất: chìm đắm trong những ảo tưởng về mình, cùng nỗi cô đơn.

Sự “phản bội” cũng thể hiện trong sự phản ánh cảm xúc của ngài Dị.

Đàn ông nông nổi giếng thơi,

Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.

Câu ca dao quen thuộc này của Việt Nam, thú vị thay, lại có thể giúp chúng ta khái quát “ván bài” “Sắc, giới” của Vương Giai Chi và ngài Dị qua ngòi bút của Trương Ái Linh.

Nàng trước lúc chết nhất định hận ông ta. Nhưng “vô độc bất trượng phu”. Nếu ông ta không tàn nhẫn, nàng chưa chắc đã yêu. (…) Ông ta không lạc quan về thời cuộc. Biết tương lai ra sao? Có một người tri kỷ, chết cũng không nuối tiếc. Ông ta cảm thấy bóng dáng nàng sẽ mãi mãi ở bên cạnh, an ủi mình. Dù nàng hận ông, nhưng tình cảm cuối cùng nàng dành cho ông mạnh đến mức vượt qua tất cả các tình cảm khác, không liên quan gì đến những tình cảm khác, chỉ đơn thuần là tình cảm. Quan hệ giữa họ là quan hệ nguyên thủy của thợ săn với vật bị săn, giữa hổ với trành, là quan hệ chiếm hữu cực điểm. Như nàng mới đúng sống là người của ông, chết là ma của ông.1 Mật vụ họ Dị không hề yêu Vương Giai Chi. Ông ta chỉ muốn dùng nàng để chứng minh sức hấp dẫn ở độ tuổi ngoài tứ tuần của mình, trong khi trên thực tế, ông ta chỉ là một người đàn ông trung niên, thấp, gầy và hói. Hành động của nàng khiến ông ta hoan hỉ say sưa với chính mình trong chiến thắng, chứ không hề cảm động. Trành là gi? Theo truyền thuyết xưa, người đầu tiên bị hổ cắn chết sẽ hóa thành trành, một dạng quỷ theo giúp hổ hại thêm người khác. Vương Giai Chi chính là “trành” của ông ta, bị ông ta cắn chết, đồng thời cũng nộp thêm mạng sống của đồng đội. Dưới ngòi bút sắc sảo của Trương Ái Linh, sự tàn nhẫn, ích kỷ, vô tình, thậm chí là vô sỉ của mật vụ họ Dị đã bị đẩy lên đến cực điểm.

Ngay từ việc chọn Lương Triều Vỹ vào vai Dị tiên sinh đã cho thấy đạo diễn Lý An lý giải nhân vật này theo cách hoàn toàn khác. Một người đàn ông lạnh lùng song không dấu được vẻ phong lưu đa tình. Những chi tiết như Dị tiên sinh cố tình cho Vương Giai Chi thắng trên bàn mạt chược, sau đó hẹn nàng đến chỗ vắng người để tiện bề tâm sự; Dị tiên sinh rơi nước mắt khi nghe nàng hát; Dị tiên sinh tặng nàng một bất ngờ khi đưa danh thiếp cho nàng đến tiệm kim hoàn chọn nhẫn… và đặc biệt chi tiết cuối cùng, Dị tiên sinh thẫn thờ vuốt tấm khăn trải giường trong căn phòng của Vương Giai Chi sau khi nàng bị hành quyết đã cho thấy Hán gian cũng có tình người. Điều này khác hẳn với thái độ trơ trẽn của ngài Dị trong tiểu thuyết: “Ông ta nhắc nhở mình phải bảo vợ nói năng cẩn thận: cái cô “Mạch phu nhân” kia nhà có việc gấp, đã vội trở về Hương Cảng. Đều do bà đưa sói vào nhà!(…) Phải dọa cho bà ấy sợ, đỡ việc sau này nghe cái miệng Mã phu nhân hớt lẻo, quay ra làm mình làm mẩy với ông ta.2

Sự “phản bội” về cảm xúc của hai nhân vật chính đã khiến cảm xúc của đối tượng tiếp nhận nghệ thuật – độc giả và khán giả – đối với tác phẩm cũng hoàn toàn thay đổi.

