BỘ PHIM DỰA TRÊN TÁC PHẨM THÊ THIẾP THÀNH QUẦN CỦA TÔ ĐỒNG (TRUNG QUỐC).
-
Thể loại: Tâm Lý, Tình Cảm
-
Thời lượng: 125 phút
-
Đạo diễn: Trương Nghệ Mưu
-
Diễn viên: Củng Lợi
-
Năm phát hành: 1992
-
Quốc gia: Trung Quốc
BỘ PHIM DỰA TRÊN TÁC PHẨM THÊ THIẾP THÀNH QUẦN CỦA TÔ ĐỒNG (TRUNG QUỐC).
BỘ PHIM DỰA TRÊN TIỂU THUYẾT SỐNG CỦA DƯ HOA (TRUNG QUỐC)
■《活著》(英文:To Live),1994年中國電影,是一部改編自同名小說,由張藝謀執導,葛優、鞏俐領
■ 故事主角歷經中國近現代多個不同時代(從中國國民黨統治大陸末期的1940年代到文化
■ 該片因涉及政治因素,對中國大陸解放後的若干政策多有諷刺,主人公的悲劇是在人民公社
國立中山大學「余光中人文講座」為促進人文思考、創造人文環境、深化人文素養,將定期邀請世界級、大師級、重量級藝文界人士蒞校訪問或駐校,與國立中山大學榮譽教授余光中進行各種主題的對談。此次由余光中教授親筆信函邀請、歷經中山大學文學院院長黃心雅暨中山大學團隊長達三個多月之越洋聯繫,「余光中人文講座」首場敲定由國際大導演李安擔任主講人。
文壇與電影界的兩位大師,其實已在數十年前便有藝術生命上的交流。余光中教授四十四年前寫的長篇散文《焚鶴人》(1969),曾被時值學生的李安改拍成短片「星期六下午的懶散」(1976年拍攝,18分鐘超八厘米劇情黑白短片),並以此片申請到美國紐約大學電影系。中山大學表示,此次講座入場券在開放索票十分鐘內便被索取一空,還有人排隊排了三個小時,也有民眾大排長龍希望補位,為了擴大分享「余光中人文講座」的精彩內容,此次講座將全程記錄,未來將公開使社會大眾以閱聽形式貼近兩位大師的交流。
明年三月,第二場「余光中人文講座」將由現居香港的中央研究院院士、前香港中文大學校長、著名社會學家金耀基先生駐校講座、座談也將為其策畫主題書展,讓有興趣的學子及民眾有機會拜讀學者著述。五月份則邀請中國當代文學女作家王安憶女士,以「故事與主題」為題講座。王安憶是全球華文讀者心目中最重要的華文小說家之一,台灣旅美文學評論家王德威謂王安憶是繼張愛玲後,又一海派文學傳人,長篇小說《長恨歌》獲獎無數,作品被譯成英、德、荷、法、捷、日、韓、以色列等多國文字。明年五月王安憶作品書展與簽書會將配合講座舉行,台灣讀者將得以親見作家身影。
余光中指出媒體報導李安格局氣虛一說,李安則說報導篇幅有限,讓他到處解釋、道歉、冒冷汗,今天也謝謝余光中老師給他機會再申訴一下。李安解釋,格局不是說要拍歷史大片,而是體格健壯的意思,電影要小、要精準。這次看到的問題包括結構不夠完整兼顧,還有許多一廂情願地推演,推演的能力不夠紮實,以及內容不夠營養、關係經營不夠精采。李安說,情感的經營、關係的解構建構等不夠精采,或許因為文化教育造成怠惰,讓我們缺乏競爭力,「跟外面比的時候會吃虧」,李安也呼籲,不能老靠民族感情或一廂情願的熱情。
李安接著說,這次的結果值得警惕,電影反映社會文化,這次看很多臺灣片都有很想愛但拉不到票的痛苦。李安認為該學習西方的、該補強的,該保留的要好好經營茁壯,在結構、環境推演、邏輯性上要加強,這是面對世界競爭需要有的強健體魄。
2013/11/25/大成報/記者吉雄世/高雄報導
Dĩ nhiên, các lời chỉ trích của dân mạng đang nói tới ở đây, phần lớn là của các phần tử chủ nghĩa dân tộc cực đoan, đã không thể nào chịu nổi chuyện Angelina Jolie nhấn mạnh Lý An không là một người Trung Quốc.
Trang tin Shanghaiist.com cho biết Angelina Jolie tuyên bố trong buổi họp báo ra mắt phim Maleficent. Trong giờ phút có nhiều người lắng nghe nhất, đứng cùng với diễn viên Brad Pitt, người nữ diễn viên xinh đẹp này đã mỉm cười duyên dáng và nói rằng “đạo diễn mà cô yêu thích là Lý An, người Đài Loan” (Taiwanese, not Chinese – tạm dịch: Người Đài Loan không phải người Trung Quốc).
Trên mạng xã hội Weibo, Haohao report… đều có những tranh cãi dữ dội, cũng như những lời kết tội, thậm chí gọi người diễn viên lừng danh này là quá thiếu hiểu biết để nhận ra sự đúng đắn. Giới trẻ Đài Loan cũng bắt đầu nhảy vào cuộc tranh cãi để bảo vệ thần tượng của mình.
Ngay trên một vài bài dịch của báo điện tử Việt Nam, cũng có nhận định cho là Angelina Jolie đã “vô tình” khi gọi như vậy. Nhưng nếu bỏ ra ít phút để theo dõi cuộc đời của người nữ nghệ sĩ này, bất kỳ ai cũng có thể thấy rằng, đó là một thái độ, chứ không thể là “vô tình” hoặc “không hiểu biết”.
Từ nhiều năm nay, Angelina Jolie nằm trong danh sách đen của công an Trung Quốc vì là một trong những người luôn cất tiếng đòi bảo vệ văn hóa và con người Tây Tạng. Bên cạnh những thành công của cô về điện ảnh, Angelina Jolie còn là một đại sứ Thiện chí, hoạt động nhân đạo xuất sắc của Cao ủy tị nạn Liên hiệp quốc (UNHCR) trong nhiều năm nay, với tầm hoạt động trải rộng từ châu Phi đến châu Á.
Thái độ là một giá trị chân chính của nghệ sĩ, dù đứng ở đâu, dù đang như thế nào. Hành động nhỏ của Angelina Jolie khiến cho những người lâu nay vẫn yêu mến cô không thất vọng về một tính cách mạnh mẽ và nhất quán với sự thật.
Thái độ là một bảng khắc tên danh dự cao quý, mà có thể trong đời một nghệ sĩ, có thể chỉ có một cơ hội duy nhất để bước vào. Câu chuyện của hôm nay, nhắc nhở rất nhiều điều khiến cho loài người tử tế đã nắm tay nhau, cùng chung niềm kiêu hãnh.
Steven Spielberg đã từ chối vai trò đạo diễn lễ khai mạc Olympic 2008 ở Bắc Kinh để phản đối việc đàn áp con người. Trong danh mục thành tích sự nghiệp vĩ đại của Steven Spielberg, có thể đã bỏ trống phần lớn nhất là đạo diễn cho Oplympic, nhưng ông có thể thanh thản, và rực sáng hơn nữa vì thái độ công chính của mình.
Việc đấu tranh bền bỉ, thậm chí lăn xả vào các sự kiện, nhằm giúp cho văn hóa và con người Tây Tạng của Richard Gere hay George Clooney cũng là một thái độ chọn lựa nhất định mà họ mong muốn, giữa lúc cuộc sống thành đạt của họ có đặc quyền hưởng thụ và không cần phải quan tâm điều gì khác ngoài sự nghiệp.
Không ai ép được Christian Bale đang đóng phim ở Trung Quốc, đã âm thầm mạo hiểm đi cả trăm cây số, ghé thăm và ủng hộ tinh thần luật sư dân quyền khiếm thị Trần Quang Thành vào năm 2011, sau đó cuộc rượt đuổi của công an Trung Quốc với Christian Bale trở thành câu chuyện nghẹt thở đến mức nhiều nhà sản xuất phim đề nghị được dựng thành phim.
Ở Việt Nam, lời dạy về thái độ cũng được ghi lại từ rất xưa. Năm 1957, bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán cũng từng khắc “Đi trọn đời trên con đường chân thật, yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét, dù ai ngon ngọt nuông chiều, cũng không nói ghét thành yêu”.
“Tuổi tên tinh biểu nay còn lại
Bia đá ngàn năm cỏ mọc tràn”
Nguyễn Trãi, bậc đại trí giả của người Việt từng để lại ẩn dụ cho đời: mọi thứ sẽ đi qua, chỉ còn nhân cách ở lại. Không phải riêng Angelina Jolie, mà với bất kỳ ai, thái độ sống đúng và tử tế là một hành lang dẫn đến căn phòng vinh danh con người và chính mình, với mọi điều trân trọng.
Nguồn:
http://www.baomoi.com/Vi-sao-Angelina-Jolie-dam-goi-dao-dien-Ly-An-la-nguoi-Dai-Loan/c/14070259.epi
http://www.asiancinevision.org/ang-lee-and-zhang-yimou-interview/
Ang Lee, the Oscar-winning American film director with Taiwan roots, and Zhang Yimou, the storied veteran of mainland Chinese moviemaking, joined together on March 27 at Cooper Union in New York in a discussion billed “Chinese Film, Chinese Confidence” by Zhang’s backer, LeVision Pictures.
Lee’s is a household name around the world among fans of his Hollywood blockbusterLife of Pi, an exploration of man’s relationship to faith. Zhang, on the other hand, might be more widely remembered these days for his design of the opening and closing ceremonies of the Beijing Olympics in 2008 than for any of his films. Sure, true world cineastes revere him for his groundbreaking works of the late 1980s and early 1990s (e.g., Red Sorghum, Raise the Red Lantern). But his last film, The Flowers of War, barely registered in North America, still the world’s largest movie marketplace in gross sales terms ($10.92 billion in 2013), despite a starring role for Oscar-winner Christian Bale.
With China’s box office up 27.5 percent in 2013 to $3.5 billion, according to the State Administration of Press, Publications, Radio, Film, and Television, and expected to overtake North America’s in five years, Zhang is at once trying to gain a footing in Hollywood as China’s most entrenched director and trying to avoid being left behind by his home audience. Now decades his junior, Chinese moviegoers helped crown the 2012 comedic road movie Lost in Thailand, by first-time director Xu Zheng, the most successful Chinese-language movie of all time.
At the same time as Zhang is coming West—as the most visible example of the central government’s call to use the media to promote China’s image to the world—the Hollywood studios are headed East, promoting the best calling cards the American Dream ever knew: blockbuster movies. The cast of Spiderman 2 was on a junket in China just this week. Hollywood is ramping up its efforts to engage the interest of younger, more affluent Chinese moviegoers, whose swelling ranks now spend more on movie tickets each year than any other audience in the world after North Americans.
And Zhang wants America’s attention. He is in talks to direct an English-language co-production in Hollywood about the Great Wall of China —an experiment in trying to please two markets at once. Zhang said he was looking to Lee for advice to spread his message in a tongue he does not speak.
“Ang Lee occupies both worlds, so I want to learn from him,” Zhang said. “We are proud to see him represent Chinese in Hollywood,” a place he acknowledged might have something to offer China.
“Hollywood came to me, I didn’t go to Hollywood. They’re interested in the Chinese market. This cooperation with Hollywood will be a good promotion for Chinese culture.”
The evening’s moderator, New York University film professor Christine Choy, asked Lee how he makes movies for the world and he was forthcoming with his answer.
“When America built the movie industry over one hundred years ago, they also built culture for the world. In America these days, filmmakers are playing to the audience, but in China you’ve still got to make sure you are pleasing the leaders, the boss. You have to work in a basic language so the people can understand you.”
With China’s new economic power and political confidence, Zhang predicted it wouldn’t be six years before China’s box office becomes number one worldwide. “The whole industry will lean toward China,” he said.
That day may come, but the mounting costs of the breakneck development of China’s movie industry infrastructure—its theaters and its studios, for instance—add increased real-time pressure on China’s few marquee directors like Zhang to turn a big profit now. Lee touted the wisdom of a long-term strategy.
“The Chinese market has to grow into maturity. If it’s pushed too hard, or looks only at money, it won’t be natural or good,” Lee said. One trap to avoid is paying Hollywood too much mind, he said. “China must learn its own way. I hope the leaders will be less restrictive and can trust the audience. On this score I am optimistic.”
Both Zhang and Lee said they put little time into the Hollywood practice of reworking scripts to try to achieve what market analysts say could result in the greatest commercial success at any given moment.
“I don’t like to plot too much,” said Zhang, saying he’s in a tough spot. Whereas he used to be able to turn to early 1980s books in a period of relative freedom in media in China, when the beginnings of a civil society emerged after the Cultural Revolution, today, he said, “There are many reasons, and authors won’t like me saying this, but I can’t use much in today’s novels.”
One young male student at NYU—where Zhang’s daughter also studied filmmaking—asked Lee and Zhang what role awards should play in a director’s life.
“I don’t think about it,” Lee said. “I just do it.” Zhang followed by saying that he never had expected an award but that it changed the game when he won his first big one—the Golden Bear at the Berlin International Film Festival in 1988 for Red Sorghum. “Awards mean media attention, which means investor interest, which is the start of the next film.”
The directors’ discussion was hosted by NYU and LeVision, the private Beijing-based company where Zhang was named Creative Director in 2013. A room of about one hundred mostly-Chinese and Asian American guests gathered in the Frederic Rose Theater in the basement of a late-model frosted glass and steel building on Cooper Square. Reporters not with the Chinese media were invited by LeVision on the condition that they not write about Coming Home, Zhang’s new film about the Cultural Revolution.
