History of Eastern Thought

FILM STUDY

WORKSHOP

Akira Kurosawa Film studies

“Samurai thượng thừa” của điện ảnh Nhật Bản

VCC 

Tài năng của Akira Kurosawa được bộc lộ rõ nét nhất ở thể loại phim về các võ sĩ đạo (Samurai) với hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng như Rashomon (La Sinh Môn), Seven Samurai (Bảy võ sĩ), Ran (Lãnh Chúa Hidetora Ran), Throne of Blood (Ngai vàng đẫm máu), Yojimbo (Vệ sĩ). Ông cũng là người đã đưa điện ảnh Nhật Bản đến với công chúng phương Tây. Giống như “gã lập dị” Woody Allen, vị đạo diễn đáng kính không thích nói về bộ phim của mình sau khi đã hoàn thành. “Nếu những gì tôi nói trong phim là thật, mọi người sẽ hiểu”, ông giải thích. Tuy nhiên, ông lại rất thích nói về quá trình làm phim, điều này được Akira Kurosawa đề cập trong cuốn hồi ký của mình.
Như một người thợ thủ công cẩn thận và chu đáo, Akira Kurosawa luôn biết cách làm cho bộ phim của mình hấp dẫn từ đầu đến cuối. Ông luôn tin rằng một nhà biên kịch tốt là điều tiên quyết để trở thành một nhà làm phim thành công. “Với một kịch bản tốt, một đạo diễn có tài sẽ tạo nên một kiệt tác. Cùng kịch bản ấy, đạo diễn xoàng có thể làm ra một bộ phim khá. Nhưng với một kịch bản kém, kể cả là một đạo diễn tài năng nhúng tay vào cũng không cách nào làm cho bộ phim thuyết phục và thú vị”, Akira Kurosawa nói . Cũng theo người hùng của điện ảnh châu Á, một đạo diễn phải biết tất cả mọi thứ về phim ảnh, quá trình và ý tưởng làm phim của các đàn anh mẫu mực. Và kịch bản, như một hạt giống tốt hứa hẹn mùa màng nảy nở, bội thu. Đây là yếu tố để phân biệt các đạo diễn lớn với các đạo diễn xoàng. Chính vì thế, Akira Kurosawa luôn tự tay vật lộn với các trang kịch bản để có thể nắm được cả phần xác và phần hồn của tác phẩm điện ảnh.
“Samurai thượng thừa” của điện ảnh Nhật Bản 1
Như một người thợ thủ công cẩn thận và chu đáo, Akira Kurosawa luôn biết cách làm cho bộ phim của mình hấp dẫn từ đầu đến cuối

Vẫn chưa thỏa mãn với bản thân, Akira Kurosawa liên tục tìm cách thâm nhập vào đời sống, nắm bắt những khoảnh khắc sống động nhất của thế giới. Vị đạo diễn bậc thầy luôn kè kè một cuốn sổ ghi chép để có thể ghi và đọc những ý tưởng bất cứ nơi đâu. Thời gian còn là một trợ lý đạo diễn, ông đã luôn kỷ luật bản thân ít nhất phải viết được 1 trang kịch bản mỗi ngày. Và bao giờ cũng vậy, Akira Kurosawa luôn phá kỷ lục khi viết được tới 2 – 3 trang mỗi ngày. Với ông, viết kịch bản cũng giống như sáng tác một bản giao hưởng, câu chuyện cần tới 3 – 4 đoạn chuyển tiếp với nhịp độ khác nhau.
Điểm đặc biệt trong phong cách làm phim của Akira Kurosawa là ở chỗ ông ít coi trọng đối thoại trong các tác phẩm điện ảnh. Theo ông, máy quay, ánh sáng, các chỉnh sửa và nhất là biểu cảm, chuyển động của các diễn viên sẽ thể hiện tốt hơn lời nói thông thường. Từ khi còn trẻ, Akira Kurosawa đã yêu thích phong cách phim câm nên khi đã trở thành một nhà làm phim thực thụ, ông hạn chế đối thoại để tạo điều kiện cho các phương thức biểu hiện khác lên ngôi. Với Akira Kurosawa, đối thoại không phải là chiếc thang bắc tới mục đích. Ngay khi đang hoàn thiện kịch bản, ý tưởng về âm nhạc, hiệu ứng âm thanh cũng đã xuất hiện trong đầu Akira Kurosawa, điều mà không phải người thường nào cũng làm được.
“Samurai thượng thừa” của điện ảnh Nhật Bản 2
Seven Samurai và Rashomon là hai tác phẩm nổi bật trong sự nghiệp của Akira Kurosawa

Coi trọng kịch bản nhưng Akira Kurosawa cũng là một nhà làm phim có tư tưởng rất rộng mở. Những năm 1940, ông mời thêm hai nhà biên kịch làm việc nhóm với mình nhằm tạo ra sự phong phú, đa dạng cho kịch bản. Những năm sau đó, vị đạo diễn xuất chúng rời rời Tokyo sau khi hoàn thành một bộ phim. Về nhà hoặc tìm một quán trọ ở Kyoto, nơi không bị quấy rầy, ông thư giãn và tiếp tục viết một kịch bản mới trong vài tuần kế tiếp. Ông thường thức dậy sớm, ăn sáng, sau đó quay về phòng và viết cho tới 6 giờ tối.
Là một nhà làm phim có tư tưởng hết sức hiện đại, Akira Kurosawa không cho phép quá lạm dụng quan điểm cá nhân vào một tác phẩm điện ảnh. Điều này thể hiện rất rõ ở bộ phim nổi tiếng Seven Samurai. Ông chỉnh sửa các phân đoạn ngay trong quá trình làm phim, nhờ đó sản phẩm cuối cùng gần như đã được trau chuốt, gần như hoàn chỉnh.
“Samurai thượng thừa” của điện ảnh Nhật Bản 3
“Samurai thượng thừa của điện ảnh Nhật Bản”

Như những nhà làm phim lâu năm khác, Akira Kurosawa cũng phải đối mặt với những giai đoạn thua lỗ, khó khăn về tài chính. Đỉnh điểm là vào những năm 1965, khi bộ phim Dodeskaden thất bại, Akira Kurosawa đồng thời đánh mất tình bạn lâu năm với diễn viên Toshiro Mifune. Nhà làm phim xuất chúng đã lâm vào tình trạng nghiện rượu và trầm cảm. Ông trở nên khép kín và chỉ làm việc với vài cộng sự thân cận. Sau đó, cuộc hợp tác làm phim với Hollywood thất bại do khác biệt về quan điểm nghệ thuật khiến Akira Kurosawa đi tới cùng quẫn, tự tử nhưng may mắn sống sót. Tuy nhiên, ông luôn giữ vững vị trí “Hoàng đế của điện ảnh Nhật Bản”, luôn “chiến đấu” đến tận cùng với những khó khăn trong việc làm phim bằng cả sự khó tính, cầu toàn và chuyên nghiệp của bản thân. Cuối cùng, khi bộ phim Derzsu Uzala (Thợ săn)giành được giải Oscar cho phim nước ngoài hay nhất, được đà, Akira Kurosawa đã liên tiếp thực hiện hàng loạt bộ phim hay nhất trong sự nghiệp của ông.
Dường như làm phim là toàn bộ ý nghĩa cuộc đời của “Samurai thượng thừa của điện ảnh Nhật Bản”, Akira Kurosawa, như những cuộc chinh phạt là lý tưởng sự nghiệp của những chiến lược gia quân sự vĩ đại trong lịch sử. LHP quốc tế Tokyo hàng năm đã dành một giải thưởng mang tên Akira Kurosawa trao cho những nhân vật điện ảnh có phong cách sáng tạo cùng với những bộ phim đậm tính người và có tinh thần giải trí. Đạo diễn Trung Quốc, Trần Khải Ca và đạo diễn Nga, Nikita Mikhalov là những nhân vật từng có vinh dự nhận giải thưởng danh dự này.
http://www.baomoi.com/Samurai-thuong-thua-cua-dien-anh-Nhat-Ban/c/12526509.epi
Văn học & Điện ảnh Văn học Anh

