History of Eastern Thought

FILM STUDY

WORKSHOP

Âm dương gia

Mệnh của người sinh cùng năm tháng ngày giờ có giống nhau?

Khi xem mệnh thì đây là vấn đề về vận mệnh con người mà rất nhiều người còn đặt nghi vấn, hoài nghi với khoa thuật số, phản bác thẳng thừng, nhất quyết không tin là con người có vận mệnh, số phận, âu cũng là nhận thức đúng đắn của con người trong thời hiện đại. Nhưng chúng ta nên đọc thêm để tìm hiểu sự thật trước khi tranh luận, ai đúng, ai sai,…

Lý luận về vận mệnh của con người

Có người bạn nói chuyện với tôi về mệnh vận. Anh ta nói: tôi cực lực phản đối thuyết con người có mệnh vận và nêu ra một số lý do để chứng minh quan điểm của mình là đúng. Ví dụ, nếu có người nói con người có số mệnh, thế thì những người sinh cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, cùng giờ, cùng phút, cùng giây vì sao chỉ có một người làm vua. Trong một đất nước nói chung có rất nhiều người giờ sinh như nhau, mệnh vận của họ nên giống nhau mới đúng, tại sao lại không giống? Luận điểm của anh ta rất rõ ràng, chỉ cần cùng thời gian sinh thì mệnh vận sẽ như nhau, không thể khác nhau tí nào hoặc phân thành suy vượng được!!!

Tôi hỏi anh ta: mỗi ngày cùng là “ngày” cả, thế tại sao còn có xuân hạ thu đông, có nóng lạnh khác nhau? Ðất cũng là cùng một quả đất, vì sao có chỗ nước, chỗ không, chỗ cao, chỗ thấp? Cùng một mảnh đất, cùng một hạt lúa, cùng trồng sáu tháng vì sao có cây cao, cây thấp? Cũng một cành cây, tại sao có quả to, quả nhỏ. Nhân thể là một khối thống nhất, tại sao công năng của lục phủ, ngũ tạng lại có cái mạnh, cái yếu, có cái tốt, cái xấu? Vì sao có người chỉ có gan mộc khối u, còn các phủ tạng khác thì lại tốt? Tôi lại nói: cơ thể con người là thống nhất, lục phủ ngũ tạng ở trong mình là tự người mẹ sinh ra, tất cả cùng giờ sinh thế mà chỉ có gan mọc khối u còn những tạng phủ khác thì không bị. Vậy giữa chúng quả thực có sự khác nhau rất lớn.

Ông bạn ấy nghe tôi nói đã hiểu được vấn đề và nói lại là: “Ừ, đúng nhỉ! Lục phủ ngũ tạng đều cùng một giờ sinh, thế mà lại khác nhau rất lớn, thật đáng nghiên cứu.”. Tôi nói với anh ta: “Tiền nhân từ lâu đã nghiên cứu ra rồi, đó là lục phủ ngũ tạng đều có âm dương, có ngũ hành tương sinh tương khắc, mỗi cái chủ suy vượng của 4 mùa, cho nên cùng một giờ sinh, nhưng khác nhau rất lớn”.

Những người cùng giờ sinh, vì sao mệnh lại không giống nhau? Nguyên nhân rất nhiều, không có cách nào để giải thích cho rõ ràng, tỉ mỉ được. Tôi chỉ nói vắn tắt như sau:

  1. Phương vị khác nhau: như phương Nam là Hỏa, phương Đông là Mộc, phương Bắc là Thủy, phương tây là Kim. Người mệnh Hỏa nhưng sinh ở phương Nam hay phương Bắc sẽ khác nhau. Phương Bam là đất Hỏa vượng, phương Bắc bị Thủy khắc cho nên người sinh ở phương Bắc sẽ không như người sinh ở phương Nam dù cùng mệnh Hỏa.
  2. Năm mệnh của phụ mẫu khác nhau.
  3. Năm mệnh của anh chị em khác nhau.
  4. Năm mệnh hôn nhân khác nhau.
  5. Năm mệnh của con cái và số con đều khác nhau. Vì năm mệnh của những người trong gia đình khác nhau, mức độ ngũ hành sinh khắc sẽ khác nhau, do đó ảnh hưởng đối với con người cũng sẽ khác nhau. Ví dụ có một người mệnh Mộc, cha mẹ đều là mệnh Kim, đều khắc anh ta. Có người tuy cũng là mệnh Mộc, nhưng cha mẹ đều là mệnh Thủy, thủy sinh mộc. Người bị khắc cuộc sống sẽ không thuận, người được tương sinh cuộc sống sẽ thuận.
  6. Nam nữ khác nhau, do đó mà có sự vận hành thuận, nghịch khác nhau.
  7. Tướng mặt, vân tay không giống nhau, cho nên việc nó làm chủ cũng khác nhau.
  8. Cốt tướng của người khác nhau
  9. Mộ tổ, nhà ở khác nhau, phương vị khác nhau. Ngày xưa đã có câu “Nhất mộ, nhì phòng (nhà ở), tam bát tự”, tức là nói mệnh vận tốt, xấu của một người, thứ nhất quyết định ở phong thủy phần mộ ông cha tốt hay xấu; thứ hai quyết định ở phong thủy của nhà ở; thứ ba quyết định ở sự sắp xếp tổ hợp của tứ trụ. Cho nên, cho dù ngày giờ sinh giống nhau, nhưng phần mộ tổ tiên và nhà ở không hoàn toàn giống nhau được.
  10. Gen di truyền của mỗi người không hoàn toàn giống nhau
  11. Hoàn cảnh, điều kiện gia đình của mỗi người khác nhau.
  12. Ðiểm sáng của Sao chỉ có một. Tuy có hàng nghìn, hàng vạn người cùng giờ sinh, nhưng điểm sáng của Sao trực ban quyết không phải người nào cũng nhận được. Nếu điểm sáng này chiếu đúng vào nhà một người nào đó, hoặc đúng lúc người mang thai đang sinh, người đó có thể sẽ là hoàng đế, còn những người khác thì không làm nổi hoàng đế.