For the dozens of Chinese reporters in the room in both print and broadcast media, the directors were preceded to the stage by a montage of their best known Chinese-language films, titles such as Lee’s Crouching Tiger, Hidden Dragon, the highest-grossing foreign language film ever to screen in North America (box office total in 2000, $128 million), and Zhang’s Hero, the third-highest grossing ($53 million in 2002). Between the movie clips, word-pairings in Chinese characters and English translations—“Broad / Profound,” “Expansive/Majestic,” “Vigorous/Serene,” and “Tranquil/Dynamic”’—flashed across the screen. A LeVision representative said the trip was designed to get Coming Home press attention back in China in the run up to its premiere around the May 1 Labor Day national holiday, a peak moviegoing time.
The two casually-dressed directors, Zhang is his typical all-black, down to his sneakers, and Lee in khakis and a blazer, were seated in front of towering advertising posterboards for the drama about a woman writer’s experience during the tumultuous time of the 1960s and 1970s when the politics of paranoia ruined many lives. It is a period only just beginning to be readdressed in the popular conscience today.
Zhang’s Hero and Lee’s Crouching Tiger for years set the standard against which many Chinese language films were judged. Both films’ commercial success spawned countless imitators and over a decade of historical martial arts epics of which today’s audience has grown tired. Younger directors are serving up romantic comedies and contemporary action films, but there still are few films shot in Chinese and given official approval for theatrical release that deal with the country’s vision for its future.
“I won’t restrict myself to the past,” Zhang said. “I will make films about the future. Today, very few films in China are filled with fantasy and imagination.” Pinpointing one reason why that might be the case, one audience member asked when Zhang had made compromises in his work.
“All the time,” Zhang replied without hesitation. “Especially in China. From the very beginning one has to expect that the story won’t pass censorship. Even Ang Lee is no stranger to compromise. What we learn is that after compromises you can still recover your original intention.”
For his part, Lee said that the struggle of filmmaking was about “compromise and persistence.”
“If you’re too inflexible and strong, you’ll snap. If you’re too soft, you’ll give up. You have to be flexible. Directing is like delivering the mail. The movie directs us to the destination.”
Asked what advice they would offer filmmakers just starting out, Zhang expressed a bright forecast for China. “The next decade will be golden for new directors. Seize the day and train yourselves,” he said. “Take your hopes and dreams and let people know about them.”
Lee sized up the audience for Chinese directors as bigger than ever before since Chinese are everywhere in the world today. “Many young directors today see us [older directors] and say, ‘Get outta my way.’”
http://www.chinafile.com/Ang-Lee-Zhang-Yimou-Talk-Movies
| Dương Châu |

Kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du, các hoạt động vinh danh và nghiên cứu thi hào đã chính thức được khởi động trong những ngày cuối tháng Bảy, đầu tháng Tám này, mở đầu cho hàng loạt sự kiện dự kiến sẽ được các trung tâm nghiên cứu, trường đại học, chính quyền và nhân dân Hà Tĩnh quê hương ông và nhiều địa phương khác tổ chức cho đến hết năm. Hội thảo quốc tế Đại thi hào dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du: Di sản và các giá trị xuyên thời đại do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và UBND tỉnh Hà Tĩnh phối hợp tổ chức ngày 8/8 vừa qua, với 108 tham luận, trong đó có 16 tham luận của học giả nước ngoài, được xem là biểu hiện rõ rệt nhất các khuynh hướng diễn giải Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều của ông sau hơn hai thế kỷ.
Theo quan sát của chúng tôi, dấu mốc của việc diễn giải Nguyễn Du và Truyện Kiều tại Hội thảo này thể hiện rõ nhất ở hai khía cạnh: 1) Sự mở rộng biên giới tiếp nhận Nguyễn Du tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các học giả nước ngoài; 2) Tái diễn giải các diễn giải trước kia về Nguyễn Du, đặc biệt là Truyện Kiều, trong sự mở rộng các văn bản văn hóa quy chiếu quá trình nhận thức và diễn dịch Nguyễn Du và Truyện Kiều như là kết tinh giá trị và bản sắc văn hóa dân tộc.
Ở vấn đề thứ nhất, vượt ra ngoài biên giới lãnh thổ, Nguyễn Du và Truyện Kiều được người Việt Nam ở nước ngoài ý thức một cách rộng khắp, trong các chiến lược quảng bá và thúc đẩy quá trình nhận thức về tác phẩm, ở cộng đồng các nước Anh ngữ, Đức ngữ, Nga ngữ, Hoa ngữ,… và ở một số quốc gia và ngôn ngữ ít phổ biến hơn, như Cộng hòa Czech, Hàn Quốc, Thái Lan,… Phổ biến Nguyễn Du và Truyện Kiều ở định dạng song ngữ là một nỗ lực tìm được tiếng nói chung của nhiều học giả góp mặt tại hội thảo này. Các học giả gốc Việt như Nguyễn Huy Hoàng (Việt kiều Nga), Trương Hồng Quang (Việt kiều Đức),… đã trình bày các dự án mà cộng đồng người Việt sở tại đã và đang tiến hành cho việc in ấn và quảng bá Truyện Kiều tới đông đảo kiều bào, ở cả thế hệ thứ hai, thứ ba, là những thế hệ ít có khả năng sử dụng tiếng Việt. Hội thảo cũng ghi dấu một thế hệ mới các học giả nước ngoài nỗ lực tìm biết Việt Nam qua đại diện là Nguyễn Du và kiệt tác của ông, trong đó một số nhà nghiên cứu nước ngoài có tuổi đời còn trẻ, đến từ khu vực Đông Á, Đông Nam Á (Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, Lào,…) hay ngoài khu vực văn hóa Hán hóa (Czech,…). Điều này cho thấy, bên cạnh những tiếp cận nhiều ít bị chi phối bởi ý thức hệ và chủ nghĩa dân tộc, chẳng hạn những trao đổi xung quanh bản dịch và nhận định của GS Triệu Ngọc Lan (Trung Quốc) – đánh giá đúng mức chất lượng bản dịch Truyện Kiều sang Hán ngữ của bà (bản dịch thứ tư tại Trung Quốc), những băn khoăn khi nhan đề Truyện Kiều ở bản dịch này lại được dùng đúng với tên Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân, là tác phẩm mà Nguyễn Du đã vay mượn để sáng tạo, có thể tạo ra những hiểu lầm trong quá trình tiếp nhận của bạn đọc Hoa ngữ,… thì sự quan tâm nghiên cứu của một số tác giả trẻ khác đến từ các nền văn hóa khác, chủ yếu lại xuất phát từ giá trị tự thân trong sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Du, lòng yêu mến và nỗ lực thấu thị văn hóa Việt Nam.
Ở vấn đề thứ hai, là nỗ lực giải hoặc các diễn giải trước kia về Nguyễn Du và Truyện Kiều, với hai điểm mốc: tranh luận về Truyện Kiều những năm 1920 và 1930, và sự trở lại của cuộc tranh luận ấy ở hai miền đất nước chia cắt những năm 1950 và 1960, có thể được coi là dấu mốc đánh dấu chu kỳ khoảng nửa thế kỷ cho mỗi tái nhìn nhận. Trong những nhận thức này, Nguyễn Du và Truyện Kiều hiện lên không chỉ như một giá trị, mà còn như một phương tiện dẫn truyền các chiến lược diễn ngôn của trí thức Việt Nam mỗi thời đoạn.
Ở thời điểm những năm 1920, Truyện Kiều và Nguyễn Du được huy động vào dự án dân tộc mà Phạm Quỳnh chủ trương. Đề cao Truyện Kiều trong tư cách là quốc ngữ, quốc văn, gây dựng và gìn giữ quốc học, quốc hồn, cải cách để hình thành một quốc gia mới trong tư tưởng, Phạm Quỳnh đã bị phản bác bởi lựa chọn bạo lực cách mạng của một xu thế khác, được đại diện bởi Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, trước khi Phan Khôi có được cái nhìn tương đối khách quan về mỗi chọn lựa. Cuộc tranh luận này xuất phát từ bài diễn thuyết của Phạm Quỳnh tại Hội Trí tri, trong đó có câu nói trở thành nổi tiếng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, dù thực chất chỉ là một bài phát biểu mang tính tưởng niệm là chính. Song với Ngô Đức Kế, việc Phạm Quỳnh xưng tụng Truyện Kiều và quảng bá việc dùng chữ Quốc ngữ được đặt trong một phối cảnh rộng hơn: Ngô Đức Kế cho rằng việc tán dương Truyện Kiều của Phạm Quỳnh nằm trong chủ trương “Pháp Việt đề huề”, một đường hướng trong việc hợp tác với thực dân của Phạm Quỳnh, sẽ dẫn tới việc ru ngủ người dân Việt Nam, khiến họ không còn ý thức đấu tranh đòi độc lập. Phạm Quỳnh đã không trả lời bài phản biện đăng báo Hữu thanh (tháng 9/1924) này của Ngô Đức Kế, dù cuộc tranh luận lúc đó đã kéo theo nhiều tiếng nói phẩm bình khác về Truyện Kiều. Chỉ đến khi Phan Khôi viết bài “cảnh cáo các nhà học phiệt” đăng trên Phụ nữ tân văn (tháng 7/1930), ép Phạm Quỳnh phải lên tiếng, ông mới lên tiếng phản bác Ngô Đức Kế vừa đúng lúc nhà chí sĩ này mới qua đời. Huỳnh Thúc Kháng đã lấy cái cớ ấy để lên tiếng tiếp tục đả phá Phạm Quỳnh và kết án Truyện Kiều, khẳng định quan điểm của Ngô Đức Kế, trong bài báo đăng Tiếng dân (tháng 9/1930)… Nếu kết nối cuộc tranh luận này vào trong chủ đích hoạt động của những người tham gia (chủ nghĩa quốc gia trong quan điểm của Phạm Quỳnh; cách mạng quốc gia trong quan điểm của “quốc sự phạm” Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng), rồi các quan điểm của họ cùng Phan Khôi về vấn đề “quốc học”, “quốc văn” như đã được họ trình bày ở các bài viết tham gia tranh luận (mở rộng đến bài “Nền quốc văn” trước đó trên Hữu thanh, tháng 4/1924 của Ngô Đức Kế; bài “Về cái ý kiến lập hội ‘Chấn hưng quốc học’ của ông Phạm Quỳnh” sau đó trên Phụ nữ tân văn, tháng 9/1930, như ý kiến phát biểu của Lại Nguyên Ân tại hội thảo), thì về thực chất, việc khen chê Truyện Kiều đã chỉ là phương tiện để người ta luận bàn về việc giáo dục ngôn ngữ và văn hóa dân tộc. Không ai trong cuộc tranh luận trực tiếp nói ra điều này, dù họ đều hiểu đối thủ định nói điều gì, làm cho cuộc tranh luận bị bỏ lửng, và cho hậu thế thấy được sự phân hóa phức tạp của trí thức trong việc kiến tạo ảnh tượng dân tộc và mô hình quốc gia Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Sau 1954, Truyện Kiều và Nguyễn Du tiếp tục được trưng dụng mạnh mẽ hơn khi hội với xu thế “tôn thờ thời khởi thủy” của trí thức Việt Nam hậu thuộc địa. Ở miền Bắc, tái nhìn nhận Nguyễn Du và cuộc tranh luận giữa phe chống Kiều và phe tán dương Kiều những năm 1920 nằm trong bối cảnh rộng lớn hơn của việc truyền bá các giá trị bình dân (chẳng hạn như việc phổ biến các tác phẩm Nôm trong loạt sách của Nhà xuất bản Phổ thông), việc kết án Phạm Quỳnh, đề cao khởi nghĩa của nhà Tây Sơn, góp vào nỗ lực tạo ra một phả hệ lịch sử mạch lạc mang tính giai cấp. Các nghiên cứu về “vụ án Truyện Kiều” được tập trung trên tờ Nghiên cứu văn học vào nửa đầu những năm 1960 chia sẻ với cuộc tranh luận những năm 1920-1930 ở việc lên án Phạm Quỳnh, song khác ở một điểm quan trọng, Truyện Kiều được ngợi khen chứ không bị phê phán nữa. Từ đây, Truyện Kiều từng bước được tấn phong như là kết tinh giá trị văn hóa dân tộc, và người sinh thành ra nó, nhà nho Nguyễn Du từng bước được mạch lạc hóa từ sự bác tạp các dữ kiện về mặt tiểu sử và thời đại, kết tinh ở “giá trị hiện thực” và “tinh thần nhân đạo”, một dòng sáng trong tiến trình văn học phong kiến Việt Nam, bên cạnh dòng chủ lưu là chủ nghĩa yêu nước.
