Daily Archives

September 12, 2015

Film studies Hou Hsiao-Hsien

City_of_Sadness (1990) by Hou Hsiao-Hsien

https://www.youtube.com/watch?v=ia-4Cusuiek

A City of Sadness

From Wikipedia, the free encyclopedia
A City of Sadness
City of Sadness.jpg

Japanese DVD cover
Directed by Hou Hsiao-Hsien
Produced by Chiu Fu-sheng
Written by Chu Tien-wen
Wu Nien-jen
Starring Tony Leung Chiu Wai
Sung Young Chen
Jack Kao
Li Tian-lu
Music by S.E.N.S.
Cinematography Chen Huai-en
Edited by Liao Ching-song
Production
company
3-H Films
Distributed by Era Communications (Int’l rights)
Release dates
  • 4 September 1989(Venice Film Festival)
  • October 1989 (Taiwan)
Running time
157 minutes
Country Taiwan
Language Taiwanese
Mandarin
Japanese
Cantonese
Shanghainese

A City of Sadness (Chinese: 悲情城市; pinyin: bēiqíng chéngshì) is a 1989 Taiwanese historical drama film directed byHou Hsiao-Hsien. It tells the story of a family embroiled in the tragic “White Terror” that was wrought on the Taiwanese people by the Kuomintang government (KMT) after their arrival from mainland China in the late 1940s, during which thousands of Taiwanese were rounded up, shot, and/or sent to prison. The film was the first to deal openly with the KMT’s authoritarian misdeeds after its 1945 turnover of Taiwan from Japan, and the first to depict the 228 Incident of 1947, in which thousands of people were massacred.

A City of Sadness was the first Taiwanese film to win the Golden Lion award at the Venice Film Festival. In recent years, many critics have hailed it as a masterpiece; in the British Film Institute’s 2012 Sight & Sound poll, 14 critics and two directors named it one of the greatest films ever made, placing it at #117 in the critics’ poll and #322 in the directors’. The film was selected as the Taiwanese entry for the Best Foreign Language Film at the 62nd Academy Awards, but was not accepted as a nominee.

Film studies Hou Hsiao-Hsien

Goodbye South, Goodbye (1996) by Hou Hsiao-Hsien

https://www.youtube.com/watch?v=4rTD8V5wY4k

Goodbye South Goodbye

 

[goodbye poster]
image from Shochiku web site (Japan)
 


Taiwan, 1996

  • director: Hou Hsiao-hsien
  • producers: Katsuhiro Mizuno, Shozo Ichiyama, King Jieh-wen, Huang Chong, Ben Hsieh
  • executive producers: Kazuyoshi Okuyama, Yang Teng-kuei
  • screenplay: Chu Tien-wen, from a story by King Jieh-wen and Jack Kao
  • cinematography: Lee Ping-bin, Chen Hwai-en
  • editor: Liao Ching-song
  • design: Huang Wen-ying, Wang Che-cheng, Kuo Kuo, Chiu Yun-ru (costumes)
  • sound: Tu Du-che
  • music: Lim Giong
  • A 3H Films Production ; Team Okuyama
Film studies Hou Hsiao-Hsien

“Gia tài” ấn tượng của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền qua các mùa LHP Cannes

Là một trong những đạo diễn hàng đầu Châu Á, những tác phẩm cộp mác “Hầu Hiếu Hiền” đều gây ấn tượng mạnh mẽ với khán giả và các nhà làm phim.

Vừa qua tại lễ bế mạc Liên hoan phim Cannes lần thứ 68, đạo diễn Đài Loan Hầu Hiếu Hiền đã xuất sắc giành giải “Đạo diễn xuất sắc nhất” với bộ phim The Assassin (Nhiếp Ẩn Nương). Dù không được xướng tên lên nhận Cành cọ vàng, The Assassin vẫn gây ấn tượng mạnh với các nhà làm phim quốc tế bởi sự tinh tế đậm nét phương đông qua từng thước phim. Không chỉ có vậy, đạo diễn Hầu Hiếu Hiền gần như trở thành tâm điểm của giới truyền thông sau khi buổi lễ kết thúc. Hãy cùng nhìn lại các tác phẩm được thực hiện bởi vị đạo diễn tài ba này qua các mùa Cannes.
Đạo diễn Hầu Hiếu Hiền