Macbeth – Shakespeare

Sấm sét vang rền, những tia chớp lóe trong đêm tối. Đó là thời gian lý tưởng cho các mụ phù thủy hò hẹn nhau đợi giờ tàn cuộc chiến.
Người ta nghe thấy tiếng ầm ĩ của một trận đánh lớn: Macbeth, nam tước Glamis và Banquo, người chiến hữu, cùng chiến đấu bảo vệ mảnh đất Ecosse chống lại vua Na-Uy, được nam tước Cawdor, phản lại tổ quốc mình, trợ lực. Hạnh phúc thay cho Duncan, vua Ecosse, khi nhận được tin hai vị tướng can trường đã đè bẹp quân thù. Như “hai khẩu thần công nạp đạn, họ đánh tan tác bọn Na-Uy”; Macbeth đã xả làm đôi thủ lãnh bọn phiến loạn.
Trên vùng đất hoang um tùm thạch thảo, giữa cơn giông tố các mụ phù thủy tề tựu lại. Chúng gồm ba đứa quây tròn nhảy múa:“Ba vòng cho mày, ba vòng cho tao, thêm ba vòng nữa là chín”. Đột nhiên, chúng dừng lại. Macbeth và Banquo vừa đi trờ tới. Chúng giơ những ngón tay khẳng khiu, trơ xương lên và lần lượt nói:
– Chào Macbeth! Chào người, nam tước Glasmis!
– Chào Macbeth! Chào người, nam tước Cawdor!
– Chào Macbeth! một ngày kia, ngươi sẽ làm vua!
Macbeth run sợ. Banquo liền hỏi chúng. Anh cũng muốn biết vận mạng mình; với anh, chúng cũng nói, thoạt tiên với vẻ thần bí, sau đó thật rõ ràng:
– Nhỏ hơn Macbeth, tuy nhiên lại lớn hơn.
– Kém may mắn hơn Macbeth, nhưng lại may mắn hơn nhiều.
– Tổ phụ của nhiều vị vua, ngươi không phải là vua!
Những lời dự ước huyền bí đó thấm sâu vào tâm hồn Macbeth. Đến lượt mình, chàng định hỏi, nhưng ba nhân vật râu dài, môi xệ đã tan biến như sương khói. Họ không thể biết gì thêm nữa, và mỗi người trong bọn họ đều tự động nhắc lại lời tiên tri dành cho người kia:“Tổ phụ của nhiều vị vua”. Macbeth nhắc lại và sẽ không bao giờ quên. Banquo liền đáp:“Ngày kia, ngươi sẽ là vua!”
Hầu như điều dự đoán bắt đầu ứng nghiệm tức khắc. Đức vua khen thưởng chiến công hiển hách của Macbeth bằng cách ban tặng cho chàng tất cả di vật và chức tước của nam tước Cawdor, kẻ phản phúc đã bị xét xử và trừng phạt. Macbeth, quá xúc động, chẳng biết mình có phải là trò đùa của bọn yêu tinh quỉ quái không.
Tương lai có vẻ trải đầy hoa gấm, nhưng cõi lòng chàng rúng động, tóc chàng dựng ngược vì kinh hãi, một ý nghĩ giết người thoáng qua óc, chàng bất động và câm nín, cảm thấy cái ý tưởng khủng khiếp ấy đang lớn dần trong chàng, trong lúc Banquo cứ chế riễu cho rằng bạn mình đang bỡ ngỡ làm quen với địa vị mới “cũng vướng víu như những chiếc áo mới”.
Và sau đó, trước mặt đức vua cả tin, hân hoan bày tỏ sự biết ơn đối với chàng và yêu cầu lòng trung thành của chàng đối với người kế nghiệp. Macbeth nghĩ rằng chính kẻ này, thái tử Malcolm, mới là chướng ngại sẽ khiến chàng lao đao, hoặc là chàng phải làm bừa để vượt qua.
Ray rứt bởi những ý nghĩ đó, chàng cáo từ vua Duncan, về viết thư cho vợ, báo cho nàng hay chức vụ mới của mình, đồng thời với việc đứa vua sẽ hạ cố đến thăm và ngủ đêm tại nhà họ.
Phu nhân Macbeth được biết qua lá thư chồng, lời tiên tri của bọn phù thủy, cả chiến thắng và những danh vọng mới. Nàng đắn đo, cân nhắc, nàng hiểu rõ chồng mình và tham vọng của chàng, nhưng anh ta “tràn trề những tình cảm yếu đuối của con người”, chàng khao khát quyền uy, nhưng muốn chiếm nó một cách “chính trực”, chàng muốn thành đạt nhưng không chịu chơi trò gian lận. Và nàng nghĩ phải truyền sự can đảm của mình cho chồng và thúc đẩy chồng đến được với vận hội của chàng. Khi nàng biết rằng đức vua Duncan sẽ ngủ lại dưới mái nhà họ, nàng rùng mình trước những chết chóc, tiếng quạ kêu ai oán, báo hiệu đức vua đến, và khi Macbeth gặp vợ, cả hai quyết định nhúng tay vào tội ác, trước cả khi bàn bạc với nhau. Nàng hỏi:
– Chừng nào ông ta đi?
Chàng đáp:
– Ngày mai, theo như ông ta yêu cầu!
Và nàng chép miệng:
– Ôi! Chẳng bao giờ mặt trời thấy được cái ngày mai ấy!
Rồi, sau một lát im lặng: “Em phải lo chuẩn bị đón khách. Còn anh, anh hãy bày tỏ thái độ cương quyết, mọi cái khác cứ để mặc em”.
Cả hai kính cẩn tiếp rước đức vua nhân từ Duncan. Ngài hoan hỉ được trú ngụ trong nhà một chư hầu trung tín, rất thích thú vì không khí tươi mát và trong lành nơi chỗ ở của họ, những con chim én làm tổ trên dãy vòm cuốn. Người ta đốt đuốc, người ta tổ chức yến tiệc linh đình và nhạc kè ô-boa nổi lên rền rĩ. Macbeth không thể nào ngồi yên trong bàn tiệc. Chàng lẻn ra ngoài để trầm tư. Chàng tự nhủ mình nên tha cho nhà vua, vì chàng là hoàng thân, là kẻ thần dân của ngài, lại là chủ trọ nữa. Đức vua anh minh đức độ và nhân ái, bao nhiêu tính tốt biện hộ cho ngài. Nhưng bà vợ xộc tới nhận thấy chàng dao động yếu đuối, đã dùng lời cay chua xỉa xói chồng:
– Thế là trong hành động anh run sợ; còn trong ham muốn, anh lại tỏ ra dũng cảm? Anh mơ ước chiếm được ngai vàng để cho đời anh vinh hiển, mà lại cứ sống hèn nhát với chính mình! Anh khoe khoang dám làm tất cả những gì một người đàn ông có thể làm, rồi giờ đây, khi thời cơ đưa đến anh lại thối lui thay vì phải hành động!
– Nhưng nếu chúng ta thất bại thì sao? –Macbeth thốt lên một cách khiếp nhược.
– Thất bại à? Nếu anh không mềm yếu, làm sao hỏng việc được? Khi Duncan thiếp ngủ, em sẽ biết cách khiến hai tên cận thần rũ liệt vì rượu thịt, để chúng ngủ vùi một giấc nặng nề. Và ai cấm chúng ta đổ tội cho bọn võ quan say sưa đó?
– Tốt nhất –Macbeth đã tỉnh táo trở lại, nói thêm- là chúng ta vấy máu lên người bọn mê ngủ và sử dụng chính những con dao của chúng!
Phu nhân Macbeth còn tiên liệu cả việc phải la hoảng và kêu than thế nào trước thi thể người khách trọ bị thảm sát.
Đêm đã tới, khách đều an giấc, tặng vật của vua và viên kim cương ngài biếu, vị phu nhân đã cất kỹ. Macbeth ngồi đợi vợ mình trong sân lâu đài, ngay cửa cầu thang dẫn đến phòng vua Duncan. Chàng ngỡ như thấy con dao găm lượn lờ trước mắt, cán dao quay về phía tay chàng, máu nhỏ ròng ròng từng giọt, nhưng giờ đây chàng không do dự nữa, và tiếng chuông ngân lên báo hiệu mọi việc đã sẵn sàng, chàng men lên phòng đức vua.
Đứng ngay nơi cửa, phu nhân Macbeth chờ chồng quay xuống. Nàng lo lắng cho sự chậm trễ của chồng. Chẳng phải là nàng đã một mình bố trí hết đó sao, chuẩn bị các dao găm, hé mở các cửa và phục rượu cho bọn cận thần say khướt? “Nếu đức vua không phảng phất giống cha ta, -nàng nói- chắc ta sẽ tự làm lấy nốt.” Cuối cùng, Macbeth trở lại, tay đẫm máu, hoảng sợ vì tiếng cú kêu và dế gáy, khiếp hãi khi nghe bọn người hầu lâm râm cầu nguyện trong cơn mê ngủ, môi miệng giá lạnh chẳng thế nào thốt lên được tiếng: A-men! Chàng nghe như ai đó hét lên: “Đừng ngủ nữa! Glasmis đã giết chết giấc ngủ, vì thế Cawdor không còn ngủ nữa. Macbeth cũng không thể nào ngủ được nữa!” Chàng còn giữ con dao găm, nhưng không dám quay lên phòng đức vua. Chính phu nhân Macbeth phải lên vấy máu vào mặt và tay bọn cận thần, rồi đặt mấy con dao găm bên cạnh họ. Như thế, cả hai vợ chồng đều đã nhúng tay vào máu, khiến Macbeth cứ nhìn mà kinh hoảng.
– Bàn tay nào thế kia? Nước của cả đại dương chắc gì đã rửa sạch vết máu trên đó?
Vợ chàng bình thản trả lời:
– Tay em cũng một màu với tay anh thôi, nhưng em sẽ xấu hổ biết bao nếu có một quả tim yếu hèn đến thế! Lại đây, một tí nước cũng đủ cho ta xóa sạch hành vi vừa qua.
Rồi họ rút về phòng riêng, để chờ mọi người thức dậy và phát hiện cái tội ác ghê tởm.
Sáng sớm, Macduff phát giác ra vụ giết người. Anh kéo chuông báo động, tất cả đổ xô đến, và Macbeth, như một chủ trọ bất bình, vì có án mạng xảy ra ngay trong nhà mình, liền ra tay tàn sát bọn nội thần cho chúng câm miệng hẳn. Malcolm và Donalbain hai hoàng tử vội bỏ trốn sang Anh, “lánh xa cái nơi có dao găm giấu trong nụ cười con người”. Chẳng bao lâu sau, Macbeth vừa cảm thấy thoải mái trong tội ác, đã vu khống cho họ âm mưu giết cha. Hắn khai thác tình huống tuyệt vời đến mức, ngay vào ngày thánh thể vua Duncan được chuyển vào ngôi tiểu giáo đường Saint Colomban, nơi lưu giữ hài cốt tiên tổ của ngài, thì hắn, Macbeth lên ngôi vua ở Scone. Lời tiên tri của bọn phù thủy thế là ứng nghiệm.
Vua Macbeth ngự trong cung điện, giữa đám triều thần. Hắn cho mời Banquo, người bạn cố tri, đến dự đại yến, và trước giờ ăn tối, hắn ân cần dò hỏi hành trình của bạn mình. Kẻ nham hiểm muốn biết chắc bọn sát nhân mà hắn cấp tốc phái đi, có giết được Banquo không, kể cả trường hợp có cậu con Fléance đi theo. Bởi Macbeth nghĩ rằng; vua chẳng là gì cả, nếu làm vua mà không an toàn. “Banquo đã nghe những lời tiên tri của bọn phù thủy -hắn tự nhủ- thì sao anh ta lại không có quyền mơ ước? Bọn chúng chào anh ta như là tổ phụ của nhiều vị vua tiếp nối, như thế bọn chúng đã đặt lên đầu ta chiếc vương miện của ông vua tuyệt tự. Thế ra, vì họn hậu duệ của Banquo, mà ta đánh mất linh hồn à !”
Đã dạn dày trong tội ác, hắn giấu giếm cả với phu nhân Macbeth, khuyên nàng nên có lời lẽ dịu dàng và đằm thắm với Banquo trong buổi tiệc. Qua câu nói mập mờ, nàng cảm thấy rõ hắn đang âm mưu một trò xảo quyệt nào đây, dù sao hắn đã không để nàng liên lụy vào tội ác mới mới này.
Buổi tối, trên bàn tiệc, Macbeth cho an vị mỗi người theo thứ bậc mình. Ra vẻ một chủ nhân lịch duyệt, hắn lân la bên các thực khách, nốc từng cốc rượu tràn với mỗi nhóm. Nhờ thế, hắn có thể đến gần tên mật sứ lấm máu Banquo, mà gã vừa cắt cổ và xô xuống hố sâu. Nhưng Macbeth nghiến răng ken két, khi biết rằng Fléance đã trốn thoát. Tuy thế hắn buộc phải ra vẻ niềm nở, ba hoa vài câu khách sáo, ngạc nhiên nhận ra chỗ Banquo bỏ trống, đùa cợt về sự phạm thượng đó, rồi bất thần, khi người ta thỉnh cầu hắn ngồi vào cái bàn vắng mất vị khách đó, hắn chợt thấy hồn ma của Banquo ngồi đấy, ngay trước mặt hắn và hắn buộc miệng thều thào:
– Ngươi không thể nói rằng chính ta đã làm thế. Đừng đong đưa trước mắt ta mái tóc nhuộm đầy máu của ngươi. Kìa những người chết đang trỗi dậy, đuổi chúng ta ra khỏi ghế ngồi!
Trước những lời điên loạn đó, mọi người đều hoang mang. Tuy nhiên, phu nhân Macbeth trấn tĩnh họ, tiết lộ rằng đức vua thường bị ám ảnh bởi những điều kỳ quặt, rồi hạ giọng, nàng xoa dịu chồng, vừa chế giễu những ảo ảnh cũng như nỗi sợ hãi của chồng, khéo đến mức hắn không còn thấy hồn ma đâu nữa.
Hắn cáo lỗi, lại ngồi xuống, rót tràn cốc rượu nho với bộ điệu kiêu căng, rồi nâng cốc uống mừng Banquo…Ngay lúc đó, hồn ma lại ngồi vào chỗ cũ, và Macbeth mê sảng, mặt mày tái xanh vì khiếp hãi:“Lui ngay! Xa hẳn đời ta! Cho đất chôn vùi ngươi đi! Xương ngươi không còn tủy, máu ngươi đã khô lạnh! Chẳng còn ý tưởng nào trong hố mắt lờ đờ của ngươi nữa!
Lần này, sự biến bùng ra dữ dội. Dù cho Macbeth đã hồi tỉnh, phu nhân vẫn để bọn thực khách nhốn nháo kéo nhau ra về, lo lắng tìm cách che giấu cơn điên loạn của chồng.
Nhưng Macbeth lại phát hiện còn nhiều người vướng bận hắn ta, rằng cần phải chém giết thêm nữa, “lặn sâu vào biển máu” phải trui rèn bằng thói quen bởi vì như hắn nói một cách vô ý thức: “chúng ta còn quá non trẻ trong tội ác”.
Bọn phù thủy chuẩn bị nồi chảo, bùa mê, ngải độc và các thứ trù yểm để đón hắn. Trong cái nồi phù phép, sôi sục cái món hỗn tạp mà làn khói bốc lên biểu hiện các sự kiện của tương lai; một thứ canh âm phủ sủi bọt trong đó: thịt lưng răn dầm, mắt kỳ nhông, đùi ếch, lông dơi, lưỡi rắn lục, chân cắc kè, cánh chim cú, vảy rồng, răng sói cái, xác ướp yêu thuật, rễ độc cần nhổ trong đêm, ngón tay trẻ sơ sinh bị bóp cổ ngay khi ra đời. Đó là những vị thuốc mà các mụ bạn của cô đơn và bóng tối trộn thành món súp sền sệt tối độc.
Macbeth sợ hồn ma hơn là các mụ phù thủy này. Hắn đến khẩn cầu chúng tiết lộ việc tương lai. Chúng cười khẩy, nhạo báng, ném thêm nhiều vật ghớm ghiếc vào nồi nước hỏa ngục và vào đống lửa, thế là những quyền lực kỳ bí từ từ phát lộ. Không cần Macbeth phải nói, tư tưởng của hắn đã được hiểu thấu. Bên trên làn khói ô uế, nhiều khuôn mặt lần lượt hiện ra.
Thoạt tiên, một cái đầu đội mũ sắt hét lên:“Macbeth! Macbeth! Macbeth! Hãy coi chừng Macduff”. Rồi một cậu bé bê bết máu kêu la:“Hãy tàn bạo và cương quyết, vì chẳng ai do đàn bà sinh ra có thể hại được Macbeth!”
Cuối cùng, lại một cậu bé đội vương miện, tay cầm cành cây xanh nói:“Hãy kiêu hãnh lên đi, Macbeth; ngươi chẳng bao giờ chiến bại, trừ khi nào khu rừng Birnam đi về phía đồi Dunsinane để chống lại ngươi”.
Macbeth đắc thắng, nhưng hắn muốn biết đám hậu duệ của Banquo có được trị vì trên vương quốc không. Mặc những lời khuyên can của bọn phù thủy, hắn nài nỉ, nguyền rủa, bức bách. Thế rồi, giữa làn khói cuồn cuộn, cái chảo lút sâu xuống đất, và hắn thấy lần lượt hiện lên tám vị vua đội mão vàng mà hồn ma Banquo vừa chỉ vừa mỉm cười. Vị vua thứ tám cầm một chiếc gương soi, trong đó ta thấy nhạt nhòa nhiều gương mặt, mang hai quả cầu và ba vương trượng.
Và khi Macbeth kịp hoàn hồn, thì cái vòng ma quái của các mụ phù thủy đã tan biến, mang ảo ảnh chìm theo làn uế khí.
Tràn đầy tin tưởng, hắn tiến hành các dự kiến sát nhân bằng sự phản trắc và mưu lược. Hắn giết hại tất cả những ai làm phiền hắn, mà trước hết là Macduff. Là chư hầu trung tín, ông này quyết bảo vệ người thừa kế hợp pháp của vương quốc. Không thể giết ông, vì ông vừa trốn sang Anh quốc, nhưng ông còn bỏ lại trong lâu đài bà vợ, các con và những người xấu số thuộc dòng họ ông. Chính thông qua họ, mà Macbeth tấn công ông. Một nhóm đạo tặc đầu trâu mặt ngựa, xông và Fife chém giết phu nhân Macduff, lũ con cháu và tất cả người nhà. Thật là một cuộc thảm sát man rợ và cái xứ sở đau thương rỉ máu, quằn quại dưới ách bạo tàn, khóc than sau mỗi nhát dao, mỗi ngày mang thêm một vết thương mới. Người ta ngại ngùng không dám hỏi chuông đang gọi hồn ai:“Macbeth như một con yêu tinh, đầy dẫy tật xấu, tham lam vô độ, hiểm độc và khát máu”.
Xa kia, bên đất Anh, Macduff đã tìm gặp Malcolm, vị vua đích thực kế nghiệp ngai vàng, và chàng trai trẻ hoài nghi vì bao tai biến dồn dập xảy ra đã đem sự ngay thẳng và đức hạnh của Macduff ra thử thách. Rồi cả hai, họ nhận được sự trợ giúp quí báu của vua Anh quốc: một đội quân mười ngàn người. Thế là họ chuẩn bị giải phóng Ecosse. Chao ôi! Cần phải cho Macduff biết tin “con diều hâu hiểm độc kia đã xông vào tổ, sát hại cùng một lúc đàn gà con xinh xắn và cả mẹ chúng nữa!” Đau thương đã biến thành uất hận, bất hạnh đó mài sắc thêm lưỡi kiếm của ông; Macbeth quả chỉ còn chờ này sụp đổ.
Ở Dunsinane, vua Macbeth bận hành quân; trong cung điện, thế nữ phải mời một y sĩ đến khám căn bệnh quái lạ của hoàng hậu. Đêm nào cũng thế, lừ đừ nhợt nhạt và thẫn thờ, bó đuốc trên tay, bà đi thất thểu khắp các phòng và dãy hành lang. Bà tìm gì thế ? Đôi mắt mở to của bà ta nhìn thấy những gì mà tâm hồn lương thiện không nhìn thấy. Bà xoa tay, kỳ cọ hàng giờ đôi bàn tay nhỏ nhắn. Bà lẩm bẩm:
– Biến đi chứ, cái vết bẩn khốn kiếp, biến đi, ta bảo! Có ai ngờ lão già ấy lại chứa bao nhiêu là máu trong người? Sao, đôi tay này chẳng bao giờ sạch được ư? Tất cả dầu thơm xứ Arabie cũng không thể làm sạch bàn tay nhỏ này sao? Nào, rửa tay đi, đưa áo ngủ đây! Đừng có mà tái xanh thế! Ta nhắc lại cho ngươi rõ, Banquo đã bị chôn kín rồi, hắn không thể ra khỏi mồ đâu. Hô! Hô! Hô!
Can bệnh quái gỡ vượt quá tài nghệ chữa trị của viên ngự y.
– Hoàng hậu –ông nói- có lẽ cần tu sĩ hơn. Chúa ơi! Cầu Chúa tha tội cho tất cả chúng ta!
Thế rồi bà chết, bởi vì ai chẳng biết liều thuốc giải độc êm dịu của lãng quên và bà thì không thể nào rứt bỏ khỏi ký ức mình những giày vò và hối hận đã bám chặt trong đó.
Macbeth chẳng còn thì giờ đâu mà khóc than cho vợ, cuộc sống hắn vốn đã đầy dẫy những chuyện khủng khiếp, và nỗi kinh hoàng hầu như quen thuộc với những tư tưởng sát nhân, không còn khiến hắn xúc động nữa. Vả lại, hắn còn bao nhiêu điều lo nghĩ khác, lực lượng quân sự Anh tiến gần, dưới sự chỉ huy của Malcolm và Macduff.
Họ đến từ hướng rừng Birnam. Macbeth tăng cường phòng ngự Dunsinane, và để ru ngủ sự hoang mang của mình, hắn luôn tự nhủ:“Cánh rừng Birnam chưa đi về phía ta, và Malcolm là do một người đàn bà sinh ra. Thế thì ta sợ gì chứ?
Cờ hiệu của hắn phấp phới một cách ngạo mạn trên thành lũy, hắn cười nhạo đoàn quân vây thành, những tiếng la ó, những nỗi sợ sệt. Nhưng một mật báo viên đến cho hắn hay rằng cánh rừng Birnam đang bắt đầu tiến lên trên bề rộng khoảng ba dặm, như một lùm cây di động.
Lần này, hắn thực sự nao núng, hắn bắt đầu ngờ vực những câu đoán mập mờ của bọn quỉ sứ. Hắn nghĩ đến việc bỏ trốn, nhưng không, hắn muốn được chết da ngựa bọc thây và chống cự một cách quả cảm trận tiến công đã khởi sự trong tiếng kèn rầm rộ inh tai. Malcolm khôn ngoan và thận trọng, đã ra lệnh cho mỗi người lính đều chặt một cành cây mang trước người, để ngụy trang và che giấu quân số để địch không đánh giá nổi lực lượng của mình.
Trận chiến nổ ra, Macbeth còn bấu víu vào niềm tin rằng chẳng ai do đàn bà sinh ra có thể đánh ngã hắn. Rồi hắn mải mê chém giết không chút sợ hãi và cứ tưởng mình vô địch. Cuối cùng, đến lúc Macduff tìm gặp hắn giữa trận tiền, Macbeth say máu hét lên:
– Ngươi phí công vô ích. Ta mang trong mình một đời sống kỳ diệu, chẳng có ai do đàn bà sinh ra có thể đụng đến ta!”
Tức thì, Macduff cười khẩy:“Mi tuyệt vọng rồi! Macduff không do một người đàn bà đang sống sinh ra, vì mẹ ta đã chết ngay khi ta ra đời!”
Phen này, thế là hết, chẳng còn đâu đại đởm của Macbeth. Những lời tiên tri đã quay lại chống hắn, và định mệnh đã đánh gục hắn. Nhưng hắn không muốn chết trước mặt chàng trai trẻ Malcolm, nên cố tự vệ để tìm đường tẩu thoát.
Ngay sau đó, xứ Ecosse được tự do và Macduff lại hiện ra, vác cây cọc cắm cái đầu khốn kiếp và cả đoàn quân reo hò chào đón vị vua trẻ.