Ở miền Nam, trong sự đa dạng các hướng tiếp cận, xu hướng nghiên cứu marxist với đại diện là Nguyễn Văn Trung cũng về “vụ án Truyện Kiều” những năm 1920 tạo nên một cuộc tranh luận nảy lửa, cho thấy sự phân hóa của trí thức khi gây dựng một hình mẫu quốc gia mới, với “Sài Gòn thủ đô văn hóa Việt Nam”, như cách gọi của một lứa văn nghệ sĩ trí thức. Cuộc tranh luận ở Sài Gòn cũng bắt đầu bằng một bài diễn thuyết của Nguyễn Văn Trung tại Trường Quốc gia Âm nhạc: “Văn học và Chính trị – Một quan điểm mới về cuộc tranh luận Phạm Quỳnh – Ngô Đức Kế qua Truyện Kiều” vào tháng 10/1962. Như tư liệu mà sau đó được Nguyễn Văn Trung công bố (Vụ án Truyện Kiều, tài liệu dành cho sinh viên Văn khoa Sư phạm lớp Lý luận văn học, 1972), bài diễn thuyết này đã làm nảy sinh cuộc tranh luận, trong đó có nhiều ý kiến chống lại quan điểm phê phán Phạm Quỳnh của Nguyễn Văn Trung. Nếu như Nguyễn Văn Trung tìm được tiếng nói tương đồng từ các nhà nghiên cứu miền Bắc (chẳng hạn như Nguyễn Văn Hoàn đã viết bài “Gửi một trí thức miền Nam” nhân vụ tranh luận về Truyện Kiều phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, sau có chỉnh sửa in Tạp chí Văn học), thì ông lại ít được chia sẻ bởi các nhà nghiên cứu và độc/thính giả ở ngay tại miền Nam. Khi thông tin về việc nghiên cứu Truyện Kiều và Nguyễn Du vẫn được kết nối đáng kể giữa hai miền, cuộc tranh luận về Truyện Kiều và các vấn đề hữu quan giữa các nhà nghiên cứu ở hai miền, giữa các nhà nghiên cứu có xu hướng khác nhau ở mỗi miền, đã trình hiện những ý hệ khác nhau trong việc trưng dụng một di sản văn hóa dân tộc vào nỗ lực mạch lạc hóa những tự sự khác nhau về truyền thống dân tộc và sự tiếp nối của truyền thống ấy trong các dự án về dân tộc đương thời đang được các chính thể và trí thức xây dựng.
Như vậy là, nhìn vào các tham luận và ý kiến trình bày tại hội thảo, dù không áp đảo về số lượng, song hai khía cạnh mới mà chúng tôi trình bày trên, có thể coi như chỉ dấu về một ngả quành trong tiếp nhận Nguyễn Du và Truyện Kiều. “Khảo cổ học” về Nguyễn Du và Truyện Kiều cùng lịch sử những cách đọc, mở rộng các phương diện của việc tiếp cận Nguyễn Du và Truyện Kiều từ phê bình giá trị đến nghiên cứu văn hóa,… là những hướng đi khả dĩ. Nếu điều này được phát triển, thì dịp kỷ niệm không đơn thuần chỉ là lễ tưởng niệm, mà còn là động lực cho sự phát triển của nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều, cho khoa học văn học ở Việt Nam nữa.
Nguồn:
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=9000&CategoryID=41
| 编者按:中越两国,关系就这么紧张了起来。
相较政治局势而言,两国的文化交流总是脆弱的,但事实上,文化对日常生活的影响,又是更为恒定与深远的。 强势文化压制弱势文化,不是文化交流;某一文化对另一文化顺从、勉强接受,也绝非文化交流。交流,须有起始点与机会的均等。 在这样一个时刻,梳理中越文化交流史,并非刻意强调中国文化的影响——这与“认为凡是带有中国文化影子的东西都是侵略”一样不足取。
汉字书法与越南 越南废除汉字,比中国废除科举还晚 搜狐文化:汉字,是何时传入越南的? 刘志强:汉字在越南的传播,可上溯至公元前214年,秦始皇平定岭南时,汉字就已经传入越南。 历史上越南不少皇帝、名儒也都擅长汉字书法。譬如,黎圣宗(1442—1497),是越南后黎朝的第四代国君,也是一位汉字书法家。 搜狐文化:古代,汉字在越南的传播有何特点? 刘志强:由于特殊的历史原因,古代中越书法交流具有三个明显的特点: 首先,在越南脱离中国独立以前,书法艺术在越南的内涵与在当时中国内地无异。 其次,越南在10世纪中叶脱离中国独立后,民族主义开始萌芽发展,但是由于仍然实行科举制度,书法的优劣又在一定程度上反映出文人的文化水平,书法好的人在科举中更容易“金榜题名”,所以在古代,越南人练习书法也包含一定的功利主义。 越南封建王朝不仅是在科举取士时看重书法,在招募士兵时也把书法作为考核的标准之一。 再次,古代汉字书法艺术在越南被本土化的表现是喃字书法的兴起。喃字书法艺术虽受到了汉字书法的巨大影响,但从现在保留下来的喃字碑文、庙宇对联等显示,喃字书法在越南同样曾登大雅之堂。 搜狐文化:你在文章中写道,“10世纪中叶,越南脱离宋朝独立,但汉字仍然是其官方文字”。 刘志强:越南在10世纪时脱离宋朝独立,但越南与中国的之间的“朝贡”关系一直延续着,汉字一直是越南的官方文字。 当时,越南与中国虽然保持着“朝贡”关系,但是在文化上,并没有强迫越南一定要接受汉文化。那时,与中国保持“朝贡”关系的周边国家不少,除韩、日、越三国外,其他的国家都没有把汉字作为官方文字使用。 不仅如此,越南还仿照中国,以汉字作为载体进行科举取士,直至1918年才下诏废除,比中国科举制度的废除时间还晚。 汉字书法艺术之所以得到古代越南各个阶层的接受,是因为汉字书法已经成为了一种为越南人所用、所享的艺术。 1945年,越南宣布将一种拉丁化“国语字”作为国家的正式文字,汉字在越南才逐渐停止使用。 搜狐文化: 越南推拉丁化“国语字”是什么背景? 刘志强: 近代,法国殖民者在越南逐渐推行拉丁化“国语字”,试图割断中越文化的密切关系。1884年后,越南成为了受法国保护的“保护国”,但是顺化朝廷作为法国的“傀儡政权”仍然苟延残喘。科举在中部和北部得以延续。当时越南精通汉字,谙熟汉字书法的知识分子还是不少。由于越南科举考试时必用汉字,而书法的优劣与金榜题名有密切关系,所以, 虽然到了近代,法国最先在越南南方推行法语、拉丁化国语的教育,但是越南中部和北部的传统教育仍然保留着。 应该说,在得知科举在越南被废除的消息之前,有“考取功名”思想的越南人仍然重视书法的学习。譬如,被称为“越南的孙中山”的潘佩珠,是越南近代著名的民主主义革命者,他同样参加过越南的科举考试,汉文功底深厚。1923年,潘佩珠在上海法租界出版其著作《天乎地乎》时,胡适、沈钧儒均为其题序。1925年,潘佩珠还曾为悼念孙中山写了两副汉字对联。
越南老百姓家最喜欢挂“福”、“寿”二字 刘志强:随着中越两国关系的发展,汉字书法艺术在越南方兴未艾。近年来,越南文化部门都会不定期地在首都河内的文庙举办汉字书法展览。越南各地还成立了汉字书法研习中心等机构用以推广汉字书法。很多越南普通老百姓家都喜欢把汉字书法挂在厅堂中作为装饰。每逢春节前夕,很多越南人都会到河内文庙里求字。汉字书法甚至成为了一些年轻人的一种信仰。 2006年11月,我曾经到河内西湖观光,发现沿着西湖岸边有一条满是书法铺面的街道。在那里,很多年轻人向精通汉字书法的老学者求字。年轻人喜欢求的字包括“成”、“达”、“福”、“禄”、“发”等。我不禁感叹越南人对于汉字文化艺术的深厚认同。 越南老百姓家中最喜欢悬挂的两个字是“福”和“寿”。其原因除了与中国普通家庭一样希望“多福多寿”以外,在越南,皇帝也喜欢在节日书写此二字。与中国一样,古代时,只有少数人才能得到皇帝的御赐亲笔作品……
喃字书法与汉字书法相近 搜狐文化:除了书法艺术,中越文化交流还有什么典型的例子? 刘志强:中越交流史由来已久,且两国由于在地理上相接等原因,中国的先进技术和优秀文化传入越南极为便利,这一方面有利于越南社会的进步,另一方面,也扩大了汉文化的影响。而直至今天,我们还能通过语言看到历史上这种交流的痕迹,其中一个典型的例子便是“四大发明”与“四大名著”传入越南的情况。 搜狐文化:您先说说“四大发明”吧。 刘志强:在现代越南语中,中国的“四大发明”被按照汉语之语法顺序音译为“Tú’?a.iph?tminh”,而对于“四大发明”的名称我们都能从越南语中找出类似的词语,例如:纸,有ch1?和giâ’y;印刷,有in和â’n;罗盘、指南针,有lab?n和kimch1?nam;火药,有thuô’csúng和ho?a?u’o’c)。这不仅仅只是汉语对越南语影响的原因,其实在历史上,两国交往过程中的确存在着这些领域的交流。 搜狐文化:造纸术,是什么时候传入越南的? 刘志强:公元前1世纪,中国历史文献上已经有记载使用纸,纸发明以后,不仅在中国本土很流行,并且向世界各地传播。在东方,纸在2世纪时传至朝鲜,3世纪时传至日本。在南方,3世纪时纸也传到了越南。 现在保存下来的越南汉文古籍,大多成书于10世纪以后。这些文献中并没有谈到纸从中国传入,其原因大概是因为那时越南已经能够自行造纸了。 但我认为,越南独立以前曾与中国混为一同,独立后文房四宝照用不换,自然无须专门提及。1370年,越南黎朝送给朱元璋的贡例中,规定有纸扇。 搜狐文化:那印刷术呢? 刘志强:虽然造纸传入越南的时间较早,但是由于印刷在技术上的高要求,所以越南印刷行业大约是在13世纪左右初具规模。中国使用雕版印刷书籍的开始一般认为是在公元6世纪的隋朝。唐和五代雕版印刷逐渐发展,北宋的印刷书籍几乎全部代替了手抄本。隋唐时期,安南与内地关系密切,两地之间的文化交流所受限制不大。10世纪以后,中国文化仍然受到越南人民和越南封建王朝的重视和推行,但在13世纪以前,尚未发现有文献涉及越南使用刻板印刷书籍的记载。 搜狐文化:火药呢? 刘志强:关于历史上制造火药的方法传入越南的情况,史籍并无明确记载。但历史上越南脱离宋朝独立以前两地有关火药的交流却是不断。 4世纪初期,中国的炼丹家就知道越南是供给炼丹原料的重要地方。14世纪,中国人已经把火药用在铜制或铁制的火炮中,作为重要武器了。 越南史籍关于越南制造和使用火药、火炮的记载不多,但是越南在14世纪初已经在战争中普遍使用火药了。 搜狐文化:还有指南针? 刘志强:现在中国人到越南久居时,有不少传统的东西是不用带去的,其中包括毛笔、象棋、墨汁和罗盘等。 越南史籍中关于指南工具传入越南的记载较早,传说在周朝周公就下令造指南车送来华朝贡的越裳国人返回。 我国在北宋时,指南针已经在航海上和军事上使用,而越南中、北部在很长的历史时期都是南中国海的海陆交通枢纽,特别是位于越南中部的广南港,在近代已经成为国际性的港口,福建、广东、潮州、海南、西洋、暹罗等商人都来往于此经商,当时赴越南最多的外国人便是中国人,中国人乘船到越南的历史可追溯到秦汉。此外,由于中越技术上的频繁交流,越南的造船技术也不断提高,1413年,明朝曾招请越南的造船工人到中国,越南官修汉文史籍《大越史记全书》载:“明永乐十一年(1413),黄福选取匠人及其家小送燕京造船。”当时造船必然需要安装指南针,这更能说明两国在造船技术上的交流。
