Browsing Category

Văn học phương Tây

Văn học & Điện ảnh Văn học Pháp

“Bóng ma trong nhà hát”: Vở nhạc kịch thành công nhất mọi thời đại

Vừa qua, vở nhạc kịch Phantom of the Opera (Bóng ma trong nhà hát) của nhà soạn nhạc nổi tiếng Andrew Lloyd Webber đã trở thành tác phẩm đứng thứ hai ở sân khấu Broadway (Mỹ) về số buổi trình diễn (6.681 buổi), đẩy vở Les Misérables (Những người khốn khổ) xuống vị trí thứ ba.

Phantom of the Opera cũng được coi là vở nhạc kịch thành công nhất mọi thời đại với số tiền bán vé lên tới 3,2 tỉ USD (nên biết bộ phim ăn khách nhất từ trước đến nay, Titanic, cũng chỉ đạt doanh thu phòng vé 1,9 tỉ USD) và hơn 100.000 triệu lượt khán giả. Sau 16 năm kể từ ngày đầu  ra mắt cho đến nay, Phantom of the Opera đã có hàng loạt phiên bản được công diễn ở nhiều quốc gia, một bộ phim sắp ra đời và vô số giải thưởng giá trị. Bản CD ghi lại phần âm nhạc của vở diễn này là đĩa nhạc nên có đối với bất kỳ ai đam mê thể loại opera hiện đại, thậm chí cả những người ưa thích nhạc cổ điển. Và nó đã bắt đầu xuất hiện ở thị trường Việt Nam.

Nguồn gốc của “Bóng ma”

Vở nhạc kịch Phantom of the Opera được nhà soạn nhạc Andrew Llyod Webber dàn dựng từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn người Pháp Gaston Leroux, lần đầu xuất bản vào năm 1911. Opera ở đây chính là nhà hát Opera là kinh đô Paris, nước Pháp, cho đến lúc đó (năm 1911) vẫn được coi là nhà hát  Opera lớn nhất trên thế giới. Cũng như hình tượng chàng gù Quasimodo của Victor Hugo, bá tước Dracular của Bram Stocker, nhân vật Phantom của Gaston Leroux được xây dựng từ một truyền thuyết có thật, tuy nhiên, người Pháp không coi ông là Victor Hugo hay Bram Stocker nên cuốn sách nhanh chóng bị quên lãng. Phải đến năm 1922, khi Carl Laemmle, Chủ tịch hãng phim Universal, tình cờ đọc được Phantom of the Opera, ông này đã thực sự bị sốc và quyết định tái hiện câu chuyện trên màn ảnh. Năm 1925, bộ phim ra đời, ngay lập tức trở thành một cơn sốt. Nhân vật Phantom gây ấn tượng mạnh mẽ đến mức ở nhiều rạp chiếu phim lúc đó, người ta phải chuẩn bị bột ngửi miễn phí dành cho những khán giả yếu bóng vía tỉnh lại sau khi bị ngất do quá sợ hãi. Phantom, bá tước Dracular, Dr. Frankenstein đã trở thành ba hình tượng kinh dị trong văn học  được khai thác nhiều nhất ở mọi loại hình nghệ thuật còn lại và cũng không ngoa khi nói rằng cả một ngành công nghiệp đã được dựng nên xung quanh họ. Năm 1984, một đạo diễn trẻ người Anh chuyển soạn tác phẩm thành một tác phẩm sân khấu dưới hình thức gần như một vở nhạc kịch. Trong số khán giả của vở kịch này có Andrew Lloyd Webber, người mà sau đó đã giúp đưa tác phẩm với nguyên tác của Leroux lên một tầm cao mới. Thực ra, lúc đó, Lloyd Webber vẫn đang phải tập trung vào một tác phẩm khác mang tên Aspect of love (Các khía cạnh của tình yêu) nhưng câu truyện về Phantom vẫn còn in đậm trong tâm trí của ông. Chín tháng sau, trong một cửa hiệu sách cũ ở New York, ông tình cờ bắt gặp bản dịch tiếng Anh của cuốn tiểu thuyết. Và Lloyd Webber đã nhận thấy, đây không chỉ đơn thuần là một câu chuyện rùng rợn, cũng không dựa trên sự thù ghét và tàn nhẫn, mà là một bi kịch về tình yêu đau khổ không lối thoát. Từ nguyên tác, nhà soạn nhạc của chúng ta đã bỏ đi những đoạn  không logic, không cần thiết, những hình ảnh thô bạo và  thay đổi một số chi tiết cơ bản để đưa ra bản chất thật sự của tấn bi kịch này. Cho đến nay, cả thế giới hầu như chỉ biết về câu truyện theo phiên bản mà Lloyd Webber đã viết ra.

