Daily Archives

February 26, 2018

Văn học Nhật Bản

Truyện ngắn SHIZUKA  IJUIN (Hoàng Long dịch)

 

pastedGraphic.png

Tác gia Shizuka Ijuin (静伊集院) tên thật là Nishiyama Tadaki, sinh năm 1950 tại tỉnh Yamaguchi. Ông từng kinh qua nhiều nghề nghiệp như nhân viên quảng cáo trước khi trở thành nhà văn. Năm 1992, tác phẩm “Vầng trăng nhận chịu” (受け月) đạt giải thưởng văn học Naoki lần thứ 107. Ngoài ra ông còn là người sáng tác ca từ nổi tiếng với bút danh Date Ayumi (伊達 歩). Các tác phẩm chính của ông gồm có “Thu trắng” (白秋), “Ngày xưa xa ngái” (遠い昨日), “Người đàn bà ở Asakusa” (浅草のおんな), “Bãi cỏ bên nhà” (となりの芝生) …Năm truyện ngắn “Chiếc bình tuổi bốn mươi” (四十歳のうつわ), “Thanh âm của đá”(石の声), “Con dốc nhìn về phía biển”(海の見える坂道), “Bờ nước”(水のほとり), “Bên kia cửa kính”(ガラスの向こう側) sau đây được chúng tôi dịch từ tuyển tập “Bình nước” (水の器) do Nxb Gentosha (幻冬舎) xuất bản năm 1997. Đây là lần đầu tiên tác gia Shizuka Ijuin được dịch ra Việt ngữ. Trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả.

CHIẾC BÌNH TUỔI BỐN MƯƠI

Tôi ghé tiệm sushi sau khi đi du lịch về.

Ngồi nơi một góc quầy, tôi gọi bia. Vì là tiệm quen nên tôi cảm thấy rất thoải mái.

Trên chiếc khay sơn đen, thay cho chỗ kê đũa là một bông hoa thủy tiên. Nhụy hoa vàng hé nhìn ra từ trong những cánh trắng hoa trắng tinh nhỏ xíu trông dễ thương vô cùng.

“Chuyến du lịch thế nào ạ?”

“À, cũng được chút thư thả”

Chủ quán biết cung cách sống của tôi nên mỉm cười gật đầu rồi mang ra thức nhắm cho loại rượu sake ưa thích của tôi.

“Còn ông dạo này có tình hình gì mới không?”

“Mấy ngày trước tôi có đi xem kịch và có nghe được một lời thoại rất hay”

“Câu gì vậy?”

“Nhân sinh chỉ là một dòng chảy của thời gian thôi. Nhân vật chính lúc tuổi già xế bóng đã nói một câu cuối cùng như vậy. Có chiến tranh rồi hòa bình, có căm ghét rồi vui vẻ…Những khi đó chúng ta cảm thấy như cơn sóng lớn ập đến, như đứng giữa một trận cuồng phong nhưng đến khi tuổi già ngồi mà ngẫm lại đời người chẳng phải chỉ là một dòng thời gian trôi chảy mà thôi. Sao, có chút gì cảm động đúng không?”

Chủ quán sushi vừa nói vừa tự mình gật gù.

Quả thực là câu nói chí lý. Một lời thoại dễ dàng nói ra. Nhưng có lẽ khi còn trẻ người ta không thể nghĩ được như thế.

Thời gian quả thật là kỳ lạ. Rõ ràng từng khoảnh khắc trôi lướt qua chúng ta nhưng chúng ta lại không thể nào nắm bắt được đó, không thể làm cho nó dừng lại hay trôi đi sớm hơn. Tuy thời gian luôn tồn tại quanh con người nhưng không có thứ nào khó cảm nhận và nắm bắt bản chất thực sự của nó như thế cả.

Khi còn nhỏ chúng ta thấy một ngày dài lê thê có khi đến mức chán chường. Thế nhưng khi chạm ngưỡng bốn mươi ta lại thấy mười năm lại trôi qua như chớp mắt. Khi thử suy nghĩ xem nguyên nhân tại sao, tôi mới thấy rằng có lẽ đó là do chúng ta luôn bị một điều gì đó đuổi theo đằng sau và thôi thúc chăng? Điều thôi thúc đó có người tìm quên trong công việc nhưng tôi cảm giác không phải chỉ có thế mà thôi. Nếu là người có gia đình thì sẽ bận đầu tắt mắt tối giải quyết những chuyện trong nhà, người khác thì mưu cầu tiền bạc, danh vọng hay quyền lực nữa. Rồi cứ thế mà già đi sao? Nếu chỉ như vậy thì cuộc đời còn gì thú vị chứ?

Vừa uống rượu nơi góc quầy, tôi vừa suy nghĩ như thế.

Cánh cửa tiệm mở ra, một cô gái trẻ mặc kimono bước vào.

“Xin chào quý khách”

“Xin chào ông”

“Cô có hẹn à?”

Cô gái mỉm cười gật đầu. Nàng khoảng trên hai mươi tuổi, dung mạo xinh đẹp. Chờ khoảng ba mươi phút thì người đàn ông xuất hiện. Không nên nhìn nữa thì hơn.

“Em đợi lâu không?”

“Chút thôi, em cũng vừa mới tới”

Đối với người con gái trẻ, ba mươi phút đêm nay chỉ là “một chút”. Nếu là tôi mà đợi chừng đó thời gian nơi quán cà phê để bàn công việc thì chắc tôi đã mệt mỏi hay là nổi giận mất rồi.

Yêu đương có lẽ là hành vi đặc biệt của con người. Nhân vật chính trong vở kịch mà ông chủ quán sushi đã xem chắc cũng không thể nào nói dứt khoát rằng yêu đương cũng chỉ là dòng thời gian trôi chảy mà thôi nhỉ? Bởi vì chẳng phải bao nhiêu tác gia cổ kim đã tiêu phí một đời để viết tiểu thuyết ái tình đó sao? Trong hội họa cũng vậy. Từ Leonardo da Vinci, Picasso đến Cézanne… tất cả đều để lại nhiều kiệt tác vẽ người phụ nữ.

Rời quán sushi, tôi ghé quán bar.

Mặc dù biết nên về thẳng nhà để làm việc thì hơn nhưng tôi lúc nào cũng la cà dọc đường suốt.

“Xin chào anh, lâu ngày quá nhỉ”

“Đúng là khá lâu thật”

“Anh mới đi Kyushu về đúng không?”