1. Daughter of the Nile (1988)

Daughter of the Nile là tác phẩm góp mặt trong Directors’ Fortnight – một sự kiện được tổ chức song song với Liên hoan phim Cannes – vào năm 1988. Phim lấy tựa đề dựa theo cuốn truyện tranh nổi tiếng Nữ Hoàng Ai Cập của Nhật Bản. Tuy nhiên, nội dung của Daughter of Nile lại được đạo diễn Hầu Hiếu Hiền tập trung vào đời sống của những người trẻ tuổi trong cuộc sống đô thị Đài Bắc hiện đại. Tuy không được công chiếu rộng rãi nhưng tác phẩm này được khán giả trong nước và quốc tế đón nhận nồng nhiệt.
Nhân vật chính của phim là Lin Hsiao Yang – cô phục vụ bàn tại quán đồ ăn nhanh KFC. Vì vẫn còn là sinh viên, Hsiao Yang phải đi làm vào ban ngày và tham gia các khóa học vào buổi tối. Anh trai và mẹ cô đều đã mất. Cha của Hsiao Yang lại đi làm ăn xa. Gánh nặng cuộc sống đè nặng lên vai cô gái trẻ khi cô vừa phải tự lo cho bản thân vừa phải chăm sóc cô em gái đang tuổi trưởng thành cùng một em trai. Em gái của Hsiao Yang bắt đầu có biểu hiện ăn cắp vặt còn cậu em trai lại thường giao du với những thành phần xấu trong xã hội.
2. The Puppetmaster (1993)
The Puppetmaster là một trong những cột mốc đáng nhớ của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền tại Liên hoan phim Cannes. Tác phẩm này đã giúp ông giành được “Giải thưởng của ban giám khảo” (Jury Prize) vào năm 1993. Đây là bộ phim thứ hai nằm trong loạt tác phẩm lịch sử của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền. Hai tác phẩm còn lại là A City of Sadness (1989) và Good Men, Good Women (1995).
The Puppetmaster được xây dựng dựa trên cuộc đời của nghệ nhân rối nổi tiếng Đài Loan – Li Tian Lu từ khi ông sinh ra vào năm 1909 cho đến khi đất nước Đài Loan được tự do sau khi bị Nhật Bản đô hộ suốt 50 năm trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
3. Goodbye South, Goodbye (1996)
Vào năm 1996, đạo diễn Hầu Hiếu Hiền lần nữa “đem chuông đi đánh xứ người” tại Liên hoan phim Cannes với tác phẩm Goodbye South, Goodbye. Tuy được đánh giá cao về mặt nội dung nhưng tác phẩm này đã để mất Cành cọ vàng danh giá vào tay đối thủ sừng sỏ Secrets & Lies của đạo diễn người Anh – Mike Leigh.
Goodbye South, Goodbye là câu chuyện xoay quanh nhân vật Gao – kẻ ham mê cờ bạc. Bạn gái của Gao – Ying – làm việc tại một câu lạc bộ đêm. Cô hoàn toàn không thích những người bạn mà Gao đang giao du gồm: anh bạn Hsi, thầy cúng Flatty cùng cô người yêu của Flatty – Pletzel. Ying nghĩ rằng họ là những nhân tố nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến suy nghĩ của Gao. Ngoài ra, Gao đã thỏa thuận với Hsi để đầu tư vào một câu lạc bộ đêm tại Thượng Hải nhưng bị Ying phản đối kịch liệt. Thay vào đó, cô muốn anh ở lại Đài Loan và hai người sẽ cùng nhau mở một nhà hàng. Mong muốn kiếm được thật nhiều tiền một cách nhanh chóng khiến cuộc đời họ bị đẩy đến vực thẳm.
4. Flowers of Shanghai (1998)
Tiếp nối những thành công trước đó, Flowers of Shanghai lần nữa giúp đạo diễn Hầu Hiếu Hiền nhận được một đề cử giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes. Mặc dù không giành được giải thưởng này, đạo diễn Hầu Hiếu Hiền vẫn khiến các nhà làm phim phải ngả mũ thán phục. Nhà phê bình J Hoberman nhận định, Hầu Hiếu Hiền là một trong những đạo diễn xuất sắc của những năm 90. Còn Flowers of Shanghai là một trong 3 kiệt tác để đời của ông.
Flowers of Shanghai lấy bối cảnh tại Thượng Hải vào những năm 1880. Tại đây, có bốn nhà thổ nổi tiếng được giới thượng lưu thường xuyên lui tới. Nhân vật chính của phim là bốn cô gái: Crimson, Pearl, Emerald, Jasmine và Jade. Họ đều là những ngôi sao sáng của mỗi nhà thổ kể trên. Tuy nhiên, bốn cô gái đều phải chịu mọi sự tủi nhục, thậm chí là bị bạo hành bởi các má mì mỗi khi họ không chịu nghe lời. Mỗi người họ đều nhẫn nhịn chờ đến khi trả xong mọi khoản nợ để có thể tự chuộc mình và trở lại cuộc sống bình thường. Trong khoảng thời gian tiếp khách, một vài cô gái đã phải lòng chính vị khách của mình nhưng tình yêu của họ đều bị coi khinh.
5. Millennium Mambo (2001)
Millennium Mambo là tác phẩm tiếp theo được đề cử giải Cành cọ vàng và giành chiến thắng ở hạng mục “Hiệu ứng xuất sắc” tại Liên hoan phim Cannes năm 2001. Không những vậy, đạo diễn Hầu Hiếu Hiền còn mời nữ diễn viên Thư Kỳ đảm nhận vai nữ chính của phim.
Bộ phim là câu chuyện của nhân vật Vicky, kể về cuộc đời của cô 10 năm trước. Vào thời gian đầu của một thiên niên kỷ mới, số phận của Vicky đã hoàn toàn rẽ sang một hướng mới. Khi đó, cô làm nhân viên tại một quán bar. Không những vậy, cô gái trẻ Vicky còn bị giằng xé trong cuộc tình tay ba với hai người đàn ông.
6. Three Times (2005)
Một lần nữa, đạo diễn Hầu Hiếu Hiền tiếp tục tin tưởng giao phó vai chính cho nữ diễn viên Thư Kỳ. Tuy được đề cử giải Cành cọ vàng nhưng Three Times (Ba Lần) lại thất bại dưới những đối thủ khác trong Liên hoan phim Cannes năm 2005.
Về nội dung, Three Times xoay quanh câu chuyện tình yêu của hai nhân vật chính – May và Chen – qua từng giai đoạn đáng nhớ: 1911 (A time for love), 1966 (A time for freedom) và 2005 (A time for youth). Phim nhận được nhiều bình luận tích cực từ giới truyền thông và khán giả khi ra mắt tại thị trường Bắc Mỹ.
7. The Assassin (2015)
Sau mười năm, cặp đôi Thư Kỳ – Trương Chấn lần nữa tái ngộ trong tác phẩm The Assassin (Nhiếp Ẩn Nương) của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền.  Mặc dù không giành được giải Cành cọ vàng nhưng The Assassin đã mang về cho ông giải “Đạo diễn xuất sắc” của Cannes 68.
(Tổng hợp)

Theo

Haylee / Trí Thức Trẻ

Film studies Trần Anh Hùng

Và anh đến trong cơn mưa – I Come With the Rain (2009) – Trần Anh Hùng

https://www.youtube.com/watch?v=cjrCoI47nos

Lee Byung Hun đóng phim của Trần Anh Hùng

Thứ Tư, 30/09/2009 10:55

I Come With The Rain do nhà làm phim Pháp gốc Việt Trần Anh Hùng đạo diễn và Lee thủ diễn chính bên cạnh ngôi sao Hollywood Josh Hartnett cùng tài tử Nhật Bản Takuya Kimura. Tác phẩm điện ảnh này sẽ dự LHPQT Pusan lần thứ 14 diễn ra trong tháng tới trước khi có mặt tại các rạp chiếu khắp Hàn Quốc vào ngày 15/10.“Tôi đã cân nhắc cả năm trời rồi mới quyết định tham gia I Come With The Rain”, Lee bộc bạch và giải thích rằng việc chọn tác phẩm điện ảnh này “là một thử nghiệm. Khi mới đọc kịch bản, tôi nghĩ nó quá trừu tượng, khó hiểu. Tôi từng tự hỏi rằng: Liệu mình có thể hoàn tất được vai diễn khi không hiểu rõ nội dung? Đạo diễn Trần Anh Hùng có biết nhiều về tôi hay chỉ nghe qua hoặc xem đôi ba bộ phim mà tôi đã đóng vai chính? Nhưng tôi tò mò muốn biết những mặt mạnh của vị đạo diễn này, người không có một chút định kiến nào về tôi. Tôi muốn xem anh ấy sẽ sử dụng mình như thế nào”.

Trong phim này, chàng diễn viên 39 tuổi thủ vai trùm mafia Hong Kong Su Dongpo. Hartnett thì vào vai viên cảnh sát Mỹ Kline chuyển nghề thành thám tử tới Hong Kong để tìm kiếm Shitao (Kimura), cậu con trai bị mất tích của một nhà tỷ phú. Khi biết Shitao có quan hệ tình cảm với người tình Lili của mình thì Su Dongpo đã tức điên lên và tìm cách bắt anh ta…

Lee nói rằng việc tham gia bộ phim I Come With The Rain là “một bước ngoặt trong sự nghiệp của tôi”. Là người luôn mong chờ có những vai diễn “làm lay động trái tim khán giả và thậm chí những cây cầu bằng đá”, Lee tâm sự: “Dù rất tò mò khi đọc kịch bản phim này nhưng tôi không thể nhận lời mời ngay vì cảm thấy hơi lo lắng. Nhưng sau đó, tôi tự nhủ rằng nếu tò mò thì cứ mạo hiểm tiến tới. Diễn viên là nghiệp của tôi, nhưng tôi không biết mình có thể làm việc trong điều kiện tốt nhất được bao lâu”.

Trong quá trình quay phim, Lee thường rơi vào tình trạng lúng túng bởi Trần Anh Hùng có phong cách làm phim là để cho các diễn viên tự nhập vai theo cách của họ, song nhờ vậy mà tài tử người Hàn Quốc có được trải nghiệm mới. “Đạo diễn Trần Anh Hùng luôn nói với tôi là hãy diễn theo cách mình thích. Ban đầu, tôi rất ức chế khi diễn cả một trường đoạn nhưng sau khi biên tập thì chỉ còn lại có 5 giây. Hoặc có lúc tôi phải diễn liên tục các cảnh mà không nhận được sự chỉ đạo nào cả. Nhưng dần dần tôi lại thích như vậy”.