Nội dung của tấn bi kịch

Vào một thời điểm nào đó, khoảng những năm 1880, một con người khốn khổ với khuôn mặt bị biến dạng đã chạy trốn khỏi xã hội mà anh ta căm ghét, một xã hội đã ruồng bỏ anh ta và tìm kiếm một nơi trú ẩn an toàn trong mê lộ những tầng hầm và kho chứa bên dưới nhà hát Opera tại Paris. Theo năm tháng, bắt đầu xuất hiện những lời đồn đại về bóng đen lạ thoắt ẩn thoắt hiện bên trong nhà hát và những đồ vật bị mất một cách bí hiểm. Đến năm 1893, một lần, khi nhìn qua một lỗ nhỏ về phía sân khấu, việc anh  vẫn thường hay làm, Phantom nhìn thấy Christie,  một diễn viên phụ trẻ đẹp và ngay lập tức cảm thấy trái tim mình đã thuộc về nàng. Bản thân Phantom đã có một kỹ thuật hát Opera hoàn hảo, nhờ được  nghe những giọng ca hay nhất của châu Âu trong nhiều năm. Và anh xuất hiện, dạy Christie hát. Bằng chất giọng thuần khiết, trong vắt và những gì học được từ Phantom, Christie được nhận vai chính và vai diễn của cô đã làm rung động cả Paris. Phantom hy vọng Christie sẽ yêu mình để đáp lại sự dạy dỗ, nhưng đau đớn thay, nàng lại gửi trọn tình yêu cho Raoul de Chagny, một chàng quý tộc trẻ tuổi, đẹp trai. Đau khổ, tức giận và ghen tị, Phantom đã tìm cách bắt cóc Christie ngay khi cô đang diễn giữa sân khấu, đưa cô đến nơi ở của mình, cạnh một chiếc hồ ngầm ở tầng hầm thứ bảy, cũng là tầng hầm sâu nhất của nhà hát Opera. Chàng quý tộc trẻ, bỏ qua nỗi sợ hãi bóng tối thăm thẳm đã xuống đến nơi và giải cứu cô gái. Được phép chọn lựa, Christie đã chọn chàng thanh niên đẹp như thiên thần. Phantom có thể giết họ nhưng kìa, đám đông phía trên đang đi xuống để tìm những người mất tích với hàng trăm ngọn đuốc sáng rực. Anh đã phải từ bỏ người mình yêu, chạy vào nơi duy nhất của tầng hầm còn sót lại bóng tối. Nhưng trước khi Phantom chạy đi, Christie trả lại cho anh chiếc nhẫn anh đã trao cho cô như vật đính hôn. Và người ta còn tìm thấy một vật anh để lại: chiếc hộp nhạc hình con khỉ, chơi bản Masquerade. Phantom, với con tim tan nát, thêm một lần bị chối bỏ đã biến mất và không bao giờ được nhắc đến…

Sức hấp dẫn của âm nhạc

Không còn nghi ngờ gì, Andrew Lloyd Webber hiện là nhà soạn nhạc kịch vĩ đại nhất trong thời đại chúng ta. Thành công lớn lao của Phantom of the Opera và một số vở diễn khác cũng do Lloyd Webber biên soạn phần lớn nhờ vào phần âm nhạc quá hấp dẫn, vừa mang tính hàn lâm vừa gần gũi với công chúng, dễ nghe, dễ vào, dễ ngấm nhưng lại không dễ quên. Những giai điệu của giọng nữ trong vở diễn ông viết ra vốn dành riêng cho vợ mình lúc đó, Sarah Brightman, người có giọng soprano trong vắt như pha lê, từng được giới phê bình nhận định nếu Phantom có sống lại thì nhất định anh sẽ chọn Sarah làm người hát chung với mình.

