Daily Archives

September 11, 2015

Film studies Wong Kar Wai

In The Mood For Love by Wong Kar Wai

https://www.youtube.com/watch?v=p0Q1bHqQT0E

In the Mood for Love

From Wikipedia, the free encyclopedia
In the Mood for Love
In the Mood for Love movie.jpg
Traditional 花樣年華
Directed by Wong Kar-wai
Produced by Wong Kar-wai
Written by Wong Kar-wai
Starring Maggie Cheung
Tony Leung
Music by Michael Galasso
Shigeru Umebayashi
Cinematography Christopher Doyle
Mark Lee Ping Bin
Edited by William Chang
Distributed by USA Films (US)
Release dates
  • 29 September 2000
Running time
98 minutes
Country Hong Kong
Language Cantonese
Shanghainese
French
Box office $12,854,953

In the Mood for Love is a 2000 Hong Kong film directed by Wong Kar-wai, starring Maggie Cheung and Tony Leung. It premiered on 20 May 2000, at the 2000 Cannes Film Festival, where it was nominated for the Palme d’Or.

The film’s original Chinese title, meaning “the age of blossoms” or “the flowery years” – Chinese metaphor for the fleeting time of youth, beauty and love – derives from a song of the same name by Zhou Xuan from a 1946 film. The English title derives from the song, “I’m in the Mood for Love”. Wong had planned to name the film Secrets, until listening to the song late in post-production. The movie forms the second part of an informal trilogy: The first part was Days of Being Wild (released in 1991) and the last part was 2046 (released in 2004).

Chen Kaige Film studies

YELLOW EARTH – 《黄土地》 – Chen Kaige

https://www.youtube.com/watch?v=sEqfyZGYVrM
  1. In the spring of 1939, an idealistic communist soldier (Wang Xueqi) takes to the Chinese countryside on a mission to collect spirited folk songs from the people. However, he soon discovers that these peasants don’t sing songs of joy but ballads that tell of their hardscrabble existence. Though he returns to the army, his speech on freedom makes a powerful impact on Cuiqiao (Xue Bai), a young girl who dreams of crafting a new future by following his example and enlisting in the communist army.
  2. Initial release: 1984 (China)
  3. Director: Chen Kaige
  4. Running time: 1h 31m
  5. Cinematography: Zhang Yimou
  6. Cast: Wang Xueqi, Xue Bai, Tan Tuo, Qiang Li
  7. Screenplay: Chen Kaige, Ziliang Zhang
Film studies Zhang YiMou

Trương Nghệ Mưu và bốn thập kỷ làm phim

Từ những tác phẩm đầu tiên, vị đạo diễn họ Trương đã luôn đề cao nghị lực, sức sống tiềm tàng của con người khi đối diện với nghịch cảnh.

Trương Nghệ Mưu là một trong những đạo diễn thành công nhất của điện ảnh Hoa ngữ. Sự nghiệp của ông trải dài suốt bốn thập kỷ với 21 bộ phim đủ thể loại từ chính kịch (Cao lương đỏ, Cúc đậu, Đèn lồng đỏ treo cao) đến tân hiện thực (Không thiếu một em), phim lấy đề tài xã hội đen (Hội Tam Hoàng Thượng Hải), phim hài (Thời gian hạnh phúc, Vụ án ba phát súng) và phim sử thi võ thuật (Anh hùng, Thập diện mai phục, Hoàng kim giáp).

Trương Nghệ Mưu đã nhiều lần “đem chuông đi đánh xứ người” và giành được hàng loạt giải thưởng điện ảnh danh giá: hai đề cử Oscar cho “Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất”, giải Sư Tử Vàng và Sư Tử Bạc tại LHP Venice, Giải Grand Prix tại LHP Cannes, giải Gấu Vàng tại LHP Berlin… Những bộ phim của ông cũng là bệ phóng giúp Củng Lợi và Chương Tử Di trở thành những ngôi sao điện ảnh đẳng cấp thế giới.

Đạo diễn Trương Nghệ Mưu.

Đạo diễn Trương Nghệ Mưu.

Chủ đề chính trong những bộ phim của đạo diễn họ Trương là sức sống của người dân Trung Hoa. Từ bộ phim đầu tay Cao lương đỏ(1987) đến bộ phim gần đây nhất là Quy lai (2014), Trương Nghệ Mưu đều thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến số phận con người khi phải đối diện với nghịch cảnh. Họ bị đày đọa, lăng nhục, thử thách, chịu đựng mất mát, song vẫn không bao giờ gục ngã hay đầu hàng. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, những nhân vật của Trương Nghệ Mưu cũng luôn tìm cách phản kháng, vươn lên, đòi hỏi quyền sống, quyền được làm người.

Những bộ phim đầu tiên của ông tập trung vào đả phá chế độ phong kiến tàn nhẫn hà khắc. Nhân vật chính trong những bộ phim ấy thường là những người phụ nữ bị mua về làm vợ bởi những gã nhà giàu keo kiệt, độc ác. Họ không được trân trọng, đối xử như một con người mà bị hành hạ, đánh đập, bị biến thành một thứ nô lệ tình dục, một kiểu máy đẻ. Bị đè nén trăm bề, nhưng những người phụ nữ trong phim của Trương Nghệ Mưu vẫn luôn vùng lên, phản kháng mãnh liệt. Đặc biệt, họ đều là những người có khao khát ái ân rất mạnh. Những phim thời kỳ đầu của đạo diễn họ Trương đều gắn liền với Củng Lợi – nàng thơ và người tình lâu năm của ông.

Cao lương đỏ (1987) xoay quanh nhân vật chính là Cửu Nhi, cô gái đương tuổi thanh xuân thì bị ép gả cho một gã chủ xưởng rượu mắc bệnh phong. Ngày lên xe hoa, cô gái xinh đẹp tràn đầy khát vọng yêu đương đã phải lòng người phu kiệu khỏe mạnh, vạm vỡ. Trong lần cô gái về thăm nhà, người phu kiệu đã cướp cô chạy vào rừng cao lương đỏ. Cả hai đã có ba ngày ân ái mặn nồng trên “chiếc giường cưới” làm bằng thân cây cao lương, giữa bối cảnh thiên nhiên rộng lớn.

Cũng chịu chung số phận bị gả bán, nhưng nhân vật Cúc Đậu trong bộ phim cùng tên lại có phần bi thảm, khốn khổ hơn. Mang tiếng là vợ của một chủ xưởng nhuộm, nhưng ban ngày Cúc Đậu phải làm việc cực nhọc như một con ở. Đêm đến, cô lại bị gã chồng vũ phu đánh đập, hành hạ vì không thể sinh cho hắn ta một cậu con trai nối dõi tông đường. Đau khổ, tuyệt vọng, Cúc Đậu dan díu với người cháu ruột của chồng tên là Dương Thiên Thanh. Cô biết Thanh vẫn thường ngắm trộm cô tắm qua lỗ thủng của chuồng ngựa nhưng vẫn để yên, thậm chí còn nhiều lần “gợi ý”, “bật đèn xanh” cho chàng ta vượt rào. Hai người ái ân vụng trộm bên bể nhuộm vải, ở ngoài đồng hoang, lò gạch, giếng nước cạn – bất cứ nơi nào tránh được con mắt dòm ngó, soi mói của thiên hạ.

Tương tự, Đèn lồng đỏ treo cao (1991) cũng kể về một cô gái phải lấy lẽ cho một lão gia giàu có. Lão gia này trước đó đã có ba bà vợ, mỗi người sống trong một tòa nhà biệt lập. Họ tìm mọi thủ đoạn để hãm hại nhau và tranh giành sự ân sủng từ người chồng. Bộ phim đem lại cảm giác căng thẳng và nghẹt thở trong màu đỏ nhức nhối của những chiếc đèn lồng cùng tiếng búa gõ chân đầy ma mị. Đây cũng là bộ phim tố cáo chế độ phong kiến cùng những hủ tục của nó một cách mạnh mẽ và ấn tượng nhất.