Trong khi phải cân nhắc tới cả năm mới quyết định tham gia I Come With The Rain thì Lee chỉ cần 3 tháng để nhận lời mời đóng trong G.I.Joe: The Rise Of Cobra và 1 tháng cho The Good, The Bad, The Weird. Anh đã có một quãng thời gian vất vả do bộ phim của Trần Anh Hùng – với nhiều cảnh quay tại Hong Kong – và The Good, The Bad, The Weird – có bối cảnh ở Đại lục – được thực hiện cùng thời điểm. “Ban đầu, tôi nghĩ sẽ chẳng có vấn đề gì nếu bay đi bay lại giữa Hong Kong và Đại lục. Song bối cảnh trong phim The Good, The Bad, The Weird lại ở sa mạc, vì vậy tôi phải chuyển máy bay ba lần và thời gian chờ đợi dài tới 13 tiếng. Lần thứ ba tới đây, tôi đã bị sốt rất cao và đó là lần đầu tiên trong đời tôi phải vào một bệnh viện ở nước ngoài”, Lee cho biết.

Được hỏi cảm tưởng khi phải dành nhiều tâm sức khi tham gia những bộ phim này, Lee đáp rằng đương nhiên là anh cảm thấy có nhiều áp lực nhưng đã luôn cố gắng ở mức tốt nhất để vượt qua điều đó. “Áp lực hay trách nhiệm khi diễn xuất trong những bộ phim có quy mô nhỏ cũng không hề thấp. Song nếu không chuẩn bị tâm lý tốt thì khi tham gia một bộ phim lớn, diễn viên sẽ bị ám ảnh rồi khó nhập vai bởi suy nghĩ mình đang đóng trong phim có kinh phí cao. Tự do là yếu tố quan trọng nhất đối với một diễn viên. Tôi thích được tự do trong suy nghĩ. Tôi cũng thích được đánh giá, lo lắng và đối diện với thử thách, suy nghĩ về bất cứ dự án điện ảnh nào mà mình sẽ tham gia”, Lee giãi bày.

Lương Tuấn Vĩ
Nguồn:
http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/lee-byung-hun-dong-phim-cua-tran-anh-hung-n20090930094952669.htm
Film studies Trần Anh Hùng

Rừng Nauy – Norwegian Wood (2010) – Trần Anh Hùng

https://www.youtube.com/watch?v=MRHDhYSJ0BA

Trần Anh Hùng kể chuyện ‘chạm trán’ Haruki Murakami

Đạo diễn người Pháp gốc Việt toát mồ hôi khi nhà văn nổi tiếng không hề nhìn anh trong buổi xin chuyển thể sách ‘Rừng Nauy’.

Buổi chiếu phim Rừng Nauy tại TP HCM vào tối 9/5 bị dời ngày vì máy chiếu không đọc được mã của bản phim mang từ Hà Lan về. Trong sự cố lại có cái hay. Hàng trăm khán giả có thêm thời gian ngồi lại cùng trò chuyện với đạo diễn Trần Anh Hùng, một trong số những đạo diễn gốc Việt làm vinh danh điện ảnh nước nhà.

Sang nước ngoài định cư từ nhỏ, Trần Anh Hùng nói tiếng Việt khá cứng và nhiều lúc thiếu vốn từ. Tuy vậy, anh vẫn có cuộc trò chuyện thú vị bằng tiếng mẹ đẻ với phong cách cởi mở, hài hước.

Có khán giả đến với buổi chiếu không hẳn để xem phim. Không ít người đãthưởng thức tác phẩm này trước đây hoặc qua bản DVD. Mục đích của họ là được trò chuyện và giao lưu với người đạo diễn có những tác phẩm điện ảnh cá tính. Vì thế, suốt hơn một giờ đồng hồ, Trần Anh Hùng liên tục nhận được những câu hỏi, cũng như chia sẻ của người xem về các bộ phim anh từng thực hiện.

Điều mà nhiều người quan tâm nhất là anh đã làm việc với Murakami như thế nào để ông đồng ý cho một đạo diễn không phải người Nhật chuyển thể tác phẩm để đời của mình.

sach-to-jpg-1368181499-1368181572_500x0.
Haruki Murakami tin tưởng để Trần Anh Hùng chuyển thể “Rừng Nauy”.

Rừng Nauy là quyển sách đầu tiên của Murakami mà Trần Anh Hùng đọc và ngay lập tức yêu thích. Từ đó, anh nung nấu ý muốn đưa câu chuyện này lên màn ảnh rộng. Mỗi lần sang Nhật, đạo diễn đều nêu lên mong muốn này của mình. Nhưng anh cũng được cho biết, từng có người dựng phim tác phẩm của Murakami và ông không thấy hài lòng với nên từ đó không muốn cho ai chuyển thể sách của mình.

Đến dịp bộ phim Mùa hè chiều thẳng đứng của Trần Anh Hùng ra mắt ở Nhật, thêm một lần nữa anh đề cập với nhà sản xuất phim ở đây về ý nguyện của mình và được cho biết, Murakami vừa đồng ý cho một người khác chuyển một truyện ngắn của ông thành phim. Đạo diễn được gợi ý là nên viết cho tiểu thuyết gia một lá thư để nói với ông về việc chuyển thểRừng Nauy.

“Tôi viết một lá thư rất đơn giản và xin ông cho một cuộc hẹn để trao đổi. Ông đồng ý ngay. Vài ngày sau tôi đến Tokyo và lúc này tôi mới biết cuốn sách của Murakami là best-seller suốt 17 năm ở Nhật. Đây cũng là tác phẩm rất đặc biệt với ông”, Trần Anh Hùng kể.

Ở Tokyo, Trần Anh Hùng phải nhiều lần có buổi làm việc, trao đổi với êkíp nhà sản xuất Nhật khoảng 12 người. Những buổi này chẳng khác nào cữ tập dượt trước để đạo diễn chuẩn bị tinh thần và “học” cách trả lời các câu hỏi xoay quanh dự án phim. Murakami nổi tiếng khó tính trong chuyện này.

Đến ngày hẹn gặp, Trần Anh Hùng cùng một đại diện nhà sản xuất và một người phiên dịch có mặt ở văn phòng của nhà văn. Khi Haruki Murakami bước vào, người ông đầm đìa mồ hôi và còn quấn cả chiếc khăn to. Ông vừa đi tập thể dục về là đến cuộc gặp ngay.

“Sau những câu chào hỏi xã giao, tôi bắt đầu trình bày vì sao muốn chuyểnRừng Nauy thành phim. Quả thật, nói chuyện với Murakami rất khó vì ông không bao giờ nhìn vào mặt mình mà cứ nhìn chằm chằm xuống dưới bàn. Lúc đó, tôi vừa nói vừa rất hồi hộp vì không biết là mình nói có đúng không, có gây được chút tác động hay hiệu quả nào với ông không. Khi tôi nói được chừng 5 phút, Murakami xin lỗi cắt ngang và nói ngắn gọn: ‘Nếu không phải là anh thì tôi sẽ không nhận gặp mặt ai cả về dự án này!'”, Trần Anh Hùng nhớ lại.