越南阮朝皇帝玉玺—“皇帝之宝” 刘志强: 在越南语中,“四大名著”完全按照汉语之语法顺序称为“Tù ?a.idanht?c”(四大名作)或“Tù’?aiky`thu’”(四大奇书),特别是中国的“四大名著”被改编成影视作品在越南播放产生了巨大影响。 搜狐文化:“四大名著”在越南的影响到底有多大? 刘志强: 根据我的亲身体验,现在在越南,中国古代四大名著《水浒传》、《三国演义》、《红楼梦》和《西游记》以及其中的人物,几乎无人不知,无人不晓。 20世纪90年代,根据四大名著拍摄的电视连续剧在越南上映后,自然也受到越南广大观众的欢迎。在越南电视台播放中国电视连续剧《西游记》的那段时间里,每天从开始播放到结束,河内市街道上的行人,特别是少年儿童,骤然减少。 而“四大名著”中的人物和称呼同样被直接借用到日常生活当中来。其中包括《西游记》中的“TônNgo.Không”或“TônH?nhG1?a”(孙悟空)、“SaTǎng”(沙僧)、“B?tGió’i”(八戒)、“Huyê`nTrang”(玄奘),《水浒传》中的“?a.ica”(大哥),《三国演义》中的“Lu’uBi.”(刘备),《红楼梦》中的“LâmDaiNgo.c”(林黛玉)等已经非常普遍地被运用到越南日常口语当中。 特别是《三国演义》在越南影响尤其深刻,所产生的影响可以从两个方面来概括: 其一是对关云长的崇拜。 越南许多地方都建有关帝庙(称协天护日忠义大帝),不少家庭还以图影供奉,并尊之为“关圣”或“德关圣”,不敢直呼其名。值得一提的是,在越南语中“Quan Công”与汉语的“关公”发音几乎完全一样,此外关公的木雕也已经成为当今越南一大特色产品。 其二是把《三国演义》中的人物事件当作修饰语流传于口语中,如“张飞脾气”(暴躁)、“是个貂蝉”(喜欢说谎)、“野董卓”(很阴险)、“像曹操”(性多疑)、“刘备借荆州”(久借不还),等等。现在,译成现代越南语的“四大名著”在越南的网站上随处可见,访问量亦相当之高,有关“四大名著”的出版物也不断再版。 此外有关“四大名著”的玩具、文化用品等都受到越南人的喜爱。 “四大名著”对越南的影响不仅仅是在文学界,在“四大名著”被改编成影视作品前,历史上越南人已经把“四大名著”的素材应用到自己的民族艺术形式当中去了。 搜狐文化:“四大名著”是如何传入越南的? 刘志强: 明末清初越南官方已经下令禁止购买中国的书籍了,再加上“四大名著”曾被中国列为禁书,所以中越正史并未有“四大名著”传入越南的确切记载。 但是我们知道,当时华人由于避乱而旅居越南的较多,特别是当时到越南中北部经商的两广商人也不少,他们对于“四大名著”传入越南起到了很大的作用。根据所发现的“四大名著”的版本,我们可以大概推断其传入的年代。 我尚未发现历史上传入越南的中文原版“四大名著”,我认为原版汉字书籍由于脱离越南平民的口语,很难产生平民化的巨大影响,但原版中文的“四大名著”当时在知识分子阶层应该是产生了较大影响。 搜狐文化:越南对“四大名著”的译介,始于何时? 刘志强:有关越南对中国古典文学的译介的研究,目前以马祖毅、任荣珍两位先生的研究最为深透。参考两位老师的研究成果,会发现,在“四大名著”中,《三国演义》和《西游记》传入越南的时间最早,而史书《三国志》传入越南较早。《三国演义》在越南的传播,是先有故事戏,后有译本。 同日本、朝鲜相比,《水浒传》传入越南的时间似乎晚了一些,但《水浒传》的越译却早于《三国演义》。1906年至1910年间,西贡出版了《水浒演义》的译本,译者是阮安姜。稍后,又有阮政瑟、阮杜牧、武明智的译本在西贡和河内两地问世。1960年,罗辰翻译的七十回本,由河内明日出版社推出,全书分三卷,附插图,译文实际上是六十九回,译者在序言中说道:“(《水浒》)不仅是中国人民的骄傲,也是亚洲人民的骄傲。” 《红楼梦》一百二十回全译本,1962年至1963年由河内文化出版社出版,共六册。前八十回的译者是武培煌和陈允泽,后四十回是阮育文和阮文煊,以人民出版社1957年版作为底本。卷首有当时越中友好协会会长裴杞于1959年(开译时间)4月所写的“前言”,“前言”除了对《红楼梦》进行介绍以外,还说“想要正确评价《红楼梦》,必须理解此书不只是讲爱情故事,而是在谴责封建社会,在此书中作者特意描写了被统治阶级毁灭的美好心灵”。 “四大名著” 越南的世界名著——《金云翘传》改编自中国作品 搜狐文化:在世界文坛享有地位的越南名著《金云翘传》,与中国也有渊源? 刘志强:“人生不满百,才命两相妨”,这是暨南大学黄轶球先生早年所译越南阮攸“六八体”诗传《金云翘传》的开篇首句。中国明末清初并非很有影响的言情小说《金云翘传》,到了18至19世纪,被越南汉学家阮攸成功地进行了再创作,从而成为了越南古典文学的经典。 越南的《金云翘传》通常被称为“Truy?n Ki?u”。在中国文学和中国小说上,中国《金云翘》虽然未能跃过龙门,登上大雅,但它对越南文学,特别是对越南喃字文学发展的贡献与影响,却是不能忽视的。18世纪中叶至19世纪初,越南文坛上崛起了一位文艺巨匠,他就是阮攸。阮攸根据青心才人编次的《金云翘传》,并使用越南喃字,对其内容和形式上进行了删改和创作,用越南独特之六八体诗歌形式完成了后来世界著名的《金云翘传》(又名《断肠新声》)。 《金云翘传》著作版本多。根据2004年越南国家图书馆数据显示,越南现存阮攸《金云翘传》版本一共有42种,其中喃字版本22种,拉丁国语字版本共20种。而其中最早的喃字版本是1866年河内柳文堂刻印的版本;最早的法文版本是1884年法国巴黎译本;当时由Abel des Michels翻译并注释;最早的越南拉丁国语字版本是由越南著名语言学家张永纪转写成的,1875年由西贡国家印刷厂印刷出版的版本。阮攸的《金云翘传》在法国影响最大,从1884年到2005年阮攸的《金云翘传》的法语翻译版本一共有10种。我国翻译阮攸所著《金云翘传》最早的是1959年由暨南大学黄轶球先生所译,人民文学出版社出版的版本,值得一提的是黄轶球先生是从法文译本再翻译成汉文译本的。 阮攸所著《金云翘传》为越南文学作品在世界文坛获得声誉。《金云翘传》与邓陈琨的《征夫吟曲》、阮嘉韶的《宫怨吟曲》和阮辉嗣的《花笺记》被列为“安南四大奇书”,其中《金云翘传》更被尊崇为“安南四大奇书”之首。“明乡人”潘石初有诗赞美道:“有明一代无双妓,大越千秋绝妙词”,我国早年著名越南史研究专家张秀民先生则把阮攸称为“越南的歌德”。 现在越南很多人都能诵读阮攸拉丁国语字版本的《金云翘传》,少则数句,多则几十句、上百甚至上千句。越南人民对于《金云翘传》的感情不仅仅是对于一种文学作品的感情,而是融入了个人的一种对于亲人、家庭、国家等信念在一起的感情,甚至上升成为一种信仰。阮攸的《金云翘传》是越南喃字文学发展到顶峰的代表作,也成为了越南古典文学的经典之作,它不仅仅奠定了其在越南文坛的地位,更是为越南文学在世界文学史上占有一席之地做出了贡献,现在中国所编的《世界文学史》多把阮攸的《金云翘传》列为了中古东南亚文学的代表之作。目前越南也成立了类似于中国“红学”的“翘学”。其作者阮攸更因该著作而在1956年被世界和平理事会列为应纪念的世界文化名人之一。胡志明还曾经用《金云翘传》的诗句鼓励越南人民从事革命斗争。 《金云翘传》 对待两国文化的合适态度 搜狐文化:中越文化交流,受政治影响有多大? 刘志强:还以书法为例。 越南人民的伟大领袖胡志明主席擅长汉字书法,其所留墨迹以楷书居多。胡志明的楷书线条饱满,大方工整,用墨浓淡相间,略似启功先生墨法,但又有唐书法家虞世南楷书之风。擅长汉字书法也曾为胡志明早年在法国的生活提供了便利,根据台湾学者蒋永敬的研究,大约在1917年末,胡志明到巴黎定居下来。由于他具有汉文书法的训练,于是利用他的美妙笔法,以修润照片的收入来维持生活。 我认为,谙熟汉字书法对于胡志明个人的生活还是对于其寻求与中国政治关系的发展都是有利的。 20世纪中叶,中越关系曾经一度亲密至“同志加兄弟”的程度。当时书法交流也成为政治交往的一个内容。胡志明、黄文欢与董必武等人之间都曾进行过书法交流。 1959年8月,胡志明在游览中国庐山后,题有楷书三字“庐山好”。1961年5月,胡志明游桂林漓江时曾以楷书题诗一首,诗云:“桂林风景甲天下,如诗中画画中诗。山中樵父唱,江上客船归。”游桂林阳朔时又题楷书六字“阳朔风景好”。1965年,胡志明与时任中国国家副主席的董必武一同游黄山,董必武曾即兴泼墨,书《别黄山四绝》赠胡志明,胡志明又书《游黄山日记》诗六首赠董必武。 胡志明最著名的汉字书法作品当是1968年春所题词“越中友谊,万古长青”。胡志明于1969年9月逝世,此幅楷书当是胡志明逝世前最珍贵的墨迹。胡志明题此八个大字一反其用墨浓淡有致的常法,墨迹极其浓厚,连落款也一样。联系当时越南国内的政治和中越关系的形势,我们可以想象胡志明书写时的心情。 中越关系恶化后,两国文化交流也受到重大冲击,在越南各种中文报刊纷纷被取缔或改版,中越书法交流也受到阻碍。 令人欣慰的是,自1991年中越关系正常化以来,汉字书法艺术及其他形式的书法交流在越南再度逐渐兴起,这是令两国文化界欣慰的事情。 我认为,在很长一段历史时期内,越南人更多的是“仰慕华风”,而非全是被强制学习或者效仿中国。历史上,汉文化对越南的影响,更多时候是越南对汉文化的一种善意接受,而非强加。 搜狐文化:您似乎不认可越南是“小中国”的说法? 刘志强: 艺术无国界。但中越关系恶化时期,文化艺术会成为两国政治矛盾、极端民族主义的牺牲品。过分人为地强调中国文化的影响和认为凡是带有中国文化影子的东西都是侵略的一种形式的观点似乎都不可取。 当淡化这种政治矛盾,我们冷静地思考过后会发现,这些东西原来也可以互相包容,互相促进。过分强调“强势文化”的影响或者过分强调“文化的本土化”,恐怕我们的看法都很难相对客观。 越南文化中的不少中国的元素已经完全融入到越南本土文化中。以越南最经典的古典文学作品《金云翘传》为例,其蓝本、内容、情节均来源于中国明清小说《金云翘》,但自其作者阮攸改编成功至今,尽管中越关系起起伏伏,我们尚未发现其被剔除出越南文化之外,反而成为越南无人不知的作品。我认为这是中越文化关系中较为罕见的文化交流现象,这同样会让不少不了解越南文化的人费解,但是事实上又是如此。 使用现在国家间的领土边界来划分中越文化的界限是明显有缺陷的。历代越南王朝的建立者多是华人,根据史料记载,越南前黎朝(981—1009)创立者黎桓,本属广西籍,李朝(1010—1225)的创立者李公蕴、陈朝 (1225—1400)创立者陈日煚,本属福建籍,胡(1400—1407)的创立者胡季犛,本属浙江籍等。 但我们也不能因此而认为越南文化就是中国的,因为此“中”非彼“中”,此“越”非彼“越”。 我个人认为,越南对中国文化的误解似乎更深。在唐代,越南被中国称之为“安南”,属唐朝管辖,当时“安南”有三位学人考中唐朝进士,分别为姜公辅、姜公复和廖有方,过去越南学界(甚至现在)多认为为三位都是“越南人”,但根据现在最新发现的相关碑文和史料证明,三位进士的父亲都是从两广迁居至“安南”境内的。 同样,认为凡是汉字的东西都是中国人强加给越南人的观点也是站不住脚的,这种观点是文化关系被利用成为政治矛盾的工具。 实际上,越南中部以南大片地域在15世纪以前,多是占人统治的领土,我国史书多称之为“占城”(学界现在多称之为“占婆”),其文化也与越南现在的主体民族大相迥异。除此以外,越南现在是一个包含54个民族的多民族和多元文化的国家。 越南若对汉文化采取兼容并包的态度,越南的文化才可能得到更多国家的重视和兴趣。这同样也会极大地促进了越南与其他国家与地区之间的文化交流,从而也进一步丰富了越南的本土文化……[详细] 受访者: 访问者: 朱玲,搜狐文化频道主编
http://crj.cpd.com.cn/n434739/c23093619/content_1.html |
近年来,“文化诗学”研究的展开,为诗学与文化关系的研究开辟了一条新的路径。所谓“文化诗学”就是“从文化学的立场出发去解释文学的形成、文学的功能和文学的特质等,使文学与文化的互动过程体现出一种诗性的生命精神”。[1]这为受中国文化影响的“汉文化圈”国家的文学研究提供了一种新的思维方法。事实证明,在中国以外的几个“汉文化圈”国家中,如日本、韩国(包括朝鲜)和越南,其文学发展的历史都曾经历过“汉文学时期”,有的甚至是汉文学长期占据正统文学的地位。比如越南,汉诗不仅是越南成文文学的发端,在越南封建社会八百多年的历史时期一直被作为高雅文学而受到尊崇。过去,学者们对越南古代文学的研究,多偏重于揭示中国文学对越南文学的影响研究,当然也少不了从历史、文化等层面去寻根溯源,但主要还是为了证明这种影响本身所产生的作用,而很少从文化学的视域对越南文学中的不同文化质素的形成和发展及其文学功能进行具体分析,进而揭示越南文学是如何在与各种文化的互动和影响中来体现其“生命精神”特质的。本文拟以18-19世纪越南文坛的两朵奇葩《金云翘传》和《征妇吟曲》为例,从“文化诗学”的视域进行比较和解析,以求更为客观地审视中国文化、文学对越南文学的影响以及越南民族文化的“基因”对文学发展所滋生的强大内动力量。
一、《金云翘传》和《征妇吟曲》与中国文化的亲缘关系
《金云翘传》和《征妇吟曲》是越南古代文学作品中的两部经典之作。她们犹如两株争奇斗艳的奇芭,为越南古代诗坛增添了绚丽夺目的艺术光辉。
《金云翘传》是18世纪末至19世纪初越南著名诗人阮攸以中国明末清初时期靑心才人的小说《金云翘传》为蓝本,用喃字写成的一篇长达3254句的六八体叙事诗。原名《断肠新声》,后改名为《金云翘传》。靑心才人的《金云翘传》是一部以基本史实为素材,描写才子佳人爱情故事的章回小说。阮攸的《金云翘传》自问世以来始终受到人们的热切关注和尊崇,在越南民间广为传颂。可以说,《金云翘传》对越南文学、文化以及越南民族精神、心理等方面的影响程度之深,范围之广,已远远超过了任何一部文学作品。在越南,提起《金云翘传》可谓无人不知,无人不晓。普通的老百姓都不仅非常熟悉《金云翘传》的故事情节及人物形象,还能随口背诵诗中的不少段落或诗句,连一些不识字的文盲也能成段地背诵。越南人都为自己的民族能有《金云翘传》这样一部文学杰作而感到自豪。在越南曾经流行这样一句话:翘传在,越语在,越南在!由此可见《金云翘传》在越南人民心目中的地位之高,影响之大!