Cách mạng Văn hóa cũng là một đề tài trở đi trở lại trong phim của Trương Nghệ Mưu. Ông từng chia sẻ với báo giới  “Nhiều năm qua, tôi muốn làm phim về Cách mạng Văn hóa, để được kể về những nỗi khổ đau, về số phận và những quan hệ của con người trong một thế giới đầy hận thù, nơi con người không có khả năng tự chủ. Tôi không chỉ muốn làm một mà là nhiều phim về thời kỳ này, những bộ phim mang tính tự truyện hoặc là câu chuyện của người khác”.

Trương Nghệ Mưu đã có ít nhất ba phim đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến Cách mạng Văn hóa là Phải sống (1994), Chuyện tình cây táo gai(2010) và gần đây nhất là Quy lai (2014). Ông đã rất “tỉnh” và khôn ngoan khi không đi sâu vào việc phân tích nguyên nhân hay hậu quả từ những quyết định sai lầm của các nhà cầm quyền.

Khi kể lại lịch sử, ông cố gắng tránhphán xét, đổ lỗi cho bất cứ ai. Thay vào đó, vị đạo diễn họ Trương tập trung tôn vinh tình yêu, nghị lực sống, lòng vị tha của những con người Trung Hoa bình thường. Nhân vật chính trong những bộ phim ấy thường là một cặp vợ chồng hoặc một đôi tình nhân trẻ. Bất chấp mọi oan ức phải chịu, mọi nỗi đau mất người thân hay mất danh dự phải trải qua, họ vẫn luôn tìm được sức mạnh để cùng nhau đi qua thế kỷ 20 đầy bão tố.

Những bộ phim tiêu biểu trong sự nghiệp đến nay của đạo diễn Trương Nghệ Mưu.

Những bộ phim tiêu biểu trong sự nghiệp đến nay của đạo diễn Trương Nghệ Mưu.

Ông cũng dành nhiều sự quan tâm đến những số phận bé mọn, sống ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, ít được mọi người biết tới. Thu Cúc đi kiện (1992) kể về một người phụ nữ nông dân, bụng chửa vượt mặt, vẫn lặn lội khắp nơi để đòi lại công bằng cho chồng mình. Không thiếu một em(1999) kể về một cô giáo vùng cao lên thành phố, quyết tâm tìm lại đứa học trò nghèo. Đường về nhà (1999) là câu chuyện tình yêu giữa một thôn nữ và một thầy giáo làng. Đặc điểm chung của những nhân vật này đều là những người phụ nữ ít học, ngây thơ, thô mộc. Sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo khổ, họ vẫn luôn rực rỡ, mạnh mẽ và hồn nhiên như cây cỏ.

Đề cập đến những vấn đề lớn lao như số phận con người, vận mệnh của một dân tộc, song Trương Nghệ Mưu rất ít dùng đại cảnh hoành tráng, hoặc nhiều tuyến nhân vật. Ông ưa thu câu chuyện lại nhỏ gọn trong cuộc đời của một con người hoặc một gia đình. Nhân vật chính trong phim của Trương Nghệ Mưu chưa bao giờ là một đám đông hay một thứ lý tưởng nào đó mà đều là những con người với tên gọi, hình hài cụ thể và những câu chuyện riêng tư xúc động lòng người.

Đặc biệt, ngay từ những bộ phim đầu tiên, Trương Nghệ Mưu đã rất ý thức về việc “xuất khẩu” văn hóa Trung Hoa ra thế giới. Nếu Lý An là một đạo diễn quốc tế và khán giả xem Brokeback Mountain hay Life of Pi của ông sẽ rất khó xác định đây là phim của nước nào thì Trương Nghệ Mưu lại khác hẳn. Phim của ông mang tính địa phương rất rõ, tính dân tộc rất đậm. Một nét đặc sắc trong phim ông là những phong tục của người Hoa luôn được đạo diễn họ Trương giới thiệu hoặc “cài cắm” một cách khéo léo.

Trong Cao lương đỏ, đó là tục nấu rượu thủ công mà đáng nhớ nhất là màn tế rượu đầy hào sảng. Với Cúc Đậu, khán giả được làm quen với nghề nhuộm truyền thống. Cảnh những phiến vải lớn được treo trên cao rủ xuống hay cảnh bể nhuộm đỏ rực đều để lại những ấn tượng thị giác rất mạnh. Gầy đây, Trương Nghệ Mưu có tham vọng mở rộng thị trường phim quốc tế nên bắt đầu sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ chính và những diễn viên hạng A của Hollywood.

Kim lăng thập tam thoa và dự án Vạn lý trường thành là những ví dụ tiêu biểu cho xu hướng này. Tuy vậy, trong nhiều bài phỏng vấn, ông vẫn khẳng định: “Tôi chỉ nhận những dự án có câu chuyện liên quan đến Trung Hoa và có các yếu tố Trung Hoa trong đó. Nếu không, thì tôi cũng sẽ chẳng làm được nhiều nhặn gì”.

Giới phê bình cũng dành nhiều lời khen ngợi cho việc sử dụng màu sắc trong phim của Trương Nghệ Mưu. Những phim thời kỳ đầu của ông rất hay sử dụng màu đỏ – tông màu mà theo đạo diễn Lý An thì là “khó xử lý nhất trong sản xuất phim”. Đó là màu đỏ từ mặt trời, màu đỏ của rượu, của máu (Cao lương đỏ), màu đỏ của bể nhuộm, của lửa (Cúc Đậu), màu đỏ từ lồng đèn treo cao, từ váy cưới truyền thống của các cô dâu (Lồng đèn đỏ treo cao).

Đến Đường về nhà, Anh hùng, Thập diện mai phục, Hoàng kim giáp… thì bảng màu đã được mở rộng hơn: đỏ, lam, lục, trắng, vàng. Phim của Trương Nghệ Mưu luôn là một cuộc chơi với màu sắc, để lại những ấn tượng thị giác đậm nét trong lòng người xem.

Trương Nghệ Mưu và

Trương Nghệ Mưu và “nàng thơ” Củng Lợi thời trẻ.

Ông cũng tỏ ra là một đạo diễn thức thời và nắm bắt nhanh thị hiếu khán giả. Trương Nghệ Mưu hiểu rằng người trẻ không thích xem những phim quá nặng nề. Họ thích những phim có chủ đề đơn giản, thiên về giải trí nhiều hơn. Từ năm 2000 ông bắt đầu chuyển sang dòng phim võ thuật, tiêu biểu là Anh hùng (2002), Thập diện mai phục (2004), Hoàng kim giáp(2006), Kim Lăng Thập tam thoa (2011)… Hai bộ phim đầu nhận được nhiều lời khen ngợi từ các nhà phê bình, đồng thời cũng thắng lớn ở phòng vé. Tuy nhiên, hai bộ phim sau lại thiếu thuyết phục vì câu chuyện trong phim hời hợt, tham lam.

Trương Nghệ Mưu từng nhiều lần chia sẻ mong muốn được “đi bằng hai chân”: sẽ đồng thời sản xuất những phim bom tấn thương mại nhưng cũng vẫn theo đuổi dòng phim nghệ thuật kinh phí thấp. Giữa các quãng nghỉ của các phim bom tấn, ông lại quay trở về với những câu chuyện riêng tư, giản dị về số phận con người. Nhưng giới mộ điệu khó tính vẫn chưa thực sự hài lòng vì dường như gần đây Trương Nghệ Mưu đã “chiều” khán giả quá.