Có một câu chuyện như sau: 

Chu Nguyên Chương đời Minh sau khi đã làm Hoàng đế nghĩ rằng, mình đã làm vua và những người cùng giờ sinh với mình cũng là “mệnh Hoàng đế” cả, nếu không giết hết họ sau này sẽ có người tranh ngôi. Do đó ông đã ra lệnh giết, giết loạn mà không thương tiếc. Khi giết đến nửa chừng, Chu Nguyên Chương lại nghĩ nên bắt mấy người cùng giờ sinh với ông đến để hỏi xem họ làm nghề gì, sau đó giết cũng chưa muộn. Chu Nguyên Chương hỏi một người trong số đó: “Ông làm gì?” – “Nuôi ong” – “Nuôi bao nhiêu ong?” “Nuôi 9 tổ”, tất cả mấy vạn con”.

Chu Nguyên Chương sau khi nghe, vừa sợ vừa mừng: mình làm Hoàng đế thống trị cả 9 châu, 9 chư hầu. Ông ấy nuôi 9 tổ ong, có 9 ong chúa. Số ong của ông ấy nuôi và số người của mình cai trị đại thể giống nhau. Xem ra mình và ông ta không đều là Hoàng đế của người cả, làm hoàng đế của người chỉ có một mình, còn người khác, có người làm vua của ong, có người làm vua của tằm, có ngừơi làm vua của cá… Do đó Chu Nguyên Chương cảm thấy yên tâm và ngừng lệnh giết những người cùng ngày sinh.

Bàn luận số phận và vận mệnh theo khoa học và phong thủy

Con người là trung tâm của vũ trụ, theo học thuyết của triết học Phương Đông là Thiên – Địa – Nhân. Con người chính là sản phẩm hoàn chỉnh nhất của tự nhiên và là trung tâm của Trời Đất. Có Trời có đất rồi trải qua sự phát triển vận động mà tạo nên con người như một vũ trụ thu nhỏ.

Chính vì con người là một sản phẩm của tự nhiên thì tất nhiên phải chịu sự chi phối của tự nhiên. Cũng giống như các sinh vật khác trên trái đất đều phải chịu sự chi phối của thiên nhiên và môi trường. Mỗi con người sinh ra đời tại những thời điểm, những vị trí khác nhau trên trái đất. Khi đó sự vận hành của các thiên thể trên những quỹ đạo khác nhau, đối với trái đất thì chịu ảnh hưởng mạnh nhất cuả các hành tinh trong hệ mặt trời như Mặt Trăng, Mặt Trời, sao Kim, sao Hoả, sao Thổ … cùng các tia vũ trụ, các yếu tố môi trường tác động vào mỗi con người khác nhau, do đó được hình thành nên với những tố chất trong đục khác nhau.

Khoa học hiện đại cũng chỉ ra con người bị chi phối bởi những chu kỳ sinh học, chẳng hạn như chu kỳ trí tuệ, sức khoẻ và tâm lý. Chính vì thế mỗi người có một xuất phát điểm khác nhau, một quá trình sinh hoạt bị chi phối bởi những chu kỳ khác nhau, người xưa gọi đó là “Thiên Mệnh”. Tuy nhiên số mệnh con người lại là một hàm số tổng hợp bởi ngoài “Thiên Mệnh” thì con người còn phụ thuộc vào gen di truyền, vào môi trường sinh hoạt, vào vị trí địa lý và nỗ lực mỗi cá nhân.

Chính vì vậy hai người sinh cùng một thời điểm nhưng lại có thể có số mệnh khác nhau. Tổng quát ta có thể ước lượng số mệnh con người qua hàm số:

Số mệnh = Thiên Mệnh + Địa Mệnh + Nhân Mệnh.