Watanabe Toru và Naoko trong 'Rừng Nauy' của Trần Anh Hùng.
Watanabe Toru và Naoko trong ‘Rừng Nauy’ của Trần Anh Hùng.

Lúc này, vị đạo diễn gốc Việt mới thở phào nhẹ nhõm và mở cờ trong bụng vì câu nói của nhà văn nổi tiếng đã tạo cho anh một thế rất mạnh trước nhà sản xuất. Đôi bên đều hiểu câu nói này hàm ý: Murakami giao cuốn sách của ông cho Trần Anh Hùng chứ không phải cho nhà sản xuất. Ngay sau đó, tiểu thuyết gia đưa ra hai điều kiện: Thứ nhất, ông cần đọc kịch bản trước. Điều này có nghĩa là nhà sản xuất phải trả tiền cho Trần Anh Hùng viết kịch bản và điều kiện này nhận được cái gật đầu ngay lập tức. Thứ hai, nhà văn cần biết chi phí phim là bao nhiêu.

Được sự ủng hộ của tiểu thuyết gia, sau đó, Trần Anh Hùng bắt tay vào viết kịch bản và chuyển cho nhà văn xem qua. Murakami dùng một màu mực khác để chia sẻ rất nhiều ý nghĩ của ông bên lề kịch bản. Không chỉ vậy, ông còn thêm vào nhiều lời thoại và nhiều cảnh mà ông nghĩ ra. “Những thêm thắt của Murakami vào kịch bản tôi thấy rất hay. Nhưng vì phải đảm bảo độ dài cho phim nên tôi chỉ giữ lại vài câu thoại”, đạo diễn nói.

Murakami và vợ rất yêu điện ảnh. Ông cũng từng xem qua các phim của Trần Anh Hùng. Với phim Rừng Nauy, ông dành nhiều lời khen tặng.

hong-anh-jpg-1368181572_500x0.jpg
Diễn viên Hồng Ánh (trái) gặp gỡ đạo diễn Trần Anh Hùng vào tối 9/5.

Không chỉ kể lại những kỷ niệm, kinh nghiệm trong quá trình thực hiện Rừng Na Uy và các bộ phim khác, Trần Anh Hùng còn bày tỏ nhiều quan điểm về phong cách làm phim của anh.

“Đừng nghĩ tôi có thể làm được tất cả các loại phim. Phim thương mại tôi cũng rất thích nhưng không biết cách làm. Đó là sự thật chứ không phải là cách nói khiêm tốn. Nếu làm phim với kỹ xảo thì tôi không thể nào làm được vì tôi không thể quay cùng diễn viên ở một nơi không có bàn ghế mà chỉ có tấm phông xanh rồi mới thêm cảnh vào sau đó. Tôi không thể nào cảm được cách làm này”, đạo diễn bày tỏ.

Vị đạo diễn sinh năm 1962 cũng không thích cách làm phim và những lời thoại hoàn toàn sao chép thực tế cuộc sống. Như trong Rừng Nauy, anh khá chăm chút cho lời thoại. Chúng có thể hơi dài nhưng cần có chất nhạc, nhịp điệu tạo cho nhân vật nét duyên dáng riêng.

Tối 10/5, Trần Anh Hùng tiếp tục dự chương trình “Voyage à Cannes” tại Tổng lãnh sự Pháp, TP HCM. Chương trình có sự góp mặt của nhiều nghệ sĩ, diễn viên, doanh nhân… Tại buổi này diễn ra cuộc đấu giá các vật phẩm để lấy tiền hỗ trợ cho YxineFF tổ chức tiệc phim, ủng hộ các tài năng điện ảnh của Việt Nam.

Thoại Hà 

Nguồn:

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/sau-man-anh/tran-anh-hung-ke-chuyen-cham-tran-haruki-murakami-2746805.html

Film studies Trần Anh Hùng

Xích Lô – Cyclo (1995) – Trần Anh Hùng

3 phim Việt Nam gây sửng sốt khi ra thế giới

(Tin tức giải trí) – “Đập cánh giữa không trung”, “Xích lô” và “Bi đừng sợ” khiến người xem bàng hoàng về những góc nhìn hiện thực xã hội Việt Nam.

Năm 1995, bộ phim Xích lô (Cyclo) công chiếu mở màn tại LHP Venice đã khiến khán giả thực sự sửng sốt với một góc nhìn mới mẻ về hiện thực Sài Gòn thập niên 1990.