 

http://maxreading.com/sach-hay/tac-pham-cua-shakespeare/macbeth-24198.html

Akira Kurosawa Film studies Văn học & Điện ảnh Văn học Anh

Throne Of Blood (1957) – Akira Kurosawa

Throne Of Blood (1957) pt. 1

Throne Of Blood (1957) pt. 2

Throne of Blood

From Wikipedia, the free encyclopedia
Throne of Blood
蜘蛛巣城
Throne of Blood Japanese 1957 poster.jpg

Original Japanese poster
Directed by Akira Kurosawa
Produced by Sōjirō Motoki
Akira Kurosawa
Screenplay by Shinobu Hashimoto
Ryûzô Kikushima
Akira Kurosawa
Hideo Oguni
Based on Macbeth
by William Shakespeare(uncredited)
Starring Toshiro Mifune
Isuzu Yamada
Takashi Shimura
Music by Masaru Sato
Cinematography Asakazu Nakai
Edited by Akira Kurosawa
Production
company
Toho Studios
Distributed by Toho
Release dates
  • 15 January 1957 (Japan)
Running time
110 min
Country Japan
Language Japanese

Throne of Blood (蜘蛛巣城 Kumonosu-jō?, literally, “Spider Web Castle”) is a 1957 Japanese film directed by Akira Kurosawa. The film transposes the plot of William Shakespeare’s play Macbeth to feudal Japan, with stylistic elements drawn from Noh drama.

Akira Kurosawa Film studies

AKIRA KUROSAWA – HOÀNG ĐẾ ĐIỆN ẢNH NHẬT


(Viết nhân 100 năm ngày sinh của Akira Kurosawa)

“Ở Nhật Bản người ta toàn hỏi tôi những câu vô nghĩa. Tôi không trả lời” – Akira Kurosawa kể. Vì tính bướng bỉnh và thái độ không nhân nhượng mà Kurosawa có biệt danh là “Hoàng đế”.

Ông là người con thứ bảy (con út) trong gia đình có cha là võ sĩ samurai. Từ bé ông đã theo cha học võ. Nhưng ông đã “phản bội” cha để đi theo một con đường khác – điện ảnh. Người anh cả của ông là Heigo cũng không thực hiện được hy vọng của cha về theo đuổi con đường binh nghiệp. Năm 27 tuổi, anh cùng người bạn gái bỏ vào núi và cả hai đã quyên sinh tại đó.

Sự nghiệp điện ảnh của Kurosawa bắt đầu sau khi ông giành phần thắng trong một cuộc thi và trở thành trợ lý đạo diễn tại hãng phim “Toho”. Bộ phim ông làm từ đầu đến cuối có tên là “Huyền thoại judo” (Sanshiro Sugata) được công chiếu rộng rãi năm 1943. Nhưng Kurosawa không coi đó là tác phẩm đầu tay, bởi ông luôn tự tin rằng mình là đạo diễn giỏi nghề. Ở tuổi 33, ông tự mình đi một con đường trong điện ảnh và đặt ra những quy chuẩn của riêng mình. “Đừng nói nhiều”, – Kurosawa thường nói với các đồng nghiệp như vậy.

Kurosawa là đạo diễn kiệt xuất. Bởi vì để đem đến cho khán giả thứ điện ảnh trung thực, cần phải quay cái mà anh muốn, chứ không nên quay cái mà vì thứ đó người ta trả tiền. “Tôi không thể lừa dối khán giả vì tiền” – ông nói. Người Nhật thích thưởng ngoạn những khoảnh khắc. Vì vậy, ông chăm chút từng chi tiết để gây ấn tượng mạnh. Trong cảnh cuối của phim “Ngai vàng đẫm máu”(Throne of Blood) ông đã cho bắn diễn viên Toshirō Mifune bằng mũi tên thật từ khoảng cách rất gần. Độ an toàn của diễn viên phụ thuộc hoàn toàn vào sự thiện nghệ của người bắn tên. Còn trong phim “Ran” ông đã cho xây dựng một lâu đài thật trên núi Phú Sĩ. Chỉ để đốt cho hiệu quả thật của cảnh quay.

Để diễn viên quen với phục trang, ông bắt họ phải mặc trang phục đó mấy ngày trước khi quay. Để quay cảnh có thời tiết khác biệt, ông sẵn sàng chờ hàng tuần, thậm chí hàng tháng. Các thành viên trong đoàn làm phim của ông đều biết rõ rằng: nếu Kurosawa chỉ bắt diễn viên quay lại một lần, điều đó có nghĩa là ông không thích cảnh đó và không quan tâm đến nó nữa.

7 võ sĩ samurai

Mở hãng phim của chính mình “Kurosawa Production”, ông có thể sáng tạo tương đối độc lập. Tất cả các bộ phim của ông đều giành được những giải thưởng danh giá ở nước ngoài trong khi ở trong nước bị các nhà phê bình điện ảnh Nhật Bản đánh cho tơi tả. Ông thường thiếu tiền, vì vậy đã đồng ý cộng tác với Hollywood. Ở tuổi 50, ông cao lớn, ăn mặc trẻ trung và sang trọng. Chính vì điều đó mà các ông bầu phim Mỹ trông đợi ở ông phép màu lạ lẫm từ đất nước Phù Tang có thể đổi gu cho nền điện ảnh của họ. Nhưng họ không biết rằng Hoàng đế đang đến với họ.

Năm 1966 ông đồng ý dựng bộ phim “Chuyền tàu-kẻ đào tẩu” cùng một dàn sao Mỹ. Nhưng ông không thể tìm được tiếng nói chung với các nhà sản xuất. Ông muốn dựng một bộ phim triết lý sâu sắc, nhưng họ lại đề nghị ông phải có vài cảnh phụ nữ khỏa thân. Không những thế, tính thực dụng và hệ thống hợp đồng nghiệt ngã của điện ảnh Mỹ đã khiến ông phải chào thua. Kurosawa không thể hiểu tại sao người ta có thể cho ra đời tác phẩm nghệ thuật trong những điều kiện như thế. Người Mỹ lại cho rằng ông bị trầm cảm và buộc ông phải đến trị liệu ở ba bác sĩ thần kinh. Cuộc xung đột chấm dứt với việc hủy bỏ hợp đồng.

Trở về Nhật Bản, Kurosawa buộc phải bán nhà để bắt đầu từ con số không. Đó là giai đoạn đen tối trong cuộc đời ông. Và vào một ngày tháng 12.1971, ông đã tự tay cắt ven. Nhưng rõ ràng là số phận chưa bắt ông phải chết. Ông được cứu thoát từ cái bồn tắm đầy nước. Kurosawa buộc phải sống thêm gần 30 năm nữa.

Ông đành phải kiếm tiền bằng cách quay phim quảng cáo cho rượu wisky Nhật Bản. Ông làm việc đó song song với cuốn phim lịch sử sau này trở thành tác phẩm kinh điển của điện ảnh thế giới “Kagemusha”. “Không ai chi tiền cho tôi. Tất cả đều nói phim lịch sử thì ai quan tâm. Tôi quay “Kagemusha” để chứng minh sự thật không phải như vậy”, – Kurosawa nói.

Và ông đã chứng minh được điều đó. 12 năm sau vụ tự sát bất thành, ông đã xây dựng hãng phim “Kurosawa Film” ở Yokohama. Năm 1990, thế giới được xem bộ phim “Những giấc mơ của Akira Kurosawa” (Dreams) với 8 đoạn về tư duy và thế giới quan của ông, về cuộc sống, cái chết, sáng tạo và bản chất con người. Đạo diễn lừng danh Hollywood Steven Spielberg là giám đốc sản xuất của phim.

Bộ phim cuối cùng của ông “Vẫn chưa” (Madadayo) ra mắt tháng 4.1993. Vị giáo sư già cùng các học trò của mình lúc thì thưởng ngoạn rượu sake, lúc thì phân tích những giọt nước mưa. Bên ngoài cánh cửa chiến tranh đến, rồi đi qua mà không ai phát hiện ra. Ông giáo già và vợ phát hiện ra những điều khác, mà theo họ thì quan trọng hơn: những chiếc mộc nhĩ trên thân cây, cái nắng mùa hè, những cụm lá vàng và đỏ nhuốm tuyết trước cửa nhà.

Tên của bộ phim lấy từ một câu thoại: “Ông đã sẵn sàng sang thế giới bên kia chưa?”, “Chưa, vẫn chưa!”

Kurosawa tự cho mình giống công tước Myshkin trong tác phẩm “Chàng ngốc” của đại văn hào Nga Fedor Dostoevsky. “Tôi thường đọc đi đọc lại sách của Dostoevsky. Không ai có khả năng viết về con người, tâm lý và số phận của con người hay như thế. Nhờ ông mà tôi hiểu cuộc sống” – Kurosawa kể. Ông cho rằng để viết kịch bản, cần phải học thuộc những cuốn tiểu thuyết và những vở kịch của các tác giả khác: “Tôi muốn hiểu những tình cảm làm tâm hồn tôi xao động bắt nguồn từ đâu?”

“Chàng ngốc”

Bộ phim mà ông hài lòng nhất chính là chuyển thể tiểu thuyết “Chàng ngốc” (The Idiot). Kurosawa chuyển bối cảnh bộ phim sang Nhật Bản thời hậu Chiến tranh Thế giới II, ở Hokkaido. Các nhân vật đều mang tên Nhật. Giới phê bình điện ảnh thế giới cho rằng đây là bộ phim chuyển thể hay nhất và trung thực nhất tác phẩm của Dostoevsky.

Nhưng giới phê bình điện ảnh Nhật Bản đầu thập niên 1950 lại không đánh giá cao bộ phim. Họ cho rằng nó không đảm bảo các tiêu chuẩn của một bi kịch cổ điển Nhật Bản. Làm xong bộ phim này, Kurosawa buộc phải rời khỏi hãng phim “Sekino”. “Nhưng dù thế nào thì đây vẫn là bộ phim hay nhất của tôi. Tôi biết chính xác như vậy. Tôi đã nghiền ngẫm nó rất lâu và dồn vào đó mọi kinh nghiệm đạo diễn. Có lẽ tôi thích “Chàng ngốc” bởi vì tôi giống nhân vật chính của tiểu thuyết – công tước Myshkin” – Kurosawa nói.

Tiểu sử
1910, 23.3: Akira Kurosawa chào đời ở ngoại ô Tokyo.
1936: Trở thành trợ lý cho đạo diễn K. Yamamoto. 7 năm sau, ông dựng bộ phim đầu tiên “Huyền thoại judo”.
1944: Nữ diễn viên Yoko Yaguchi (1921-1985) đóng trong bộ phim “Đẹp nhất”. Hai người kết hôn ngày 21.5.1945. Họ có hai con: con gái Kazuko và con trai Hisao. Hisao sau này trở thành nhà sản xuất và làm việc cùng cha.
1948: Làm quen với đạo diễn Toshiro Mifune. Ông này về sau đóng hầu hết các phim của Kurosawa. Hai người cùng làm bộ phim “Thiên thần say”. Ba năm sau, ông chuyển thể tiểu thuyết “Chàng ngốc”.
1951: Đoạt Oscar Phim nước ngoài hay nhất cho “Rashomon“. Đây là phim Nhật Bản đầu tiên đoạt giải Oscar. “Rashomon” còn đoạt “Sư tử vàng” tại LHP Quốc tế Venice.
1952: Mẹ đạo diễn qua đời. Ông dựng bộ phim buồn đầu tiên có tên “Sống”. Ba năm sau, ông cho ra đời “7 võ sĩ samurai” – một trong những bộ phim nổi tiếng nhất của ông.
Tháng 4.1955, ông thành lập hãng phim “Kurosawa Pro”.
1973: Hợp tác với Liên Xô làm bộ phim “Dersu Uzala”. Phim này đoạt Oscar năm 1975.
1980: Nhận giải Cành cọ Vàng cho phim “Kagemusha”. Phim này còn đoạt BAFTA đạo diễn xuất sắc nhất và Cesar Phim nước ngoài hay nhất.
1982: Nhận giải “Sư tử vàng” thành tựu trọn đời.
1990: Nhận giải Oscar thành tựu trọn đời. Một năm sau ra mắt phim “Bản rhapsody tháng Tám” (Rhapsody in August) về thảm họa nguyên tử ở Nagasaki.
1998, 6.9: Qua đời tại Tokyo.

http://vmcinhanoi.blogspot.com/2010/03/akira-kurosawa-hoang-e-ien-anh-nhat.html
Literature Văn học & Điện ảnh Văn học Anh