Hoành tráng nhưng cũng tràn ngập cảm xúc, Phantom of the Opera hấp dẫn thính giả, kể cả những người chưa một lần được xem vở diễn bằng những cung bậc âm thanh biến hóa đến kỳ ảo, khi thì êm ái nhẹ nhàng, lúc thì dồn dập mạnh mẽ. Ca khúc chủ đề, Phantom of the Opera là một bản nhạc kinh điển, từng được nhiều nghệ sĩ thể hiện lại theo những phong cách khác nhau. Đó là lúc Phantom xuất hiện, như thực như ảo trước mắt Christie và bắt đầu dạy cô hát. In sleep he sang to me, in dream he came… And do I dream again… (Anh hát với tôi trong giấc ngủ, anh đến với tôi trong giấc mơ… Phải chăng tôi lại mơ lần nữa…). Và tất cả chợt như vỡ ào ra trong đoạn song ca giữa hai người trên nền nhạc đệm nhuốm đầy màu sắc huyền bí, đủ để người nghe hình dung ra cảnh Christie đứng một mình trong bóng tối, hát với một giọng nam vang vọng đằng sau tấm màn nhung. Rồi Phantom xuất hiện với chiếc mặt nạ sắt che đi một phần khuôn mặt. Bầu không khí lại chùng  xuống khi Phantom  bắt đầu cất tiếng hát… Đó là ca khúc Music in the night. Tiếng thét của Christie như đẩy toàn bộ vở diễn lên cao trào, và sau đó là câu hỏi của cô cứ lặp đi lặp lại why have you brought me here… (tại sao lại mang em tới chỗ này…) Khúc song ca trong All I ask of you dễ làm người nghe nhớ đến Time to say goodbye, ca khúc kinh điển Sarah Brightman hát cùng nghệ sĩ Opera mù Andrea Boceli. Tiếng cười của Phantom, tiếng kêu thất thanh của Christie trên nền nhạc nhỏ dần làm người nghe như cảm nhận được hoàn cảnh của 2 người lúc đó… Âm thanh trong hồi Masquerade/Why so silent mang đầy màu sắc của một vở Opera cổ điển, tiếng hát như nhảy  múa theo giai điệu tươi vui rộn rã, dàn đồng ca khỏe khoắn, sau một khoảng dừng ngắn là cả một dòng thác âm thanh như đổ ập vào người nghe, rồi tất cả lắng xuống, tiếng đàn dây lại réo rắt vang lên. Hồi cuối cùng,  Point of no return là giọng ca thê lương, như đe dọa, như oán than của Phantom và lời cầu xin, nỗi sợ hãi của Christie. Quyết định của nàng đã làm con tim anh vỡ nát. Nhưng kìa, đoàn người đã xuống và Phantom  lê bước vào bóng tối. Âm thanh chùng xuống, nghẹn ngào  như tỏ niềm tiếc thương cho một tình yêu bị từ chối…

Cho đến nay, CD phần âm nhạc của Phantom of the Opera đã tiêu thụ được hàng triệu bản trên toàn thế giới, không kém bất cứ một album nhạc hiện đại nào. Tất cả những gì bạn nên làm khi nghe tác phẩm kinh điển về ánh sáng và bóng tối, tình yêu và sự đau khổ này là “nhắm mắt lại và thả hồn bay cao”. Bạn sẽ cảm nhận được những điều kỳ diệu mới lạ, khác hẳn những gì bạn đã từng nghe.

Hoàng Cường (TVTD)

http://maivang.nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/bong-ma-trong-nha-hat-vo-nhac-kich-thanh-cong-nhat-moi-thoi-dai-54283.htm

 

 

 “Bóng ma trong Nhà hát”

25/12/2014 9:08:59 SA

Bóng ma trong nhà hát (The Phantom of the Opera) là vở nhạc kịch của Andrew Lloyd Webber, dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên (tiếng Pháp: Le Fantôme de l’Opéra) của Gaston Leroux.

“Nếu tôi là một bóng ma, thì đó chính là lòng thù ghét người đàn ông đã làm tôi ra thế.
Nếu tôi được tồn tại, đó là bởi tình yêu của em đã cứu chuộc tôi.”

(Gaston Leroux, Erik)

Bóng ma trong nhà hát (The Phantom of the Opera) là vở nhạc kịch của Andrew Lloyd Webber, dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên (tiếng Pháp: Le Fantôme de l’Opéra) của Gaston Leroux.

Từ khi biểu diễn lần đầu năm 1986 tới nay, Bóng ma trong nhà hát đã gặt hái được các giải thưởng danh giá như Giải Oliver cho nhạc kịch mới xuất sắc nhất và Giải Tony cho nhạc kịch xuất sắc nhất.

Bóng ma trong nhà hát kể về chuyện tình tay ba của Erik (bóng ma trong nhà hát), Christine Daaé (Cô gái Thụy Điển trẻ tuổi) và Raoul (người yêu của Christine).

