Browsing Category

Văn học Mỹ

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 5: Sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực thời kỳ 1860-1914

 

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Cuộc Nội chiến Hoa Kỳ (1861 – 1865) giữa miền Bắc công nghiệp và miền Nam nông nghiệp chiếm hữu nô lệ là một bước ngoặt lịch sử Mỹ. Sau chiến tranh, sự lạc quan ngây thơ của một quốc gia dân chủ non trẻ nhường bước cho một thời kỳ kiệt quệ. Chủ nghĩa lý tưởng Mỹ vẫn tồn tại nhưng đã rẽ sang một hướng khác. Trước cuộc Nội chiến, những người theo lý tưởng chủ nghĩa đã giành vòng nguyệt quế về nhân quyền, đặc biệt là việc bãi bỏ chế độ nô lệ. Sau chiến tranh, người Mỹ lại càng lý tưởng hóa về sự tiến bộ và con người tự lập. Đây là kỷ nguyên của những nhà sản xuất và đầu cơ triệu phú, khi mà thuyết tiến hóa của Darwin và “quy luật về sự đấu tranh sinh tồn” của ông dường như là sự phê chuẩn cho những biện pháp đôi khi trái với luân thường đạo lý của các ông trùm kinh doanh.

Thương mại bùng nổ sau chiến tranh. Ngành công nghiệp phục vụ chiến tranh đã đẩy nền công nghiệp ở phương Bắc đi lên và mang đến cho nó uy tín và quyền lực chính trị. Nó cũng mang lại cho những người lãnh đạo công nghiệp kinh nghiệm quý giá trong quản lý con người và máy móc. Những nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ – sắt, than đá, dầu lửa, vàng và bạc – của đất Mỹ mang lợi nhuận đến cho các ngành kinh doanh. Hệ thống xe lửa liên lục địa mới, khánh thành năm 1869, và hệ thống điện tín xuyên lục địa bắt đầu hoạt động năm 1861, cung cấp cho nền công nghiệp nguyên vật liệu thị trường và thông tin. Dòng người nhập cư chảy vào liên tục cũng mang lại nguồn cung ứng lao động rẻ mạt có vẻ như vô tận. Hơn 23 triệu người nước ngoài – người Đức, người Scandinavia và người Ireland trong những năm đầu, và rồi sau đó người Trung Âu và Nam Âu liên tục đổ vào nước Mỹ khoảng giữa 1860 và 1910. Những công nhân hợp đồng người Hoa, Nhật và Philippines cũng được các chủ đồn điền ở Hawaii, các công ty xe lửa, và các tập đoàn kinh doanh khác của Mỹ ở vùng bờ biển phía tây nhập cư vào Mỹ.

Vào năm 1860, hầu hết dân Mỹ sống trong những trang trại hay trong những làng nhỏ, nhưng khoảng trước 1919 nửa dân số tập trung vào khoảng 12 đô thị. Những vấn đề của việc đô thị hóa và công nghiệp hóa xuất hiện: nghèo đói và nhà ở quá chật chội, điều kiện sống kém vệ sinh, lương thấp (được gọi là “nô lệ ăn lương”), điều kiện làm việc khó khăn và những kềm hãm không phù hợp với hoạt động kinh doanh. Những nghiệp đoàn lao động phát triển và các cuộc đình công làm cả nước nhận thức được tình cảnh khốn khó của người lao động. Nông dân cũng tham gia đấu tranh chống lại “những tập đoàn tài chính” của miền Đông, những kẻ được gọi là những ông vua ăn cướp như J.P Morgan và John D. Rockefeller. Những ngân hàng ở miền Đông của họ kiểm soát chặt chẽ những tài sản thế chấp và tín dụng thiết yếu cho sự phát triển và nền nông nghiệp ở miền Tây, trong khi các công ty xe lửa tính giá vận chuyển nông sản ra thành phố rất cao. Nông dân dần dần trở thành một đối tượng lố bịch, bị chế giễu như là một anh chàng “quỷnh”, một anh nhà quê thô kệch. Người Mỹ lý tưởng của thời kỳ sau Nội chiến chính là những nhà triệu phú. Nếu vào năm 1860, có không đến 100 người là triệu phú; thì vào khoảng 1875, đã có hơn 1.000 người.

Từ năm 1860 đến 1914, Hoa Kỳ đã biến đổi từ một cựu thuộc địa nông nghiệp, non trẻ, nhỏ bé trở thành một đất nước công nghiệp, hiện đại, khổng lồ. Từ một đất nước vay nợ vào năm 1860, vào khoảng trước năm 1914 nó trở thành một quốc gia giàu có nhất thế giới, với một số dân tăng hơn gấp đôi, từ 31 triệu trong năm 1860 đến 76 triệu trong năm 1900. Trước Thế chiến thứ I, Hoa Kỳ đã trở thành một cường quốc chính trên thế giới.

Khi nền công nghiệp hóa phát triển, sự tha hóa bắt đầu. Những cuốn tiểu thuyết đặc trưng Mỹ của thời Kỳ đó là: Maggie – A Girl of the Streets(Maggie, cô gái điếm) của Stephen Crane, Martin Eden của Jack London và sau này An American Tragedy (Một bi kịch Mỹ) của Theodore Dreiser – đã đặc tả những tổn thất của nền kinh tế và sự tha hóa của mỗi cá nhân yếu ớt và dễ bị tổn thương. Những kẻ sống sót, như Huck Finn của Twain, Humphrey Vanderveyden trong The Sea-Wolf (Hải tặc sói biển) của London và dì Carrie cơ hội chủ nghĩa của Dreiser, chịu đựng được khó khăn nhờ sức mạnh bên trong như lòng tốt, sự linh hoạt mềm dẻo và trên hết là tính cách cá nhân.

Samuel Clemens (Mark Twain)
(1835 – 1910) 

Samuel Clemens nổi tiếng với bút danh Mark Twain, lớn lên ở thị trấn biên giới Hannibal bên sông Mississippi bang Missouri. Câu nói nổi tiếng của Ernest Hemingway: tất cả nền văn học Mỹ xuất phát từ một cuốn sách vĩ đại, cuốn Adventures of Huckleberry Finn (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) của Twain, cho thấy vị trí cao vời vợi của nhà văn này trong truyền thống văn học. Đầu thế kỷ 19, nhiều nhà văn Mỹ có khuynh hướng quá hoa Mỹ, quá duy cảm, hoặc quá khoa trương – một phần vì họ vẫn nỗ lực chứng tỏ mình cũng có thể viết sang trọng như người Anh. Phong cách của Twain, trái lại dựa trên tiếng Mỹ bình dân, sống động, khỏe khoắn đã làm cho các nhà văn Mỹ có một cái nhìn mới, một sự trân trọng đối với tiếng nói dân tộc. Twain là nhà văn vĩ đại đầu tiên xuất thân từ vùng đất nội địa nước Mỹ và ông nắm bắt được thứ tiếng lóng khôi hài, độc đáo và tinh thần giải thiêng của xứ sở này([1]).

Đối với Twain và những tác giả Mỹ khác cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa hiện thực không thuần túy chỉ là một kỹ thuật văn học: nó là một cách nói lên sự thật và làm nổ tung những quy ước sáo mòn. Vì vậy nó tự do một cách sâu sắc và tiềm tàng sức mạnh phản kháng xã hội. Ví dụ nổi tiếng nhất là Huck Finn, một cậu bé nghèo quyết định đi theo tiếng nói của lương tâm và giúp đỡ một người nô lệ Da đen bỏ trốn tìm tự do, mặc dù Huck nghĩ rằng việc này có nghĩa là anh ta sẽ bị đày xuống địa ngục vì đã phá bỏ luật lệ.

Kiệt tác này của Twain, xuất hiện vào năm 1884, lấy bối cảnh ngôi làng St.Peterburg bên dòng sông Missippi. Huck là con trai của một gã lông bông nát rượu. Khi cậu vừa được một gia đình khả kính nhận làm con nuôi, thì cha cậu trong một cơn say điên loạn đã đe dọa giết cậu. Sợ mất mạng, Huck bỏ trốn, dựng lên cái chết giả của mình. Trên đường trốn chạy Huck gặp một kẻ bị ruồng bỏ, một nô lệ tên Jim. Chủ của anh, cô Watson đang nghĩ cách bán anh cho một vùng nô lệ khắc nghiệt hơn ở vùng hạ lưu sông Mississippi ở sâu dưới miền Nam. Huck và Jim trôi nổi trên một cái bè xuôi dòng Mississippi hùng vĩ, rồi bị một con tàu chạy bằng hơi nước nhận chìm, lạc mất nhau và về sau gặp lại nhau. Họ trải qua những cuộc phiêu lưu trên bộ đầy bất trắc, tức cười, phản ánh tính nhiều mặt, lòng quảng đại, và đôi lúc sự phi lý tàn ác của xã hội. Cuối cùng, người ta khám phá ra rằng chính cô Watson đã trả tự do cho Jim và một gia đình đáng kính muốn đùm bọc cho chú bé Huck hoang dã. Nhưng Huck trở nên bực mình với Xã hội văn minh và dự định trốn thoát đến lãnh địa của người Da đỏ. Đoạn kết mang đến cho độc giả phiên bản trái ngược với huyền thoại cổ điển về thành công của nước Mỹ: đó là con đường rộng mở dẫn đến miền đất hoang dã chưa bị xâm phạm, cách xa những ảnh hưởng suy đồi đạo đức của cái gọi là “văn minh”. Tiểu thuyết của James Fenimore Cooper, những bài tụng ca về con đường rộng mở của Walt Whiman, The Bear (Con gấu) của William Faulkmer; và On the Road (Trên đường) của Jack Kerouac là những ví dụ văn học khác.

Huckleberry Finn mang lại nguồn cảm hứng cho vô số những lý giải văn chương. Rõ ràng cuốn tiểu thuyết là một câu chuyện về cái chết, sự tái sinh và sự khởi đầu. Người nô lệ bỏ trốn – Jim, trở thành một người cha tinh thần đối với Huck. Khi quyết định cứu Jim, Huck, về mặt đạo đức, đã vượt ra khỏi những ràng buộc của xã hội chiếm hữu nô lệ. Chính những cuộc phiêu lưu của Jim đã dẫn dắt Huck làm cho anh thấu hiểu sự phức tạp của bản chất con người và cho anh lòng can đảm.

Cuốn tiểu thuyết cũng kịch hóa lý tưởng của Twain về một cộng đồng hòa hợp “Cái anh muốn, hơn tất cả mọi thứ trên đời lúc ở trên bè là làm cho mọi người hài lòng, cảm thấy mình đúng đắn và tử tế với người khác”. Cũng như con tàu Pequod của Melville, cái bè đã bị chìm, cùng với nó là cái xã hội đặc biệt ấy. Cái thế giới đơn giản, trong lành trên chiếc bè cuối cùng cũng bị nhận chìm bởi sự tiến bộ – con tàu chạy bằng hơi nước – nhưng hình ảnh huyền diệu của con sông vẫn còn ở lại, cũng mênh mông và thay đổi như chính cuộc đời.

Cái quan hệ không bền vững giữa thực tế và ảo tưởng là chủ đề mang tính cách Twain, là cái điều cơ bản lớn lao trong óc khôi hài của ông. Hình ảnh con sông hùng vĩ nhưng đầy cạm bẫy, luôn luôn thay đổi cũng là nét chính trong bức tranh phong cảnh giàu tưởng tượng của ông. Trong Life of the Mississippi (cuộc sống trên dòng sông Mississippi) Twain nhớ lại lúc ông được huấn luyện làm hoa tiêu trên tàu hơi nước, ông đã viết: “Giờ tôi đi làm để nắm được địa thế của con sông. Tôi cố chú tâm và cố gắng điều khiển những gì luôn trôi nổi, khó nắm bắt và đấy là những điều chính yếu”.

Ý thức đạo đức của Twain với tư cách là một nhà văn là âm vang của cái trách nhiệm hoa tiêu của ông lái con tàu đến nơi an toàn. Bút hiệu của Samuel Clemens, “Mark Twain”, là cụm từ mà các thủy thủ trên sông Mississippi dùng để chỉ 2 122 123 sải nước (3,6 mét) là độ sâu cần thiết cho tàu đi an toàn. Mục đích nghiêm túc của Twain, kết hợp với văn óc trào lộng của một thiên tài hiếm có, giữ cho các tác phẩm của ông còn nguyên vẻ tươi trẻ và hấp dẫn.

VĂN HỌC HIỆN THỰC VÀ TRÀO PHÚNG VÙNG BIÊN THÙY

Hai trào lưu văn học chủ yếu ở Mỹ thế kỷ 19 hòa quyện trong Mark Twain đó là trào lưu khôi hài vùng biên cương và văn học mang màu sắc địa phương, hay “văn học địa phương”. Những dòng văn học có quan hệ với nhau này được bắt đầu vào những năm của thế kỷ trước – nhưng đã có mầm mống sớm hơn từ những truyền thồng văn chương truyền miệng của địa phương. Trong những ngôi làng tồi tàn ở biên giới, trên những chiếc tàu chạy đường sông, trong những lều trại ở vùng mỏ và quanh đống lửa trại của những chàng chăn bò cách biệt với những thú vui đô thị, nghệ thuật kể chuyện này bắt rễ và đơm hoa rực rỡ. Sự cường điệu, những truyện tiếu lâm, những lời khoác lác không thể tin được và những nhân vật lao động ngộ nghĩnh đem lại sức sống cho văn học vùng biên giới. Những hình thức trào phúng này được tìm thấy ở nhiều vùng biên thùy (bây giờ là vùng Nam nội địa và hạ Trung Tây), vùng mỏ biên giới và vùng bờ biển Thái Bình Dương. Mỗi vùng có riêng những nhân vật đặc biệt, thú vị và nhiều câu chuyện được góp nhặt về họ: Mike Fink, một người ưa lý sự trên những con tàu xuôi ngược dòng Mississippi; Casey Jones, kỹ sư xe lửa quả cảm; John Henry, người Mỹ Phi châu – một tay lái vững vàng như thép; Paul Bunyan, người thợ xẻ khổng lồ mà tên tuổi được quảng cáo khắp nơi; những người miền Tây như Kit Carson, một chiến binh người Da đỏ, và Davy Crocket, người hướng đạo. Những chiến công phi thường của họ được cường điệu và làm phong phú thêm những khúc ballad, trên các trang báo và tạp chí. Đôi lúc, như với Kit Carson và DaVy Crockett, những câu chuyện này được kết nối lại với nhau thành sách.

Twain, Faulkner, và nhiều nhà văn khác, đặc biệt là người miền Nam đều chịu ơn sâu sắc những cây viết hài thời trước Nội chiến ở vùng biên thùy như Johson Hooper, George Washington Harris, Augustus Longstreet, Thomas Bangs Thorpe và Joseph Baldwin. Từ những nhà văn này và dân cư vùng biên giới rộ lên một sự sinh sôi nảy nở nhanh chóng những từ đặc Mỹ vừa mới, vừa ngộ nghĩnh: “absquatulate” (ra đi), “Flabbergasted” (kỳ lạ), “rampagious” (bất trị, tàn bạo). Những người khoác lác ở địa phương, hay là “những kẻ ầm ĩ có đuôi kêu”, kẻ một mực khẳng định rằng mình là nửa ngựa, nửa cá sấu, tất cả là để nhấn mạnh cái nguồn lực vô hạn của vùng biên giới. Họ lấy thêm sức mạnh từ những hiểm họa của thiên nhiên có thể làm cho người yếu bóng vía kinh sợ. “Tôi là một cơn lốc thực sự, một người khoác lác nói, cứng rắn như gỗ hồ đào và dai như gió Tây Bắc. Tôi có cú đấm thôi sơn và quét một cú có thể bạt đi một đám đông để lại một khoảng trống một hecta”.

CÁC NHÀ VĂN THUỘC TRÀO LƯU VĂN HỌC ĐỊA PHƯƠNG

Cũng như văn học trào phúng phổ biến ở vùng biên cương, dòng văn học mang màu sắc của từng miền cũng có những gốc rễ xa xưa nhưng chỉ cho ra đời những tác phẩm hay nhất một thời gian dài sau Nội chiến. Hiển nhiên, nhiều tác giả thời tiền chiến, từ Henry David Thoreau và Nathaniel Hawthorne cho đến John Greenleaf Whittier và James Russell Lowell, vẽ nên những bức chân dung nổi bật về nhiều vùng đất đặc biệt của Mỹ. Nhưng điều phân biệt các nhà văn địa phương với các bật tiền bối là sự tự ý thức và mối quan tâm đặc biệt đến việc thể hiện một nơi chốn nào đó với sự tả chân đầy ắp các sự kiện một cách chuẩn xác của họ.

Bret Harte (1836 – 1902) được mọi người nhớ đến như là tác giả của nhiều chuyện phiêu lưu như “The Luck of Roaring camp” (Vận may của một trại náo nhiệt) và “The Outcasts of Poker Flat (Những kẻ bị ruồng bỏ), lấy bối cảnh dọc theo vùng biên giới khai mỏ phía Tây. Là một nhà văn thành công vang dội đầu tiên của trường phái văn học mang sắc thái địa phương, Harte trong một thời gian ngắn có lẽ là tác giả nổi tiếng nhất ở Mỹ – sức hấp dẫn của những áng văn lãng mạn của miền Tây đầy tiếng súng của ông là thế. Là một nhà văn hiện thực đích thực, ông là một trong những người đầu tiên đưa những con người dưới đáy xã hội – những gã đánh bạc gian manh, những ả điếm diêm dúa, và những tên cướp thô lỗ – vào trong tác phẩm văn học nghiêm túc. Ông làm điều này rất thành công (giống như Charles Dickens ở Anh, người cũng rất mực ngưỡng mộ tác phẩm của Harte) bằng cách chứng minh rằng rốt cuộc trong số những con người có vẻ như cặn bã này cũng có những tấm lòng vàng.

Nhiều nhà văn nữ được độc giả nhớ đến vì những bức tranh mô tả vùng New England hết sức tinh tế của họ: Mary Wilkins Freeman (1852 – 1930), Harriet Beecher Stowe (1811 – 1896) và đặc biệt Sarah Orne Jewett (1849 – 1909). Sự độc đáo quan sát tinh tế và chuẩn xác về con người và cảnh vật vùng Maine và văn phòng trực cảm của Jeweett được thể hiện đậm nét trong truyện “The White Heron” (Con diệc trắng) trong tuyển tập Country of the Poited Firs (Quê hương những ngọn thông cao) (1896). Các tác phẩm đậm nét địa phương của Harriet Beecher Stowe đặc biệt là The Pearl of Orrs Island (Viên ngọc của đảo Orr – 1862) khắc họa những làng đánh cá bình dị ở Maine, đã có ảnh hưởng lớn đến Jewett. Những nhà văn nữ thế kỷ 19 đã tạo nên một thế giới riêng của họ với những ảnh hưởng và nâng đỡ về mặt đạo lý như có thể thấy trong những lá thư của họ. Phụ nữ trở thành giới độc giả chủ yếu của tiểu thuyết và nhiều phụ nữ còn viết những cuốn truyện, những bài thơ và những truyện cười rất nổi tiếng.

Mọi vùng trong đất nước tự ca ngợi chính mình trong các sáng tác văn học mang màu sắc địa phương. Một số tác phẩm thuộc loại này còn có cả nội dung phản kháng, chống đối mang tính xã hội, đặc biệt vào gần cuối thế kỷ khi mà sự bất bình đẳng xã hội và khó khăn về kinh tế trở thành vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Nạn phân biệt chủng tộc và bất bình đẳng giữa nam-nữ xuất hiện trong tác phẩm của các tác giả miền Nam như George Washington Cable (1844 – 1925) và Katee Chopin (1851 – 1904). Các tác phẩm đầy sức mạnh tố cáo của họ lấy bối cảnh ở Cajun (bang Lousiana thuộc địa của Pháp) đã bứt phá vượt lên trên dòng văn học mang sắc thái địa phương. Cuốn tiểu thuyết The Grandissimes (1880) của Cable bàn đến nạn phân biệt chủng tộc với một nghệ thuật tuyệt vời; cũng như tiểu thuyết táo bạo The Awakening (Bừng tỉnh – 1899) của Kate Chopin, về một phụ nữ với một nỗ lực định mệnh quyết tìm kiếm cho được bản thân mình qua nỗi đam mê, tác phẩm này đã đi trước thời đại. Trong The Awakening, một người đàn bà trẻ có một người chồng thành đạt, hết mực chiều chuộng vợ và những đứa con dễ thương đã từ bỏ gia đình, tiền bạc, địa vị xã hội, và cuối cùng chính cuộc đời mình để theo đuổi sự nhận chân về bản thân. Những cảnh tượng đầy chất thơ và hết sức gợi cảm về biển và chim chóc (bị nhốt trong lồng hay được tự do) và nhạc tính đã tạo cho cuốn tiểu thuyết ngắn này một sự phức tạp và mức độ sâu sắc không ngờ.

Thường đi đôi với The Awakening là câu chuyện thú vị “The Yellow Wallpaper” (Giấy dán tường màu vàng – 1892) của Charlotte Perkins Gilman (1860 – 1935). Cả hai tác phẩm đều bị lãng quên một thời gian dài, chỉ được các nhà phê bình văn học ủng hộ quyền phụ nữ khám phá ra vào cuối thế kỷ 20. Trong câu chuyện của Gilman, một bác sĩ ra vẻ khiêm nhường đã làm cho vợ mình phát điên vì nhốt bà vào trong căn phòng để “chữa” cho bà khỏi bệnh suy nhược thần kinh. Người vợ bị giam cầm này phản chiếu cuộc đời tù tội của mình lên tấm giấy dán tường; trong hình trang trí của nó, bà nhìn thấy những người phụ nữ bị giam cầm đang bò lê la sau những song sắt.

VĂN HỌC HIỆN THỰC VÙNG TRUNG TÂY

Trong nhiều năm làm chủ bút tạp chí Atlantic Monthly, William Dean Howells (1837 1920) đã xuất bản các tác phẩm mang phong cách hiện thực địa phương của Bret Harte, Mark Twain, George Washington Cable và những người khác. Ông còn là nhà văn hàng đầu của chủ nghĩa hiện thực và các tiểu thuyết của ông như A Modern Instance (Một trường hợp thời nay – 1882), The Rise of Silas Lapham (Sự thành công của Silas Lapham – 1885) và A Hazard of New Fotunes (Hiểm họa của vận hội mới – 1890), đan kết một cách cẩn thận những hiện trạng xã hội với cảm xúc của lớp người Mỹ trung lưu bình thường.

Lấy tình yêu, tham vọng, chủ nghĩa lý tưởng và sự cám dỗ những động lực cho các nhân vật của mình, Howells nhận thức một cách sắc sảo về sự băng hoại đạo đức của những nhà tài phiệt kinh doanh trong thời đại hoàng kim của thập niên 70, cuốn The Rise of Silas Lapham của HoWell dùng một tựa đề mỉa mai để xoáy sâu vào điểm này. Silas Lapham làm giàu bằng cách lừa lọc một người bạn kinh doanh già và hành động vô đạo đức của ông đã xáo trộn gia đình ông một cách sâu sắc, mặc dầu trong nhiều năm ông không nhận thức được hành động xấu xa của mình. Cuối cùng Lapham chuộc lại lỗi lầm bằng giải pháp hợp đạo lý, thà chịu phá sản hơn là thành đạt vô đạo. Silas Lapham cũng giống như Huckleberry Finn, là một câu chuyện về sự thất bại: công việc kinh doanh của Silas Lapham sụp đổ là sự lên ngôi về mặt đạo đức của ông. Vào giai đoạn cuối đời, Howells cũng như Twain, ngày càng trở nên tích cực hoạt động cho những lý tưởng chính trị, bảo vệ quyền của những người tổ chức nghiệp đoàn lao động và lên án chủ nghĩa thực dân của Mỹ ở Philippines.

CÁC NHÀ VĂN THEO QUAN ĐIỂM THẾ GIỚI CHỦ NGHĨA

Henry James
(1843 – 1916)

Henry James từng viết rằng nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật văn chương, “tạo ra cuộc sống, tạo ra mối quan tâm, tạo ra sự quan trọng”. Tiểu thuyết và sự nghiệp phê bình của James là những tác phẩm khó nhất, phức tạp nhất và tỉnh táo nhất trong thời kỳ đó. Cùng với Mark Twain, James thường được xếp vào hàng ngũ những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất của Mỹ vào nửa sau thế kỷ 19.

James nổi tiếng về “đề tài quốc tế” của mình – đó là mối quan hệ phức tạp giữa những người Mỹ ngây thơ và những người châu Âu có tư tưởng quốc tế. Những cuốn sách mà tác giả viết tiểu sử của ông là Leon Edel cho rằng thuộc vào giai đoạn đầu tiên, hay “giai đoạn quốc tế” của James bao gồm những tác phẩm Transatlantic Sketches (Những phác thảo xuyên Đại Tây Dương) gồm Những bài du ký (1875), The American (Người Mỹ) (1877),Daisy Miller (1879) và một kiệt tác, cuốn The Portrait of a Lady (Chân dung một mệnh phụ) (1881). Trong cuốn The American chẳng hạn, Christopher Neuman, một kỹ nghệ gia triệu phú tự lập thân, ngây thơ nhưng thông minh và lý tưởng, đi châu Âu tìm kiếm một ý trung nhân. Khi gia đình cô cự tuyệt vì ông thiếu một nguồn gốc quý tộc, ông lại có cơ hội để rửa hận cho mình khi quyết định không trả thù, ông đã chứng tỏ được sự hơn hẳn về mặt đạo đức của mình.

Thời kỳ sáng tác thứ hai của James là thời kỳ thử nghiệm. Ông khai thác những đề tài mới mẻ – phong trào nữ quyền và cải cách xã hội trong The Bostonians (Người Boston – 1886) và mưu đồ chính trị trong The Princess Casamassima (Công chúa Casamassima – 1886). Ông cũng cố gắng viết cho sân khấu, nhưng thất bại. Vở kịch Guy Domville (1895) bị la ó phản đối ngay đêm công diễn đầu tiên.

Vào giai đoạn thứ ba, hay “giai đoạn chủ yếu” của ông, James trở lại những đề tài quốc tế, nhưng xử lý chúng với sự nghiên cứu tâm lý sâu sắc và tính nghệ thuật được nâng cao. Cuốn The Wings of the Dove (Đôi cánh chim câu – 1902) rất phức tạp và hầu như huyền bí, The Ambassador (Ngài đại sứ – 1903) (mà James cho là cuốn tiểu thuyết hay nhất của mình) và The Golden Bow (Cái tô bằng vàng – 1904) ghi dấu giai đoạn quan trọng này. Nếu chủ đề chính của Twain là các hiện tượng cuộc sống và thế giới hiện thực, thì điều quan tâm thường xuyên của James là tri giác. Với James, chỉ có sự tự nhận thức về mình và tri giác rõ ràng về người khác mới mang lại sự khôn ngoan và một tình yêu vị tha. Trong khi James phát triển luận điểm này, tiểu thuyết của ông càng mang đậm tính chất tâm lý hơn và ít quan tâm đến những sự cố bên ngoài hơn. Trong tác phẩm sau này của James, những sự kiện quan trọng nhất đều mang tính cách tâm lý – thường là những khoảnh khắc giác ngộ thực sự cho phép những nhân vật thấy được sự mê lầm trước đây của mình. Ví dụ, trong The Ambassador, ông Lambert Strether đã luống tuổi nhưng sống rất lý tưởng khám phá một quan hệ yêu đương bí mật và cũng đồng thời phát hiện ra sự phức tạp mới mẻ trong đời sống nội tâm của mình. Sự cứng rắn, cương trực và đạo đức của ông trở nên người hơn và rộng lớn hơn khi ông thấy mình có khả năng chấp nhận những người đã sa ngã, phạm tội.

Edith Wharton
(1862 – 1937) 

Cũng như James, Edith Wharton có một quãng đời lớn lên ở châu Âu và cuối cùng chọn nó làm chốn dung thân. Bà xuất thân từ một gia đình giàu có, danh giá trong xã hội New York và tận mắt nhìn thấy sự suy vong của tầng lớp xã hội văn minh này. Cùng lọt vào tầm mắt của bà là sự phất lên của những gia đình kinh doanh, trưởng giả vừa học đòi vừa thô bạo. Sự chuyển đổi xã hội này là bối cảnh trong nhiều cuốn tiểu thuyết của bà.

Cũng như James, Wharton nêu ra những tương phản giữa người Mỹ và người Âu. Điều cốt lõi trong mối quan tâm của bà là cái hố sâu ngăn cách giữa thực trạng xã hội và bản ngã bên trong của mỗi người. Thường thì một nhân vật nhạy cảm thấy mình bị mắc kẹt giữa những con người vô cảm hoặc là các thế lực xã hội. Bản thân Edith Wharton đã trải qua kinh nghiệm về cái bẫy đó khi còn là một nhà văn trẻ. Bà đã phải chịu đựng một sự suy sụp tinh thần kéo dài phần nào bởi sự giằng co giữa vai trò làm nhà văn và làm vợ của bà. Những cuốn tiểu thuyết hay nhất của Wharton có The House of Mirth (Ngôi nhà của niềm vui – 1905), The Custom of the Country(Tập tục địa phương – 1913), Summer (Mùa hè – 1917), The Age of Innocence (Thời thơ ngây – 1920), và cuốn tiểu thuyết ngắn được trau chuốt tuyệt vời Ethan Frome (1911).

VĂN HỌC TỰ NHIÊN VÀ HIỆN THỰC TRẦN TRỤI

Sự mổ xẻ những động cơ ám muội về tiền bạc và tính dục trong sáng tác của Wharton và James đã nối kết họ với những tác giả mà xét bề ngoài hình như hoàn toàn khác biệt: Stephen Crane, Jack London, Frank Norris, Theodore Dreiser và Upton Sinclair. Giống như những nhà văn có quan điểm thế giới chủ nghĩa, nhưng với độ xác thực cao hơn, những nhà văn tự nhiên chủ nghĩa này đã sử dụng cơ sở hiện thực để liên hệ giữa cá nhân với xã hội. Họ thường vạch ra những vấn đề xã hội và chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết Darwin và lý thuyết triết học có liên quan của chủ nghĩa định mệnh, xem cá nhân như những con cờ của những thế lực kinh tế – xã hội vượt ra ngoài tầm kiểm soát của họ.

Chủ nghĩa tự nhiên thực chất là biểu hiện văn học của thuyết định mệnh. Kết hợp với sự mô tả chân thực, lạnh lùng cuộc sống của tầng lớp hạ lưu, thuyết định mệnh chối bỏ tôn giáo như là một sức mạnh thúc đẩy trên thế giới và thay vào đó quan niệm thế giới như là một cỗ máy. Các nhà tư tưởng Ánh sáng thế kỷ 18 cũng tưởng tượng thế giới là một cỗ máy, nhưng là một cỗ máy hoàn hảo, do Thượng đế tạo nên và dẫn đường đến sự tiến bộ và sự cải thiện nhân bản. Các nhà văn tự nhiên chủ nghĩa trái lại cho rằng thế giới là một cỗ máy mù quáng, chẳng có gì là thiêng liêng và vượt ra ngoài sự kiểm soát.

Nhà sử học Mỹ thế kỷ 19 Henry Adams xây dựng nên một lý thuyết chi tiết về lịch sử có liên hệ đến ý tưởng một cỗ máy phát điện, hay sức mạnh máy móc và một sự chuyển hóa năng lượng hoặc sự suy sụp của sức mạnh này. Adams không nhìn thấy những tiến bộ xã hội, ông chỉ nhìn thấy sự đi xuống không thể tránh khỏi của xã hội loài người.

Stephen Crane, con trai của một mục sư, trình bày sự đánh mất Thượng đế một cách cô đọng nhất:

Một người nói với vũ trụ:
“Thưa ngài, tôi tồn tại!”
“Tuy nhiên”, vũ trụ đáp lời
“Sự kiện đã không tạo nên trong ta
Một ý thức bổn phận”.