Phim của ông đã có đôi chút thỏa hiệp, dễ dãi. Ngay cả Chuyện tình cây táo gai và Quy lai, hai phim gần đây được đánh giá cao của Trương Nghệ Mưu cũng có vẻ gì đó sạch sẽ, đỏm dáng, khác xa vẻ thô mộc, chân chất, thuyết phục trong những tác phẩm thời kỳ đầu.

Tuy gần đây có đôi chút giảm sút phong độ, nhưng nhìn lại tất cả những gì mà vị đạo diễn hơn 60 tuổi này làm được, Trương Nghệ Mưu vẫn xứng đáng được coi là một huyền thoại của điện ảnh Trung Hoa. Vẫn luôn khát khao đổi mới và tràn đầy tham vọng, đạo diễn họ Trương là một tấm gương sống về lao động hết mình trong nghệ thuật.

Anh Trâm

Nguồn:

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/sau-man-anh/truong-nghe-muu-va-bon-thap-ky-lam-phim-3117627.html

Film studies Zhang YiMou

9 phim kết hợp ấn tượng của Trương Nghệ Mưu – Củng Lợi

Gần 30 năm hợp tác, Nghệ Mưu – Củng Lợi để lại những tác phẩm kinh điển như “Phải sống”, “Cúc Đậu”…

cu6.jpg

Cao lương đỏ (1987) cải biên từ tiểu thuyết cùng tên của Mạc Ngôn. Tác phẩm đánh dấu lần hợp tác đầu tiên của Trương Nghệ Mưu – Củng Lợi.

Khi biên kịch cho phim, Mạc Ngôn cho rằng Trương Nghệ Mưu không tinh tường khi chọn Củng Lợi đóng chính, ông sợ Củng Lợi sẽ làm hỏng toàn bộ tác phẩm. “Nhưng sự thật chứng minh rằng, tôi đã phán đoán sai”, Mạc Ngôn nói khi phim hoàn thành.

Cũng từ tác phẩm này, đạo diễn – diễn viên nảy sinh tình cảm. Trương Nghệ Mưu vì Củng Lợi mà bỏ vợ.

cuc.jpg

Cúc Đậu (1990) do Trương Nghệ Mưu, Dương Phượng Lương đạo diễn, với hai diễn viên chính Củng Lợi – Lý Bảo Điền. Phim bị cấm chiếu ở Trung Quốc nhưng lại nhận được nhiều khen ngợi từ giới phê bình nước ngoài. Cúc Đậu trở thành tác phẩm Trung Quốc đầu tiên được đề cử Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất tại giải Oscar.

Củng Lợi cho biết, khi đóng Cúc Đậu, có ý kiến gì cô đều nói trực tiếp với Trương Nghệ Mưu: “Tôi hợp tác với Trương Nghệ Mưu nhiều nhất, mỗi phim đều đạt được hiệu quả tốt, tôi rất thoải mái khi đóng phim cùng đạo diễn Trương. Chúng tôi quen với cách làm việc nhau, vì thế hợp tác ngày càng ăn ý”.

cungloi-4179-1417842635.jpg

Ngoài kết hợp với vai trò đạo diễn – diễn viên, Nghệ Mưu, Củng Lợi từng là bạn diễn trong phim Cổ kim đại chiến Tần dũng tình (A Terracotta Warrior, 1990). Tác phẩm kể về mối tình truyền kiếp của Mông Thiên Phóng (Trương Nghệ Mưu đóng) và Hàn Đông Nhi (Củng Lợi). Hai người nếm “trái cấm”, sau đó bị khép tội “Khi quân” và chịu hình phạt xử tử.

do.jpg

Đèn lồng đỏ treo cao ra mắt năm 1991, kể về cuộc đời của những người phụ nữ được gả vào gia đình bề thế. Các bà vợ lẽ ganh đua giành vị trí, để rồi cuối cùng chịu bi kịch thảm khốc. Tác phẩm giành giải Sư Tử Bạc tại LHP Venice 1991, được đề cử Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất tại Oscar.

cuc_1417613039.jpg

Thu Cúc đi kiện (1992) là phim về cuộc sống người dân nông thôn Trung Quốc. Củng Lợi đóng Thu Cúc, người phụ nữ mang bầu đi đòi công bằng cho chồng. Củng Lợi lột tả chân thực và xúc động người phụ nữ thôn quê chân chất, giàu lòng tự tôn. Vai diễn mang về cho cô giải thưởng Nữ diễn viên chính xuất sắc tại Liên hoan phim Venice năm 1992. Ngoài ra, phim giành giải Sư Tử Vàng tại LHP này.

phai.jpg

Phải sống (1994) được đánh giá là tác phẩm đỉnh cao của Trương Nghệ Mưu. Phim đi sâu vào số phận con người, thông qua chặng đường khốn khổ của nhân vật chính.

Phải sống nhận giải thưởng của Hội đồng giám khảo tại Liên hoan phim Cannes năm 1994. Cát Ưu cũng được vinh danh ở hạng mục Nam diễn viên chính xuất sắc.

Tuy nhiên đến nay, phim bị cấm chiếu ở Trung Quốc.

l-1833-1417840247.jpg

Trong Hội Tam Hoàng Thượng Hải (Shanghai Triad, 1995), Củng Lợi vào vai ca nữ Tiểu Kim Bảo – người tình của ông trùm xã hội đen họ Đường (Lý Bảo Điền đóng). Cùng lúc đó, Kim Bảo lại có tư tình với người đàn ông khác.

Hội Tam Hoàng Thượng Hải đánh dấu sự kết thúc của mối tình Trương Nghệ Mưu – Củng Lợi.

giap-4224-1417840247.jpg

Dù không còn là người tình của nhau, Nghệ Mưu – Củng Lợi chứng minh họ vẫn là “cặp bài trùng” trong điện ảnh. Năm 2007, bộ phim cổ trang hoành tráng Hoàng Kim Giáp ra mắt, nhận được sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Tác phẩm quy tụ nhiều diễn viên nổi tiếng: Châu Nhuận Phát, Củng Lợi, Châu Kiệt Luân, Lưu Diệp… Nhờ tác phẩm này, Củng Lợi giành danh hiệu Nữ diễn viên chính xuất sắc tại giải Kim Tượng.

lai.jpg

Năm 2014, Trương Nghệ Mưu – Củng Lợi tái hợp với Coming Home (Trở về) – phim cảm động về số phận con người trong và sau Cách mạng Văn hóa. Trong phim, Trương Nghệ Mưu dành nhiều cảnh quay tập trung vào biểu cảm trên gương mặt Phùng Uyển Dụ (Củng Lợi đóng), cho thấy khả năng diễn xuất tuyệt vời của nữ diễn viên.

Trong một lần giới thiệu tác phẩm, Trương Nghệ Mưu nói rằng Củng Lợi là nữ diễn viên hợp tác với ông nhiều nhất và rất khó có người thứ hai như vậy. Với ông, Củng Lợi là duy nhất.

Hải Lan

Nguồn:

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/sau-man-anh/9-phim-ket-hop-an-tuong-cua-truong-nghe-muu-cung-loi-3113168.html

Film studies Zhang YiMou

CÚC ĐẬU – 《菊豆》

https://www.youtube.com/watch?v=p4IaNzofg0w
Đạo diễn:
Trương Nghệ Mưu, Dương Phượng Lương
Diễn viên:
Củng Lợi, Lý Bảo Điền, Lý Vĩ, Trương Nghị, Tùng Trí Quân
Thể loại:
Phim Tâm Lý
Quốc gia:
Trung Quốc
Thời lượng:
95 phút

Năm 1989, Trương Nghệ Mưu làm bộ phim Cúc Đậu với sự tài trợ của Nhật. Bối cảnh của bộ phim này đã được ông dời đến thời điểm những năm 20 để tránh sự “dòm ngó” của cơ quan kiểm duyệt Trung Quốc (thay vì những năm 40 như nội dung trong tiểu thuyết của Lưu Hằng). Khi mới ra đời, bộ phim đã bị cấm ở Trung Quốc vì các nhà chức trách cho rằng nó không phù hợp với khán giả trong nước.