Trong đó “Địa mệnh” là môi trường xã hội và Phong Thủy nơi sinh sống. “Nhân mệnh” là phần nỗ lực học tập, rèn luyện, lao động, tu tâm dưỡng tính của mỗi cá nhân trong cuộc sống. Phần “Thiên mệnh” là cố định nhưng phần “Địa mệnh” và “Nhân mệnh” hoàn toàn có thể cải biến, điều đó cho thấy Phong Thủy có vai trò vô cùng quan trọng. Chọn lựa được nhà cửa, văn phòng Phong Thủy tốt, nơi phòng ngủ, bàn làm việc phương hướng phù hợp sẽ có tác dụng cải tạo to lớn. Công thức lượng hoá vận mệnh:

Thiên mệnh: 60% gồm:

  • Bản mệnh ( xem theo Tử Vi và Tứ Trụ ) 18%
  • Đại vận ảnh hưởng 30%
  • Lưu niên ảnh hưởng 12%

Nhân mệnh và Địa mệnh 40 % gồm:

  • Phong Thủy Địa lý: 10%
  • Ý chí bản thân: 10%
  • Tích đức hành thiện (phúc đức): 8%
  • Hoàn cảnh xã hội, môi trường sống: 4%
  • Trình độ giáo dục: 4%
  • Tính danh ảnh hưởng: 4%

Về vấn đề vận mệnh của những người sinh đôi có giống nhau hay không?

Có thể nói không, hoàn toàn khác nhau. Vì cho dù cùng sinh trong một giờ, nhưng có trước có sau. Nếu không cùng sinh trong một giờ thì khác biệt còn rõ hơn nữa. Tôi đã sơ bộ điều tra thấy rõ, những người sinh đôi sau khi kết hôn thì sai lệch rất rõ, nguyên nhân là vì những người bạn đời họ ít khi đều cùng một năm mệnh, cũng không thể cùng giờ sinh. Như vậy các thành viên tổ thành gia đình này phát sinh ra biến hóa, ngũ hành sinh khắc cũng đồng thời phát sinh biến hóa, cho nên mệnh vận của hai người sẽ khác nhau.

Vạn vật trong tự nhiên, thậm chí là trong cùng một sự vật, sự phát triển biến hóa còn không đồng đều, huống hồ những người cùng một ngày sinh làm sao mệnh vận lại giống nhau được.

Do đó sự tổ hợp Thiên Can, Địa Chi trong năm, tháng, ngày, giờ sinh của mỗi người là nhân tố nội tại của mệnh vận tốt hay xấu, là căn cứ của sự biến hóa, nhân tố bên ngoài chỉ là điều kiện để biến hóa. Sự sắp xếp của thiên can địa chi, khí âm dương ngũ hành có mối quan hệ rất mật thiết với con người, đương nhiên chúng ta không phủ định sự nỗ lực chủ quan. Ví dụ trong Tứ Trụ có tiêu chí thông tin học đến đại học, nhưng không đọc sách, không nỗ lực học tập, chắc chắn là không tốt nghiệp đại học. Do đó muốn đạt được mục địch dự tính, ngoài nhân tố tiên thiên còn phải cộng thêm sự nỗ lực của hậu thiên.

(Lược trích: Chu dịch với dự đoán học – Thiệu Vỹ Hoa)

Âm dương gia

NGƯ TIỀU Y THUẬT VẤN ĐÁP (LỜI DẪN)

Sưu tinh dụng dược tâm pháp tự truyện
(Tìm tòi tinh tuý về tâm pháp dùng thuốc)

Dịch nghĩa:

Xưa nay sách thuốc rất nhiều, nên những người làm nghề thuốc không khỏi thở than về nỗi quá nhiều sách. Nếu học không có căn bản, thì khi chữa bệnh sẽ ngơ ngác như dựa vào khoảng không, cưỡi trên ngọn gió, không biết đâu là chỗ dừng nữa.
Nói chung, bệnh có biến hóa hư thực rất nhiều, nên phương có cách chữa chính, chữa tòng, chữa gốc , chữa ngọn, nên công, nên trước, nên sau, phải dùng cho phù hợp. Xét trị chỉ sai một chút thì sống chết khác nhau ngay, há chăng nên cẩn thận sao ? Cho nên nghề làm thuốc chỉ cốt tuỳ cơ ứng biến mà thôi.
Bậc hiền triết thuở trước thường nói : “Tâm của người thầy thuốc giỏi giống như viên tướng có tài, mà phép dùng thuốc cứu người cũng tựa phép dùng binh đánh giặc”. Ra binh có khi đánh thẳng, có khi dùng mưu; dùng thuốc có lúc chữa bệnh chính, có lúc chữa biến chứng. Vốn không học phép dùng binh thì không thể đánh trận, vốn không hiểu cách dùng thuốc thì không thể chữa bệnh.
Dịch Công nói : “Con người ta bẩm thụ khí trung hoà của trời đất mà sinh ra, nhưng do ăn uống, làm lụng không biết tự giữ cho điều độ, nên những phần độc hại của âm dương mới nhân những chỗ sơ hở ấy trở thành quân giặc làm hại “. Nghề thuốc tức là thuật chống giặc của thánh nhân vậy. Chống giặc không chống ở ngoài bờ cõi mà chống trong sân, trước cổng, ấy là lối trăm phần trăm thua; chữa bệnh không chữa đến tận gốc rễ mà chữa trên ngọn, ngoài da, ấy là phép trăm phần trăm chết.
Lôi Công nói :“Phương pháp linh hoạt của người làm thuốc cốt ở chỗ lựa nhiều biến đổi”. Ví dụ như khí hậu nam bắc có phân biệt, thời trời nóng lạnh có đổi thay, thể chất có kẻ mỏng người dày, mắc bệnh có kẻ lâu người mới…; những yếu tố ấy không thể không xét cho rõ ràng vậy. Cũng như bệnh có khi nên bổ mà lại bổ bằng phép tả, có khi nên tả mà lại tả bằng phép bổ; có khi cần dùng thuốc lạnh mà lấy thuốc nóng dẫn đường, có khi cần dùng thuốc nóng mà lấy thuốc lạnh nương trị; hoặc bệnh ở trên mà chữa ở dưới, hoặc bệnh ở dưới mà chữa trên; bệnh như nhau mà dùng thuốc khác nhau, bệnh khác nhau mà dùng thuốc như nhau…; nghĩa ấy thật rất sâu xa, người học cần xét cho thật rõ. Tóm lại, bệnh là do khí huyết sinh ra, bệnh khí thuộc về dương, bệnh huyết thuộc về âm.
Việc âm dương hơn thua qua lại là then chốt, trăm bệnh theo đó mà thay đổi. Vì thế mà chữa bệnh nam giới khác chữa bệnh nữ giới, chữa bệnh người trẻ khác chữa bệnh người già.
Xét trong y thuật vốn có bốn khoa : nhìn sắc, nghe tiếng, hỏi chứng và bắt mạch, tuy chia thành môn loại trận thế, nào là bát yếu, nào là tam pháp…; nhưng tìm đến ý nghĩa, rốt lại chỉ trong mấy chữ biểu, lý, hư, thực, hàn, nhiệt mà thôi. Nếu trong vòng sáu chữ ấy mà xét nhận được rõ ràng, thì đó là hiểu biết được chỗ cốt yếu rồi vậy. Đó tức là câu người ta vẫn nói là “Biết được chỗ cốt yếu thì chỉ một lời là hết, không biết được chỗ cốt yếu thì mênh mông không cùng “
Than ôi, đạo lớn là của chung, xin cùng các bậc danh nho tài tử thông minh trong thiên hạ đem tinh thần để lĩnh hội, trên thì để thờ vua và cha mẹ giữa thì giữ gìn cho mình, dưới thì để cứu giúp mọi người đã ghi chép hết ra ở sách này. Xin chớ vì là sách quốc âm nôm na, quê kệch mà xem thường xem khinh.