Giống như chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa Tự nhiên xuất hiện đầu tiên ở châu Âu. Nó thường được xem là xuất phát từ những tác phẩm của Honoré de Balzac vào thập niên 40 và được nhìn nhận như là một trào lưu văn học Pháp gắn liền với tên tuổi Gustave Flaubert, Edmond và Jules Goncourt, Émile Zola và Guy de Maupassant. Nó mạnh dạn phơi trần mặt trái bị che khuất của xã hội và những đề tài như ly dị, tình dục, ngoại tình, khốn cùng và tội ác.

Chủ nghĩa Tự nhiên nở rộ khi người Mỹ bắt đầu công cuộc đô thị hóa và nhận thức được tầm quan trọng của các thế lực kinh tế và xã hội rộng lớn. Vào trước 1890, các cửa ngõ biên giới được công bố chính thức đóng cửa. Hầu hết người Mỹ sống ở các thành phố, và việc kinh doanh có vai trò thống trị ngay cả ở những vùng thôn quê xa xôi, hẻo lánh.

Stephen Crane
(1817 -1900) 

Stephen Crane sinh ở Jersey. Tổ tiên của ông có lẽ là một trong những chiến sĩ của cuộc chiến tranh Cách mạng, những mục sư, những cảnh sát trưởng, những quan tòa, và nông dân đã sống trước đó một thế kỷ. Lập nghiệp là một phóng viên, ông cũng viết tiểu thuyết, tiểu luận, thơ và kịch. Crane nhìn cuộc đời ở dạng thô thiển trần trụi nhất, ở trong những khu nhà ổ chuột về trên chiến trường. Những truyện ngắn của ông – đặc biệt “The Open Boat” (Con thuyền), “The Blue Hotel” (Khách sạn màu xanh da trời) và “The Bride Comes to Yellow Sky” (Cô dâu đến Yellow Sky[2]) – là những ví dụ cho thể loại đó. Cuốn tiểu thuyết không thể nào quên về Nội chiến,The Red Badge of Courage (huy hiệu đỏ anh dũng) được nhiệt liệt hoan nghênh khi xuất bản năm 1895, nhưng ông không có được thời gian để tắm mình trong vinh quang trước khi chết ở tuổi 29, vì quá khinh suất trong việc giữ gìn sức khỏe. Ông hầu như bị lãng quên suốt trong hai thập niên đầu của thế kỷ 20, nhưng lại được dựng tượng qua một tiểu sử ngợi ca do Thomes Beer viết năm 1923. Kể từ đó, ông càng ngày càng trở nên nổi tiếng như là một người bênh vực quyền lợi quần chúng, một nhà văn hiện thực và tượng trưng chủ nghĩa.

Tác phẩm Maggie – A Girl of the Streets (Maggie – Cô gái điếm – 1893) của Crane là một trong những tác phẩm hay nhất nếu không phải là sớm nhất của chủ nghĩa tự nhiên Mỹ. Đây là câu chuyện đau lòng về một cô gái trẻ đã nghèo lại nhạy cảm, xuất thân từ một gia đình mạt hạng, bố mẹ rượu chè, vô học, hoàn toàn ruồng bỏ cô. Yêu và nóng lòng muốn trốn thoát không khí địa ngục gia đình, cô đã bị một gã đàn ông trẻ dụ dỗ về sống với mình, sau đó chẳng bao lâu gã lại bỏ rơi cô. Khi mà ngay cả người mẹ tự cho mình là đứng đắn cũng chối bỏ cô, thì Maggie chỉ còn cách trở thành một cô gái đứng đường để nuôi thân, nhưng chẳng bao lâu cô tự tử vì tuyệt vọng. Đề tài và chất liệu hoàn toàn trần tục kết hợp với văn phong khoa học, khách quan, không răn dạy đạo đức, đã đánh dấu Maggie là một tác phẩm tự nhiên chủ nghĩa.

Jack London
(1876 – 1916) 

Từ công nhân nghèo, tự học ở California, nhà văn của chủ nghĩa tự nhiên Jack London đã có một cú nhảy ngoạn mục từ cảnh cơ hàn bước lên đài danh vọng bởi tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của mình, The Son of the Wolf (Đứa con của Sói – 1904), phần lớn bối cảnh là ở vùng Klondike ở Alaska và Yukon ở Canada. Những cuốn sách bán chạy khác của ông gồmThe Call of the Wild (Tiếng gọi nơi hoang dã – 1903) và The Sea-Wolf (Hải tặc sói biển – 1904), khiến ông trở thành nhà văn được trả nhuận bút cao nhất ở Hoa Kỳ vào thời đó.

Cuốn tiểu thuyết mang tính cách tự thuật Martin Eden (1909) miêu tả những căng thẳng nội tại của “giấc mơ Mỹ” mà bản thân London đã trải qua khi ông như một vì sao từ nghèo khổ tối tăm bay đến chỗ giàu sang và danh tiếng. Eden, một thủy thủ nghèo mạt rệp, không được học hành nhưng thông minh và ham hiểu biết, quyết tâm trở thành nhà văn. Cuối cùng tác phẩm của anh làm cho anh trở nên giàu có và nổi tiếng, nhưng cũng chính lúc đó Eden nhận ra rằng người con gái mà anh yêu chỉ quan tâm đến tiền bạc và danh tiếng của anh mà thôi. Sự vỡ mộng trong tình yêu vì người trong mộng của mình hoàn toàn không có khả năng yêu thương đã làm cho anh mất luôn lòng tin vào phẩm giá con người. Anh cũng là nạn nhân của sự tha hóa giai cấp, vì anh không còn thuộc về tầng lớp lao động nữa, trong khi anh chối bỏ những giá trị vật chất của tầng lớp quý tộc mà vì nó anh đã phải lao động và nỗ lực vượt bực. Trên chuyến tàu đến Nam Thái Bình Dương anh đã nhảy xuống biển tự tử. Cũng như nhiều cuốn tiểu thuyết hay nhất thời đó, Martin Eden là câu chuyện về sự thất bại. Nó là mẫu mực cho cuốn The Great Gatsby (Gatsby vĩ đại) của F. Scott Fitzgerald khi nó bộc lộ sự tuyệt vọng của con người giữa vinh hoa phú quý.

Theodore Dreiser 
(1871 – 1945) 

Năm 1925, tác phẩm An American Tragedy (Một bi kịch Mỹ) của Theodore Dreiser ra đời, cũng giống như Martin Eden của London, khám phá những hiểm họa của giấc mơ Mỹ. Câu chuyện tái hiện đến từng chi tiết nhỏ về cuộc đời của Clyde Griffiths, một cậu bé kém ý chí và có chút ít ý thức. Cậu lớn lên trong một gia đình nghèo khó, đi lang thang hành nghề thuyết giáo. Cậu bé sớm nuôi mơ ước được giàu sang và được một người phụ nữ đẹp yêu. Rồi anh ta được một người bác giàu có nhận vào làm trong nhà máy của ông. Khi người bạn gái Roberta của anh có thai, cô yêu cầu anh ta phải cưới. Trong khi đó, Clyde lại đem lòng yêu một cô gái thuộc xã hội thượng lưu là đại diện cho sự thành công, tiền tài và địa vị xã hội. Clyde cẩn thận vạch kế hoạch dìm Roberta chết trong một chuyến đi chơi thuyền, nhưng vào giây phút cuối cùng anh lại đổi ý; tuy nhiên cô vẫn ngẫu nhiên té xuống nước. Clyde vốn bơi giỏi đã không cứu cô, và cô chết đuối. Khi Clyde bị ra hầu tòa, Dreiser kể lại câu chuyện theo chiều ngược lại, đã khôn khéo sử dụng những vị trí thuận lợi của luật sư công tố và luật sư bào chữa để phân tích từng bước đi và động lực dẫn Clyde, một thanh niên tính tình vốn dịu dàng, rất mộ đạo và có quan hệ gia đình tốt đẹp, đến chỗ phạm tội giết người.

Mặc dầu không có được phong cách tinh tế nhưng Dreiser trong An American Tragedy lại chứng tỏ là ngòi bút bậc thầy. Những chi tiết chính xác của tác phẩm đã tạo được một cảm nhận mãnh liệt về một tấn bi kịch không thể nào tránh khỏi. Cuốn tiểu thuyết là một bức tranh cay độc làm tổn thương huyền thoại về sự thành công dễ dàng ở Mỹ, và nó cũng là một câu chuyện phổ biến về những áp lực của công cuộc đô thị hóa, hiện đại hóa, và sự tha hóa. Nó cũng nói lên nhiều khía cạnh về những tưởng tượng lãng mạn và nguy hiểm của những kẻ bị tước đoạt.

An American Tragedy phản ánh sự bất mãn, lòng ghen tị, và sự thất vọng làm dân nghèo và tầng lớp lao động phải đau khổ trong sự cạnh tranh gay gắt của xã hội Mỹ, nơi mà sự thành công vừa là động lực vừa là nỗi ám ảnh. Khi sức mạnh của ngành công nghiệp Mỹ trỗi dậy, cuộc sống hào nhoáng của lớp người giàu có xuất hiện hàng ngày trên báo ảnh và tạp chí là một sự tương phản rất rõ nét với cuộc sống ảm đạm buồn tẻ của đa số nông dân và tầng lớp công nhân ở đô thị. Truyền thông đại chúng đã thổi phồng lên những ước ao đổi đời và những ham muốn phi lý. Những vấn đề như thế là hết sức bình thường với những đất nước đang hiện đại hóa, tạo đất sống cho trào lưu báo chí có xu hướng khuấy bùn đó là một loại phóng sự điều tra phanh phui có chiều sâu, cung cấp tư liệu về những vấn đề xã hội và tạo ra sự thúc đẩy quan trọng cho việc cải tạo xã hội.

Truyền thống vững mạnh của báo chí điều tra Mỹ bắt nguồn từ giai đoạn này. Trong suốt thời gian ấy, tờ tạp chí tầm cỡ quốc gia như là McClures Collier’s đã xuất bản cuốn History of the Standard Oil Company[3] (Lịch sử của công ty dầu mỏ Standard Oil – 1904) của Ida M. Tarbell, The Shame of the Cities (Nỗi ô nhục của các đô thị – 1904) của Lincoln Steffens, và các vụ phanh phui đầy tai tiếng khác. Những cuốn tiểu thuyết bới móc sử dụng những kỹ thuật báo chí độc đáo để khắc họa những điều kiện sống khắc nghiệt và sự áp bức. Cuốn The Octopus (Bạch tuộc – 1901) của Frank Norris theo phái Dân túy đã phanh phui những vụ bê bối của những công Ty hỏa xa lớn, trong lúc đó cuốn The Jungle (Rừng rậm – 1908) của Upton Sinclair theo phái xã hội đã phơi bày sự dơ dáy bẩn thỉu của công nghệ làm thịt hộp ở Chicago. Cuốn The Iron Heel (Gót sắt – 1908) với cái nhìn bi quan của Jack London thì đi trước cuốn năm 1984 của George Orwell trong việc tiên đoán một cuộc chiến giai cấp và việc đảo chính cướp chính quyền.

Một phản ứng có tính nghệ thuật hơn là các chân dung hiện thực hay nhóm chân dung những nhân vật bình thường và những thất vọng trong cuộc sống nội tâm. Tuyển tập truyện ngắn Main-Travelled Roads (Những nẻo đường chính – 1891) của tác giả được William Dean Howell bảo trợ, Hamlin Garland (1860 – 1940) là phòng tranh trưng bày chân dung của những người bình thường. Nó khắc họa những bức tranh đáng kinh ngạc về sự khốn cùng của nông dân miền Trung Tây đòi cải cách nông nghiệp. Tựa cuốn sách ám chỉ về nhiều con đường chạy về hướng Tây mà những người khẩn hoang nhọc nhằn đã đi theo và những con đường chính đầy bụi bặm ở các làng định cư của họ.

Gần gũi với Main-Travelled Roads của Garland là Winesburg, Ohio (Thành phố Winesburg, bang Ohio) của Sherwood Anderson (1876 – 1941) được bắt đầu 1916. Đây là tuyển tập truyện ngắn rời rạc về các cư dân của một thành phố hư cấu Winesburg qua cái nhìn của một phóng viên trẻ thơ ngây George Willard, người cuối cùng cũng ra đi tìm kiếm cơ may của mình ở đô thị. Giống như Main-Travelled Roads và những tác phẩm theo trường phái tự nhiên khác của thời kỳ này, Winesburg, Ohio nhấn mạnh đời sống nghèo khổ âm thầm, sự cô đơn và tuyệt vọng của các thành phố nhỏ ở Mỹ.

“TRƯỜNG PHÁI CHICAGO” TRONG THI CA

Ba nhà thơ miền Trung Tây lớn lên ở bang Illinois và chia sẻ mối quan tâm của miền Trung Tây với quần chúng là Carl Sandburg, Vachel Lindsay và Edgar Lee Masters. Thơ của họ thường quan tâm đến những cá nhân của bóng tối, họ phát triển những kỹ thuật mang yếu tố hiện thực, những diễn tả đầy kịch tính, giúp họ thu hút được đông đảo độc giả hơn. Họ là một phần của văn học miền Trung Tây, hay trường phái Chicago nổi lên trước Thế chiến thứ nhất thách thức định chế văn học ở bờ Đông. Sự “Phục hưng của Chicago” là một bước ngoặt của nền văn hóa Mỹ: nó chứng minh rằng văn hóa của vùng đất này đã trưởng thành.

Edgar Lee Masters
(1868 – 1950)

Trước thềm của thế kỷ 20, Chicago đã trở thành một đô thị lớn, quê hương của nền kiến trúc cách tân và những bộ sưu tập nghệ thuật tầm vóc thế giới. Chicago cũng là nơi ra đời của tờ Poetry của Harriet Monnoe, một tạp chí văn học quan trọng nhất thời đó.

Trong số những nhà thơ đương đại đáng chú ý mà tạp chí này đã giới thiệu, có Edgar Lee Masters, tác giả tập thơ dấn thân Spoon River Anthology(Tuyển tập Spoon River – 1915). Tập thơ nổi bật với ngôn ngữ hàng ngày “chẳng thơ một chút nào” hết sức mới mẻ, một sự bộc bạch thẳng thắn về tính dục, cái nhìn phê phán về cuộc sống làng quê, và những miêu tả cường điệu về đời sống nội tâm của những con người chẳng có gì nổi bật.

Spoon River Anthology là tuyển tập những chân dung được trình bày như những đoạn bi ký viết bằng ngôn ngữ thông thường tóm lược cuộc đời của những người dân quê như thể bằng lời lẽ của chính họ. Nó vẽ ra toàn cảnh của một làng quê qua cái nghĩa trang của nó: 250 người chôn ở đấy đã lên tiếng bộc bạch những bí mật sâu kín nhất của họ. Nhiều người có quan hệ mật thiết với nhau; thành viên của 20 gia đình nói về những thất bại và giấc mơ của họ bằng những bài tự sự theo thể thơ-tự-do hiện đại một cách đáng ngạc nhiên.

Carl Sandburg
(1878 – 1967)

Một người bạn của ông đã nói: “Cố viết ngắn gọn về Carl Sandburg cũng giống như cố gắng chụp hình hẻm núi Grand Canyon([4]) bằng một tấm hình đen trắng”. Là nhà thơ, nhà sử học, nhà văn viết tiểu sử, tiểu thuyết, sáng tác nhạc và viết tiểu luận – Sandburg – con trai của một người thợ rèn đường sắt xứng đáng với tất cả những danh hiệu đó và còn hơn thế nữa. Sống bằng nghề viết báo, ông viết tiểu sử đồ sộ về Abraham Lincoln – một trong những tác phẩm kinh điển về thể loại này của thế kỷ 20.

Đối với nhiều người, Sandburg là một Walt White hiện đại. Ông viết những vần thơ yêu nước và những bài thơ đầy cảm xúc về đời sống đô thị, những giai điệu đơn giản trẻ thơ và những khúc ballad. Ông đi khắp nơi ngâm thơ và ghi âm thơ của mình bằng một giọng ngâm có âm điệu du dương, ngọt ngào, thực sự là một cách hát. Tự bản chất ông hoàn toàn khiêm tốn, dù cho tiếng tăm lừng lẫy cả nước. Điều ông mong muốn trong cuộc sống như một lần ông nói là “được thoát khỏi giam cầm… được ăn đều đặn… được in ra những gì tôi viết… một tình yêu nơi quê nhà và chút ít âu yếm trìu mến nơi đây và xa kia trong toàn cảnh nước Mỹ… (và) được ca hát mỗi ngày”.

Bài thơ “Chicago” (1914) là một ví dụ tuyệt vời cho những chủ đề trên và cho phong cách Whitman của ông:

Gã bán thịt heo cho toàn thế giới,
Người làm dụng cụ, kẻ chất đống lúa mì,
Người rong chơi với những đường xe lửa và
Người chuyển hàng của đất nước;
Như bão tố, ồn ào, đầy sức mạnh
Thành phố của những đôi vai vững vàng.

 

Vachel Lindsay
(1879 – 1931)

Vachel Lindsay là một mục sư theo phái Dân túy ở một thị trấn nhỏ miền Trung Tây và là người sáng tạo ra loại thơ có nhịp điệu mạnh mẽ làm ra để đọc lớn trước đám đông. Sáng tác của ông là một sự kết hợp kỳ ảo với một mặt là những hình thức thơ ca bình dân, hay dân gian, chẳng hạn như những bài hát phúc âm Thiên Chúa giáo và ca nhạc tạp kỹ và mặt khác là thi pháp tiên tiến của các trào lưu hiện đại. Là một nhà thơ đọc trước công chúng cực kỳ nổi tiếng thời đó, những cách đọc của Lindsay là tiền thân những cách đọc thơ của nhóm “Beat” thời sau thế chiến II có đệm nhạc Jazz.

Để phổ biến thơ cho công chúng, Lindsay phát triển cái mà ông gọi là một “loại ca nhạc tạp kỹ cao cấp”, dùng âm nhạc và các tiết tấu mạnh. Là người phân biệt chủng tộc dựa vào tiêu chuẩn hiện nay, bài thơ nổi tiếng của ông “The congo” (1914) ca ngợi lịch sử của những người Phi châu bằng cách pha trộn nhạc Jazz, thơ, âm nhạc và ca từ. Ông đồng thời làm cho những nhân vật lỗi lạc trong lịch sử nước Mỹ chẳng hạn như Abraham Lincoln (trong bài “Abraham Lincoln Walks at Midnight” Abraham Lincoln đi dạo giữa đêm khuya và John Chapman (“Johnny Appleseed” – Johnny hạt táo) trở nên bất tử bởi nghệ thuật pha trộn giữa hiện thực và huyền thoại.

Edwin Arlington Robinson
(1869 – 1935)

Edwin Arlington Robinson là nhà thơ Mỹ xuất sắc nhất vào cuối thế kỷ 19. Giống như Edgar Lee Masters, ông nổi tiếng vì những phát hiện về nét khôi hài, tính cách thiếu hoàn hảo của những con người bình thường. Nhưng không giống Masters, Robinson dùng âm luật truyền thống. Thị trấn Tilbury do ông tưởng tượng ra cũng giống như Spoon River của Masters chứa đựng bao cuộc sống mòn trong tuyệt vọng âm thầm. Một số những bài thơ tự sự nổi tiếng của Robinson là “Luke Havergal” (1896), về một tình nhân bị bỏ rơi, “Miniver Cheevy” (1910), hình ảnh một con người mộng mơ lãng mạn; và “Richard Cory” (1896), một chân dung ảm đạm về một con người giàu có đã tự kết liễu đời mình:

Mỗi khi Richard Cory đi ra phố,
chúng tôi tụ trên vỉa hè đứng nhìn ông:
Ông là một quý ông lịch duyệt
Ân cần, đẹp tươi; thon thả, uy nghiêm.

Và ông luôn ăn mặc thật chỉnh tề, nhã nhặn
Ông luôn nhân từ khi trò chuyện cùng ai
Ông vẫn thường đỏ mặt lên khi nói,
“Chào ông” và trông ông rạng rỡ mỗi bước đi.

Ông giàu có – vâng, còn giàu hơn cả một ông vua –
Ông được dạy dỗ để phong nhã trong từng cử chỉ:
Cuối cùng, chúng tôi nghĩ rằng ông là tất cả những gì Khiến chúng tôi ao ước được là ông.

Vì thế chúng tôi tiếp tục làm việc, và đợi chờ may mắn
Và qua ngày không có thịt ăn, và nguyền rủa bánh mì
Còn Richard Cory, một đêm hè êm vắng,
Đã về nhà và bắn một viên đạn vào đầu ông.

 

“Richard Cory” chiếm được một chỗ đứng bên cạnh Martin EdenAn American Tragedy, và The Great Gatsby như một lời cảnh tỉnh đầy sức mạnh chống lại huyền thoại về sự thành công được thổi phồng lên biến thành bệnh dịch hành người dân Mỹ trong thời đại của những nhà triệu phú.

HAI TIỂU THUYẾT GIA MANG SẮC THÁI ĐỊA PHƯƠNG

Hai nữ tiểu thuyết gia Ellen Glasgow (1873 -1945) và Willa Cather (1873 – 1947) chuyên khám phá về thế giới phụ nữ, và đặt họ vào trong những khung cảnh địa phương được xây dựng với một vẻ rực rỡ, huy hoàng. Thực ra, không ai trong hai người tuyên bố những vấn đề đặc biệt về phụ nữ. Trong các tác phẩm đầu tay của nhân vật chính là nam, và chỉ khi họ đã tạo được sự tự tin và một độ chín trong nghệ thuật, họ mới quay sang mô tả đời sống của phụ nữ. Glasgow và Cather chỉ có thể được xem là “các nhà văn nữ” theo nghĩa mô tả, vì tác phẩm của họ không thể phân loại được.

Glasgow người vùng Richmond bang Virginia, thủ phụ cũ của phe miền Nam thời Nội chiến. Các tiểu thuyết hiện thực của bà phản ánh sự biến đổi của miền Nam từ một nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp. Các tác phẩm có giá trị như Virginia (1912) xoay quanh những kinh nghiệm của người miền Nam, trong lúc những tác phẩm sau này như Barren Groand(Đất bạc màu (1925) – được công nhận là tác phẩm hay nhất của bà – kịch hóa cuộc đời những phụ nữ tài hoa cố gắng vượt qua những lề thói truyền thống bó hẹp của miền Nam, khuôn định thiên chức nội trợ, trách nhiệm gia đình và sự phụ thuộc của phụ nữ.

Cather, một người Virginia khác, lớn lên trên thảo nguyên Nebradka giữa những người di dân khẩn hoang – sau này làm cho họ sống mãi trong cuốnO Pionners! (Ôi! Những người khai hoang – 1913), My Antonia (Antonia của tôi – 1918), và câu chuyện nổi tiếng của bà Neighbour Rosicky (Người hàng xóm Rosicky – 1928). Trong cuộc đời, bà trở nên ngày càng xa lạ với chủ nghĩa vật chất của cuộc sống hiện đại và viết về những ảo mộng khác nhau ở Tây Nam nước Mỹ và trong quá khứ. Cuốn Death Comes for the Archbishop (cái chết của ngài giám mục – 1927) dựng lại tinh thần lý tưởng của hai tu sĩ thế kỷ 16 lập nên Giáo hội Công giáo ở sa mạc New – Mexico. Tác phẩm của Cather tưởng niệm những khía cạnh quan trọng của kinh nghiệm Mỹ bên ngoài dòng văn học chính thống – như việc khai khẩn, sự thành lập tôn giáo, và cuộc sống độc lập của phụ nữ.

SỰ VƯƠN LÊN CỦA NỀN VĂN HỌC MỸ DA ĐEN

Thành tựu văn học của người Mỹ Da đen là một trong những bước phát triển văn học nổi bật nhất sau Nội chiến. Các dòng văn học Mỹ da đen đã bắt rễ trong các tác phẩm của Booker T. Washington, W.E.B. Du Bois, James Weldon Johson, Charles Waddell Chesnutt, Paul Laurence Dunbar và những người khác, đáng chú ý nhất là thể loại tiểu sử tự thuật, văn học phản kháng, những bài thuyết giảng, thơ và âm nhạc.

Booker T. Washington
(1856 – 1915)

Booker T. Washington, nhà giáo dục và người lãnh đạo Da đen nổi bật nhất vào thời đó. Ông sinh ra và lớn lên trong thân phận nô lệ ở quận Franklin – bang Virginia, cha là người Da trắng chủ nô, mẹ là nữ nô lệ Da đen. Tiểu sử tự thuật đơn giản, rất hay của ông Up From Slavery (Đứng lên từ cuộc đời nô lệ – 1901), kể lại cuộc đấu tranh thắng lợi của ông trong việc tu dưỡng bản thân. Ông trở nên nổi tiếng bởi những nỗ lực trong việc cải thiện cuộc sống của những người Mỹ Da đen; chính sách hòa giải với người Da trắng của ông – một nỗ lực giúp đỡ những người Mỹ Da đen mới được giải phóng hòa nhập vào dòng chảy chung của xã hội Mỹ – được vạch ra trong diễn văn nổi tiếng của ông nhan đề “Atlanta Exposition Address” (1895).

W.E.B. Du Bois
(1868 – 1963) 

Sinh ở New England và được đào tạo ở Đại học Harvard và Đại học Berlin (Đức), W. E. B. Du Bois là tác giả của bài viết “Of Mr Booker T. Washington and Others” (Về ông Booker T. Washington và nhữngh người khác), một tiểu luận về sau được tập hợp trong cuốn sách nổi tiếng của ông The Souls of Black Folk (Tâm hồn người Da đen – 1903). Du Bois cẩn thận chứng minh rằng dù cho Washington có nhiều thành tích, ông thật sự đã chấp nhận sự kỳ thị chủng tộc – sự đối xử bất bình đẳng và phân biệt đối với người Mỹ Da đen – và sự kỳ thị ấy tất yếu sẽ dẫn đến địa vị thấp kém của người Da đen, đặc biệt là trong giáo dục. Du Bois, một sáng lập viên của Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu (NAACP), cũng viết những lời đánh giá nhạy bén, sắc sảo về truyền thống và văn hóa của người Mỹ gốc Phi; tác phẩm của ông giúp những người trí thức Da đen khai thác nền văn học và âm nhạc dân gian phong phú của dân tộc mình.

James Weldon Johnson
(1871 – 1938)

Cũng như Du Bois, nhà thơ James Weldon Johnson tìm cảm hứng trong những bài dân ca của người Mỹ Da đen. Bài thơ “O Black and Unknown Bards” (Ôi, những nhà thơ Da đen vô danh! – 1917) của ông có đoạn

Trái tim người nô lệ nào trào tuôn bao giai điệu
Như trong bài “Lẻn bước đến bên Chúa” một khúc nhạc dịu êm
Linh hồn anh chắc tự do bay lượn hằng đêm,
Dầu quanh đôi tay anh xích xiềng xiết chặt.

Mang trong mình dòng máu pha trộn giữa Da đen và Da trắng, Johnson đã tìm hiểu vấn đề phức tạp của chủng tộc trong cuốn tiểu thuyếtAutobiography of an Ex-Colored (Tiểu sử tự thuật của một người lai – 1912) viết về một người pha trộn hai dòng máu đã “vượt qua” định kiến (hay là được chấp nhận) làm người Da trắng. Cuốn sách chuyển tải một cách có hiệu quả sự quan tâm của người Mỹ Da đen với những vấn đề nguồn gốc lai lịch ở Mỹ.

Charles Waddell Chesnutt 
(1858 – 1932)

Charles Waddell Chesnutt, tác giả của hai tuyển tập truyện ngắn, The Conjure Woman (Nữ pháp sư – 1899), The Wife of His Youth (Người vợ thời son trẻ – 1899) tiểu thuyết The Marrow Of Trandittion (Cốt lõi của truyền thống – 1901), và một cuốn tiểu sử về Frederick Douglass, đi trước thời đại. Truyện ngắn của ông dựa trên các đề tài về chủng tộc, nhưng tránh né những kết cục có thể đoán trước được và những tình cảm chung chung, nhân vật của ông là những cá nhân rõ rệt với những thái độ phức tạp về mọi việc, bao gồm cả vấn đề chủng tộc. Chesnutt thường mô tả sức mạnh của cộng đồng Da đen và khẳng định những giá trị đạo đức và sự đoàn kết chủng tộc.


[1] Tinh thần chống sùng bái thánh tượng nổi lên đầu tiên ở châu Âu thể hiện đậm nét trong văn học trào phúng dân gian.

[2] Yellow Sky: tên một thị trấn trong truyện ngắn nổi tiếng này.

[3] Standard Oil Company: một công ty dầu lửa hàng đầu của Mỹ. Tên viết tắt của nó là S.O và đọc là ESSO.

[4] Grand Canyon: một thung lũng rộng mênh mông bị sông Colorado cắt ngang ở vùng cao nguyên thuộc Tây Bắc Arizona. Hẻm núi ngoạn mục đẹp như một tác phẩm điêu khắc này có chiều rộng từ 0,2 đến 29km và trải dài từ cửa sông Paria gần địa phận phía Bắc của Arizona đến vách núi Grand Wash gần Nevada, tức là vào khoảng 446 km.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_v.html

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 4: Tiểu thuyết lãng mạn thời kỳ 1820-1860

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Walt Whitman, Nathaniel Hawthorne, Herman Melville, Edga Allan Poe, Emily Dickinson và các tác giả theo chủ nghĩa Siêu nghiệm chính là đại biểu của thế hệ các nhà văn lớn đầu tiên được sinh ra ở Mỹ. Với những nhà văn viết tiểu thuyết, cái nhìn lãng mạn có khuynh hướng biểu hiện trong hình thức mà Hawthorne gọi là “Tiểu thuyết lãng mạn” (Romance), một loại hình tiểu thuyết đạt đến đỉnh cao, gợi cảm và mang tính tượng trưng. Nhưng tiểu thuyết lãng mạn không phải là những câu chuyện tình, mà là những tiểu thuyết nghiêm túc sử dụng những kỹ thuật đặc biệt để truyền đạt những ý nghĩa vừa phức tạp vừa tinh tế.

Thay vì mô tả cẩn thận các nhân vật hiện thực thông qua vô số các chi tiết, như hầu hết các tiểu thuyết Anh hay Cựu lục địa đã làm, Hawthorne, Melville và Poe đã dựng lên những nhân vật anh hùng mang tính lý tưởng, thắp lên ngọn lửa của tinh thần huyền thoại. Nhân vật chính trong những tiểu thuyết lãng mạn Mỹ là những cá nhân kỳ dị với nhiều nỗi ám ảnh. Authur Dimmersdale hay Hester Prynne trong The Scarlet Letter (Chữ A màu đỏ) của Hawthorne, Ahab trong Moby-Dick (Cá voi trắng) của Melville, và nhiều nhân vật đơn độc có những ám ảnh trong nhiều truyện kể của Poe là những nhân vật chính cô đơn được chỉ định đấu tranh chống lại những số phận tối tăm, không thể hiểu được mà những số phận này, bằng một cách thức bí ẩn nào đo,á lại phát sinh từ cái tôi vô thức sâu thẳm nhất của họ. Những cốt truyện tượng trưng biểu lộ những hành động che đậy của một tâm hồn đau khổ với bao điều dằn vặt.

Một lý do giải thích cho hướng khai thác tiểu thuyết tập trung vào cái vùng sâu kín ẩn khuất của tâm hồn con người là sự thiếu vắng một đời sống cộng đồng có cội rễ và ổn định ở Mỹ. Những tiểu thuyết gia Anh – Jane Auster, Charles Dickens (nhà văn được ưa thích nhất), Anthony Trollope, George Eliot, William Thackeray – sống trong một xã hội truyền thống, được tổ chức quy củ và phức hợp, chia sẻ với độc giả các niềm tin, nhận thức đã định hình trong các tiểu thuyết hiện thực của họ. Các nhà văn Mỹ phải đối mặt với lịch sử đấu tranh và cách mạng, một vùng đất hoang dã mênh mông khó kiểm soát, và một xã hội dân chủ tương đối không còn giai cấp và sẵn sàng thay đổi. Các tiểu thuyết Mỹ thường phô bày sự vắng mặt khác thường của truyền thống. Nhiều tiểu thuyết Anh kể về một nhân vật chính nghèo khổ vươn lên trên những nấc thang kinh tế và xã hội, nhờ vào cuộc hôn nhân tốt đẹp hay nhờ việc khám phá ra nguồn gốc quý tộc của nhân vật đó. Nhưng cái bố cục kiểu ấy không thách thức cái trật tự bất di bất dịch của xã hội quý tộc Anh. Trái lại, còn khẳng định cái trật tự ấy -Sự đổi đời của nhân vật chính đã làm thỏa mãn ước mơ về một sự thành đạt của đa số độc giả trung lưu.