Xích Lô là câu chuyện kể về thân phận người Sài Gòn thập niên 90
Chuyện phim Xích lô kể về một gã đạp xích lô trên răng dưới khố ở Sài Gòn. Là người thuộc tầng lớp dân đen dưới đáy xã hội, một ngày xích lô mất phương tiện kiếm sống nên đi đầu quân cho băng xã hội đen do một bà trùm cầm đầu. Xích lôđược giao đi theo một đàn anh khét tiếng (do Lương Triều Vỹ thủ vai), thực hiện những phi vụ phi pháp như phá hoại các kho gạo hay buôn thuốc phiện vào thành phố. Số phận đẩy đưa, chàng xích lô trẻ tuổi trải qua giai đoạn cùng quẫn và đen tối nhất của cuộc đời.
Điều bất ngờ với khán giả lần đầu xem Xích Lô là tính bạo lực trần trụi và khắc nghiệt tưởng như không thể xảy ra ngoài đời thực Sài Gòn. Nhưng mượn câu chuyện hư cấu bạo lực máu me nhiều chất 18+, Trần Anh Hùng lột tả một hiện thực xã hội lấy người dân lao động ở Sài Gòn làm trung tâm. Đó là không gian xã hội hậu chiến nhầy nhụa mồ hôi, nước mắt và cả máu.
Bi Đừng Sợ là câu chuyện tâm lý gia đình lột tả một hiện thực khác ở Hà Nội đương đại
Nếu đã xem Mùi đu đủ xanh (phim đầu tay của Trần Anh Hùng), người xem càng ngạc nhiên hơn khi Xích lô có một phong cách hoàn toàn khác. Nếu như Mùi đu đủ xanh là tuyệt phẩm của những khung hình duy mỹ trong trẻo đầy tính cổ tích tự nhiên, thì Xích lô là tác phẩm ấn tượng lấy chất liệu từ những gì xấu xí và khắc nghiệt nhất – máu, những dòng sông rác, những khu phố ổ chuột mất trật tự. Có thể nói, Xích lô là một sáng tạo đột phá ngoạn mục kể từ khi phim Kẻ cắp xe đạp (Bicycle Thief) của nhà làm phim Ý Vittorio De Sica ra mắt năm 1948.
Với góc nhìn lột tả bản chất hiện thực bằng những hình ảnh kể chuyện toàn bích,Xích lô được trao giải thưởng cao nhất LHP Venice 1995 – Giải Sư tử vàng. Tác phẩm lừng danh này sau đó đã bị cấm chiếu ở Việt Nam. Một điều độc đáo khác của Xích lô là đạo diễn Trần Anh Hùng sử dụng diễn viên hoàn toàn nghiệp dư vào vai chính. Chàng xích lô trong phim là anh Lê Văn Lộc, một người dân lao động miền Nam.
Đập cánh giữa không trung hứa hẹn là một bộ phim khắc nghiệt về tuổi vị thành niên Đông Nam Á
Nếu như Trần Anh Hùng gây tiếng vang trên thế giới khi đưa ra một hiện thực Sài Gòn thập niên 1990, thì Phan Đăng Di – người kế thừa phong cách phim Ấn tượngcủa Trần Anh Hùng, lại gây tiếng vang trên thế giới với một hiện thực Hà Nội đầu thế kỷ 21 qua phim đầu tay Bi Đừng Sợ. 
Bi Đừng Sợ kể về những trải nghiệm tuổi thơ của một cậu bé sáu tuổi tên Bi trong một gia đình trung lưu Hà Nội khi người ông nhiều năm đi biệt tích nay về nhà, sống nốt những ngày cuối đời trên giường bệnh. Từ đây, những rạn nứt và những góc tâm hồn ít biết của mỗi thành viên gia đình này dần hé mở – ông Bi, bố Bi, mẹ Bi và cô Bi.
Đề tài đầu tiên trong Bi Đừng Sợ, cũng là khía cạnh gây ồn ào nhất của phim là những ẩn ức tình dục của con người ở đất nước Á Đông khi bắt đầu hòa nhập và xã hội công nghệ thông tin. Thế nhưng ẩn ức tình dục chỉ là một thành tố dễ thấy, được hòa trộn vào câu chuyện bi kịch gia đình u tối đan cài trong giai đoạn đầu đời khám phá thế giới của một trẻ thơ.
Tác phẩm tâm lý gia đình của đạo diễn Việt chịu ảnh hưởng tử Satyajit Ray này hé mở cho người xem thấy hai phe. Những người đàn ông trong gia đình này hầu hết đều thất bại và bạc nhược, trong khi những người đàn bà luôn nhẫn nhịn và bao dung. Nhân vật người cô làm nghề giáo viên trong phim bị dày vò ẩn ức tình dục có những hành động vượt rào truyền thống nhất – đi xem trộm cậu học sinh mình thích đứng đái dưới mưa.
Một Hà Nội giàu những tiếng động ồn ào được xử lý qua những góc máy duy mỹ của Phan Đăng Di, trong một kịch bản ít cốt truyện này đã giành giải thưởng Kịch bản hay nhất tại Tuần lễ phê bình phim quốc tế ở LHP Cannes 2010. Một trong những khung hình được làm theo phong cách ấn tượng mang dấu ấn từ phim Trần Anh Hùng nhất trong Bi Đừng Sợ là cảnh cậu bé Bi nhìn vào bô nước đái dưới giường bệnh ông nội trong đó có một con thạch sùng đã chết.
Một hình ảnh khá “táo bạo” trong Đập cánh giữa không trung
Mới đây, Nguyễn Hoàng Điệp, nhà sản xuất của Bi Đừng Sợ tiếp tục gây ấn tượng tốt với giới phê bình Âu Mỹ. Bộ phim Đập cánh giữa không trung do Nguyễn Hoàng Điệp làm đạo diễn được một số phê bình gia từng xem phim tại LHP Venice đánh giá cao.
Chuyện phim kể về một cô gái tuổi teen bất ngờ có bầu liền phải xoay sở kiếm tiền phá thai bằng cách đi làm gái bán hoa. Bất ngờ cô gái trẻ gặp một người đàn ông chỉ mê thai nhi trong bụng mẹ. Tờ báo chuyên về điện ảnh uy tín của Mỹ là Hollywood Reporter khẳng định: “Đập cánh sử dụng những khuôn hình kiểu cách có tính mỹ cảm cao để bắt hiện thực khắc nghiệt về cuộc sống trong thành phố. Phim của Điệp đưa ra một cái nhìn ngọt ngào, nhục cảm và nhạy cảm về tình dục và tuổi vị thành niên ở Việt Nam”.
Ban tuyển chọn phim của LHP Venice từng viết trong thông cáo báo chí rằng Đập cánh giữa không trung là một lựa chọn gây sốc đối với họ. Còn quá sớm để nói thêm về bộ phim đã thuyết phục được Hiệp hội phê bình châu Âu và Địa Trung Hải này chưa được trình chiếu ở Việt Nam. Thế nhưng, với cốt truyện tóm tắt đã được hé mở, Đập cánh hứa hẹn là một góc nhìn mới về cuộc sống tuổi thành niên chơi vơi ở Đông Nam Á.
(Theo Một Thế Giới)
Film studies Trần Anh Hùng

Mùa hè chiều thẳng đứng – Vertical Ray of the Sun (2000) – Trần Anh Hùng

https://www.youtube.com/watch?v=EYE9VTMO3uI

Xem Mùa hè chiều thẳng đứng: Bản giao hưởng sắc màu

08/08/2005 10:02 GMT+7

TTO – Sau thời gian thật ngắn ra mắt tại VN, chưa kịp để lại ấn tượng gì trong lòng khán giả thì đã “biệt tăm”, nay bộ phim có cái tên khá lạ Mùa hè chiều thẳng đứng của đạo diễn Việt kiều Trần Anh Hùng lại tái ngộ trên thị trường băng đĩa trong nước.

 

Ba chị em Sương, Khanh, Liên khắng khít bên nhau

TTO – Sau thời gian thật ngắn ra mắt tại VN, chưa kịp để lại ấn tượng gì trong lòng khán giả thì đã “biệt tăm”, nay bộ phim có cái tên khá lạ Mùa hè chiều thẳng đứng của đạo diễn Việt kiều Trần Anh Hùng lại tái ngộ trên thị trường băng đĩa trong nước.

Ngoài tên phim, bộ phim VN từng được chọn tham dự Liên hoan phim quốc tế Cannes này còn hội tụ nhiều cái “lạ”: những khuôn hình, màu sắc thể hiện thật phong phú; những góc quay đẹp, tỉ mỉ; những lời thoại trau chuốt mà không hề sáo rỗng, tạo cho người xem nhiều cảm xúc…

Mở đầu bộ phim là cảnh thức giấc trong buổi sớm mai của hai anh em Hải (Ngô Quang Hải thủ vai) và Liên (Trần Nữ Yên Khê). Sau những bài tập thể dục trên nền nhạc du dương, cả hai bắt đầu một ngày mới vui vẻ. Hải đến trường quay, tiếp tục tập tễnh với những vai diễn mà “khi lên phim sẽ bị cắt mất”. Liên vẫn ngày ngày sang phụ bán hàng cà phê cùng chị cả Sương (NSƯT Như Quỳnh) và chị kế Khanh (NSND Lê Khanh).

Sau ngày giỗ quây quần ấm cúng với con gà luộc vàng ươm và mâm sôi ngút khói, câu chuyện bắt đầu xoay quanh ba chị em gái. Tuy hai người chị lớn đã có gia đình riêng nhưng cả ba chị em vẫn thường quấn quýt bên nhau hàn huyên đủ chuyện, trông họ thật hạnh phúc. Thế nhưng khi rời nhau ra, cả ba lại có những cảnh đời riêng biệt và dường như đang đứng ở ba chặng đường. Chị Sương bấy lâu đã có trục trặc trong quan hệ với chồng (một nhà nhiếp ảnh nghệ thuật), để rồi dần trôi vào ánh chiều tà của hôn nhân. Chị Khanh lại đang đắm chìm trong hạnh phúc lứa đôi bên anh chồng nhà văn lịch lãm. Còn Liên – cô gái sôi nổi, hoạt bát – thì chỉ chớm bước đến ngưỡng cửa yêu đương.