Mẹ của Christine Daaé mất từ khi cô còn rất nhỏ. Cô và cha cô, ngưòi chơi violin rất nổi tiếng, đã đi vòng quanh khắp Thuỵ Điển để chơi nhạc. Khi Christine còn nhỏ, cha cô đã kể cho cô rất nhiều câu chuyện. Raoul, bạn thân của Christine, cũng rất thích nghe những câu chuyện của cha cô. Trước khi qua đời, cha đã nói với Christine rằng khi ông mất ông sẽ gửi Thiên thần âm nhạc, một nhân vật nằm trong các câu chuyện của ông khi xưa, đến với cô. Cô đã rất đau lòng trước cái chết của cha.

Christine trở thành một trong những diễn viên của dàn hợp xướng ở nhà hát Paris. Không lâu sau khi đến đó, cô bắt đầu nghe thấy có tiếng người nói chuyện và hát cho cô nghe. Cô tin rằng đó chắc chắn là Thiên thần âm nhạc mà cha cô đã gửi xuống và cô đã hỏi anh ta xem có phải không. Giọng nói ấy là của Erik, một trong những công nhân xây dựng nhà hát. Và anh cũng đã bí mật xây cho mình một căn nhà dưới tầng hầm nhà hát. Erik là một thiên tài âm nhạc, là bóng ma của nhà hát và anh đã tống tiền giám đốc nhà hát những năm qua. Nhưng anh ta lại yêu Christine ngay từ lần đầu gặp cô.

Với sự giúp đỡ của giọng nói ấy, Christine đã giành chiến thắng trong một buổi vũ hội. Ngay sau đó, Erik đưa Christine về nhà anh sống, căn nhà ở dưới tầng hầm. Sau 2 tuần, Christine muốn rời khỏi đó, Erik cũng đồng ý, nhưng với điều kiện là cô phải đeo nhẫn đính ước và phải giữ lòng chung thủy với anh ta.

Khi đã ra khỏi tầng hầm, Christine kể cho Raoul nghe về chuyện của Erik. Raoul hứa sẽ đưa cô đi, đi đến nơi mà Erik không thể nào tìm thấy cô. Christine đồng ý, nhưng cô cảm thấy thương cho Erik và cô đã ở lại cho đến khi cô có thể hát cho anh nghe lần cuối cùng. Erik đã lắng nghe hết cuộc nói chuyện của họ, anh đe doạ những kẻ dám cản đường anh cũng như là làm khó cho Christine.

Một đêm nọ, Erik đã bắt cóc Christine trở lại tầng hầm, Erik cố ép Christine phải cưới anh. Nếu cô từ chối, anh sẽ phá huỷ toàn bộ nhà hát với thứ chất nổ anh đã chuẩn bị sẵn, giết hết tất cả mọi người trong nhà hát, kể cả anh và cô. Christine tiếp tục từ chối Erik cho đến khi cô nhận ra Raoul lọt vào cạm bẫy của Erik khi cố giải thoát cô. Để cứu họ và tất cả mọi ngưòi, Christine đã đồng ý cưới Erik, cô hôn anh.

“Nếu tôi là một bóng ma, thì đó chính là lòng thù ghét người đàn ông đã làm tôi ra thế.
Nếu tôi được tồn tại, đó là bởi tình yêu của em đã cứu chuộc tôi.”

(Gaston Leroux, Erik)

Erik thừa nhận rằng, trước đó, trong cuộc đời của anh, anh chưa bao giờ được nhận một nụ hôn từ bất kì ai – kể cả mẹ ruột của anh. Anh để Christine đi và nói với cô “Hãy đi và cưới người mà em muốn cưới”, “Tôi biết em yêu anh ta”. Họ khóc cùng nhau. Sau đó Christine bỏ đi cùng Raoul.

Ba tuần sau, một thông báo xuất hiện trên tờ báo Paris, Erik đã qua đời.

Có tổng cộng 30 bài hát trong Bóng ma trong nhà hát, tiêu biểu như: “Think of Me “ (Nghĩ về tôi), “Angel of Music” (Thiên thần âm nhạc), “The Phantom of the Opera” (Bóng ma trong nhà hát), “Why Have You Brought Me Here? (Tại sao anh đưa em tới đây?), “The Point of No Return” (Tôi đang ở điểm không trở lại),…

Bóng ma trong nhà hát đã lưu diễn ở khắp nơi như: London, Vienna, Japan, Los Angeles, Stockholm, Toronto, Melbourne, Chicago, Hamburg, Singapore, Hong Kong,…

Bóng ma trong nhà hát là màn trình diễn đưoc trình diễn dài nhất trong lịch sử từ trước đến giờ. Bóng ma trong nhà hát được xem là vở nhạc kịch thành công nhất mọi thời đại.