Trong khi đó, các nhà văn Mỹ phải dựa vào những chủ kiến của riêng mình. Nước Mỹ, trong một chừng mực nào đó, là một biên cương luôn mở rộng, không xác định bởi làn sóng lưu dân vẫn đổ đến Mỹ mang đến đây thứ tiếng nói xa lạ và những lối sống kỳ cục, thô lậu. Vì vậy nhân vật chính trong văn học Mỹ có thể thấy mình lạc lõng giữa những bộ tộc ăn thịt người, như trong Typee của Melville, hoặc đang khám phá một vùng đất hoang vu như nhân vật Leatherstocking của James Fenimore Cooper, hay đang nhìn thấy những hồn ma bóng quế từ dưới nấm mồ như những nhân vật trơ trọi của Poe, hoặc gặp gỡ ma quỷ dạo chơi trong rừng, giống như Young Goodman Brown- nhân vật của Hawthorne. Hầu như những nhân vật chính có tầm vóc trong văn học Mỹ là “những kẻ lạc loài”. Mỗi cá nhân dân chủ Mỹ, đã phải phát hiện ra chính mình, như từng xảy ra trong thực tế.

Một tiểu thuyết gia Mỹ thực sự cũng phải phát minh ra những hình thức thể hiện mới – từ đấy ra đời hình bóng bao trùm, kỳ dị của cuốn tiểu thuyếtMoby-Dick của Melville và cuốn Narrative of Arthur Gordon Pym (Thuật chuyện của ông Arthur Gordon Pym) mơ màng, phiêu lãng của Poe. Ít có cuốn tiểu thuyết Mỹ nào đạt được sự hoàn thiện mẫu mực, ngay cả hiện nay. Thay vì vay mượn những thủ pháp văn chương đã được thử thách qua thời gian, người Mỹ có khuynh hướng lao vào tìm tòi những biện pháp sáng tạo mới. Ở Mỹ, một cái gì đã được xã hội thừa nhận và noi theo truyền thống là chưa đủ, vì sự già cỗi và chính thống bị bỏ lại phía sau, chỉ có sức mạnh mới, sự sáng tạo là trung tâm của sự chú ý.

TIỂU THUYẾT LÃNG MẠN

Loại hình tiểu thuyết lãng mạn thì u ám và bất trắc, nó cho thấy việc tạo ra một diện mạo riêng trong một xã hội chưa ổn định là khó khăn đến thế nào. Hầu hết các nhân vật trong tiểu thuyết lãng mạn đều chết vào đoạn cuối, tất cả thủy thủ đoàn đều bị nhận chìm dưới đáy đại dương trong truyện Moby-Dick trừ Ishmael; vị mục sư có tâm hồn nhạy cảm đầy lỗi lầm – Arthur Dimmesdale – cũng chết ở cuối cuốn The Scarlet Letter. Cái giọng điệu bi ai, tự phân hóa trong văn học Mỹ trở nên nổi bật trong thể loại tiểu thuyết, thậm chí trước khi cuộc Nội chiến vào những năm 60, biểu hiện một tấn bi kịch lớn lao hơn của một xã hội tuyên chiến với chính mình.

Nathaniel Hawthorne 
(1804 – 1864)

Nathaniel Hawthorne thuộc thế hệ thứ 5 của những người Anh di cư. Ông sinh ở Salem bang Massachusetts, một hải cảng thịnh vượng nằm ở phía bắc Boston chuyên buôn bán với Đông Ấn[1]. Một trong những tổ tiên của ông là chánh án chuyên xét xử những người phụ nữ bị cáo buộc là phù thủy ở Salem, một thế kỷ trước. Hawthorne đã dùng cái ý tưởng về lời nguyền đối với dòng họ một ông chánh án xấu xa trong cuốn tiểu thuyết The House of the Seven Gables (Ngôi nhà bảy đầu hồi) của mình.

Nhiều câu chuyện của Hawthorne có bối cảnh ở New England thời Thanh giáo, và cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của ông The Scarlet Letter (1850), đã trở thành bức chân dung kinh điển về nước Mỹ Thanh giáo. Cuốn truyện kể về mối tình đầy đam mê, bị cấm đoán giữa một chàng trai trẻ, xác tín, hết sức nhạy cảm – mục sư Arthur Dimmesdale, và một người đàn bà thị dân đẹp, hết sức quyến rũ, Hester Prymn. Lấy bối cảnh ở Boston khoảng 1650 vào thời kỳ đầu thuộc địa Thanh giáo, cuốn tiểu thuyết đã nhấn mạnh nỗi ám ảnh của những người theo phái Calvin về đạo đức, sự ức chế tính dục, tội lỗi, sự thú tội, và sự cứu rỗi linh hồn.

Vào thời đó, The Scarler Letter là cuốn sách liều mạng hết sức báng bổ. Ngòi bút dịu dàng của Hawthorne, bối cảnh lịch sử xa xưa và mơ hồ đã làm dịu đi chủ đề dữ dội của ông và làm hài lòng công chúng, còn những tác giả sành điệu như Ralph Waldo Emerson và Herman Melville thì thừa nhận các sức mạnh “quỷ ám” của nó. Cuốn sách đã đụng chạm đến những lĩnh vực cấm kỵ ở Mỹ thế kỷ 19 như sự tác động của các hoạt động tự do, dân chủ và đổi mới đối với hành xử của mỗi cá nhân, đặc biệt trong vấn đề tính dục và tự do tôn giáo.

Cuốn sách được viết rất hay với bố cục tuyệt vời. Phép ẩn dụ, một thủ pháp mà người dân thuộc địa buổi đầu Thanh giáo thường dùng, cũng được sử dụng trong tác phẩm này một cách hợp lý.

Những tiểu thuyết và truyện kể khác của Hawthorne cũng góp phần xây dựng nên danh tiếng của ông. Trong The House of the Seven Gables (1854), ông trở về với lịch sử New England một lần nữa. Sự sụp đổ của “ngôi nhà” ngụ ý về một dòng họ ở Salem cũng như cái cấu trúc thật sự của nó. Chủ đề của truyện là về một lời nguyền truyền kiếp và cách hóa giải nó bằng tình yêu. Như một nhà phê bình lưu ý, nhân vật chính mang tính cách lý tưởng Holgrave đã nói lên tiếng nói về sự thiếu tin cậy mang tính dân chủ của bản thân ông vào những gia đình quý tộc già cỗi: “Sự thật là, mỗi một nửa thế kỷ, ít nhất một dòng họ sẽ hòa nhập vào đám đông mờ mịt, vĩ đại của nhân loại, và quên hết quá khứ oanh liệt của tổ tiên”.

Hai cuốn tiểu thuyết cuối cùng của Hawthorne ít thành công hơn. Cả hai đều dùng bối cảnh hiện đại, và chính vì vậy mà đánh mất đi cái ma lực trong ngòi bút của ông. Cuốn The Blithedale Romance (Bài ca thung lũng hạnh phúc – 1852) rất hấp dẫn bởi bức tranh mô tả cộng đồng Brook Farm theo chủ nghĩa xã hội không tưởng. Trong cuốn sách này, Hawthorne phê phán những nhà cải cách xã hội vị kỷ, thèm khát quyền lực, tự bản chất sâu xa không dân chủ chút nào. Cuốn The Marble Faun (Tượng thần Điền dã bằng cẩm thạch – 1860), tuy lấy bối cảnh là Roma, lại xoáy sâu vào những chủ đề Thanh giáo về tội lỗi, sự cô lập, sự đền tội, và cứu rỗi.

Những đề tài trên, và những bối cảnh đặc trưng ở thuộc địa New England thời kỳ Thanh giáo, là dấu hiệu đặc trưng của nhiều tác phẩm ngắn hơn nổi tiếng của Hawthorne: The Minister’s Black Veil (Mạng che mặt màu đen của ông mục sư), Young Goodman Brown (Brown trẻ người tốt bụng), và My Kinsman, Major Molineux (Người bà con của tôi, thị trưởng Molineux). Truyện này kể về một thanh niên từ nhà quê ra tỉnh – một mô thức phổ biến ở Mỹ thời kỳ đô thị hóa thế kỷ 19 -tìm sự giúp đỡ của một người bà con có thế lực, để lập nghiệp, một người mà anh chưa hề gặp. Robin trải qua rất nhiều khó khăn để tìm ra viên Thị trưởng, và cuối cùng tham gia vào một cuộc nổi loạn ban đêm kỳ lạ, trong đó có một người có vẻ như là một tên tội phạm “thành tích” bất hảo bị đuổi ra khỏi thị trấn một cách vừa nực cười vừa dã man. Robin lớn tiếng cười to hơn tất cả mọi người cho đến khi anh phát hiện ra rằng “tên tội phạm” này không phải ai khác mà chính là người anh cố công tìm kiếm – một đại diện của thực dân Anh mới vừa mới bị quần chúng cách mạng Mỹ lật đổ. Câu chuyện khẳng định sự ràng buộc của tội lỗi và đau khổ mà toàn nhân loại phải chia sẻ. Nó cũng ca ngợi mẫu người tự lập thân: Robin phải học tập, giống như mọi người Mỹ dân chủ, để trở nên giàu có nhờ sự lao động hăng say, chứ không phải do những ân huệ đặc biệt từ những người bà con giàu có.

My Kinsman, Major Molineux rọi ánh sáng lên một trong những yếu tố nổi bật nhất trong tiểu thuyết của Hawthorne: sự thiếu vắng nhân tố gia đình đầy đủ chức năng trong tác phẩm của ông. Mặc dầu cuốn Leather-Stocking Tales (Truyện kể về anh chàng đi bít tất da) của Cooper có đưa những hình mẫu gia đình vào những địa điểm ít hoang dã nhất, những câu chuyện và tiểu thuyết của Hawthorne lặp đi lặp lại cái chủ đề về những gia đình tan vỡ, bị nguyền rủa hoặc bị đổ vỡ và những khổ đau của cá nhân bị cô lập.

Ý thức hệ cách mạng cũng có‘ lẽ đã có một vai trò trong việc làm rạng rỡ ý thức về sự tự do đầy hãnh diện tuy có phần xa lạ này. Cuộc cách mạng Mỹ, nhìn từ quan điểm tâm lý lịch sử, là tương hợp với một cuộc nổi loạn bốc đồng muốn thoát ly khỏi cái bóng khổng lồ của Mẫu quốc, và một gia đình đế quốc Anh rộng lớn hơn. Người Mỹ đã dành được độc lập và lại đương đầu với tình thế nan giải đầy hoang mang trong việc khám phá nhân dạng riêng của mình tách ra khỏi những ràng buộc xưa cũ. Cái cảnh tượng này đã diễn ra vô số lần ở vùng biên cương tới mức mà, trong tiểu thuyết, sự thoát ly có vẻ như là điều kiện sống cơ bản ở Mỹ. Thanh giáo và hậu duệ theo Tin Lành của họ có thể đã làm suy yếu thêm nền tảng gia đình bằng cách rao giảng rằng trách nhiệm đầu tiên của mỗi cá nhân là việc cứu rỗi linh hồn mình.

Herman Melville
(1819 – 1891)

Cũng như Nathaniel Hawthorne, Herman Melville là con của gia đình có truyền thống lâu đời, giàu có; đột ngột rơi vào cảnh cơ hàn do cái chết của người cha. Mặc dù được dạy dỗ, truyền thống vẻ vang của gia đình và bản thân rất siêng năng, chịu khó, Melville vẫn sống nghèo khổ và không học lên được đại học. Năm 19 tuổi, ông làm thủy thủ. Niềm yêu thích cuộc đời thủy thủ lớn dần một cách tự nhiên từ kinh nghiệm riêng của ông, và hầu hết những tiểu thuyết đầu tay của ông được thai nghén từ những chuyến đi biển. Từ những tác phẩm này chúng ta được biết đến tinh thần dân chủ và cởi mở của Melville và lòng căm phẫn của ông đối với sự chuyên chế và bất công. Typee, cuốn sách đầu tiên của ông, kể về những gì xảy ra với ông trong thời gian ông sống với bộ lạc Taipis bị coi là bộ lạc ăn thịt người nhưng thực ra rất hiếu khách ở vùng đảo Marquesas, Nam Thái Bình Dương. Cuốn sách ca ngợi những người dân đảo và đời sống hài hòa gần gũi với tự nhiên của họ, đồng thời phê phán các giáo sĩ Thiên Chúa giáo, những người mà Melville cho là thật sự kém văn minh hơn những người mà họ đến để khai hóa văn minh.

Moby-Dick, hay The Whale (Cá voi trắng), kiệt tác của Melville, là thiên sử thi về con tàu săn cá voi Pequod và truyền trưởng Ahab “một người giống thánh thần nhưng lại báng bổ thần linh” với nỗi ám ảnh phải tìm kiếm cho được con cá voi trắng đã dẫn con tàu và đoàn thủy thủ đến chỗ chết. Tác phẩm này, một tiểu thuyết phiêu lưu mang tính hiện thực, chứa đựng một loạt những suy gẫm về thân phận con người. Việc săn cá voi xuyên suốt câu chuyện, là một ẩn dụ lớn về khát vọng hiểu biết. Những miêu tả và liệt kê xác thực về các loài cá voi và công nghệ săn bắt cá voi rải rác đầy tác phẩm, nhưng chúng hàm nghĩa biểu trưng. Trong chương 15 The Right Whale’s Head (Đầu cá voi Thực), người dẫn chuyện cho rằng cá voi Right (còn gọi là cá voi Thực) là những người theo chủ nghĩa khắc kỷ còn cá voi Sperm (còn gọi là cá nhà táng) là trường phái Platon, ám chỉ đến hai trường phái triết học cổ điển.

Mặc dầu tiểu thuyết của Melville mang tư tưởng triết học, nó cũng đồng thời là một tấn bi kịch. Dù là một người anh hùng, Ahab đã gục ngã và có lẽ rốt cuộc bị hủy diệt. Thiên nhiên cho dù rất đẹp, nhưng vẫn xa lạ và ẩn chứa những nguy hiểm chết người. Trong Moby-Dick, Melville thách thức ý tưởng lạc quan của Emerson rằng con người có thể hiểu được tự nhiên.Moby-Dick, con cá voi trắng khổng lồ là một cái gì bí hiểm mang tầm vóc vũ trụ, đã ngự trị trong suốt cuốn tiểu thuyết, cũng như nó đã ám ảnh Ahab. Những dữ kiện về cá voi và săn cá voi không thể giải thích Moby-Dick, trái lại, những tình tiết đó, tự bản thân chúng có khuynh hướng trở thành biểu tượng, và mỗi dữ kiện đều có mối liên hệ mơ hồ với mọi dữ kiện khác trong vũ trụ. Tuy nhiên, sự tương quan này (như Melville gọi nó trong chương “Nhân sư”) không có nghĩa rằng con người có thể “đọc” được sự thật trong thiên nhiên, như nó đã có ý nghĩa như thế trong tác phẩm của Emerson. Đằng sau việc tích lũy dữ kiện của Melville là một cái nhìn huyền bí, nhưng cái nhìn này xấu xa hay tốt đẹp, nhân bản hay phi nhân, cũng không bao giờ được giải thích.

Tiểu thuyết này còn mang tính hiện đại trong cái khuynh hướng tự tham chiếu hay tự chiêm nghiệm của nó. Nói một cách khác, cuốn tiểu thuyết thường nói về chính nó. Melville thường bình luận về những quá trình của tư duy như viết lách, đọc sách và hiểu biết. Chẳng hạn, mỗi chương là một khảo cứu đích thực trong đó người kể chuyện đã cố gắng phân loại sự vật nhưng cuối cùng đành bỏ cuộc, nói rằng chẳng bao giờ có thứ gì to tát có thể được hoàn tất (“Thượng đế ngăn không cho tôi hoàn thành bất cứ điều gì. Cả cuốn sách cũng chỉ là một phác thảo – đúng hơn là một phác thảo của phác thảo. Ôi! Thời Gian, Sức Mạnh, Tiền Bạc và Lòng Kiên Nhẫn”). Quan điểm của Melville cho rằng một tác phẩm văn chương là một cái gì không hoàn hảo hoặc là một bản thảo bị bỏ dở là hoàn toàn hiện đại.

Ahab kiên quyết định hình một thế giới anh hùng, vượt thời gian của những điều tuyệt đối, trong đó ông ta đứng cao hơn mọi người. Thiếu khôn ngoan, ông đòi hỏi một điều hoàn tất, một câu trả lời. Nhưng cuốn tiểu thuyết cho thấy rằng không có cái hoàn tất trên đời, không có những câu trả lời cuối cùng, rằng nếu có thì chỉ là cái chết.

Các chi tiết liên hệ văn chương đầy ngụ ý ngân vang trong suốt cuốn tiểu thuyết. Ahab là tên một ông vua trong Cựu ước, khao khát có được một vốn hiểu biết tối cao, toàn bích như Faust. Giống Oedipus trong kịch của Sophocles, người trả giá quá đắt cho kiến thức lầm lạc, Ahab bị đánh mù mắt trước khi bị thương ở chân và cuối cùng bị giết chết. Moby-Dick được kết thúc bằng từ “mồ côi”. Ishmael, người kể chuyện, là một kẻ lang thang như trẻ mồ côi. Cái tên Ishmael được lấy từ cuốn chương Sáng thế ký trongCựu ước – anh ta là con trai của Abraham và Hagar (đầy tớ của Sarah, vợ Abraham). Ishmael và Hagar bị Abraham đuổi vào sống trong rừng sâu.

Cũng có những ví dụ khác. Rachel (một trong những bà vợ của tổ phụ Jacob) là tên của con tàu cứu Ishmael ở đoạn kết. Cuối cùng, con cá voi siêu hình nhắc độc giả Do Thái và Thiên Chúa giáo nhớ đến câu chuyện về Jonah trong Kinh thánh, người bị các bạn bè thủy thủ của mình ném khỏi tàu vì bị xem là người mang lại xui xẻo. Theo Kinh thánh, bị một “con cá lớn” nuốt, anh ta sống một thời gian trong bụng cá trước khi được Thượng đế can thiệp đưa trở về đất liền. Tìm cách thoát khỏi sự trừng phạt, anh ta chỉ rước vào mình thêm nhiều khổ đau.

Những tình tiết liên quan đến lịch sử cũng làm cho cuốn sách thêm phong phú. Con tàu Pequod được đặt theo tên của một bộ lạc Da đỏ bị xóa sổ ở New England, vì vậy cái tên ngụ ý rằng con tàu đó có số phận bị hủy diệt. Việc săn bắt cá trên thực tế là một ngành công nghiệp chủ yếu, nhất là ở New England: nó cung cấp dầu làm nguồn năng lượng chính, đặc biệt cho việc thắp sáng. Do vậy cá voi, theo nghĩa đen, đã “rọi sáng” vũ trụ. Nghề săn cá voi rõ ràng cũng có xu hướng bành trướng và nối kết với ý niệm về một định mệnh hiển nhiên, vì nó buộc dân Mỹ phải dong buồm đi khắp thế giới đánh bắt cá voi (sự thật là tiểu bang Hawaii hiện nay nằm dưới sự cai trị của Mỹ vì nó đã được dùng làm căn cứ tiếp nhiên liệu chính yếu cho những con tàu săn cá voi của Mỹ). Thủy thủ đoàn của con tàu Pequod tượng trưng cho tất cả các chủng tộc và tôn giáo khác nhau, gợi nên ý tưởng nước Mỹ có một đầu óc rộng mở như một miền đất lành cho mọi sắc dân. Cuối cùng, cuộc đời Ahab là một hóa thân đầy bi kịch cho chủ nghĩa cá nhân dân chủ kiểu Mỹ. Ahab khẳng định phẩm giá của mình như một cá nhân dám chống lại những sức mạnh bên ngoài không thể nào khuất phục được của vũ trụ.

Phần kết của tiểu thuyết cố làm dịu đi sự hủy diệt bi thảm của con tàu. Trong suốt tác phẩm, Melville nhấn mạnh tầm quan trọng của tình bạn bè và tinh thần cộng đồng con người đa văn hóa. Sau khi chiếc tàu bị đắm, Ishmael được cứu thoát nhờ một cỗ quan tài được chạm trổ bởi Queequeg, một người bạn thân của anh, một người thợ săn cá voi bằng lao rất anh dũng với đầy hình xăm trên người và cũng là hoàng tử xứ Polynesia. Những hình trang trí trên quan tài mang tính thần thoại nguyên sơ kết hợp với lịch sử của vũ trụ. Ishmael được thoát chết bởi vật tượng trưng cho cái chết. Từ cái chết, sự sống lại vươn lên ở đoạn kết.

Moby-Dick từ trước đến nay được coi là “sử thi thiên nhiên” -một vở kịch hoành tráng về đời sống tâm linh con người trong bối cảnh thiên nhiên sơ khai – bởi cái huyền thoại về những người đi săn của nó, cái chủ đề tiên khởi của nó, cái tính cách biểu tượng của hòn đảo Eden, cách xử lý tích cực của các dân tộc giai đoạn tiền kỹ thuật và niềm khát khao tái sinh của nó. Và cái bối cảnh con người cô độc giữa tự nhiên là rất đặc trưng cho tính cách Mỹ. Nhà văn và nhà chính trị người Pháp Alexis de Tocqueville đã tiên đoán, trong tác phẩm Democracy in America (Nền dân chủ Mỹ) năm 1835, rằng chủ đề này sẽ nổi lên ở Mỹ như kết quả của nền dân chủ của nó:

Thân phận con người, chính con người bị mang xa khỏi quê hương và thời đại của mình và tồn tại trước mặt Tự nhiên và Thượng đế, cùng với nỗi đam mê, sự nghi ngờ, những thiên hướng hiếm hoi và những khổ đau không sao hiểu nổi, sẽ trở thành chủ đề chính, nếu không phải là duy nhất của thi ca Mỹ.

Tocqueville lý luận rằng, trong một nền dân chủ, văn học sẽ đào sâu vào trong “những chiều sâu còn ẩn giấu của bản tính phi vật chất của con người” hơn là những biểu hiện thuần túy bên ngoài hoặc những phân biệt bề ngoài như là giai cấp và địa vị.

Chắc chắn rằng cả Moby-Dick và Typee cũng như Adventures of Huckleberry Finn (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) và Walden, phù hợp với những lời nhận định này. Đó là những tác phẩm ca ngợi thiên nhiên và là những cuộc lật đổ của đồng quê đối với nền văn minh đô thị nặng tính giai cấp.

Edgar Allan Poe
(1809 – 1849)

Edgar Allan Poe, một người miền Nam, đã chia sẻ với Melville cái nhìn siêu hình tăm tối trộn lẫn với những yếu tố của chủ nghĩa hiện thực, sự nhại hài hước và châm biếm. Ông đã gọt giũa thể loại truyện ngắn và sáng tạo ra tiểu thuyết trinh thám. Nhiều truyện ngắn của ông dự báo sự ra đời của tiểu thuyết khoa học giả tưởng, kinh dị và huyễn hoặc rất phổ biến ngày nay.

Cuộc đời ngắn ngủi và bi đát của Poe bị đọa đầy bởi nỗi bất an. Cũng như nhiều nhà văn hàng đầu của Mỹ thế kỷ 19, Poe mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Cuộc hôn nhân kỳ lạ của Poe vào năm 1835 với người em họ lớn nhất, cô Virginia Clemm, chưa đầy 14 tuổi, được giải thích như là một cố gắng tìm kiếm cuộc sống gia đình ổn định mà ông đang thiếu.

Poe tin rằng sự khác thường là thành tố thiết yếu của cái đẹp, và tác phẩm của ông thường quái lạ. Những câu chuyện và bài thơ của ông chen chúc những nhà quý tộc ưa tự vấn và bị đày đọa (Poe, cũng như những người miền Nam khác, ấp ủ một lý tưởng quý tộc). Những nhân vật buồn thảm này hình như không bao giờ làm việc hay tham gia cuộc sống xã hội; thay vì vậy họ tự giam mình trong những lâu đài mục nát, tăm tối, được bài trí một cách tượng trưng bằng những tấm thảm và màn cửa lạ lùng che giấu cái thế giới thật sự của mặt trời, cửa sổ, tường và sàn nhà. Những căn phòng bí mật phơi bày những thư viện cổ xưa, những tác phẩm nghệ thuật kỳ lạ và đồ cổ phương Đông được tuyển lựa. Những người quý tộc chơi nhạc hay đọc các sách cổ trong khi trăn trở dày vò về những tấn bi kịch, thường là cái chết của những người thân yêu. Chủ đề về cái chết-trong-khi-đang-sống, đặc biệt là bị chôn sống hoặc trở về từ nấm mồ như một con ma cà rồng, xuất hiện trong nhiều tác phẩm của ông, gồm The Premature Burial (Việc chôn cất vội vàng), “Ligeia”, The Cask of Amontillado (Thùng rượu của Amontillado), và The Fall of the House of Usher (Sự sụp đổ của gia đình Usher). Cái thế giới hỗn mang giữa sự sống và cái chết của Poe và những bối cảnh mang tính Gothic, màu mè, hào nhoáng của ông không chỉ thuần túy để làm phông trang trí. Chúng phản ánh đời sống nội tâm quá văn minh nhưng đượm màu chết chóc hoặc là tâm thần bấn loạn của những nhân vật của ông. Chúng là những biểu hiện tượng trưng của vô thức, và do vậy là trung tâm trong thi pháp của ông.

Thơ của Poe, cũng như thơ của nhiều tác giả miền Nam, đầy nhạc tính và tuân thủ âm vận nghiêm nhặt. Bài thơ nổi tiếng nhất của ông, trong lúc sinh thời và cả ngày nay, là The Raven (Con quạ -1845). Trong bài thơ kỳ bí này, người kể chuyện mất ngủ, bị maám, chỉ đọc sách và khóc than cái chết của “Lenore đã khuất” của mình vào đêm khuya được một con quạ viếng thăm (một con chim ăn thịt xác chết, từ đó là biểu tượng của cái chết). Con quạ đậu trên cánh cửa nhà ông và lặp đi lặp lại một điệp khúc nổi tiếng của bài thơ, “không bao giờ nữa” như một điềm gở. Bài thơ kết thúc bằng một cái cảnh lạnh lẽo của một cái chết-trong-khi-đang-sống:

Và con Quạ, không hề động đậy, chỉ lặng yên cứ ngồi, ngồi yên lặng
Trên bức tượng bán thân nhợt nhạt của Pallas ngay trên cửa phòng tôi
Và đôi mắt của nó có tất cả dáng vẻ của một con quỷ đang mơ màng,
Cái ánh sáng ngọn đèn trên đầu quạ
Đổ dài cái bóng nó trên sàn;
Và linh hồn tôi thoát ra từ chiếc bóng đó bay lượn trên sàn
Sẽ được nâng lên – không bao giờ nữa!

Những câu chuyện của Poe – như đã dẫn trên đây – đã được mô tả như là những câu chuyện kinh dị. Những câu chuyện như The Gold Bug (Con bọ vàng) và The Purloined Letter (Lá thư bị đánh cắp), là những câu chuyện của suy lý hay biện luận. Những câu chuyện kinh dị của ông dự báo trước những tác phẩm của các tác giả chuyên viết truyện kinh dị Mỹ như H.P. Lovecraft và Stephen King, còn những truyện suy lý là những con chim báo hiệu của loại tiểu thuyết trinh thám của Dashiell Hammett, Raymond Chandler, Ross Macdonald, và John D. MacDonald. Cũng có một dấu hiệu về cái mà sau này xuất hiện với tên gọi là truyện khoa học giả tưởng. Tất cả những câu chuyện này bộc lộ niềm say mê của Poe với trí tuệ và kiến thức khoa học đang ngày càng có xu hướng thế tục hóa thế giới quan của nhân loại vào thế kỷ 19.

Trong mỗi thể loại, Poe cố khám phá đời sống nội tâm. Sự thấu hiểu tâm lý sâu sắc ánh lên trên mỗi trang sách. “Có ai không thấy mình hàng trăm lần phạm lỗi hay hành động một cách xuẩn ngốc, không vì một lý do nào khác hơn là anh ta biết điều đó không nên làm”, đó là một đoạn trong The Black Cat (Con mèo đen). Để khám phá lãnh vực lạ lùng và hấp dẫn của những quá trình tâm lý, Poe lục lọi trong đống tư liệu về người điên và những cảm xúc tột cùng. Phong cách viết tỉ mỉ một cách gian khổ và sự giải thích cặn kẽ trong các câu chuyện làm tăng thêm cảm giác kinh hãi bằng cách tạo nên những biến cố có vẻ như thật và hợp lý.

Sự kết hợp giữa yếu tố suy đồi và chủ nghĩa nguyên thủy lãng mạn ở Poe có một sức hấp dẫn mãnh liệt giới văn nghệ châu Âu, đặc biệt là những nhà thơ Pháp như Stéphane Mallarmé, Charles Baudelaire, Paul Valéry và Arthur Rimbaud. Poe vẫn mang bản sắc Mỹ, mặc cho sự căm ghét mang màu quý tộc của ông với nền dân chủ, mặc cho lòng ưa thích những gì lai căng xa lạ và những chủ đề về sự phi nhân của ông. Trái lại, ông hầu như là một trường hợp tiêu biểu cho lời dự đoán của Tocqueville rằng nền dân chủ Mỹ sẽ sản sinh những tác phẩm bóc trần cái phần sâu thẳm nhất, ẩn khuất nhất của tâm thức. Một sự âu lo sâu thẳm và một trạng thái tâm thần bất an dường như xuất hiện ở Mỹ sớm hơn ở châu Âu, bởi vì ít nhất thì những người dân Cựu lục địa cũng đã có một cơ cấu xã hội ổn định và phát triển cao mang lại cho họ sự an toàn về mặt tâm lý. Ở Mỹ, đã không có được một sự bảo đảm tương ứng, mỗi người sống cho chính mình. Poe đã mô tả chính xác phía bên dưới của giấc mơ Mỹ về con người tự lập thân và phơi bày cái giá của chủ nghĩa thực dụng và cuộc cạnh tranh tàn bạo – sự cô đơn, tha hóa, và những hình ảnh của cái chết-trong-lúc-đang-sống.

Chủ đề “Sự suy đồi” của Poe cũng phản ánh sự xuống dốc của những biểu tượng xuất hiện vào thế kỷ 19 – cái khuynh hướng pha trộn những vật phẩm nghệ thuật hỗn tạp từ nhiều thời đại và xứ sở khác nhau trong quá trình tước bỏ đi tính cách của chúng và giảm chúng xuống chỉ còn là những vật trang trí thuần túy trong bộ sưu tập. Mớ hỗn độn các bút pháp phát sinh từ đó đặc biệt đáng chú ý ở Mỹ, nơi thường thiếu những phong cách truyền thống của riêng mình. Sự hỗn độn ấy phản ánh sự mất mát những hệ thống tư tưởng nhất quán khi việc di cư, đô thị hóa, và công nghiệp hóa đã nhổ tận gốc nền tảng gia đình và lối sống truyền thống. Trong nghệ thuật, sự rối loạn những biểu tượng này làm tăng thêm tính quái dị, một ý tưởng mà Poe đã lấy làm chủ đề của mình trong tuyển tập truyện hàng đầu của ông, Tales of the Grotesque and Arabesque (Truyện kinh dị) (1840).