  1. Ranh giới giữa văn học và điện ảnh

2.1. Thế giới quan, nhân sinh quan:

Tiểu thuyết luôn thể hiện thế giới quan của người viết, tác phẩm điện ảnh lại thể hiện nhân sinh quan của đạo diễn. Để một tác phẩm chuyển thể thành công, cần rất nhiều yếu tố, nhưng để tác phẩm chuyển thể trung thành với nguyên tác, yếu tố đầu tiên chính là sự tuơng đồng về thế giới quan, nhân sinh quan của tác giả và đạo diễn.

Lý An trong một lần trả lời phỏng vấn đã cho biết: “Đọc xong tiểu thuyết, có thể thấy sát khí rất nặng nề, làm sao để có được tình cảm từ trong bầu không khí ấy, làm sao để có thể bước ra một cách toàn vẹn, đây là một vấn đề hoàn toàn không dễ dàng. Sát khí cũng là một trong những nguyên nhân thu hút chúng ta, chúng ta bước vào đó, như dạo một vòng trong địa ngục rồi đi ra, cảm thấy cuộc sống này vẫn còn hy vọng, con người vẫn còn có tình người, đây là một vấn đề hoàn toàn không dễ dàng.” 3Nhà văn nữ Tu Lan từng viết về Thượng Hải và những người con gái Thượng Hải trong thập niên 30 của thế kỷ XX như sau: “Những người con gái của năm 1930 đều mang những cái tên đẹp đẽ. Tôi thích nhất là Quách An Từ và Lý Thụy Sơ. Điều kỳ lạ là nhìn họ lúc nào cũng có chút sát khí, có thể vẻ đẹp cũng chính là một duyên cớ. Thượng Hải là một thành phố mang sát khí. Vũ khí của nó không phải là binh khí sắc bén, mà là những ống trúc chọc thủng các cửa sổ bằng giấy để thổi mê hương vào căn phòng trong các bộ tiểu thuyết cổ, hoặc như loại độc dược mà Lam Phượng Hoàng đã dùng trong “Tiếu ngạo giang hồ”. Lam Phượng Hoàng trong tiểu thuyết giống như một sát thủ chuyên nghiệp. Quách An Từ là thiên kim tiểu thư của tổng giám đốc công ty Vĩnh An, một cô gái rất thời thượng; còn Lý Thụy Sơ là một cô gái thường dân. Nhưng họ đều bị nhiễm vẻ đẹp cũng như sát khí của thành phố này. ” 4

Lý An dường như đã lĩnh hội được cái “sát khí” trong văn Trương Ái Linh – một phụ nữ Thượng Hải điển hình, cũng như cảm nhận được “sát khí” trong bầu không khí của đô thị hoa lệ Thượng Hải, chính vì vậy mà ông xây dựng bộ phim theo một màu sắc âm u – những sắc màu trung và âm tính, chỉ duy nhất viên kim cương hồng lóe lên như một biểu tượng của hy vọng và tình yêu, trước khi tắt hẳn trong màn đêm.