“Erik không chết thực sự. Anh ta tiếp tục sống trong những linh hồn của những người chọn lắng nghe âm nhạc của màn đêm.”
(Gaston Leroux, Erik)
An Nhiên / Tạp chí SK
http://sankhau.com.vn/news/bong-ma-trong-nha-hat.aspx
Văn học & Điện ảnh Văn học Pháp

The men behind the mask (Global Times)

11 October, 2013

Veteran Broadway musical star Brad Little will always remember China. In 2004 he starred in the first production of the now classic show The Phantom of the Opera in Shanghai. At the end of the first performance, he met a group of Chinese fans for the first time. “Many, many Chinese women were staring at me earnestly with their eyes full of tears. They kept speaking to me in Chinese, as if I would understand. Of course, I couldn’t, but I could really feel what they were feeling.”It was a special moment especially as Little is, even by international standards, a grandmaster of this show and of the lead role. Since 1996 he has played The Phantom of the Opera on more than 2,000 occasions. But encountering the fans in Shanghai was an outstanding moment in a career of spotlights and standing ovations.

“I will never forget that moment in Shanghai. I learned that many local people had to put aside three weeks of their salaries to buy a ticket. They almost couldn’t afford to buy anything extra – probably just a key ring to remember the experience of watching this show. The audiences in Shanghai really made me believe that they cherished the show much more than any other place we had toured before.”

Cherished the show

Now, almost 10 years later, in a guestroom in the historic Jin Jiang Hotel on Maoming Road South in Shanghai, Little is surrounded by Chinese again – this time it’s the media interviewing him about the return season of The Phantom of the Opera.With him, is his new “Christine,” Claire Lyon, a 26-year-old soprano from Australia who has just joined the show’s Asian tour.

The Shanghai return season for the show will open on December 3 at the Shanghai Culture Square on Fuxing Road Middle (one of the square’s stated intentions is to stage at least one imported musical every year).

Sponsored by the Shanghai Pudong Development Bank, The Phantom of the Opera will play 60 times and the season will close on January 26.

In 2004 Shanghai saw 100 performances at the Shanghai Grand Theatre in People’s Square. The theater is closed at present for renovations but the new home for The Phantom of the Opera offers a larger auditorium and stage as well as state-of-the-art technical facilities.

Fei Yuanhong is the program director at Culture Square and explained that the square’s stage is 2 meters wider and the auditorium has 200 seats more than the 1,700 seats in the Shanghai Grand Theatre.

When the musical first played in Shanghai, Fei was then working at the grand theater and experienced the thrill of the production in Shanghai. “The popularity and effect this show had on Shanghai people was unparalleled,” Fei said.

The Phantom of the Opera does have a special place in people’s hearts. Although Shanghai had previously enjoyed Andrew Lloyd Webber’s Cats and the long-running Claude-Michel Schönberg musical, Les Miserables, the Phantom broke Chinese box office records and became a phenomenon.

“Soon after the Phantom had played in Shanghai, some fans tried to create their own Shanghai version of the show. They did this for love and they said they did not want to make money, but when the international production company, the Really Useful Group heard about it, they stopped the show,” Fei said.

“When we learned that there would be new Asian tour of the show after almost 10 years, we contacted them immediately and asked that Shanghai be placed high on the list of venues because we know the Phantom will be as big as ever at the box office.”
When preliminary bookings opened on May 25, 5,000 tickets went on offer and all were sold within five hours.

The universal appeal of this musical is a tribute to the original creators and the production company that ensures the standards of the show are maintained at all times and everywhere in the world.

The stage set with its lush velvet curtains, underground canals and lakes, fountains and huge chandelier make this one of the most spectacular stage productions in history. Another highlight is the concept of the half mask the Phantom wears (the Phantom is a disfigured musical genius who haunts the opera house in Paris).

Stewart Crosbie is the technical director of the touring production and in July, he visited Culture Square and told Chinese media that these were all integral to the success of the show. And the mask was the idea of Hal Prince, the legendary Broadway producer who directed the first London production of the musical in 1986.