Trích yếu âm dương biện luận
(Trích phần chủ yếu trong bài Biện luận về âm dương)
Dịch nghĩa:

Phàm chỗ then chốt của sinh khí mà con người bẩm thụ đều gốc ở hai khí âm dương. Nhưng nếu đem khí huyết, tạng phủ, hàn nhiệt mà bàn, thì đó chỉ là nói riêng về khí âm dương hữu hình thuộc về hậu thiên mà thôi. Còn như khí âm dương vô hình thuộc về tiên thiên thì dương gọi là nguyên dương, âm gọi là nguyên âm. Dương tức là nguyên dương, âm gọi là nguyên âm. Nguyên dương tức là cái hỏa vô hình, việc sinh hóa thần cơ là ở đó, tính mạng quan hệ ở nó. Nguyên âm tức là cái thủy vô hình, việc tạo dựng thiên quý là ở đó, mạnh yếu quan hệ ở nó. Cho nên kinh Dịch gọi là nguyên tính, nguyên khí. Nguyên tính, nguyên khí tức là nguyên thần sinh ra tinh, hoá ra khí. Sinh khí của con người sở dĩ ứng hợp với tự nhiên, chỉ do nhờ ở nó mà thôi. Kinh nói rằng: ” Được thần thì tốt, mất thần thì chết”, chính là nói về điều đó vậy.
Vậy hai chữ âm dương, nên xét cho rõ ràng. Dương thì nóng nảy, âm thì lặng lẽ điềm đạm. Dương giữ việc sinh ra, âm giữ việc nuôi lớn. Dương thái quá thì hại, đưa đến tiêu khô; âm thái quá thì hại, xui nên bế tắc. Dương động mà tan, cho nên hoá ra khí; âm tĩnh mà động, cho nên thành ra hình. Người dương suy thì sợ lạnh, người âm suy thì phát nóng, bởi âm thắng thì dương bị bệnh, dương thắng thì âm bị bệnh, cho nên như vậy. Dương vô hình mà sinh ra hơi, âm có chất mà thành ra mùi, cho nên hơi trong của dương ra nơi các khiếu phía trên, vị đục của âm ra nơi các khiếu phía dưới. Dương rời rạc không tụ về thì bay vượt lên trên mà hơi thở khò khè như ngáy, âm tan tác không bền chặt thì dồn hãm xuống dưới mà mồ hôi nhờn quánh tựa dầu.
Tóm lại âm thì tính tĩnh, ở trong để gìn giữ cho dương; dương thì tính động, ở ngoài để phụng sự cho âm. Bệnh dương hư thì buổi chiều trằn trọc, bệnh âm hư thì buổi sáng nhẹ nhàng; bệnh về dương thì buổi mai tĩnh, bệnh về âm thì buổi đêm yên; dương tà thịnh thì chiều nhẹ, sáng nặng, âm tà thịnh thì chiều nặng sáng nhẹ; bệnh về dương phần nhiều thích mát ham lạnh, bệnh về âm phần nhiều sợ lạnh muốn ấm.
Âm dương đã phân rõ, Vinh Vệ phải chia rành. Vinh là huyết, thuộc âm, cái để nuôi tốt bên trong; Vệ là khí, thuộc dương, cái để đi giữ bên ngoài. Cho nên huyết để nuôi nấng thì đi trong mạch, khí để gìn giữ thì đi ngoài mạch. Khí là cái để hành huyết, huyết là cái để chở khí. Khí huyết vốn không rời nhau, cho nên âm hư dương ắt chạy , dương hư âm ắt thoát. Người giỏi chữa bệnh thì khí hư nên giúp huyết, huyết hư nên giữ khí. Tóm lại huyết là cái hữu hình, không thể sinh nhanh; khí là cái rất nhỏ, cần giữ cho chắc.
Than ôi, lẽ âm dương biến hoá thì không cùng, không thể kể hết, vả lại dương nắm cả âm, huyết theo với khí, nên người xưa chữa huyết ắt trị khí trước; đó là khéo hiểu được nghĩa “Kiền nắm trời, khôn theo Kiền” của kinh Dịch vậy. Thánh nhân giúp đỡ công việc của trời đất, thường ngụ ý nâng dương mà nén âm, cho nên Thần Nông nếm thuốc, cũng căn cứ vào âm dương để phân chia ra các vị hàn nhiệt ôn lương, cay ngọt chua đắng mặn khác nhau. Phàm cay ngọt thuộc dương, ôn nhiệt thuộc dương, hàn lương thuộc âm, chua đắng thuộc âm. Dương chủ việc sinh, âm chủ việc sát, nên người thầy thuốc muốn cho người ta xa nơi chết, tới chỗ sống thường dùng các vị ngọt, ôn, cay, nhiệt mà ít dùng các phương chua đắng hàn lương bởi hiểu lẽ ấy.