Một lần hẹn, Liên lặng lẽ ngóng chờ người yêu

Ba chặng đường riêng biệt ấy lại bỗng có lúc gặp nhau vào một ngày u ám, khi ba chị em đến với nhau nhưng không bằng những câu chuyện hồn nhiên, ấm áp thường lệ: Sương bàng hoàng nghe chồng nói lời chia tay, Khanh đau đớn phát hiện chồng “có vấn đề”, và Liên hoang mang vì trót… có thai với người yêu…

Mùa hè chiều thẳng đứng không đưa ra một cái kết cụ thể, mà chỉ tựa như một lời tự sự, thổn thức về tình yêu, cuộc sống thông qua một khoảng đời của ba chị em Hà thành rất mực thương yêu nhau. Nói như đạo diễn Trần Anh Hùng: “Đây là tác phẩm điện ảnh đặt ra nhiều vấn đề, trong đó có sự bội tín và khát vọng tình yêu đôi lứa”.

Đã có nhiều thắc mắc xung quanh tên phim “hơi bị” đặc biệt này, và trong một lần trả lời phỏng vấn, Trần Anh Hùng cho biết: “Tôi luôn lựa chọn những tiêu đề mới nghe qua không có ý nghĩa gì cả và càng ít sự liên hệ để khán giả đoán về nội dung phim càng tốt. Chỉ cần chúng tạo được một chút chất nhạc hay chất hình là được”.

Cũng như Mùi đu đủ xanh, trong Mùa hè chiều thẳng đứng, đạo diễn Trần Anh Hùng rất chú trọng đến ngôn ngữ hình ảnh, và quả thật anh đã thành công ở mặt này. Cảnh ba chị em quây quần bên nhau làm cỗ ngày giỗ trông thật đáng yêu, cảnh gội đầu bên hồ nước trong veo, cảnh câu cá giữa bốn bề mây núi thiên nhiên tuyệt đẹp, kể cả những trận mưa phùn đặc trưng xứ Bắc… tất cả đều được lột tả kỹ càng, mang đến cho người xem nhiều cảm xúc về sự bình dị, đầy chất thơ của những truyền thống và con người VN. Hầu hết các cảnh quay trong phim đều có hoa, màu sắc được phối hợp hài hòa từ trang phục diễn viên cho đến cái bàn, cái ghế, bức tường…

Có thể nói đây là một bữa tiệc ngon về hình ảnh và màu sắc.

Xem phim Trần Anh Hùng xong lại chợt thắc mắc: cũng những con người VN, cảnh vật VN bình dị ấy, sao ít thấy các đạo diễn trong nước chịu đầu tư khám phá vẻ đẹp để chuyển tải lên màn ảnh nhỉ?

HẢI NGUYỄN

Nguồn:
http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/giai-tri-hom-nay/20050808/xem-mua-he-chieu-thang-dung-ban-giao-huong-sac-mau/92540.html
Film studies Trần Anh Hùng

Mùi Đu Đủ Xanh – The Scent of Green Papaya (1994) – Trần Anh Hùng

https://www.youtube.com/watch?v=pNlp_0sSAwA

Phong cách Trần Anh Hùng trong ‘Mùi đu đủ xanh’

“Mùi đu đủ xanh” không chỉ mang những ý nghĩa cụ thể mà chính những điều nó khơi gợi để khán giả tự suy tưởng lại khiến dư vị của bộ phim thêm sâu sắc. Dư vị đó có lẽ cũng như “mùi đu đủ xanh” – thứ mùi bình dị mà đặc biệt, khó quên… (Dạ Vũ)

Trong số những đạo diễn Việt kiều, Trần Anh Hùng là người đáng chú ý và có phong cách ấn tượng nhất. Ngay từ khi khởi đầu sự nghiệp điện ảnh với bộ phim Mùi đu đủ xanh, anh đã khẳng định tài năng của mình bằng giải Camera D’or tại Liên hoan phim Cannes năm 1993. Mùi đu đủ xanh cũng là bộ phim thể hiện rõ phong cách đặc trưng của đạo diễn Trần Anh Hùng.

S

Man San Lu và Trần Nữ Yên Khê – hai nữ diễn viên thể hiện vai Mùi lúc nhỏ và khi lớn lên. Ảnh: Président Films.

Phong cách luôn là điều mà bất cứ đạo diễn chân chính nào cũng cần và muốn tạo được trong những tác phẩm của mình. Nhưng để tạo nên một phong cách riêng lại là điều không hề đơn giản, bởi phong cách không chỉ thể hiện qua vài ba yếu tố, “mảng miếng” đạo diễn phô bày trình diễn mà phải biểu lộ ở mọi thành phần trong sự kết hợp nhuần nhuyễn, hài hòa và thống nhất. Chính vì thế, có thể khẳng định rằng chỉ những đạo diễn có tài mới có khả năng tạo nên được phong cách. Với Mùi đu đủ xanh, Trần Anh Hùng đã khẳng định mình là một đạo diễn tài năng, đầy triển vọng.

Xem Mùi đu đủ xanh, có thể nhận thấy phong cách Trần Anh Hùng xuyên suốt bộ phim, biểu hiện rõ nét qua tiết tấu đều chậm rãi (monotone). Tiết tấu này được tạo nên bởi hầu hết yếu tố trong chỉnh thể tác phẩm.

Yếu tố đầu tiên dễ nhận thấy là sự di chuyển chậm rãi của các nhân vật trong phim. Hầu hết nhân vật thường đi lại, cử động… một cách từ tốn, nhẹ nhàng. Hầu như không hoặc ít có những hành động mạnh, gấp gáp, di chuyển nhanh. Lời thoại của nhân vật cũng rất ít, được nói chậm. Giữa những đoạn đối thoại của các nhân vật thường có một khoảng im lặng hoặc chỉ có một nhân vật nói còn nhân vật kia không đáp lời. Chính những điều đó đã tác động trực tiếp đến cảm nhận của khán giả về tiết tấu chậm rãi của phim.

Một yếu tố nữa cũng có vai trò rất quan trọng làm nên tiết tấu monotone – đó là quay phim. Kết hợp với chuyển động từ từ của nhân vật, máy quay cũng thường di chuyển chậm theo chiều tiến của nhân vật – thường theo chiều ngang. Cách quay ấy rất phù hợp với diễn xuất từ tốn, nhẹ nhàng của diễn viên cũng như với không khí chung của bộ phim. Đạo diễn Trần Anh Hùng đã thể hiện những quan sát tinh tế của mình qua những khuôn hình cận và đặc tả được sử dụng rất nhiều trong phim. Đó như những cái nhìn ghi nhận tỉ mỉ về thiên nhiên, vì thế máy quay thường đứng yên tạo nên những cảnh tĩnh khá lâu. Những cảnh khá dài ấy (khoảng từ vài chục giây trở lên) lại thường được đặt nối tiếp với nhau, làm cho hiệu quả tiết tấu chậm càng rõ hơn.

S

“Mùi đu đủ xanh” có tiết tấu chậm và đi sâu vào tâm lý, cảm xúc của người xem. Ảnh: Président Films.

Nếu như diễn xuất và quay phim là những yếu tố có thể nhận thấy ngay qua hình ảnh thì kịch bản – cụ thể là cách triển khai các sự kiện lại phải tìm hiểu kỹ hơn mới thấy được. Trong bộ phim này, đạo diễn đã có ý đồ rất rõ ràng trong việc xử lý các tình huống, sự kiện để giữ được tiết tấu chậm nhất quán. Có thể thấy bộ phim được chia làm hai mảng khá khác biệt: một mảng là lúc cô bé Mùi còn nhỏ và mảng thứ hai là 10 năm sau, khi Mùi đã trở thành một thiếu nữ. Hai mảng này khác nhau cả về nội dung lẫn cách triển khai, kết cấu các sự kiện.