“Sao biết hay vậy?”

“Chị tôi nhìn thấy anh nơi nhà ga Hakata đấy”

“…..”

Đáng sợ thật nhỉ. Người ta biết rõ mình mà mình chẳng biết gì về người ta cả.

“Chị nói thấy ngồi ngồi một mình nơi chiếc ghế chỗ chờ tàu và uống bia”

Có lẽ đó là lúc mình đổi tàu chăng? Cứ dặn lòng phải cẩn thận hành vi chứ không sẽ bị người khác nhìn thấy. Vậy mà đúng thế thật.

“Lần tới, tôi muốn gặp chị của anh”

“Đã gặp nhau một lần ở đây rồi mà”

“…..”

Nếu vậy thì mình tệ thật. Tôi nhanh chóng rời quán bar về nhà. Mấy quyển sách của tác gia Kaikou Takeshi mà tôi đặt ở hiệu sách đã được gửi đến nơi. Mấy tờ giấy gửi máy fax đến rơi rớt xuống sàn nơi phòng làm việc. Thư từ và bưu thiếp thì đặt trên bàn.

Tôi xuống nhà bếp, lấy chai whisky và bắt đầu uống.

Chuyến đi của mình như thế nào nhỉ?

Tôi tự hỏi mình như thế.

Chắc cũng không tệ, ngắm được nhiều phong cảnh đẹp, rượu cũng khá ngon. Được thư thả thật là thích.

Viên đá trong ly kêu lách cách. Cái thứ nước ma thuật màu hổ phách này làm cho tâm tư tôi trở nên lắng dịu. Tôi nhìn tờ lịch. Có dấu khuyên tròn nơi ngày của tuần trước. Gì vậy nhỉ? À, sinh nhật mình. Vậy sao? Happy  birthday to me vậy.

“Đã quá bốn mươi rồi đấy. Đúng ra là bốn mươi hai. Hãy sống đàng hoàng vào con nhé”

Tôi nghe ra giọng nói của mẹ. Mẹ mình giờ đã bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?

“Nhân sinh chỉ có thể thuận theo hoàn cảnh. Lúc nào cũng phải tranh đấu hết sức mình thôi. Bởi vì nước chỉ có thể chảy từ cao xuống thấp mà…”

Đó là câu nói cửa miệng của mẹ. Trong cái bình thân thể tôi đây, thứ nước nào đã bắt đầu đọng lại nhỉ?

THANH ÂM CỦA ĐÁ

Tôi có bảy năm sống cùng những tiếng sóng vỗ bờ. Có lẽ sẽ có người cảm thấy ghen tỵ nhưng nhưng lắng nghe tiếng sóng biển vỗ vào ghềnh đá không phải lúc nào cũng khiến tâm hồn mình thấy dễ chịu đâu.

Suốt ba ngày ba đêm, tiếng mưa gió thét gào ngoài khung cửa kính cùng với tiếng sóng vỗ như cuồng loạn, gió rít từng hồi suốt đêm như có một gã khổng lồ đang huýt sáo.

Ngược với những lúc đó, có mùa biển lặng đến bất an, không hề nghe ra tiếng sóng vỗ.

Những khi đó, vào đêm xuống tôi vùi mình trong chăn, tưởng tượng ra những con sóng nhỏ ngoài biển đen và nghĩ về những thanh âm sóng vỗ.

Tôi luôn cảm thấy hứng thú sâu sắc trong những lúc yên lặng hay những nơi chốn vắng im.

Khi đi du lịch vào sâu trong núi, hay vòng quanh vịnh biển, lúc chợt nhận thấy mình chỉ ở một mình, hay khi xung quanh không một tiếng động, sự yên lặng trở lại hoàn toàn, thấy mình chỉ là một chấm tồn tại nhỏ bé trong thiên nhiên bát ngát là tâm tư tôi lại trở nên an định. Chỉ những khi đó tôi mới có thể được trở về với con người thực của chính mình, không phấn son tô vẽ.

Rồi tôi cảm nhận được tiếng cỏ lá, tiếng những viên đá nhỏ dưới chân mình hay tiếng những cành cây đang thì thầm khe khẽ.

Có thứ lắm lời, lại có thứ thì thầm lặp đi lặp lại những điều vô nghĩa mà tôi không hiểu rõ. Người ta thường nói đến thanh âm của tự nhiên nhưng tôi chưa từng cảm nhận theo cách như thế. Tôi chỉ nghĩ chúng đang nói chuyện một cách đương nhiên thôi.

Trên bàn làm việc của tôi có để một viên đá nhỏ. Nó được người vợ đã mất của tôi nhặt từ Tsugaru về để lên bàn của tôi như một món quà lưu niệm phương xa. Nàng hay nhặt về những viên đá nhỏ, những đoạn cây gãy và vui vẻ đặt lên chỗ bàn làm việc của tôi.

Nàng đã đi đâu đó mất hút rồi, chỉ còn lại chỗ làm việc đêm khuya là những viên đá nhỏ và đoạn cây gãy mà thôi.

Đôi khi, giữa khoảng thời gian làm việc, tôi nhìn những vật nhỏ bé đó và cảm thấy như thể chúng đã khẽ dịch chuyển vị trí vậy.

Có lẽ chúng đã di chuyển từng chút từng chút một, không muốn làm gián đoạn công việc của tôi chăng? Những đồ vật đã cùng tôi trong căn phòng ảm đạm của người sống một mình, trong chuyến tàu xa hay cùng lên máy bay, đối với những chỗ xa lạ chúng nhìn dáo dác là chuyện đương nhiên thôi. Tôi cảm thấy buồn cười.

Tuy nhiên những điều như thế dần mất đi mỗi khi tôi chuyển nhà.

Trong căn nhà nghỉ nơi chuyến du lịch phương xa, có khi âm sắc viên của đá nhỏ chợt vọng lên trong đầu tôi giữa đêm khuya thanh vắng một mình.

CON DỐC NHÌN VỀ PHÍA BIỂN

Một buổi chiều xuân, tôi ghé thăm một người bạn cũ nơi thành phố quê nhà. Hai bên con đường dốc là hàng cây anh đào. Gió thổi mạnh. Những đóa hoa anh đào nở muộn đôi lúc bay xuống. Tôi dừng bước nơi tảng đá lớn. Phong cảnh quen thuộc này khiến tôi nhớ mình đã từng thấy ở đâu. Quay đầu nhìn lại, tôi thấy quê nhà và biển Seto lấp lánh trong nắng mùa xuân.