Dị tiên sinh (Lương Triều Vỹ đóng) trong phim đã từng nói với Vương Giai Chi (Thang Duy): “Tất cả những người tôi đã gặp… trong mắt họ, tôi đều thấy hiện lên một điều giống nhau – Sợ hãi. Cô không giống những người khác, không sợ hãi, phải vậy không?” (Phút thứ 51:25) Bản thân Lương Triều Vỹ cũng đã diễn rất thành công nỗi sợ hãi trong lòng một tên Hán gian: dáng đi khom khom, vai rút lại, luôn di chuyển với tốc độ nhanh nhất; mỗi lời nói ra đều phải đắn đo một vài giây để thăm dò đối phương; đầu mày cau lại, kìm nén sự căng thẳng bên trong, ngay cả khi chơi bài, uống trà, trong xe hơi, hay trên giường ngủ… Đặc biệt là ánh mắt sâu thẳm lúc nào cũng bất an… Sau ba năm gặp lại, ngài Dị nói cùng Vương Giai Chi: “Em cũng đã khác xưa”. Đôi mắt Vương Giai Chi ba năm sau cũng trở thành một đôi mắt thăm thẳm ẩn chứa nhiều tâm sự. Đó là những lợi thế hình ảnh đập vào mắt người xem mọi lúc mọi nơi mà tiểu thuyết không bao giờ có được. Lý An đã tốn nhiều công sức để dựng nên từng chi tiết nhỏ nhất góp phần hoàn thiện những màn kịch làm thót tim khán giả, từ từ dẫn khán giả vào sống cùng với tâm trạng nhân vật trên màn ảnh.

Tuy vậy, thời đại khác nhau khiến điểm nhìn của tác giả và đạo diễn không hoàn toàn thống nhất. Trương Ái Linh nhìn thời đại của Vương Giai Chi với tư cách một người trong cuộc, còn Lý An lại nhìn với tư cách một người chiêm nghiệm lịch sử.

Trong trang viết của Trương Ái Linh quả có thấm đẫm không khí nặng nề u uất mà nhiều người gọi là “sát khí”, song hoàn toàn không có nỗi sợ hãi. Chúng tôi tin rằng, trong thời đại rối ren mà bà đã sống, sinh mệnh con người hết sức mỏng manh, vận mệnh con người cũng vô cùng khó lường, nhưng cuộc sống vẫn diễn ra như nó vốn thế, và mỗi người vẫn sẽ sống với đầy đủ các sắc thái cảm xúc của mình, chứ không chỉ có nỗi sợ hãi. Trịnh Bình Như, nhân vật được coi là nguyên mẫu của Vương Giai Chi trong truyện, là người rất biết thưởng thức cuộc sống qua từng chi tiết. Theo như lời nhân chứng kể lại, trước khi bị hành quyết, cô ngửa đầu lên ngước nhìn bầu trời xanh thăm thẳm, sau đó nói với người cầm súng – đặc vụ tên Lâm Chi Giang: “Thời tiết đẹp thế này, địa điểm đẹp thế này, thanh thiên bạch nhật, hồng nhan bạc mệnh, đành nhắm mắt xuôi tay! Chi Giang, chúng ta cũng có thể coi là người quen biết. Nay nếu muốn cùng chạy trốn, hãy còn kịp. Còn nếu anh đã nhẫn tâm, thì cứ nổ súng đi! Nhưng tôi xin anh, đừng hủy hoại dung nhan mà tôi bấy lâu gìn giữ!” Chỉ mấy lời cuối này cũng đủ khắc họa chân dung tính cách một cô gái Thượng Hải điển hình bên trong người nữ tình báo dũng cảm – một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, yêu cái đẹp.

Với Vương Giai Chi của Trương Ái Linh, dù đang làm một nhiệm vụ sinh tử, nhưng cái nàng chú ý đến vẫn là những chi tiết rất đời thường: phong vị của một quán cà phê, mùi thơm của nước hoa, lời người đàn ông hứa sẽ mua cho nàng chiếc nhẫn (và nàng băn khoăn mãi, không biết có nên nhắc nhở về lời hứa ấy hay không), cái nhìn của người xa lạ, ma-nơ-canh trong tủ kính bên đường, chong chóng đủ màu trên chiếc xe kéo v.v… Nàng sống cuộc sống của nàng, với những mối quan tâm riêng, nhỏ bé, nhưng quan trọng, quan trọng hơn cả đại cuộc.