CÁC NHÀ VĂN NỮ VÀ NHỮNG NHÀ CẢI CÁCH PHÁI NỮ

Trong thế kỷ 19, phụ nữ Mỹ phải chịu đựng nhiều sự bất bình đẳng: họ không có quyền bầu cử, không được bước chân vào những trường chuyên nghiệp và hầu hết bậc đại học, bị cấm nói trước đám đông và thậm chí tham dự những hội nghị công cộng, và không được có tài sản riêng. Mặc cho những chướng ngại trên vẫn nổi lên hoạt động của những người phụ nữ cấp tiến. Qua thư từ, quan hệ bè bạn riêng tư, những hội họp chính thức, báo chí phụ nữ, và sách vở, phụ nữ đẩy xa hơn những thay đổi xã hội. Phụ nữ trí thức đã vạch ra những cảnh ngộ tương đồng giữa họ và người nô lệ. Họ can đảm đòi hỏi những cải tổ căn bản, chẳng hạn như sự bãi bỏ chế độ nô lệ và quyền bầu cử của phụ nữ, bất chấp sự tẩy chay của xã hội và nguy cơ bị đổ vỡ tài chính. Những tác phẩm của họ là đội quân tiên phong trong hoạt động trí thức của một truyền thống văn học phụ nữ rộng lớn hơn bao gồm luôn tiểu thuyết tình cảm. Những cuốn tiểu thuyết tình cảm của phụ nữ, chẳng hạn Uncle Tom’s Cabin (Túp lều của chú Tôm) của Harriet Beecher Stowe, hết sức nổi tiếng. Chúng gợi cảm xúc sâu lắng và thường bi kịch hóa những vấn đề xã hội dễ gây tranh cãi, đặc biệt những vấn đề đụng chạm đến gia đình và vai trò, trách nhiệm của phụ nữ.

Lydia Child (1802 – 1880) một người chống chế độ nô lệ, đã ảnh hưởng rất lớn đến Margaret Fuller, là người lãnh đạo hoạt động phụ nữ của mạng lưới này. Cuốn tiểu thuyết rất thành công của bà, Hobomock (1824), bày tỏ nhu cầu khoan dung chủng tộc và tôn giáo. Bối cảnh của nó – vùng Thanh giáo Salem, bang Massachusetts – tiên liệu sự ra đời của Nathaniel Hawthorne. Là một nhà hoạt động xã hội, Child thành lập một ngôi trường nữ tư thục, sáng lập và biên tập tờ báo đầu tiên cho trẻ em ở Hoa Kỳ, và xuất bản tập sách tuyên truyền chống chế độ nô lệ đầu tiên, An Appeal in Favor of that Class of Americans Called Africans (Lời kêu gọi sự ủng hộ cho một lớp người được gọi là Mỹ – gốc Phi) vào năm 1833. Tác phẩm táo bạo này làm cho bà nổi tiếng và đồng thời cũng làm bà phá sản. Cuốn sách History of the Condition of Women in Various Ages and Nations (Lịch sử về hoàn cảnh của phụ nữ trong các thời đại và quốc gia khác nhau – 1855) tranh luận cho sự bình đẳng của phụ nữ bằng cách chỉ ra những thành quả của họ trong lịch sử.

Angelina Grimké (1805 – 1879) và Sarah Grimké (1792 1873) sinh ra trong một đại gia đình chủ nô giàu có ở vùng Charleston quý phái bang Nam Carolina. Hai chị em này đã chuyển lên phía Bắc để đấu tranh cho quyền lợi của người Da đen và phụ nữ. Là những người phát ngôn cho Hội chống chế độ nô lệ New York, họ là những người phụ nữ đầu tiên diễn thuyết công khai trước đám đông bao gồm cả đàn ông. Trong thư từ, tiểu luận và nghiên cứu, họ xem sự kỳ thị chủng tộc và phân biệt nam nữ là giống nhau.

Elizabeth Cady Stanton (1815 – 1902), nhà hoạt động vì quyền bình đẳng phụ nữ và sự bãi bỏ chế độ nô lệ, đã sống một thời gian ở Boston, nơi bà kết bạn với Lydia Child. Cùng với Lucretia Mott, bà tổ chức Hội Seneca Falls vì quyền bình đẳng phụ nữ; bà cũng phác thảo bản tuyên ngôn Declaration of Sentiments (Bản tuyên ngôn tình cảm) của hội. “Bản tuyên ngôn độc lập của phụ nữ” của bà mở đầu bằng câu “đàn ông và đàn bà sinh ra đều bình đẳng”, và bày tỏ một quyết tâm đấu tranh cho quyền bầu cử của phụ nữ. Cùng với Susan B. Anthony, Elizabeth Cady Stanton tổ chức chiến dịch đấu tranh cho quyền bỏ phiếu vào những năm 60 và 70, thành lập Liên đoàn phụ nữ quốc gia trung thành chống chế độ chiếm hữu nô lệ và Hiệp hội đầu phiếu phụ nữ, và cùng biên tập tờ tuần báo Revolution. Làm chủ tịch Hiệp hội đầu phiếu phụ nữ trong 21 năm, bà lãnh đạo cuộc đấu tranh cho nữ quyền. Bà diễn thuyết ở nhiều tiểu bang, một phần để hỗ trợ việc học hành của bảy người con bà.

Sau khi chồng chết, bà đào sâu phân tích sự bất bình đẳng về giới tính. Cuốn sách The Woman’s Bible (Kinh thánh của phụ nữ – 1895) của bà chỉ ra một định kiến áp bức phụ nữ bắt rễ sâu xa trong truyền thống Do Thái Thiên Chúa giáo. Bà diễn thuyết về những đề tài như ly dị, quyền lợi của phụ nữ, và tôn giáo cho đến khi bà mất ở tuổi 86, ngay sau khi vừa viết một lá thư cho Tổng thống Theodore Roosevelt ủng hộ quyền bỏ phiếu của phụ nữ. Rất nhiều cuốn sách của bà – thoạt đầu dùng bút danh, nhưng về sau xuất hiện dưới tên bà – gồm 3 tập viết chung của bộ History of Woman Suffrage (Lịch sử quyền bỏ phiếu của phụ nữ, 1881 – 1886) và một tiểu sử tự thuật khôi hài và chân thành.

Sojourner Truth (khoảng 1797 – 1883) tiêu biểu cho sức chịu đựng và sức mạnh lôi cuốn quần chúng của nhóm phụ nữ kiệt xuất này. Sinh ra với thân phận một nô lệ ở New York, lớn lên bà nói tiếng Hà Lan. Bà thoát khỏi kiếp nô lệ năm 1827, định cư cùng với con trai và con gái trong sự bảo trợ của gia đình Van Wagener người Mỹ – Hà Lan mà bà vốn là người giúp việc cho họ. Họ giúp bà thắng trong cuộc đấu tranh pháp lý giành tự do cho con trai, và sau này bà mang tên họ. Khởi đầu sự nghiệp, bà làm việc với một giáo sĩ để huấn cải những cô gái điếm theo đạo Thiên Chúa và sống trong một ngôi nhà chung. Bà được đặt tên “Sojourner Truth” vì tiếng nói tiên tri và nhãn lực huyền bí của bà. Để phổ biến chân lý về những điều bà học được trong khi khải thị, bà thường rày đây mai đó một mình, để diễn thuyết, hát Thánh vịnh và truyền bá tư tưởng bãi bỏ chế độ nô lệ qua nhiều tiểu bang trong hơn ba thập kỷ. Được Elizabeth Cady Stanton động viên, bà ủng hộ quyền bỏ phiếu của phụ nữ. Cuộc đời của bà được kể lại trong cuốn The Narrative of Sojourner Truth (Truyện kể về Sojourner Truth – 1850), một câu chuyện mang tính chất tiểu sử tự thuật được Olive Gilbert viết lại và xuất bản. Suốt đời mù chữ, bà nói tiếng Anh giọng Hà Lan. Người ta kể rằng Sojourner Truth đã phanh bộ ngực mình ra trong một hội nghị về quyền phụ nữ khi bà bị tố cáo là một người đàn ông. Câu bà trả lời một người đàn ông khi ông ta nói phụ nữ là phái yếu đã trở thành huyền thoại:

Tôi đã cày bừa và trồng tỉa, đã lê la ở những quán rượu, và không một người đàn ông nào có thể chỉ huy tôi. Mà tôi không phải là một người đàn bà sao? Tôi cũng có thể làm việc nhiều và ăn nhiều như một người đàn ông – khi tôi có thể kiếm được -và còn chịu cả đánh đập mắng chửi nữa! Mà tôi không phải là một người đàn bà sao? Tôi đã sinh 13 đứa con, và phải chứng kiến hầu hết bọn chúng bị bán làm nô lệ, và khi tôi gào lên nỗi thống khổ của mẹ tôi, chẳng ai nghe tôi ngoài Chúa Giêsu! Vậy tôi không phải là một người đàn bà sao?

Nhà hùng biện khôi hài và không được đánh giá cao lúc sinh thời này được so sánh với những ca sĩ nhạc Blue vĩ đại. Harriet Beecher Stowe và nhiều người khác đã nhận ra sự khôn ngoan trong người đàn bà Da đen được khải thị này, người có thể tuyên bố “Lạy Chúa, Chúa ơi, con có thể yêu ngay cả người Da trắng!”.

Harriet Beecher Stowe 
(1811 – 1896)

Cuốn tiểu thuyết Uncle Tom’s Cabin (Túp lều của chú Tom), hay, Life Among the Lowly (Cuộc sống của đám người hạ đẳng) của Harriet Beecher Stowe là cuốn sách nổi tiếng nhất vào thế kỷ 19. Thoạt đầu được đăng nhiều kỳ trên tờ tạp chí National Era (1851 – 1852), và ngay lập tức tạo được thành công. Chỉ riêng tại Anh, bốn mươi nhà xuất bản khác nhau đã in nó, và nó được nhanh chóng dịch ra 20 thứ tiếng, nhận được lời khen ngợi của những tác giả như Georges Sand ở Pháp, Heinrich Heine ở Đức và Ivan Turgenev ở Nga. Lời kêu gọi thiết tha chấm dứt chế độ nô lệ ở Mỹ của nó đã làm bùng cháy lên cuộc tranh luận kéo dài một thập kỷ, dẫn đến cuộc nội chiến Mỹ (1861 – 1865).

Những nguyên nhân dẫn đến thành công của Uncle Tom’s Cabin thật rõ ràng. Nó phản ánh ý tưởng cho rằng chế độ nô lệ ở Mỹ, một quốc gia chủ trương mang lại dân chủ và bình đẳng cho tất cả mọi người, là một sự bất công, phi lý khổng lồ.

Stowe là một đại biểu hoàn hảo của một dòng dõi Thanh giáo lâu đời ở New England. Cha, anh và chồng bà đều là những giáo sĩ và những nhà cải cách Tin Lành có học và danh tiếng. Stowe thai nghén ý tưởng về cuốn tiểu thuyết này – khi nhìn thấy cảnh một người nô lệ già, tiều tụy bị đánh đập – trong lúc bà đi dự lễ ở nhà thờ. Sau này, bà nói rằng chính Chúa đã khơi nguồn cảm hứng và giúp bà viết cuốn sách này. Động cơ của bà là dùng tình cảm tôn giáo cải tạo cuộc sống làm cho nó trở nên thánh thiện hơn. Thời kỳ lãng mạn đã mang đến một kỷ nguyên của các xúc cảm: nền tảng đạo đức gia đình và tình yêu thương giữ địa vị tối cao. Cuốn tiểu thuyết của Stowe đã đặc biệt đả phá chế độ nô lệ vì nó làm băng hoại những giá trị của gia đình.

Chú Tom, người nô lệ và nhân vật trung tâm, là một vị thánh tử vì đạo thật sự, người đã lao động để hoán cải người chủ nhân hậu của mình là ông St. Clare; cầu nguyện cho linh hồn St. Clare khi ông này chết, bản thân Tom cũng bị giết chết khi bảo vệ những người phụ nữ nô lệ. Chế độ nô lệ được vẽ lên với tất cả sự tàn ác không phải vì những lý do chính trị hay triết học mà chủ yếu bởi vì nó phân ly gia đình, hủy hoại tình yêu tự nhiên của cha mẹ và tự bản chất không hề mang cái tinh thần Thiên Chúa giáo. Những cảnh tượng cảm động nhất là về một người mẹ nô lệ khốn khổ chẳng có thể làm gì cho đứa con đang gào thét và người cha bị bán đi khỏi gia đình. Đó là những tội ác chống lại sự thiêng liêng của tình cảm gia đình.

Cuốn tiểu thuyết của Stowe ban đầu hoàn toàn không có ý định công kích miền Nam. Trên thực tế, Stowe đã đi thăm miền Nam, yêu thích người miền Nam và khắc họa hình tượng họ một cách tốt đẹp. Những người chủ nô lệ miền Nam là những người chủ tử tế và đối xử tốt với Tom. Bản thân St. Clare căm ghét chế độ nô lệ và có ý định giải phóng toàn bộ số nô lệ của mình. Ngược lại, ông chủ Simon Legree độc ác, là một người miền Bắc và là một tên vô lại. Thật trớ trêu, cuốn sách có ý định hòa giải Bắc – Nam, khi cả hai đang tiến gần đến cuộc Nội chiến sau đó một thập kỷ. Mặc dù vậy, cuối cùng, cuốn sách được những người ủng hộ bãi bỏ chế độ nô lệ và những người khác dùng làm vũ khí trong cuộc luận chiến chống lại miền Nam.

Harriet Jacobs 
(1818 – 1896)

Sinh ra làm nô lệ ở bang bắc Carolina, Harriet Jacobs được bà chủ dạy cho đọc và viết. Khi bà chủ qua đời, Jacobs bị bán cho một người chủ Da trắng cố tình ép bà quan hệ tình dục với hắn. Bà chống lại người chủ, tìm đến một người tình Da trắng khác và có với ông hai đứa con rồi để chúng sống với bà ngoại. “Tự hiến thân có vẻ như ít hạ phẩm giá hơn là khuất phục trước sự áp bức”, bà viết một cách thật lòng như thế. Bà trốn thoát khỏi ông chủ và dựng nên tin đồn rằng bà đã trốn lên miền Bắc.

Lo sợ bị bắt, bị trả về làm nô lệ và bị trừng phạt, bà sống suốt 7 năm lẩn trốn ngay tại thị trấn của người chủ, trong một căn phòng áp mái, bé xíu, tối tăm trong căn nhà của bà ngoại. Bà chịu đựng được mọi nỗi đau khổ là nhờ được nhìn thấy những đứa con thân yêu của mình qua những cái lỗ mà bà khoan qua trần nhà. Cuối cùng bà thoát được đến miền Bắc, sống ở Rochester – bang New York, nơi Frederick Douglass đang xuất bản tờ nhật báo chống nô lệ North Start và gần Senaca Falls, nơi vừa diễn ra một hội nghị về quyền phụ nữ. Ở đây, Jacobs làm bạn với Amy Post, một người ủng hộ việc bãi bỏ chế độ nô lệ và quyền phụ nữ theo phái Quaker. Amy đã khuyến khích bà viết tiểu sử tự thuật của mình. Incidents in the Life of a Slave Girl (Những sự việc xảy ra trong đời của một nữ nô lệ) xuất bản dưới bút hiệu “Linda Brent” vào năm 1861, được Lydia Child biên tập. Cuốn sách lên án thẳng thừng tệ nạn bóc lột tình dục ở nữ nô lệ Da đen. Cuốn sách của Jacobs, cũng như cuốn của Douglass, là một phần của thể loại tự sự của dân nô lệ tiếp nối truyền thống từ Olaudah Equiano thời thuộc địa.

Harriet Wilson
(1807 – 1870)

Harriet là người Mỹ – Phi châu đầu tiên xuất bản một cuốn tiểu thuyết ở Mỹ – Our Nig: Or, Sketches from the Life of a Free Black, in a two – storey white house North; showing that Slavery’s Shadows Fall Even There (Phác họa về cuộc đời của một người Da đen tự do, trong một ngôi nhà trắng hai tầng, miền Bắc; chứng minh rằng bóng của những người nô lệ đã ngả dài xuống đây – 1859). Cuốn tiểu thuyết được hư cấu dựa trên cơ sở hiện thực cuộc hôn nhân giữa một người đàn bà Da trắng và một người đàn ông Da đen, và cũng mô tả cuộc sống khó khăn của một người đầy tớ Da đen trong một gia đình Thiên Chúa giáo giàu có. Trước đây, người ta nghĩ rằng đây là một cuốn tiểu sử tự thuật, nhưng giờ đây được hiểu là một tác phẩm hư cấu.

Cũng như Jacbos, Wilson đã không xuất bản dưới tên thật của mình (Our Nig, là một sự mỉa mai) và tác phẩm của bà bị lãng quên mãi cho đến gần đây. Ta cũng có thể có những nhận xét tương tự với các tác phẩm của hầu hết những cây bút nữ vào thời kỳ đó. Học giả Mỹ Da đen nổi tiếng Henry Louis Gates, Jr. – trong vai trò chỉ đạo dự án nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà văn Da đen – đã tái bản Our Nig vào năm 1983.

Frederick Douglass
(1817 – 1895)

Người lãnh đạo người Mỹ Da đen chống chế độ nô lệ nổi tiếng nhất và đồng thời là nhà hùng biện của thời đó là Frederick Douglass. Ông sinh ra với thân phận nô lệ trong một trang trại ở Maryland. Do may mắn, ông được đưa đến Baltimore tương đối tự do hơn khi ông còn trẻ, ở đó ông học đọc và viết. Trốn thoát tới Massachusetts năm 1838, vào lúc 21 tuổi, Douglass được ông chủ bút ủng hộ việc bãi bỏ chế độ nô lệ Wilson Lloyd Garrison giúp đỡ và bắt đầu diễn thuyết cho những hội nhóm chống chế độ nô lệ.

Năm 1845, ông xuất bản cuốn Narrative of the Life of Frederick Douglass, An American Slave (Tự thuật về cuộc đời Frederick Douglass, một nô lệ Mỹ) của mình (ấn bản lần hai năm 1855, sửa chữa lại vào năm 1892), là cuốn hay nhất và nổi tiếng nhất trong nhiều “chuyện kể về nô lệ”. Thường được những người ủng hộ bãi bỏ nô lệ ghi chép lại từ những người Da đen mù chữ dùng để tuyên truyền. Những chuyện kể nô lệ này rất nổi tiếng vào những năm ngay trước cuộc Nội chiến. Tự truyện của Douglass rất sống động, có giá trị nghệ thuật cao và nó mang lại những hiểu biết vô song về tình trạng tâm lý của nô lệ và sự thống khổ mà định chế này đã gây ra cho những người Da đen.

Chuyện kể về nô lệ là thể loại văn xuôi đầu tiên của văn học Da đen ở Mỹ. Nó giúp người Da đen rất nhiều trong việc vượt khó khăn để thiết lập một tính cách Mỹ -Da đen trong lòng nước Mỹ Da trắng và tiếp tục gây ảnh hưởng quan trọng lên những chủ đề và kỹ thuật viết tiểu thuyết của văn học Da đen suốt thế kỷ 20. Công cuộc tìm kiếm một diện mạo riêng, sự giận dữ chống lại nạn kỳ thị chủng tộc, và cảm giác về việc sống một cuộc sống vô hình, trong bóng tối, bị săn đuổi và không được đa số người Mỹ Da trắng thừa nhận, lại tái hiện trong những tác phẩm của những tác giả Mỹ Da đen thế kỷ 20 như Richard Wright, James Baldwin, Ralph Ellison và Toni Morrison.


[1] Đông Ấn: East India, tức Ấn Độ ngày nay, phân biệt với West Indies (quần đảo Tây Ấn) ở Trung Mỹ, vốn ngày xưa bị ngộ nhận là Ấn Độ, khi Christophe Colombus muốn đi đường biển sang châu Á (Ấn Độ -Trung Quốc) mà không phải đi qua Tây Á lúc đó đang bị các lực lượng Hồi giáo trấn giữ.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_iv.html

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 3: Thời kỳ lãng mạn 1820-1860

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998


NHỮNG CÂY BÚT TIỂU LUẬN VÀ CÁC THI SĨ

Chủ nghĩa lãng mạn, bắt nguồn từ Đức rồi nhanh chóng lan sang Anh, Pháp và xa hơn, rồi đến Mỹ khoảng năm 1820, trên dưới 20 năm sau khi William Wordsworth và Samuel Taylor Coleridge làm cuộc cách mạng thi ca Anh bằng việc xuất bản tập Lyrical Ballads (Thơ trữ tình). Ở Mỹ cũng như châu Âu thời đó, một quan điểm mới mẻ tươi tắn truyền đi như dòng điện trong giới nghệ sĩ, trí thức. Tuy vậy, cũng có một sự khác biệt quan trọng: chủ nghĩa lãng mạn ở Mỹ xảy ra cùng lúc với thời kỳ bành trướng quốc gia và sự khám phá giọng điệu riêng của nước Mỹ. Sự củng cố đặc trưng quốc gia và sự trỗi dậy của chủ nghĩa lý tưởng cùng với niềm đam mê chủ nghĩa lãng mạn đã nuôi dưỡng những kiệt tác của “thời Phục hưng Mỹ”.

Những tư tưởng lãng mạn tập trung quanh nghệ thuật như nguồn cảm hứng, như chiều kích thẩm mỹ và tâm linh của cõi tự nhiên và như những ẩn dụ về sự phát triển hữu cơ.

Những tác gia của chủ nghĩa Lãng mạn lý luận rằng nghệ thuật, chứ không phải khoa học, có thể diễn tả tốt nhất về chân lý phổ quát. Họ cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của nghệ thuật biểu hiện đối với mỗi cá nhân và xã hội. Trong tiểu luận The Poet (Nhà thơ – 1844) Ralph Waldo Emerson, có lẽ là tác giả có ảnh hưởng lớn nhất của thời kỳ Lãng mạn, khẳng định:

Con người ta sống bằng chân lý và có nhu cầu tự biểu hiện. Trong tình yêu, trong nghệ thuật, trong lòng tham, trong chính trị, trong lao động, trong vui đùa, chúng ta học để thốt ra những bí ẩn đau đớn của chúng ta. Con người chỉ là một nửa của mình, nửa kia chính là sự diễn đạt tư tưởng của anh ta.

Sự phát triển cái tôi trở thành một chủ đề quan trọng; trong đó sự tự nhận thức là phương pháp cơ bản. Nếu theo lý luận của chủ nghĩa lãng mạn, cái tôi của con người và tự nhiên là một, thì sự tự biết mình không phải là mục đích hoàn toàn vị kỷ mà là một cách nhận thức có hướng mở ra cùng toàn thể vũ trụ.

Khi cái tôi của một người cũng hợp nhất làm một với toàn nhân loại thì khi ấy mỗi cá nhân có một bổn phận đạo đức trong việc cải tạo những bất bình đẳng trong xã hội và làm vơi đi nỗi khổ đau của con người. Bản ngã -cái tôi được các thế hệ trước cho là đầy tính vị kỷ đã được định nghĩa lại. Những từ kép mới với ý nghĩa tích cực đã xuất hiện: “tự nhận thức”, “tự biểu hiện”, “tự tín”. Khi cái tôi chủ quan đơn nhất trở nên quan trọng, thì lãnh địa tâm lý cũng trở thành quan yếu. Những kỹ thuật và hiệu quả mang tính nghệ thuật đặc biệt được phát triển để khơi dậy những trạng thái tâm lý cao cấp. Cái “siêu phàm” – hiệu quả của cái đẹp trong sự hùng vĩ (ví dụ, một cảnh quan nhìn từ một đỉnh núi) – đã tạo ra những cảm giác sợ hãi, tôn kính, choáng ngợp và sức mạnh vượt ra ngoài sự hiểu biết của con người.

Chủ nghĩa Lãng mạn chiếm ưu thế và thích hợp với hầu hết những nhà thơ và những nhà tiểu luận Mỹ. Rừng núi bao la, sa mạc vô tận và miền nhiệt đới mênh mông của nước Mỹ là hiện thân của cái “siêu phàm”. Tinh thần lãng mạn dường như đặc biệt thích hợp với nền dân chủ Mỹ: nó đề cao chủ nghĩa cá nhân, tôn vinh giá trị của con người bình thường, và hướng vào sự tưởng tượng đầy cảm hứng để tìm những giá trị thẩm mỹ và đạo đức. Chắc hẳn những tác giả theo chủ nghĩa siêu nghiệm ở New England: Ralph Waldo Emerson, Henry David Thoreau và bằng hữu của họ – đã được trào lưu Lãng mạn kích thích để vươn tới một sự khẳng định lạc quan và mới mẻ. New England chính là mảnh đất màu mỡ của hạt giống lãng mạn chủ nghĩa.

CHỦ NGHĨA SIÊU NGHIỆM

Phong trào Siêu nghiệm trong văn học là sự phản ứng chống lại chủ nghĩa Duy lý thế kỷ thứ 18 và là biểu hiện của khuynh hướng nhân bản trong các trào lưu tư tưởng thế kỷ thứ 19. Trào lưu này đặt nền tảng trên niềm tin cơ bản vào sự hợp nhất của Thế giới và Thượng đế. Linh hồn của mỗi cá nhân được xem là đồng dạng với vũ trụ – một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ. Học thuyết về tự – tin – cậy và chủ nghĩa cá nhân đã phát triển thông qua niềm tin vào sự đồng nhất của linh hồn mỗi con người với Thượng đế.

Trào lưu Siêu nghiệm gắn bó mật thiết với Concord, một làng nhỏ ở New England cách Boston 32km về phía tây. Concord là vùng định cư sâu trong đất liền đầu tiên của thuộc địa Vịnh Massachusetts buổi ban đầu. Được rừng cây bao quanh, nó đã và vẫn là một thị trấn thanh bình đủ gần để có thể tiếp xúc với những bài giảng, những hiệu sách và những trường đại học ở Boston để có thể gặt hái thật nhiều quả ngọt tri thức, nhưng cũng đủ xa để giữ được sự thanh khiết. Concord cũng là nơi xảy ra cuộc chiến đầu tiên của cách mạng Hoa Kỳ và bài thơ của Ralph Waldo Emerson tưởng nhớ về trận chiến đó, Concord Hymn (Bản tụng ca Concord), có một khổ thơ mở đầu nổi tiếng trong văn học Mỹ:

Bên chiếc cầu thô sơ bắc ngang dòng nước
Lá cờ bay trong gió tháng Tư
Đã có thời ở đây người nông dân đứng lên chiến đấu
Tiếng súng của họ vang lên trên khắp địa cầu.

Concord là lãnh địa thôn dã đầu tiên của các nghệ sĩ Mỹ và là nơi đầu tiên cống hiến một chọn lựa tinh thần và văn hóa cho chủ nghĩa vật chất Mỹ. Nó cũng là nơi diễn ra các cuộc đàm luận tư tưởng và cuộc sống giản đơn đạm bạc (cả Emerson lẫn Henry David Thoreau đều tự trồng rau). Emerson đến Concord năm 1834, và Thoreau là những người gắn bó nhất với thị trấn này, nhưng địa danh này cũng lôi cuốn cả nhà văn Nathaniel Hawthorne, nhà văn đấu tranh cho nữ quyền Margaret Fuller, nhà giáo dục (và là cha của nhà văn Louisa May Alcott) Bronson Alcott, và nhà thơ William Ellery Channing. Câu lạc bộ Siêu nghiệm được tổ chức một cách rất thoáng đạt vào 1836 và bao gồm, ở nhiều thời điểm, Emerson, Thoreau, Fuller, Channing, Bronson Alcott, Orestes Brownson (một mục sư hàng đầu), Theodore Parker (một mục sư ủng hộ bãi bỏ chế độ nô lệ) và những người khác.

Những người theo chủ nghĩa Siêu nghiệm xuất bản một tạp chí ra hàng quý, tờ The Dial, tồn tại được 4 năm. Margaret Fuller làm chủ bút đầu tiên và về sau là Emerson. Họ dấn thân cả vào lĩnh vực cải cách xã hội cũng như văn học. Một số người theo chủ nghĩa Siêu nghiệm ủng hộ việc bãi bỏ chế độ nô lệ, và một số tham gia vào các cộng đồng của chủ nghĩa xã hội không tưởng thử nghiệm, chẳng hạn như Brook Farm (Trại Brook) ở gần đấy (được Hawthorne mô tả trong cuốn The Blithedale Romance (Khúc ca thung lũng hạnh phúc) và Fruilands.

Khác với nhiều nhà văn châu Âu, các nhà văn theo phái Siêu nghiệm không đưa ra một bản tuyên ngôn nào. Họ vẫn duy trì quan điểm về những khác biệt cá nhân – về kiến quan độc đáo của cá nhân. Về mặt này, các nhà văn lãng mạn Siêu nghiệm Mỹ đẩy chủ nghĩa cá nhân tiến bộ đến cực điểm. Các nhà văn Mỹ thường xem mình là những người thám hiểm đơn độc bên ngoài cơ cấu và quy ước xã hội. Người hùng Mỹ – như thuyền trưởng Ahab của Herman Melville, Huck Finn của Mark Twain hay Arthur Gordon Pym của Edgar Allan Poe – thường đương đầu với hiểm nguy, thậm chí với cả sự hủy diệt, trong việc theo đuổi sự tìm kiếm bản thân mang tính chất siêu hình. Đối với các nhà văn lãng mạn Mỹ chẳng có gì là điều chắc chắn. Những quy ước trong văn học và xã hội, chẳng mảy may có ích lợi gì, lại nguy hiểm. Một áp lực khổng lồ thúc bách các nhà văn khám phá ra một hình thức, nội dung và tiếng nói cho một nền văn học đích thực – tất cả đều cùng một lúc. Rõ ràng, nhiều kiệt tác sản sinh ra trong 3 thập kỷ trước cuộc nội chiến Mỹ (1861 – 1865) là kết quả của việc các nhà văn Mỹ vươn lên đối đầu với thử thách.

Ralph Waldo Emerson 
(1803 – 1882)

Ralph Waldo Emerson, nhân vật hàng đầu trong thời kỳ của ông, đã có ý thức về một sứ mệnh có ý nghĩa tôn giáo. Mặc dù nhiều người lên án ông là đã phá hoại Thiên Chúa giáo, ông giải thích rằng, với ông “để phụng sự Chúa tốt hơn ông cần phải ra khỏi nhà thờ”. Bài diễn văn ông đọc năm 1838 ở trường học của mình, trường Harvard Divinity (Harvard Hiển Linh) khiến ông lại cấm cửa suốt 30 năm. Trong bài này, Emerson kết tội Giáo hội là đã hành xử “như thể Chúa đã chết” và đã nhấn mạnh các giáo điều đồng thời bóp nghẹt đời sống tinh thần của con người.

Triết lý của Emerson được gọi là triết lý ngược, và đúng là ông đã có ý thức tránh xây dựng một hệ thống lý luận logic vì một hệ thống duy lý như thế sẽ phủ nhận niềm tin lãng mạn của ông vào trực giác và tính bất định của tâm hồn con người. Trong tiểu luận Self-Reliance (Tự tin vào mình) của ông, Emerson nhấn mạnh: “Sự kiên định ngu si là lũ quỷ trong những đầu óc bé nhỏ”. Tuy vậy, ông đã kiên định một cách phi thường trong lời kêu gọi khai sinh chủ nghĩa cá nhân Mỹ, lấy tự nhiên làm cảm hứng sáng tạo. Hầu hết những ý tưởng chủ đạo của ông: nhu cầu về một tầm nhìn quốc gia có tính đổi mới, phát huy các kinh nghiệm cá nhân, khái niệm Linh-Hồn-Toàn- Năng của vũ trụ và chủ thuyết đền bù, được đề cập đến trong tác phẩm đầu tiên của ông, Nature (Tự nhiên – 1836). Tiểu luận này được mở đầu như sau:

Thời đại chúng ta đang quay nhìn lại quá khứ. Nó xây lăng tẩm cho thế hệ cha ông. Nó viết tiểu sử, lịch sử và phê bình. Những thế hệ đi trước chiêm ngưỡng Thượng đế và thiên nhiên một cách trực diện, còn chúng ta nhìn Thiên nhiên và Thượng đế qua cái nhìn của họ. Tại sao chúng ta lại không sẵn lòng trong mối quan hệ nguyên sơ với vũ trụ? Tại sao chúng ta lại không có loại thi ca kiến giải nội tâm mà không đi theo truyền thống, và một tôn giáo mặc khải cho chúng ta, chứ không phải lịch sử của các tôn giáo và truyền thống của họ. Được bao bọc suốt một mùa bởi thiên nhiên, những cơn lũ của dòng đời tuôn trào, tràn qua chúng ta, dùng hết quyền năng dồi dào của chúng để mời gọi chúng ta hành động hài hòa với tự nhiên, vậy thì tại sao chúng ta lại dò dẫm trong đám xương khô của quá khứ…? Ngày hôm nay mặt trời vẫn soi sáng. Ngoài kia trên cánh đồng có thêm nhiều len và bông. Có thêm những miền đất mới, những con người mới, những tư tưởng mới. Chúng ta hãy yêu cầu có được những tác phẩm, những luật lệ và sự tôn thờ của riêng ta.