Ở mảng một, các sự kiện nối tiếp nhau không theo nguyên tắc nhân – quả, không gắn với nhau trong một đường dây liên tục chặt chẽ mà được sắp xếp một cách tự do, ngẫu hứng. Còn mảng hai lại triển khai sự kiện theo nguyên tắc kinh điển – “mối tình tay ba” nên các sự kiện được liên kết chặt hơn. Tuy có sự khác biệt như vậy nhưng cả hai mảng vẫn thống nhất trong phong cách xử lý của đạo diễn là việc ghìm các xung đột, mâu thuẫn, không thể hiện hết và đẩy chúng đến cao trào.

Ở cả hai mảng của bộ phim đều có những sự kiện gây kịch tính như tình huống bà chủ nhà bị ông chống lấy hết tiền bạc rồi bỏ đi hay cả sự việc ông chủ trở về bất ngờ trong mảng một, hay mâu thuẫn mối tình tay ba ở mảng hai đều không được đẩy lên để tạo sự căng thẳng mà lại bị ghìm xuống, xử lý một cách “nhẹ nhàng”. Thêm vào đó, tác giả không trình bày sự phát triển mà chỉ bộc lộ tính cách nhân vật. Điều đó làm người xem có cảm giác nhân vật trong phim hơi đơn giản, ít có sự thay đổi và không sắc nét. Những điều đó chắc hẳn hoàn toàn nằm trong ý đồ nghệ thuật của đạo diễn nhằm duy trì tiết tấu monotone từ đầu đến cuối phim.

S

Đạo diễn Trần Anh Hùng và vợ – nữ diễn viên Trần Nữ Yên Khê. Ảnh: S.T.

Tuy vậy, phong cách sẽ chỉ còn là sự phô diễn tay nghề của một đạo diễn nếu nó tách rời những giá trị, ý nghĩa, nghĩ suy mà người nghệ sĩ muốn gửi gắm đến khán giả. Trong phim Mùi đu đủ xanh, Trần Anh Hùng thông qua những cách thể hiện riêng đã bày tỏ những cảm nhận của bản thân cũng như gợi cho người xem nhiều suy tưởng về cuộc sống, con người Việt Nam. Qua những nhân vật trong phim, ta nhận ra những nét đặc trưng rất Việt: đó là thân phận nhẫn nại, cam chịu, hy sinh của người phụ nữ. Chính tiết tấu chậm thể hiện ở chuyển động của cả nhân vật và máy quay, lời thoại… đã góp phần xây dựng nên tính cách thầm lặng, nhẫn nhịn của những nhân vật như Mùi, bà chủ nhà, bà mẹ chồng… Ngoài ra, việc ghìm xung đột kịch tính ở các tình huống mâu thuẫn càng làm nổi bật hơn sự cam chịu, chấp nhận số phận của các nhân vật ấy. Tính cách nhân vật không thể hiện sự phát triển, thay đổi nên tạo ấn tượng về sự nhịn nhục trước số phận an bài.

Bên cạnh cảm nhận về thân phận con người, đạo diễn còn dẫn dắt người xem đến với những cảm nhận tinh tế về thiên nhiên. Qua những khuôn hình cận – đặc tả, nhà làm phim đã chỉ cho ta những vẻ đẹp thú vị ở những con vật, sự vật rất bình thường, bé nhỏ. Qua đó, người xem khám phá ra vẻ đẹp trong sáng, thuần khiết của tâm hồn con người Việt Nam: biết yêu và trân trọng những điều kỳ diệu của thiên nhiên. Khán giả yêu mến tâm hồn ấy qua hình ảnh cô bé Mùi ngây thơ, dường như cô bé luôn ngạc nhiên trước mọi thứ diễn ra quanh mình. Hình ảnh Mùi tròn xoe mắt nhìn những giọt nhựa đu đủ trắng như sữa nhỏ xuống tán lá xanh, hay cô bé thích thú ngắm nhìn những cái hạt xinh xắn trong trái xanh là những khuôn hình giàu sức biểu cảm và gợi lên sự trong sáng, thuần khiết.

Mùi đu đủ xanh không chỉ mang những ý nghĩa cụ thể mà chính những điều nó khơi gợi để khán giả tự suy tưởng lại khiến dư vị của bộ phim thêm sâu sắc. Dư vị đó có lẽ cũng như “mùi đu đủ xanh” – thứ mùi bình dị mà đặc biệt, khó quên.

Mùi đu đủ xanh đã trở thành cột mốc đáng nhớ trong sự nghiệp điện ảnh của Trần Anh Hùng. Bộ phim đã đánh dấu phong cách mà đạo diễn Việt Kiều tài năng này bước đầu hình thành và tiếp tục phát triển ở những tác phẩm sau này như Xích lô, Mùa hè chiều thẳng đứng, I Come With The Rain và sắp tới là Rừng Nauy.

* Thông tin phim:

Mùi đu đủ xanh (The Scent of Green Papaya)

– Năm sản xuất: 1993
– Đạo diễn và Biên kịch: Trần Anh Hùng
– Âm nhạc: Tôn Thất Tiết
– Hãng phát hành: Président Films (Pháp)
– Thể loại: Tâm lý/ Tình cảm
– Thời lượng: 104 phút
– Diễn viên: Trần Nữ Yên Khê, Man San Lu, Trương Thị Lộc…
– Doanh thu: 1,7 triệu USD
– Mùi đu đủ xanh là tác phẩm điện ảnh đầu tay của đạo diễn người Pháp gốc Việt Trần Anh Hùng. Phim từng giành giải Camera vàng tại LHP Cannes năm 1993 và giải César của Pháp dành cho Phim đầu tay xuất sắcMùi đu đủ xanh còn lọt vào đề cử Phim nước ngoài hay nhất tại lễ trao giải Oscar 1994.

Dạ Vũ

Nguồn:

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/cong-dong/binh-luan/phong-cach-tran-anh-hung-trong-mui-du-du-xanh-1908756.html

Film studies Wong Kar Wai

The Hand (Eros) by Wong Kar Wai

Củng Lợi và bàn tay thần ái tình

Bàn tay điệu nghệ của nàng kỹ nữ đã mở lối cho chàng thợ may học việc lần đầu bước vào vườn yêu. Chàng đã trúng mũi tên Eros ẩn trong bàn tay bỡn cợt ấy. Nhiều năm sau đó, bằng chính đôi bàn tay tài hoa, chàng trai âu yếm cảm nhận vóc dáng may cho nàng tấm áo đẹp cuối đời, với nguyên vẹn tình yêu ban đầu.

Đạo diễn Hong Kong Vương Gia Vệ đã thể hiện quan niệm về tình yêu và tình dục của ông trong Bàn tay, phần đầu trong ba phần của bộ phim Eros. Ba đạo diễn, ba phim ngắn về tình yêu và tình dục, đó là ý tưởng của Eros do nhà sản xuất phim Stéphane Tchal Gadjieff đưa ra. Ông nghĩ đến một tác phẩm điện ảnh của đạo diễn lão thành người Italy Michelangelo Antonioni cùng với hai “đạo diễn trẻ” chịu ảnh hưởng từ các tác phẩm của Antonioni. Dĩ nhiên là khi dự án này được đưa ra hồi năm 1995, cả Steven Soderbergh lẫn Vương Gia Vệ đều chưa nổi tiếng như hiện nay.