Tuy nhiên, sau đó, bộ phim được gửi đi tranh giải Oscar và được đề cử Phim nước ngoài hay nhất, giúp Trương Nghệ Mưu trở thành nhà làm phim đầu tiên của Trung Quốc được đề cử tại giải thưởng uy tín này.

Bộ phim này đã gây tranh cãi sau khi Cục Điện ảnh Trung Quốc quyết định rút bộ phim khỏi cuộc tranh tài Oscar (nhưng không thành công).

Film studies Zhang YiMou

ANH HÙNG – HERO – 《英雄》

https://www.youtube.com/watch?v=838qkvE1p5I

“Anh hùng” – Trương Nghệ Mưu (the film “Hero” of Zhang Yimou)

Cuối thời Chiến Quốc (479-221 trước CN) nhà Chu ngày càng suy yếu. 7 nước chư hầu: Tần, Tề, Sở, Hàn, Ngụy, Triệu, Yên nổi lên tranh quyền đoạt lợi, sát phạt lẫn nhau, chiến tranh liên miên và tàn khốc, sinh linh lầm than, xã hội Trung Quốc cực kỳ rối ren. Khi Doanh Chính kế ngôi Tần Vương, dùng quân hùng tướng mạnh bình định thiên hạ, tiêu diệt 6 nước, thống nhất Trung Hoa, tự xưng là Tần Thủy Hoàng Đế.

At the end of the “Warring States Period” (479-221 B.C.), the Zhou dynasty became more and more weak. The 7 satellite states (“Seven Warring States”, literally “Seven Hegemonial among the Warring States”): the Qin, the Qi, the Chu, the Han, the Wei, the Zhao and the Yan were thought to be the major contenders for domination. The Warring States period is usually interpreted as a age of endless brutal wars that came as a result of friction among the seven states and that this unfortunate state of affairs could end only with one state bringing all into one empire. And the winner was the Qin, under leading of Qin Shi Huang. After conquering the independent Chinese states in 221 B.C., he ruled as king over all of established China. He created a new title, calling himself the First Emperor.

Lúc Tần diệt Triệu, cảnh núi xương sông máu là điều không tránh khỏi, những con dân nước Triệu nợ nước thù nhà nhiều phen toan tính hành thích Tần Vương để rửa cái nhục mất nước. Nổi lên có ba kiếm khách là Trường Không (Sky), Tàn Kiếm (Broken Sword) và Phi Tuyết (Flying Snow). Để trừ mối họa tâm phúc, Tần Vương hứa ban thưởng vàng bạc, lộc điền và cho phép người giết được 1 trong 3 cao thủ đó được diện kiến. Tuy nhiên, suốt 10 năm trời không ai có thể làm được điều này. 
 

As the Qin wiped out the Zhao, many citizens of Zhao wanted to assassinate Qin Shi Huang for revenge. There were 3 most fearful swordmen: Sky, Broken Sword and Flying Snow. Qin Shi Huang promised to reward gold, land to whom can kill one from those guys, and the one was also allowed to meet him. However none could have done for 10 years.


Vì vậy, khi 1 kiếm khách là Vô Danh tới hoàng cung với những vũ khí huyền thoại của 3 thích khách trên, Tần Vương đã không nén nổi tò mò được nghe chiến công của Vô Danh. Vô Danh lưu lạc sang nước Tần từ nhỏ, khi phát hiện ra mình là người nước Triệu, ý chí rửa nhục mất nước trổi dậy, Vô Danh toàn tâm toàn lực 10 năm luyện võ sáng tạo ra chiêu thức “Thập bộ nhất sát”, trong khoảng cách 10 bước không ai đỡ nổi đường kiếm tuyệt chiêu của chàng. 
 

One day a swordman – Nameless – came with the legend weapons from those 3 assassins. He was a a Zhaoan man that drifted into the Qin and wanted to revenge for his fatherland. He spent 10 year getting perfect his skill, which was called “Death within 10 paces”.


Ngồi trong hoàng cung, chỉ cách Tần Vương 10 bước chân, Vô Danh đã kể câu chuyện về chiến công phi thường của mình: Trong suốt 10 năm, chàng tích cực luyện tập kiếm pháp, sử dụng những chiêu thức kiếm pháp bí truyền của mình, Vô Danh đã đánh bại Trường Không trong một trận thư hùng. Tiếp nối chiến thắng ban đầu này, chàng đánh bại được đôi uyên ương danh chấn giang hồ Phi Tuyết và Tàn Kiếm. Lần này, Vô Danh đã sử dụng một vũ khí có sức tàn phá hơn cả gươm đao, đó là cuộc tình tay ba giữa ba tuyệt đại cao thủ này.
 

In the imperial palace, he told Qin Shi Huang about his feat of arms. He defeated Sky, then concoted a love triangle between those three to defeat Broken Sword and Flying Snow.


Với tài trí hơn người của bậc đế vương và cặp mắt tinh tường có thể rọi thấu tâm can của người đối diện, vua Tần đã phát hiện ra những thiếu sót trong câu chuyện của Vô Danh, ngài đã đoán ra vai trò đích thực của tráng sĩ trẻ tuổi và đưa ra những giả thuyết của mình về cuộc gặp gỡ giữa Vô Danh và những tay thích khách.
 

Qin Shi Huang was too wise to see through this lie. He realized that Nameless came to assassinate him, and also the relationship between those swordmen.


Kinh ngạc trước sự tài trí của bậc quân vương, Vô Danh đành kể lại sự thật câu chuyện đã xảy ra giữa chàng với những người thích khách và không quên nhắc lại những thay đổi trong tư tưởng của Tàn Kiếm, một người đã từng có cơ hội ra tay lấy mạng vua Tần nhưng rồi lại quay kiếm tháo lui. Bậc đế vương càng ngạc nhiên hơn khi biết rằng kẻ thù đáng sợ nhất của mình lại là người hiểu mình nhất. Với khẩu khí của thiên tử, ngài chấp nhận đứng yên để Vô Danh đạt được ý nguyện…
Nameless was impressed by the king’s wise and told him the true. Broken Sword wanted to kill the king but he abandoned his purpose and told Nameless not to do that. Qin Shi Huang was surprised as he knew his most fearful enemy was the one who really understood him. He gave Nameless his sword, and stood still, so that Nameless could kill him, but in the end, Nameless didn’t do that.

Trương Nghệ Mưu đã khéo léo dùng màu sắc song song với sự thay đổi của câu chuyện. Với năm gam màu: đen, đỏ, xanh lá, xanh da trời và trắng mà tác giả muốn người xem hiểu như đó là cách thể hiện thuyết Ngủ hành: Kim- Mộc- Thủy- Hỏa – Thổ. Màu đỏ là chuyện theo Vô Danh – chói chang của lửa lòng ghen tuông thù hận, màu xanh là theo Tần Thuỷ Hoàng – thăm thẳm của lòng thủy chung son sắt, và màu trắng tinh khôi của sự thật… 
 

Zhang Yimou made the change of colours parallel with the change of the stories. The 5 colours black, red, green, sky-blue and white remind us about the 5 elements: Venus – Jupiter – Mercury – Mars – Saturn. Red is the story of Nameless, expresses the fire of jealousy; green is the story of Qin Shi Huang, shows the faithfulness. And white symbolizes the truth…


Chung quy lại, chỉ có 3 người là anh hùng thật sự:
 

In general there’re only 3 true heroes:1. Tàn Kiếm xứng đáng là anh hùng vì đã nhìn thấy rằng cần phải đặt muôn dân lên trên tất cả, nỗi đau của một người không là gì so với nỗi đau của thiên hạ. Vì thế chàng đã không giết chết Tần vương và cũng khuyên Vô Danh đừng làm điều đó. Vì Tàn Kiếm biết rõ Tần vương là người duy nhất có đủ tài năng thống nhất đất nước để máu ngừng chảy. Giết Tần vương cũng chỉ để trả thù cá nhân và thiên hạ sẽ còn thống khổ vì chiến tranh.