Thời gian trong mắt Vương Giai Chi của Trương Ái Linh vừa là thời gian thực tại, vừa là thời gian trong quá khứ. Nàng dùng thực tại để chứng tỏ chính mình trong quá khứ, để gỡ gạt những sai lầm tưởng như không còn có thể cứu vãn… Trong cùng một hành động của nàng, có thể thấy cùng một lúc bóng dáng của quá khứ và hiện tại, với những sắc thái tâm lý tình cảm phức tạp. Lý An, với tư cách một người chiêm nghiệm lịch sử, lại diễn giải thời gian theo chiều vốn có, lấy quá khứ làm nền tảng để lý giải cho hiện tại.

Hình ảnh nhân vật Vương Giai Chi của Lý An có thể coi như hình mẫu người tình lý tưởng trong mắt nam giới: thuần khiết, xinh đẹp, gợi cảm, thông minh nhưng không cơ trí, sống chết vì tình yêu. Vương Giai Chi của Trương Ái Linh lại khó hiểu và có phần đỏng đảnh như chính một nửa còn lại của nhân loại, với những mâu thuẫn nội tâm gay gắt song xét cho cùng lại chẳng đâu vào đâu. Hình ảnh mật vụ họ Dị trong tác phẩm của Lý An dường như đã trở nên hấp dẫn hơn so với nguyên tác, là người hiểu thời cuộc song bị chi phối bởi thời cuộc, có cảm xúc song phải buộc lòng kìm nén cảm xúc. Trong khi đó, ngài Dị dưới ngòi bút Trương Ái Linh hoàn toàn khác: mưu mô, máu lạnh, thậm chí là không còn nhân tính.

Lý An thương cảm cho sự bất lực của con người, Trương Ái Linh giễu cợt sự ngây thơ của con người. Lý An tin vào tình yêu, cảm xúc, lương tri. Trương Ái Linh lại như muốn lật tẩy và phơi bày những góc tối tăm nhất của tâm hồn. Về phương diện này, có thể nói Sắc, giới của Lý An và Sắc, giới của Trương Ái Linh là hai thế giới khác hẳn nhau.

2.2. Ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ điện ảnh:

Ranh giới giữa văn học và điện ảnh không chỉ thể hiện qua yếu tố thời đại hay góc nhìn, quan trọng hơn, nó thể hiện qua những điều có thể và không thể phản ánh bằng ngôn ngữ văn học hay điện ảnh.

Hình ảnh sống động là ưu thế lớn của điện ảnh. Trong phần trên, chúng tôi đã giới thiệu sơ qua về những hình ảnh trực tiếp đập vào mắt người xem, khiến bộ phim không cần giải thích dài dòng cũng có thể đưa tới những thông điệp đặc biệt về cảm xúc hiện hữu của nhân vật. Tuy vậy, điện ảnh lại gặp thách thức lớn trong việc phản ánh những mâu thuẫn và xung đột tâm lý bên trong nhân vật. Cần rất nhiều tình huống và tình tiết để diễn giải vấn đề. Trong khi đó, thông qua bút pháp, văn học có thể cùng một lúc kết hợp cả tâm lý, cảm xúc, hồi ức lẫn sự bổ trợ tương tác của cảnh sắc hay khung cảnh xung quanh nhân vật để thể hiện sự giằng xé hay bứt phá nội tâm.