Vua Lear – Shakespeare

Vào thời Joas làm vua ở Juda, Lear con của Bladud trị vì trên đất Anh. Ngài chỉ có ba cô con gái: cô cả Goneril, là vợ quận công Albanie; Régane, cô thứ, là vợ công tước Cornouailles và cô út được cưng chiều nhất là Cordelia.
Tuy nhiên, vua Lear cảm thấy mình đã quá già. Mỗi ngày, những nỗi lo toan và công việc triều đình đè nặng trên vai. Ngài mong ước được trút bỏ gánh nặng để được thanh thản trong chuỗi ngày tàn, trước khi vào cõi chết. Ngài chia giang san của mình ra ba phần, rồi quy tụ trước cung đình tất cả triều thần, các con gái, hai chàng rễ và hai người cầu hôn công chúa Cordelia. Thế rồi ngài công bố quyết định rời bỏ quyền hành và sẽ ban an huệ cho cô con gái nào mà ngài nhận thấy đã yêu thương ngài nhiều nhất. Ngài yêu cầu các con hãy bày tỏ lòng hiếu thảo của mình trước mọi người cho ngài dễ dàng lượng xét.
Goneril, cô cả, nói trước tiên:
“ Tâu phụ vương, con yêu phụ vương thắm thiết hơn yêu ánh sáng, bầu trời và tự do, hơn cả những gì hiếm hoi và quí báu nhất trên đời. Con yêu ngài nhiều hơn là người ta yêu cuộc sống bình an và tươi đẹp với mọi thứ danh vọng và tặng phẩm. Con yêu ngài hơn bất cứ đứa trẻ nào yêu cha và chưa bao giờ có người cha nào được yêu đến thế. Thực ra, con không đủ lời để diễn tả tình yêu của con đối với phụ vương.”
Và Cordelia lặng lẽ nhủ thầm:
“Cordelia phải làm gì đây? Yêu và câm nín”.
Vị vua già được mơn trớn quá đỗi, tức khắc hạ lệnh chia cho Goneril phần lớn của giang san, những khu rừng rậm mát, những cánh đồng màu mỡ, những dòng sông và thảo nguyên bát ngát. Rồi ngài quay sang Régane nghe cô nói:
“Tâu bệ hạ, con cùng chung tính khí với chị con, qua chị, con có thể đo được lòng mình. Trong thâm tâm, con nhận ra chị ấy đã diễn tả rất trung thực những điều con cảm thấy, hơn nữa, con thù ghét niềm vui nào không liên hệ đến tình phụ tử và riêng chỉ có tình yêu chan chứa con dành cho bệ hạ mới là nguồn hạnh phúc của đời con.”
Và Cordelia, vẫn lặng yên trên ghế, nghỉ ngợi.
“Ôi! Cordelia đáng thương. Mày lại giàu tình yêu hơn là lời nói.”
Và ông vua cả tin lại ra lệnh cắt một phần lớn đất đai nữa, cũng giàu tài nguyên và rất phong phú cho Régane. Cuối cùng, ngài nhìn về phía Cordelia, đứa con gái được yêu chiều nhất.
“Còn con –ngài nói- niềm vui của ta, con ra đời sau cùng, nhưng chẳng vì thế mà ta kém yêu thương con, bây giờ con đang là mối tranh chấp giữa vị lãnh chúa sở hữu những vườn nho rộng lớn ở Pháp và bậc vương tôn, chủ những đàn súc vật trên đồng cỏ bát ngát vùng Bourgogne, con hãy nói làm sao cho xứng với cái phần thưởng to lớn hơn các chị?”
Và Cordelia, trái tim nhân hậu của nàng như tê dại, không thể phô diễn những tình cảm đậm đà nhất nên chỉ nói:
– Chẳng có gì cả, thưa phụ vương.
– Chẳng có gì cả à! -cảm thấy bị xúc phạm, vua Lear kêu lên.
– Chẳng gì cả. –cô Cordelia đáng thương lặp lại. Con yêu bệ hạ vì là bổn phận của con không hơn không kém. Phụ vương đã sinh ra con, đã nuôi dạy con, đã thương yêu con. Đáp lại, con ngoan ngoãn, quí mến và kính trọng phụ vương. Mà tại sao các chị con lo đi lấy chồng khi các chị ấy nói rằng đã dành trọn tình yêu cho phụ vương? Chắc chắn là con sẽ chẳng bao giờ thành hôn để có thể yêu cha mình hơn cả.
Nhà vua không tin vào đôi tai mình, sửng sốt:
– Sao, còn trẻ mà khô khan thế à!
– Rất trẻ và chân thực, thưa phụ vương.
– Được rồi –nhà vua phán- Giữ sự chân thực đó mà làm của hồi môn! Bởi vì, trước các đấng thần linh, ta từ bỏ mọi tình cảm cha con: cô sẽ là một người xa lạ, chẳng phải là con của ta nữa.
Trong khi Kent, viên trung thần, tìm cách thuyết phục cho ngài nguôi giận, nhà vua phẫn nộ hét lên:
– Hãy để ta yên! Ta từng thương yêu nó hơn cả; Ta hằng ao ước gửi chuỗi ngày tàn cho nó chăm sóc an ủi.
Và cơn giận nổ bùng, ngài quyết liệt xua đuổi cô gái. Ngài chia nốt cho hai cô gái lớn phần còn lại dành cho Cordelia, và trao hết quyền hành cho họ, với điều kiện mỗi người thay phiên nhau nuôi nấng ngài và đám tùy tùng gồm một trăm kỵ sĩ trong thời gian một tháng và vẫn duy trì vương tước của ngài. Ngài sẽ lần lượt đến nhà người này, rồi người kia, cứ thế quanh năm.
Nhưng Kent, viên cận thần phúc hậu, than thở trước sự điên rồ của nhà vua, ông biết quá rõ lòng dạ hai cô gái lớn, bởi thế ông to tiếng khẳng khái bênh vực cho công chúa Cordelia. Thế là vua Lear mất hết tự chủ, ra lệnh trục xuất ông ra khỏi nước và phải chịu lưu đày biệt xứ. Rồi ngài thông báo cho hai ông hoàng Pháp và Bourgogne rằng họ có thể cưới Cordelia với điều kiện không có hồi môn. Bởi vì, ngài nói, cô ta đã xuống giá, nếu các người còn nghĩ gì đến cái thân thể mảnh khảnh kia, hãy dẫn nó đi, nó thuộc về các người, với cả lời nguyền rủa của ta nữa!
Quận công xứ Bourgogne không dám xin cưới cô Cordelia tội nghiệp nữa, nhưng nhà vua hào hiệp đất Pháp lấy làm kinh ngạc tại sao một cô gái vẫn được quý chuộng, lại bỗng nhiên có thể phạm lỗi lầm quái gỡ đến nỗi đánh mất ân sủng của đức vua. Chàng không tin là cô bội bạc. Cordelia thỏ thẻ van xin cha hãy hiểu cho rằng nàng không hề làm điều gì nhục nhã, chỉ vì lời nói vụng về đã gây ra nông nỗi.
“Thà đừng sinh ra mi, để bây giờ khỏi phiền lụy đến ta” –cha nàng đáp lại.
Vua đất Pháp vẫn chưa hết kinh ngạc:
“Tình yêu chẳng còn là tình yêu nữa nếu chen vào tình yêu có những tính toán xa lạ, -chàng nói- quận công Bourgogne, ông tính sao về công chúa? Bản thân nàng chẳng phải là một món hồi môn rồi ư?”
Nhưng quận công Bourgogne thích công chúa với cả món hồi môn đã hứa, và bởi vua Lear nhất quyết không lay chuyển, vị vua Pháp nói:
“Hỡi nàng Cordelia xinh đẹp, ta thấy nàng giàu hơn bởi sự nghèo nàn; quí báu hơn bởi nỗi cô đơn. Ta nhận lấy nàng và cả đức hạnh của nàng. Tình yêu ta bùng cháy trước sự lạnh nhạt và khinh rẻ của mọi người. Tâu bệ hạ, cô công chúa không hồi môn mà số phận đã mang lại cho tôi, sẽ là hoàng hậu của tôi, của thần dân tôi và của nước Pháp tráng lệ. Nàng hãy nói với họ lời từ biệt, rồi nàng sẽ tìm thấy ở nơi khác nhiều hơn những gì đã mất nơi đây.”
Vua Lear hơi bẽ mặt vì con gái đã tìm ra nơi nương tựa, bèn bước thẳng không thèm quay lại nhìn nàng, và Cordelia, rưng rưng nước mắt tạ từ hai chị. Nàng khẩn cầu hai chị hãy đối xử thật tốt với cha, thừa biết rằng thời gian rồi sẽ vạch trần thói giả đạo đức của họ, rồi nàng bước theo vị hôn phu, kẻ duy nhất đánh giá nàng đúng đắn.
Goneril và Régane bàn luận với nhau một hồi mới chia tay. Hai tâm hồn xấu xa hiểu rõ cha mình với tính khí cộc cằn, những cơn nổi giận đột ngột; họ cũng biết tuổi già đã làm suy giảm lý trí của người cha khốn khổ. Họ biết đức vua đã mất tự chủ, cách đối xử tàn tệ đối với Kent, và nhất là sự vội vã và nhẫn tâm chối bỏ đứa con gái thân yêu là bằng chứng hiển nhiên của một thần kinh rối loạn. Họ thừa hiểu rằng đức vua khó rời bỏ quyền hành và uy lực, nên họ thỏa thuận với nhau rằng sẽ giới hạn dần chế độ ưu đãi và đối xử nghiêm khắc với đức vua cha.
Trước tiên, đức vua đến trọ tại nhà Goneril, cô cả, trong một tháng với một trăm tùy tùng. Nhưng tuần lễ thứ hai chưa kịp trôi qua, đứa con bội bạc đã kêu ầm lên rằng không còn chịu đựng nỗi sự hoang phí và mối bực dọc. Chị ta than phiền về tư cách và cử chỉ nghịch ngợm của một trăm kỵ sĩ; chị ta làm ngơ, đôi khi khuyến khích sự cẩu thả và xấc xược của bọn người hầu với đức vua già mà chị ta xem như một ông lão lẩm cẩm. Đức vua than trách, ngài bênh vực bộ hạ và gã hề bị ngược đãi. Tính nóng nảy phút chốc khiến ngài điên tiết. Ngài đập một tên hầu của Goneril đã quấy phá thằng hề, kẻ duy nhất còn biết cách làm ngài cười và vừa bông lơn vừa nói cho ngài nghe khối sự thực. Ngài giận dỗi vì người ta bắt ngài phải chờ đợi trong bữa cơm chiều, cuối cùng ngài đánh viên quản lý vô lễ đã dám huênh hoang rằng dù sao thì đây cũng chẳng phải là nhà ngài, mà chính là nhà của con gái ngài.
Tuy nhiên, vua Lear vẫn không muốn tin rằng việc thay đổi thái độ là có chủ trương, và việc người ta phục vụ tồi tệ và ăn nói xấc láo là có dụng tâm. Đến khi thằng hề bảo rằng đức vua điên mới không giữ lại cho mình một ít của cải, để đến nỗi bây giờ chỉ là con số không, chẳng giá trị gì. Ngài bèn nổi giận và mắng chửi hắn. Phải đợi chính Goneril làm ngài sáng mắt. Chị ta mát mẻ trách cứ thái độ kỳ quặc của ngài và sự hỗn độn của đám tùy tùng, rồi buộc ngài phải cắt giảm đám bộ hạ xuống còn năm mươi kỵ sĩ thôi.
Những ảo tưởng của vị vua già khốn khổ sụp đổ tan tành. Nỗi căm tức trước sự bất công đó thật vô bờ, khiến ngài bắt đầu hiểu ra lỗi lầm của mình chẳng còn nghi ngờ gì nữa, và đâm ra hối hận về sự bất công của chính mình đối với Cordelia.
“Ôi! Lear! Lear! Lear! –ngài hét lên vừa đập vào trán- hãy đập nát cánh cửa này đây đã để cho lý trí thoát ra và cơn điên chui vào! Dù sao ta vẫn còn một đứa con gái nữa.”
Và ngài quyết định dời sang trọ nhà cô Régane, sau khi đã trút lên đầu Goneril những lời nguyền rủa cay độc và trù ẻo cho mọi tai trời ách đất tàn hại đứa con suy đồi. Con người đau khổ quá tin vào sự thương yêu và lòng trắc ẩn của Régane bèn ra đi với gã hề, đoàn kỵ sĩ và một bộ hạ mới mà ngài rất thích, nhưng không thể nhận ra đó là Kent, người bề tôi trung tín, đã trở về bên ngài sau khi cải trang và mang tên giả. Vua Lear bỗng dưng đa nghi, phái anh ta đến báo với Régane rằng ngài sẽ đến trước thời gian qui định. Nhưng cùng lúc ấy, Goneril cũng cho tên quản lý sang nhà em với một bức thư dặn dò và trách móc vua cha.
Trước sân nhà quận công Cornouailles và Régane, hai sứ giả gặp nhau và đập lộn nhau chí chóe. Người ta nhận ra ngay ai là kẻ được bà quận công tin cẩn, bởi chị ta ân cần lắng nghe tên quản lý nói và buộc người tôi trung thành của cha mình vào tội phải bêu trước công chúng. Khi đã bị phơi ra trước cửa lâu đài, anh ta cố gắng nén đau, vừa cố gắng ngủ. Chính vua Lear đã bắt gặp cái cảnh đó thay vì sự tiếp đón nồng nhiệt như ngài chờ đợi khi lần mò đến nhà con gái. Cố nén phẫn uất, ngài gõ cửa và thấy rõ cửa không chịu mở ngay, cánh cửa của nhà con gái ngài đấy. Ngài tự nhủ mình nên kiên nhẫn, tự trách mình quá thô bạo trong cử chỉ và đứng chờ các con ra đón ngài vào.
Sau khi nghe kể những nỗi nhục nhã ngài phải gánh chịu ở nhà Goneril, Régane chẳng chút động lòng, chỉ tìm lời dịu ngọt khuyên bảo ngài nên thận trọng và phải biết phục tùng:
“Cha hãy quay trở lại nhà chị tôi, -chị ta nói- ngài đã già rồi, phải để người ta điều khiển chứ. Tôi van ngài, hãy nhận rằng mình đã xúc phạm chị ấy thái quá, bởi tôi không sao tin rằng chị ấy lại có thể sơ sót điều gì trong bổn phận đối với cha.”
Nghe đến đó, ông lão Lear nổi xung, nguyền rủa và thề sẽ không bao giờ gặp lại Goneril, rồi vẫn còn tin tưởng, ngài khơi động tấm lòng Régane:
“Chắc hẳn con không kiếm chuyện gây gổ về những thú vui của cha, hay tìm cách cắt giảm số tùy tùng hoặc buông lời mắng nhiếc cha, cắt giảm chi tiêu của cha và đóng sầm cửa lại mỗi khi cha đến gần. Con hiểu rõ hơn ai về những tình cảm tự nhiên, về nghĩa vụ con cái, và cách ăn ở hiền thục và con cũng không quên rằng cha đã tặng con một nửa giang san!”
Nhưng trong lúc Régane cáo lỗi không thể lưu giữ ông được, viện cớ rằng chưa có kịp chuẩn bị gì để có thể tiếp đón ông một cách chu đáo, người ta nghe thấy tiếng kèn rầm rộ báo hiệu Goneril sắp đến. Cô em đón tiếp bà chị niềm nở đến mức khiến cha họ tan nát cõi lòng, bà chị đến để tự biện minh và xúi dục Régane làm theo mình. Tiếp đó bắt đầu một sự mặc cả khả ố, Régane từ chối không nhận cha mình trước cuối tháng; ngoài ra ông chỉ được phép mang theo năm mươi người. Nhưng liền ngay đó, chị ta tuyên bố chỉ chấp nhận hai mươi lăm, còn Goneril thì lại đề nghị cắt bỏ hết đám tùy tùng của đức vua. Ông ấy cần gì đến kẻ phục dịch trong nhà các con mình chứ? Nhà họ quá chật, chỉ có thể chứa nổi một mình nhà vua mà thôi. Lần này, vua Lear đã hiểu cả. Ông chạy trốn, lòng đau như xé, và cứ lải nhải:
“Các ngươi tưởng ta sẽ khóc à? Không, ta không khóc đâu! Đúng là ta có những điều đáng khóc đấy! Nhưng trước khi ta nhỏ một giọt lệ, quả tim này phải nát tan từng mảnh. Ôi! Hề ơi! Ta cảm thấy mình đã mất trí. Những gì ta sẽ làm, chẳng biết rồi sẽ ra sao, nhưng rõ ràng sẽ làm cho cả trái đất kinh hoàng.”
Và dù cho đêm tối, dù gió bấc buốt da đang vi vút trên cánh đồng trơ trụi, -mà trong vòng vài dặm không thể nhìn thấy cả một bụi cây- hai con quỉ cái đã bỏ mặc ông ra đi với tên hề, không quên gài chặt then cửa để đề phòng cơn bão đang đe dọa.
Đó là một đêm đen thẫm như địa ngục. Trên cây thạch thảo ven dốc đá, bão tố nổi lên quay cuồng. Ông lão đầu trần cắm cúi chạy, ông muốn đem mạng sống mong manh ra chống chọi với mưa đổ gió bay, ông lên tiếng thách thức số phận và sự hủy diệt:
“Gió ơi, hãy gào thét lên đi! Vòi rồng và thác nước! Hãy dâng sóng ngập tràn mặt đất, đến tận con gà trên nóc gác chuông. Gió bão, sấm sét! Các ngươi đâu phải con gái ta! Hỡi thiên nhiên bạo tàn, ta không hề trách các ngươi bạc ác! Ta đâu có tặng các ngươi một vương quốc, các người đâu phải con cái ta! Các ngươi đâu cần phải vâng lời ta! Vậy hãy trút lên mình ta tất cả cơn cuồng nộ! Ta là kẻ nô lệ khốn khổ, là lão già gầy yếu bị đè bẹp bởi bệnh tật và sự rẻ khinh. Các ngươi chỉ là những tên tay sai hèn hạ cấu kết với hai đứa con gái đồi bại để chống lại lão già đầu bạc này! Ôi thật ghê tởm!”
Rồi dưới chớp léo đỏ rực, không hề nao núng trước sấm vang sét nổ, bão tố gầm thét loạn cuồng, tóc rối bời, dữ tợn và lạnh lùng, ngài bước đi, không đếm xỉa gì đến gã hề theo sau, cũng chẳng nhận ra người bề tôi trung thành Kent muốn vời ngài vào trú ẩn nơi ổ rơm trong túp lều tranh. Bởi vua Lear chẳng còn cảm giác gì nữa cả.
“Kẻ nào bị cấu xé bởi một niềm đau quá lớn –ngài nói- không thể nào cảm thấy nỗi buồn nho nhỏ. Than ôi! Ta là người đang khổ sở về những điều độc ác mình chưa hề gây ra. Thần trí ta rối loạn mất rồi!”
Tuy nhiên, con người tội nghiệp ấy bằng lòng ghé vào một mái nhà để sưởi ấm gã hề đang buốt lạnh thấu xương, ngài nghĩ đến những kẻ không nơi nương tựa và chợt hiểu ra mọi nỗi cơ cực trên đời.
“Những người khốn khổ đáng thương! Dù các người ở đâu, các người đang hứng chịu cơn thịnh nộ của trận bão phũ phàng, làm sao những cái đầu trần trụi, những dạ dày lép kẹp và những áo quần rách rưới có thể che chở các người trong buổi thời tiết khắc nghiệt như thế này? Ôi! Ta thật ít quan tâm đến các người. Những kẻ giàu sang! Đây là phương thuốc: hãy đưa lưng ra gánh chịu những gì những kẻ khốn cùng phải chịu, các người sẽ biết chia cho họ cái thừa của các người và như thế sẽ khiến trời đất công bình hơn!”
Và khi gặp một kẻ lang thang, ngài liền hỏi: “Có phải ngươi cũng giao hết tài sản cho con gái không? Để rồi ra cớ sự này?”
Rồi ngài triêt lý:
“Tốt hơn là ngươi chui xuống mồ, chứ đứng đây làm gì, để phơi thân giữa cảnh
trời long đất lở. Con người là thế đấy! Không có tơ của con tằm, không có lông của con thú, không có len của bầy cừu, người cũng chỉ là đồ súc sinh, một con vật khốn khổ. Nào chúng ta hãy vất bỏ quần áo đi!”
Và ngài xé toạc bộ quần áo đã xác xơ tơi tả, lý trí mê muội của ngài đã hoàn toàn điên loạn; ngài kể lể viển vông, lời nói rời rạc, lẩn thẩn, ngài muốn xét xử con gái theo thủ tục pháp lý. Trái tim cằn cỗi đáng thương, nó góp thêm nước mắt cho cơn mưa xối xả!
Lúc đó, hai đứa con gái muốn ngài chết cho xong, đã thúc bọn sát nhân theo giết quách ngài đi. Người bầy tôi trung thành Kent vẫn luôn bảo vệ ngài, vội bốc ngài đưa đến Douvres. Tin tưởng lòng dạ Cordelia, ông gởi cho nàng một lá thư. Lập tức hoàng hậu cùng với cả một đội quân Pháp đổ bộ để tìm cha và trừng trị các chị. Vua Lear khốn khổ đang ở trong thành, vào những lúc hồi tỉnh, ngài nhận ra được những kẻ chầu chực xung quanh, nhưng một sự hổ thẹn không vượt qua nổi khiến ngài không dám gặp Cordelia, ngài nhớ lại sự cứng rắn trước kia khi ngài tước bỏ mọi bổng lộc của nàng và đã phó mặc nàng cho số phận ở một đất nước xa lạ, truất hết mọi quyền lợi của nàng để giao cho những người chị lòng lang dạ thú, tất cả những ký ức đó, còn hơn là nọc độc, xâu xé trái tim ngài. Niềm hối hận giày vò khiến ngài rời xa Douvres và kẻ mất trí khốn khổ lang thang ven dốc đá hung dữ như sóng gào, hát nghêu ngao, đầu quấn nào độc cầu, nào tầm ma và đủ thứ cỏ dại mọc trên đồng, trong lúc con gái út của ngài sai quân lính và thầy thuốc tìm ngài khắp nơi. Cuối cùng đến khi Kent tốt bụng bắt gặp ngài, người ta chăm sóc và ru ngài ngủ. Ngài thức dậy trong tiếng nhạc réo rắt êm đềm, Cordelia, ngồi ở chân giường, vuốt ve những mớ tóc bạc trắng, thỏ thẻ nói chuyện với ngài.
Nỗi thương đau của ngài sống dậy mãnh liệt.
“Các ngươi đã làm hại ta khi lôi ta ra khỏi mồ. Ta bị cột chặt vào một bánh xe bằng lửa, nước mắt ta là những giọt nóng rơi trên má!”
Khổ nhọc lắm Ngài mới tin là mình còn sống.
“Ngươi là một hồn ma ta biết lắm –ngài nói với Cordelia- Ngươi chết bao giờ nhỉ? Nhưng không, ánh sáng ban ngày đây mà. Ta sẽ chết mất vì thương xót, nếu ta trông thấy kẻ khác lâm vào cảnh ngộ như ta. Ta không dám tin rằng đây là đôi tay ta. Ta thiết tha muốn biết rõ tình trạng thực sự của mình.”
Cordelia tuyệt vọng vì cơn mê loạn đó, khẩn cầu ban phúc cho ngài.
“Ôi, ta van ngươi –ông lão quì lạy dưới chân nàng- xin đừng riễu ta. Ta là một lão gì khốn khổ; Ta đã sống tám mươi năm, mà nói thực, ta e mình chưa làm chủ trọn vẹn lý trí của mình. Dường như ta có quen biết ngươi, nhưng sao ta vẫn hoài nghi; tuy nhiên, nếu quả thật ta là một người, thì hình như người đàn bà này là Cordelia, con ta!”
Cơn cuồng nộ qua đi, ngài mơ hồ nhớ lại rằng các con gái đã có lỗi lầm với ngài và khiêm tốn đến xót xa, ngài tuân phục Cordelia mọi điều và thừa nhận rằng:
“Ta đã già rồi và tâm trí đã lú lẫn.”
Nhưng viên y sĩ cho con gái ngài biết rằng vẫn còn hy vọng khôi phục trí tuệ cho ngài.
Song le, con người khốn khổ chỉ gặp lại Cordelia để rồi mất nàng mãi mãi. Hai quân đội Albanie và Cornouailles đã đánh thắng quân Pháp, vua Lear và con gái ngài bị bắt làm tù binh. Trong lúc bị chúng áp giải đi, vua Lear tỏ ra khoan khoái:
“Này con –ngài nói với Cordelia- chúng ta cứ hãy vào tù. Chỉ còn riêng hai cha con, chúng ta sẽ ca hát như chim trong lồng; trong khi con cầu trời ban phúc cho cha, cha muốn quì xuống van xin con tha thứ. Chúng ta sẽ sống như thế đó, cầu nguyện, hát ca, kể chuyện cổ tích, rồi đùa vui với những cánh bướm vàng sặc sỡ và lắng nghe bọn ti tiện kháo nhau về chuyện triều đình. Chúng ta sẽ tán gẫu với họ về kẻ thua người thắng, kẻ ra người vào, và chúng ta sẽ có dịp biết rõ bí ẩn của mọi việc, như thế chúng ta là do thám của nhà trời. Nào, hãy lau nước mắt đi, chúng ta sẽ thấy tất cả bọn chúng chết đói trước khi chúng có thể làm chúng ta khóc.”
Nhưng khi họ được giải thoát thì đã muộn. Régane và Goneril trước khi chết, nạn nhân của chính những mưu mô xảo quyệt của chúng, đã ra lệnh thắt cổ cô em gái ngay trong ngục. Vị vua già vẫn còn đủ sức để giết chết tên nô lệ đã hành hình Cordelia, và nâng đứa con đã chết trên tay, ngài kêu lên thống thiết:
“Hét lên, rú lên, gào lên! Ôi! Các ngươi là gỗ đá! Nếu ta có cái lưỡi và đôi mắt của các ngươi, ta phải làm sao cho đất trời chuyển động sụp đổ tan tành. Lẽ ra ta phải cứu được con, giờ đây con đã ra đi vĩnh viễn! À! Con nói gì nhỉ? Giọng nói của con vẫn êm đềm trìu mến, đối với một người đàn bà thật đáng quí xiết bao! Đứa con hồn nhiên của ta đã bị bức tử! Sao? Con chó, con ngựa, con chuột vẫn được sống mà con, con không còn hơi thở? Con chẳng bao giờ trở lại nữa; chẳng bao giờ, chẳng bao giờ nữa cả! Hãy nhìn kìa đôi môi của nó!”
Và trái tim quặn thắt, quá đau đớn, cuối cùng bị vỡ ra; trong khi Kent, đầy lòng trắc ẩn, cúi đầu cầu nguyện:
“Ôi! Xin đừng hành hạ vong linh ngài! Hãy để cho ngài ra đi thanh thản. Phải thù hận ngài lắm mới muốn giữ ngài lại lâu hơn trên bánh xe nhục hình của cõi trần khắc nghiệt.”
Thế là vua Lear không thể sống lâu hơn trái tim hiếu thảo đã trọn đời yêu mến ngài.