Broken Sword: he realized that the citizens are the most important thing, the pain of one can not be compared to the pain of the people. That’s why he didn’t kill the king, and told Nameless not to do so. Because he knew that Qin Shi Huang was the only one who could unite the lands, so that there’s no more war. Killing Qin Shi Huang only suits private purpose, and the people would still be miserable because of wars.

2. Vô Danh – ở đất người mà vẫn không quên cố quốc, nuôi chí lớn mà mười năm gian khổ trui rèn, muốn đại sự cáo thành mà nhọc lòng dàn dựng kế sách sâu xa. Nhưng tất cả việc làm đó chưa đáng để gọi là anh hùng vì người bình thường nuôi chí cũng có thể thực hiện được. Vô Danh chỉ thực sự trở thành anh hùng khi tỉnh ngộ trước hai chữ “Thiên hạ” mà Tàn Kiếm tặng. Chàng để cho Tần vương sống vì muôn dân và tự mình nhận lấy cái chết. Câu nói của người anh hùng với Tần vương khi Tần vương đã sẵn sàng chết “Ta để cho ngươi sống để cứu muôn dân khỏi cảnh lầm than nhưng đừng bao giờ quên những người đã ngã xuống vì sự thái bình của thiên hạ”.


Nameless: has trained for 10 years to revenge for his land. But that’s not enough to call him “a hero”. He was only a hero as he understood what Broken Sword has written: “All under Heaven”. He let Qin Shi Huang being alive and received the death. His last words to Qin Shi Huang remains in my mind: “Rememder those who gave their lives for the highest ideal: peace”3. Tần Thủy Hoàng có thể được xem như một đại anh hùng trong các anh hùng, người đã thống nhất Trung Quốc sau hơn 500 năm dưới thời Đông Chu bị chia cắt, chém giết liên miên bởi sự tranh bá đồ vương của các nước chư hầu. Dù ai nói đông nói tây và không ít sử sách liệt ông vào hàng bạo chúa nhưng thành quả thống nhất đất nước của ông có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong tiến trình phát triển của lịch sử Trung Hoa sau này. Các thể chế chính trị và các chính sách luật lệ do ông ban hành đã thúc đẩy xã hội Trung Quốc từ chỗ trì trệ do chia rẽ, hỗn loạn và không quy ước tiến tới sự hợp nhất trong một cơ chế nhà nước phong kiến trung ương hùng mạnh. Nói riêng về mặt văn hóa, khi ông thống nhất văn tự đã có lợi biết bao cho đất nước, khi mà thời đó riêng nước Triệu đã có 19 cách viết khác nhau về một chữ “Kiếm”! Dù không có những cảnh Nam chinh Bắc chiến của Tần Vương nhưng hình ảnh đầy hào khí của ông khi đối chọi với thích khách đã được các nhà làm phim dàn dựng dựa trên nền tảng của những luận cứ bi hùng của cuộc đời ông. Cảnh ông rơi lệ khi hạ lệnh giết chết Kiếm Sĩ Vô Danh đủ lay động lòng người. Hành động cử hành tang lễ cho Kiếm Sĩ Vô Danh như một người anh hùng chứng tỏ Tần vương xứng đáng là bậc quân tử.

Qin Shi Huang is the most hero of all. He has united China after over 500 years of separation. The historians call him “Tyrant”, but they can not negate his services. He established an autocratic state with centralized power over the feudal society. He also standardized the script used for writing, the coinage, introducing a circular copper coin with a square hole in the center. Equally important reforms were the standardization of weights and measures, and codification of the law. These reforms benefited both the economy and cultural exchange during the period.
 
The scene in which Qin Shi Huang wept as he had to command the army to kill Nameless touchs heart. He buried him as a hero. His act proclaimed him a man of honour.

“Hãy đặt muôn dân và đại cuộc lên trên quyền lợi cá nhân” – Tư tưởng đó tuy cũ nhưng mãi mãi còn nguyên giá trị.
 

“The people and the wealth of the land are mor important than private interests – this thought is old but its worth still remains.

Nguồn:
http://www.tapchihuongviet.eu/index.php/th-gin-vui-ci/vn-ngh/243-qanh-hungq-trng-ngh-mu-the-film-qheroq-of-zhang-yimou
Chen Kaige Film studies Literature Văn học Văn học & Điện ảnh Văn học Trung Quốc

“Văn học vết thương” cần được rộng đường hơn

“Lật lại quá khứ không phải để gây thù hằn, mâu thuẫn hay để than khóc; mà nhằm rút ra bài học để trưởng thành hơn. Phải nhìn thẳng vào quá khứ để định hướng tương lai. Không thể né tránh “vết thương” bởi dù thế nào, nó cũng là một phần của lịch sử”.

Nhìn lại một cơn bão

Năm 1993, một tác phẩm điện ảnh Trung Quốc làm “nổ tung” diễn đàn nghệ thuật quốc tế với hàng loạt giải thưởng danh giá như Cành cọ vàng (Liên hoan phim Cannes), Phim nước ngoài hay nhất tại British Academy Award, Mainichi Film Concours, L.A. Film Critics Association, Golden Globe Award) Đề cử: Phim nước ngoài hay nhất tại Oscar 1993. Tác phẩm cũng được Tạp chí Time bình chọn vào Top 100 tác phẩm điện ảnh hay nhất mọi thời đại.

U21P112DT20131122161816

Đó là Bá Vương biệt cơ, được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Lý Bích Hoa.

Lý Bích Hoa, Trần Khải Ca – đạo diễn Bá Vương biệt cơ – Trương Nghệ Mưu là những “sản phẩm” thoát thai từ thời kỳ Cách mạng văn hóa Trung Quốc. Họ cũng như những thanh niên trí thức cùng thời bị cơn bão Cách mạng văn hóa xô dạt khắp nơi, chìm nổi trong đắng cay khổ nhục.

Xuyên suốt cuộc đời và mối quan hệ đầy khó xử của ba nhân vật chính Đoàn Tiểu Lâu, Trình Điệp Y và Cúc Tiên trong bối cảnh xã hội đầy biến động của Trung Quốc những năm 1960 – 1970,  Lý Bích Hoa và Trần Khải Ca cũng đưa ra những cái nhìn đau xót, đắng cay mà sự kiện này tạo ra cho người dân – thông qua những sự kiện xảy ra với nhân vật của họ.

Dân tộc nào cũng có những trang sử vẻ vang, nhưng đồng thời cũng có những vết thương của mình. Vết thương đó có thể nặng hay nhẹ, chỉ có dân tộc đó thấu hiểu được những đau khổ do vết thương mang tới. Cách mạng văn hóa Trung Quốc đã mang lại bao nhiêu đau khổ, bi kịch cho bao nhiêu người. Người ta phải nghĩ lại, không phải để lên án hay khóc lóc mà để rút ra bài học để ngăn ngừa những việc tương tự trong tương lai. Ở Trung Quốc dòng văn học về này được gọi là “dòng văn học thương tích” – Dịch giả, nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc, GS Chúc Ngưỡng Tu giải thích.