《征妇吟曲》是18世纪越南诗人邓陈昆以战争给妇女命运造成的悲剧为题材,用汉文写成的一篇古乐府杂言诗,全诗长476句。《征妇吟曲》成书于约1741年前后。作品面世后,得到越南文学界名家的高度评价和赞誉。作者笔下那些有如行云流水的字句,那一声声如泣如诉的话语,令人深深地感动和叹服。作品问世后所引发的翻译热经久不息。虽然《征妇吟曲》由于语言等方面的关系,没能象《金云翘传》那样深深地扎根于人民群众,在社会上广为流传,但在学界也得到高度评价,曾有“高情逸调霸词林,近来脍炙相传颂”的美誉。《征妇吟曲》已多次被人将其翻译成易于为越南人所接受的喃字“双七六八体”或“六八体”诗。其中,由与诗人同时代的才女段氏点翻译的喃字“双七六八体”诗《征妇吟演歌》是目前流传最广,也是最接近原诗的译作。
可以说,在越南文学发展历史中,《金云翘传》和《征妇吟曲》在艺术上都取得了前无古人的巨大成功,成为越南古典文学最具艺术价值的两颗明星。值得注意的是,这两部长诗的题材不同,体裁各异,在艺术风格上也各有千秋。但她们却有一个共同的特点,那就是都与中国文学、文化有着密不可分的亲缘关系。
二、《金云翘传》和《征妇吟曲》受容中国文化的基础和条件
乐黛云教授曾说过,“影响”须要一定的条件,而影响的种子只有播在那片准备好的土壤上才会萌芽生根。[2]无疑越南这片土壤是最适合汉文化影响的这粒“种子”“萌芽生根”的地方,因为“世界上没有任何一个国家与中国关系之密切有如越南者。”[3]
越南人民是一个酷爱诗歌的民族,而抑扬顿挫、音调丰富的民族语言又非常适合他们用对歌的方式来表达意愿,交流情感,因此民间不断的产生和流传着大量的民歌、民谣和俗语。这些丰富的民歌、民谣伴随着越南民族的成长和发展,是越南民族文学发展的“基因”。然而,在公元10世纪以前的一千多年中,由于越南尚未产生自己的民族文字,只能借用汉字作为语言的载体,而汉字与越南语又存在着音义脱节的矛盾,故越南的民间歌谣无法像中国的《诗经》和乐府民歌那样得到系统的搜集和整理,更谈不上用民族文字来写诗论诗了。即使在10世纪越南独立建国之后几百年的封建社会历史时期,汉字在越南仍保持着官方通用文字的地位,在客观上成为中国文化、文学在越南传播的重要载体和路径。从另外一个角度来看,这也是越南文学、文化从中国文化中得其精髓的重要条件。
中国诗歌大量传入越南始于唐代。王力先生在谈及汉字输入越南的过程时曾指出,“……唐代在越南设学校,强迫学习汉字,于是整套汉字都必须学会了。汉代的越南借用汉语的语汇只是口语的;唐代却须兼通文字。”[4]从目前所看到的资料证明,越南成文文学的出现是在越南独立建国之后(公元10世末)。关于这一点,越南学者已有明确论断,“直到十世纪末至十一世纪初,越南才有了第一首用汉语写成的诗歌……大师吴真流于987年为饯宋使李觉所作的《阮郎归》[5]一词成为我国文学发展历史上的一个重要标志”[6]这说明,汉字不仅是越南诗歌的第一文字载体,汉诗也成为了越南诗学的发端。
由于汉字的传入和使用,才使得越南人用汉语模仿中国诗歌进行创作成为可能。即使在13世纪越南产生了自己的民族文字——喃字之后,在诗歌创作上,汉诗仍被视为高雅文学,普遍受到越南文人以及上层社会的尊崇。其中唐诗对越南诗歌影响最深。在越南古代著名诗人中,可以说没有哪一位没有写过汉诗,从帝王将相到文人士子,他们或相互酬唱,或抒情言志,都以吟诵汉诗为最高雅的形式并留下了大量的汉文诗作,如黎贵惇、阮廌、阮秉谦、阮攸等学者、诗人都有汉文诗集流传于世。17-18世纪,越南的喃字文学得到迅速发展,文坛上开始出现大量叙事性较强的喃诗传。这些喃诗传虽然使用的文字是越南的民族文字,但从作品的题材到哲理思想等很多方面都与中国文学、文化有着非常直接的密切关系,如《二度梅》、《潘陈》、《苏公奉使》等。《金云翘传》和《征妇吟曲》正是在这样一种社会文化背景下产生的越南文坛两奇葩。
三、《金云翘传》、《征妇吟曲》对中国文学、文化的借鉴和吸收
如果说“文化诗学”可以“从文化学的立场出发去解释文学的形成、文学的功能和文学的特质”的话,那么,我们从“文化诗学”这一视域出发,对《金云翘传》和《征妇吟曲》这两部诗作进行比较和分析,就是企望通过这样一种新的角度和思维对外来(中国)文化、文学与本土(越南)文化、文学在“影响”与“接受”的过程中所产生的某些现象能从文化学的角度进行解析。
(一)、对中国文学题材的借鉴与模仿
中国明末清初年间,靑心才人写了一部名为《金云翘传》的章回小说。作品演绎了王翠翘与金重二人充满着坎坷曲折,悲欢离合的爱情故事,属才子佳人类的小说。阮攸以中国靑心才人的小说《金云翘传》为蓝本,用越南人民喜闻乐见的“六八体”写成了一部长达三千多句的喃文诗传。书名最初为《断肠新声》,后改为《金云翘传》,是从故事中三位主要人物“翠翘”、“翠云”和“金重”的名字中各取一字连缀而成的。
阮攸的《金云翘传》与靑心才人的《金云翘传》从题材到内容都基本相同或无大异。靑心才人作品中的所有人物、地点以及故事情节等,都被阮攸原封不动地将它们移植到自己的作品中来。对此中越学界从古至今不曾存在任何争论。只是在阮攸的《金云翘传》成书时间上,至今学者们仍有不同意见。有人认为,阮攸见到靑心才人的《金云翘传》应该是在他出使中国期间(1813-1814年),这就是说,成书的时间不应早于1814年;但也有人推测,《金云翘传》成书时间应该在1813年阮攸出使中国之前。持这一说法的重要推理依据是,阮攸在出使中国时已官位显赫,这决定了他不可能刻意跟朝廷作对,公然在自己的作品中无情地揭露、抨击社会的腐败和黑暗,特别是对被封建统治阶级视为心腹之患的代表人物徐海在作品中给予正面的描写。至于为什么他能在出使中国之前就看到靑心才人的小说的问题,这也并不难解释,因为在这个阮氏大家族中,早在他之前就已有人奉命出使中国,并从中国带回了不少书籍,阮攸自然有机会接触到大量的中国文学作品,包括靑心才人的《金云翘传》。关于这一争论,在未获得确凿的考证之前可暂作“存疑”。
邓陈昆的《征妇吟曲》虽不是象阮攸那样对某一篇作品进行“整体移植”,但在他的这部“吟曲”中随处可见中国古典诗歌的印痕。对此,越南学者赖玉疆明确指出,“邓陈昆的《征妇吟曲》在音调方面接受了汉乐府的影响,在构思方面多受中国有关战争、离别及爱情诗的影响。”[7]邓陈昆写《征妇吟曲》的社会背景是18世纪上半叶的越南。由于南北封建势力严重对峙,致使越南国内战祸连绵,社会动荡不安。作品中并没有具体的人物塑造,更无人物之间的对话,而是重墨对一位征妇在送别出征的丈夫之后不得不面对种种残酷的现实及其一系列复杂的内心感受进行了唯美唯真的细腻描写,强烈地控诉了战争制造者给人民的精神和物质生活造成的巨大痛苦和灾难。作品在文字上用的是汉字,在体裁上则采用古乐府间杂言诗的样式。凡熟悉中国诗歌的人读了《征妇吟曲》都会很自然地产生一种似曾相识的感觉,并且很难想象这样一篇汉文长诗竟是出自一位非中国诗人之手。越南著名学者潘辉注在分析《征妇吟曲》的创作时也认为,“作者大概是采用了古乐府和李白的诗,然后融合成篇。”[8]然而,当我们对《征妇吟曲》进行认真的研究后发现,除了汉乐府和李白之外,邓陈昆还从很多诗人、诗作那里借用了大量的表现战争、离别及边塞诗歌等题材的诗料、诗句,如古诗十九首中的“行行重行行”以及唐诗中王昌龄、杜甫、白居易、孟浩然等人的诗作都被邓陈昆大量地引用或借鉴。例如,我们在读到“老亲兮倚门,婴儿兮待哺。……”时,便会自然地想起杜甫的《石壕吏》中那位老妪发出的“室中更无人,唯有乳下孙”的凄婉哀诉;读到“相顾不相见,青青陌上桑。陌上桑,陌上桑,妾意君心谁短长?”,便知这是邓陈昆巧妙地借用了汉乐府的名篇《陌上桑》的诗句,来表达妻子对与丈夫离别时的种种复杂心绪,其中有深深的眷恋和期盼,更多的则是无助和不安。同样,当我们读到“今朝汉下白登城,明月胡窥青海曲”时,便很自然地联想起李白在《关山月》中描述的“汉下白登道,胡窥青海湾”的大漠征战景象;看到“古来征战几人还,班超归时鬓已斑”时,更会由衷地叹服这位越南诗人对唐诗绝句“醉卧沙场君莫笑,古来征战几人回”的谙熟并恰到好处地借以表达言者的幽思和哀怨……等等。
(二)、对中国诗歌语言的巧用与吸收
阮攸创作《金云翘传》用的是喃字,采用的形式是被越南人称之为纯民族体裁的六八体诗。也就是说,《金云翘传》无论是诗歌的载体还是表现形式都是很民族的。但是,读过《金云翘传》的人都会发现,,无论是原著还是中文译本,作品除了在题材上取材于中国文学作品之外,在诗歌的语言上也借鉴和吸收了大量的中国文学、文化精粹。在《金云翘传》中,阮攸对中国成语、典故和经典诗句的运用已达到了信手拈来,出神入化的境界。不仅象“倾国倾城”、“寸草春晖”、“结草衔环”、“合浦珠还”、“沧海桑田”、“红叶题诗”、“青鸟传书”、“精卫填海”等中国人耳熟能详的一些成语、典故都频频出现在他的六八体长诗中,甚至有不少完整的诗句也被阮攸“中为越用”,天衣无缝地镶嵌在自己的诗作里。如对“人面不知何处去,桃花依旧笑春风”这句诗,阮攸只作了一个字的“微调”,将“春风”变为“东风”,就将崔护的诗句移植到自己的作品中,并保持了六八体诗在字数、音韵上的丝毫不变,使诗的艺术境界发挥到了极至,收到了巧夺天功的艺术效果。类似的情况还有很多,如“庄生晓梦迷蝴蝶,望帝春心托杜鹃”(李商隐《锦瑟》)、“鸡声茅店月,人迹板桥霜”(温廷云《尚山早行》)、“铜雀春深锁二翘”(杜牧《赤壁》)等诗句都被阮攸或整句借用,或稍加改动,进行了大量的大胆借用。在《金云翘传》中,从《诗经》、《楚辞》到汉乐府、唐诗、宋词,从《春秋》、《左传》到《史记》、《汉书》、《晋书》等中国典籍中大量的历史典故、名言隽语都被阮攸信手拈来,运用自如。
更难得的是,对一些连中国人也要费一番功夫查找的诗句、典故,阮攸也能需之取之,并且用得恰到好处。譬如,在《金云翘传》的尾声部分,有这样一个情节:金重劝翠翘答应与他履践前盟,结为夫妻,在翠翘坚持不肯的情况下,金重说了一句这样的话:“休再迟疑,忍把萧郎当路人?”这显然是阮攸借用唐朝诗人崔郊的“侯门一入深似海,从此萧郎是路人”这句诗巧妙而恰当地引用的一个典故。还有白居易《长恨歌》中的诗句“在天愿作比翼鸟,在地愿为连理枝”,“此恨绵绵无绝期”;杜牧《赤壁》中的“东风不与周郎便,同雀春深锁二乔”;杜甫《上白帝城》中的“取醉他乡客,相逢故国人”;孟郊《游子吟》中的“虽言寸草信,报得三春辉”,等等。这些脍炙人口的唐诗都在《金云翘传》中出现过,只不过这些原本为五言或七言的诗句,一经阮攸巧妙地略加“处理”,便被天衣无缝地镶嵌在他的六字句或八字句的诗中。对于懂越语的中国人,或懂汉语的越南人来说,读之自然都会知道这些诗句的出处,而对于不懂汉语或对中国文学不甚了解的越南人看来,这些出现在《金云翘传》中的精彩诗句或成语自然已都成为越南诗歌语言的美丽和精彩。阮攸用自己的母语将这些中国诗句的精妙之处表达得如此准确、自然和得体,这不能不归功于诗人的语言艺术才华。阮攸的《金云翘传》最重要的成功就是表现在语言艺术上,诗人对民族语言的发展作出了巨大的贡献.