 

http://maxreading.com/sach-hay/tac-pham-cua-shakespeare/vua-lear-24201.html

Akira Kurosawa Film studies Văn học & Điện ảnh Văn học Anh Văn học Nhật Bản

Ran (1985) – Akira Kurosawa

https://www.youtube.com/watch?v=YoRHFG0d-70

Ran

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ran

Áp phích tại Mỹ
Thông tin phim
Đạo diễn Akira Kurosawa
Sản xuất Katsumi Furukawa
Serge Silberman
Masato Hara
Hisao Kurosawa
Tác giả Akira Kurosawa
Hideo Oguni
Masato Ide
Dựa trên King Lear của
William Shakespeare
Diễn viên Tatsuya Nakadai
Akira Terao
Jinpachi Nezu
Daisuke Ryu
Mieko Harada
Yoshiko Miyazaki
Peter
Âm nhạc Toru Takemitsu
Quay phim Asakazu Nakai
Takao Saitō
Masaharu Ueda
Dựng phim Akira Kurosawa
Hãng sản xuất Greenwich Film Productions
Herald Ace
Nippon Herald Films
Phát hành Toho (Nhật)
Orion Pictures (USA 1985)
Rialto Pictures (USA 2010)
Acteurs Auteurs Associés (AAA)(France 1985)
StudioCanal (France 2010)
Công chiếu 31 tháng 5, 1985(Tokyo International Film Festival)
1 tháng 6, 1985 (Nhật)
Độ dài 162 phút
Quốc gia Nhật Bản
Pháp
Ngôn ngữ Nhật
Kinh phí US$12.000.000

Loạn (Ran) là một phim Jidaigeki hợp tác giữa điện ảnh Nhật Bản và Pháp, được công chiếu vào năm 1985. Bộ phim miêu tả cuộc tranh chấp giữa cha con, huynh đệ dòng họ lãnh chúa Ichimonji trong bối cảnh một thời Chiến quốc giả tưởng thời trung cổ ở Nhật Bản. Nội dung phim mang cốt cách của vở bi kịch “King Lear” của William Shakespeare và sử dụng giai thoại 3 mũi tên của Mōri Motonari trong lịch sử Nhật Bản (tam tử giáo huấn trạng).

Loạn (Ran) là bộ phim thứ 27 của đạo diễn Kurosawa Akira và là bộ phim thể loại Jidaigeki cuối cùng trong đời ông. Bản thân Kurosawa cũng xem đây là tác phẩm của đời ông, và là di ngôn để lại cho nhân loại.

Mục lục

Nội dung

Bối cảnh phim là một thời Chiến quốc giả tưởng, sau khi Ichimonji Hidetori lần lượt đánh chiếm hết 3 thành trì bên địch và trở thành đại lãnh chúa của cả vùng. Một ngày nọ, nhân buổi đi săn, Hidetora bất ngờ thông cáo cho các quan khách rằng mình sẽ nhường ngôi vị lại cho con trưởng, còn bản thân thì về ẩn cư. Hidetora lấy 3 mũi tên, bảo với con trai rằng, 1 mũi tên thì dễ bẻ nhưng gọp 3 mũi lại thì không thể bẻ được. Nhưng con trai út thấy thế lại chê cha già lẩm cẩm, dùng sức bẻ gãy cả 3 mũi tên. Cảm thấy mất mặt trước các quan khách, Hidetori nổi giận đuổi con trai út đi rồi về làm phận khách tại thành trì của con trưởng. Và cũng bắt đầu từ đây, sự thực hư trong lòng hiếu thảo của từng người con được bộc lộ, dẫn đến mối tranh chấp, bất hòa của cả dòng họ Ichimonji…

Vai diễn

  • Nakadai Tatsuya vai Ichimonji Hidetora
  • Terao Akira vai Ichimonji Tarō Takatora
  • Nezu Jimpachi vai Ichimonji Jirō Masatora
  • Ryū Daisuke vai Ichimonji Saburō
  • Harada Mieko vai phu nhân Kaede
  • Miyazaki Yoshiko vai phu nhân Sue
  • Nomura Mansai vai Tsurumaru
  • Yui Masayuki vai Hirayama Tango
  • Katō Kazuo vai Ikoma
  • Matsui Norio vai Kokura
  • Tazaki Jun vai Ayabe
  • Ueki Hitoshi vai Fujimaki
  • Ikehata Shin-no-suke vai Kyō-ami
  • Igawa Hisashi vai Kurogane

Âm nhạc

Phụ trách chỉ huy mảng âm nhạc trong Ran (Loạn) là Takemitsu Tōru, trước đó ông cũng từng lo mảng âm thanh trong “Dō desuka den”, bộ phim màu đầu tiên của Kurosawa Akira vào năm 1970. Trong phim này, Kurosawa tỏ ra đối lập với Takemitsu, không chấp nhận ý kiến của Takemitsu trong quá trình lồng tiếng khiến ông này bất mãn, nói rằng “có thể cắt dán âm nhạc theo ý của Kurosawa, nhưng đừng có để tên tôi vào phần danh sách làm phim” và tuyên bố bỏ dở công việc, chạy ra khỏi phòng lồng tiếng. Nhưng thực tế Takemitsu đã không bỏ dở công việc của mình, sau đó có nói đây là kể từ sau tác phẩm này thì ông không muốn làm việc chung với Kurosawa nữa. Và thực tế, đây cũng là bộ phim cuối cùng mà Takemitsu dính dáng đến Kurosawa.

Lúc đầu đạo diễn Kurosawa Akira mong muốn chọn dàn nhạc giao hưởng London cho bộ phim của mình, nhưng Takemitsu Tōru phản đối nên rốt cuộc là chọn dàn nhạc giao hưởng Sapporo (tháng 4 năm 1985, tại trung tâm văn hóa thị dân Chitose). Dàn nhạc giao hưởng Sapporo chỉ là một dàn nhạc địa phương, ngay tại Nhật Bản cũng chẳng có tiếng tăm gì, vì thế nên Kurosawa tỏ ra bất mãn và chẳng thèm nhìn mặt các thành viên trong nhạc đoàn trước khi bắt đầu thu âm. Nhưng trái với dự định, dàn nhạc đã diễn tấu rất tốt nên khi giải tán trước giờ ăn trưa, Kurosawa có bước lên sân khấu nói lời cảm ơn, xin lỗi các thành viên và ông cúi đầu không hề ngẩng lên suốt lúc đó.

Chuyện bên lề

  • Theo Hashimoto Shinobu, một trong ba tác giả kịch bản của bộ phim thì trong quá trình xây dựng nhân vật, Oguni Hideo bất mãn với Kurosawa và có cãi nhau gay gắt nên nửa chừng ông này từ bỏ việc chấp bút kịch bản.
  • Lá cờ của nhân vật Ichimonji Hidetora có hình thái dương và mặt trăng, đây là từ chữ “minh” (明) trong tên của Kurosawa Akira (Hắc Trạch Minh, chữ “minh” gồm chữ “nhật” và “nguyệt” ghép lại). Ngoài ra chính Kurosawa cũng có nói với Miyazaki Yoshiko rằng nhân vật Ichimonji Hidetora chính là hình ảnh của bản thân mình.
  • Số lượng diễn viên quần chúng trong Ran (Loạn) chừng 1000 người. Và vì quá trình quay phim kéo dài nên nếu thuê ngựa thì chi phí đắt đỏ, nên nhà làm phim đã nhập 50 con ngựa Quarter Horse từ Mỹ quốc về. Cũng chính vì lý do này mà bộ phim bị chỉ trích rằng “Nhật Bản thời Chiến quốc không có giống ngựa tốt như vậy”. Sau khi kết thúc bộ phim, bầy ngựa được bán đi.
  • Trong phim có cảnh Hidetora ngồi dưới trời nắng khi bị lũ con đuổi đi, phía sau có thấy 2 người leo núi ở ngọn núi phía sau. Chỉ có một người duy nhất phát hiện ra điểm bất thường này là Nakai Asaichi, phụ trách C Camera. Ông này đã bí mật bàn bạc với Kurosawa để xử lý xóa hình ảnh này. Quá trình xử lý tốn 500 vạn En.
  • Một người bạn thân của Kurosawa là đạo diễn người Nga Nikita Sergeyevich Mikhalkov có đến Nhật trong quá trình chuẩn bị cho bộ phim, và có một ý tưởng đề xuất. Ý tưởng của ông này có thấy xuất hiện trong bộ phim hoàn chỉnh khiến ông này cảm thấy rất vui và có giá trị.
  • Diễn viên Takakura Ken được mời thủ vai Kurogane trong phim, đích thân Kurosawa 4 lần đến nhà Takakura để bàn bạc, nhưng lúc này Takakura đang chuẩn bị cho bộ phim truyền hình “Izakaya Chōji” nên đều từ chối hết. Vì thế Takakura Ken bị Kurosawa nói “anh đúng là người khó tính” và vai diễn này được giao cho Igawa Hisashi. Sau này, tình cờ Takakura Ken có đi qua nơi quay phim Ran và tỏ ra hối tiếc vì ngày trước đã từ chối.
  • Tạo hình nhân vật Ichimonji Hidetora còn được sử dụng ở nhân vật Tenrai trong game Tenchū San trên hệ máy PlayStation 2.

Các giải thưởng

  • Giải Oscar thiết kế trang phục, 1985.
  • Giải thưởng hóa trang trong khuôn khổ giải Academy điện ảnh Anh quốc, giải cho phim ngoại quốc.
  • Giải thưởng quay phim trong khuôn khổ Giải Hiệp hội phê bình điện ảnh toàn Mỹ quốc.
  • Giải cho phim ngoại quốc trong khuôn khổ Giải Hiệp hội phê bình điện ảnh New York.
  • Giải âm nhạc, giải cho phim ngoại quốc trong khuôn khổ Giải Hiệp hội phê bình điện ảnh Los Angeles.
  • Giải quay phim trong khuôn khổ Giải Hiệp hội phê bình điện ảnh Boston.
  • Giải bạc trong khuôn khổ giải Golden Gloss lần thứ 3, Nhật Bản.