Concept explained

Prince is now 85 and in an e-mail interview with the Global Times, he explained his concept of having the star wear a half mask.“I believed that it would free the performer in a way that a conventional mask would not. It was important that you see as much of his face as possible, including his eyes, and the half mask accomplishes that.”

Prince believes that old-fashioned theatricality is one of the keys to the show’s success – and the illusion of empty space. “I really don’t care much for updated technology, primarily because films do that sort of thing much better than we can and what I worship about the theater is empty space.”

He said that while the audience would often see glimpses of items like candelabras or remnants of furniture against a black background, this let the audience members create a fuller scene in their own minds.

“So, clearly, no two people in the audience see exactly the same show, and that’s how it should be. I believe that the audience’s contribution is part of the joy of the experience.” Prince said.

“It is exactly the same for us, the cast,” Little also emphasized. “Although I have played the same role over 2,000 times with probably 10 to 15 different Christines, every night is still different for me.”

Little recalled the time in 1996 when he first auditioned for Hal Prince. “Prince told me to show all the different sides of the character – the sick, the sympathetic and the vengeful. There are many ways to interpret the role and none of them are really wrong.”

And why does he, a performer who has appeared in dozens of major roles on stage, keep coming back to the Phantom? “Every time I’m asked that, I have to say I really don’t know. Who can explain about romance, about love?”

Playing the Phantom has helped Little in an unexpected way, he confessed to the Global Times. He suffers from dyslexia and his experience with this helped mold the way he portrayed the character. “I know what it is like to be called stupid by people so I could relate to the character. And by playing this role I have found self-confidence and got my self-esteem back.”

An Australian star

The Australian soprano Claire Lyon won the part of Christine after auditioning in Australia last year. Previously she had worked with Opera Australia in several productions at the Sydney Opera House.

“But I was singing songs from The Phantom of the Opera when I was about 5 years old in a singing contest and I always dreamed of performing this role,” Lyon told the Global Times. Lyon started to learn ballet when she was 3 years old and later studied music before joining Opera Australia.

Andrew Lloyd Webber’s show about theatrical revenge and true love has become one of the world’s most successful musicals, and is now in its 27th year on the West End stage, and its 25th year on Broadway, alongside productions in many other countries.

Reportedly it is also the most financially successful show of all time with total estimated worldwide takings of over $5.6 billion.

Fei also believes the secret of its success is its theatricality. “The story happens in a theater and it is a story within a story – as the audience is watching a play, the cast of this play is also performing another play.”

http://www.thephantomoftheopera.com/news/the-men-behind-the-mask

http://english.cri.cn/7146/2015/08/04/273s890258.htm

Văn học & Điện ảnh Văn học Pháp

Brad Little – Music of the night

Cuốn tiểu thuyết mở ra với lời thừa nhận của Gaston Leroux, Erik là ngưòi thật.

Bóng Ma Trong Rạp Hát

Mẹ của Christine Daaé mất từ khi cô còn rất nhỏ. Cô và cha cô, 1 ngưòi chơi violin rất nổi tiếng, đã đi vòng quanh khắp Thuỵ Điển để chơi nhạc. Cha cô đựoc biết đến như là ngưòi kéo đàn cho những đám cưói giỏi nhất trong mảnh đất mà họ sống. Khi Christine còn nhỏ, cha cô đã kể cho cô rất nhiều câu chuyện. Và khi Christine gặp và kết bạn với Raoul, cậu cũng rất thích nghe những câu chuyện của cha cô.

Sau đó, khi cha của Daaé qua đời – rất có thể là do bệnh lao- ông đã nói với Christine rằng khi mà ông mất ông sẽ gửi Thiên thần âm nhạc, 1 nhân vật nằm trong các câu chuyện của ông khi xưa, đến với cô. Cô đã rất đau lòng trước cái chết của ông. Rồi cô chung sống cùng với 1 ngưòi phụ nữ già nua, chồng bà đã qua đời nhưng trước đó ông đã từng giúp đỡ cha Christine rất nhiều lần.