Đã là chuyện của hai mươi năm trước.

“Không cần phải vội vàng như vậy. Chúng ta dừng đây nghỉ chút đi”

Thầy M nói. Đội bóng chày chúng tôi mới rời sân đấu, đi bộ lên con dốc này đến bến xe buýt. Mười mấy thành viên đội chúng tôi vẫn còn mặc trang phục thi đấu nhìn thầy M. Thầy ngồi xuống nơi tảng đá lớn, ngắm phố phường dưới kia và mặt biển mùa thu trải dài xa ngút tầm mắt.

Vào ngày đó đội bóng chày trường cấp ba chúng tôi nếm mùi thảm bại. Vì thua trận đấu đó mà giấc mộng tham dự ở Koshien mùa xuân năm sau tan thành mây khói. Tuy không phải là đội mạnh nhưng từ khi được chọn vào mùa hè năm đó chúng tôi đã tập luyện miệt mài không ngơi nghỉ một ngày nào. Tôi học lớp mười. Sau khi trận đấu kết thúc, tiền bối O là đội trưởng ngay lúc vừa rời sân đã bắt chúng tôi sắp hàng rồi nói với khuôn mặt rưng rưng nước mắt.

“Các cậu đánh tớ đi. Tớ cũng đánh các cậu nữa”

Tiếng đấm vào gò má từ đầu hàng vọng đến tai tôi. Thầy huấn luyện viên và thầy chủ nhiệm nhảy bổ vào can ngăn lại. Rồi các anh lớp cao ở lại, bọn lớp dưới chúng tôi theo thầy phó chủ nhiệm M ra bến xe buýt trước. Thầy M là giáo viên trẻ dạy môn triết học, nổi tiếng vì uống rượu bia đến tàn mạt. Thầy chỉ mới biết đến bóng chày mà thôi.

“Nhìn kìa, kia là sân bóng nơi các trò luyện tập. Mùa hè năm nay thật nóng nực làm sao”

Sau khi lẩm bẩm như vậy rồi thầy M im lặng. Ngọn gió cuối thu thổi qua khuôn mặt đỏ gay của chúng tôi buốt lạnh.

“Nhưng mà nếu nhìn từ đây thì chúng ta có thể thấy rõ là thành phố này không chỉ có một mình sân đấu kia thôi đâu nhỉ”

Nói rồi thầy nhìn ra phía biển xa mà cười. Cái sân đấu của chúng tôi nhìn nhỏ xíu như một khu vườn trong cái hộp, phía xa kia là mặt biển lấp lánh ánh sáng hoàng kim. Chúng tôi đứng một lúc lâu sau thì mấy anh lớp trên cũng đi đến phía dưới con dốc. Chúng tôi làm ra vẻ đứng chờ rồi mọi người cùng nhau đi về.

Tảng đá này giờ trông thấy nhỏ hơn ngày xưa. Mùi hương cây dìu dịu. Tôi lại rời bước khỏi con đường dốc.

BỜ NƯỚC

Tôi đã từng đến trọ trong một căn nhà truyền thống ở Nagasaki, Niigata.

Căn nhà đó vốn là nơi nấu rượu nên xung quanh có nhiều giếng nước. Nghe nói một dải vùng này gần con sông Shinanogawa đều nổi tiếng là có mạch nước ngon tinh khiết.

Buổi sáng hôm sau, khi đi dạo bộ trong vườn nhà tôi thấy một cái ao nước nhỏ dưới gốc cây sam đã hơn trăm năm tuổi.

Gió mùa thu bắt đầu thổi hiu hiu. Tôi ngồi nơi góc bờ ao hút thuốc. Bất chợt tôi thấy có bóng dáng côn trùng đang bơi thanh thoát trên mặt ao phía xa. Con gì vậy nhỉ? Tôi nghĩ thầm. Thì ra là con nhện nước. Mấy con nhện nước cứ tụ lại rồi tản ra, mỗi con đi về một hướng. Đúng là một quang cảnh gây buồn cười như khi ta chơi pháo bông que vậy. Trong khi chăm chú nhìn những con côn trùng nhỏ bé đó, chợt tôi nhớ lại ngày nhỏ mình cũng đã từng ngồi bên bờ ao ngắm nhện nước bơi lượn trên mặt ao.

Có lẽ lúc đó tôi mới vào học tiểu học, chừng bảy hay tám tuổi gì đó thì phải. Như vậy là đã hơn ba mươi năm trước rồi. Tuy vậy tôi vẫn nhớ như in cả mùi cỏ dại rậm rạp bên bờ ao nữa. Cái ao đó nằm trong khuôn viên đền thờ thần đạo ngay sát trường tiểu học của tôi.

Tôi nhận ra mình đã quên mất những khoảng thời gian suy nghĩ vẩn vơ những thứ kỳ diệu xung quanh mình, chưa bận tâm nghĩ đến chuyện trở thành người lớn nữa. Những khi ngắm mây thay hình đổi dạng trên bầu trời hay nhìn mưa rả rích nhỏ giọt xuống trước hiên nhà. Ngay cả cơn gió, vũng nước và những viên đá nhỏ cũng làm tôi say mê.

Tôi nhớ rất rõ hình dáng những con nhện lượn lờ trên mặt nước. Hình bóng của chúng phản chiếu vào nước trông thật thú vị. Tôi nhớ mình đã hình dung hai con nhện nước như đang khiêu vũ trên sân khấu mặt ao. Hai con màu nâu và đen vừa bơi vừa tạo những vòng sóng nhỏ trên mặt ao màu vàng lục. Thỉnh thoảng có con cá diếc hay cá chạch nổi lên thế là bài khiêu vũ của nhện nước loạn nhịp. Vì tôi nhớ mùi hương cỏ mùa hạ nồng nàn như thế có nghĩa lúc đó là đầu thu chăng? Mặt ao đã chuyển sang màu xanh sẫm, gió lạnh thổi vào má và cổ tôi. Cuối cùng tôi ngẩng mặt lên nhìn bầu trời cao rộng. Xuyên qua tán cây thông cao, bầu trời hoàng hôn nhuộm màu đỏ sẫm rực rỡ. Mình phải về nhà thôi. Tôi nghĩ như thế rồi đứng dậy. Đột nhiên tôi cảm thấy cơn gió chiều thật lạnh người.