Tiểu thuyết Ba người khác của nhà văn Tô Hoài (Ảnh: VNN)

Quá khứ là một phần của lịch sử

Ở Việt Nam, “văn học thương tích” hay “văn học vết thương” cũng có nhưng chưa thành một dòng lớn – theo GS Phong Lê. “Thương tích” chủ yếu của văn học Việt Nam nằm ở thời kỳ Cải cách ruộng đất và Sửa sai. “Con người luôn luôn có nhận thức lại về những sai lầm trong lịch sử phát triển, hình thành nên dòng văn học vết thương. Dòng văn học này của Việt Nam chưa phổ biến như Trung Quốc, còn phải nói tiếp. Phải nhận thức lại về “thương tích” nó gây ra để tránh đi“.

Chiến tranh và nông thôn được coi là hai mảng đề tài lớn, chiếm lĩnh hầu hết các tác phẩm văn học Việt Nam thế kỷ 20. Những “nhà văn khoác áo lính” như Nguyên Ngọc, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng… đã tạo nên những thiên trường ca đẹp đẽ về cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước.

Khi chiến tranh kết thúc, mảng đề tài nông thôn và hậu chiến được khai thác kỹ. Những nhà văn đưa ra những hiện thực hơn về đời sống và các âm hưởng cuộc chiến để lại.

Theo GS Lê, thời kỳ đổi mới của văn học có thể tính từ nửa đầu thập niên 1980 với một lớp nhà văn “tiền trạm” như Nguyên Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp… là những tác giả đã sớm có ý sự thay đổi cách nhìn để hiện thực đời sống hiện lên đúng với bản chất của nó chứ không còn lệ thuộc vào quán tính cũ với âm hưởng khẳng định, ngợi ca.

Ông viết: “Trở về với cuộc sống hòa bình, với sinh hoạt đời thường, với mọi làm lũ, tất bật của sự mưu sinh và tồn tại trong một mô hình phát triển không còn như cũ – thời chiến. Những tiểu thuyết như Gặp gỡ cuối năm, Những khoảng cách còn lại, Mùa lá rụng trong vườn, Tướng về hưu… đã làm nên một đóng góp đặc sắc – là sự tiên báo, chuẩn bị cho công cuộc Đổi mới rồi sẽ diễn ra dưới hai khẩu hiệu “Lấy Dân làm gốc” và “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”.

Thời kỳ này đã tạo ra một mùa gặt văn học khác mà tiêu biểu là bộ ba tiểu thuyết trong Giải thưởng Hội nhà văn năm 1991: Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nỗi buồn chiến tranh, Bến không chồng… tạo ra những góc nhìn khác vào quá khứ, trăn trở hơn, day dứt hơn.

Tuy nhiên “vết thương” quá khứ chỉ thực sự được khơi lại rõ nét tiểu thuyết Ba người khác của nhà văn Tô Hoài – sau nhiều năm dừng lại ở bản thảo vừa được xuất bản năm 2007. Câu chuyện được mô tả về một vùng quê yên lành “bỗng chốc chìm ngập trong các cuộc đấu tố, tranh giành, oan khốc đã tạo ra một cú shock trên văn đàn và công chúng.

Tác phẩm được các giới cầm bút đón nhận khi thấy được cởi bỏ tấm màn “nhạy cảm”.

“Nhìn lại để thấy con người đã đi qua giông bão như thế nào. Nhưng chúng ta vẫn có sự e ngại, khiến người viết cũng phải đắn đo chỗ này chỗ kia. Tô Hoài viết rất hay về vết thương, tại sao ta phải e ngại? Phải tin ở độc giả, họ đã trưởng thành” – GS Phong Lê nhìn nhận.

Ông tiếp, không thể sốt ruột, nhưng dòng “văn học vết thương” dần dần phải được nhìn nhận với sự cởi mở hơn. Không nóng vội nhưng “từ từ rồi sẽ đi đến đích”.

Xin được kết thúc bài viết với lời của GS Chúc Ngưỡng Tu: “Lật lại bài học quá khứ không phải để gây thù hằn, mâu thuẫn hay để than khóc; mà để rút ra bài học. Phải nhìn thẳng vào quá khứ để định hướng tương lai. Không thể né tránh “vết thương” bởi đơn giản, dù thế nào, nó là một phần của lịch sử“.

Tác giả: Hoàng Hường

Nguồn:

http://tuanvietnam.net/2010-01-08-van-hoc-vet-thuong-can-duoc-rong-duong-hon

 

Ang Lee Chen Kaige Film studies Hou Hsiao-Hsien Wong Kar Wai Zhang YiMou

10 bộ phim xuất sắc của điện ảnh Hoa ngữ

“Anh hùng”, “Vô gian đạo, “Ngọa hổ tàng long” đều nằm trong danh sách danh giá này.

 

10. Anh hùng (Hero – 2002)

Anh hùng được cho là bộ phim mở đường cho điện ảnh Trung Quốc bước vào kỷ nguyên mới. Được thực hiện theo quy trình sản xuất phim của Hollywood và đầu tư lên tới 30 triệu USD, đây là bộ phim đắt giá nhất của Trung Quốc vào thời điểm đó.

Bộ phim đã làm sống lại nền điện ảnh của Trung Quốc, kéo khán giả đến rạp chiếu và thu về hơn 30 triệu USD tiền vé nội địa. Đây cũng là bộ phim đầu tiên có được doanh thu “khủng” trong nhiều thập kỷ qua.

Không chỉ thành công ở Trung Quốc, Anh hùng còn được thế giới đón nhận. Ngay trong tuần đầu tiên công chiếu ở Mỹ, Anh hùng ngay lập tức có được vị trí số 1 về doanh thu. Tính ở thị trường nước ngoài, bộ phim thu về hơn 120 triệu USD.

Anh hùng cũng được coi là bộ phim tiên phong cho những bộ phim toàn sao và đầu tư khủng ở Trung Quốc sau này. Tuy nhiên, bộ phim này không được đánh giá cao về mặt nội dung.

 

9. Đại thoại tây du (A Chinese Odyssey Duology – 1994)

Đây là bộ phim của đạo diễn Lưu Trấn Vĩ với sự tham gia “vua hài” Châu Tinh Trì, Mạc Văn Úy và Ngô Mạnh Đạt.

Lưu Trấn Vĩ và Châu Tinh Trì đã sử dụng 4 thày trò Đường Tăng trong cuốn tiểu thuyết kinh điển Tây du ký để tạo nên câu chuyện cho Đại thoại tây du. Phim có sự kết hợp của các yếu tố như tình cảm, kungfu và du hành thời gian.

Ra mắt năm 1995, Đại thoại tây du thất bại thảm hại. Không chỉ bị chê tơi bời, doanh thu của phim cũng quá thấp so với kỳ vọng. Tuy nhiên, 3 năm sau đó, Đại thoại tây du bất ngờ trở thành chủ đề “hot” của giới trẻ. Một số người thậm chí còn gọi đây là “tác phẩm kinh điển của thời hậu hiện đại“. Vào thời điểm đó, Đại thoại tây du được nhắc đến nhiều hơn bất kỳ bộ phim nào và thậm chí rất nhiều câu thoại của phim trở thành tuyên ngôn của giới trẻ Trung Quốc.

Xem lại Đại thoại tây du vào lúc này, người ta có thể chê kỹ xảo thô sơ chứ khó thể phủ nhận tính hài hước và những khoảnh khắc vô cùng xúc động của phim.

 

8. Vô gian đạo (Infernal Affairs – 2002)

Bộ phim sản xuất năm 2002 của cặp đôi đạo diễn Mạch Triệu Huy và Lưu Vĩ Cường được đánh giá là bước đột phá cho dòng phim cảnh sát của Hong Kong. Cũng như Anh hùng, Vô gian đạo, tác phẩm điện ảnh này khơi lại tình yêu của khán giả và kéo họ đến với các rạp chiếu đang phủ bụi.