在《征妇吟曲》中,邓陈昆对中国诗歌语言的娴熟运用以及对中国成语、典故的巧借妙引也无不显示出诗人对中国诗歌的深刻领悟和烂熟于胸。例如,作品在描写妻子送别丈夫的一节中有这样的诗句:“分程兮,河梁/徘徊兮,路旁/路旁一望斾央央/前军北细柳/后骑西长杨/骑军相拥君临塞/杨柳哪知妾断肠”。诗中的“河梁”便是出自李少卿(汉将李陵)的一首送别名篇《与苏武三首》中的诗句“携手上河梁,游子暮何之,徘徊蹊路侧,悢悢不得辞”。这里的“河梁”即“桥梁”,指送别之地,后用做咏别的典故;而“细柳”和“长杨”则指的都是地名,为军营或驻军地点。其中“细柳”即“细柳营”,为西汉周亚夫将军屯兵之地,在今咸阳西南,后因用咏军营的典故;而作者更进一步将表示地名的“杨”、“柳”二字连缀成“杨柳”,变成了时光景色的标志,读之不禁使人又自然想起王昌龄那脍炙人口的诗句“忽见陌头杨柳色,悔教夫婿封侯觅”(《闺怨》)。此外,谁又能断然否定邓陈昆也从陈淳祖《征妇吟》中“江边迤逦春无赖,杨柳枝垂人未还”[9]的诗句中受到了启迪呢?在《征妇吟曲》中,常可见到诗人或直接援引中国诗人的精典诗句,或依托某一首诗所表现的情景、意象,经诗人稍事调整便“加工”出了一个个寓意不同的新诗句。例如在描写丈夫出征后,妻子不得不承担起家庭的全部重担时,诗人只用了“供亲课子此一身”这一句诗便将征妇艰难无助(“供亲”、“ 课子”)和万般孤独(“此一身”)的复杂境遇和感情表达得尽致淋漓。邓陈昆不仅大量采撷汉乐府诗的精粹,吸纳唐诗的精华,还善于用诗人的真情,将它们巧联妙用,组成富有新义的诗章,形成诗人的独特风格。例如,诗人集中国边塞诗歌之精髓,写出了“古来征战人,性命轻如草”、 “征夫貌谁丹青? 死士魂谁凭吊?”的精辟诗句。这些质朴而沉重的文字明白无误地点出了征夫的悲剧命运,表达了征妇内心的愤懑。她终于大胆地向最高权威发出了“锦帐君王知也无?”的强烈谴责和质问。更令人玩味无穷的是,《征妇吟曲》的创作背景是连绵的战乱带给人民带来无尽的苦难和离乱的越南社会,而诗人在作品中,无论是描写征人与妻子的别离之地,还是征人出征的战场等几乎所有与战争或当事人相关的人、地、物的名称都是直接取自于中国,如“瀚海”、“楼兰”、“咸阳”、“潇湘”、“白城”、“汉宫钗”、“秦楼镜”……等等。这些词汇既带有金戈铁马的边塞风韵,也不乏汉乐府的悲音之美,它们都从不同的角度验证了邓陈昆的《征妇吟曲》与中国诗歌的亲缘关系。这种亲密的程度在世界各民族之间的文学和诗学比较研究中恐怕也并不多见。
四、民族文化“基因”是越南诗歌发展的内动力
周一良先生在对不同国家和民族之间的文化交流研究中,将文化分为三个层次,即狭义文化、广义文化和深意文化。并且,他认为,“在这三个层次的文化之中,狭义和广义的文化可以互相学习、引进,在对方国家生根、发芽、开花、结果;而深义的文化,由于是长期在特定的、自然的、历史的和社会的条件下所形成,成为民族精神的结晶。”[10] 通俗地解读这个“深义文化”就是带有某个民族自身特质的民族文化。在历史上,尽管越南从属于中国封建统治长达千余年,中国文化对越南的影响无所不及,不可谓不深,在文学、诗学方面也无一例外。这一点,我们在《金云翘传》和《征妇吟曲》这两部作品中已找到了肯定的脚注。这两部作品在题材、内容及语言等方面都从中国文学、文化中进行了大量的借鉴和吸收,与中国文学、文化有着无法摆脱的关系。然而,这两朵越南古典文学艺术的“并蒂莲”之“命运”却有很大的不同。无论是从它们在越南社会产生影响的深刻性和广泛性,还是被人民群众接受和认知的程度上看,《征妇吟曲》与《金云翘传》都有着明显的差距。
阮攸的《金云翘传》在越南民众中受尊崇和追捧的程度之深、之广及其影响之大,已远远超过了其它任何一部越南文学名著。作品中的很多精美练达的诗句已渗透到越南人的思想、观念以及他们的日常生活之中。越南民众对《金云翘传》的热爱和追捧程度已超出了人们的一般想象。《金云翘传》中的很多诗句、成语早已成为使用频率很高的大众语言。更有学者还研究总结了《金云翘传》在越南创下的若干个之“最”或“第一”。例如:《金云翘传》是第一部使作者跻身于世界文化名人之列的文学作品;第一部被搬上越南银幕的文学作品;拥有读者最多并最受群众喜欢吟诵的文学作品……等等。 可以说,在越南的文学作品中(包括古典文学和现代文学),没有任何一部作品像《金云翘传》这样地深入人心,传播得如此之广,产生的影响如此之大。相比之下,邓陈昆的《征妇吟曲》却远没有如此的“幸运”。实事求是地说,如果仅从中国文学的视角来评价这两篇文学作品的艺术价值以及两位作者所表现出的深厚的汉文化功底,实难分出高低上下。那么,为什么它们在越南的影响却有如此的差距呢?细细分析个中原因,最根本的一点恐怕还是在于阮攸始终将自己的创作置身于民族文化的土壤之中,并从中汲取永不枯竭的力量。在这一点上,显然阮攸胜过了邓陈昆。
首先,在诗的载体——文字上,邓陈昆的《征妇吟曲》采用的是汉字。诗人在创作中所展现的中国文化内涵和中国文学精粹,对于多数不懂汉文的越南人来说,难免成了曲高和寡之作。虽然后来有人用喃文将其翻译成双七六八体或六八体诗,并且有的译本已达到了相当高的水准,如段氏点用双七六八体诗翻译的《征妇吟演歌》受到越南学界及读者的普遍赞誉,然而,翻译毕竟不是创作,译作的水平再高也很难完全不折不扣地表现出原著的“原滋原味”;其次,《征妇吟曲》采用的体裁是古乐府,从诗的形式到诗的语言,除了少数有一定汉文化修养的知识分子之外,更因很难被越南人民接受而成为了脱离群众的“阳春白雪”。而阮攸的《金云翘传》则因为采用的是越南人民最为熟悉和喜爱的“六八体”诗,故作品具有庞大的受众群体。六八体诗在越南之所以如此地为人民喜爱,具有很强的民族性,其中一个重要因素就是这种六八字句相间的歌谣、俗语在越南古已有之。早在越南的民族文字产生之前,劳动人民就创造了大量六八字相间的民歌、民谣、谚语、俗语,以口头传颂的方式来表达感情,交流经验,内容十分丰富。直到15世纪末、16世纪初,这种民间歌谣的形式逐渐被文人运用于自己的诗歌创作之中后才逐渐成为一种正式的民族诗歌体裁。到18、19世纪,“六八体”诗得到迅速发展。这种六八字相间的诗体具有律诗所不具备的优点。在形式结构上,“六八体”诗与律诗的最大不同在于,虽然“六八体”也有一定的平仄、韵律规则,但并不像律诗那样在句数、声韵、对仗等方面都有严格的要求和限制。“六八体”不限句数,想长则长,想短则短;在押韵规则上“六八体”也有很大的灵活性,特别是在“六八体”诗的八字句中除了有脚韵,还有腰韵,并且只要八字句的第六个字(腰韵)能押上前面的六字句的脚韵即可,下一个八字句的脚韵则可根据作者的意愿而定,或需要进行换韵,也十分易于操作,非常适合越南语声调丰富(6个声调)、富于音乐美的特点,易于为群众接受,深受人民群众的喜爱。
更重要的是,阮攸时刻不忘将自己的创作植根于民族文学的沃土之中,从中吸取丰富的营养,并不断地将那些通过借鉴、采集到的中国文学精华进行“中为越用”的加工和处理,使其最大限度地“民族化”,以致一些没有汉文基础的越南人竟将《金云翘传》中原本是从中国成语或典故引进的“舶来品”当成了越南的“本地产”。 正是阮攸准确地驾驭了文学与文化的互动过程中所释放出的这种“诗性的生命精神”,使他的这部文学杰作《金云翘传》既不乏通俗,又不失高雅,被赋予了经久不衰的艺术生命力。而这一点正是邓陈昆的《征妇吟曲》所无法望其项背的。
从以上对《征妇吟曲》和《金云翘传》进行文化诗学的解读和分析,我们是否可以得出“民族文化是越南诗学发展的内动力”之结论呢?
(2007年7月)
[1] 李吟咏《诗学解释学》,上海人民出版社,2003年,第230页。
[2] 乐黛云《比较文学与比较文化十讲》,复旦大学出版社,2004年,179页。
[3] 戴可来、杨宝筠校点《岭南摭怪等史料三种》,中州古籍出版社,1991年,前言。
[4] 王力《汉语史论文集》,科学出版社,1958年,第299页。
[5] 另一名为“王郎归”,见《李陈诗文》第I集,河内科学出版社,1977年,第208页。
[6] (越)裴文元、何明德《越南诗歌》,河内社会科学出版社,1971年,第46页。
[7] (越)赖玉疆《〈征妇吟〉考释与介绍》,文学出版社,1964年,第14页。
[8] (越)《越南文学总集》卷13,社会科学出版社,2000年,第13页。
[9] 《全宋诗》卷六三,第39405页,陈淳祖。
[10] 周一良主编《中外文化交流史》,河南人民出版社,1987年,前言。
本文责编:jiangranting
发信站:爱思想(http://www.aisixiang.com),栏目:天益学术 > 语言学和文学 > 外国文学
本文链接:http://www.aisixiang.com/data/20567.html
文章来源:北京大学东方文学研究中心
赋体与东方思想
(论越南《玉井莲赋》与中国《子虚》、《上林》赋)
[越]潘秋云
无论是从形式还是内容上,《玉井莲赋》与《子虚》、《上林》二赋都南辕北辙,相差甚远。两者的搭配好比拿小大卫跟巨人歌利亚来作比较,也就是说,毫无可比性。那么,本文为什么要把这两篇赋作为第一对比较作品?其原因如下:
一、《玉井莲赋》历来被认为是越南独立文学史上现存的第一篇汉文赋,也是最富名气的赋之一。《子虚》、《上林》则是中国文学史上的第一篇全面体现汉赋特点的大赋,也是汉赋中影响最大的作品之一。在越南赋学史上《玉井莲赋》的地位跟《上林赋》在中国赋学史上的地位应该是同等的,所以笔者将两者比较而论。
二、《玉井莲赋》和《子虚》、《上林》都是体现“献赋”风气的最佳例子。莫挺之跟司马相如都因作赋而受到了王者的欣赏。这两篇赋的创作背景都比较特殊,从中透露出来的信息能够让我们了解到更多时代的文学风气以及文人和其作品在其所处时代中的地位和影响力。
三、在《越赋纵横》中,钟逢义曾经写道:“《玉井莲赋》,系陈朝莫挺智(之)所作,可以说是一篇汉赋的复制品。” [1]作者把《玉井莲赋》比作汉赋,但没进一步说明是哪一篇。本文试着把它跟汉赋的代表作《子虚》、《上林》进行比较,同时也参考其他汉赋作品的例子,以探讨越南汉文赋和汉赋之间的关系与其异同。
本文将通过对作者和作品创作背景的介绍与对作品本身的艺术特征的分析来进行探讨。
一.