Tuy vậy mặt ao và những con côn trùng nhỏ bé đó khiến tôi cảm thấy thật khó mà rời đi. Cái cảm giác đó nó nhỏ như lực hấp dẫn nhưng lại có sức kéo rất nặng.

Đó là gì vậy nhỉ? Buổi sáng hôm đó tôi vừa nhớ lại được vừa cảm thấy rõ ràng tươi mới một quang cảnh mà giờ đây tôi không còn cảm giác được gì nữa.

BÊN KIA CỬA KÍNH

Tôi đi dạo trên khu phố Kahara, Saijoshi, Kyoto trong cơn gió lạnh đầu đông. Tháp chạp đã gần kề nên các cửa hàng trên phố bắt đầu bán khuyến mãi dịp cuối năm.

Một bé gái đang nhón chân nhìn vào tủ kính trưng bày như dán vào tấm kính vậy. Trong tủ kính bày các món đồ trang điểm cho tóc như trâm kẹp, lược cài…Tôi nhìn vào gương mặt bé. Như thể bé đang mỉm cười…

Tôi cùng đứa em trai cùng nhau nhìn qua các tủ kính, thấy một chiếc kính viễn vọng nhìn các thiên thể. Dưới ánh đèn huỳnh quang đang nhấp nháy, chiếc kính viễn vọng được bao phủ bởi những đường viền trắng xung quanh nhìn như thể đang ngời sáng trong tuyết. Trên đó có đính giá tiền mà anh em chúng tôi chắc chắn không thể nào mua nổi.

“Nếu mình nhìn bằng cái kính này không biết mặt trăng sẽ lớn như thế nào nhỉ”

Em tôi nhìn chiếc kính không rời mắt mà nói. Tôi vừa nhớ đến tấm hình chụp bề mặt mặt trăng trong sách minh họa vừa gật đầu.

“Có ai đến mua thì phải kìa?”

Em trai tôi chợt hạ giọng. Tôi nghĩ thầm lại có đứa bé nào có thể mua được một vật xa xỉ đắt giá đến thế kia ư? Chúng tôi cứ đứng như chôn chân mãi ở chỗ đó. Phía sau lưng chúng tôi, những người lớn đứng lại nói vài câu gì đó rồi lại bỏ đi.

“Này, chiếc đồng hồ đeo tay kia tuyệt thật”

“Đúng nhỉ”

“Cái máy chụp hình kia được đấy. Nhưng đắt quá…”

Cuối cùng chiếc đồng hồ trong tủ kính bắt đầu gõ chuông boong boong, chúng tôi mới nhận ra mình đã đứng suốt hai tiếng đồng hồ nên vội vàng rời đi. Hai anh em chúng tôi ngước nhìn lên bầu trời đầy sao.

“Gom hết tiền mừng tuổi cũng không thể mua được đâu”

Em tôi thì thầm.

Trên đường trở về chúng tôi đi ngang cửa tiệm bán đồ trang điểm tóc lúc nãy nhưng bóng dáng của cô bé không thấy đâu. Nhưng chỗ bé đứng khi nãy không hiểu sao nhìn thật ấm áp.

Hoàng Long dịch từ nguyên tác Nhật ngữ

 

(Bài viết do dịch giả cung cấp độc quyền cho breadandrose.com )

Tôn giáo học

Vấn đề từ ngữ : MẶC KHẢI hay MẠC KHẢI ?

 

Nt. Ma-ri A-mê-li Nguyễn thị Sang, CND, ngày 14 tháng 9 năm 2011

  1. Đặt vấn đề

Từ nhiều năm qua, người công giáo Việt Nam thắc mắc : phải dùngmạckhảihay làmặckhải, vì các sách đạo của chúng ta dùng các từ này chưa nhất quán. Nhiều sách dùngmạckhải, trong khi những sách khác lại dùngmặckhải. Phải chăng phần lớn các sách dùngmạckhảiđã chịu ít nhiều ảnh hưởng của nhà Kinh Thánh, Cha Nguyễn Thế Thuấn (x. bản dịch “Kinh Thánh” của Cha) ?

Tuy tương đối mới, nhưng từmạckhảiđã có thời gian đủ dài để trở thành quen thuộc, nhất là trong nhiều năm, bản dịch của Cha là bản dịch duy nhất được phổ biến khá rộng rãi trong nước. Nhưng cũng nên đặt tiếp câu hỏi : tính quen thuộc này là kết quả của một thói quen (được nghe dùng thường xuyên hơn), hay của một sự chọn lựa có tính khoa học ?

Trước khi có ý kiến, xin đưa ra những tư liệu khả dĩ soi sáng vấn đề, nhất là giúp cho thấy từ trước đến nay, người trong nước đã dùng từ như thế nào. Chúng tôi sẽ dựa vào các từ điển hiện có thể tham khảo tại TP Hồ Chí Minh (có ghi hai mục từ đang bàn tới), tuy có lẽ không đầy đủ nhưng cũng xét được là những chứng cứ đáng tin cậy, trải qua lịch sử văn học trong nhiều thập niên.

  1. Thống kê tư liệu

B.1. Các từ được ghi trong các từ điển

mặc khải (tôn) Từ điển Việt Nam Ban tu thư Khai Trí.

1971

mặc khải Việt Nam tân từ điển Thanh Nghị. 1967
mạc chiếu = mặc chiếu

= illuminer, révéler

mặc thị = révéler

Từ điển Việt-Pháp Génibrel. 1898
mặc chiếu

mặc khải       = révéler

mặc thị

Dictionnaire annamite-

chinois-francais

Hue. 1937
mặc chiếu

mặc khải       = révéler

mặc thị

Dictionnaire vietnamien-

chinois-francais

Gouin. 1957
khải thị

mặc thị

révéler           = (Relig.)

thần khải

thiên khải

Từ điển Pháp-Việt Đào Duy Anh. 1957
thần khải

khải thị         =  (Relig.) révéler

thiên khải

Từ điển Pháp-Việt Viện ngôn ngữ học.

2000

thiên khải

révéler          =  (Relig.)

mặckhải

Pháp-Việt tân từ điển Thanh Nghị.

1961 và 1967

khải thị       =  révéler

mặc thị lục  =  sách Khải

huyền

Sách Kinh Thánh

/ thần học

bằng tiếng

Trung Hoa

Kết luận : không có sách nào dùng mạc khải, chỉ có Génibrel cho mạc chiếu, nhưng là ở mục từ “mạc = mặc”, tức là mặc đọc trại ra.