Một trong những chi tiết đắt giá nhất chỉ có thể diễn tả bằng ngôn ngữ, đó chính là những giây phút cuối cùng ngài Dị ở bên Vương Giai Chi: “Cái cười của ông ta lúc này không chút nhạo báng, chỉ là vương một nỗi buồn. Bóng ông nghiêng nghiêng trước ngọn đèn, ánh nhìn không đặt vào đâu, làn mi như cánh con ngài trắng ngà đang đậu xuống nghỉ ngơi trên khuôn mặt xương xương. Trong mắt nàng, đó là một vẻ dịu dàng đáng thương. Người đàn ông này yêu mình. Nàng chợt nghĩ. Trong tim chấn động, như mất đi cái gì.5 Vương Giai Chi, trong giờ phút quan trọng nhất, chợt nhận ra tình yêu (song đáng thương thay, đó cũng chỉ là sự tự huyễn hoặc mình của một con người lạc lõng giữa thời cuộc). Tính bất ngờ của câu chuyện cũng như giá trị nghệ thuật của tiểu thuyết đã được được thể hiện rõ nét. Những xao động và xung đột tâm lý dễ dàng hiện ra trên trang giấy qua vài nét bút, nhưng lại là một việc cần nhiều công phu đối với điện ảnh. Để có thể diễn tả được tính hợp lý trong quyết định của Vương Giai Chi – thả mật vụ họ Dị chạy thoát, khiến tất cả bạn bè cùng chính nàng sa lưới, Lý An đã phải thêm thắt rất nhiều tình huống không có trong nguyên tác. Trong truyện, Vương Giai Chi chủ động đưa ngài Dị đến tiệm kim hoàn được chọn sẵn làm địa điểm mưu sát để sửa hoa tai, sau đó họ Dị mới đề nghị mua luôn một chiếc nhẫn kim cương tặng nàng làm kỷ niệm. Mọi việc diễn ra bình thường, vẫn là một màn kịch, cho đến phút quyết định không lường trước được của Vương Giai Chi. Trong phim, họ Dị đã tặng cho người tình một sự bất ngờ, khi bảo nàng đưa danh thiếp của mình đến tiệm kim hoàn, sau đó chủ tiệm kim hoàn mới giới thiệu món quà mà Dị tiên sinh muốn nàng nhận – một cách đầy kịch tính. Có thể thấy những biến đổi tình cảm phức tạp của Vương Giai Chi, từ lo lắng, sợ hãi đến bất ngờ và cảm động. Để có được trường đoạn này, bộ phim đã phải đệm thêm nhiều cảnh khác trước đó với mục đích lý giải mạch cảm xúc của nhân vật chính. Ba cảnh nóng của phim chính là để phục vụ cho mục đích này. Thông qua tư thế, xúc cảm của hai nhân vật trong những cảnh nóng, đạo diễn gửi gắm một thông điệp: mật vụ họ Dị đã dần dần cởi bỏ sự sợ hãi, căng thẳng, đề phòng của mình để mở cửa lòng cho Vương Giai Chi bước vào; ngược lại, Vương Giai Chi từ thế bị động đã dần trở nên chủ động trong quan hệ với kẻ thù, thậm chí ngay cả lúc có cơ hội, nàng cũng không giết hắn. Tuy vậy, yếu tố then chốt bộc lộ tình cảm thật của hai người không nằm ở những cảnh nóng, mà thể hiện trong cảnh Vương Giai Chi hát cho mật vụ họ Dị nghe. Lời hát Thiên nhai ca nữ vừa kết thúc cũng là lúc họ Dị ứa nước mắt và đưa tay nắm lấy tay nàng. Có thể thấy sau những cố gắng hòa hợp về mặt thể xác, cuối cùng hai nhân vật chính trong phim cũng đã đạt đến sự hòa hợp cả về tinh thần. Quyết định cuối cùng của Vương Giai Chi là kết quả của một quá trình dài suy nghĩ, đấu tranh và cuối cùng chấp nhận số phận. Tất cả diễn ra một cách hợp tình hợp lý.

Tiếc thay, những nỗ lực của đạo diễn khi lý giải bút pháp của nhà văn, cuối cùng lại đẩy bộ phim đi càng lúc càng xa ý đồ nghệ thuật ban đầu. Đó là vấn đề của hầu hết các bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết, đặc biệt từ những tiểu thuyết mang giá trị văn học cao như Sắc, giới. Chung quy cũng do điện ảnh và văn học luôn được diễn đạt bởi thứ ngôn ngữ nghệ thuật khác hẳn nhau. Tinh hoa của bộ phim thường là những khoảnh khắc làm rung động lòng người. Tinh hoa của tiểu thuyết lại nằm trong những ngôn từ khắc họa tâm lý nhân vật tinh tế và sắc nét.