莫挺之(1280-1350),字节夫,原为谅江南策州平河县兰溪人,后移居海阳省南策县南新社陇洞村。他是黎朝莫显绩的后代。莫挺之是越南历史上的一个文化名人。他一生经历了陈朝的四代:陈英宗( 1293-1314),陈明宗( 1314-1329),陈宪宗( 1329-1341) 和陈裕宗( 1341-1369)。莫朝的开国皇帝莫登庸是他的第七代子孙。有关莫挺之的生平没有更多记载。我们现在只能通过其留下的寥寥几篇作品来了解作者的情怀与其创作宗旨。
莫挺之凭其才华在越南文学史上脱颖而出,同时,凭其机智在越南文化史上留下不少佳话。其中,广为流传的两部作品都缘于王者因他长相欠佳而给他不公平的对待时的当庭献赋,至今传为美谈。
第一次是陈朝英宗朝(公元1304年)时,莫挺之应试获状元。相传当英宗接见状元时,看他个子矮小,其貌不扬,有不悦之意,甚至想把他降为榜眼,让第二人选来作状元。莫挺之便当场写了《玉井莲赋》。
客有:隐几高斋,夏日正午。临碧水之清池,芙蓉之乐府。忽有人焉。野其服,黄其冠。迥出尘之仙骨,凛辟榖之癯颜。问之何来,曰从华山。乃授之几,乃使之座。破东陵之瓜,荐瑶池之果。载言之琅,载笑之瑳。既而目客曰:非爱莲之君子耶。我有异种,藏之袖间。非桃李之粗俗,非梅竹之孤寒。非僧房之枸杞,非洛土之牡丹。非陶令东篱之菊,非灵均九畹之兰。乃泰华峰头玉井之莲。客曰:异哉。岂所谓藕如船兮花十丈,冷比霜兮甘比蜜者耶。昔闻其名,今得其实。道士欣然,乃袖中出。客一见之,心中郁郁。乃拂十样之笺,泚五色之笔。以为歌曰:架水晶兮为宫,金凿琉璃兮为户。碎玻璃兮为泥,洒明珠兮为露。香馥郁兮层霄,帝闻风兮女慕。桂子冷兮无香,素娥纷兮女妒。采瑶草兮芳洲,望美人兮湘浦。蹇何为兮中流,盍相返兮故宇。岂濩落兮无容,叹婵娟兮多误。苟予柄之不阿,果何伤乎风雨。恐芳红兮摇落,美人来兮岁暮。道士闻而叹曰:子何为哀且怨也。独不见凤凰池上紫薇,白玉堂前之红药。敻地位之清高,蔼声明之昭灼。彼皆见贵於圣明之朝。子独何之乎骚人之国。於是有感斯言起敬起慕。哦诚斋亭上之诗,赓昌黎峰头之句。叫阊阖以披心,敬献玉井连之赋。
《玉井莲赋》作为应制之作,引用了大量的中国诗歌入诗,从《诗经》、《离骚》中的词语至陶渊明、韩愈、刘禹锡、杨诚斋等诗歌中的意境和韵味。其中心意思在“叹婵娟兮多误。苟予柄之不阿,果何伤乎风雨。恐芳红兮摇落,美人来兮岁暮。”作者在“客”的角色中叹息婵娟之坎坷多误,芳红谢落,倘得“美人”青眯,恐已年岁迟暮了。这里用隐喻手法道出作者渴望圣上垂恩的心愿。而更巧妙的是下文接着用“道士”的角色来缓解气氛并转向曾赞君主:“彼皆见贵於圣明之朝。子独何之乎骚人之国”。其含义也是英明的统治者不该让贤臣怀才不遇,终身遗憾。
此赋让陈英宗马上对他另眼相看,并赐官位。莫挺之在朝廷中可说是如鱼得水,平步青云。
第二次是当莫挺之奉君命出使元朝时(年月尚未详),元朝内外文武官员一看到他就有藐视的表情。此时正逢外国有使者进奉扇子,元帝命莫挺之作铭,他马上写了这首《扇子铭》。
大火流金,天地为炉。汝于是时,伊、周大儒。北风其凉,风雪载途。汝于是时,夷、齐饿夫。噫!用之则行,舍之则藏,唯吾与汝有是夫!
此铭一出,马上受到元朝君臣的赞美,把他视为才子。传说元朝皇帝还给他“两国状元”的美称。后来有人把这首铭当做被永乐皇帝“夷十族”的方孝孺的作品,因在方孝孺(1357-1402)著作《逊志斋集》当中,有一首《扇子铭》。因为这首铭在越南的《大越史记全书•本纪》卷六有记载,而且莫挺之比方孝孺(1357-1402)大75岁。莫挺之出使中国时,方孝孺还没有生。认为此铭为方所作的说法是以讹传讹的。
莫挺之的《玉井莲赋》和《扇子铭》在相似的背景和动机之下创作出来。虽然两篇作品属于不同的体裁和题材,但所表达的意思基本相同,就是做人做事要学古人不以大才而傲,不以貌丑而悲,是金子总会发亮的,是奇花异草总会有人发现和欣赏的,看人不能以貌取人,君主更应该任人唯贤。然而,《玉井莲赋》因是为本国君主写的而少几分讽谏多几分赞美,同时灌注更多的个人情怀;《扇子铭》则因是为外国统治者写的,既要证明实力、维护尊严又要营造和气,而多几分气势少几分情感。
二.
司马相如(约前179年—前117年)是汉代最重要的文学家之一。在司马迁的《史记》中,专为文学家立的传只有两篇:一篇是《屈原贾生列传》,另一篇就是《司马相如列传》,就此可看出司马相如在太史公心目中的重要地位。班固《汉书》中的《司马相如传》虽然基本上是《史记•司马相如列传》的照录,但从其记载中也可以看到班固对司马相如的肯定。从《史记》和《汉书》当中的记载来看,我们可以知道司马相如虽然才华洋溢,也热爱文学,但人生追求却非以文学家为终。据《史记》、《汉书》所记载,司马相如是蜀郡成都人,字长卿,少年时喜欢读书,也学习剑术,他父母给他取名犬子,后来因仰慕蔺相如的为人而自己改名为相如。
蔺相如是战国时期著名的历史人物。司马迁为他与廉颇所写《廉颇蔺相如列传》,表彰了他的大智大勇和高尚品德,并始终认为“其处智勇,可谓兼之”。我们现在读《司马相如传》可推测出他仰慕蔺相如的原因有三:
其一,蔺相如的大无畏精神使他战胜了强秦的威逼凌辱,维护了赵国尊严。他的机智与果敢,很值得任何渴望攻出声名的大丈夫景仰与学习。其二,蔺相如与其“先国家之急而后私仇”的高尚品格,跟廉颇在“负荆请罪”的故事中生动地体现了中国古人的品德与胸襟,对司马相如有着显明的教育激励作用。其三,蔺相如凭三寸舌取得赵国君臣的信任,又说服秦王,“完璧归赵”而垂名青史,而司马相如却“口吃” [2]。由于自身缺陷而仰慕别人身上的优点,并渴望拥有同样的能力正是人之常情。《司马相如传》里面有一段记载:
以赀为郎,事孝景帝,为武骑常侍,非其好也。会景帝不好辞赋,是时梁孝王来朝,从游说之士齐人邹阳、淮阴枚乘、吴严忌夫子之徒,相如见而说之,因病免,客游梁,得与诸侯游士居,数岁,乃著《子虚之赋》。[3]
创作《子虚赋》的过程反映了司马相如不得不回到现实生活的一面。他所生活的时代是汉文帝、景帝、武帝三代,正是统一的封建大帝国日益巩固和发展的时代。战国时群雄割据的现象已经逝去,蔺相如的辉煌业绩难以重演,而司马相如本身能力也难以往这方面发展。因此,司马相如的聪明才智渐渐地转向了文学。《司马相如传》中收录了司马相如的三篇赋和四篇散文。其赋有《天子游猎赋》(一般称之为《子虚赋》或《子虚·上林赋》)、《哀二世赋》、《大人赋》。其散文有《谕巴蜀檄》、《难蜀父老》、《谏猎疏》、《封禅文》。这些文章体现了司马相如丰富多彩的文学造诣,内容与形式上不断地变化、不断地创新。不过,无论其赋还是散文,都有一个共同点,就是为汉武帝而写。连最后一篇文章《封禅》也是他去世之前准备好,以供使者给皇帝献上的,且仍然是一篇颂扬国家的兴盛强大,体现中央王朝的尊严声威的作品。《汉书》载其事:
问其妻,对曰:“长卿固未尝有书也。时时著书,人又取去,即空居。长卿未死时,为一卷书,曰有使者来求书,奏之。无他书。” 其遗札书言封禅事,奏所忠。忠奏其书,天子异之。[4]
这样,说他是个勇于创新、锐意开拓的文学家,不如说他是个雄心勃勃、不断想办设法把自己推荐给最高权力者的在大统一文化中还带着游士精神的文人。汉武帝接纳他富赡的才华,但并不接纳他雄放的气魄。他在政治上郁郁不得志。终其一生,除了出使西南临时挂过“中郎将”衔以外,长期担任的不过是“郎”、“孝文园令”等低级闲职。因此,后来“其仕宦,未尝肯与公卿国家之事,常称疾闲居,不慕官爵。” [5]
在司马相如的心目中,一生最重要的事情还是为皇帝进言、为封建制度服务,而并不是文学。他并没有刻意追求创建如何伟大的文学事业。文学对他来说只是一种展示自我的工具,一种毛遂自荐的手段而已。他没有那种后来文学界中常见的用文学来表达自己内心,以求解脱的创作冲动,也从来没有为自己写作。这跟我们现代心目中的文学家着实相差太远。
总之,司马相如的个人抱负跟其文学事业并不一致。他一生并未达到自己的政治愿望,但却在无意中为自己建立了如此伟大的文学事业。笔者认为如果文坛上和政坛上有的可相比较之处,那么司马相如在中国文学史上的成就完全可以跟蔺相如在中国历史上所建立的功绩与名声相媲美。
关于司马相如代表作《子虚》、《上林》二赋,《汉书•司马相如传》的篇幅里有一半用来记录这篇天子游猎之赋。这篇赋是司马相如作品当中最重要之一,也是《司马相如传》中的亮点。
我们先看看其内容。赋的前半部分记叙楚使子虚出使齐国,应邀参与齐王的出猎,不服齐王的“矜而自功”,从而向齐国之君臣——代表者是乌有先生——夸耀楚国的云梦泽和楚王在此游猎的情况;接着轮到乌有先生不服,便夸称齐国的宏大以压倒之,然后说出一番道德教训,作为这部分的收结。赋的后半部分记叙当时亡是公——天子的发言人——也在场,在齐楚面前铺陈天子上林苑的壮丽和天子游猎的盛举,表明诸侯不能与天子相提并论,最后又说出一番提倡节俭的道德教训。这一作品前一半被称为《子虚赋》,后一半被称为《上林赋》。
值得注意的是,如果把《子虚赋》视为一篇独立、完整的作品,那么“亡是公”这个人物从开头到结束没有任何言行,只是“存焉”。这显然是文章中不该有的多余。然而司马相如为何被称为“赋圣”?《子虚赋》与《上林赋》为何被称为司马相如的代表作?应该有其道理。
据《史记•司马相如列传》和《汉书•司马相如传》所记载,这两篇赋,或者可以说这篇天子游猎赋的前后部分,其创作时间不同。《子虚》是司马相如早年从枚乘游历时的创作,而《上林》则是后来司马相如被汉武帝接见时,趁机献上的。这件事情在《汉书》中有详细的记载:
上读《子虚赋》而善之,曰:“朕独不得与此人同时哉!”得意曰:“臣邑人司马相如自言为此赋。”上惊,乃召问相如。相如曰:“有是。然此乃诸侯之事,未足观,请为天子游猎之赋。”上令尚书给笔札,相如以“子虚”,虚言也,为楚称;“乌有先生”者,乌有此事也,为齐难;“亡是公”者,亡是人也,欲明天子之义。故虚借此三人为辞,以推天子诸侯之苑囿。其卒章归之于节俭,因以风谏。奏之天子,天子大说。[6]
当武帝读《子虚赋》时,认为写得好并感叹:“我偏偏不能与这个作者同时。”,而杨得意乘机推荐其同乡人司马相如的时候,说的是:“自言为此赋”,表示不敢肯定相如即是作者,并为相如展示才华留个机会。武帝当然很惊喜,就召来相如询问。相如承认了,但怎能让汉武帝完全相信他呢?只有一个办法就是在汉武帝面前表现一下自己。在这种情况下,如果不能挥手成章的话,也不能让皇帝等得太久。然而《上林》大赋不是一篇好写的文章,应该需要花很大的功夫来完成。司马相如在创作《子虚赋》时,应该对下一篇已经有所准备。而且在写《子虚赋》的过程中,也有其意图在里面。具体的表现就是先把一个“亡是公”摆在那里,等着展示作者的才华与思想的机会。
在这里有个问题:该不该把《子虚赋》与《上林赋》视为一篇完整的作品?