Như ngày Đông chí thì khí nhất dương sinh, ngày Hạ chí thì khí nhất âm sinh, hai ngày chí ấy vô cùng quan trọng. Chí nghĩa là cực, âm cực thì dương sinh, từ không mà thành khó, dương cực thì âm sinh, từ có mà thành không; đó là chỗ không giống nhau trong việc biến hóa của âm dương vậy. Kinh nói rằng “Bên dưới tướng hỏa, khí thủy tiếp nối; bên dưới ngôi thuỷ, khí thổ tiếp nối; bên dưới ngôi thổ, khí phong (mộc) tiếp nối ; bên dưới ngôi phong, khí kim tiếp nối; bên dưới ngôi kim, khí hoả tiếp nối; bên dưới quân hoả, âm tính tiếp nối. Găng thì hại, cái tiếp nối sẽ chế trị nó”. Như ngày Đông chí thì âm thịnh đến cùng cực, sinh ra khí dương tiếp nối sẽ chế trị. Ngày Hạ chí thì dương thịnh đến cùng cực, sinh ra khí âm tiếp nối, đó gọi là dương thịnh găng thì hại, âm tiếp nối sẽ chế trị.
Có người hỏi “Ngày Đông chí khí nhất dương sinh, đáng lẽ khí trời dần chuyển sang ấm áp, thế tại sao tháng chạp lại rét lớn, băng tuyết quá nhiều ? Ngày Hạ chí khí nhất âm sinh, đáng lẽ khí trời dần chuyển thành mát mẻ, thế tại sao tam phục lại nắng gắt, nóng nực càng tăng ? Có cách nào giải thích chăng ? Triêu Quán nói “Đó là chuyện cái sẽ đến thì tiến, cái thành rồi thì lui. Trong chỗ tinh tuý và kín đáo, chưa dễ xét rõ được. Đại khái có lẽ là dương phục ở dưới bức âm ở trên, nước giếng tỏa hơi mà kỳ băng đóng cứng, âm thịnh ở dưới bức dương ở trên, nước giếng lạnh đi mà tới lúc sấm chớp tụ họp lại. Nay những người bệnh mặt đỏ miệng khô, trong người bứt rứt ho, suyễn, ai bảo không là hỏa thịnh đến cùng cực, nào biết cái hỏa đó là do khí âm hàn trong thận bức bách. Đem thuốc hàn lương cho uống mà kẻ chết đã nhiều, oan uổng lắm thay ! Vả dương thì một mà đặc, âm thì hai mà rỗng, tóm lại cái hại của âm là từ cái một của dương mà chia ra, cho nên mặt trời giữ được hình dáng ban đầu, còn mặt trăng khi tròn khi khuyết. Người ta lúc mới sinh ra thì chỉ thuần dương mà không có âm, nhờ mẹ cho bú sữa của vú thuộc Quyết âm mà âm bắt đầu sinh. Vì thế mà con trai đến mười sáu tuổi thì tinh mới thông, sau bốn mươi thì tinh kiệt; con gái đến mười bốn tuổi thì có kinh, bốn mươi chín thì kinh dứt. khí âm trong thân người chỉ đủ để dùng trong khoảng ba mươi sáu năm”.
Chữ âm ấy là nói đến âm tinh, tức là chỉ âm huyết vậy.
Huống chi âm dương làm gốc lẫn cho nhau, bàn chuyên bổ âm phải lấy dương làm chủ, tóm lại nếu không có dương thì âm cũng chẳng thấy gì để sinh. Cho nên con trai thì trái thuôc hỏa làm khí, phải thuộc thuỷ làm huyết; con gái thì trái thuộc thủy mà phải thuộc hỏa. Sự huyền diệu của gốc âm và gốc dương, nếu không xét đến cùng, thì có phải tắt vậy.
Kẻ bàn đến âm dương thường cho rằng đó là khí huyết, nào ai biết hỏa là gốc của âm huyết, nhưng âm dương thủy hỏa lại đều cùng ra từ một gốc. Bởi cùng ra từ một gốc mà không tách rời nhau, nên âm dương lại làm gốc lẫn cho nhau. Gốc của dương là ở âm, gốc của âm là ở dương, không có dương thì âm không lấy gì để sinh, không có âm thì dương không lấy gì mà hoá. theo âm mà dẫn dương, theo dương mà dẫn âm, đều tìm cái âm dương phụ thuộc mà xét tới cùng gốc của âm dương vậy. Người nay nhận lầm tâm, thận là chân hỏa, chân thủy, đó là vì không rõ đạo ấy. Đại khái trời sinh con người có cái tướng hỏa vô hình đi trong hai mươi lăm độ dương, chân thủy vô hình đi trong hai mươi lăm độ âm mà gốc của chúng thì vốn là cái chân thuộc về Thái cực, đó mới gọi là chân. Một khi thuộc về hữu hình tức là hậu thiên mà không phải là chân nữa.