Christine trở thành 1 trong những ngưòi của dàn hợp xướng ở nhà hát Paris. Không lâu khi cô đến đó thì cô bắt đầu nghe thấy có tiếng ngưòi nói chuyện và hát cho cô nghe. Cô tin rằng đó chắc chắn là Thiên thần âm nhạc mà cha cô đã gửi xuống và cô đã hỏi anh ta xem có phải không. Giọng nói ấy, thật chất thuộc về Erik, anh là 1 thiên tài nhưng không ai biết về việc ấy và anh nằm trong số những công nhân khi nhà hát đựoc xây dựng và anh cũng đã bí mật xây cho mình 1 căn nhà ở dưói tầng hầm nhà hát. Anh ta là bóng ma của nhà hát và anh ta đã tống tiền giám đốc của nhà hát những năm qua. Nhưng anh ta lại yêu Christine ngay từ lần đầu gặp cô.

Với sự giúp đỡ của giọng nói ấy, Christine đã giành chiến thắng trong 1 vũ hội của ông giám đốc vừa mới từ chức. Raoul, anh bạn từ lúc bé của cô đã nghe đến danh tiếng của cô. Sau buổi vũ hội ấy, Erik đưa Christine về nhà anh sống, căn nhà ở dưói tầng hầm, nhưng sau đó 2 tuần, khi mà Christine muốn rời khỏi đó, anh ta cũng đồng ý, nhưng với điều kiện là cô phải đeo nhẫn của anh ta và phải giữ lòng chung thuỷ với Erik.
Khi đã ra khỏi tầng hầm, Christine kể cho Raoul nghe về chuyện Erik đã đưa cô xuống tầng hầm sống. Raoul hứa với cô rằng anh sẽ đưa cô đi, đi đến nơi mà Erik không thể nào tìm thấy cô. Và Raoul định sẽ cùng bỏ đi với Christine ngày hôm sau và cô cũng đồng ý, nhưng cô cảm thấy thương cho Erik và cô đã ở lại cho đến khi cô có thể hát cho anh nghe lần cuối cùng. Cả 2 bỏ đi, không biết rằng Erik đã lắng nghe cuộc nói chuyện của họ. Trong suốt tuần mà cô chưa bỏ đi, Erik đã đe doạ những kẻ dám cản đường anh cũng như là làm khó cho Christine, kể cả giám đốc của nhà hát.

1 đêm nọ, Erik đã bắt cóc Christine. Trở về với tầng hầm, Erik cố ép Christine phải cưói anh. Nếu cô từ chối, anh sẽ phá huỷ toàn bộ nhà hát với thứ chất nổ anh đã chuẩn bị sẵn, giết hết tất cả mọi ngưòi ở trong nhà hát, kể cả anh và cô. Christine tiếp tục từ chới Erik cho đến khi cô nhận ra Raoul và 1 ngưòi đàn ông khác lọt vào cạm bẫy của Erik khi cố giải thoát cô. Để cứu họ và tất cả mọi ngưòi, Christine đã đồng ý cưói Erik, cô hôn anh. Erik đã thừa nhận rằng, trứoc đó, trong cuộc đời của anh, anh chưa bao giờ nhận 1 nụ hôn từ bất kì ai – kể cả mẹ ruột của anh. Anh để Christine đi và nói với cô “Hãy đi và cưói ngưòi mà em muốn cưói”, “Tôi biết em yêu anh ta”. Họ khóc cùng nhau nhưng sau đó cô đã bỏ đi. 3 tuần sau đó, 1 thông báo xuất hiện trên tờ báo Paris, Erik đã qua đời.
Chương 1

Văn học & Điện ảnh Văn học Hy-La

Ulysses (1954) – Mario Camerini, Mario Bava

https://www.youtube.com/watch?v=6fSOwQLsIvI

Ulysses (1954 film)

From Wikipedia, the free encyclopedia
 Ulysses is a 1954 fantasy-adventure film based on Homer’s epic poem Odyssey. The movie was made by director Mario Camerini, who co-wrote the screenplay with writer Franco Brusati. The original choice for director was Georg Wilhelm Pabst who quit at the last minute. The cinematographer Mario Bava co-directed it (uncredited).
Ulysses
UlyssesPress.jpeg

American Press Book
Directed by Mario Camerini
Mario Bava (uncredited)
Produced by Dino De Laurentiis
Carlo Ponti
Written by Franco Brusati
Mario Camerini
Ennio De Concini
Hugh Gray
Ben Hecht
Ivo Perilli
Irwin Shaw
Starring Kirk Douglas
Silvana Mangano
Anthony Quinn
Franco Interlenghi
Rossana Podestà
Music by Alessandro Cicognini
Cinematography Harold Rosson
Mario Bava (uncredited)
Edited by Leo Catozzo
Production
company
Lux Film
Distributed by Paramount Pictures(USA)
Release dates
6 October 1954 (Italy)
17 August 1955 (USA)
Running time
117 min.
Language Italian English
Budget $500,000

In the film Silvana Mangano plays two roles, as Penelope, the faithful wife of Ulysses and the sorceress, Circe. American star Kirk Douglas plays the Greek hero, Ulysses. Anthony Quinn plays Antinous. The tremendous success of this film led to the making of Hercules (1958), which was credited with igniting the Italian peplum craze of the 1960s.