在《史记》和《汉书》中,对这两篇赋的划分好像也不太明显。一开始所记载的是司马相如“客游梁,得与诸侯游士居,数岁,乃著《子虚之赋》”。后来,到上面所引用“上读《子虚赋》而善之”的那一段,作者对司马相如赋作了一些介绍,然后把全文照录下来。全文是《子虚》与《上林》的结合。《司马相如传》最后提到这篇赋的时候在作品的名字和内容上也不分《子虚》与《上林》。
上既美《子虚》之事,相如见上好仙,因曰:“上林之事未足美也,尚有靡者。臣尝为《大人赋》,未就,请具而奏之。“相如以为列仙之儒居山泽间,形容甚臞,此非帝王之仙意也,乃遂奏《大人赋》。 [7]
这样,司马迁和班固都有意无意地把《子虚》与《上林》这两篇赋视为一篇完整的作品。因而后来有不少文学家和从事文学研究工作者把这两篇赋合起来,命名为《子虚上林赋》。
但是笔者认为《上林赋》并不能跟《子虚赋》融为一体。其原因有二:
其一,《上林赋》虽然跟《子虚赋》有关,但事实是,《子虚赋》早已经完成并成为一篇独立作品,而《上林赋》的创作是一种续写。而跟几乎所有的续写作品一样,它会给作者带来一时的名声,但在文学价值上是一种失败。《上林赋》显然重复了《子虚赋》的题材,结构与思想。我们现在读这篇赋时会感到很乏味,因为从中看不到什么新鲜的东西,也看不到它跟前面作品比起来有什么进步,除非词语更加繁冗会被视为一种进步。虽然,《上林赋》的出现与其立即被赞赏的现象还引起了新的潮流:一方面是以赋取宠,另一方面则是堆砌辞藻的习惯,深深地影响到后来的历代文学家。但在文学上并没有特出价值。
其二,《上林赋》与《子虚赋》虽然有很多共同点,但其精神气脉却已大不同。如上面所说,《子虚赋》极富游说色彩,由双方来不断地辩论、反驳,以自己夸张宏肆的语言来压倒对方。而《上林赋》则表现了作者已经深深地体会大统一文化的滋味,里面完全看不到战国时代精神的余澜了。如果把作品放回其时代另一眼看,《上林赋》会体现出其价值的另一面。汉代是一个文学开始被重视的时代。但是这一时代所重视的文学跟我们现代人心目中的文学根本不同。汉武帝对辞赋文学特别喜好,即位后,便大力收罗这一类文人到中央宫廷来。这些人的主要任务是以文学活动为君王提供精神享受,同时在政治上提供一些建议、批评。这样,赋以其特殊形式和表现手法,一边赞颂帝国的强盛,一边为王者加以讽谏,成为这一时代的主流。用这些标准来评价,《上林赋》还的确值得处于汉赋的最高峰,因为它彻底地体现了汉代与汉代文学的所谓“大统一时代”的文化精神。
因此,我们可以说《子虚赋》与《上林赋》当中有种微妙的关系。这两篇赋都是司马相如的代表作,都处于汉大赋的最高峰。然而《子虚赋》应该是西汉大赋对前面的总结和完善的作品,《上林赋》却标志着作者本身对赋的创作与汉大赋在其时代处于最高峰的同时,已经面临衰落之势。司马相如之后的作者与作品,比较杰出的如:杨雄的《长杨》、班固的《两都》、张衡的《二京》,晋代左思的《三都》等等都沿用了由荀、宋开创,由司马相如定形的赋的正宗体式,虽有些成就,但都无法跟司马相如相比。时代已经过去了,有些东西永远不能重复。
司马相如的文学事业与其对后代文人重大的影响是不可否认的。在《史记•贾生列传》中,司马迁主要是把贾谊当作和屈原一样关心国事而不遇其君的进步作家来尊敬和同情的,而对贾谊的文学作品,只收录了《吊屈原赋》和《鹏鸟赋》,著名的《过秦论》则附于《秦始皇本纪》之后。而在《史记•司马相如列传》中,司马迁全文收录了他的三篇赋、四篇散文,以致《司马相如列传》的篇幅大约相当于《贾生列传》的六倍。可见司马迁对司马相如文章的欣赏与重视高于贾谊。而班固在其《汉书》里面全部把它照录下来,同样表达了他的肯定。
笔者认为司马相如之所以伟大是因为他身上拥有代表一代文学的绝技与才华的同时,也具备这一代文人最典型的光荣与悲哀,正如鲁迅先生在《汉文学史纲要》中所说:“武帝时文人,赋莫若司马相如,文莫若司马迁,而一则寂寥,一则被刑。盖雄于文者,常桀骜不欲迎雄主之意,故遇合常不及凡文人。”
三.
汉赋多用主客对话的方式构成赋文。一般分首中尾三部分。首部相当于引子,道出写赋原由。中部高谈阔论。尾部点题,抒发个人情怀。《玉井莲赋》的主客问答体跟汉大赋较为相似,都主要以一方的高谈阔论展开赋的主要内容;但同时也具有宋代文赋主客问答体的韵味,即主客之间不仅有逻辑性或哲理性的语言表达,而且有直接影响和间接启发的情感互动。
汉赋在创作手法上有三个特点。其一是描写事物面面俱到,以求穷形尽相。其二是通过大力夸张、对比,铺叙所描绘的事物。其三是大量用排比、对偶技巧来组织夸丽的文辞,层层铺垫。
《子虚赋》在描写云梦泽时已把赋面面俱到的特点发挥得淋漓尽致:
云梦者,方九百里,其中有山焉。其山则盘纡岪郁,隆崇嵂崒,岑崟参差,日月蔽亏。交错纠纷,上干青云。罢池陂陀,下属江河。其土则丹青赭垩,雌黄白坿,锡碧金银。众色炫耀,照烂龙鳞。其石则赤玉玫瑰,琳珉昆吾,瑊瓑玄厉,碝石碔砆。其乐则有蕙圃:蘅兰芷若,芎藭菖浦,江蓠蘼芜,诸柘巴苴。其南侧有平原广泽:登降陁靡,案衍坛曼,缘似大江,限以巫山;其高燥则生葳菥苞荔,薛莎青薠;其埤湿则生藏茛蒹葭,东蘠雕胡。莲藕觚卢,菴闾轩于。众物居之,不可胜图。其西则有涌泉清池:激水推移,外发芙蓉菱华,内隐钜石白沙;其中则有神色蛟鼍,瑇瑁鳖鼋。其北则有阴林:其树楩柟豫章,桂椒木兰,檗离朱杨樝梨梬栗,橘柚芬芬;其上则有鹓鶵孔弯,腾远射干;其下则有白虎玄豹,曼蜓貙犴。
这段例子可称为汉赋描写手法的经典之一。作者不仅用尽词语描写了云梦泽本身和其构成元素(山、石、土等等),而且还顾及其上下东西南北等有关事物。其夸张程度简直口若悬河,正如篇中人物乌有先生曰:“是何言之过也!”。到了《上林赋》,夸张罗列手法更上一层楼,足以让人对着那“字林”而目瞪口呆。
《玉井莲赋》全面体现了这三特点。首先,他的确把玉井莲描写得穷形尽相,只是莫挺之改换一种手法,连续用了六个排比否定“非……”,用否定以收肯定之效。“非桃李之粗俗,非梅竹之孤寒。非僧房之枸杞,非洛土之牡丹。非陶令东篱之菊,非灵均九畹之兰。”玉井莲其形其相,美不胜收,妙不可言。桃李梅竹,牡丹菊兰,均为人们所欣赏的名花贵卉,然均不可以以之比拟,于是最后只能得出“A就是A”的断言判断:“乃泰华峰头玉井之莲。”
这一段“非……”排比否定正好也体现了《玉井莲赋》身上汉赋的第二特点。其铺叙了玉井莲一切名花贵卉都不是,又远胜这一切。这正是大力夸张类比所展现的效果。
上面这一段“非……”既是排比又是对偶。这种排比对偶技巧之运用,往往可以造成波澜壮阔的场面,充沛的气势,又如:
架水晶兮为宫,金凿琉璃兮为户。碎玻璃兮为泥,洒明珠兮为露。香馥郁兮层霄,帝闻风兮女慕。桂子冷兮无香,素娥纷兮女妒。采瑶草兮芳洲,望美人兮湘浦。蹇何为兮中流,盍相返兮故宇。岂濩落兮无容,叹婵娟兮多误。苟予柄之不阿,果何伤乎风雨。恐芳红兮摇落,美人来兮岁暮。
这种层层铺垫的对比、对偶主要是为了组织更多夸丽的文辞,呈现出更好的夸张、铺陈效果,跟汉赋相同。然而,他那种较为工整的文字和对声色和谐的追求就是后来的俳赋,比汉大赋的艺术手法要雕琢精细得多。
总体来说,《玉井莲赋》的“外貌”给人的第一印象仿佛像汉赋的“小样品”,不过在细节上,它体现出很大的不同。他其实也是越南“综合体”的产物之一,集各种赋体的特点于一身,写得极为漂亮,穷极越南汉语文学之美,散发出与众不同的韵味。
四。
越南在十世纪和十一世纪刚取得独立时,由于与中国文化传统暂时割裂,以及长期战争造成社会的不稳定,统治者尚无暇顾及文化建设,所以这个时期越南的文化面貌比较贫乏。直到李朝(1009-1225)时期,政治长期稳定,经济日益繁荣,越南文化与思想才得以兴起。
从前,只有僧侣才是知识阶层,他们不但在朝廷中有着重要的地位,而且也为越南文学史创出不可忽视的一部分。随着李朝正统的教育和科举制度的制定于发展,越南社会中出现了一个按照儒教意识形态培养出来的儒士阶层。儒士成为越南封建阶级中新的知识阶层,其产生是为了适应中央集权制度发展的需要。从李朝起,儒教在社会上开始居于重要地位,它成为服务中央集权政体、巩固等级制度和培养忠于皇帝思想的得力工具。
然而,在李朝时期,按照儒教思想意识进行教育和推行科举制度仅仅是个开始,培养出来的儒生人数相对较少。在社会文化层面上,佛教仍占优势,僧侣们仍对文化传播起着重要的作用。
到了陈朝(1225-1400),儒士阶层的人数日益众多,他们在政治和思想领域中逐渐取代了僧侣势力。在政权机构中,儒士出身的官吏日益取得优势并担当了朝廷重要职务。此时文学创作也完全由儒士阶层承担起来。
在李朝的基础上,陈朝的学习制度和科举制度越来越有条理和趋于正规化。据史书记载,陈朝的考试内容开始有赋。具体时间为公元1304年,陈英宗设定考试形式为四期:第一次考暗写,第二次考经义、诗、赋,第三次考诏、制、表,第四次考文策。后来考试内容在每一代都有所改变,但考赋这一项目一直留存。
儒教大力发展,并且有逐渐压倒佛教的趋势。陈初,佛教还盛行,但僧侣正逐渐失去在国家生活中的巨大影响作用。到了陈朝末年,儒教和佛教发生了冲突。黎文休、黎括、张汉超等当时有名的儒士对佛教进行了批判和排斥。佛教的优势逐渐减弱,随后让位给儒教。
在加强中央集权政体的同时,统治阶级一方面想依靠儒教和中国封建统治者培养人才的制度来控制人民的思想和精神生活。但另一方面,由于陈朝历史伴随着抵抗元、明侵略军的抗战并连续取得巨大胜利这一过程,生活在生气勃勃地抗击外来侵略的时代,使统治阶级也不得不服从于民族精神和国家自强意识的强大威力。越南民族在争取民族独立自由的斗争中不断地培养民族的爱国主义、自豪感和英雄气魄的精神。这种精神和意识渗透到各阶层人民中,并广泛地反映在当时的文学作品中。
越南儒学由中国传入,与越南本土传统思想相结合,产生了某些变异。越南儒、释、道三教合一或三教融合的色彩比中国浓厚得多。越南人称之为“三教同源”。从丁朝到陈朝,越南社会思想基本上是三教同尊而以佛教为主。儒学发展到陈朝取得主导地位,到后黎朝形成独尊之势。在阮朝,儒学仍然处于正统地位。可以说,儒家学说与越南封建社会相伴始终。在这一过程中,儒家文化与越南的民族文化相辅相成,构成了越南民族的精神支柱和民族心理,成为越南传统文化的主流。
赋是封建集权社会的文艺产品。儒家在越南的兴起和兴盛同样给越南汉文赋提供了思想基础。在越南汉文赋的形成与发展的过程中,我们可以看到带有越南特色的儒家、道家及“三教同源”等思想在越南汉文赋上留下深深的痕迹。在《玉井莲赋》中,这种东方特殊的思想内涵同样有所表现。
五。
可以说西汉时期是文学为王者服务的时代,而汉武帝时期是最典型的体现。汉武帝喜欢辞赋,司马相如便不断地献赋。因为汉武帝喜欢游猎,所以才有了《上林赋》。因为汉武帝好仙,所以才有了《大人赋》。因为有这样的汉武帝,所以才有了这样的西汉文学面貌。
然而,当文学为某些少数的人服务的时候,哪怕这些人多么喜爱文学,文学也不会如看起来得那么有前途,她的发展的空间反而会更狭小。因为个人爱好不管怎么广泛也是有限的,个人眼光不管怎么透彻也会有偏见的。再加上至高的权力因素,文学的发展其实是限制多过生机。因此,虽然说一代有一代之文学,但跟唐诗、宋词、元曲、明清小说比起来,汉赋的文学价值显得有所不及。在文学思想与意义上,是逊于其他朝代的文学。
陈朝也是一个文学开始走向为王者服务的时代,越南士大夫也可以通过献赋以自荐。不同的是,陈朝的君主不是喜欢辞赋,而是喜欢能够创作好作品的贤才。赋凭其容量和艺术特点,是一种能充分体现作者学力和笔力的文学工具,因此在科举制度及荐举制度上有用武之地。
虽然都是献赋,但司马相如赋是以帝王及其霸业为中心,赞美的是一统天下的时代,而莫挺之赋是以自己为中心,赞美的是自己,或在更大程度上,是国家栋梁之才。这两种创作思想的不同导致两篇作品在其自己国家的文学史上有不同的命运。至今《玉井莲赋》仍然耐人寻味并照样有多人问津,而《子虚》、《上林》早已失去了现实意义,其存在价值只是文学博物馆中一个时代的展品。
《玉井莲赋》的确在艺术手法方面受到了汉赋很大的影响,但其并不是一种复制品,而更像一种越南“综合体”赋的表现。他们之间的差别并不仅仅在于“量”,而“质”方面也有很大的变化。《子虚》、《上林》华丽宏大,《玉井莲赋》清晰娇小。《子虚》、《上林》的腔调是浑厚而充满理性的,《玉井莲赋》则是优柔而富有感情的。《子虚》、《上林》的效果是震撼人心的,《玉井莲赋》则是耐人寻味的。这些是《子虚》、《上林》和《玉井莲赋》的区别,同时也是越南汉文赋跟中国汉赋的基本不同。
注释与参考材料:
[1] 钟逢义.越赋纵横[J].解放军外语学院学报,1995年,第5期(总第76):96
[2] 《史记》和《汉书》中都记载:“相如口吃而善著书。”
[3] 班固. 汉书 [M] 第八册.北京: 中华书局,1962: 2529
[4] 班固. 汉书 [M] 第八册.北京: 中华书局,1962: 2600
[5] 班固. 汉书 [M] 第八册.北京: 中华书局,1962: 2589
[6] 班固. 汉书 [M] 第八册.北京: 中华书局,1962: 2533
[7] 班固. 汉书 [M] 第八册.北京: 中华书局,1962: 2592
中国韵文学刊
2015年第二期 (总第七十三期),第26-31页
ISSN 1006 - 2491. CN: 43- 1014/H