Tình yêu luôn là đề tài được khai thác trong điện ảnh. Qua tình yêu của chàng thợ may, đạo diễn Vương Gia Vệ đưa ra quan niệm của ông về tình yêu: Tình yêu lãng mạn vẫn có thể bắt đầu từ sự khoái cảm, và khi đã yêu, người ta yêu luôn mọi thứ thuộc về người đó, để rồi sẵn sàng tha thứ mọi thói hư tật xấu, sẵn sàng mở rộng vòng tay đón nhận khi người đó trở lại.

Chuyện xảy ra vào một buổi chiều mùa hè nóng nực năm 1963. Dương (Trương Chấn đóng), chàng thợ may học việc, lo lắng, bồn chồn trong lần đầu tiên đi thử áo cho khách hàng ruột của tiệm. Vị khách hàng đó là Miss Hua (Củng Lợi đóng), một gái bao hạng sang xinh đẹp nổi tiếng kiêu kỳ. Ngồi chờ trong căn phòng lộng lẫy xa hoa của nàng kỹ nữ, chàng thợ may trẻ tuổi trở nên lúng túng, ngượng nghịu khi nghe lỏm những âm thanh vọng ra từ phòng ngủ của nàng.

Khi những âm thanh đó lắng đi và người đàn ông ra về, Dương được gọi vào phòng của Hua. Dù đã cố kìm nén, chàng trai trẻ vẫn còn trong trạng thái bị kích thích bởi những âm thanh đã trót nghe lỏm. Xấu hổ vì những suy nghĩ đó, chàng đứng ở cuối giường của nàng, hai tay nắm chặt. Trễ nải trong tấm áo ngủ bằng ren, nàng vẫn đẹp lộng lẫy và gây ấn tượng thật sâu sắc. Thế rồi nàng hách dịch lên tiếng: “Đứng như trời trồng thế… bỏ tay xuống nào”, Dương làm theo lời nàng một cách vô thức.

“Cởi quần ra”, tiếng nàng lại thánh thót vang lên. “Hay là tôi sẽ mách sư phụ anh?”. Dương nín thở, gần như lịm đi, chẳng còn biết gì cả. “Trước giờ chưa bao giờ chạm đến người phụ nữ nào à? Thế thì làm sao anh có thể trở thành thợ may, một công việc mà anh sẽ phải sờ mó rất nhiều đàn bà”. Nàng đặt tay vào giữa hai chân Dương và nghịch ngợm phần đùi của anh. “Bây giờ nghe đây: sư phụ của anh già rồi. Ông ta nói anh là người có tài. Một ngày nào đó anh sẽ trở thành thợ may của tôi. Hãy nhớ cái cảm xúc này và anh sẽ may cho tôi những tấm áo thật đẹp”. Nàng lại xê dịch bàn tay. Dương bị giằng xé giữa tâm trạng bị kích thích, hưng phấn với sự ngượng ngùng, xấu hổ. Và rồi, cũng bất ngờ như khi bắt đầu, mọi chuyện đột ngột kết thúc.

Chàng thợ may đem lòng yêu nàng kỹ nữ từ đó… Rồi Dương trở nên một thợ may danh tiếng, còn sự nghiệp của nàng lại tuột dốc. Cuối cùng nàng sa vào cảnh túng thiếu. Thêm nhiều năm nữa trôi qua. Một lần, nàng gọi Dương đến để may giúp nàng một tấm áo mới, nàng chuẩn bị gặp lại người tình cũ sắp trở về từ Mỹ. Đó sẽ là cơ hội cuối cùng của nàng. Dương nói không cần phải lấy số đo, bởi anh biết rất rõ về cơ thể nàng, anh có thể đo bằng đôi tay của anh. Và khi những ngón tay của anh di chuyển trên cơ thể mảnh mai của nàng, nàng đã nắm lấy tay anh òa khóc. Thật chẳng may khi anh trở lại khách sạn với tấm áo, anh phát hiện ra nàng đã gia nhập đội ngũ gái đứng đường và đang mắc bệnh nặng.

Ba phần trong Eros nói về tình yêu, tình dục hay cả hai vấn đề? Mỗi đạo diễn trả lời bằng một cách riêng. Vương Gia Vệ chọn xoáy vào cả hai đề tài trên trong Bàn tay, Steven Soderbergh bàn về tình dục trongEquilibrium, còn phần The Dangerous Thread of Things của Michelangelo Antonioni thì chẳng dính dáng gì đến cả ba phương án trên.

Theo cây viết phê bình điện ảnh Roger Ebert, phim Bàn tay không có sự trần trụi, không có cảnh quan hệ rõ ràng, không có những cảnh quay khai thác vẻ đẹp hình thể của Củng Lợi. Phim tập trung vào tình huống và tính cách của nhân vật. Cô gái làng chơi gặp chàng thợ may trẻ, nắm bắt tâm lý của chàng thanh niên mới lớn, và rồi khiến chàng bị ám ảnh bằng một hành động gần như tình cờ của mình… “Những nhân vật của Bàn tay đọng lại trong ký ức và trí tưởng tượng của tôi. Tôi cảm thông với cả hai: nàng kỹ nữ buồn rầu chấp nhận sự thật: sắc đẹp phai tàn, những khách hàng biến mất, sức khỏe cũng không còn; còn chàng thợ may, người luôn luôn sẵn sàng làm nô lệ cho nàng. “Tôi trở thành thợ may bởi vì cô”, đó là lời ca tụng tuyệt vời nhất. Nàng hiểu điều đó và xúc động bởi lời ca ngợi đó, trong khi chưa bao giờ rung động trước vô số lời tâng bốc của hàng trăm khách hàng trước”, Roger viết.

Bàn tay không dài hơn 43 phút trong toàn bộ 104 phút của Eros, nhưng thật sự trở thành điểm nhấn trong ba phim, nói lên ý nghĩa thật sự của tình yêu và sự dâng hiến, xứng đáng được ca ngợi. Dẫu có nhiều luồng dư luận trái ngược về nội dung phim, nhưng Củng Lợi vẫn giữ im lặng. Cô chỉ nói đơn giản: “Tôi nhận lời đóng Bàn tay không chỉ vì tài năng của đạo diễn Vương Gia Vệ, mà còn vì tôi muốn tham gia Eros, một dự án chung với huyền thoại người Italy Michelangelo Antonioni…”.

Củng Lợi cũng không đề cập đến những khó khăn của đoàn làm phim khi phải thực hiện phim trong thời gian Hong Kong bị tê liệt bởi dịch SARS, khiến Bàn tay hoàn thành chậm hơn dự kiến. Với Eros, cả Củng Lợi, Trương Chấn và đạo diễn Vương Gia Vệ đã chứng tỏ một êkip rất nghiêm túc với công việc, dẫu có thể có những phá cách, những bước đi tiên phong không phải lúc nào cũng được đón nhận, đặc biệt là vấn đề tình yêu, tình dục, những vấn đề luôn được đánh giá bằng những cảm nhận riêng, đôi khi rất chủ quan.

Theo Tố Loan
Thanh Niên

http://dantri.com.vn/giai-tri/cung-loi-va-ban-tay-than-ai-tinh-1118035354.htm