Văn học & Điện ảnh Văn học Pháp

Les Misérables (1982) French

Les Misérables (1982 film)

From Wikipedia, the free encyclopedia
Les Misérables
Les Misérables FilmPoster.jpeg

Film poster
Directed by Robert Hossein
Produced by Dominique Harisparu
Sophie von Uslar
Written by Alain Decaux
Robert Hossein
Victor Hugo
Starring Lino Ventura
Music by André Hossein
Michel Magne
Cinematography Edmond Richard
Edited by Martine Barraqué
Sophie Bhaud
Distributed by GEF-CCFC
Release dates
  • 20 October 1982
Running time
200 minutes
Country France
Language French

Les Misérables is a 1982 French drama film directed by Robert Hossein. It is one of the numerous screen adaptations of the novel of the same name by Victor Hugo. It was entered into the 13th Moscow International Film Festival where it won a Special Prize.

Văn học & Điện ảnh Văn học Pháp

LES MISERABLES (1957)

 

From Wikipedia, the free encyclopedia
Les Misérables
Directed by Jean-Paul Le Chanois
Screenplay by Michel Audiard
René Barjavel
Based on Les Misérables
by Victor Hugo
Starring Jean Gabin
Music by Georges Van Parys
Cinematography Jacques Natteau
Edited by Lieselotte Johl
Emma Le Chanois
Production
company
Deutsche Film (DEFA)
Distributed by Pathé (France)
VEB Progress Film-Vertrieb (East Germany)
Continental Distributing(US)
Release dates
  • 12 March 1958 (France)
  • 16 January 1959(East Germany)
Running time
217 minutes
Country France
East Germany
Italy
Language French

Les Misérables is a 1958 French-East German-Italian film adaptation of the Victor Hugo novel released in France on 12 March 1958. Written byMichel Audiard and René Barjavel, the film was directed by Jean-Paul Le Chanois. It stars Jean Gabin as Jean Valjean.

Văn học Pháp

THE HUNCHBACK OF NOTRE DAME 1923

The Hunchback of Notre Dame (1923 film)

From Wikipedia, the free encyclopedia
The Hunchback of Notre Dame
Hunchback of Notre Dame (1923 film).jpg

British Theatrical poster
Directed by Wallace Worsley
Produced by Carl Laemmle
Irving Thalberg
Screenplay by Edward T. Lowe, Jr.
Perley Poore Sheehan
Based on The Hunchback of Notre-Dame
by Victor Hugo
Starring Lon Chaney
Patsy Ruth Miller
Norman Kerry
Nigel de Brulier
Brandon Hurst
Music by Cecil Copping
Carl Edouarde
Hugo Riesenfeld
Heinz Eric Roemheld
Cinematography Robert Newhard
Tony Kornman
Virgil Miller
Stephen S. Norton
Charles J. Stumar
Edited by Edward Curtiss
Maurice Pivar
Sydney Singerman
Distributed by Universal Pictures
Release dates
September 2, 1923
Running time
102 min
Country United States
Language Silent (English intertitles)
Budget $1,250,000 (estimated)
Box office $1.5 million

The Hunchback of Notre Dame is a 1923 American film starring Lon Chaney, directed by Wallace Worsley, and produced by Carl Laemmle and Irving Thalberg. The supporting cast includesPatsy Ruth Miller, Norman Kerry, Nigel de Brulier, and Brandon Hurst. The film was Universal’s “Super Jewel” of 1923 and was their most successful silent film, grossing over $3 million.

The film is based on Victor Hugo’s novel of the same name, and is notable for the grand sets that recall 15th century Paris as well as for Chaney’s performance and make-up as the tortured hunchback Quasimodo. The film elevated Chaney, already a well-known character actor, to full star status in Hollywood, and also helped set a standard for many later horror films, including Chaney’s The Phantom of the Opera in 1925. In 1951, the film entered the public domain (in the USA) due to the claimants failure to renew its copyright registration in the 28th year after publication.