 

http://www.nguyenkynam.com/ngu%20tieu%20y%20thuat/mucluc.htm

Wong Kar Wai

阿飛正傳 – Days of Being Wild (1991)

阿飞正传.Days.Of.Being.Wild.1991[粤语英文字幕]

 

Days of Being Wild

From Wikipedia, the free encyclopedia
Days of Being Wild
Days-of-being-wild-poster.jpg

Film poster for Days of Being Wild
Traditional 阿飛正傳
Simplified 阿飞正传
Mandarin Ā Fēi Zhèng Zhuàn
Cantonese Aa3 Fei1 zing3zyun6
Directed by Wong Kar-wai
Produced by Alan Tang
Written by Wong Kar-wai
Starring Leslie Cheung
Andy Lau
Maggie Cheung
Carina Lau
Jacky Cheung
Music by Terry Chan
Leuribna-Lombardo Oflyne
Cinematography Christopher Doyle
Edited by Kai Kit-wai
Patrick Tam
Distributed by In-Gear Films
Release dates
  • 15 December 1990
Running time
94 minutes
Country Hong Kong
Language Cantonese
Shanghainese
Mandarin
Filipino
English
Box office US$146,310 (Worldwide)

Days of Being Wild (Chinese: 阿飛正傳) is a 1990 Hong Kong drama film directed by Wong Kar-wai. The film stars some of the best-known actors and actresses in Hong Kong, including Leslie Cheung, Andy Lau, Maggie Cheung, Carina Lau, Jacky Cheung and Tony Leung Chiu-wai. Days of Being Wild also marks the first collaboration between Wong and cinematographer Christopher Doyle, with whom he has since made six more films.

The movie forms the first part of an informal trilogy, together with In the Mood for Love (released in 2000) and 2046 (released in 2004)

Film studies Wong Kar Wai

Happy Together (1997) by Wong Kar Wai

https://www.youtube.com/watch?v=6EGVJ6rMY3I
  1. Happy Together (1997 film)

    From Wikipedia, the free encyclopedia
    Happy Together
    Happy Together poster.jpg
    Traditional 春光乍洩
    Simplified 春光乍泄
    Mandarin Chūn guāng zhà xiè
    Cantonese Ceon1 gwong1 za3 sit4
    Directed by Wong Kar-wai
    Produced by Wong Kar-wai
    Written by Wong Kar-wai
    Starring Leslie Cheung
    Tony Leung
    Chang Chen
    Music by Danny Chung
    Tang Siu-lam
    Cinematography Christopher Doyle
    Edited by William Chang
    Wong Ming-lam
    Distributed by Kino International
    Release dates
    • 30 May 1997
    Running time
    96 minutes
    Country Hong Kong
    Language Cantonese
    Mandarin
    Spanish
    Box office HK$8,600,141
    $320,319 (US)

    Happy Together is a 1997 Hong Kong romance film directed by Wong Kar-wai, starring Leslie Cheung and Tony Leung Chiu-wai, that depicts a turbulent romance between two men. The English title is inspired by The Turtles’ 1967 song, which is covered by Danny Chung on the film’s soundtrack; the Chinese title (previously used for Michelangelo Antonioni’s Blowup) is an idiomatic expression suggesting “the exposure of something intimate.”

    The film received positive reviews from several film festivals, including a win for Best Director at the 1997 Cannes Film Festival.