B.2. Nghĩa chữ

  • khải  啓  : vén, mở (vd. khải báo, khải trí, khải huyền)
  • thị  : cho thấy (vd. chỉ thị, thị oai),

khác với  視  : thấy (vd. cận thị, khinh thị)

  • mặc默  : ngầm, lặng lẽ, âm thầm, không nói ra (vd. mặc niệm, mặc nhiên). Chỉ có Đức-Trụ cho mặc thị với nghĩa là “cách tự nhiên, không cần hình thức, không bày tỏ ra”. Có thể “thị” đây là thấy, xem như … dù không nói ra.
  • mặckhải  默 啓  :

a/ trong Thanh Nghị (Việt Nam tân từ điển), với ghi chú ‘tôn’ và

b/ trong Ban tu thư Khai Trí (Từ điển Việt Nam) : sự gợi cho biết một cách thầm kín và không thể lấy lý trí để giảng giải được.

Theo nghĩa đã được hai từ điển trên nêu ra, nên tham khảo thêm :

c/ trong cuốn “Dictionnaire Petit Robert” :

*  révéler  : 1. faire savoir. V.dévoiler, manifester, etc…2. Faire connaître, par une voie surnaturelle (ce qui était ignoré des hommes et inconnaissable par la raison);

d/ và trong từ điển Trung Hoa :

  • khải thị  啓示 : cho biết chỉ thị, để đưa đến hiểu biết.
  1. Góp ý

Thói quen ứng dụng một từ ngữ đã được một bậc thầy chế ra là một hiện tượng phổ biến. Nhưng, theo như Génibrel đã ghi,mạc chiếu= mặc chiếu, tức là có những trường hợpmặcđược đọc trại ra thànhmạc. Chuyện đọc trại một số chữ không có gì là mới lạ ở một vài địa phương hay một vài môi trường. Do đó cũng có thể giả thiết rằng Cha Thuấn không phải đã chế ramạc khải, mà chỉ dùng cách nói của địa phương nơi Cha ở, hoặc cách nói của người cùng môi trường với Cha thôi.

Tuy nhiên, dù có theo giả thuyết này, chúng ta còn có thể nghĩ vấn đề nằm ở một tầm sâu hơn : để dùng dạngmạcthay vìmặc, một tác giả có thể có hai thái độ :

1/ đơn sơ dùng chữ thông dụng tại địa phương, tức là đọc trại chữmặcramạc;

2/ dùng âmmạccủa địa phương, với một chủ ý nhất định.

Vậy chúng ta có thể đặt câu hỏi : Cha Thuấn đã “đơn sơ” hay có chủ ý ?

Hãy giả thiết là Cha có chủ ý, vì nếu chỉ là việc “đọc trại” thì khi in thành sách, chỉ cần chỉnh lại thôi ; trường hợp có chủ ý mới cần xét đến vấn đề ngôn ngữ. Vậy giả thiết là Cha đã chọn dùngmạc, cố tình gán cho nó một nghĩa mới là “màn”, để sát với chữ La-tinhrevelarethuộc gốc chữvelumcó nghĩa là “màn”. Do đó,mạcở đây rất sáng giá về mặt nghĩa chữ, và thoạt tiên, từmạckhảinày rất là hấp dẫn, vì nó hàm ý cái “màn”, cho phép hiểumạc khảicó nghĩa là “vén màn”.

Nhưng lại có vấn đề về mặt khác.

Trước hết, xét theo ngữ pháp. Trong tiếng quốc ngữ, nghĩa này không đặt vấn đề, vì chữmạc- dạng đọc trại của chữmặc-và chữmạccó nghĩa là màn cũng đều viết như nhau và đọc như nhau. Nhưng viết theo Hoa ngữ thì có hai chữ khác nhau:

chữmạcdạng đọc trại củamặcviết là 

trong khi chữmạccó nghĩa là “màn” thì viết 

Vậy theo Hán Việt,mạc幕  vớimặc

là hai chữ có hai nghĩa hoàn toàn không ăn nhằm gì với nhau, không thể gán ghép bên này với bên nọ được.

Đàng khác, theo cấu trúc Hoa ngữ, Hán Việt, ghép từmạckhảitheo chủ ý của Cha Thuấn thật ra không chỉnh. Chúng ta vẫn nóikhaimạc(mở màn) vàbế mạc(đóng, hạ màn), tức là dùng công thứcđộng từ + danh từ bổ túc (=khai / bế+mạc). Vậy tại sao ở đây lại dùng công thứcdanh từ bổ túc + động từ? Nóimạckhảilà đảo ngược hẳn thứ tự bình thường các từ ngữ. Hoá ra như thể thay vì nóikhai mạc,bế mạc, nay nóimạckhai,mạcbế cũng được hay sao ?

Vả lại, bản thân Cha Thuấn cũng không dịch từ Hy-lạpapocalypsismột cách nhất quán :

  • tựa sách “Apocalypsis” thì Cha dịch là “Sách Khải huyền”,
  • liền sau đó, từ mở đầu cuốn sách, cũng là từ Hy-lạp đó, thì Cha lại dịch ra “Mạc khải” (Kh 1,1).

Thêm một bước nữa : từ La-tinhrevelatiodịch từ Hy-lạpapokalypsis, nghĩa làaction de découvrir… và nhấn mạnh ýđể lộ rahơn là nhấn mạnh các từ bổ túc. Tự điển Bailly còn cho thêm phần chú :fig., particul. révélation divine, có thể hiểu là nhấn mạnh khía cạnh siêu phàm hơn là cái màn vật chất. Như vậy chúng ta gặp lại định nghĩa của Thanh Nghị, Ban tu thư KT, và nghĩa 2 của Petit Robert, như nói trên (x. B.2).

Gần đây hơn, trong hai số bán nguyệt san “Kiến thức ngày nay”, tác giả An Chi đã trả lời bạn đọc về vấn đề này, và kết luận rằngmặc khảilà từ thích đáng (x. số 141 và 154, năm 1994).

Từ những lý lẽ trên, chúng ta có thể đề nghị rút ra những điểm sau đây :

  • muốn nhấn mạnh nghĩamàncủa từ La-tinhrevelare, revelatio, thì có thể giữmạc, nhưng nên dùng cho đúng cấu trúc từ, nghĩa là dùngkhải mạcthay chomạc khải,
  • muốn nhấn mạnh khía cạnh siêu nhiên trong tôn giáo (transcendance) mà Ban tu thư Khai Trí, Thanh Nghị và Petit Robert đã nêu, thì giữmặc khải.