Cùng là Sắc, giới, nhưng Trương Ái Linh nhấn mạnh vào “Giới”, còn Lý An tập trung vào “Sắc”.

Giới” của Trương Ái Linh, không phải chỉ là thận trọng, đề phòng, mà còn có một nghĩa khác là “chiếc nhẫn”. Chiếc nhẫn xuyên suốt tác phẩm, là một lời hứa, là một giấc mơ, là một đạo cụ đắt tiền nhưng chỉ được sử dụng trong phút giây ngắn ngủi trên sàn diễn, là ánh hào quang trong thoáng chốc, như một minh chứng cho những cảm thức vinh hoa vô nghĩa trong đời người. “Giới” ở đây, nếu được hiểu như một động từ có nghĩa “đề phòng”, thì cũng không phải là đề phòng “sắc”, mà là đề phòng những dục vọng nói chung trong sâu thẳm lòng người.

Sắc” của Lý An là yếu tố xuyên suốt tác phẩm điện ảnh. Đó là nỗi khát khao, là những âm mưu, là sự giải thoát. Không thể phủ nhận yếu tố “Sắc” đã khiến cho sản phẩm mang tính thương mại cao hơn hẳn. Tuy vậy, sự diễn giải mang đậm tính chất cá nhân của đạo diễn đã biến Sắc, giới điện ảnh thành một sản phẩm có phần xa lạ với tiểu thuyết ban đầu.

Thiết nghĩ, lằn ranh giữa văn học và điện ảnh tuy mong manh, song lại khó vượt qua hơn cả trùng trùng thành lũy. Cuối cùng, cái đọng lại trong lòng người không phải là “sắc” hay “giới”, mà chính là những cảm xúc thăng hoa sau khi thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật. Đó mới thực sự là điều quan trọng.

Tài liệu tham khảo:

  1. Ấn khắc văn học sinh hoạt chí, Đài Loan, tháng 8/2007.

  2. Tu Lan, Ván cờ của hồ ly, đăng trong tạp chí Vạn Tượng, Thượng Hải, tháng 11/1998.

  3. Trương Ái Linh, (Phan Thu Vân dịch), Sắc, giới, NXB Trẻ, Tp.HCM, tháng 1/2009.

  4. Sắc, giới (Lust, Caution), Haishang Films phát hành (liên kết với Focus Features và River Road Entertainment), 2007.

1 Trích trong “Sắc, giới”, NXB Trẻ, Tp. HCM, 2009.

2 Trích trong “Sắc, giới”, NXB Trẻ, Tp. HCM, 2009.

3 Trích trong “Ấn khắc văn học sinh hoạt chí”, Đài Loan, tháng 8/2007.

4 Trích trong “Ván cờ của hồ ly”, đăng trong tạp chí “Vạn Tượng”, Thượng Hải, tháng 11/1998.

5 Trích trong “Sắc, giới”, NXB Trẻ, Tp. HCM, 2009.

 

Phan Thu Vân, Nhìn lằn ranh giữa văn học và điện ảnh qua Sắc, giới, Hội thảo quốc tế “Những lằn ranh văn học”, NXB Đại học Sư Phạm TP.HCM, 23/12/2011.

Phan Thu Vân, Lằn ranh giữa văn học và điện ảnh qua Sắc, giới, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 1 (491) tháng 1/2013, trang 116 – 125.

http://hcmup.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=6769%3Anhin-ln-ranh-gia-vn-hc-va-in-nh-qua-sc-gii&catid=4130%3Avan-hoc-nuoc-ngoai&Itemid=7244&lang=zh&site=30