Emerson yêu thích Montaigne, một thiên tài trác tuyệt người Pháp thế kỷ 16, chuyên viết tiểu luận. Ông đã từng nói với Bronson Alcott rằng ông muốn viết một cuốn sách giống như cuốn sách của Montaigne “đầy chất thơ, tràn ngập niềm vui, thần tính, triết lý, dụ ngôn và các truyện thông tục”. Ông trách cứ rằng văn phong trừu tượng của Alcott đã bỏ đi “cái ánh sáng lấp lánh trên nón của con người, và trên cái thìa của một đứa bé”.

Kiến quan tâm linh và cách diễn đạt vừa thâm thúy sâu sắc vừa thực tiễn khiến cho văn Emerson sinh động, đầy phấn khích. Một trong những nhà văn theo phái Siêu nghiệm ở Concord đã so sánh rất hay giữa việc nghe ông nói chuyện với cảm giác “vọt một phát lên tới trời”. Phần lớn những kiến giải tâm linh của ông bắt nguồn từ việc nghiên cứu tôn giáo phương Đông, đặc biệt là Ấn Độ giáo, Khổng giáo và Đạo thần bí Hồi giáo (Sufi). Ví dụ, bài thơ Brahma của ông dựa trên nguồn gốc Ấn giáo để khẳng định trật tự của vũ trụ là vượt khỏi cảm quan giới hạn của con người có sinh có tử.

Nếu kẻ sát nhân hung ác biết hắn đang chém giết
Hay người bị tàn sát biết mình bị hại
Họ không hay biết những con đường huyền ảo
Tôi đã giữ, đã vượt qua, và rồi quay trở lại.

Cả những gì xa xôi, bị quên lãng với tôi đều quen thuộc
Bóng tối và ánh sáng, có gì đâu, là một
Những thiên thần biến đi lại trở lại tôi;
Nỗi ô nhục, niềm vinh quang với tôi cũng là một mà thôi

Họ đã nghĩ xấu và rời bỏ tôi
Khi họ bay đi, tôi chính là đôi cánh;
Tôi – kẻ nghi ngờ và mối hiềm nghi,
Tôi là khúc tụng ca vị giáo sĩ ngân nga

Những thần linh oai vũ mong muốn chốn trú ngụ của tôi
Và ước ao vô vọng về Bảy Đấng thiêng liêng.
Nhưng em, người yêu dịu hiền của điều thiện
Hãy tìm tôi, và cùng quay lưng lại với Thiên đường.

Bài thơ này, in trong số đầu tiên của tạp chí Atlantic Monthly (1857), làm cho độc giả bối rối ngỡ ngàng bởi Brahma, vị thần Ấn Độ giáo cao nhất, linh hồn vĩnh cửu và vô tận của vũ trụ còn xa lạ với họ. Emerson khuyên độc giả của mình: “Hãy bảo họ đọc tên Jehovah thay cho Brahma”.

Nhà phê bình người Anh Matthew Arnold nói rằng những tác phẩm quan trọng nhất viết bằng tiếng Anh của thế kỷ 19 là những bài thơ của Wordsworth và những tiểu luận của Emerson. Là một nhà thơ – văn xuôi vĩ đại, Emerson đã có ảnh hưởng lớn đến một loạt các nhà thơ Mỹ, bao gồm Walt Whitman, Emily Dickinson, Edwin Arlington Robinson, Wallace Stevens, Hart Crane, và Robert Frost. Ông cũng được thừa nhận là người ảnh hưởng đến tư tưởng triết học của John Dewey, George Santayana, Friedrich Nietzsche và William James.

Henry David Thoreau 
(1817 – 1862)

Henry David Thoreau, có dòng máu Pháp và Scotland, sinh ở Concord và chọn nơi đây làm chốn định cư. Xuất thân từ một gia đình nghèo, cũng như Emerson, ông vừa làm việc vừa học Đại học Harvard. Trong suốt cuộc đời mình, ông giảm thiểu nhu cầu của mình đến mức đơn giản nhất và xoay xở để sống với một số tiền ít ỏi, vì vậy duy trì được sự độc lập của mình. Thực chất, ông đã sống bằng chính nghề của mình.

Là một người theo chủ nghĩa khắc kỷ, ông cố gắng thực hiện những nguyên tắc sống cứng rắn trong mọi thời điểm của cuộc đời. Nỗ lực này là chủ đề cho nhiều tác phẩm của ông.

Kiệt tác của Thoreau, Walden, hay là Life in the Woods (Cuộc sống trong rừng 1854), tổng kết 2 năm, 2 tháng và 2 ngày (từ 1845 -1847) sống trong một túp lều ông dựng lên ở Walden Pond (Hồ Walden) trên phần đất Emerson sở hữu. Trong cuốn Walden, Thoreau cố ý dồn khoảng thời gian trên vào một năm, và cuốn sách được cấu trúc một cách chu đáo để các mùa trong năm xuất hiện đúng theo tuần tự một cách tinh tế. Cuốn sách cũng được sắp xếp sao cho những điều quan tâm trần tục đơn giản nhất xuất hiện trước (trong phần gọi là 73 “kinh tế”, ông mô tả chi phí xây dựng một túp lều); khi kết thúc, cuốn sách tiến đến sự chiêm nghiệm về các vì tinh tú.

Trong cuốn Walden, Thoreau, người yêu thích sách du ký và là tác giả nhiều cuốn du ký cho chúng ta một cuốn sách phản du ký đã khai mở một cách nghịch lý biên giới nội tâm của sự tự khám phá, một điều không một cuốn sách nào ở Mỹ làm được cho đến thời điểm đó. Cuốn sách cũng có vẻ khiêm tốn như cuộc đời khổ hạnh của Thoreau, nó không gì hơn là một cuốn cẩm nang để sống theo cái lý tưởng cổ điển về một cuộc sống tốt đẹp. Vừa là thơ ca và triết học, cuốn tiểu luận dài, giàu chất thơ này kêu gọi độc giả xét lại đời mình và sống cuộc đời đó một cách thực sự. Việc xây dựng một túp lều được mô tả chi tiết, là một ẩn dụ cụ thể cho việc xây dựng linh hồn một cách cẩn trọng. Trong nhật ký của mình ngày 30 tháng Giêng 1852, Thoreau giải thích niềm yêu thích muốn sống cắm rễ sâu vào một mảnh đất: Tôi sợ đi đó đi đây nhiều hoặc đến những nơi danh thắng, vì e rằng nó sẽ làm thương tổn hoàn toàn trí óc.

Cách sống ẩn dật và tập trung tư tưởng của Thoreau giống như phương pháp Thiền định ở châu Á. Sự tương đồng đó không phải là tình cờ; cũng như Emerson và Whitman, ông bị ảnh hưởng bởi triết học Ấn Độ giáo và Phật giáo. Tài sản quý giá nhất của ông là thư viện gồm những tác phẩm kinh điển của châu Á, sở hữu chung của ông và Emerson. Văn phong chiết trung của ông chọn lọc từ những tác phẩm kinh điển Hy Lạp và Latin thì trong sáng như pha lê, sử dụng biện pháp chơi chữ và giàu ẩn dụ như những tác giả siêu hình Anh vào cuối thời Phục hưng.

Trong tác phẩm Walden, Thoreau không chỉ kiểm chứng những lý thuyết của chủ nghĩa Siêu nghiệm; ông tái biểu hiện lại kinh nghiệm chung của nước Mỹ hồi thế kỷ 19: cuộc sống ở nơi hoang vu. Thoreau cảm thấy rằng sự đóng góp của ông có thể sẽ làm sống lại nhận thức về tự nhiên hoang dã trong địa hạt ngôn ngữ. Nhật ký của ông có một phần không ghi ngày tháng vào năm 1851 như sau:

Văn học Anh, từ thời của những người hát rong trung cổ cho đến những nhà thơ Hồ[1], gồm cả Chaucer, Spenser, Shakespeare và Milton, không hề có giọng điệu mới mẻ và, theo cái nghĩa này, không có hơi hướng hoang dại chút nào. Nó chủ yếu là một nền văn học đã thuần tinh và gọt giũa, phản ánh văn minh Hy-La. Tính cách hoang dã của nó chỉ ở mức một cánh rừng xanh, con người hoang dã chỉ là Robin Hood, có rất nhiều tình yêu tràn trề đối với thiên nhiên trong các nhà thơ xứ này, nhưng trong chính nền văn học Anh lại vắng bóng dáng của thiên nhiên. Những cuốn biên niên sử của nó cho ta biết lúc nào những con thú hoang của nó, chứ không phải nhữngcon người hoang dã trong nó, bị tuyệt chủng. Đó là điều nước Mỹ cần phải biết.

Walden tạo nguồn cảm hứng cho William Butler Yeats, một người Ireland nhiệt thành theo chủ nghĩa dân tộc, viết bài thơ The Lake Isle of Innisfree(Hồ trên đảo Innisfree), còn bài tiểu luận Civil Disobedience (Sự bất tuân dân sự) của Thoreau, với lý thuyết phản kháng thụ động dựa trên nhu cầu đạo đức cho phép cá nhân công chính bất tuân thứ pháp luật bất công, là nền tảng tinh thần cho phong trào đấu tranh giành độc lập ở Ấn Độ của Mahatma Gandhi và cuộc đấu tranh nhân quyền cho người Mỹ Da đen vào thế kỷ 20 của Martin Luther King.

Cho đến nay, Thoreau là tác giả được ưa thích nhất trong số những người theo chủ nghĩa Siêu nghiệm bởi ý thức về môi sinh, quan điểm độc lập chỉ trông cậy vào bản thân, yêu cầu (1) Các nhà thơ Hồ (Lake Poets): nhóm nhà thơ Anh sống ở quận Lake, gồm có: Wordsworth, Coleridge và Southey… có tính cách đạo đức với việc bãi bỏ chế độ nô lệ và lý thuyết chính trị về sự bất tuân của công dân và sự phản kháng trong hòa bình của ông. Những tư tưởng của ông vẫn còn mới mẻ, văn phong sắc sảo đầy chất thơ và thói quen quan sát cụ thể chính xác của ông vẫn còn rất hiện đại.

Walt Whitman 
(1819 – 1892)

Sinh ra ở Long Island, New York, Walt Whitman có nghề tay trái là thợ mộc. Ông là một người con của nhân dân Mỹ qua các tác phẩm cách tân, sáng chói của mình đã nói lên được tinh thần dân chủ của đất nước. Whitman chủ yếu tự học; ông bỏ học lúc 11 tuổi để đi làm, đánh mất cái cơ hội có được nền giáo dục chính thống đã làm cho hầu hết các tác giả Mỹ trở thành những kẻ mô phỏng đáng kính của nền văn học Anh. Tập thơ Leaves of Grass (Lá cỏ – 1855) của ông, một tác phẩm mà ông đã viết đi viết lại và chỉnh lý trong suốt cuộc đời, có bài Song of Myself (Bài ca tự ngã), một bài thơ độc đáo trác tuyệt nhất từ trước đến nay do một người Mỹ viết. Lời ngợi khen hết mình mà Emerson và một vài người khác đổ tới tấp lên tập thơ hết sức dấn thân này, khẳng định Whitman trong sự nghiệp thi ca của ông, mặc dù thành công của cuốn sách không được rộng khắp lúc đương thời.

Là một cuốn sách đi trước thời đại, ca ngợi mọi sự sáng tạo, Leaves of Grass được lấy cảm hứng chủ đạo từ những tác phẩm của Emerson, đặc biệt tiểu luận The Poet (Thi sĩ) của ông, từng dự đoán sự ra đời của một lớp thi sĩ đầy sức mạnh, có tầm nhìn khoáng đạt và trái tim rộng mở với 77 cuộc đời giống với Whitman một cách lạ kỳ. Lá cỏ là tập thơ mang tính đổi mới: thể thơ tự do, không vần, công khai ca ngợi tính dục với những xúc cảm dân chủ mãnh liệt, và sự khẳng định cực đoan theo kiểu chủ nghĩa Lãng mạn rằng cái tôi của nhà thơ phải hòa làm một với bài thơ, với vũ trụ, và với bạn đọc, đã thay đổi vĩnh viễn nền thơ ca Mỹ.

Leaves of Grass cũng mênh mông, đầy sức sống và tự nhiên nhi nhiên như lục địa châu Mỹ; nó là thiên sử thi mà nhiều thế hệ các nhà phê bình Mỹ kêu gọi, dầu họ không nhận ra nó. Sự chuyển động trào lên như sóng quaSong of Myself như âm nhạc không ngừng nghỉ:

Những xiềng xích cùm gông tôi bỏ lại
Tôi vòng qua các núi non, lòng tay che các miền lục địa
Và sẵn sàng với tri kiến của mình.

Tập thơ tròn đầy với muôn ngàn cảnh tượng và âm thanh sống động. Những con chim trong thơ Whitman không phải là hình ảnh ước lệ về các “linh hồn có cánh” như trong thi ca truyền thống. “Con diệc đầu vàng” của ông “đêm đêm đến bìa đầm lầy và mò ăn những con cua nhỏ”. Dường như Whitman đắm mình trọn vẹn vào mỗi thứ ông chứng kiến hay tưởng tượng ra. Ông là con người của quần chúng, “Du hành đến mọi bến tàu để mặc cả và phiêu lưu. Cùng vội vã giữa một đám đông tân kỳ cũng háo hức và đổi thay như bất cứ ai”. Trong cuộc sống riêng, ông chịu nhiều đau khổ. “Người mẹ già nua, bị kết án là phù thủy, bị đưa lên giàn hỏa thiêu trước sự chứng kiến của đàn con… Tôi là tên nô lệ bị săn đuổi, đớn đau sau bao lần chó cắn… Tôi là người lính cứu hỏa bị nghiền nát đến vỡ vụn xương sườn…”.

Chính Whitman chứ không phải ai khác đã phát minh ra huyền thoại về nước Mỹ dân chủ. “Những người Mỹ đến từ mọi quốc gia trên trái đất ở bất cứ thời điểm nào mang bản tính thi ca trong cái nghĩa đầy đủ nhất. Nước Mỹ tự bản chất là bài thơ vĩ đại nhất”. Khi Withman viết bài thơ này, ông đã mạnh dạn đảo ngược ý kiến phổ biến cho rằng nước Mỹ quá thô thiển và non dại không có gì chung với thơ ca. Ông phát hiện ra một nước Mỹ phi thời gian của trí tưởng tượng không giới hạn, nơi cư ngụ của các tinh thần tiên phong đến từ khắp các quốc gia. D. H. Lawrence, nhà văn và nhà thơ Anh, đã gọi ông một cách chính xác là nhà thơ của “con đường rộng mở”.

Sự vĩ đại của Whitman thể hiện rõ trong nhiều bài thơ, trong đó có các bài Crossing Brooklyn Ferry (Qua phà Brooklyn). Out of the Cradle Endlessly Rocking (Từ chiếc nôi đong đưa) và When Lilacs Last in the Dooryard Bloom’d (Những đóa tử đinh hương cuối cùng trong khoảng sân trước đầy hoa), một khúc bi ca về cái chết của Abraham Lincoln. Một tác phẩm quan trọng khác là tiểu luận dài Democratic Vistas (Triển vọng dân chủ 1871), được viết vào “thời đại hoàng kim” của nền công nghiệp, vào cái lúc chủ nghĩa thực dụng phát triển không kiềm chế. Trong tiểu luận này, Whitman phê bình nước Mỹ một cách đúng đắn về sự giàu có và nền công nghiệp đan xen, hùng mạnh của nó đã che giấu một sa mạc Shahara khô cằn, tẻ nhạt của tâm hồn. Ông kêu gọi một loại hình văn học mới để làm sống lại dân Mỹ (“Không phải cuốn sách được cần nhiều đến thế để trở thành một cái gì hoàn chỉnh, mà là độc giả cần điều đó”). Tuy nhiên, lời khẳng định chủ yếu của Whitman về sự bất tử nằm trong Song of Myself. Ở đây, ông đặt cái tôi của trào lưu Lãng mạn ở trung tâm nhận thức của bài thơ:

Tôi tự ca ngợi mình và hát về tôi
Và những gì tôi tiến hành thì anh cũng làm thôi
Bởi vì mỗi nguyên tử thuộc về tôi
Lại cũng thuộc về anh.

Tiếng thơ của Whitman gây hứng khởi ngay cả cho độc giả hiện đại với lời tuyên ngôn của ông về sức mạnh tối cao và hợp nhất của tất cả vũ trụ. Ông đã có tinh thần cách tân lớn lao. Kể từ ông, mỗi bài thơ là một bản tiểu sử tự thuật, mỗi người Mỹ bình thường trở thành một nhà thơ, người đọc cũng là người sáng tạo, và sự khám phá cái hình thức gọi là “thử nghiệm” hay hệ thống này vẫn còn mang tính thời sự cho đến nay.

CÁC NHÀ THƠ BRAHMIN

Vào thời của mình, nhóm nhà thơ Boston Brahmin (tên gọi những nhà trí thức quý tộc được đào tạo ở Harvard) đã sản sinh ra cho nước Mỹ những đại biểu có tiếng nói quyết định trong thi đàn, những người thật sự hiểu biết và đáng kính trọng. Cuộc sống của họ là một mẫu mực tao nhã của những con người giàu sang, nhàn hạ có ý thức đạo đức mạnh mẽ, hướng sự quan tâm và lòng cầu thị vào việc học tập.

Nếu ở vào thời kỳ đầu Thanh giáo, những tác giả của nhóm Boston Brahmin có thể đã là các mục sư; vào thế kỷ 19, họ trở thành các giáo sư, chủ yếu là ở Harvard. Vào nửa cuối cuộc đời một số người trở thành đại sứ hoặc là nhận được những bằng cấp danh dự từ các Viện hàn lâm hoặc trường Đại học ở châu Âu. Hầu hết những người trong nhóm này đều đi du lịch hoặc học tập ở châu Âu. Họ rất quen thuộc với những tư tưởng và sách vở ở Anh, Đức, Pháp, và nhất là ở Ý và Tây Ban Nha. Xuất thân từ tầng lớp quý tộc nhưng lại có tư tưởng dân chủ thật sự, các nhà thơ Brahmin phổ biến khắp Hoa Kỳ các quan điểm quý phái, hướng về châu Âu, qua những bài thuyết giảng cho công chúng ở vào khoảng ba ngàn hội trường (trung tâm diễn thuyết công cộng) và trên những trang báo của hai tờ tạp chí rất có ảnh hưởng ở Boston, tờ North American Review và Atlantic Monthly.

Những tác phẩm của các nhà thơ Brahmin, kết hợp hai truyền thống châu Mỹ và châu Âu, tìm cách tạo ra tính liên tục của các kinh nghiệm chung của hai bên bờ Đại Tây Dương. Những nhà thơ – bác học này nỗ lực nâng cao dân trí bằng cách truyền bá những khuôn vàng thước ngọc của châu Âu vào văn học Mỹ. Oái ăm thay, các ảnh hưởng của họ nhìn chung mang tính tiêu cực. Do quá chú trọng đến những vấn đề và những hình thức của châu Âu, họ đã cản trở sự phát triển của một ý thức đặc thù Mỹ. Là những con người đầy thiện ý, nhưng định kiến bảo thủ đã làm họ mù quáng không nhìn thấy được tính cách tân táo bạo của Thoreau, Whitman (những người họ từ chối không muốn tiếp xúc) và Edgar Allan Poe (người mà ngay cả Emerson cũng xem là thi sĩ hạng bét – người làm những bài vè bình dân). Họ là rường cột của cái được gọi là “truyền thống quý tộc” mà ba thế hệ những nhà văn hiện thực Mỹ đã phải chiến đấu. Tuy vậy, phần nào cũng do ảnh hưởng khoan hòa và nhẹ nhàng của họ mà phải gần 100 năm sau những thiên tài sáng chói của nước Mỹ như Whitman, Melville, Thoreau, và Poe mới được thừa nhận rộng rãi tại Mỹ.

Henry Wadsworth Longfellow 
(1807 – 1882)

Những nhà thơ Boston Brahmin quan trọng nhất là Henry Wadsworth Longfellow, Oliver Wendell Holmes và James Russel Lowell. Longfellow là giáo sư giảng dạy ngôn ngữ hiện đại ở Harvard, là nhà thơ Mỹ nổi tiếng nhất thời đó. Ông là người đã sản sinh ra cái ý thức truyền kỳ, phi lịch sử và mơ hồ về quá khứ mà nó đã hòa quyện truyền thống Âu và Mỹ. Ông viết ba bài thơ tự sự dài phổ biến những huyền thoại của dân bản địa bằng hình thức thơ châu Âu Evangeline (1847), The Song of Hiawatha (Bài hát của Hiawatha – 1855) và The Courtship of Miles Standish (Lời tỏ tình của Miles Standish 1858).

Longfellow cũng viết sách giáo khoa ngôn ngữ hiện đại và một cuốn du ký Outre -Mer (Hải ngoại), kể lại những LONGFELLOW truyện thần thoại nước ngoài mô phỏng cuốn Sketch Book của Washington Irving. Mặc dù tính ước lệ, tính ủy mị và cách xử lý dễ dãi đã làm hỏng những bài thơ dài, những bài thơ trữ tình ngắn khó quên như The Jewish Cemetery at Newport(Nghĩa trang Do Thái ở Newport -1854), My Lost Youth (Tuổi trẻ đã mất của tôi – 1855), The Tide RisesThe Tide Falls (Thủy triều lên rồi xuống -1880) vẫn tiếp tục mang lại niềm vui cho độc giả.

James Russell Lowell 
(1819 -1891)

James Russell Lowell, người trở thành giáo sư dạy ngôn ngữ hiện đại tại Harvard sau khi Longfellow về hưu là Matthew Arnold([1]) của văn học Mỹ. Ông bắt đầu sự nghiệp với tư cách một nhà thơ, nhưng tài năng dần dần thui chột, rốt cuộc ông trở thành nhà phê bình và nhà giáo dục khả kính. Là chủ bút tờ Atlantic và đồng chủ bút tờ North American Review, Lowell gây được ảnh hưởng rất lớn. Cuốn A Fable for Critics (Truyện ngụ ngôn về các nhà phê bình – 1848) là lời ngợi ca những nhà văn Mỹ một cách ngộ nghĩnh và phù hợp, như trong lời bình phẩm của ông: “Poe đến kìa, với con quạ của mình, như Barnaby Rudge. Ba phần năm trong ông là thiên tài, hai phần hoàn toàn là khờ khạo”.

Nhờ ảnh hưởng của vợ, Lowell trở thành nhà cải cách tự do, một chiến sĩ chống lại chế độ nô lệ, và là người ủng hộ quyền bầu cử của phụ nữ và những đạo luật chấm dứt lao động trẻ em. Tác phẩm Biglow Papers First Series (Loạt tác phẩm đầu tiên của Biglow – 1847 – 1848) xây dựng nhân vật Hosca Biglow, một nhà thơ đồng quê ít học nhưng lanh lợi lao vào tranh luận bênh vực sự cải tổ trong thơ ca địa phương.

Chính Benjamin Franklin và Phillip Freneau cũng đã dùng những người dân quê thông minh làm cái loa truyền bá những luận điểm xã hội. Lowell cũng viết theo mạch đó, nối kết truyền thống “tính cách” thuộc địa với hiện thực mới và tinh thần địa phương dựa trên ngôn ngữ địa phương nở rộ vào những năm 1850 và đạt đến đỉnh cao với Mark Twain.

Oliver Wendell Holmes 
(1809 – 1894)

Oliver Wendell Holmes, là bác sĩ và là giáo sư cơ thể học và sinh lý học nổi tiếng ở Harvard, là nhà thơ khó phân loại nhất trong 3 nhà thơ Brahmin nổi danh bởi vì tác phẩm của ông mang dấu ấn của một tài năng đa diện, khác thường. Ông để lại tuyển tập các tiểu luận trào lộng (ví dụ, The Autocrat of the Breakfast -Table (Tên độc tài bên bàn ăn sáng – 1858), tiểu thuyếtElsie Venner – 1861, tiểu sử Ralph Waldo Emerson, 1885, những bài thơ có thể sôi động (như The Deacon’s Masterpiece hay The Wonderful One- Hoss Shay – Kiệt tác của Deacon), đầy triết lý (như trong The Chambered Nautilus – Hang ốc anh vũ), và lòng nhiệt tình yêu nước (Old Ironsides –Con tàu Old Ironsides[2]).

Sinh ra ở Cambridge, bang Massachusetts vùng ngoại ô Boston, vốn là địa bàn của Harvard, Holmes là con trai của một mục sư xuất sắc trong vùng. Mẹ ông là hậu duệ của nhà thơ Anne Bradstreet. Vào thời ông, và nhiều năm sau nữa, ông tượng trưng cho sự thông tuệ và duyên dáng không chỉ với tư cách một nhà thám hiểm hay một nhà đi tiên phong mà thực sự là một bậc trí giả minh triết mẫu mực có thể giải thích mọi điều từ các hiện tượng xã hội và ngôn ngữ đến các vấn đề y khoa và bản chất con người.

HAI NHÀ CẢI CÁCH

New England lóe sáng sức mạnh trí tuệ trong những năm trước cuộc Nội chiến. Vài vì sao trong số đó ngày nay còn sáng hơn cả dải thiên hà nổi tiếng gồm các nhà thơ Brahmin, nhưng trước đây họ bị lu mờ vì đói nghèo hay gặp khó khăn về giới tính và chủng tộc trong thời của họ. Độc giả ngày nay đánh giá ngày càng cao tác phẩm của tác gia ủng hộ phong trào bãi bỏ chế độ nô lệ John Greenleaf Whittier và nhà bảo vệ nữ quyền và cải cách xã hội Margaret Fuller.

John Greenleaf Whittier
(1807 – 1892)

John Greenleaf Whittier, nhà thơ năng động nhất trong thời kỳ đó, có hoàn cảnh xuất thân rất giống với Walt Whitman. Ông sinh ra và lớn lên ở một trang trại Quaker bình dị ở Massachusetts, không được học hành đến nơi đến chốn, rồi kiếm sống bằng nghề báo. Vài chục năm trước khi phong trào đòi bãi bỏ chế độ nô lệ lan tràn rộng rãi, ông là người hăng hái ủng hộ xóa bỏ chế độ nô lệ. Whittier được trân trọng vì những bài thơ chống chế độ nô lệ như là Ichabold, và thơ ca của ông đôi lúc được xem là một điển hình đầu tiên của chủ nghĩa hiện thực địa phương.

Những hình ảnh sắc nét, cấu trúc đơn giản, những cặp câu bốn nhịp giống thơ ballad của Whittier có kết cấu thô sơ đơn giản như thơ của Robert Burns. Tác phẩm hay nhất của ông, bài thơ dài “Snow Bound” (Kẹt trong bão tuyết) tái hiện một cách sống động hình ảnh những người thân đã mất hoặc bạn bè thời thơ ấu mà ông vẫn nhớ đang quây quần đầm ấm quanh lò sưởi rực hồng, bên ngoài cơn bão tuyết đang lồng lộn. Bài thơ đơn sơ, sùng đạo và mang dấu ấn cá nhân này, xuất hiện sau cơn ác mộng dài của cuộc Nội chiến, là khúc mặc niệm người chết và bài ca xoa dịu vết thương. Nó khẳng định sự bất tử của tâm hồn, sức mạnh phi thời gian của tình yêu trong hoài niệm, và vẻ đẹp bền vững của thiên nhiên, mặc cho những cơn bão táp chính trị cuồng loạn bên ngoài.

Margaret Fuller
(1810 – 1850)

Margaret Fuller, một người viết tiểu luận nổi bật, sinh ra và lớn lên ở Cambridge, bang Massachusetts. Xuất thân từ tầng lớp thường dân, bà chỉ học ở nhà dưới sự dạy dỗ của cha (phụ nữ không được phép học ở Harvard) và trở thành thần đồng, thông thạo cả văn học cổ điển và hiện đại. Niềm đam mê đặc biệt của bà là văn học lãng mạn Đức, đặc biệt là Goethe, một thi sĩ mà bà thích dịch.

Là một nhà báo nữ chuyên nghiệp nổi tiếng đầu tiên ở Mỹ, bà Fuller đã viết những bài phê bình, điểm sách gây nhiều ảnh hưởng và những báo cáo về các vấn đề xã hội như là việc đối xử với nữ phạm nhân và người điên. Nhiều bài tiểu luận này được in trong cuốn Papers on Literature and Art(Những bài viết về văn chương và nghệ thuật – 1846) của bà. Trước đó một năm, bà đã viết cuốn sách quan trọng nhất của mình, Woman in the Nineteenth Century (Người đàn bà của thế kỉ 19) xuất hiện lần đầu trên tạp chí của Trào lưu Siêu nghiệm, The Dial, tờ tạp chí bà làm chủ bút từ 1840 đến 1842.

Cuốn Woman in the Nineteenth Century của Fuller là sự khám phá sớm nhất và có tính cách Mỹ nhất về vai trò phụ nữ trong xã hội. Trong khi đưa ra những lý giải sâu sắc về rất nhiều nguyên nhân tế nhị và hậu quả tai hại của tệ nạn phân biệt nam nữ và đưa ra những giải pháp tích cực, bà đã vận dụng những nguyên tắc dân chủ và lý luận của trường phái Siêu nghiệm. Nhiều ý tưởng của bà cực kỳ hiện đại. Bà nhấn mạnh tầm quan trọng của sự “lệ thuộc vào chính mình” mà phụ nữ vốn thiếu bởi vì “họ được dạy phải học luật lệ từ Emily Dickinson bên ngoài, chứ không phải khai mở nó từ bên trong”.

Cuối cùng, Fuller không chỉ là một người bảo vệ nữ quyền mà hơn nữa, bà còn là nhà hoạt động và cải cách hiến đời mình cho lý tưởng tự do sáng tạo của con người và phẩm giá cho mọi người.

… chúng ta hãy khôn ngoan và đừng tự trói buộc đời sống tinh thần… chúng ta hãy có một năng lực sáng tạo… Hãy để cho nó định hình, và đừng ràng buộc nó bằng quá khứ dù với đàn ông hay đàn bà, da đen hay da trắng.

Emily Dickinson
(1830 – 1886) 

Emily Dickinson, trong chừng mực nào đó, là cầu nối giữa thời đại bà và tính mẫn cảm văn chương vào khoảng giao thời của thế kỷ. Là một tác giả theo chủ nghĩa cá nhân cấp tiến, bà sinh ra và sống trọn đời ở Amherst bang Massachusetts, một ngôi làng nhỏ theo phái Calvin. Bà không lập gia đình, và cũng không tuân theo các tập tục xã hội, bên dưới một cuộc đời tưởng như bình lặng là cả một cuộc sống nội tâm sâu thẳm mãnh liệt. Bà yêu thiên nhiên và chim chóc, muông thú, cỏ cây, sự thay đổi bốn mùa ở miền quê New England đã gợi lên trong bà những cảm hứng sáng tạo sâu xa.