Địa điểm quay phim

  • Thành Himeji: đệ nhất thành
  • Thành Kumamoto: đệ nhị thành
  • Thành Nagoya, tỉnh Saga, thành phố Karatsu
  • Tỉnh Kumamoto
  • Tỉnh Ōita
  • Núi Phú Sĩ
Literature Văn học & Điện ảnh Văn học Đức

Tác giả ‘Cái trống thiếc’ Gunter Grass: Người phá vỡ những bức rào cấm kỵ

Thứ Ba, 14/04/2015 07:17

Báo chí Đức cho biết Gunter Grass trút hơi thở cuối cùng hôm 13/4 ở thành phố Lubeck, sau thời gian dài chống chọi với căn bệnh viêm phổi.

Cha đẻ cuốn sách từng chọc giận người Đức

Cuộc đời Grass, đầy những thăng trầm, những khoảnh khắc vinh quang và tủi hổ, bắt đầu từ khi ông sinh ra trong ngày 16/10/1927 ở Danzig, nay là Gdansk. Grass lớn lên trong một gia đình có xuất thân khiêm tốn và rất sùng đạo. “Tuổi thơ nằm kẹt giữa Thiên Chúa giáo và (trùm phát xít Adolf) Hitler” là những từ mà nhà viết tiểu sử Michael Jurgs đã tổng kết về môi trường mà Grass lớn lên thời thơ ấu.

Năm mới 17 tuổi, ông đã phải chứng kiến nỗi kinh hoàng của Thế chiến thứ Hai và sau đó thì bị buộc phải tòng quân. Tiếp đó ông gia nhập lực lượng Waffen-SS của Đức. Phải mất nhiều thập kỷ sau ông mới có thể nói lại về quãng thời gian đi lính trong quân đội phát xít.

Nhà văn Gunter Grass, tác giả cuốn Cái trống thiếc

Chiến tranh kết thúc, Grass dọn tới sống ở Tây Đức. Năm 1952, Cộng hòa Liên bang Đức vẫn còn ở thời kỳ sơ khai và tương tự là tư duy sáng tạo nghệ thuật của Grass. Ông quan tâm và theo học nhiều ngành nghệ thuật ở Dusseldorf, Berlin. Ông từng  nghiên cứu hoạt động điêu khắc, thiết kế đồ họa, nhạc jazz và thường xuyên xê dịch qua rất nhiều nơi. Năm 1956, ông dừng chân ở Paris trong cuộc hôn nhân với người vợ đầu.

Đây chính là nơi sự nghiệp lừng lẫy của ông trong vai trò một nhà văn lớn bắt đầu nảy nở. Tiểu thuyết Cái trống thiếc (1959), một tác phẩm pha trộn nhiều yếu tố tưởng tượng, gia đình, triết lý và ngụ ngôn chính trị, đã ra đời tại Paris. Do động tới nhiều vấn đề vẫn bị xem là cấm kỵ vào thời hậu chiến, sách đã gây phẫn nộ lớn trong xã hội Tây Đức, khi ấy vẫn còn rất bảo thủ. Tuy nhiên sách lại trở thành hiện tượng trên quy mô toàn cầu.

Phẫn nộ với cuốn sách, các thành viên hội đồng lập pháp Bremen đã từng từ chối trao giải văn chương cho nó. Cuốn sách còn bị đốt cháy ở Dusseldorf. Nhưng 40 năm sau, nó lại giúp Grass có giải Nobel Văn chương. Khi phát biểu nhận giải trước Viện Hàn lâm Thụy Điển vào năm 1999, Grass cho biết phản ứng của dư luận đã dạy ông một bài học, rằng “các cuốn sách có thể gây tức giận, tạo ra sự phẫn nộ và thù ghét”. Ngoài ra tác phẩm hình thành từ tình yêu đất nước của một con người có thể gây xúc phạm tới quê hương của kẻ khác. “Kể từ sau cuốn sách, tôi đã trở thành một nhân vật gây tranh cãi” – ông chia sẻ.

Cái trống thiếc đã được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh cùng tên

Không né tránh vấn đề gây tranh cãi

Quả thực, trong sự nghiệp ông đã tung ra nhiều tác phẩm gây tranh cãi. Ví dụ như năm 1995, Grass tung ra cuốn Too Far Afield, xem xét sự hợp nhất của nước Đức qua con mắt của những người Đông Đức. Cuốn sách khiến nhà phê bình văn chương nổi tiếng Marcel Reich-Ranicki của Đức nổi giận và gọi tác phẩm này là “một sự thất bại hoàn toàn”. Tờ Der Spiegel thậm chí còn đăng hình bìa với ảnh cuốn sách bị xé làm hai nửa.

Danh sách các tác phẩm của Grass rất dài, gồm Cat and Mouse và Dog Years. Cùng Cái trống thiếc, những cuốn này thuộc về “Bộ ba tác phẩm Danzig” của ông, xoay quanh cuộc sống trước và trong Thế chiến thứ 2 ở vùng Danzig.  Grass còn động tới vấn đề chia sẻ quyền lực chính trị giữa đàn ông và phụ nữ, nạn đói và sự trỗi dậy của nền văn minh nhân loại trong một cuốn sách dày 500 trang, phát hành năm 1977. Năm 1986, ông tung ra cuốn The Rat (Con chuột), khám phá chủ đề tận thế.

Phần lớn tác phẩm của ông đều đề cập tới các điều kiện chính trị và biến động xã hội, như vụ chìm tàu chở người tị nạn ở biển Baltic trong năm 1945, vai trò của trí thức trong các hoạt động chống đối ở Đông Đức cũ, mối quan hệ giữa Đức và Ba Lan… Bất chấp một số nhà chỉ trích nói rằng sách của Grass nặng nề và chứa nhiều yếu tố chính trị, các tác phẩm của ông lại rất thành công và thường gây tranh cãi trong cộng đồng văn chương ở Đức. Tuy nhiên không cuốn sách nào tạo ra ảnh hưởng và cảm hứng lớn như cuốn Cái trống thiếc. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng của Grass là Crabwalk, ra mắt năm 2002.

Trong cuộc nói chuyện với tờ Paris Review vào năm 1991, Grass không hề tỏ ra hối tiếc vì đã động chạm nhiều tới quá khứ không dễ chịu của nước Đức. “Nếu là một nhà văn Thụy Điển hay Thụy Sĩ, tôi có thể đã Iảng tránh chủ đề này, có thể chỉ đưa ra vài ba câu chuyện bông đùa tếu táo thôi” – ông nói – “Nhưng điều đó đã không xảy ra. Xét tới nền tảng của bản thân, tôi chẳng có sự lựa chọn nào khác cả”.

Grass chia sẻ về thời kỳ là lính phát xít

Gunter Grass bị buộc phải tòng quân vào năm 1944, khi mới 17 tuổi và trở thành một pháo thủ xe tăng trong lực lượng Waffen SS. Cuộc chiến của Grass kết thúc 6 tháng sau khi ông nhập ngũ, lúc còn chưa bắn được viên đạn nào, bởi bị thương ngoài chiến trường. Người ta đã cáo buộc Grass là kẻ phản bội, đạo đức giả và chủ nghĩa cơ hội, sau khi ông viết về trải nghiệm thời kỳ đi lính ấy trong cuốn hồi kýPeeling The Onion (Bóc vỏ hành), ra mắt năm 2006. Grass rất ngạc nhiên trước sự phản ứng, thừa nhận thời trẻ ông chỉ nghĩ đơn giản rằng SS là “một lực lượng đặc nhiệm”. Ông cũng cho biết đã công khai nói về quá khứ tham gia chiến tranh trong những năm 1960 và đã dành gần hết cuộc đời để xem xét lại niềm tin thời trẻ của mình, thể hiện qua các tác phẩm đã ra mắt.

Tường Linh (Tổng hợp)
Thể thao & Văn hóa

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/tac-gia-cai-trong-thiec-gunter-grass-nguoi-pha-vo-nhung-buc-rao-cam-ky-n20150414063554409.htm

Văn học Đức

Chiều sâu của nền văn học Đức

Sâu sắc, khô khan, ảm đạm – đó là những từ thường được dùng để miêu tả về nền văn học Đức. Nhưng nhiều trang viết của các nhà văn nước này còn mang ý vị hài hước, châm biếm hoặc có sắc thái nhẹ nhàng, tinh tế.

Dưới đây là góc nhìn về một số tác giả vĩ đại của văn học Đức thế kỷ 20.

Các tiểu thuyết gia người Đức thích kể những câu chuyện mang tầm vóc anh hùng ca, quan tâm đến việc miêu tả chi tiết nhân vật: họ trông như thế nào, sống ra làm sao, nghĩ gì và định mệnh nào ập đến với họ.

Thomas Mann (1875-1955) là tác giả đã đẩy đặc điểm này lên một đỉnh cao mới với cuốn tiểu thuyết Buddenbrooks kể về quá trình sa sút của của một dòng họ kinh doanh giàu có ở Luebeck qua ba thế hệ.

Trong khi tiểu thuyết của Mann, tính đến cả The Magic Mountain và Death in Venice tái hiện sự suy sụp của tầng lớp thượng lưu thì các tác phẩm của Hermann Hesse đề cập đến những nỗi đau thường ngày của con người như trong các tác phẩm Steppenwolf hay Siddhartha. Một nhà văn khác cũng thường đề cập đến các giá trị sống của tầng lớp trung lưu bình dị ở Đức là Elias Canetti. Sinh ra ở Bulgaria, Canetti lớn lên ở Anh, Thụy Sĩ, Áo và sau đó là Đức, tác phẩm của ông đề cập đến một thế giới đa sắc, giao thoa giữa nhiều nền văn hóa, văn minh. Nhà văn Gunter Grass. Ảnh: DW.

Cũng không chọn những đề tài cao siêu, những trang viết của Peter Handke là trạng thái tự khám phá chính mình của con người. Ông từng nhận được sự cổ vũ mạnh mẽ của đông đảo độc giả với vở kịch chính trị Offending the Audience (1966) và truyện ngắn Short Letter, Long Farewell (1972). Nhưng khi Handke có bài phát biểu tại đám tang của nhà lãnh đạo, tội phạm chiến tranh Serbia Slobodan Milosevic, ông để mất sự ủng hộ của người đọc.

Đức Quốc xã và Thế chiến II để lại dấu ấn sâu đậm trong sáng tác của văn học hiện đại Đức, từ tác phẩm của Gunter Grass, Martin Walser, đến Bernhard Schlink và Julia Franck. Những tác giả này khai thác sự tổn thương bên trong mà những sự kiện đó đã gây ra. Họ tìm hiểu ảnh hưởng của các biến cố lịch sử này đối với tính cách, cuộc sống cá nhân và cách hành xử của nhân vật.

Nổi bật và kiệt xuất nhất ở mảng đề tài này là cuốn tiểu thuyết siêu thực Cái trống thiếc của (1959) của Gunter Grass. Tác phẩm khiến Grass trở thành nhà văn vĩ đại, được coi là “lương tâm của nước Đức”. Nhưng mọi sự đã sụp đổ khi cách đây không lâu, Grass thú nhận trong cuốn hồi ký Peeling the Onion (2006) rằng ông từng đi lính cho Đức Quốc xã.

Các nhà văn kỳ cựu như Grass tất nhiên có trải nghiệm cá nhân về thời kỳ Đức Quốc xã, còn các tác giả trẻ, họ đã tạo ra một luồng ánh sáng mới cho đề tài này. Đó là The Reader của Bernhard Schlink, là Lady Midday của Julia Franck, là Pefume của Patrick Sueskind.

Đặc biệt, một tác giả rất trẻ, Daniel Kehlmann (1975) đã khẳng định tài năng vượt trội của mình với – Measuring the World – cuốn sách dày dặn và thuyết phục về hai nhà khoa học vĩ đại trong lịch sử nước Đức Carl Friedrich Gauss và Alexander von Humboldt. Đây là một thành công bất ngờ, một hiện tượng đáng ngạc nhiên, sẽ dự báo cho một nền văn học Đức tiếp tục nghiêm túc nhưng không hề tẻ nhạt.

Thomas Mann (1875-1955) là tác giả đã đẩy đặc điểm này lên một đỉnh cao mới với cuốn tiểu thuyết Buddenbrooks kể về quá trình sa sút của của một dòng họ kinh doanh giàu có ở Luebeck qua ba thế hệ.

Trong khi tiểu thuyết của Mann, tính đến cả The Magic Mountain và Death in Venice tái hiện sự suy sụp của tầng lớp thượng lưu thì các tác phẩm của Hermann Hesse đề cập đến những nỗi đau thường ngày của con người như trong các tác phẩm Steppenwolf hay Siddhartha. Một nhà văn khác cũng thường đề cập đến các giá trị sống của tầng lớp trung lưu bình dị ở Đức là Elias Canetti. Sinh ra ở Bulgaria, Canetti lớn lên ở Anh, Thụy Sĩ, Áo và sau đó là Đức, tác phẩm của ông đề cập đến một thế giới đa sắc, giao thoa giữa nhiều nền văn hóa, văn minh. Nhà văn Gunter Grass. Ảnh: DW.

Cũng không chọn những đề tài cao siêu, những trang viết của Peter Handke là trạng thái tự khám phá chính mình của con người. Ông từng nhận được sự cổ vũ mạnh mẽ của đông đảo độc giả với vở kịch chính trị Offending the Audience (1966) và truyện ngắn Short Letter, Long Farewell (1972). Nhưng khi Handke có bài phát biểu tại đám tang của nhà lãnh đạo, tội phạm chiến tranh Serbia Slobodan Milosevic, ông để mất sự ủng hộ của người đọc.

Đức Quốc xã và Thế chiến II để lại dấu ấn sâu đậm trong sáng tác của văn học hiện đại Đức, từ tác phẩm của Gunter Grass, Martin Walser, đến Bernhard Schlink và Julia Franck. Những tác giả này khai thác sự tổn thương bên trong mà những sự kiện đó đã gây ra. Họ tìm hiểu ảnh hưởng của các biến cố lịch sử này đối với tính cách, cuộc sống cá nhân và cách hành xử của nhân vật.

Nổi bật và kiệt xuất nhất ở mảng đề tài này là cuốn tiểu thuyết siêu thực Cái trống thiếc của (1959) của Gunter Grass. Tác phẩm khiến Grass trở thành nhà văn vĩ đại, được coi là “lương tâm của nước Đức”. Nhưng mọi sự đã sụp đổ khi cách đây không lâu, Grass thú nhận trong cuốn hồi ký Peeling the Onion (2006) rằng ông từng đi lính cho Đức Quốc xã.

Các nhà văn kỳ cựu như Grass tất nhiên có trải nghiệm cá nhân về thời kỳ Đức Quốc xã, còn các tác giả trẻ, họ đã tạo ra một luồng ánh sáng mới cho đề tài này. Đó là The Reader của Bernhard Schlink, là Lady Midday của Julia Franck, là Pefume của Patrick Sueskind.

Đặc biệt, một tác giả rất trẻ, Daniel Kehlmann (1975) đã khẳng định tài năng vượt trội của mình với – Measuring the World – cuốn sách dày dặn và thuyết phục về hai nhà khoa học vĩ đại trong lịch sử nước Đức Carl Friedrich Gauss và Alexander von Humboldt. Đây là một thành công bất ngờ, một hiện tượng đáng ngạc nhiên, sẽ dự báo cho một nền văn học Đức tiếp tục nghiêm túc nhưng không hề tẻ nhạt.

Trong khi tiểu thuyết của Mann, tính đến cả The Magic Mountain và Death in Venice tái hiện sự suy sụp của tầng lớp thượng lưu thì các tác phẩm của Hermann Hesse đề cập đến những nỗi đau thường ngày của con người như trong các tác phẩm Steppenwolf hay Siddhartha. Một nhà văn khác cũng thường đề cập đến các giá trị sống của tầng lớp trung lưu bình dị ở Đức là Elias Canetti. Sinh ra ở Bulgaria, Canetti lớn lên ở Anh, Thụy Sĩ, Áo và sau đó là Đức, tác phẩm của ông đề cập đến một thế giới đa sắc, giao thoa giữa nhiều nền văn hóa, văn minh. Nhà văn Gunter Grass. Ảnh: DW.