Tuy nhiên, nhìn chung lại, từmặc khải đã có từ lâu trong văn chương tôn giáo nước nhà. Ngoài ra, nó còn có giá trị từ nguyên, nói lên ý nghĩa linh hứng và nội tâm (Giê-rê-mi-a 31,33-34 ; Giô-en 3,1-2 ; thông điệp “Divino afflante Spiritu”, EB 551, 553, 556, 567) và ý nghĩa siêu phàm nữa, hợp với quan niệm đặc thù của Ki-tô giáo là một đạo không do lý trí người phàm suy ra, mà được thông ban từ trời (Gio-an 1,18 ; hiến chế “Dei Verbum”, ch. 1 và 2, đặc biệt số 6). Vì thếmặc khảicó phần trội hơn tất cả những từ đã được các từ điển nêu ra.

 

Nt. Ma-ri A-mê-li Nguyễn thị Sang, CND

Nguồn: https://ktcgkpv.org/articles/get-article?id=57

Văn học Nhật Bản

Thơ Haiku tự do Nhật Bản

 

Thơ haiku tự do Nhật Bản khởi đầu với Kawahigashi Hekigoto (  河東碧梧桐) (1873-1937) và sau đó Ogiwara Seisensui (荻原 井泉水) (1884-1976), Ozaki Hosai (尾崎 放哉) (1885-1926), Taneda Santoka (種田 山頭火) (1882-1940) tiếp nối. Đặc trưng của phái thơ này là không cần đến quý ngữ và không phải câu nệ vào hình thức 5/7/5 như haiku truyền thống. Ozaki Hosai có thể được xem là nhà thơ thành công nhất của trường phái này với nhiều bài haiku được đánh giá là đặc sắc khó quên. Trong bài này, chúng tôi xin được giới thiệu chùm haiku tự do của Ogiwara Seisensui, Murakami Kijo và Ozaki Hosai. Bàng bạc trong mỗi bài thơ là niềm cô đơn của thân phận con người mà chúng ta có thể cảm nhận được mặc dù bị giới hạn bởi ngôn ngữ. Nhiều bài thơ vô cùng đơn giản nhưng tinh tế sâu sắc mà nếu như biết tiếng Nhật, đọc qua một lần chúng ta có thể nhớ được ngay. Trân trọng giới thiệu cùng quý bạn đọc.

  1. Ogiwara Seisensui

たんぽぽたんぽぽ砂浜に春が目を開く

Trên bờ biển cát

Bồ công anh, bồ công anh

Mùa xuân mở mắt

空をあゆむ朗朗と月ひとり

Đi qua trời thẳm

Vầng trăng kia

Lúc nào cũng sáng một mình

うちの蝶としてとんでいるしばらく

Quanh quẩn bên ta

Lâu rồi

Bướm thành bướm nhà

月光ほろほろ風鈴に戯れ

Ánh trăng tràn ngập,

đùa giỡn phong linh

こだま
「おーい」と淋しい人
「おーい」と淋しい山

Tiếng vọng

“Này”, người cô đơn nói

“Này”, núi cô độc đáp lời

石と石 月夜 寄りそう

Trong đêm trăng sáng

Những hòn đá

Ghì chặt lấy nhau

佛を信ず麦の穂の青きしんじつ

Tin vào Phật

Sự thật màu xanh

Nơi ngọn lúa mạch

すべてを失うた手と手が生きて握られる

Đánh mất tất cả

Chỉ bàn tay còn sống

Nắm chặt lấy nhau

月ばかりの月である空

Một vùng trời

Tràn ngập trăng và trăng

2.Murakami Kijo村上鬼城

 (1865-1938)

1.

冬蜂の死にどころなく歩きけり

Con ong mùa đông

Mải miết bước đi

Vì không còn nơi nào để chết

2.

春雨や確かに見たる石の精

Tôi đã chắc thấy

Tinh thần của đá

Trong cơn mưa xuân

3.

浅間山の 煙出て見よ 今朝の月

Định ngước mắt nhìn

Núi Asama mờ khói

Gặp vầng trăng sớm mai

4.

pastedGraphic.png

Buổi sáng mùa thu

Tôi nhìn gương soi

Thấy mặt cha mình

5.

春の夜や泣きながら寝る子供達

Buổi tối mùa xuân

Những đứa con tôi

Vừa khóc vừa  ngủ

6.

水の上火竜の走る花火かな

Con rồng lửa

Chạy trên mặt nước

Pháo hoa

  1. Ozaki Hosai

1.

山に登れば淋しい村がみんな見える

Lên núi cao sẽ thấy

Tất cả mọi người

Trong ngôi làng cô đơn

2.

働きに行く人ばかりの電車

Trên chuyến tàu điện

Chỉ toàn thấy

Những người đi làm mà thôi

3.

壁の新聞の女はいつも泣いて居る

Người con gái

Trên tờ báo dán tường

Lúc nào cũng khóc

4.

入れものが無い両手で受ける

Không có túi đựng

Xin nhận

Bằng cả hai tay

5.

心をまとめる鉛筆とがらす

Tôi dồn tâm lực

Mài sắc chiếc bút chì

月夜の葦が折れとる

Đám lau sậy

Gãy

Trong đêm trăng

6.

春の山のうしろから煙が出だした

Khói dâng cao

Phía sau ngọn núi mùa xuân

7.

沈黙の池に亀一つ浮き上る

Một chú rùa

Nổi lên

Trên cái ao trầm mặc

8.

淋しい寝る本がない

Không có sách đọc

Tôi đi ngủ

Trong nỗi quạnh hiu

9.

爪切つたゆびが十本ある

Tôi cắt móng tay

Bàn tay mười ngón

10.

一人の道が暮れて来た

Con đường một mình

Ngả bóng

Hoàng hôn

11

大風の空の中にて鳴る鐘

Tiếng chuông rung

Trong bầu trời

Đầy gió

12.

マツチつかぬ夕風の涼しさに話す

Cơn gió lạnh ban đêm

Que diêm không thắp sáng

Cuộc trò chuyện âm thầm

13.

何もかも死に尽したる野面にて我が足音

Chỉ còn tiếng chân tôi

Trên đồng hoang

Tất cả đều đã chết

14

長雨あまる小窓で杏落つるばかり

Mưa dằng dặc

Ngoài song cửa nhỏ

Chỉ có trái hạnh rơi

15.