Vào giai đoạn cuối của cuộc đời, Dickinson sống như một ẩn sĩ, có lẽ là do bà quá nhạy cảm và có lẽ bà cũng muốn dành thời gian cho sáng tác (có những quãng thời gian bà viết áng chừng mỗi ngày một bài thơ). Một ngày của bà cũng bao gồm chuyện chăm lo việc nhà cho ông bố luật sư, một nhân vật có tiếng ở Amherst đã trở thành một nghị viên ở Quốc hội.

Dickinson không được học nhiều, nhưng những gì mà bà am hiểu như Kinh thánh, các vở kịch của Shakespeare, và các tác phẩm thần thoại cổ đại thì thật sâu sắc và thấu đáo. Đó là những người thầy thật sự của bà, vì Dickinson chắc chắn là thiên tài văn chương cô độc nhất trong thời đại bà. Chính người phụ nữ thôn quê kín đáo, e lệ hầu như vô danh và chẳng xuất bản tập thơ nào lại tạo nên một số trong những tác phẩm thi ca vĩ đại nhất của Mỹ vào thế kỷ 19, và cho đến nay vẫn mê hoặc quần chúng kể từ thập niên 50, khi thơ ca của bà lại được người ta khám phá lần nữa.

Phong cách súc tích giàu hình ảnh của Dickinson thậm chí còn hiện đại và cách tân hơn cả Whitman. Bà không bao giờ dùng tới hai từ khi một từ là đã đủ, bà biết kết hợp những điều cụ thể với những ý tưởng trừu tượng bằng bút pháp cô đọng rất gần với tục ngữ. Những bài thơ hay nhất của bà không có chi tiết thừa; nhiều bài giễu cợt những tình cảm ủy mị đương thời; một số bài thậm chí còn thể hiện quan điểm dị giáo. Đôi lúc bà phô bày một nhận thức hiện sinh đáng sợ. Cũng như Poe, bà khai phá phần tâm thức ẩn giấu và tối tăm, kịch tính hóa cái chết và nấm mồ. Tuy nhiên, bà cũng ca ngợi những vật thể đơn giản -một đóa hoa, một con ong. Thơ ca của bà là thơ của một trí tuệ vĩ đại thường nêu ra cái nghịch lý đau đớn về những giới hạn của ý thức con người bị trói buộc bởi thời đại. Bà có được óc khôi hài tuyệt vời, các chủ đề và cách xử lý vấn đề của bà phong phú một cách đáng kinh ngạc. Thơ của bà không có tựa đề. Trong ấn bản tiêu chuẩn năm 1955, Thomas H. Johnson đã đánh số các bài thơ để dễ nhận biết. Những bài thơ ấy chứa đầy những lối viết hoa và dấu gạch kỳ quặc.

Là một người không lệ thuộc các quy ước xã hội, giống như Thoreau, bà thường đảo ngược ý nghĩa của từ, nhóm từ và sử dụng nghịch lý một cách rất hiệu quả. Đây là bài thơ số 435:

Điên dại nhiều gần với thần thánh nhất –
Với một Con mắt biết phân biệt
Nhiều ý nghĩa – sự dại điên trọn vẹn
Với nhiều người
Trong nghĩa này, như Tất cả, tràn lan
Đồng ý – và anh thì minh mẫn –
Không ư – anh thật sự là nguy nan
Và bị xử lý với một sợi xích

Trí tuệ của bà tỏa sáng trong bài thơ số 288 sau đây, một bài thơ chế nhạo tham vọng và cuộc sống xã hội.

Em không là ai cả! Còn anh!
Anh cũng chẳng là ai đó chứ?
Vậy là có hai chúng ta sao?
Đừng nói gì! Họ loa lên – anh biết đó!
Đáng sợ khi phải là ai đó
Trong đám đông như một Con Ếch xưng tên tuổi
Tháng Sáu
Trước một ao đầm bái phục ngươi.

Cả 1.775 bài thơ của Dickinson tiếp tục là vấn đề với các nhà phê bình, họ thường bất đồng ý kiến với nhau. Một số nhấn mạnh đến sự huyền bí của bà, một số khác ca ngợi sự nhạy cảm của bà đối với thiên nhiên; nhiều người lại lưu ý đến vẻ hấp dẫn kỳ lạ có phần kỳ cục của thơ bà. R.P. Blackmur, một nhà phê bình hiện đại bình luận rằng thơ ca của Dickinson đôi lúc mang lại cảm giác như là “một con mèo đến bên ta nói tiếng Anh”. Những bài thơ đẹp đẽ, trong sáng được gọt giũa của bà là một số trong những tác phẩm lôi cuốn và đầy thử thách nhất trong văn chương Mỹ.


[1] Matthew Arnold (1822 – 1888): nhà thơ viết tiểu luận và phê bình nổi tiếng người Anh.

[2] Old Ironsides là tên của con tàu đầu tiên của Mỹ được bọc thép.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_iii.html

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 2: Nguồn gốc của nền dân chủ và các nhà văn cách mạng thời kỳ 1776-1820

Chương 2: Nguồn gốc của nền dân chủ và các nhà văn cách mạng thời kỳ 1776-1820

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Cuộc Cách mạng gian khổ của Mỹ chống người Anh (1775-1783) là cuộc chiến tranh giải phóng hiện đại đầu tiên chống lại một cường quốc thuộc địa. Chiến thắng của nền độc lập Mỹ đối với nhiều người thời đó hình như là một dấu hiệu linh thiêng báo hiệu rằng nước Mỹ và nhân dân Mỹ được trao cho sứ mệnh làm nên điều kỳ vĩ. Chiến thắng quân sự cũng khơi dậy những hi vọng của dân tộc Mỹ về một nền văn học mới vĩ đại. Tuy nhiên ngoại trừ những bài viết chính trị kiệt xuất, chỉ có một số tác phẩm có giá trị xuất hiện trong hoặc ngay sau thời kỳ Cách mạng.

Các tác phẩm văn chương Mỹ được bình phẩm một cách khắt khe ở Anh. Người Mỹ đau khổ nhận ra sự lệ thuộc quá độ vào khuôn mẫu văn học Anh. Cuộc tìm kiếm một nền văn học mang bản sắc riêng trở thành một ám ảnh dân tộc. Như chủ bút một tạp chí Mỹ viết vào khoảng năm 1816: “Lệ thuộc là một tình trạng thấp kém đầy ô nhục và phụ thuộc vào tư tưởng bên ngoài để có được những gì chính chúng ta có thể làm ra được là cộng thêm sự kém cỏi do ngu dốt vào với tội ác của thói lười biếng”.

Những cuộc cách mạng văn hóa, không giống với những cuộc cách mạng quân sự, không thể thành công bằng cách áp đặt; nó phải được nẩy nở trên mảnh đất của các kinh nghiệm được chia sẻ. Cách mạng là những biểu hiện của trái tim của nhân dân, chúng lớn dần lên từ những cảm nhận mới mẻ và những kinh nghiệm phong phú. Phải mất 50 năm tích lũy lịch sử để nước Mỹ có thể giành được độc lập văn hóa và để sản sinh thế hệ các nhà văn Mỹ vĩ đại đầu tiên: Washington Irving, James Fenimore Cooper, Ralph Waldo Emerson, Henry David Thoreau, Herman Melville, Nathaniel Hawthorne, Edgar Allan Poe, Walt Whitman và Emily Dickinson. Sự độc lập của văn học Mỹ bị chậm lại bởi quá trình đồng hóa kéo dài với Anh quốc, một sự rập khuôn thái quá những khuôn mẫu văn học Anh hay văn học cổ điển, thêm vào đó tình hình kinh tế, chính trị khó khăn cũng cản trở việc xuất bản.

Những nhà văn cách mạng, dù có tinh thần ái quốc thật sự và cảm thấy cần một sự tự nhận thức cũng không bao giờ tìm được cội nguồn trong những cảm nhận với tư cách người Mỹ của họ. Những nhà văn thuộc địa của thế hệ cách mạng thường sinh trưởng ở Anh, đạt tới tuổi trưởng thành với tư cách là một công dân Anh, có cách suy nghĩ của người Anh, thậm chí cách ăn mặc và cư xử cũng là của người Anh. Cha mẹ của họ cũng là người Anh hoặc người châu Âu và tất cả bạn bè của họ cũng thế. Thêm vào đó, nhận thức của người Mỹ về các trào lưu văn học vẫn còn lê bước đằng sau người Anh, và sự tụt hậu thời gian làm tăng thêm thói mô phỏng của người Mỹ. Năm mươi năm sau khi đã thành danh ở Anh, những nhà văn Tân cổ điển Anh như Joseph Addison, Richard Stelle, Jonathan Swift, Alexander Pope, Oliver Goldsmith và Samuel Johnson vẫn còn được hăm hở bắt chước ở Mỹ.

Hơn nữa những thử thách vội vã của việc xây dựng một quốc gia mới đã lôi cuốn những người tài năng, có học vấn vào lĩnh vực chính trị, luật pháp, và ngoại giao. Những theo đuổi này mang lại danh dự, vinh quang và sự đảm bảo tài chính. Viết lách, ngược lại, không đẻ ra tiền. Những nhà văn Mỹ buổi đầu, một khi đã tách khỏi mẫu quốc, đã không có sự bảo trợ có hiệu quả của các nhà xuất bản hiện đại, không có độc giả và cũng không có được sự bảo vệ hợp pháp tương xứng. Công việc hỗ trợ về biên tập, phân phối và quảng cáo đều ở dạng phôi thai.

Cho đến tận 1825, hầu hết các tác giả Mỹ phải trả tiền cho các nhà in để xuất bản tác phẩm của mình. Hẳn nhiên, chỉ những người giàu có, độc lập, không phải làm gì để kiếm sống như Washington Irving và nhóm Knickerbocker New York hay nhóm các nhà thơ Connecticut, còn được gọi là Hartford Wits, mới có thể có đủ tiền để nuôi dưỡng niềm say mê viết lách của mình. Benjamin Franklin là một ngoại lệ. Dẫu xuất thân từ một gia đình nghèo, nhưng ông làm nghề in nên có thể tự xuất bản tác phẩm của mình.

Charles Brockden Brown tiêu biểu hơn cả. Là tác giả nhiều chuyện tình cảm động mang phong cách Gothic([1]), Brown là nhà văn Mỹ đầu tiên cố sống bằng nghề viết lách. Nhưng cuộc đời ngắn ngủi của ông kết thúc trong nghèo khổ.

Thiếu độc giả cũng là một vấn đề nan giải. Số độc giả có văn hóa vốn rất ít ở Mỹ chỉ muốn đọc những tác giả nổi tiếng ở châu Âu, một phần cũng do lòng kính trọng thái quá mà những người dân thuộc địa trước đây dành cho những kẻ cai trị ngày xưa của họ. Sự ưa chuộng những tác phẩm Anh không hoàn toàn là vô căn cứ nếu xét đến sự kém cỏi của các tác phẩm văn chương Mỹ. Chính điều này đã làm cho tình hình thêm xấu đi vì nó khiến các nhà văn Mỹ chẳng còn được bao nhiêu bạn đọc. Chỉ có báo chí tạo ra được sự bù đắp tài chính, tuy vậy phần đông độc giả thích loại thơ văn nhẹ nhàng, không đòi hỏi phải suy tư và những tiểu luận ngắn mang tính thời sự chứ không phải loại tác phẩm dài hoặc thử nghiệm.

Việc không có những điều luật đầy đủ về bản quyền có lẽ là nguyên nhân rõ nhất dẫn đến sự trì trệ của văn học. Điều đó thật dễ hiểu; khi các nhà in ở Mỹ có thể dễ dàng đánh cắp bản quyền của các tác phẩm bán chạy nhất ở Anh, thì việc gì họ phải trả tiền cho một tác giả Mỹ vì một cuốn sách vớ vẩn nào đó.

Việc in lại các tác phẩm văn học nước ngoài mà không có giấy phép, thoạt đầu được xem như là để phục vụ cho thuộc địa cũng như là một nguồn lợi cho các chủ nhà in như Franklin, người đã in lại các tác phẩm văn học cổ điển và vĩ đại của châu Âu để nâng cao dân trí ở Mỹ.

Tất cả nhà in trên đất Mỹ đều theo gương của ông. Có nhiều vụ ăn cắp bản quyền rất tiếng tăm. Matthew Carey, một nhà xuất bản quan trọng ở Mỹ trả cho một mật viên ở London một loại tình báo văn học – để gửi những bản sao những trang sách chưa đóng bìa, hay ngay cả bản in thử đến cho ông trên những chiếc tàu nhanh có thể đến Mỹ trong vòng một tháng. Người của Carey sẽ đi thuyền ra đón những con tàu đang vào cảng và cấp tốc in lại những cuốn sách bị ăn cắp này bằng cách chia cuốn sách ra nhiều phần cho nhiều người cùng sắp chữ và làm việc theo ca 24 trên 24. Một cuốn sách bị ăn cắp như vậy có thể được in lại trong vòng một ngày và đưa lên kệ bày bán trong các hiệu sách ở Mỹ hầu như cùng một lúc với các cuốn sách ở Anh.

Vì giá của các ấn bản nhập khẩu hợp pháp rất đắt do đó không thể cạnh tranh với những bản sách ăn cắp, tình trạng này làm thiệt hại quyền lợi của những tác giả nước ngoài như Nam tước Walter Scott và Charles Dickens, cũng như những tác giả Mỹ khác. Nhưng ít nhất những tác giả ngoại quốc đã được các nhà xuất bản gốc trả tiền và đã nổi tiếng về các tác phẩm của mình. Các nhà văn Mỹ, chẳng hạn như James Fenimore Cooper không những không được trả tiền đầy đủ, mà lại còn phải đau khổ chứng kiến sách mình bị ăn cắp ngay trước mũi. Cuốn sách thành công đầu tiên của Cooper The Spy (Điệp viên -1821) bị bốn chủ nhà in khác nhau ăn cắp trong vòng một tháng khi xuất hiện.

Thật trớ trêu, luật về bản quyền năm 1790 cho phép việc ăn cắp bản quyền, lại xuất phát từ một ý định bảo vệ quyền lợi quốc gia. Ý kiến này là của Noah Webster, một nhà từ điển học lớn và về sau biên soạn một cuốn từ điển Mỹ nổi tiếng. Điều luật này chỉ bảo vệ tác phẩm của những nhà văn Mỹ; làm cho các nhà văn Anh hiểu rằng họ phải tự chăm lo quyền lợi cho bản thân.

Dù điều luật này có tệ hại đến thế nào vẫn không một nhà xuất bản nào trong buổi đầu muốn thay đổi vì nó hiển nhiên là có lợi cho họ. Nạn ăn cắp bản quyền đã làm thế hệ các nhà văn Cách mạng Mỹ đầu tiên sống trong nghèo đói; nên chẳng lạ gì khi thế hệ tiếp theo cho ra đời càng ít tác phẩm có giá trị hơn. Cao trào của nạn ăn cắp bản quyền vào năm 1815, phù hợp với điểm thấp nhất của văn học Mỹ. Tuy nhiên, nguồn cung cấp rẻ tiền và dồi 37 dào các tác phẩm cổ điển và sách báo nước ngoài trong khoảng 50 năm đầu của đất nước non trẻ này đã có tác dụng đào tạo nên những người Mỹ xuất chúng, trong đó bao gồm thế hệ những nhà văn vĩ đại đầu tiên, những ngôi sao bắt đầu xuất hiện vào khoảng năm 1825.

THỜI KỲ VĂN HỌC KHAI SÁNG

Thời kỳ Khai sáng Mỹ thế kỷ 18 là một trào lưu văn học được đánh dấu bằng sự nhấn mạnh vào tính duy lý hơn là truyền thống, vào những tìm tòi khoa học thay vì giáo điều tôn giáo tuyệt đối, và vào hình thức chính phủ đại diện cho dân thay vì một vương quyền. Các nhà tư tưởng và tác gia thời Khai sáng đã tận hiến đời mình cho lý tưởng về công lý, tự do và bình đẳng vốn được coi như là những quyền tự nhiên của con người.

Benjamin Franklin 
(1706 – 1790)

Ông là người được triết gia Scotland David Hume gọi là “tác gia vĩ đại đầu tiên của Mỹ”, hiện thân của lý tưởng thời Khai sáng về tư tưởng duy lý nhân bản. Thực tiễn nhưng lại đầy lý tưởng, làm việc cật lực và thành công rực rỡ, Franklin đã kể về thời niên thiếu của mình trong cuốn Autobiography(Tiểu sử tự thuật) nổi tiếng. Là nhà văn, chủ nhà in, nhà xuất bản, nhà khoa học, nhà từ thiện và nhà ngoại giao, ông là nhân vật nổi tiếng nhất và được tôn kính nhất vào thời của mình. Ông cũng là bậc vĩ nhân đầu tiên ở Mỹ đạt đến đỉnh cao bằng nỗ lực bản thân, vươn lên từ một nhà ngoại giao nghèo sinh ra trong thời đại quý tộc, mà chính gương sáng của ông đã giúp nước Mỹ giải phóng khỏi thời đại đó.

Franklin là người di dân thuộc thế hệ thứ hai. Cha ông là tín đồ Thanh giáo, một người làm nến từ Anh di cư đến Boston, bang Massachusetts năm 1683. Cuộc đời của Franklin, ở nhiều phương diện là một minh chứng cho ảnh hưởng của thời đại Khai sáng đến một cá nhân thiên tài. Tự học nhưng đọc rất nhiều của các tác giả như John Locke, Lord Shaftesbury, Joseph Addison và những tác giả Khai sáng khác, Franklin học hỏi ở họ nhiều điều để ứng dụng những lý luận đó vào cuộc sống riêng của mình và để có thể đoạn tuyệt với truyền thống -đặc biệt truyền thống Thanh giáo lỗi thời -khi nó đe dọa bóp chết lý tưởng của ông.

Khi còn trẻ, Franklin tự học nhiều ngoại ngữ, đọc miệt mài đủ các lãnh vực và luyện viết văn cho công chúng. Khi từ Boston dời đến Philadelphia, bang Pennsylvania, Franklin đã có được trình độ học vấn tương đương với giai cấp thượng lưu. Ông cũng có khả năng làm việc cần cù, chu đáo của một tín đồ Thanh giáo. Ông thường tự vấn bản thân và luôn khát khao tự hoàn thiện mình. Chính những phẩm chất này dần dần đưa ông đến sự giàu sang, danh tiếng và lòng kính trọng của người đời. Không chỉ sống cho riêng mình, Franklin cố gắng giúp đỡ những người bình thường khác được thành công bằng cách chia sẻ những tư tưởng và kinh nghiệm của mình. Ông chính là cha đẻ của một loại sách mang tính cách Mỹ đặc trưng -loại sách tự giúp mình.

Cuốn Poor Richard’s Almanack (Niên lịch về chàng Richard Nghèo khổ), được bắt đầu năm 1732 và xuất bản trong nhiều năm, đã làm cho Franklin trở nên giàu có và nổi tiếng khắp thuộc địa. Cuốn niên lịch này chứa đựng những lời động viên, khuyên bảo hữu ích, những thông tin thực tế và những nhân vật ngộ nghĩnh khôi hài như người cha già Abraham và Richard Nghèo khổ cống hiến cho độc giả những cách ngôn ý vị, đáng nhớ. TrongThe Way to Weath (Đường đến giàu sang) xuất hiện đầu tiên trong bộ niên lịch, bố Abraham, “một ông già tươm tất giản dị, với những lọn tóc trắng” trích dẫn nguyên văn lời Richard Nghèo khổ. “Một lời với kẻ khôn đã là đủ, ông nói”. “Trời giúp những ai tự giúp mình”, “Ngủ sớm, dậy sớm, làm cho người ta khỏe mạnh, giàu có và thông thái”. Richard Nghèo khổ còn là một nhà tâm lý (“Sự siêng năng trả được nợ nần, còn thất vọng làm nợ chất chồng hơn”) và ông luôn khuyến khích người ta cần cù lao động (“Cần mẫn là mẹ của cơ may”). “Đừng lười biếng”, ông khuyên, bởi vì “một hôm nay bằng hai ngày mai”. Đôi lúc ông sáng tạo những giai thoại để minh họa quan điểm của mình. “Một sự bất cẩn nhỏ nhưng có thể ấp ủ một tai họa lớn… Vì thiếu một cái đinh, ta mất một chiếc móng ngựa, thiếu chiếc móng ta mất con ngựa, thiếu con ngựa ta mất một kỵ sĩ. Bị quân thù đuổi kịp và tàn sát, tất cả chỉ vì thiếu lưu tâm một cái đinh ở móng ngựa”. Franklin rõ ràng là một thiên tài trong khi diễn đạt cô đọng một điều luân lý: “Những gì dung dưỡng một tật xấu, có thể nuôi được hai đứa con”, “Một lỗ nhỏ sẽ làm đắm một chiếc thuyền lớn”, “Kẻ ngu dọn cỗ, người khôn chén sạch”.

Tiểu sử tự thuật của Franklin, phần nào đó, cũng là một cuốn sách tự – giúp -mình. Viết để khuyên bảo con trai, cuốn sách chỉ gói ghém vào những năm thơ ấu. Phần nổi tiếng nhất, mô tả một chương trình tự rèn luyện tu dưỡng bản thân một cách khoa học. Franklin liệt kê 13 đức tính: tự tiết chế, trầm lặng, ngăn nắp, kiên tâm, cần kiệm, chăm chỉ, trung thực, công bằng, mực thước, sạch sẽ, bình thản, thanh bạch, và khiêm nhường. Ông đã hiển thị mỗi đức tính bằng một châm ngôn; chẳng hạn, châm ngôn dành cho sự tiết chế là: “Đừng nên ăn đến phát ngán. Đừng nên uống đến lâng lâng”. Là một nhà khoa học thực nghiệm, Franklin đưa ý tưởng về sự hoàn thiện vào thử nghiệm, dùng chính mình làm đối tượng thử nghiệm.

Để rèn luyện những thói quen tốt, Franklin phát minh ra một cuốn sách ghi chép thường niên có thể dùng lại được, trong đó ông rèn luyện một đức tính mỗi tuần, ghi lại mỗi một lỗi bằng một chấm đen nhỏ. Phương pháp của ông gợi ý cho lý thuyết hành vi tâm lý sau này, còn cách thức ghi chép một cách có hệ thống của ông đã dự kiến phương pháp điều chỉnh hành vi của con người hiện đại. Phương cách tự hoàn thiện mình của Franklin hòa trộn niềm tin vào sự hoàn bích của thời Khai sáng cùng với tập quán đạo đức tự xét mình của tín đồ Thanh giáo.

Franklin đã thấy rõ từ rất sớm, sáng tác là cách tốt nhất hoàn thiện ý tưởng của mình, và vì vậy ông chú tâm hoàn thiện phong cách viết văn xuôi uyển chuyển của mình, không lấy nó làm mục đích tự thân mà biến nó thành phương tiện. “Hãy viết cho những người có học. Và nói thành lời với người bình dân”, ông khuyên. Là một nhà khoa học, ông nghe theo lời khuyên của Hiệp hội khoa học Hoàng gia năm 1667 sử dụng một cách nói tự nhiên, gần gũi và bộc trực; những cách diễn đạt hay rõ nghĩa, đơn giản một cách tự nhiên, càng gần với sự giản đơn toán học càng tốt”.

Mặc dù giàu có và nổi tiếng, Franklin có đầu óc dân chủ, và ông còn là một nhân vật quan trọng tham gia vào việc xây dựng Hiến pháp Mỹ. Trong những năm cuối đời, ông là chủ tịch một hiệp hội chống chế độ nô lệ. Một trong những nỗ lực cuối cùng của ông là phổ cập giáo dục cho công chúng.

Hector St. John de Crèvecoeur 
(1735 – 1813)

Một tác gia tiêu biểu khác của thời kỳ Khai sáng là Hector St. John de Crèvecoeur, tác giả cuốn Letters from an American Farmer (Thư từ của một điền chủ Mỹ – 1782) đã đem đến cho người dân Cựu lục địa cái ý tưởng về những cơ hội có được một cuộc sống thanh bình, giàu sang và niềm kiêu hãnh tại Mỹ. Không phải là người Mỹ di cư, cũng chẳng phải là nông dân, Crèvecoeur là một nhà quý tộc Pháp sở hữu một trang trại ngoại ô New York trước Cách mạng. Ông nhiệt thành ca ngợi lòng hăng say lao động, đức tính khoan dung độ lượng và sự thịnh vượng không ngừng gia tăng của người dân thuộc địa, trong 12 lá thư mô tả nước Mỹ như là thiên đường của nhà nông -một sự tiên lượng đã khích lệ Thomas Jefferson, Ralph Waldo Emerson và nhiều tác gia khác cho mãi tới ngày nay.

Crèvecoeur là người châu Âu đầu tiên có công xây dựng một quan điểm hợp lý rất Mỹ và một tính cách Mỹ mới mẻ. Ông cũng là người đầu tiên đưa ra hình ảnh biểu trưng về nước Mỹ -một “melting pot” (một đất nước của mọi chủng tộc, mọi màu da, mọi giống người). Trong một đoạn văn nổi tiếng ông hỏi:

Thế thì người Mỹ là gì, con người mới này là ai? Anh ta đến từ châu Âu không thì cũng là con cháu của người châu Âu, kết quả là sự pha trộn máu huyết lạ lùng đó, bạn sẽ không tìm thấy ở một đất nước nào khác. Tôi có thể chỉ cho bạn một gia đình mà ông nội là người Anh, bà nội là người Hà Lan, con của họ lấy vợ người Pháp. Và rồi bốn đứa con trai của bà vợ Pháp lấy bốn bà vợ từ bốn quốc gia khác nhau… Ở đây những cá nhân của tất cả các đất nước được hòa trộn thành một giống dân mới, mà sức lao động và hậu duệ của họ một ngày nào đó sẽ tạo nên những thay đổi trên thế giới.

SÁCH PAMPHLET([2])

Thomas Paine
(1737 -1809)

Lòng say mê văn học Cách mạng được thể hiện đậm nét trong những tập sách mỏng, một hình thức phổ biến nhất của văn chương chính trị trong thời đó.

Hơn 2000 tập sách pamphlet được xuất bản trong thời kỳ Cách mạng. Những tập sách này mê hoặc những người yêu nước và đe dọa những người trung thành với mẫu quốc. Chúng có vai trò của sân khấu, vì thường được đọc lớn giữa nơi công cộng để khích lệ, cổ động và tuyên truyền khán giả. Binh lính Mỹ đọc chúng thành tiếng trong doanh trại; còn những người trung thành với Vương triều Anh thì ném chúng vào lửa.

Tập sách Common Sense (Ý thức công dân) của Thomas Paine bán được hơn 100 ngàn bản trong 3 tháng đầu xuất hiện. Nó vẫn còn khơi dậy tình yêu nước cho đến tận ngày nay. “Chính nghĩa của nước Mỹ chủ yếu là chính nghĩa của toàn nhân loại”, Paine viết, gióng lên tiếng nói của ý tưởng về chủ thuyết đặc thù Mỹ vẫn còn rất mạnh ở Mỹ -rằng trong một ý nghĩa cơ bản nào đó – vì nước Mỹ là một thể nghiệm dân chủ và là một đất nước có chủ trương mở rộng cửa cho mọi cuộc di dân nên số phận nước Mỹ báo trước số phận của nhân loại nói chung.

Những bài viết tuyên truyền chính trị trong một nền dân chủ phải thật đơn giản, rõ ràng để thu hút cử tri. Và để có được những cử tri hiểu biết, giáo dục phổ cập được đẩy mạnh bởi nhiều nhà tiên phong. Một dấu hiệu của sự khởi sắc trong đời sống văn chương rõ ràng là nhờ sự nở rộ của báo chí. Trong thời kỳ Cách mạng, người ta đọc báo nhiều hơn bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Một văn phong đơn giản, trong sáng, súc tích rất cần thiết đối với mọi người dân nhập cư, vì tiếng Anh sẽ là ngôn ngữ thứ hai của họ. Bản thảo viết tay lần đầu Tuyên ngôn độc lập của Thomas Jefferson rất rõ ràng, lập luận chặt chẽ; những sửa đổi của Ủy ban giúp việc còn làm cho nó thậm chí đơn giản hơn. The Federalist Papers (Những tiểu luận của Phái Liên bang), được viết ra để hỗ trợ Hiến pháp, là một áng văn trong sáng với những lập luận logic phù hợp với các cuộc tranh luận trong một quốc gia dân chủ.

CHỦ NGHĨA TÂN CỔ ĐIỂN: SỬ THI, SỬ THI CHÂM BIẾM VÀ TRÀO PHÚNG

Thật không may, cái được gọi là “văn chương” lại không đơn giản và trực diện như các bài viết chính trị. Trong nỗ lực sáng tác thi ca, hầu hết những nhà thơ thông thái đều vấp vào cái bẫy tao nhã của chủ nghĩa Tân cổ điển. Đặc biệt, sử thi có một sự quyến rũ chết người. Các nhà thơ Mỹ giàu lòng ái quốc chắc chắn rằng tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Mỹ chỉ có thể được thể hiện tương ứng trong sử thi -một loại truyện thơ dài đầy kịch tính sử dụng ngôn ngữ trang trọng ca ngợi những hành động phi thường của một anh hùng huyền thoại.

Nhiều tác giả đã thử viết nhưng không ai thành công. Timothy Dwight (1752-1817), một người trong nhóm những nhà văn được gọi là “The Hartfort Wits” (Những nhà thông thái Hartfort), là một ví dụ. Dwight sau này trở thành hiệu trưởng Đại học Yale, dựa vào câu chuyện về cuộc đấu tranh của Joshua đến miền Đất Hứa trong Kinh thánh để viết sử thi The Conquest of Canaan (Cuộc chinh phục vùng Canaan([3]) – 1785) của mình. Trong sử thi này, Dwight đã lồng hình ảnh tướng Washington, chỉ huy quân đội Mỹ và về sau trở thành Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ vào nhân vật Joshua trong truyền thuyết và ông đã vay mượn hình thức cặp câu mà Alexander Pope dùng để dịch Homer. Sử thi của Dwight vừa nhàm chán vừa đầy tham vọng. Các nhà phê bình Anh thẳng tay sổ toẹt, ngay cả bạn bè của Dwight, như là John Trembull (1750 -1831) cũng chẳng nhiệt tình bảo vệ. Có quá nhiều sấm chớp rền vang trong những cảnh chiến trận đầy kịch tính và khiên cưỡng đến nỗi Trembull đề nghị tập sử thi nên có thêm những cột thu lôi.

Nên không có gì ngạc nhiên khi loại thi ca châm biếm có đất dụng võ hơn thi ca nghiêm túc trên. Thể loại sử thi châm biếm khuyến khích các thi sĩ Mỹ sử dụng tiếng nói tự nhiên của họ và không khuyến dụ họ rơi vào vũng lầy những tình cảm ái quốc vừa đao to búa lớn vừa có thể đoán được đầy những hình dung từ trong thi ca ước lệ thiếu bản sắc từ thời cổ đại Hy Lạp với nhà thơ Homer, thời La Mã với thi sĩ Virgil qua cách biểu đạt của các nhà thơ Anh.

Trong M’Fingal (1776-1782), một sử thi trào tiếu vui nhộn của John Trembull, loại văn phong đầy ắp những xúc cảm truyền thống và ước lệ lại chính là vũ khí cho sự trào phúng lành mạnh và chính lối hùng biện khoa trương trong thời Cách mạng bị chế nhạo. Dựa vào khuôn mẫu của tập thơ Hudibras của nhà thơ Anh Samuel Butler, tập sử thi đã cười nhạo một người trung thành với Mẫu quốc, M’Fingal. Tác phẩm thường rất hàm súc như khi ghi nhận về những tên tội phạm đối mặt với giá treo cổ.

Chẳng có ai đứng dưới giá treo cổ
Lại có ý nghĩ tốt đẹp về luật pháp.