Cũng không chọn những đề tài cao siêu, những trang viết của Peter Handke là trạng thái tự khám phá chính mình của con người. Ông từng nhận được sự cổ vũ mạnh mẽ của đông đảo độc giả với vở kịch chính trị Offending the Audience (1966) và truyện ngắn Short Letter, Long Farewell (1972). Nhưng khi Handke có bài phát biểu tại đám tang của nhà lãnh đạo, tội phạm chiến tranh Serbia Slobodan Milosevic, ông để mất sự ủng hộ của người đọc.

Đức Quốc xã và Thế chiến II để lại dấu ấn sâu đậm trong sáng tác của văn học hiện đại Đức, từ tác phẩm của Gunter Grass, Martin Walser, đến Bernhard Schlink và Julia Franck. Những tác giả này khai thác sự tổn thương bên trong mà những sự kiện đó đã gây ra. Họ tìm hiểu ảnh hưởng của các biến cố lịch sử này đối với tính cách, cuộc sống cá nhân và cách hành xử của nhân vật.

Nổi bật và kiệt xuất nhất ở mảng đề tài này là cuốn tiểu thuyết siêu thực Cái trống thiếc của (1959) của Gunter Grass. Tác phẩm khiến Grass trở thành nhà văn vĩ đại, được coi là “lương tâm của nước Đức”. Nhưng mọi sự đã sụp đổ khi cách đây không lâu, Grass thú nhận trong cuốn hồi ký Peeling the Onion (2006) rằng ông từng đi lính cho Đức Quốc xã.

Các nhà văn kỳ cựu như Grass tất nhiên có trải nghiệm cá nhân về thời kỳ Đức Quốc xã, còn các tác giả trẻ, họ đã tạo ra một luồng ánh sáng mới cho đề tài này. Đó là The Reader của Bernhard Schlink, là Lady Midday của Julia Franck, là Pefume của Patrick Sueskind.

Đặc biệt, một tác giả rất trẻ, Daniel Kehlmann (1975) đã khẳng định tài năng vượt trội của mình với – Measuring the World – cuốn sách dày dặn và thuyết phục về hai nhà khoa học vĩ đại trong lịch sử nước Đức Carl Friedrich Gauss và Alexander von Humboldt. Đây là một thành công bất ngờ, một hiện tượng đáng ngạc nhiên, sẽ dự báo cho một nền văn học Đức tiếp tục nghiêm túc nhưng không hề tẻ nhạt.

Cũng không chọn những đề tài cao siêu, những trang viết của Peter Handke là trạng thái tự khám phá chính mình của con người. Ông từng nhận được sự cổ vũ mạnh mẽ của đông đảo độc giả với vở kịch chính trị Offending the Audience (1966) và truyện ngắn Short Letter, Long Farewell (1972). Nhưng khi Handke có bài phát biểu tại đám tang của nhà lãnh đạo, tội phạm chiến tranh Serbia Slobodan Milosevic, ông để mất sự ủng hộ của người đọc.

Đức Quốc xã và Thế chiến II để lại dấu ấn sâu đậm trong sáng tác của văn học hiện đại Đức, từ tác phẩm của Gunter Grass, Martin Walser, đến Bernhard Schlink và Julia Franck. Những tác giả này khai thác sự tổn thương bên trong mà những sự kiện đó đã gây ra. Họ tìm hiểu ảnh hưởng của các biến cố lịch sử này đối với tính cách, cuộc sống cá nhân và cách hành xử của nhân vật.

Nổi bật và kiệt xuất nhất ở mảng đề tài này là cuốn tiểu thuyết siêu thực Cái trống thiếc của (1959) của Gunter Grass. Tác phẩm khiến Grass trở thành nhà văn vĩ đại, được coi là “lương tâm của nước Đức”. Nhưng mọi sự đã sụp đổ khi cách đây không lâu, Grass thú nhận trong cuốn hồi ký Peeling the Onion (2006) rằng ông từng đi lính cho Đức Quốc xã.

Các nhà văn kỳ cựu như Grass tất nhiên có trải nghiệm cá nhân về thời kỳ Đức Quốc xã, còn các tác giả trẻ, họ đã tạo ra một luồng ánh sáng mới cho đề tài này. Đó là The Reader của Bernhard Schlink, là Lady Midday của Julia Franck, là Pefume của Patrick Sueskind.

Đặc biệt, một tác giả rất trẻ, Daniel Kehlmann (1975) đã khẳng định tài năng vượt trội của mình với – Measuring the World – cuốn sách dày dặn và thuyết phục về hai nhà khoa học vĩ đại trong lịch sử nước Đức Carl Friedrich Gauss và Alexander von Humboldt. Đây là một thành công bất ngờ, một hiện tượng đáng ngạc nhiên, sẽ dự báo cho một nền văn học Đức tiếp tục nghiêm túc nhưng không hề tẻ nhạt.

Đức Quốc xã và Thế chiến II để lại dấu ấn sâu đậm trong sáng tác của văn học hiện đại Đức, từ tác phẩm của Gunter Grass, Martin Walser, đến Bernhard Schlink và Julia Franck. Những tác giả này khai thác sự tổn thương bên trong mà những sự kiện đó đã gây ra. Họ tìm hiểu ảnh hưởng của các biến cố lịch sử này đối với tính cách, cuộc sống cá nhân và cách hành xử của nhân vật.

Nổi bật và kiệt xuất nhất ở mảng đề tài này là cuốn tiểu thuyết siêu thực Cái trống thiếc của (1959) của Gunter Grass. Tác phẩm khiến Grass trở thành nhà văn vĩ đại, được coi là “lương tâm của nước Đức”. Nhưng mọi sự đã sụp đổ khi cách đây không lâu, Grass thú nhận trong cuốn hồi ký Peeling the Onion (2006) rằng ông từng đi lính cho Đức Quốc xã.

Các nhà văn kỳ cựu như Grass tất nhiên có trải nghiệm cá nhân về thời kỳ Đức Quốc xã, còn các tác giả trẻ, họ đã tạo ra một luồng ánh sáng mới cho đề tài này. Đó là The Reader của Bernhard Schlink, là Lady Midday của Julia Franck, là Pefume của Patrick Sueskind.

Đặc biệt, một tác giả rất trẻ, Daniel Kehlmann (1975) đã khẳng định tài năng vượt trội của mình với – Measuring the World – cuốn sách dày dặn và thuyết phục về hai nhà khoa học vĩ đại trong lịch sử nước Đức Carl Friedrich Gauss và Alexander von Humboldt. Đây là một thành công bất ngờ, một hiện tượng đáng ngạc nhiên, sẽ dự báo cho một nền văn học Đức tiếp tục nghiêm túc nhưng không hề tẻ nhạt.

Nổi bật và kiệt xuất nhất ở mảng đề tài này là cuốn tiểu thuyết siêu thực Cái trống thiếc của (1959) của Gunter Grass. Tác phẩm khiến Grass trở thành nhà văn vĩ đại, được coi là “lương tâm của nước Đức”. Nhưng mọi sự đã sụp đổ khi cách đây không lâu, Grass thú nhận trong cuốn hồi ký Peeling the Onion (2006) rằng ông từng đi lính cho Đức Quốc xã.

Các nhà văn kỳ cựu như Grass tất nhiên có trải nghiệm cá nhân về thời kỳ Đức Quốc xã, còn các tác giả trẻ, họ đã tạo ra một luồng ánh sáng mới cho đề tài này. Đó là The Reader của Bernhard Schlink, là Lady Midday của Julia Franck, là Pefume của Patrick Sueskind.

Đặc biệt, một tác giả rất trẻ, Daniel Kehlmann (1975) đã khẳng định tài năng vượt trội của mình với – Measuring the World – cuốn sách dày dặn và thuyết phục về hai nhà khoa học vĩ đại trong lịch sử nước Đức Carl Friedrich Gauss và Alexander von Humboldt. Đây là một thành công bất ngờ, một hiện tượng đáng ngạc nhiên, sẽ dự báo cho một nền văn học Đức tiếp tục nghiêm túc nhưng không hề tẻ nhạt.

Các nhà văn kỳ cựu như Grass tất nhiên có trải nghiệm cá nhân về thời kỳ Đức Quốc xã, còn các tác giả trẻ, họ đã tạo ra một luồng ánh sáng mới cho đề tài này. Đó là The Reader của Bernhard Schlink, là Lady Midday của Julia Franck, là Pefume của Patrick Sueskind.

Đặc biệt, một tác giả rất trẻ, Daniel Kehlmann (1975) đã khẳng định tài năng vượt trội của mình với – Measuring the World – cuốn sách dày dặn và thuyết phục về hai nhà khoa học vĩ đại trong lịch sử nước Đức Carl Friedrich Gauss và Alexander von Humboldt. Đây là một thành công bất ngờ, một hiện tượng đáng ngạc nhiên, sẽ dự báo cho một nền văn học Đức tiếp tục nghiêm túc nhưng không hề tẻ nhạt.

Đặc biệt, một tác giả rất trẻ, Daniel Kehlmann (1975) đã khẳng định tài năng vượt trội của mình với – Measuring the World – cuốn sách dày dặn và thuyết phục về hai nhà khoa học vĩ đại trong lịch sử nước Đức Carl Friedrich Gauss và Alexander von Humboldt. Đây là một thành công bất ngờ, một hiện tượng đáng ngạc nhiên, sẽ dự báo cho một nền văn học Đức tiếp tục nghiêm túc nhưng không hề tẻ nhạt.

Theo EVAN

http://reds.vn/index.php/nghe-thuat/van-hoc/3010-chieu-sau-cua-nen-van-hoc-duc

Literature Văn học & Điện ảnh Văn học Đức

“Mùi hương” – Perfume: The Story of a Murderer

Có một “Mùi hương” ám ảnh đến rợn người

Trước khi viết về Perfume: The Story of a Murderer (Mùi hương: Câu chuyện của một kẻ giết người), tôi đã dành nhiều thời gian đi tìm hiểu xem khán giả nghĩ gì về tác phẩm này. Có một cảm nhận chung của hầu hết khán giả, đó là dù không phải ai cũng hiểu hết, không phải ai cũng “cảm” đủ, nhưng tất cả mọi người đều bị bộ phim này hấp dẫn và không thể rời mắt khỏi nó cho đến phút cuối cùng.
Có một "Mùi hương" ám ảnh đến rợn người 1

“Perfume: The Story of a Murderer” (2006) trailer

Được chuyển thể từ tiểu thuyết ăn khách cùng tên của tác gia Đức Patrick Süskind, Mùi hương là câu chuyện cuộc đời của Jean-Baptiste Grenouille – kẻ mà để nói về hắn, người ta không biết phải dùng từ nào cho hợp.
Grenouille đã có một cuộc đời khác người ngay từ khi mới sinh ra, ngay dưới sạp bán cá tanh tưởi của mẹ hắn. Mẹ Grenouille không “đẻ” hắn mà giống như “vứt toẹt” hắn ra với cuộc đời, như thể vứt một thứ của nợ khiến mụ nặng bụng. Thế nhưng không giống như các anh chị em xấu số của mình, Grenouille vẫn sống dù bị vùi lấp trong đống ruột cá lẫn máu tanh tưởi, giữa vô số mùi hôi thối của khu chợ bẩn thỉu ở Paris. Mẹ hắn bị kết án tử hình vì tội giết con, trong khi hắn vẫn sống sót và lớn lên như một mầm mống oan nghiệt.
Có một "Mùi hương" ám ảnh đến rợn người 2
Grenouille thực sự là một thứ của nợ bị đẩy ra khỏi dòng đời nếu như ở hắn không có một biệt tài: khả năng khứu giác đặc biệt. Hắn sở hữu một chiếc mũi thính nhất thế gian, chiếc mũi giúp hắn ghi nhớ và phân biệt tất cả các mùi hương. Với Grenouille, mỗi mùi hương là một cá thể, là sự sống, là niềm đam mê cũng như tình yêu bất tận của hắn.
Biệt tài này đã biến Grenouille, từ một “đống rẻ rách” sống dưới đáy xã hội trở thành một thợ làm nước hoa thiên tài. Grenouille đã tạo ra vô vàn loại nước hoa tuyệt vời khiến người đời mê mẩn, nhưng tham vọng của hắn còn cao hơn thế. Jean-Baptiste Grenouille muốn chế tạo một loại nước hoa vô song có khả năng chi phối con người. Tham vọng đó đã biến hắn trở thành một kẻ giết người man rợ. Hắn đuổi theo mùi hương từ các trinh nữ và giết họ để chưng cất nên loại nước hoa tuyệt đỉnh của mình.
Có một "Mùi hương" ám ảnh đến rợn người 3
Mùi hương ám ảnh người xem trước tiên bởi một câu chuyện tuyệt vời từ tác phẩm mà nó chuyển thể. Perfume: The Story of a Murderer vừa uyên bác, cao siêu, triết lý, quái dị mà lại không “buồn ngủ”. Khi được kể bằng ngôn ngữ điện ảnh, nhiều tình tiết trong tiểu thuyết đã bị lược bớt, nhiều điều khiến các fan của cuốn sách không được hài lòng. Tuy nhiên, bộ phim lại mang trong mình những nét đẹp riêng của nó, tinh tế và cô đọng, ám ảnh đến đáng sợ.
Trong suốt chiều dài phim, nhân vật Jean-Baptiste Grenouille (do Ben Whishaw thủ vai) hầu như không thoại nhiều, hắn chỉ hít ngửi, và mê đắm trong không gian những mùi hương của riêng hắn (Có lẽ cũng bởi thế nên đạo diễn Twyker đã phải mang tới cho khán giả một người dẫn truyện). Tuy nhiên không cần nhiều lời, chính cái hành trình cần mẫn đi thu thập và tinh chế mùi hương của Grenouille đã cuốn khán giả vào vòng xoay ám ảnh cùng với hắn. Những lúc hắn bám theo “con mồi”, cái cách hắn hít hà và cảm nhận, cách hắn háo hức lẫn mê đắm chứng kiến từng giọt tinh dầu chảy ra từ bình chưng cất… Tất cả khiến người ta vừa tò mò vừa ghê sợ hắn. Người ta không hiểu hắn nhưng cũng không thể rời mắt khỏi hắn.
Có một "Mùi hương" ám ảnh đến rợn người 4
Jean-Baptiste Grenouille thực sự là gì? Đứa con của quỷ dữ, sứ giả của thần chết, một nghệ sĩ hay kẻ giết người man rợ, một kẻ lạc loài đứng bên lề xã hội nhưng lại cung cấp cho xã hội những gì nó thực sự muốn. Cuộc đời Grenouille là một hành trình của những nghịch lý: sinh ra từ nơi hôi hám bẩn thỉu nhất nhưng lại sở hữu chiếc mũi tinh tế nhất để nhận biết những mùi hương tuyệt vời; có quyền lực đối với mọi mùi hương nhưng bản thân hắn lại “không có mùi” – điều khiến hắn ghê sợ nhất; muốn mang đến cho đời một thứ hương thơm tuyệt mỹ – mục đích tốt nhưng cách thực hiện lại sai lầm; và cuối cùng, kẻ giết người vô luân đáng lẽ phải chịu trừng phạt bởi cái chết đau đớn nhất, lại được người đời tung hô như một thiên thần…
Có một "Mùi hương" ám ảnh đến rợn người 5
Chẳng hiểu sao tôi lại không cảm thấy mình ghét bỏ hay ghê sợ nhân vật Jean-Baptiste Grenouille. Tôi chỉ tò mò bởi hắn, ám ảnh bởi hắn, và cũng thương cảm hắn. Grenouille là kẻ giết người mọi rợ, ai cũng biết, nhưng chẳng phải cuộc đời hắn vốn đã sai ngay từ khi bắt đầu? Hắn bị người ta tìm cách giết chết ngay từ khi còn là một đứa trẻ sơ sinh, hắn lớn lên dị dạng và méo mó. Hắn chưa bao giờ là một con người theo đúng nghĩa khi bị mua bán, bị rẻ rúng, khinh ghét. Một kẻ như thế, kẻ thậm chí còn chẳng biết thế nào là “truyền thuyết” và đời thực thì làm sao người ta có thể đòi hỏi ở hắn thứ đạo đức mà hắn không được dạy, cũng chưa bao giờ được nhìn thấy ở những con người quanh hắn.
Diễn xuất tuyệt vời của nam diễn viên người Anh Ben Whishaw đã mang đến cho khán giả một Jean-Baptiste Grenouille cô đơn đến cùng cực. Kẻ lạc loài ấy có thể chế ra thứ nước hoa khiến cả thế giới quỳ mọp dưới chân hắn nhưng lại không thể biến hắn trở thành một CON NGƯỜI đúng nghĩa – một con người biết yêu và được yêu.
Có một "Mùi hương" ám ảnh đến rợn người 6
Thứ nước hoa mà Grenouille chế tạo phản ánh khao khát của hắn và cũng là khao khát của toàn nhân loại – khao khát về tình yêu và sự thánh thiện. Khao khát thật đẹp, chỉ có đường đi là sai lầm. Người ta có thể thương cảm Grenouille nhưng giới hạn đạo đức không cho phép họ quyền được bào chữa cho những tội ác man rợ của hắn. Cuối cùng, bộ phim cũng như cuốn tiểu thuyết đã chọn lựa cho mình một đoạn kết nhân văn khi để Jean-Baptiste Grenouille biến mất khỏi cõi đời cũng dị thường như khi hắn xuất hiện. Sự biến mất của của hắn khiến cho người đời thấy lâng lâng hạnh phúc vì như thể “lần đầu tiên họ hành động vì tình yêu”!
Tôi thích cảm nhận Perfume: The Story of a Murderer cũng giống như một thứ nước hoa kỳ diệu, với hương đầu đầy tò mò, khêu gợi; hương giữa bí ẩn và mê đắm; hương cuối lưu lại ám ảnh đến rợn người. Chuyện phim khiến người xem phải bất ngờ đến tuyệt vọng trong việc đoán định hướng đi và những diễn biến. Và hẳn nếu bạn đã xem bộ phim này, bạn cũng sẽ không tránh được ham muốn được xem lại một lần nữa…
Có một "Mùi hương" ám ảnh đến rợn người 7
http://www.baomoi.com/Co-mot-Mui-huong-am-anh-den-ron-nguoi/c/13837459.epi
Literature Văn học & Điện ảnh Văn học Đức