Wong Kar Wai

墮落天使 Fallen Angels (1995) by Wong Kar Wai

https://www.youtube.com/watch?v=oqCr_3PDTps

Fallen Angels (1995 film)

From Wikipedia, the free encyclopedia
Fallen Angels
墮落天使
Fallen-Angels-Poster.jpg
Directed by Wong Kar-wai
Produced by Jeffrey Lau
Written by Wong Kar-wai
Starring Leon Lai
Takeshi Kaneshiro
Michelle Reis
Charlie Yeung
Karen Mok
Distributed by Kino International
Release dates
  • 6 September 1995
Running time
90 minutes
Country Hong Kong
Language Cantonese
Mandarin
Taiwanese
Japanese
English
Box office HK$7,476,025
$163,145 (US)
Fallen Angels
Traditional Chinese 墮落天使
Simplified Chinese 堕落天使

Fallen Angels is a 1995 Hong Kong movie written and directed by Wong Kar-wai, starring Leon Lai, Takeshi Kaneshiro, Michelle Reis, Charlie Yeung, and Karen Mok.

Fallen Angels can be seen as a companion piece to Chungking Express. It was originally conceived as the third story for Chungking Express, but Fallen Angels can be considered a spiritual sequel due to similar themes, locations and methods of filming, while one of the main characters lives in the Chungking Mansions and works at the Midnight Express food stall.

Film studies Văn học & Điện ảnh Wong Kar Wai

ASHES OF TIME REDUX (ĐÔNG TÀ TÂY ĐỘC) – (1994) by Wong Kar Wai

Ashes Of Time (1994) pt. 1

Ashes Of Time (1994) pt. 2

Ashes of Time

From Wikipedia, the free encyclopedia
Ashes of Time
Ashes2.jpg

Film poster
Traditional 東邪西毒
Simplified 东邪西毒
Mandarin Dōng Xié Xī Dú
Cantonese Dung1 Ce4 Sai1 Duk6
Directed by Wong Kar-wai
Produced by Wong Kar-wai
Jeffrey Lau
Jacky Pang
Screenplay by Wong Kar-wai
Story by Louis Cha
Starring Leslie Cheung
Tony Leung Ka-fai
Brigitte Lin
Tony Leung Chiu-Wai
Carina Lau
Charlie Yeung
Jacky Cheung
Maggie Cheung
Music by Frankie Chan
Roel A. Garcia
Cinematography Christopher Doyle
Edited by Hai Kit-wai
Kwong Chi-leung
William Chang
Patrick Tam
Production
company
Jet Tone Productions
Beijing Film Studio
Tsui Siu Ming Production
Scholar Films
Pony Canon Inc.
Distributed by Newport Entertainment (HK)
HKFM (US)
Release dates
  • 17 September 1994
Running time
100 minutes
93 minutes (Redux)
Country Hong Kong
Language Cantonese
Budget HK$40,000,000 (estimated)
Box office HK$9,023,583 (HK)
US$1,912,490 (Redux)

Ashes of Time (Chinese: 東邪西毒; pinyin: Dōngxié xidú; literally: “Eastern Heretic, Western Poison”) is a 1994 Hong Kong film written and directed by Wong Kar-wai, and loosely based on four characters from Jin Yong’s novel The Legend of the Condor Heroes.

Wong completely eschews any plot adaptation from the novel, using only the names to create his own vision of an arguably unrelated film. During the film’s long-delayed production, Wong produced a parody of the same novel with the same cast titled The Eagle Shooting Heroes.

Although it received limited box office success, the parallels Ashes of Time drew between modern ideas of dystopia imposed on a wuxia film has led many critics to cite it as one of Wong Kar-wai’s most under-appreciated works.

Due to the original prints being lost Wong re-edited and re-scored the film in 2008 for future theater, DVD and Blu-ray releases under the title Ashes of Time Redux. The film was reduced from 100 to 93 minutes. Both the original and Redux versions can still be found on Asian markets, while only the Redux version is available to western markets. Several criticisms of the Redux version have been noted, such as poor image quality and color mastering from the source material, cropping and removal of portions of the bottom image, poor English translations, and the re-scoring.

Wong Kar Wai

Chungking Express (1994) by Wong Kar Wai

Chungking Express (1994) pt. 1

Chungking Express (1994) pt. 2

 

Chungking Express

From Wikipedia, the free encyclopedia
Chungking Express
Chungking Express.jpg

Theatrical release poster
Cantonese Cung4 Hing3 Sam1 Lam4
Directed by Wong Kar-wai
Produced by Chan Yi-kan
Written by Wong Kar-wai
Starring Brigitte Lin
Tony Leung Chiu-Wai
Faye Wong
Takeshi Kaneshiro
Valerie Chow
Music by Frankie Chan
Roel. A Garcia
Cinematography Christopher Doyle
Lau Wai-Keung (Andrew Lau)
Edited by William Chang
Kai Kit-wai
Kwong Chi-Leung
Production
company
Jet Tone Production
Distributed by Ocean Shores Video (HK)Miramax Films
Rolling Thunder Pictures(US)
Release dates
  • 14 July 1994 (Hong Kong)
Running time
98 minutes
Country Hong Kong
Language Cantonese
Mandarin
English
Japanese
Hindi
Box office $600,200 (US)
HK$7,678,549 (HK)

Chungking Express (重慶森林) is a 1994 Hong Kong drama film written and directed by Wong Kar-wai. The film consists of two stories told in sequence, each about a lovesick Hong Kong policeman mulling over his relationship with a woman. The first story stars Takeshi Kaneshiro as a cop who is obsessed with the break-up of his relationship with a woman named May and his platonic encounter with a mysterious drug smuggler (Brigitte Lin). The second stars Tony Leung as a police officer who is roused from his gloom over the loss of his flight attendant girlfriend (Valerie Chow) by the attentions of a quirky snack bar worker (Faye Wong). The film depicts a paradox in that even though the characters live in densely packed Hong Kong, they are mostly lonely and live in their own inner worlds.