M’Fingal được tái bản tới 30 lần, được in đi in lại trong vòng nửa thế kỷ, được đánh giá cao cả ở Anh lẫn ở Mỹ. Văn trào phúng thu hút đông đảo độc giả thời Cách mạng một phần bởi nó chứa đựng những lời bình phẩm và phê phán xã hội. Những đề tài chính trị và những vấn đề xã hội là những nội dung chính trong thời kỳ này. Vở hài kịch đầu tiên của Mỹ The Contrast(Sự tương phản) của Royall Tyler (1757 -1826) là một sự tương phản nực cười giữa Đại tá Manly, một sĩ quan Mỹ, và Dimple, một người Anh học đòi. Lẽ dĩ nhiên, nhân vật Dimple được dàn dựng trông hết sức lố bịch. Vở kịch đã giới thiệu một tính cách Yankee([4]) đầu tiên, nhân vật Jonathan.

Một tác phẩm châm biếm khác, cuốn tiểu thuyết Modern Chivalry (Chàng hiệp sĩ thời nay), do Hugh Henry Brackenridge xuất bản từng phần từ 1792 đến 1815, đả kích những biểu hiện thái quá của người đương thời một cách đầy ấn tượng. Brackenridge (1748 -1816), một người gốc Scotland di cư và lớn lên ở vùng biên giới Mỹ, đã xây dựng cuốn tiểu thuyết phiêu lưu khổng lồ của mình trên hình tượng hiệp sĩ Don Quixote để mô tả những bất hạnh của đại úy Farrago và người đầy tớ Teague O’Regan ngu đần, thô lỗ nhưng đầy nhân tính.

NHÀ THƠ CỦA THỜI KỲ CÁCH MẠNG

Philip Freneau 
(1752 -1832)

Philip Freneau là thi sĩ đã kết hợp những rung động mới mẻ của chủ nghĩa lãng mạn châu Âu, và cũng thoát ly khỏi tính chất mô phỏng chung chung mơ hồ của nhóm The Hartford Wits. Cái điều dẫn đến cả thành công lẫn thất bại của ông chính là tinh thần say mê dân chủ kết hợp với cá tính cứng nhắc.

Chẳng có gì để nghi ngờ tinh thần yêu nước nhiệt thành của nhóm The Hartford Wits, họ phản ánh quan niệm bảo thủ văn hóa nói chung của những tầng lớp trí thức. Freneau căm ghét thái độ ngoan cố của đám trung thành với Mẫu quốc, phê phán lối viết quý tộc, thuần túy tư biện ở Hartford, thái độ bảo hoàng và sự phân biệt đẳng cấp của họ. Mặc dù Freneau rất uyên bác, thông kim bác cổ như bất kỳ một tác gia nào trong nhóm The Hartford Wits, ông dễ dàng hội nhập với làn sóng tự do, dân chủ.

Là một người theo phái Huguenote (Tin lành tiến bộ Pháp), Freneau tham gia vào cuộc chiến tranh cách mạng với tư cách là một dân quân tự vệ. Vào năm 1780, ông bị bắt và bị giam giữ trong hai chiếc tàu của Anh, nơi ông suýt chết trước khi gia đình xoay xở giải thoát được cho ông. Bài thơ của ông The British Prison Ship (Con tàu nhà tù của bọn Anh) là một lời kết án cay đắng sự độc ác của người Anh “những người muốn nhuộm cả thế giới này bằng máu”. Bài thơ này và những tác phẩm cách mạng khác bao gồm:Eutaw Springs (Mùa xuân ở Eutaw), American Liberty (Tự do Mỹ), A Political Litany (Sách kinh chính trị), A Midnight Consultation (Cuộc hội đàm lúc nửa đêm), George the Third’s Soliloquy (Đoạn độc thoại của George đệ Tam) đã mang đến cho ông danh hiệu “Nhà thơ của cuộc cách mạng Mỹ”.

Freneau làm biên tập cho nhiều tờ báo, suốt đời dành nhiệt huyết cho lý tưởng vĩ đại về một nền dân chủ. Khi Thomas Jefferson giúp ông lập nên tờ National Gazette chiến đấu, chống phái Liên bang([5]) năm 1791, Freneau trở thành người chủ bút đầy sức mạnh và có tinh thần đấu tranh không khoan nhượng nhất ở Mỹ, và là người tiền nhiệm của hàng loạt tên tuổi lừng danh như William Cullen Bryant, William Lloyd Garrison và H. L. Mencken.

Là một nhà thơ và chủ bút, Freneau gắn bó với lý tưởng dân chủ của mình. Những bài thơ nổi tiếng của ông đăng tải trên báo là để cho độc giả bình dân, với âm hưởng chủ đạo là ngợi ca những vấn đề của người Mỹ. Bài thơVirtue of Tobacco (Lợi ích cây thuốc lá) đề cập đến cây thuốc lá địa phương, nguồn sống của nền kinh tế miền Nam, còn bài thơ The Jug of Rum (Rượu mạnh) ca tụng loại rượu này ở miền West Indies, một mặt hàng quan trọng của nền thương mại non trẻ Mỹ và là mặt hàng xuất khẩu chính của Tân thế giới. Những con người Mỹ hết sức bình thường hiện diện trong bài The Pilot of Hatteras (Người phi công ở Hatteras) cũng như trong những bài thơ về những bác sĩ giả hiệu và những giáo sĩ lộng ngôn.

Freneau đã đạt đến phong cách bình dân tự nhiên thích hợp với nền dân chủ thật sự, nhưng ông cũng đồng thời vươn tới một phong cách trữ tình tân cổ điển cao nhã thể hiện rõ nét trong những bài thơ thường được tuyển chọn như là The Wild Honey Suckle (Hoa cố hương([6]) – 1786), gợi lên hình ảnh về lùm cây nơi quê nhà ngào ngạt hương. Mãi cho đến những năm 1820 – thời điểm được coi là khởi đầu của văn học Phục hưng Mỹ, thi ca Mỹ mới vượt qua được những đỉnh cao mà Freneau đã đạt đến trước đó 40 năm.

Những cơ sở tăng cường cho thành tựu văn học trong tương lai đã được đặt nền móng từ những năm đầu tiên. Chủ nghĩa Dân tộc tạo nguồn cảm hứng cho các tác phẩm trong nhiều lãnh vực, dẫn đến một sức cảm thụ mới cho những gì mang tính cách Mỹ. Noah Webster (1758 – 1843) đã soạn một cuốn từ điển Mỹ, cũng là một học giả nổi tiếng và một người soạn sách chính tả quan trọng cho trường học. Cuốn sách dạy chính tả (Spelling Book) của ông bán ra hơn 100 triệu bản trong nhiều năm. Những cuốn từ điển Webster được cập nhật hóa vẫn còn mang tính chuẩn mực cho đến ngày nay. Cuốn American Geography (Địa lý Mỹ) do Jedidiah Morse biên soạn là một tác phẩm tham khảo rất nổi tiếng, đã góp phần nâng cao trình độ hiểu biết về chính vùng đất Mỹ vốn đã mênh mông lại luôn được mở rộng. Một số tác phẩm hay nhất mặc dù không thuần túy là tác phẩm văn chương của thời kỳ này là nhật ký của những người vừa là nhà định cư tiên phong vừa là nhà thám hiểm như là Meriwether Lewis (1774 – 1809) và Zebulon Pike (1779 – 1813), viết những câu chuyện về những cuộc thám hiểm khắp lãnh thổ Louisiana, phần đất mênh mông của lục địa Bắc Mỹ mà Thomas Jefferson đã mua lại của Napoléon năm 1803.

CÁC NHÀ VĂN VIẾT TIỂU THUYẾT

Những nhà văn viết tiểu thuyết đầu tiên được đại chúng ngày nay công nhận như Charles Brockden Brown, Washington Irving và James Fenimore Cooper đã sử dụng các chủ đề về Mỹ, các bối cảnh lịch sử, những đề tài về sự vô thường với giọng điệu mang màu sắc hoài niệm. Họ sử dụng nhiều thể loại văn xuôi, khởi xướng những hình thức mới và bằng nhiều cách thức mới mẻ dùng văn học làm nghề kiếm sống. Cùng với họ, văn học Mỹ bắt đầu được biết đến và thưởng thức ở đất Mỹ cũng như ở nước ngoài.

Charles Brockden Brown 
(1771 – 1810)

Được nhắc tới như nhà văn Mỹ chuyên nghiệp đầu tiên, Charles Brockden Brown lấy nguồn cảm hứng từ các nhà văn Anh như nữ sĩ Radcliffe và William Godwin (Radcliffe nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết kinh dị mang phong cách; Godwin là tiểu thuyết gia và là nhà cải cách xã hội, cũng là bố của Mary Sheller, người viết cuốn Frankernstein và lấy nhà thơ Percy Bysshe Shelley).

Bị thúc đẩy bởi sự đói nghèo, Brown vội vã phóng bút viết bốn cuốn tiểu thuyết hấp dẫn trong hai năm: Wieland (1798), Arthur Mervyn (1799),Ormond (1799) và Edgar Huntley (1799). Trong những cuốn này, ông phát triển một thể loại Gothic Mỹ. Tiểu thuyết mang phong cách là một thể loại thông dụng vào thời kỳ đó, đặc biệt thích nói về những bối cảnh hoang dã và kỳ lạ, về chiều sâu tâm lý bất ổn và những điều kỳ bí. Làm nền cho những câu chuyện đó là những tòa lâu đài hay tu viện hoang phế, đổ nát, những hồn ma, những điều bí mật huyền bí, những nhân vật gieo rắc nỗi kinh hoàng, những trinh nữ cô đơn tồn tại được nhờ vào trí thông minh và sức mạnh tâm linh của họ.

Ở vào giai đoạn hưng thịnh nhất, những cuốn tiểu thuyết như vậy đã đem lại cảm giác mạnh đầy hãi hùng và những ám ảnh ma thuật, cùng với những tìm kiếm sâu xa vào tâm hồn con người trong những trạng thái cực đoan. Các nhà phê bình cho rằng cảm quan trong các tiểu thuyết Gothic của Brown diễn đạt những âu lo sâu sắc về thể chế xã hội chưa hoàn chỉnh của một đất nước còn non trẻ.

Brown tái hiện những bối cảnh đặc biệt của nước Mỹ. Là một người giàu ý tưởng, ông đã kịch hóa những lý thuyết khoa học, phát triển một lý thuyết riêng về tiểu thuyết và ông đã đạt được những đỉnh cao văn chương mẫu mực mặc dù sống nghèo khổ. Dẫu có sai sót, những tác phẩm của ông có sức mạnh kinh người. Cùng với thời gian, ông được nhìn nhận là người mở đường cho các nhà văn lãng mạn như Edgar Allan Poe, Herman Melville và Nathaniel Hawthorne. Ông diễn tả những nỗi sợ hãi tiềm thức mà các nhà văn lạc quan thời Khai sáng cố tình lẩn tránh.

Washington Irving 
(1789 -1859)

Là con út trong một gia đình thương gia giàu có ở New York có tới 11 đứa con, Washington Irving từng là đại sứ ngoại giao và văn hóa ở châu Âu, giống như Benjamin Franklin và Nathaniel Hawthorne. Dù rất tài năng, có thể ông đã không trở thành một nhà văn chuyên nghiệp, một cái nghề xét ra chẳng kiếm được bao nhiêu tiền, nếu không có một loạt biến cố ngẫu nhiên đưa đẩy ông đến với nghề viết lách. Qua bạn bè, ông đã xuất bản cuốn Sketch Book (Phác thảo – 1819-1820) cùng một lúc cả ở Anh lẫn Mỹ, nhận được bản quyền và nhuận bút ở cả hai nơi.

Trong cuốn Sketch Book của Geoffrye Crayon (bút hiệu của Irving) có 2 truyện đáng nhớ nhất là Rip Van Winkle và The Legend of Sleepy Hollow(Truyền thuyết về thung lũng Buồn ngủ). Từ “sketch” (phác thảo) mô tả một cách thích hợp văn phong tinh tế, trau chuốt tuy có phần phóng túng của Irving, và “crayon” nghĩa là “tranh chì màu” nói lên tài năng của một họa sĩ có khả năng sử dụng màu sắc, có thể sáng tạo những sắc độ phong phú và tinh tế và những hiệu quả gây xúc động. Trong cuốn Sketch Book, ngòi bút của Irving đã biến dãy núi Catskill chạy dọc con sông Hudson phía bắc thành phố New York thành một vùng đất ma thuật, huyễn hoặc.

Độc giả Mỹ đón nhận cái “lịch sử” tưởng tượng về dãy núi Catskill của ông với lòng biết ơn, mặc dầu sự thật là (họ không được biết), ông đã vay mượn từ những câu chuyện ở Đức.

Dẫu vậy, Irving đã tặng nước Mỹ cái mà họ rất cần trong cái thế giới vật chất, hỗn mang của những năm đầu, đó là một cách liên hệ đầy tưởng tượng đến vùng đất mới.

Không một nhà văn nào đạt được thành công như Irving trong việc nhân cách hóa một vùng đất, đặt cho một cái tên, tạo ra một khuôn mặt và dựng lên một chuỗi huyền thoại về nó. Câu chuyện chàng Rip Van Winkle, ngủ suốt 20 năm, khi thức dậy để thấy thuộc địa đã giành được độc lập, đã biến thành một truyền thuyết dân gian. Nó được chuyển thể sang sân khấu, đi vào văn hóa truyền khẩu và dần dà được nhiều thế hệ người Mỹ chấp nhận như là một huyền thoại Mỹ đích thực.

Irving đã khám phá và đáp ứng yêu cầu về ý thức lịch sử của một quốc gia non trẻ. Rất nhiều tác phẩm của ông có thể được xem là những cố gắng hết mình để kiến tạo bộ mặt tinh thần của một quốc gia mới mẻ về nhiều mặt bằng cách sáng tạo lại lịch sử, trao cho nó hơi thở của sự sống và cùng với điều đó là cuộc sống tràn đầy sắc màu tưởng tượng. Irving có khuynh hướng chọn những đề tài chứa đựng nhiều kịch tính nhất trong lịch sử nước Mỹ: sự khám phá ra Tân thế giới, vị tổng thống và anh hùng dân tộc đầu tiên, cuộc chinh phục miền Tây. Tác phẩm đầu tay của ông History of New York (Lịch sử New York -1809) là một tác phẩm chói sáng, có tính trào phúng về thời kỳ New York còn là khu định cư do người Hà Lan thành lập. Cuốn sách được coi như là của tác giả Diedrich Knickerbocker (và kể từ đó nó là tên gọi chung cho bạn bè Irving và những nhà văn New York thời đó, trường phái “Knickerbocker”).

James Fenimore Cooper 
(1789 -1851)

Cũng như Irving, James Fenimore Cooper là nhà văn đã khơi dậy ý thức về quá khứ và gây dựng cho nó một môi trường và đặt cho nó một cái tên. Dầu vậy, người ta tìm thấy ở Cooper một truyền thuyết đầy sức mạnh về một thời vàng son và nỗi đau về sự mất mát đó. Trong khi Irving và những nhà văn Mỹ khác trước hoặc sau thời của ông lùng sục khắp châu Âu để tìm kiếm những huyền thoại, những lâu đài cổ và những đề tài vĩ đại, Cooper trung thành với huyền thoại cơ bản của nước Mỹ: rằng nó vĩnh cửu, cũng như sự hoang dã vậy. Lịch sử nước Mỹ là một sự xâm nhập vào sự vĩnh hằng; lịch sử châu Âu diễn ra ở Mỹ là một sự suy vong trong Vườn Địa đàng. Người ta lướt mắt qua chu kỳ sinh thái của tự nhiên chỉ là để hủy hoại nó: sự hoang dã biến mất trước mắt người Mỹ, chẳng còn dấu vết gì trước mắt thế hệ những người khai khẩn kế tiếp, như một phép lạ.

Đấy là cái nhìn cơ bản mang tính bi quan của Cooper trước sự tàn hủy chua xót của cõi hoang dã, vốn được xem là Vườn Địa đàng mới từng thu hút những người nhập cư đến đây trong buổi đầu.

Kinh nghiệm riêng đã cho phép Cooper có thể viết một cách sinh động về sự biến đổi của các vùng đất hoang dã và về những chủ đề khác như biển và những xung đột của các dân tộc có nền văn hóa khác nhau. Là con của một gia đình theo giáo phái Quaker, ông lớn lên trong một trang trại xa xôi của cha mình ở Otsego Lake (bây giờ là Cooperstown), giữa tiểu bang New York. Mặc dù vùng này tương đối yên bình khi Cooper còn niên thiếu, nó từng là nơi diễn ra cảnh tàn sát người Da đỏ. Cậu bé Fenimore Cooper gần như lớn lên trong một môi trường phong kiến. Cha ông, chánh án Cooper, cũng là một chủ đất và là một nhà lãnh đạo. Khi còn bé Cooper đã chứng kiến trận chiến giữa những người khai hoang và người Da đỏ. Sau này chính những người định cư Da trắng liều mạng đã xâm phạm đất đai của ông.

Natty Bumppo, một nhân vật nổi tiếng trong văn chương của Cooper, thể hiện quan điểm của ông về người khẩn hoang như một con người lịch lãm, một “nhà quý tộc từ trong máu” kiểu Jefferson. Vào đầu năm 1823, trong cuốn The Pioneers (Những người mở đất), Cooper đã bắt đầu khai sinh ra Bumppo. Natty là nhân vật người khai hoang đầu tiên trong văn học Mỹ và là tiền thân văn học của vô số chàng cao bồi và những anh hùng hảo hán vùng xa xôi hẻo lánh. Chàng ta là con người mang tự do cá nhân, chính trực, và được lý tưởng hóa – một con người còn tốt đẹp hơn cái xã hội mà anh ta bảo vệ. Nghèo, đơn độc nhưng rất mực trong sáng, anh ta là thước đo cho những giá trị đạo đức và là tiền thân cho nhân vật Billy Budd của Herman Melville và Huck Finn của Mark Twain.

Natty Bumppo được sáng tạo một phần dựa vào nguyên mẫu về một người Mỹ có công khai khẩn đất hoang – Daniel Boone – một người cũng theo phái Quaker như Cooper. Cũng như Boone, Natty Bumpo là một anh hùng hảo hán và hơn nữa là một người yêu hòa bình được một bộ tộc Da đỏ thừa nhận. Cả Boone và nhân vật Bumppo hư cấu đều yêu thiên nhiên và tự do. Họ liên tục di chuyển về hướng Tây để thoát khỏi làn sóng những người định cư kế tiếp mà họ đã đưa đường vào vùng đất hoang dã. Họ đã trở thành những huyền thoại ngay trong khi còn sống. Natty cũng có đời sống nội tâm sâu sắc, hết sức cao thượng và tràn đầy những khát vọng cao đẹp. Anh là chàng Hiệp sĩ Cơ đốc giáo trong những cuốn tiểu thuyết thời Trung cổ được đặt vào cánh rừng trinh nguyên và đất đai sỏi đá của châu Mỹ.

Sợi dây liên kết năm cuốn tiểu thuyết trong tuyển tập dưới cái tên Leather-Stocking Tales (Truyện kể về anh chàng đi bittất da) là kể về cuộc đời Natty Bumppo. Là thành quả tốt đẹp nhất của Cooper, chúng tạo nên một bộ sử thi bằng văn xuôi đồ sộ với bối cảnh là lục địa Bắc Mỹ, các bộ lạc Da đỏ là các nhân vật, những cuộc giao tranh vĩ đại, cuộc di dân Tây tiến là những sự kiện làm bối cảnh xã hội. Những cuốn tiểu thuyết đó đã làm sống lại một nước Mỹ tiên phong từ năm 1740 đến 1804.

Tác phẩm của Cooper đã khắc họa những đợt sóng liên tục của dòng người tìm kiếm những khu định cư mới ở biên giới: vùng hoang sơ nguyên thủy của người Da đỏ; sự xuất hiện những người Da trắng đầu tiên: những người dẫn đường, binh lính, nhà buôn, và những người đi mở rộng biên giới; rồi đến làn sóng những gia đình định cư nghèo khổ và thô lỗ; và sau cùng là tầng lớp trung lưu, cùng những người có nghề chuyên môn đầu tiên -quan tòa, thầy thuốc và chủ ngân hàng. Mỗi làn sóng đến sau lại thay thế làn sóng trước, người Da trắng chiếm đất của người Da đỏ, buộc họ phải rút sâu về phía Tây; những tầng lớp trung lưu “văn minh” xây dựng trường học, nhà thờ, và cả nhà tù xua đuổi đám người hạ lưu, sống theo lối tự do cá nhân – tuy có công trong cuộc chinh phục đất hoang -đi xa hơn nữa về hướng Tây để họ lại lần lượt thay thế người Da đỏ đã đến trước.

Trong khi tái hiện dòng người nhập cư vô tận, như một sự thật không thể khác được, Cooper đã nhìn thấy không chỉ những cái được mà còn cả những cái mất.

Tiểu thuyết của Cooper bộc lộ mâu thuẫn sâu sắc giữa cá nhân đơn độc và xã hội, giữa tự nhiên và văn hóa, giữa đời sống tâm linh và tôn giáo có tổ chức. Trong tác phẩm của Cooper, cả thế giới tự nhiên và người Da đỏ đều tốt đẹp từ trong bản chất -như thể đó là vương quốc hết sức văn minh gắn liền với những nhân vật có văn hóa nhất của ông. Nhân vật trung gian thường là những người định cư Da trắng nghèo khổ, tham lam, thất học, đa nghi và quá thô thiển để có thể thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên và những giá trị văn hóa, tinh thần. Cũng như Rudyard Kipling, E.M. Forster, Herman Merville, và những nhà quan sát nhạy cảm khác từng nhìn thấy cho rằng các nền văn hóa lớn rất đa dạng tác động lẫn nhau, Cooper là người theo chủ thuyết tương đối về văn hóa. Ông hiểu rằng chẳng có một nền văn hóa nào có độc quyền về đạo đức và trình độ nghệ thuật.

Cooper chấp nhận nét riêng trong điều kiện sống của nước Mỹ còn Irving thì không. Irving nhìn bối cảnh Mỹ như một người châu Âu – bằng cách du nhập và mô phỏng huyền thoại, văn hóa và lịch sử châu Âu. Cooper đã đi một bước xa hơn trong tiến trình này. Ông sáng tạo nên bối cảnh Mỹ, những chủ đề và nhân vật Mỹ đặc thù mới mẻ. Ông cũng là nhà văn đầu tiên mà tác phẩm vang lên âm hưởng bi kịch trở đi trở lại trong tiểu thuyết Mỹ.

VĂN CHƯƠNG CỦA PHỤ NỮ VÀ CÁC CỘNG ĐỒNG THIỂU SỐ

Mặc dù thời thuộc địa đã sản sinh một số nhà văn nữ đáng chú ý, kỷ nguyên Cách mạng đã không đẩy mạnh hơn sự nghiệp văn học của họ và các nhóm thiểu số dù cho nhiều trường học, tạp chí, nhật báo và câu lạc bộ văn học mọc lên ở khắp nơi. Những người phụ nữ thời thuộc địa như Anne Bradstreet, Anne Hutchinson, Ann Cotton và Sarah Kemble Knight đã có một ảnh hưởng trong văn học và xã hội đáng kể mặc cho những điều kiện sống sơ khai và nguy hiểm; trong 18 phụ nữ đến Mỹ trên con tàu Mayflower vào năm 1620, chỉ có 4 người sống sót qua năm đầu tiên. Vào cái thời mà một cơ thể khỏe mạnh được xem là quan trọng, và hoàn cảnh sống thì đầy biến động, một tài năng bẩm sinh có thể dễ dàng được thể hiện. Nhưng khi những thể chế văn hóa được thể thức hóa trong một nước cộng hòa mới mẻ, phụ nữ và cộng đồng thiểu số bị loại dần ra khỏi những thể chế đó.

Phillis Wheatley
(khoảng 1753 – 1784)

Xét đến những điều kiện sống gian khổ trong buổi đầu ở Mỹ, trớ trêu thay, những bài thơ hay nhất của thời kỳ này lại là của một nữ nô lệ kiệt xuất. Tác giả Mỹ gốc Phi châu được liệt vào hàng quan trọng đầu tiên ở Hoa Kỳ là Phillis Wheatley sinh ở châu Phi và được đưa đến Boston, bang Massachusetts, khi bà chỉ mới khoảng 7 tuổi. Bà được một thợ may từ tâm và giàu có là John Wheatley mua về để hầu hạ vợ mình. Ông bà Wheatley nhận ra sự thông minh xuất chúng của Phillis và với sự giúp đỡ của người con gái của họ là Mary, Phillis đã học đọc và viết.

Các chủ đề trong thơ của Wheatley đều là tôn giáo và phong cách thơ của bà là Tân cổ điển cũng giống như phong cách của Philip Freneau. Trong số những bài thơ nổi tiếng nhất của bà, bài thơ To S.M, a Young African Painter, on Seeing His Works (Gửi S.M, họa sĩ trẻ Phi châu trong lần viếng thăm xưởng vẽ) là một bài thơ ca ngợi và khích lệ một tài năng Da đen khác, và cũng là một bài thơ ngắn thể hiện xúc cảm tôn giáo mạnh mẽ đã được gạn lọc qua kinh nghiệm cải giáo theo đạo Thiên Chúa của bà. Bài thơ này làm cho vài nhà phê bình đương thời cảm thấy khó chịu -những nhà phê bình Da trắng khó 61 chịu vì họ thấy nó ước lệ, và những nhà phê bình Da đen khó chịu vì bài thơ đã không chống lại sự phi đạo đức của chế độ nô lệ. Tuy nhiên bài thơ là một tâm sự chân thành, nó đối đầu với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của người Da trắng và khẳng định quyền bình đẳng tâm linh. Như vậy, Wheatley là người đầu tiên phát biểu những vấn đề này một cách đầy tin tưởng trong thi ca. Như trong bài On Being Brought from Africa to America (Khi bị đem từ châu Phi sang Mỹ) có đoạn:

Ân huệ nào đã mang tôi từ mảnh đất vô thần
Dạy tâm hồn tăm tối của tôi biết nhận thức.
Rằng có một Chúa trời và cũng có Đấng Cứu rỗi
Đã một thời tôi không biết và không kiếm tìm cứu vớt
Có ai đó đã nhìn chúng tôi với ánh mắt khinh khi
“Màu da chúng nhuộm màu của quỷ”
Xin hãy nhớ, các tín đồ Cơ Đốc, người Da đen, tăm tối như Cain(
[7])
Cũng có thể được thanh tẩy, và cùng đi chuyến tàu thiên sứ.

CÁC NHÀ VĂN NỮ KHÁC

Nhiều nhà văn nữ thành đạt thời kỳ Cách mạng lại được chính các học giả ủng hộ nữ quyền khám phá. Susanna Rowson (khoảng 1762 – 1824) là một trong những tiểu thuyết gia chuyên nghiệp đầu tiên ở Mỹ. Di sản của bà gồm bảy tiểu thuyết trong đó cuốn thuộc vào loại bán chạy nhất làCharlotte Temple (Đền thờ Charlotte – 1791). Sách của bà nổi lên các chủ đề về quyền bình đẳng của phụ nữ, sự phá bỏ chế độ nô lệ, bà đã miêu tả người Mỹ Da đỏ với một sự kính trọng.

Một nhà văn khác bị chìm trong lãng quên suốt thời gian dài là Hannah Foster (1758 – 1840), tác giả cuốn tiểu thuyết ăn khách The Coquette (Đứa lẳng lơ – 1797) viết về một người phụ nữ trẻ bị xâu xé giữa đức hạnh và cám dỗ. Bị quyến rũ bởi một tu sĩ lạnh lùng rồi bị chính người đó khước từ, bỏ rơi, nàng sinh một đứa con rồi chết trong cô đơn.

Judith Sargent Murray (1751 – 1820) phải xuất bản sách dưới một cái tên nam giới để người ta chú ý một cách nghiêm túc đến tác phẩm của mình. Mercy Otis Warren (1728 -1814) là một nhà thơ, sử gia, nhà soạn kịch, nhà văn châm biếm và một người ái quốc. Bà tổ chức các cuộc nhóm họp thời kỳ tiền cách mạng tại nhà, công kích người Anh trong những vở kịch đặc sắc và viết bộ lịch sử tiến bộ đương thời duy nhất về cách mạng Mỹ.

Những lá thư giữa những người phụ nữ như bà Mercy Otis Warren và Abigail Adams, và những thư từ nói chung, là những tài liệu quan trọng về thời kỳ đó. Ví dụ, Abigail Adams viết cho chồng bà – John Adams (sau này là vị tổng thống thứ 2 của Mỹ) – vào năm 1776 yêu cầu sự độc lập của phụ nữ phải được bảo đảm trong hiến pháp tương lai của Hoa Kỳ.


[1] Gothic: Một loại tiểu thuyết xuất hiện vào cuối thế kỷ 18 chuyên viết về những chuyện bí hiểm, rùng rợn. Được gọi là Gothic bởi vì nó thường lấy bối cảnh ở các lâu đài, tu viện hoang phế, đổ nát thời Trung cổ với những đường hầm ngầm dưới mặt đất, những bức tường thành với những lỗ châu mai ám muội, những hội kín và những cánh cửa bí mật.

[2] Pamphlet: Theo định nghĩa của UNESCO là một ấn phẩm không đóng thành sách, xuất bản không định kỳ, không ngắn hơn 5 trang và không dài hơn 48 trang, dùng để tuyên truyền, cổ động hoặc nêu quan điểm, chính kiến về một vấn đề thời sự chính trị, xã hội được quần chúng quan tâm. Xuất hiện vào đầu thế kỷ 16 trong việc ủng hộ Cải cách tôn giáo, ngày nay, pamphlet được dùng như sách bướm nhằm cung cấp thông tin của các tổ chức chính phủ hay là các hiệp hội.

[3] Canaan: Vùng đất phía tây Palestine, được người Do Thái cổ tin rằng đó là Miền đất Hứa mà Chúa dành cho họ.

[4] Yankee: Một cái tên mà người miền Nam gọi người miền Bắc một cách giễu cợt.

[5] Phái Liên bang (Federalist) chủ trương dành nhiều quyền lực cho chính quyền liên bang.

[6] Về tựa của bài thơ này chúng tôi xin tạm đưa ra một cái tựa dựa vào nội dung của bài thơ.

[7] Cain: Trong Cựu ước, Cain là con trai trưởng của Adam và Eva, đã giết em trai của mình là Abel. Cain – một nông dân – đã hết sức giận dữ khi Chúa Trời cho phép Abel làm người chăn cừu nên đã giết em và bị Chúa đày đi biệt xứ.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_ii.html

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 1: Thời kỳ lập quốc và thuộc địa cho đến năm 1776

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Chương 1: Thời kỳ lập quốc và thuộc địa cho đến năm 1776

Văn học Mỹ khởi đầu bằng các truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ và những bài ca truyền miệng thuộc các nền văn hóa của dân Da đỏ. Trong hơn 500 ngôn ngữ và nền văn hóa bộ lạc khác nhau của dân Da đỏ tồn tại ở Bắc Mỹ trước khi những người châu Âu đầu tiên tìm đến đã chẳng có được một nền văn học thành văn nào. Kết quả là nền văn học truyền miệng châu Mỹ bản địa hết sức đa dạng. Những truyện kể của các nền văn hóa săn bắn sống gần như du mục của bộ lạc Navajo khác hẳn với các câu chuyện của những bộ lạc nông nghiệp định cư như dân tộc Acoma sinh sống trong làng; những câu chuyện của cư dân sống ven hồ ở phương Bắc như Ojibwa về cơ bản khác hẳn các câu chuyện của các bộ lạc sống trên sa mạc như Hopi.

Mỗi bộ lạc có tín ngưỡng riêng của mình – thờ thần thánh, linh vật, cây cỏ hoặc những nhân vật linh thiêng. Hệ thống nhà nước biến thiên đa dạng từ hội đồng bô lão có tính chất dân chủ cho đến chính thể thần quyền (hội đồng tăng lữ giáo sĩ). Sự đa dạng của các bộ tộc này cũng ảnh hưởng đến văn học truyền miệng.