Vô gian đạo được ca ngợi ở nhiều điểm, đầu tiên là một cốt truyện hay, gay cấn với những nhân vật hấp dẫn, bất ngờ ở cả hai tuyến: tội phạm và cảnh sát. Hai diễn viên chính Lương Triều Vỹ và Lưu Đức Hoa đã hoàn thành xuất sắc vai diễn. Đặc biệt là Lưu Đức Hoa, chưa bao giờ người hâm mộ được thấy thiên vương Hong Kong tỏa sáng đến như thế. Nhạc phim cũng được liệt vào danh sách kinh điển.

Vô gian đạo còn ảnh hưởng tới cả Hollywood. Năm 2007, đạo diễn Martin Scorsese đã làm lại bộ phim này với cái tên The Departed. Phim đã đem về 2 giải Oscar quan trọng là Phim xuất sắc nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất.

 

7. Ngọa hổ tàng long (Crouching tiger, Hidden Dragon – 2000)

Bộ phim sản xuất năm 2000 của đạo diễn Lý An đã nhận được những phản ứng trái chiều ở Mỹ và Trung Quốc. Nếu ở thị trường Bắc Mỹ, Ngọa hổ tàng long thu về hơn 130 triệu USD tiền vé từ và đưa cái tên Chương Tử Di gia nhập hàng sao quốc tế thì ở Trung Quốc, bộ phim lại nhận được sự thờ ơ của khán giả.

Tuy nhiên, việc khán giả ở những nền văn hóa khác nhau phản ứng không đồng nhất trước một bộ phim không phải là điều khó hiểu. Với người Trung Quốc, việc thấy những diễn viên chính trong một bộ phim hành động có quá nhiều cảnh tình cảm vô nghĩa và bay qua bay lại như siêu nhân suốt thời lượng của phim không có gì hấp dẫn. Trong khi đó, với khán giả phương Tây, những rắc rối tình cảm lại là phần bổ sung hoàn hảo cho những cảnh chiến đấu trong phim.

Trên thực tế, các nhân vật trong phim dù xuất chúng nhưng vẫn rất đời thường, đủ để ai xem cũng có thể nhìn thấy bản thân mình trong đó. Bên cạnh đó, từ âm nhạc, phục trang cho đến quay phim củaNgọa hổ tàng long đều được đánh giá là xuất sắc. Những yếu tố này giúp bộ phim vượt trội hơn so với các tác phẩm đi trước.

 

6. A phi chính truyện (Days of being wild – 1990)

Bộ phim do chính Vương Gia Vệ viết kịch bản và đạo diễn này kể về câu chuyện tình của 6 người trẻ ở Hong Kong. Bên cạnh cái tên Vương Gia Vệ, phim còn có một dàn diễn viên “hoành tráng” gồm Trương Quốc Vinh, Trương Mạn Ngọc, Lưu Gia Linh, Trương Học Hữu và Lưu Đức Hoa.

A Phi chính truyện được coi là bộ phim mở đầu cho dòng phim nghệ thuật của Vương Gia Vệ. Đây cũng là tác phẩm đầu tiên mà đạo diễn họ Vương hợp tác cùng nhà quay phim Christopher Doyle. Sau này, Vương Gia Vệ còn có thêm 7 bộ phim khác với nhà quay phim người Úc.

Sự xuất sắc của A Phi chính truyện được ghi nhận bằng hàng loạt giải thưởng lớn như Diễn viên chính xuất sắc nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất và Quay phim xuất sắc nhất tại giải Kim Tượng năm 1991. Phim cũng đứng thứ 3 trong danh sách 100 bộ phim Trung Quốc xuất sắc nhất từ trước tới nay do các nhà phê bình phim Hong Kong bình chọn năm 2005.

 

5. Bi tình thành thị (A city of sadness – 1989)

Được “nhào nặn” dưới bàn tay của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền, Bi tình thành thị là câu chuyện về một gia đình dưới thời Quốc dân đảng tiến hành Khủng bố trắng. Đây là bộ phim đầu tiên đề cập đến sự kiện ngày 28/2/1947 – một dấu tích khó phai trong lịch sử Đài Loan khi có hàng ngàn người bị giết hại.

Đạo diễn Hầu đã rất giỏi khi vẽ ra bức tranh toàn cảnh của xã hội Đài Loan vào thời điểm đó thông qua bi kịch của một gia đình. Bi tình thành thị phản ánh sự xung đột giữa người bản xứ với người nhập cư, giữa những người dân địa phương với Quốc dân đảng.

Bi tình thành thị là bộ phim đầu tiên trong serie phim về lịch sử của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền, sau này làThe Puppet Master (1993) và Good men, good women (1995). Phim đã giành giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice lần thứ 46 năm 1989 và là bộ phim tiếng Trung đầu tiên có được vinh dự này.

 

4. Nhất Nhất (Yi Yi: A One and a Two – 2000)

Bộ phim dài gần 3 tiếng đồng hồ của đạo diễn Dương Đức Xương là câu chuyện kể một gia đình trung lưu ở Đài Loan với 3 thế hệ sống bên nhau. Nhất Nhất có tiết tấu chậm và dường như thiếu cao trào nhưng lại là bức tranh chân thực về cuộc sống hàng ngày của những con người nơi đây.

Với Nhất Nhất, đạo diễn Dương đã giành được giải Đạo diễn xuất sắc nhất tại liên hoan phim Cannes năm 2000. USA Today, New York Times, Newsweek và Hiệp hội Phê bình phim đồng loạt trao cho Nhất Nhất danh hiệu một trong những bộ phim hay nhất 2001. Năm 2002, tạp chí Sight and Sound của Hiệp hội điện ảnh Anh quốc còn bình chọn Nhất Nhất là một trong những bộ phim đáng xem nhất trong vòng 25 năm qua.

 

3. Bá vương biệt cơ (Farewell My Concubine – 1993)

Bá vương biệt cơ của đạo diễn Trần Khải Ca vẫn được nhắc đến như một đỉnh cao của nền điện ảnh Trung Quốc. Đây là bộ phim duy nhất của Trung Quốc cho đến thời điểm này giành được Cành cọ vàng danh giá của Liên hoan phim Cannes.

Được chuyển thể từ tiểu thuyết của Lý Bích Hoa, Bá vương biệt cơ có một dàn diễn viên đáng mơ ước với những cái tên như Trương Quốc Vinh, Củng Lợi, Cát Ưu. Phim là câu chuyện về cuộc đời sóng gió của 2 diễn viên Kinh Kịch trước những rối loạn của chính trường và xã hội Trung Quốc trong giai đoạn 1920 – 1970. Bá vương biệt cơ có nói tới cuộc cách mạng văn hóa (1966 – 1976) ở Trung Quốc. Đây cũng là sự kiện dẫn đến cái kết bi thảm của phim. Bên cạnh đó, Bá vương biệt cơ còn nhắc tới chủ đề đồng tính – một chủ đề vẫn còn hiếm hoi với điện ảnh Hoa ngữ cho đến thời điểm này.

 

2. Tiểu thành chi xuân (Spring in a small town – 1948)

Bộ phim về một chuyện tình tay ba này được xây dựng dựa trên vở kịch ngắn của Lý Thiên Tể, do Phí Mục đạo diễn và công ty Văn Hoa Thượng Hải sản xuất.

Không có một cốt truyện phức tạp nhưng Tiểu thành chi xuân lại hấp dẫn người xem ở cảm xúc của từng nhân vật. Đây cũng là bộ phim được coi là tiên phong trong việc vận dụng ngôn ngữ thơ vào điện ảnh.