“Mùi hương”

“Mùi hương”

 

Nguyên tác: Das Perfum

Tác giả: Patrick Süskind

Dịch giả: Lê Chu Cầu

Nguồn: http://vnthuquan.net

Đánh máy: Tumbleweed

 

Giới thiệu tác giả Patrick Süskind sinh ngày 26 tháng 3 năm 1949 ở Ambach “Bavière” gần Munich Ông đã từng học ở Munich (Đức) và Aixen Provence (Pháp), ngành văn chương và lịch sử thời Trung cổ và thời cận đại. Ngoài ra, ông còn làm đạo diễn và tham gia viết kịch bản cho sân khấu và truyền hình.Le Fafum “Das Farfum” là tiểu thuyết đầu tay của ông, xuất bản năm 1985 dưới tựa “Das Farfum” Die Geschichte eines Mörders,, được dịch ra tiếng Pháp năm 1986, và sau đó được chuyển thể thành phim năm 2006 với tựa bằng tiếng Pháp La parfum, histoire d un meutrier (Mùi hương) 

Link down:http://www.mediafire.com/?azxf8589nkg6dd4

Một câu chuyện kỳ lạ và mê hoặc, nơi Patrick Suskind đã tạo riêng cho văn chương của mình một sức hút ma quái, trộn lẫn giữa cảm giác ghê tởm và thành kính, mê đắm và run sợ.

Patrick Suskind –

Tên tác phẩm: Mùi hương
Tên tác giả: Patrick Suskind
Dịch giả: Lê Chu Cầu
Công ty Văn hoá & Truyền thông Nhã Nam và Nhà xuất bản Văn học

Nếu tác phẩm của John Banville là lời minh chứng xác đáng nhất cho nhận định văn học là nghệ thuật ngôn từ, thì với Mùi hương, Patrick Suskind đã thuyết phục người đọc rằng văn học còn là nghệ thuật của hương thơm nữa.

Bìa cuốn 'Mùi hương'.

Bìa cuốn “Mùi hương”.

Nhân vật chính của Mùi hương là Jean-Baptiste Grenouille – một thiên tài đồi bại có đầy đủ các tố chất kiêu ngạo, coi rẻ con người, vô đạo đức, và sở dĩ tên tuổi của hắn không còn lưu lại chỉ bởi “thiên tài và khát vọng duy nhất của gã giới hạn trong một lĩnh vực không để lại dấu vết nào trong lịch sử: đó là vương quốc phù du của hương thơm”. Sinh ra trong một ngày nồng nực giữa Paris – thành phố hôi thối nhất nước Pháp, tiếng khóc khai sinh của thằng nhỏ Grenouille bị nghẹn tắc bởi đống lòng ruột lẫn máu cá nhầy nhụa nhưng vẫn đủ sức khiến mẹ nó phải chịu án treo cổ vì đã cố ý bỏ mặc nó chết ngạt trong đám hôi tanh ấy như đã làm với bốn đứa con trước của thị.

Không có được, và cũng chẳng cần đến tình yêu thương của con người, thằng nhỏ Grenouille nhục nhằn lầm lũi lớn lên, đói khát không làm nó chết, bệnh tật khiến nó càng dẻo dai, và công việc nặng nhọc là thứ duy nhất khiến loài người chấp nhận chung sống với nó, cái thằng nhỏ kỳ dị không mùi mang theo mầm họa. Ngoài cái chân cà nhắc, cái mặt chi chít sẹo và đống quần áo rách nát mắc tạm trên hình dạng hơi gù, vật duy nhất có giá trị của cái thây ma còn chuyển động ấy là cái mũi cực nhạy và một trí nhớ tuyệt vời. Mũi là khứu giác, thị giác, vị giác, cảm giác, thậm chí còn là cảm xúc của hắn. Grenouille không chỉ có thể nhận biết, ghi nhớ, phân tách rành rọt từng làn hương mảnh nhất mà còn khao khát sáng tạo ra những hương thơm độc đáo của riêng hắn. Và khao khát ấy đã đưa Grenouille vào một cuộc săn đuổi man rợ chưa từng có: săn đuổi hương thơm của hai mươi lăm trinh nữ…

Nếu như sức hấp dẫn của một cuốn tiểu thuyết trước hết đến từ câu chuyện được kể thì Mùi hương là một cuốn tiểu thuyết có sức lôi cuốn mãnh liệt. Chẳng màng tới những lời tụng ca của The New York Times, Time, Le Figaro, Daily Telegraph…, hay thái độ bất ngờ đến kinh ngạc của các nhà phê bình khắp châu Âu, chỉ cần chính bạn, Mùi hương và hãy để Patrick Suskind mê hoặc bằng câu chuyện kể của riêng mình. Tác phẩm này là một hỗn hợp hoàn hảo được tạo nên từ sự ly kỳ của một cuộc đời tài hoa, quái dị, sự rùng rợn của hàng loạt vụ án mạng bí ẩn, cái ồn ào điên loạn của giống người mê đắm nhục cảm và vẻ thanh khiết hoang dại của con thú cô độc Grenouille.

Ngay cả phức cảm mà Patrick Suskind mang lại cho người đọc cũng là một hỗn hợp hài hoà đến kỳ lạ, được tinh cất và trộn lẫn giữa những cung bậc cảm xúc đối lập. Cùng là một nhân vật Grenouille với hành động săn đuổi cô gái tóc đỏ thứ hai mươi lăm, ngoài tâm trạng hồi hộp thường thấy của bất cứ cuộc săn đuổi nào, người đọc bị ám ảnh bởi cảm giác vừa căm giận ghê tởm, vừa đam mê đến sùng kính hương thơm của người trinh nữ được Grenouille lưu lại mãi mãi. Với một công thức đặc biệt và thứ rượu tinh cất là văn phong lôi cuốn, biểu cảm, hài hước, đầy ắp ngôn từ chỉ mùi và hương cùng những cảm nhận kỳ lạ về thế giới mùi và hương, phù thuỷ Patrick Suskind đã đem lại cho người đọc một tác phẩm văn học độc đáo, một làn hương đậm quyến rũ giữa cõi sống nhàn nhạt này.

N.N.

“Mùi hương” – Bi kịch của những dục vọng điên cuồng

Mùi hương Tác giả: Patrick Suskind Dịch giả: Lê Chu Cầu Công ty Văn hóa Truyền thông Nhã Nam & Nhà xuất bản Văn học. “Hắn bị bỏ rơi trong đống ruột lẫn máu nhầy nhụa của loài cá tanh tưởi, hắn cất tiếng khóc không thành lời giữa sự nhẫn tâm của người mẹ. Hắn lầm lũi sinh ra, rồi lại lầm lũi lớn lên… Hắn là Grenouille.” “Mùi hương” xoay quanh câu chuyện về Jean-Baptiste Grenouille, một-thiên-tài-đồi-bại. Cuộc đời hắn như một chuỗi dài của sự ám ảnh, cái ám ảnh ma quái lẫn trong sự thành kính đến rợn người. Mẹ Grenouille cố ý dìm chết hắn, dìm chết như đã từng làm với những đứa con khác của ả. Hắn vẫn sống, cái sinh lực ghê gớm trong con người ấy hình như ngay từ lúc sinh ra vốn đã không chịu khuất phục. Hắn sống, và… mẹ hắn chết, chết treo cổ! Cái ngày hắn sinh ra là thời điểm Paris nồng nực, chính là thành phố ấy – thành phố hôi thối nhất của nước Pháp lúc bấy giờ. Một đứa trẻ bị bỏ rơi nấc nghẹn trong rác rưởi… không tình yêu, không tình thương (ngay đến mẹ còn chẳng thừa nhận sự có mặt ấy, thì hắn còn cần ai? Còn ai cần hắn?). Grenouille cứ thế lớn lên giữa cuộc đời, nhục nhằn, lầm lì… Hắn là mầm sống mà cũng là tai họa, hắn là con thú đi hoang giữa cuộc đời. Đói rét không làm cho nó chết giữa đường giữa xó, bệnh tật càng làm hắn dẻo dai và sự mỉa mai khinh bỉ của người đời lại càng tiếp thêm năng lượng để hắn đánh dấu sự có mặt ghê gớm của mình. Hắn vẫn sống với cái mặt chi chít những vết sẹo, lăn lộn kiếm ăn với cái chân cà nhắc, cà nhắc… Đôi chân khập khiễng và cũng chính là hình thù cuộc đời hắn. Cuộc đời vò nát trong đống áo quần nhàu nhĩ, quăng lên một cái lưng hơi gù gù… Hắn và những gì tồn tại được-coi-là-của-hắn, cũng đồng dạng như nhau! Cái thứ duy nhất mà Grenouille được ban cho giữa cuộc đời là một cái mũi cực kỳ nhạy. Nhạy đến nỗi hắn đi qua đâu, ngửi được những gì, hắn đều nhớ, nhớ như in! Mùi – trong tâm trí của hắn như là cái gì đó hữu hình, sờ được, nắn được, nuốt được, và… yêu được. Trí nhớ về mùi hương khiến Grenouille trở thành một thiên tài. Hắn ghi nhớ, tách bạch, rạch ròi những gì ngửi qua, một mảnh đất, một làn gió mang theo hương – có thể là tanh tưởi, cũng có thể là ngọt ngào. Người ta thấy ở cái mũi của Grenouille – cái mũi kì lạ có khả năng đảm nhiệm tất cả các giác quan trên cơ thể người – một thứ gì đó siêu nhiên vô hình. Thế nhưng, bản thân Grenouille – hắn sinh ra đã là đứa trẻ không có mùi. Giá như thớ thịt của hắn nồng lên mùi tanh tởm của cá chết, hay mùi hôi thối của thịt rữa, thì hãy còn là may mắn. Bất hạnh thay, khi hắn lại là một thằng nhỏ kì dị không mùi. Grenouille ôm ấp cái khát khao sáng tạo ra mùi hương, một mùi hương chỉ có thể tạo ra từ bàn tay hắn mà thôi! Cái ao ước nghe có vẻ thanh khiết lại được thực hiện bởi sự man rợ. Man rợ đến nỗi ta chỉ mong cho hắn chết ngạt trong bãi rác từ khi mới lọt lòng. Hắn kiếm tìm, chiếm đoạt và tinh chế mùi hương cho riêng mình – mùi hương đánh đổi bằng cái chết của 25 trinh nữ… Ngấm ngầm một sự mỉa mai và đau đáu, “Mùi hương” dắt ta chứng kiến âm mưu giết người hoàn hảo khủng khiếp của con quái vật đội trong lốt người. Lời giải thích cho hành động thú tính của người đàn ông ấy được lý giải rất giản đơn, hắn cho phép mình cái quyền tước đi mạng sống của người khác. Tước đi để tái tạo ra một thứ theo hắn là có ích. Mùi hương mà Grenouille đã cất công tạo ra là một loại nước hoa. Thứ nước hoa ấy có khả năng khơi dậy tình yêu mãnh liệt và khao khát dục vọng mê đắm ở mỗi con người… Người ta ghê tởm con thú ấy, nhưng không thử một lần quay đầu để nhìn lại cái xã hội. Tại sao không ai thắc mắc bất cứ điều gì về cái thế giới đầy bệnh hoạn, thối rữa và cái mùi tanh tởm thì vẫn quẩn quanh bên mỗi con người? Phải chăng cái tội-ác-tinh-khiết mà Grenouille chưng cất nên cũng thật cần cho cái xã hội hắn đang tồn tại? Grenouille có thể là hiện thân của cái ác – rất ác. Nhưng đứa trẻ không có lấy nổi một mùi hương của riêng mình, phải chăng chính là kết quả khúc xạ méo mó mà cái thế giới biến dạng ấy tạo ra! Jean-Baptiste Grenouille đi tìm mùi hương cho mình, đi tìm một tình yêu mơ hồ và xa lạ trong tiềm thức. Nhân loại ghê tởm hắn, tránh xa hắn, lên án hắn, nhưng rồi chính họ lại mê đắm, khát khao cái thứ nhục dục từ mùi hương mà hắn tạo ra. Mâu thuẫn đẩy lên đến đỉnh điểm khi một con người chạy trốn sự chối bỏ của đồng loại và tự cuồng loạn với sự bi thảm của chính mình. Hắn từ một đứa trẻ bị bỏ cho chết vùi trong máu cá đến món đồ nghề chưng cất hương thơm của 25 trinh nữ. Hắn từ một tên khập khiễng vất vưởng giữa cuộc đời trở thành một Grenouille được vinh danh từ những công trình khoa học. Hắn từ một kẻ không có nổi một mùi hương lại tạo ra hương thơm mê đắm triệu triệu người… Grenouille, hắn vừa là tội phạm, mà đồng thời cũng chính là nạn nhân. Câu chuyện về Jean trong Mùi hương đã được dựng thành phim Với ngôn ngữ miêu tả của một thiên tài, Patrick Suskind – nhà văn người Đức đã khiến người đọc bất ngờ đến phút cuối, bất ngờ trong niềm tuyệt vọng. Nó khiến người ta hình dung ra cái xã hội trong nước Pháp thế kỉ 18. Patrick Suskind miêu tả điêu luyện và sinh động đến mức ta nghe như cái mùi-hôi-thối-của-thời đại nồng nặc đến tận khứu giác. Tác phẩm cuốn hút người đọc bởi cái giọng văn đầy bí ẩn, tinh quái mà cũng quyến rũ lạ thường. “Mùi hương” giống như câu chuyện trữ tình được thổi vào một phép thôi miên-một câu chuyện cổ tích kinh hoàng. “Mùi hương” – sự ra đời của cuốn tiểu thuyết này đã gây kinh ngạc cho tất cả các nhà phê bình. Không chỉ ở châu Âu mà còn trên toàn thế giới, sự hiện diện của “Mùi hương” là sức ám ảnh ma mị đến ngột ngạt, mê đắm mà run rẩy. Patrick Suskind đã đưa người đọc đến với cái thế giới phù phiếm – “vương quốc phù du của hương thơm”. Được đánh giá là hiện tượng văn học ở Đức từ sau Thế chiến thứ hai, “Mùi hương” đã trở thành một danh tác bất tử về một kẻ gây tội ác đồi bại, ngạo nghễ, điên cuồng, quằn quại và đau đớn giữa cõi đời…
http://www.baomoi.com/Mui-huong-Bi-kich-cua-nhung-duc-vong-dien-cuong/c/6080928.epi