The Chinese title translates to “Chungking Jungle”, referring to the metaphoric concrete jungle of the city, as well as to Chungking Mansions in Tsim Sha Tsui, where much of the first part of the movie is set. The English title refers to Chungking Mansions and the Midnight Express food stall where Faye works.

Wong Kar Wai

As Tears Go By – 旺角卡門 (1988) by Wong Kar Wai

* AS TEARS GO BY (LỆ TÌNH LÃNG TỬ) – 1988 Phim đầu tay của Vương Gia Vệ

As Tears Go By (film)

From Wikipedia, the free encyclopedia
As Tears Go By
As Tears Go By.jpg
Traditional 旺角卡門
Simplified 旺角卡门
Mandarin Wàngjiǎo Kǎmén
Cantonese Wong6gok3 Kaa1mun4
Directed by Wong Kar-wai
Produced by Alan Tang
Written by Jeffrey Lau
Wong Kar-wai
Starring Andy Lau
Maggie Cheung
Jacky Cheung
Music by Danny Chung
Teddy Robin
Cinematography Andrew Lau
Edited by Cheung Pei-tak
William Chang (uncredited)
Production
company
In-Gear Films
Distributed by Kino International
Release dates
  • 9 June 1988
Running time
102 minutes
Country Hong Kong
Language Cantonese
Box office HK$11,532,283
(Hong Kong)
$9,436
(United States)

As Tears Go By is a 1988 Hong Kong action drama film that was the directorial debut of Wong Kar-wai and starred Andy Lau, Maggie Cheung and Jacky Cheung. Critics have compared the film to Martin Scorsese’s Mean Streets,as the central plot revolves around a small time gangster (Lau) trying to keep his friend (Cheung) out of trouble. It also screened at the 1989 Cannes Film Festival, duringDirectors’ Fortnight.

Film studies

Scent of a Woman (1992 film)

http://www.dailymotion.com/video/x2ij3zt

From Wikipedia, the free encyclopedia
Scent of a Woman
Scent of a Woman.jpg

Theatrical release poster
Directed by Martin Brest
Produced by Martin Brest
Screenplay by Bo Goldman
Based on Profumo di Donna
by Ruggero Maccari
Dino Risi
Il buio e il miele
by Giovanni Arpino
Starring Al Pacino
Chris O’Donnell
Music by Thomas Newman
Cinematography Donald E. Thorin
Edited by William Steinkamp
Michael Tronick
Harvey Rosenstock
Production
company
City Light Films
Distributed by Universal Pictures
Release dates
  • December 23, 1992
Running time
156 minutes
Country United States
Language English
Budget $31 million
Box office $134,095,253

Scent of a Woman is a 1992 American drama film produced and directed by Martin Brest that tells the story of a preparatory school student who takes a job as an assistant to an irascible, blind, medically retired Army officer. The film stars Al Pacino, Chris O’Donnell, James Rebhorn, Philip Seymour Hoffman, and Gabrielle Anwar.

A remake of Dino Risi’s 1974 Italian film Profumo di donna, it was adapted by Bo Goldman from the novel Il buio e il miele (Italian:Darkness and Honey) by Giovanni Arpino and from the 1974 screenplay by Ruggero Maccari and Dino Risi.

Pacino won the Academy Award for Best Actor for his performance and the film was nominated for Best Director, Best Picture and Best Adapted Screenplay. The film won three major awards at the Golden Globe Awards: Best Adapted Screenplay, Best Actor and Best Motion Picture – Drama.

The film was shot primarily around New York state. Portions of the movie were filmed on location at Princeton University in Princeton, New Jersey; at the Emma Willard School, an all-girls school in Troy, New York; and at the Ethical Culture Fieldston School in New York City.

Văn học & Điện ảnh Văn học Nhật Bản

1957 日本 电影版《雪国》 目新しい

https://www.youtube.com/watch?v=ERw0Cu6VypI&app=desktop

Snow Country (film)

From Wikipedia, the free encyclopedia
Snow Country
Snow Country 1957 Poster.gif

Original Japanese poster
Directed by Shirō Toyoda
Produced by Toho
Written by Toshio Yasumi
Based on Snow Country by Yasunari Kawabata
Starring Ryo Ikebe
Keiko Kishi
Kaoru Yachigusa
Music by Ikuma Dan
Cinematography Jun Yasumoto
Edited by Koichi Iwashita
Distributed by Toho
Release dates
1957
Running time
133 min.
Country Japan
Language Japanese

Snow Country (雪国, Yukiguni) is a 1957 black-and-white Japanese drama film directed by Shirō Toyoda based on the novel Snow Country by Yasunari Kawabata. The film was entered into the 1958 Cannes Film Festival.