犬が覗いて行く垣根にて何事もない昼

Nơi hàng rào

Con chó nhìn vào rồi bỏ đi

Một buổi trưa vô sự

16.

牛の眼なつかしく堤の夕の行きずり

Đi qua bờ đê buổi chạng vạng

Ánh mắt chú bò

Nhìn tôi sao thân thiết

17.

船は皆出てしまひ雪の山山なり

Tất cả con tàu ra khơi

Còn lại

Những ngọn núi phủ đầy tuyết

18.

静かなるかげを動かし客に茶をつぐ

Lê cái bóng im lìm

Tôi rót trà

Mời khách

19.

雨の日は御灯ともし一人居る

Ngày mưa

Tôi thắp nến

Lặng lẽ ngồi một mình

20.

井戸の暗さにわが顔を見出す

Tôi tìm mặt mình

Nơi đáy tối

Giếng nước sâu

21.

何も忘れた気で夏帽かぶつて

Đội chiếc nón mùa hạ

Tôi giả vờ như

Đã quên đi tất cả

22.

父子で住んで言葉少なく朝顔が咲いて

Cha con sống cùng nhau

Kiệm lời

Hoa triêu nhan nở tươi

23.

たばこが消えて居る淋しさをなげすてる

Điếu thuốc đã tàn

Tôi quăng ném đi

Sự hiu quạnh của mình

24.

やせたからだを窓に置き船の汽笛

Lê tấm thân gầy

Đến bên cửa sổ

Nghe tiếng còi tàu ra khơi

Hoàng Long dịch từ nguyên tác Nhật ngữ

 

(Bài viết do tác giả cung cấp độc quyền cho breadandrose.com )

Văn học Nhật Bản

Quý ngữ mùa xuân trong thơ Haiku

 

Thi ca từ xưa vốn là sự giao cảm giữa đất trời và con người. Đặc biệt với mùa xuân, thi nhân luôn dành một sự ưu ái đặc biệt. Có lẽ vì mùa xuân gợi nên nhiều cảm xúc tương phản, trái ngang nhiều nỗi nơi con người mà những tâm hồn nhạy cảm đã rung ngân lên những tiếng thơ nhiều cảm xúc. Khi đất trời chuyển mùa, cây cối xanh lộc mới, trong khí vị của một điều mới mẻ sắp đến người ta bất giác nhớ lại những năm tháng đã qua và cảm thấy sự hữu hạn của cuộc đời. Như Thiền sư Mãn Giác đã cảm tác “chớ bảo xuân tàn hao rụng hết, đêm qua sân trước một nhành mai”. Có nghĩa là mùa xuân mang đến cho chúng ta cảm giác về sự vô thường và lẽ tuần hoàn bất diệt.

Có một thể thơ cô đúc, ngắn gọn nhất thế giới của người Nhật Bản mang tên haiku thể hiện niềm giao cảm của con người với đất trời rõ rệt nhất. Masaoka Shiki, một nhà thơ haiku nổi tiếng đã định nghĩa “ Haiku là thể thơ ngâm vịnh bốn mùa” (俳句は季題を詠む詩である) hay theo cách dịch của bản tiếng Anh “haiku là thể thơ hiển bày chính mình qua quý ngữ” (haiku is poetry that expresses itself through season words).

Chỉ có mười bảy âm tiết, nên không như thơ Đường Trung Quốc hay thơ lục bát Việt Nam, thơ haiku nén chặt những nỗi niềm vào trong vài chữ gợi tả và dành phần còn lại để người đọc tự cảm thụ. Sự nén chặt đó là để gợi mở đến vô cùng.

Quý ngữ (季語từ chỉ mùa) vốn là yếu tố then chốt của thơ haiku truyền thống và vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong thơ haiku cách tân và hiện đại ngày nay. Chẳng hạn nhắc đến mùa hè là phải có tiếng ve sầu, pháo hoa, hoa sen, chim cuốc… Mùa thu phải có bão, sấm, dải Ngân hà, táo, lê, lá đỏ… Mùa đông là tuyết rơi, cành khô trơ trụi…

Quý ngữ gồm rất nhiều yếu tố cả về thời tiết, đất trời, sự hoạt động của con người, động thực vật… Chẳng hạn quý nhữ mùa xuân gồm có:

Thời tiết (jiko時候) ấm áp, sáng sủa, ngày dài, ngày chậm chạp, trưa mùa xuân…

Thiên văn (tenmon天文) trăng mờ, sương mù, gió sáng…

Địa lý (Chiri地理) nước mùa xuân, núi cười, băng nổi…

Sự kiện (Gyouji行事) viếng đền Ise, lấy nước đầu năm, lễ hội búp bê…

Đời sống (seikatsu生活) hái trà, xới ruộng, nhặt sò…

Động vật (doubutsu動物) mèo (động dục), nhạn, chim sẻ, tổ chuột…

Thực vật (shokubutsu植物) hoa mơ, liễu, sơn trà, hoa lê, hoa cải, hoa anh đào, hoa rơi, đi ngắm hoa…

Chúng ta thử tìm hiểu một bài bài thơ nổi tiếng sử dụng quý ngữ mùa xuân nhé.

Trước hết phải nói mùa xuân là mùa hoa, mùa cây cối đâm chồi nẩy lộc. Cho nên Nguyễn Bính mới cảm tác “mùa xuân là cả một mùa xanh”.

Ở Nhật Bản mùa xuân bắt đầu từ giữa tháng ba với hoa mơ nở “Hơi ấm mùa xuân, lan tỏa dần dần, trên từng cánh hoa mơ” (梅一輪一輪ほどの暖かさ) (Ransetsu) rồi sau đó đến hoa sơn trà “Hoa sơn trà, ngấn nước, đón gió xuân” (春風にむかぶ梅のしめり哉) (Shida Yaba) và đặc biệt là hoa anh đào. Loài hoa biểu tượng của xứ Phù Tang rụng xuống vào thời kỳ đẹp nhất đã gợi bao nhiêu nỗi niềm cho thi sĩ:

Hoa đào rơi

Hay còn trên cành

Cuối cùng cũng rụng rơi

散る桜残る桜も散る桜

Bài thơ trên là của thi tăng Ryokan, một nhà thơ lỗi lạc. Người Nhật say mê hoa anh đào không biết chán. Từ “ngắm hoa mùa xuân” (花見hanami) chỉ đi ngắm hoa anh đào. Đôi lúc từ “hoa anh đào” (桜sakura) được đồng nhất với loài hoa (花hana) nói chung. Như bài thơ sau đây của Rotsu (露通):