Tiểu thành chi xuân được đánh giá cao ở cả trong nước lẫn nước ngoài. Các nhà làm phim Trung Quốc đều nhất trí liệt bộ phim vào dạng kinh điển. Đạo diễn Trương Nghệ Mưu cũng khẳng định đây là bộ phim Trung Quốc mà ông yêu thích nhất. Năm 2005, Hiệp hội giải thưởng điện ảnh Hong Kong tôn vinhTiểu thành chi xuân là bộ phim Trung Quốc xuất sắc nhất. Năm 2012, tờ Winnipeg Free Press của Canada cũng xếp bộ phim ở vị trí số 1 trong danh sách 10 phim Trung Quốc hay nhất.

 

1. Sông xuân nước chảy hướng về đông (A spring river flows east – 1947)

Bộ phim dài hơn 3 tiếng và được chia làm 2 phần của đạo diễn Sái Sở Sinh và Trịnh Quân Lý là một trong những cột mốc đáng nhớ của điện ảnh Trung Quốc.

Phim là câu chuyện xúc động về một gia đình Thượng Hải trong thời chiến tranh Trung – Nhật (1930s – 1940s) và cuộc biến đổi của nhân vật chính từ một người chàng thanh niên trẻ trung đầy hoài bão, có triển vọng thành một viên chức xảo trá và lóa mắt vì tiền.

Ngay khi ra đời năm 1947, bộ phim đã thu hút sự chú ý đặc biệt của công chúng Thượng Hải. Phim được chiếu rạp hơn 3 tháng và có hơn 700.000 khán giả. Con số này tương đương với 15% dân số Thượng Hải lúc bấy giờ. Sông xuân nước chảy hướng về đông vẫn được coi là bộ phim thành công nhất của điện ảnh Hoa ngữ trước khi nhà nước Trung Quốc được thành lập năm 1949.

Theo Infonet

http://thvl.vn/?p=222129#

Chen Kaige Film studies Văn học Trung Quốc 中文

BÁ VƯƠNG BIỆT CƠ – FAREWELL MY CONCUBINE – 《霸王别姬》

https://www.youtube.com/watch?v=h8sj9YrCZ5U
Cách đây hơn 20 năm, Bá Vương biệt Cơ là phim Hoa ngữ đầu tiên đoạt giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes.

Cuối thập niên 1980, nhà văn nổi tiếng Hồng Kông Lý Bích Hoa cho ra mắt quyển tiểu thuyết Bá Vương biệt Cơ với đề tài chính là vở kinh kịch Bá Vương biệt Cơ.

HỒNG KÔNG HỢP TÁC LÀM PHIM VỚI TRUNG QUỐC, ĐÀI LOAN

Nhà sản xuất Từ Phong ở Công ty Ảnh nghiệp Thang Thần, Đài Loan muốn đưa cuốn tiểu thuyết này lên màn ảnh. Từ Phong đề nghị Lý Bích Hoa chuyển thể thành kịch bản điện ảnh. Với tầm vóc sử thi đồ sộ của bộ phim, bà muốn phim này phải được quay ở Trung Quốc với chính đạo diễn của Đại Lục. Từ Phong sang Trung Quốc mời Trần Khải Ca, đạo diễn nổi tiếng nhất Đại Lục lúc bấy giờ. Xưởng phim Bắc Kinh cũng đồng ý hợp tác sản xuất.

VAI DIỄN ĐỂ ĐỜI CỦA TRƯƠNG QUỐC VINH

images-1

hoangu1

Các vai diễn quan trọng trong Bá Vương biệt Cơ đều do những tên tuổi lớn nhất của Trung Quốc thời bấy giờ đảm nhận: Trương Phong Nghị vai Đoàn Tiểu Lâu, Củng Lợi vai Cúc Tiên, Cát Ưu vai Viên đại nhân… Riêng vai diễn linh hồn của bộ phim, Trình Điệp Y, nhà sản xuất muốn mời một tên tuổi quốc tế.
Ứng cử viên số một cho vai này là diễn viên Hồng Kông quốc tịch Mỹ, Tôn Long, người đóng vai chính trong bộ phim đoạt 9 giải Oscar, The Last Emperor. Song, Trần Khải Ca cho là Tôn Long hơi cứng, chưa đủ đẹp và mềm mại để vào vai Trình Điệp Y là người chuyên đóng vai đán (nam giả nữ) trong kinh kịch.

Bước ngoặt xảy đến khi một người bạn từ Hồng Kông gửi cho Trần Khải Ca cuốn tạp chí City Magazine có hình bìa của Trương Quốc Vinh tuyệt đẹp trong lớp hóa trang và phục trang vai đán của vở kinh kịch Kỳ song hội. Nhà văn Lý Bích Hoa cũng khẳng định, nếu Trương Quốc Vinh không đóng vai Trình Điệp Y thì bà cũng không cho phép làm phim Bá Vương biệt Cơ! Trương Quốc Vinh trở thành diễn viên Hồng Kông đầu tiên xuất hiện trong phim của Trung Quốc. Dù ở giữa rừng sao của Đại Lục, nhưng diễn xuất của Trương Quốc Vinh đã che mờ tất cả.

PHIM HÀNG ĐẦU CỦA ĐIỆN ẢNH HOA NGỮ

Ngoài giải Cành cọ vàng, Bá Vương biệt Cơ còn được đề cử hai giải Oscar năm 1994 cho Phim nước ngoài hay nhất và Quay phim xuất sắc nhất. Tại Liên hoan phim Cannes năm 1993, Trương Quốc Vinh đã được một thành viên ban giám khảo bầu cho cả hai hạng mục Nam diễn viên xuất sắc nhất và Nữ diễn viên xuất sắc nhất. Đây là điều chưa từng có trong lịch sử liên hoan phim danh giá này! Năm 2005, tại liên hoan phim Hồng Kông, Bá Vương biệt Cơ được bình chọn là phim Trung Quốc được yêu thích nhất mọi thời đại. Tạp chí Time số đặc biệt kết thúc thế kỷ XX, đã chọn Bá Vương biệt Cơ vào danh sách 100 phim hay nhất mọi thời đại.

Bá Vũ.

NỘI DUNG PHIM

hoangu2
Phim đã mượn vở kinh kịch Bá Vương biệt Cơ để kể câu chuyện tình của hai nam nghệ sĩ kinh kịch nổi tiếng. Một người là Đoàn Tiểu Lâu chuyên đóng vai Hạng Vũ, người kia là Trình Điệp Y, giả nữ để vào vai Ngu Cơ. Họ gắn bó với vai diễn của mình suốt đời và ở mức độ nào đó, điều này cũng có nghĩa đôi bạn diễn này đã kết hôn với nhau. Bi kịch xảy ra khi Trình Điệp Y không thể phân biệt được đâu là ranh giới giữa sân khấu với cuộc đời, luôn một lòng một dạ với vị quân vương của mình.

Nguồn:

http://thegioivanhoa.sunflower.vn/gia_tai_van_hoa/phim-xua/39429501/ba-vuong-biet-co-kiet-tac-dien-anh-hoa-ngu/

Film studies Văn học Trung Quốc Zhang YiMou 中文

CAO LƯƠNG ĐỎ – 《红高粱》

https://www.youtube.com/watch?v=9IjnwHdG-BQ

BỘ PHIM DỰA TRÊN TÁC PHẨM GIA TỘC CAO LƯƠNG ĐỎ CỦA MẠC NGÔN (TRUNG QUỐC).

 

用恶作剧的达观态度来演绎沉重得不能再沉重的历史

犹如一声霹雳,惊醒了西方人对中国电影所持的蔑视与迷幻

具有里程碑的意义,以极端的表现方法表现出过去电影中没敢表现的人的精神和张扬的个性

1987年出品

导 演:张艺谋

主 演:巩 俐

姜 文

滕汝骏

·第三十八届柏林国际电影节金熊奖

·第八届中国电影金鸡奖最佳故事片、最佳摄影奖等

·第十一届电影百花奖最佳故事片奖

·法国第六届蒙特利埃国际电影节银熊猫奖

·第八届香港电影金像奖十大华语片之一