Ngọn đồi đầy hoa đào

Tôi sẽ tìm một hòn đá mát

Đánh một giấc ngủ sâu

肌のよき石に眠らん花の山

Ngắm ngày chưa đủ, người Nhật còn ngắm hoa anh đào đêm (yozakura夜桜) và để lại nhiều bài haiku tuyệt tác như bài sau đây của Shiki:

Ánh trăng soi

Những cánh hoa đào rơi

Một vùng lênh láng

夕月や一塊に散る桜

Ngoài ra còn hoa lê, hoa cải đã đi vào rất nhiều bài haiku kiệt tác như bức tranh thơ sau đây của nhà thơ và họa sĩ Yosa Buson (蕪村):

Mặt trăng phía đông

Mặt trời phía tây

Và đồng cải hoa vàng

菜の花や月は東日は西に

Cùng nhìn hoa lê nở nhưng Masaoka Shiki(正岡子規)và Yosa Buson (与謝蕪村) nhìn thấy hai cảnh khác nhau:

Cây lê nở hoa

Nơi căn nhà nát

Vết tích trận tương tàn

Shiki

梨さくや戦のあとの崩れ家

Có người con gái

Đọc thư dưới trăng

Trong hoa lê trắng

Buson

梨の花月にふみ読む女あり

Còn Issa (一茶) lại nhìn ra bước đi của mùa xuân qua mèo và chim sẻ:

Hết ngủ rồi thức dậy

Chú mèo lại ngáp dài

Đi ra ngoài mồi chài

寝て起きて大あくびして猫の恋

Giữa đám hoa trà

Có bầy chim rẻ

Rủ nhau trốn tìm

茶の花にかくれんぼする雀かな

Đất trời đã vậy, còn con người thì sao?

Với cảm quan tinh tế của mình, người Nhật có từ “nỗi buồn mùa xuân” (春愁Xuân sầu – Shunshu). Từ này chỉ nỗi buồn day dứt không yên vào mùa xuân. Tâm trạng đó không hẳn là nỗi buồn nhưng cũng khác với niềm vui. Nhà thơ Getto (月斗) đã diễn tả nỗi niềm đó như sau:

Màu xanh của cỏ

Khi tôi bước qua

Nỗi buồn mùa xuân

春愁や草をあるけば草青く

Từ ngàn năm nay, con người dù thời đại nào, dân tộc nào cũng đều có những nỗi niềm muôn thuở. Chỉ có cách diễn đạt là khác nhau.

Mùa xuân vốn là mùa sum họp, đoàn tụ. Chữ “xuân” (春) chiết tự ra sẽ là “tam nhân nhật” (三人日ngày ba người), ám chỉ mùa vui quây quần. Sau một năm vất vả, đi làm ăn xa, mùa xuân ai cũng muốn trở về quê nhà với gia đình.

Có người trở về quê nhà, nhìn thấy cây cối xanh tươi mà vui mừng “cố hương ơi, nơi nào ta cũng thấy, những ngọn núi mỉm cười” (故郷やどちらを見ても山笑う) (Shiki). “Núi mỉm cười” (山笑う) là quý ngữ mùa xuân còn “núi ngủ” (山眠る) là quý ngữ mùa đông thể hiện cách cảm thụ tự nhiên độc đáo của haiku. Nhưng trong hình ảnh “núi cười” phải chăng còn có niềm vui nhưng của người được về thăm quê cũ?

Còn bao nhiêu kẻ không về được đã phải cất tiếng thở than:

“Gió xuân

Con đường đê dài

Quê nhà thăm thẳm”

(Buson)

春風や堤長うして家遠し

Hay:

“Nhìn về quê hương

Xa xăm qua đỗi

Chỉ cánh hoa đào rơi”

(Shiki)

故郷の目に見えてただ桜散る

Ta nghe trong lời u uẩn có âm vang “Quê nhà xa lắc xa lơ đó/ Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay” (Nguyễn Bính). Cho nên, thi ca từ xưa đến nay vốn là sự gặp gỡ của những tâm hồn đồng điệu.

Vì là mùa của đoàn tụ nên nhiều khi ta muốn đi thăm một người bạn cũ “Chợt muốn đi thăm/ Một người bạn/ Trong ngày mưa xuân hôm nay” (春雨や友を訪ぬる想ひあり) (Ryokan)

Hay chờ bạn tri âm nào tới:

Ngay cả hương hoa mơ

Hay người khách nào đến

Cũng còn chung trà nứt bể này thôi

Issa

梅が香やどなたが来ても欠け茶碗

Tri âm không nhất thiết phải là một ai đó mà có thể là hương hoa mơ, quả bầu nứt nẻ, con mèo…

Lặng lẽ vuốt ve

Quả bầu nứt nẻ

Trong cơn mưa xuân

Ryokan

春雨や 静かになづる 破れふくべ

Mùa xuân còn gợi nỗi niềm nào còn phong kín:

Đêm xuân

Những con sóng yên lặng

Vỗ tràn nơi gối chăn

Buson

春の夜や音なき浪を枕もと

Những bài thơ nhỏ bé, cô đúc như “ngón tay chỉ mặt trăng”, đưa chúng ta vượt qua giới hạn của ngôn ngữ đễ tiếp cận với thực tại. Mỗi người chúng ta, tùy theo kinh nghiệm đã sống trải của riêng mình, có thể kinh ngạc hay đồng cảm với nỗi niềm của tác giả. Nhà thơ chỉ ra sự vật, còn dành phần chiêm nghiệm và cảm nhận cho chúng ta. Như một chung trà nhỏ đượm hương trong buổi sáng ban mai tinh khiết, ta lặng lẽ thưởng thức cho riêng mình rồi suy ngẫm về cuộc đời và nhân thế. Tất cả rồi sẽ tàn phai, sương tan khi nắng lên. Nhưng trong sự hữu hạn luôn ẩn chứa vô hạn, trong sự ra đi luôn có hẹn ngày về như sự tuần hoàn bất diệt của mùa xuân, như sự luân hồi vĩnh cửu của đời người.

Mùa xuân nhắc nhở cho ta điều đó. Để ta biết trân trọng hơn từng phút giây hiện tại, để ta biết yêu mình và yêu người.

Sài Gòn, tháng 10/2016

Hoàng Long

 

(Bài viết do tác giả cung cấp cho breadandrose.com )