Tuy vậy chúng ta vẫn có thể nắm được một vài nét khái quát. Chẳng hạn những câu chuyện của người Da đỏ rực lên sự tôn thờ thiên nhiên như một người mẹ vừa linh thiêng lẫn trần tục. Thiên nhiên luôn tràn đầy sinh lực và chất chứa những quyền lực thiêng liêng, những nhân vật chính dù là loài vật hay cỏ cây, thường là những linh vật gắn liền với một bộ lạc, một nhóm người hay một cá nhân nào đó. Ý niệm gần gũi nhất với ý niệm về tính linh thiêng của người Da đỏ trong văn học Mỹ sau này là khái niệm siêu nghiệm của Ralph Waldo Emerson “siêu linh hồn” trải khắp cuộc đời.

Những bộ lạc Mexico sùng bái thần Quetzalcoatl thiêng liêng, một vị thần của người Toltecs và Aztecs, và ở nhiều nơi khác cũng có một số câu chuyện về một vị thần linh tối cao hay một nền văn hóa nào đó. Tuy vậy, không có một hệ thống các sự tích tôn giáo chuẩn mực, lâu dài về một đấng thiêng liêng tối cao. Những sự tích tương đương gần gũi nhất với những câu chuyện tôn giáo của Cựu thế giới thường là những chuyện về thuyết pháp và các chuyến hành hương của các pháp sư. Ngoài các câu chuyện này còn có những câu chuyện về những nhân vật dân gian như Manabozho của bộ lạc Ojibwa hay Coyote của bộ lạc Navajo. Những kẻ hai mặt này được coi trọng hoặc khinh miệt tùy theo từng câu chuyện. Trong câu chuyện này họ hành động như những anh hùng, trong khi ở một truyện khác họ lại có vẻ ích kỷ và ngu xuẩn. Mặc dù các tác giả có thẩm quyền trong quá khứ, chẳng hạn nhà tâm lý học Thụy Sĩ Carl Jung, đã xem những câu chuyện về những kẻ lừa đảo này như là cách miêu tả khía cạnh thấp hèn, vô đạo của tâm thức con người, những học giả đương thời – nhiều người trong số đó là người Mỹ Da đỏ – chỉ ra rằng Odysseus và Prometheus, những anh hùng Hy Lạp đáng kính, tự bản chất cũng là những kẻ lừa lọc.

Người ta có thể tìm thấy được những ví dụ của hầu như mọi thể loại truyền miệng trong nền văn học Mỹ Da đỏ: thơ trữ tình, bài ca, huyền thoại, truyện cổ tích, giai thoại tiếu lâm, thần chú, câu đố, tục ngữ, sử thi và những câu chuyện dã sử. Truyện về tổ tiên và những cuộc di dân cũng như những bài sấm truyền hay những bài ca chữa bệnh và những câu chuyện về các tay hảo hán thì nhiều vô kể. Một vài truyện về sáng tạo muôn loài cũng rất phổ biến, trong đó có nhiều bộ lạc lưu truyền câu chuyện về một con rùa nâng được cả thế giới với nhiều dị bản khác nhau. Trong dị bản của người Cheyenne, đấng sáng tạo, Maheo, có bốn cơ hội để tạo nên thế giới từ một vũ trụ làm bằng nước. Vị thần này đã phái xuống bốn con chim lặn xuống nước cố mang trái đất từ dưới đáy lên. Ngỗng trời, chim lặn, vịt trời bay vút lên trời và nhào xuống lặn nhưng không thể xuống tới đáy được; nhưng con chim sâm cầm nhỏ bé, không bay được đã có thể mang lên được một ít bùn ở mõm. Chỉ duy nhất một tạo vật, Rùa Bà tầm thường, là hình dáng thích hợp để mang thế giới bùn lầy mà Maheo tạo dựng trên lưng của nó – từ đó người Da đỏ gọi châu Mỹ là Đảo Rùa.

Những bài hát hoặc thơ ca, cũng như những truyện kể bắt đầu từ thể tài linh thiêng đến những loại nhẹ nhàng, hài hước: đó là những lời ru, những bài ca chiến trận, những bản tình ca, và những khúc hát đặc biệt trong những trò chơi của trẻ con, đánh bài, cho đủ thứ công việc, cho những nghi lễ ma thuật hay nhảy múa. Nhìn chung những khúc ca này thường được lặp đi lặp lại. Những bài hát nên thơ ngắn ngủi hiện ra trong mơ đôi lúc có những hình tượng rõ ràng và tình cảm tinh tế rất gần với thơ haiku của Nhật hoặc loại thơ ca hình tượng chịu ảnh hưởng phương Đông. Một bài ca của người Chippewa như sau:

Tôi nghĩ đó là một con chim lặn
Nhưng lại là
Mái chèo khua nước
Của tình tôi.

Những bài hát thuộc loại tiên tri thường rất ngắn, được thể hiện bằng hình thức khác hẳn. Xuất hiện trong giấc mơ hay giữa những ảo ảnh, đôi khi không được báo trước, chúng có thể là những bài hát dùng trong chữa bệnh, khi săn bắn hay về tình yêu. Chúng thường mang đậm dấu ấn cá nhân, như trong bài hát này của người Madoc:

Tôi
là bài ca
trong khi đang bước.

Truyền thống văn học truyền miệng của người Da đỏ và mối quan hệ của nó với văn học Mỹ nhìn chung là một trong những đề tài phong phú nhất và ít được nghiên cứu nhất trong những nghiên cứu về nước Mỹ. Sự đóng góp của người Da đỏ cho nước Mỹ còn lớn hơn những gì mà người ta biết. Hàng trăm từ thông dụng của ngôn ngữ Anh Mỹ là bắt nguồn từ thổ dân Da đỏ: “canoe” (canô), “tobacco” (thuốc lá), “potato” (khoai tây), “moccasin” (giày da đế phẳng), “moose” (nai sừng tấm), “persimmon” (cây hồng), “racoon” (gấu trúc Nam Mỹ), “tomahawk” (cái rìu) và “totem” (vật tổ).

VĂN HỌC CỦA THỜI KỲ KHAI PHÁ

Nếu lịch sử rẽ sang một hướng khác, Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ rất có thể đã dễ dàng biến thành một lãnh thổ hải ngoại của Pháp hay Tây Ban Nha. Cư dân hiện tại của nó có thể nói tiếng Tây Ban Nha và cùng với Mexico tạo thành một quốc gia, hoặc sử dụng tiếng Pháp kết hợp với Quebec và Montreal trở thành người Canada. Tuy nhiên những nhà thám hiểm châu Mỹ sớm nhất không phải là người Anh, người Tây Ban Nha hay người Pháp.

Văn bản về cuộc chinh phục châu Mỹ đầu tiên mà châu Âu ghi lại được là bằng ngôn ngữ Scandinavia, cuốn Vinland Saga bằng tiếng Na Uy cổ kể lại cuộc phiêu lưu của Leif Ericson và một nhóm người Na Uy cổ định cư ngắn ngủi đâu đó trên bờ biển Đông Bắc châu Mỹ – có lẽ là Nova Scotia ở Canada – vào thập niên đầu của thế kỷ 11, gần 400 năm trước việc khám phá tiếp theo Tân thế giới còn được ghi chép ở châu Âu.

Tuy nhiên, cuộc tiếp xúc đầu tiên được biết đến và còn duy trì giữa châu Mỹ và phần còn lại của thế giới bắt đầu bằng cuộc du hành nổi tiếng của một nhà thám hiểm người Ý, Christopher Columbus, được Hoàng đế Ferdinand và Hoàng hậu Isabella của Tây Ban Nha tài trợ. Nhật ký của Columbus trong tập “Thư từ”([1]) của mình, in năm 1493, kể lại thảm kịch của chuyến du hành – đám người hoảng loạn, sợ những con thủy quái và nghĩ rằng họ sẽ rơi khỏi rìa trái đất([2]), cuộc nổi loạn suýt xảy ra; việc Columbus giả mạo nhật ký hải hành để thủy thủ không thể biết được họ đã đi xa hơn những người đi trước bao nhiêu; và cảnh lần đầu tiên nhìn thấy dải đất liền khi họ đến gần châu Mỹ.

Bartolomé de las Casas là nguồn tư liệu phong phú nhất về cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa người Da đỏ châu Mỹ và người châu Âu. Với tư cách là một giáo sĩ trẻ, ông ta đã giúp chinh phục được Cuba. Ông đã chép lại nhật ký của Columbus, và về sau đã viết cuốn History of the Indians (Lịch sử của người Da đỏ) thật đồ sộ và sinh động, phê phán việc người Tây Ban Nha bắt người Da đỏ làm nô lệ.

Những toan tính đầu tiên của người Anh biến châu Mỹ thành thuộc địa thật sự là những tai họa. Thuộc địa đầu tiên được thành lập năm 1585 ở Roanoke, ngoài khơi bang Bắc Carolina; sau đó tất cả những người lập thuộc địa ở đây đã biến mất, và cho đến nay người ta vẫn kể nhiều huyền thoại về người Da đỏ -Croatan mắt xanh trong vùng. Thuộc địa thứ hai bền vững hơn: Jamestown, thiết lập năm 1607. Nó chịu đựng được đói khát, bạo ngược và rối ren. Tuy nhiên, văn học thời kỳ này đã tô vẽ cho nước Mỹ những màu sắc rực rỡ như là một vùng đất giàu có và đầy hứa hẹn. Những chuyện kể về công cuộc thuộc địa hóa đã nổi danh khắp thế giới. Cuộc thám hiểm của Roanoke được Thomas Hariot ghi lại cặn kẽ trong cuốn A Brief and True Report of the New – Found Land of Virginia (Một báo cáo ngắn và chân thật về vùng đất mới tìm thấy thuộc Virginia – 1588). Cuốn sách của Hariot được nhanh chóng dịch ra tiếng Latin, tiếng Pháp và tiếng Đức; nội dung và hình ảnh được làm thành bản khắc và được tái bản rộng rãi suốt hơn 200 năm.

Tuy vậy chính các bài viết của thuyền trưởng John Smith, một trong những nhà lãnh đạo của thuộc địa là những ghi chép chủ yếu về thuộc địa Jamestown, lại ngược hẳn với bản tường trình rất khoa học, chính xác của Hariot. Smith là một người cực kỳ lãng mạn, hình như ông ta đã thêu dệt thêm cho những chuyến mạo hiểm của mình. Nhờ ông mà chúng ta mới biết được câu chuyện nổi tiếng kể về Pocahontas – một người con gái Da đỏ. Dù là có thật hay hư cấu, câu chuyện này đã cắm rễ sâu vào sức tưởng tượng có tính cách lịch sử của Mỹ. Câu chuyện kể lại rằng Pocahontas, con gái cưng của tù trưởng Powhatan, đã cứu sống thuyền trưởng Smith – một tù nhân của tù trưởng. Sau này, khi những người Anh thuyết phục Powhatan trao Pocahontas cho họ làm con tin, thì nét dịu dàng, óc thông minh và vẻ đẹp của nàng đã gây ấn tượng sâu đậm cho người Anh. Vào năm 1614, nàng lấy John Rolfe – một nhà quý tộc người Anh có thế lực. Cuộc hôn nhân đem lại hòa bình trong khoảng tám năm giữa những người thiết lập thuộc địa và người Da đỏ, đảm bảo sự sống còn của thuộc địa mới…

Vào thế kỷ 17, hải tặc, những kẻ phiêu lưu và các nhà thám hiểm mở đường cho một làn sóng thứ hai cho những người đi lập thuộc địa, cho phép họ mang theo vợ con, dụng cụ làm nông nghiệp và thủ công. Nền văn học non trẻ của thời khai phá chủ yếu là nhật ký, thư từ, ghi chép hành trình, nhật ký hải hành và những báo cáo tường trình gửi các nhà tài trợ các bậc vua chúa ở châu Âu hoặc các công ty cổ phần ở Anh và Hà Lan vốn có xu hướng trọng thương. Những ghi chép này từng bước nhường chỗ cho nhiều bản báo cáo của các thuộc địa đã ổn định. Bởi vì Anh quốc rốt cuộc chiếm hết những thuộc địa Bắc Mỹ, nền văn học thuộc địa phổ biến nhất và được đưa vào tuyển tập nhiều nhất là văn học Anh. Khi văn học của người Mỹ Da đỏ tiếp tục nở rộ vào thế kỷ 20 và đời sống Mỹ trở nên ngày càng đa văn hóa hơn, các học giả có xu hướng trở lại khám phá tầm quan trọng của di sản chủng tộc pha trộn của đại lục địa này. Mặc dầu giờ đây câu chuyện văn học chủ yếu là của người Anh, điều quan trọng là phải công nhận những giai đoạn khởi đầu phong phú mang tính quốc tế.

THỜI KỲ THUỘC ĐỊA Ở NEW ENGLAND

Có thể nói, không một nhóm người đi tìm thuộc địa nào trong lịch sử thế giới lại đạt đến trình độ tri thức cao như những người Thanh giáo. Khoảng giữa 1630 đến 1690, ở phần Đông Bắc Hoa Kỳ, được gọi là New England, đã có số người tốt nghiệp đại học nhiều bằng với Mẫu quốc – một dữ kiện gây ngạc nhiên vì người ta vẫn cho rằng hầu hết những người có học vấn thời đó vốn xuất thân từ quý tộc chẳng dại gì liều mạng sống trong môi trường hoang dã. Những người Thanh giáo tự lập và thường là tự học là những ngoại lệ đáng chú ý. Họ khao khát tri thức để có thể hiểu và thực thi được ý muốn Thượng đế trong khi họ thiết lập những khu định cư khắp New England.

Thanh giáo định nghĩa một lối viết hay là lối viết có thể giúp con người nhận thức đầy đủ về sự quan trọng của việc thờ phụng Chúa và những hiểm nguy tâm linh mà linh hồn phải đối mặt trên trần thế. Sự thể hiện của văn chương Thanh giáo rất đa dạng – từ những bài thơ siêu hình phức tạp, cho đến những ghi chép trong cuộc sống thông thường và lịch sử tôn giáo mang tính chất câu nệ và áp đặt. Bất luận phong cách thể loại gì, nhưng một số chủ đề vẫn không đổi. Cuộc sống được xem là cuộc thử thách; thất bại sẽ dẫn đến hỏa ngục và án phạt đời đời, thành công mang đến niềm phúc lạc Thiên đàng. Thế gian này là chiến trường của cuộc chiến muôn thưở giữa những thế lực của Thượng đế và thế lực của Satan, một kẻ thù đáng sợ thiên biến vạn hóa. Nhiều tín hữu Thanh giáo náo nức trông chờ cái “Thiên niên kỷ” Chúa Jesus sẽ trở lại trần thế, đặt dấu chấm hết cho sự khổ đau của loài người và khởi đầu một ngàn năm hòa bình thịnh vượng.

Từ lâu các học giả đã chỉ ra mối liên kết giữa Thanh giáo và chủ nghĩa Tư bản: cả hai đều đặt nền tảng trên tham vọng, cần cù và sự phấn đấu không mệt mỏi để đạt đến thành công. Mặc dù mỗi một tín đồ Thanh giáo không thể biết được, nói theo thuật ngữ Thần học nghiêm túc, mình có được “cứu rỗi” và có được ở trong số những người được chọn vào Thiên đàng hay không, họ có khuynh hướng nghĩ rằng những thành công ở trần thế là một trong những điều kiện của sự tuyển chọn đó. Họ tìm kiếm giàu sang và địa vị không chỉ vì cần có chúng mà còn bởi vì chúng được xem như những bảo đảm cho sự lành mạnh tâm linh và những hứa hẹn về một cuộc sống vĩnh cửu.

Hơn nữa, chính quan niệm về một sự cố gắng hết mình đã khích lệ thành công. Tín đồ Thanh giáo lý giải tất cả mọi điều, mọi biến cố như những biểu tượng với ý nghĩa tâm linh sâu sắc, và cảm thấy rằng trong khi cố gắng làm giàu cho mình và cho cộng đồng, họ cũng thực thi tốt hơn những ý muốn của Thượng đế. Họ đã không phân định ranh giới giữa thế giới trần tục và tôn giáo: cả cuộc đời là sự diễn đạt ý muốn thần linh ố một niềm tin về sau lại xuất hiện trong triết học Siêu nghiệm.

Khi ghi lại những biến cố đời thường để bộc bạch ý nghĩa tâm linh, các tác giả Thanh giáo thường trích dẫn Kinh thánh. Lịch sử được hình dung là một toàn cảnh tôn giáo mang tính biểu tượng dẫn đến sự toàn thắng của Thanh giáo và vương quốc của Thượng đế trên trần gian.

Những người thực dân Thanh giáo đầu tiên định cư ở New England đã nêu gương cho sự nghiêm túc của Thiên Chúa giáo cải cách. Được mệnh danh là “Những kẻ Pilgrim”, họ gồm một nhóm nhỏ các tín đồ di cư từ Anh đến Hà Lan – hồi ấy Hà Lan nổi tiếng vì sự dễ dãi với tôn giáo của mình – vào năm 1608, trong thời kỳ khủng bố tôn giáo.

Như hầu hết những người Thanh giáo, những tín đồ Thiên Chúa ở Anh và Hà Lan lý giải Kinh thánh theo nghĩa đen. Họ đọc và hành động theoSecond Book of Corinthians (Tập thư thứ hai gửi tín hữu thành Corinth của Thánh tông đồ Paul) -“Ngươi hãy tách ra khỏi họ và ly cách ngươi, lời của Chúa”. Không còn hy vọng thanh tẩy được Giáo hội Anh giáo từ trong nội bộ, “Những người ly khai” đã thành lập những giáo hội “giao ước” bí mật thề nguyền trung thành với hội nhóm thay vì với vua. Bị xem là những người phản bội hoàng đế cũng như là những kẻ phản đạo buộc phải xuống hỏa ngục, họ thường bị đàn áp. Cuối cùng sự ly khai đã đưa họ đến Tân thế giới.

William Bradford
(1590 – 1657)

Ông được bầu làm Thống đốc Plymouth ở thuộc địa vùng vịnh Massachusetts ngay sau khi những người Ly giáo đến. Ông là người cực kỳ sùng đạo, có tinh thần tự học, biết nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Do Thái cổ, chỉ để “tận mắt nhìn thấy sấm truyền của Thượng Đế trong vẻ đẹp nguyên sơ”. Cuộc di cư sang Hà Lan, rồi cuộc hành trình trên con tàu Mayflower đến Plymouth; cũng như những bổn phận của ông với cương vị thống đốc đã khiến ông trở thành sử gia đầu tiên của thuộc địa này một cách thật thích hợp. Cuốn sử của ông, Of Plymouth Plantation (Đồn điền Plymouth – 1651) là một bản tường trình rõ ràng và mạch lạc về thuở ban đầu của thuộc địa. Những trang ông ghi lại ấn tượng ban đầu của mình khi nhìn thấy châu Mỹ rất nổi tiếng:

Thế là vượt qua đại dương muôn trùng, và vô vàn những bất trắc… giờ đây họ chẳng có bạn bè chào đón, chẳng có một quán trọ để nghỉ ngơi và phục hồi những thân xác bị sóng gió dập vùi; không cửa nhà hay phố xá để dạo chơi hay để tìm sự an ủi… chỉ có những kẻ man rợ… vẻ như sẵn sàng trút lên họ cung tên hơn là thứ gì khác. Và bấy giờ là mùa đông, họ biết rằng mùa đông ở đây còn khắc nghiệt và dữ dội hơn nhiều và phải chịu đựng những cơn bão hung hãn và tàn ác… tất cả đều mang một khuôn mặt sương gió, và khắp nơi là rừng rậm, biểu hiện một sắc màu hoang dã sơ khai.

Bradford cũng ghi lại tư liệu đầu tiên việc tự quản thuộc địa ở Tân thế giới, “Hiệp ước Mayflower” được lập ra ngay khi những người hành hương còn ở trên con tàu. Hiệp ước là một bản nháp cho một bản Tuyên ngôn độc lập xuất hiện một thế kỷ rưỡi sau.

Tín đồ Thanh giáo không tán thành những thú vui trần tục như khiêu vũ và bài bạc mà họ cho rằng luôn đi kèm với đám quý tộc vô đạo và cách sống vô luân. Đọc và viết những loại “nhẹ nhàng” cũng bị xếp vào phạm trù này. Trí óc người Thanh giáo luôn dồn hết mọi năng lượng vào những thể loại phi tiểu thuyết và tôn giáo: thi ca, thuyết giảng, thần học và lịch sử. Nhật ký và suy nghiệm riêng tư của họ ghi lại cuộc sống nội tâm phong phú của những con người sâu sắc hướng nội này.

Anne Bradstreet 
(Khoảng 1612 – 1672)

Tập thơ đầu tiên cũng là cuốn sách đầu tiên ở Mỹ là của một phụ nữ – bà Anne Bradstreet. Cũng chẳng có gì phải ngạc nhiên khi cuốn sách này được xuất bản ở Anh, hẳn nhiên trong những năm tháng sơ khai, các thuộc địa đầu tiên ở châu Mỹ thiếu cơ sở in ấn. Sinh trưởng và được học tập ở Anh, Anne Bradstreet là con gái của một viên quản lý điền trang của một Nam tước. Bà di cư cùng với gia đình năm 18 tuổi. Chồng bà là Thống đốc thuộc địa Vịnh Massachusetts, sau này trở thành thành phố Boston. Bà thích những bài thơ dài của mình về tôn giáo theo những đề tài ước lệ như 4 mùa, nhưng độc giả đương thời thích nhất những bài thơ thông minh giàu chất trí tuệ về những đề tài trong cuộc sống hàng ngày và những bài thơ tràn đầy tình yêu thương nồng nàn bà dành cho chồng con. Thơ ca siêu hình Anh đã tạo cho bà nguồn cảm hứng và cuốn The Tenth Muse Lately Sprung Up in America (Nàng thơ thứ mười xuất hiện muộn màng ở Mỹ) của bà (1650) cho thấy ảnh hưởng của Edmund Spencer, Philip Sidney cũng như các nhà thơ Anh khác. Bà thường sử dụng những câu thơ dí dỏm cầu kỳ và những ẩn dụ có phần cường điệu. Bài thơ To my Dear and Loving Husband (Gửi người chồng thương yêu, quý mến của tôi -1650) dùng những hình tượng phương Đông, đề tài tình yêu và một thủ pháp so sánh phổ biến ở châu Âu thời đó, nhưng bà đã khoác cho chúng một ý nghĩa tôn giáo ở đoạn cuối.

Nếu có bao giờ hai người là một, thì chắc sẽ là đôi ta
Nếu có bao giờ người chồng được vợ yêu thương, thì đấy là anh
Nếu có bao giờ người vợ hạnh phúc với bạn đời
Hãy so sánh với em, những người phụ nữ của anh, nếu được
Tình yêu của anh quý hơn cả mỏ vàng mỏ bạc
Hơn tất cả châu báu ở phương Đông
Tình yêu của em là điều mà mọi dòng sông không thể nhận chìm
Cũng chẳng gì bù đắp được, ngoại trừ tấm tình anh
Tình yêu của anh là điều em không thể đền đáp được
Em cầu trời cao ban phước lành cho anh vạn bội
Để trong cuộc đời này tình yêu luôn ở lại
Và cả khi ta không tồn tại nữa, ta vẫn sống bên nhau đến muôn đời.

Edward Taylor 
(Khoảng 1644 – 1729)

Cũng như Anne Bradstreet, và hẳn nhiên, như tất cả những tác giả đầu tiên của New England, nhà thơ mục sư năng nổ, tài hoa, Edward Taylor sinh ở Anh. Là con trai của một tiểu nông -một nông dân độc lập sở hữu ruộng đất riêng – Taylor, một thầy giáo thà di cư đến New England vào năm 1668 còn hơn là giữ lời thề trung thành với Giáo hội Anh Giáo. Ông học ở đại học Harvard. Như hầu hết các mục sư được đào tạo ở Harvard, ông biết tiếng Hy Lạp, Latin và Do Thái cổ. Là một người vị tha và sùng đạo, Taylor đã hoạt động như một nhà truyền giáo giữa đám dân định cư khi ông chấp nhận sứ mệnh mục sư trọn đời ở thị trấn biên giới Westfield, Massachusetts, đi sâu vào vùng rừng rậm hoang vu đến 160km nữa. Taylor là người có học nhất trong vùng, và ông đã sử dụng kiến thức của mình một cách hữu ích với cương vị một mục sư, một bác sĩ và một nhà lãnh đạo thị trấn.

Khiêm tốn, sùng đạo và làm việc hết mình, Taylor chưa bao giờ xuất bản thơ mình. Thơ ông chỉ được phát hiện vào thập niên 30 thế kỷ 20. Chắc chắn, ông đã thấy sự khám phá ra tác phẩm của mình như là điều thuận theo ý Chúa. Còn độc giả ngày nay rất cám ơn vì đã có được những bài thơ của ông -những bài thơ hay nhất của thi ca thế kỷ 17 ở Bắc Mỹ.

Sáng tác của Taylor thật phong phú: điếu văn trong lễ tang, khúc bi ca, một cuộc “bàn luận” trung cổ, và một cuốn sách dày 500 trang Metrical History of Christianity (chủ yếu là một cuốn sử về những vị thánh tử vì đạo). Những tác phẩm hay nhất của ông, theo các nhà phê bình ngày nay, là hàng loạt những chiêm nghiệm.

Michael Wigglesworth 
(1631 – 1705)

Michael Wigglesworth, một mục sư Thanh giáo cũng giống như Taylor, sinh trưởng ở Anh và được đào tạo ở Harvard, hành nghề y, là nhà thơ nổi bật thứ ba của thuộc địa New England. Ông tiếp tục những chủ đề Thanh giáo trong tác phẩm nổi tiếng nhất của mình: The Day Of Doom (Ngày tận thế – 1662). Một truyện thơ dài thường rơi vào thể loại vè nhàm chán, tính phổ cập đáng sợ này của chủ thuyết Calvin([3]) là bài thơ phổ biến nhất của thời thuộc địa. Tác phẩm bán chạy nhất đầu tiên ở Mỹ này là hình ảnh đáng sợ về hình phạt địa ngục được làm theo thể thơ ballad.

Đó là một thứ thi ca khủng khiếp – nhưng lại được mọi người yêu thích. Nó gắn kết sự quyến rũ của một câu chuyện kinh dị với quyền lực của John Calvin. Trong hơn hai thế kỷ, người ta thuộc lòng tác phẩm dài hơi và rùng rợn về nỗi kinh hoàng tôn giáo này. Trẻ con tự hào ngâm nga nó, người lớn trích dẫn nó trong giao tiếp hằng ngày. Từ những hình phạt khủng khiếp trong bài thơ này đến vết thương đáng sợ tự gây cho mình của vị mục sư Thanh giáo tội lỗi – Arthur Dimmesdale, trong The Scarlet Letter (Chữ A màu đỏ – 1850) của Nathaniel Hawthorne hay đến viên thuyền trưởng Ahab tật nguyền của Herman Melville, một Faust([4]) của New England mà vì sự kiếm tìm tri thức bị ngăn cấm của mình đã làm đắm con tàu nhân bản Mỹ trong Moby-Dick (Cá voi trắng – 1851) cũng chẳng phải một bước nhảy xa xôi gì (Moby-Dick là cuốn tiểu thuyết yêu thích của William Faukner, nhà văn của thế kỷ 20, tác giả của những cuốn tiểu thuyết sâu sắc có sức chấn động dữ dội dự báo rằng cái nhìn siêu hình, tăm tối của nước Mỹ Tin lành vẫn lẩn quất đâu đây).

Như hầu hết nền văn học thuộc địa, những bài thơ của New England buổi đầu đã bắt chước hình thức và kỹ thuật của Mẫu quốc, dù niềm say mê tôn giáo và sự ảnh hưởng Kinh thánh sâu đậm, cũng như bối cảnh mới, tạo cho văn học New England một diện mạo đặc biệt. Những tác giả của Tân thế giới bị cô lập lại sống trong thời kỳ trước khi có sự xuất hiện của những phương tiện vận chuyển và truyền thông điện tử nhanh chóng. Kết quả là những tác giả thuộc địa đã bắt chước một lối viết đã lỗi thời ở nước Anh: Edward Taylor, nhà thơ Mỹ hay nhất vào thời ông đã viết thơ siêu hình sau khi thể loại thơ này trở thành lỗi thời ở Anh. Tuy vậy, cũng có những tác phẩm có giá trị, thể hiện cá tính sáng tạo nổi bật vượt khỏi sự cô lập của thuộc địa.

Những tác giả thuộc địa dường như không biết đến những tác giả Anh tên tuổi như Ben Johnson. Vài người còn chối bỏ các thi sĩ Anh thuộc trường phái khác, do đó đã tách mình khỏi những khuôn mẫu lãng mạn và kịch tính thuần túy nhất mà tiếng Anh đã sản sinh được. Một nguyên nhân nữa khiến nhiều nhà văn thuộc địa không có đủ thông tin là do thiếu sách.

Khuôn mẫu vĩ đại cho cách viết, niềm tin và cách sống lại là Kinh thánh, mà bản dịch tiếng Anh được chuẩn y, thì đã lỗi thời ngay khi vừa xuất bản. Tuổi của Kinh thánh còn già cỗi hơn cả nhà thờ La Mã, chỉ điều đó thôi đã làm cho Kinh thánh trở nên có quyền lực hơn dưới mắt những người Thanh giáo.

Những người Thanh giáo ở New England bám vào các truyền thuyết về dân Do Thái trong Cựu Ước, tin rằng họ, cũng như những người Do Thái, bị ngược đãi vì niềm tin của mình, rằng họ biết được một Thượng đế thật sự, và rằng họ là những người được chọn để thiết lập Jerusalem mới – một Thiên đàng ở trần gian. Người Thanh giáo cũng ý thức được sự tương đồng giữa họ và người Do Thái cổ trong Cựu Ước. Moses đã dẫn dắt dân Israel ra khỏi vòng kiềm giữ của người Ai Cập, với sự giúp đỡ của Thượng đế dùng phép màu tách Biển Đỏ để có thể dắt đoàn người thoát, và cuối cùng nhận được bộ luật thiêng liêng dưới hình thức Mười điều răn. Tương tự Moses, những người lãnh đạo Thanh giáo cảm thấy mình đang cứu dân ra khỏi sự suy đồi tâm linh ở Anh, vượt qua biển dữ một cách kỳ diệu với sự hỗ trợ của Thượng đế, và tạo lập những luật lệ và hình thức chính quyền mới theo ý Chúa.

Những mảnh đất thuộc địa có khuynh hướng hoài cổ, và New England chắc hẳn không phải là ngoại lệ. Những người Thanh giáo ở New England nệ cổ là do cách chọn lựa, niềm tin và tình cảnh của họ.

Samuel Sewall 
(1652 – 1730)

Dễ đọc hơn loại thơ ca đậm màu sắc tôn giáo đầy những trích dẫn Kinh thánh là những bài viết về lịch sử và thế tục, kể lại những sự kiện có thật, sử dụng những tình tiết sống động. Tác phẩm Journal (Nhật ký – 1790) của Thống đốc John Winthrop cung cấp thông tin đáng tin cậy về những ngày đầu của Thuộc địa Vịnh Massachusetts và lý thuyết chính trị Thanh giáo.

Tác phẩm Diary (Nhật ký) của Samuel Sewall, ghi lại những sự kiện từ năm 1674 đến 1729, rất sống động và dấn thân. Sewall thích hợp với phong cách của những tác giả New England buổi đầu mà chúng ta gặp ở Bradford và Taylor. Sinh ở Anh, Sewall được đưa sang thuộc địa từ lúc còn nhỏ. Ông cư ngụ ở vùng Boston, nơi ông tốt nghiệp Harvard, và tạo được sự nghiệp trong lãnh vực luật, hành chính và tôn giáo.

Nhờ sinh sau đẻ muộn, Sewall may mắn được chứng kiến sự thay đổi từ đời sống tôn giáo khắc khổ buổi đầu của tín đồ Thanh giáo đến sau này, bước sang thời kỳ dân Bắc Mỹ buôn bán thịnh vượng hơn ở những thuộc địa New England. Nhật ký của ông, thường được so sánh với nhật ký của một người Anh cùng thời – Samuel Pepys – cũng ngẫu nhiên ghi lại giai đoạn giao thời.

Giống nhật ký của Pepys, nhật ký của Sewall cũng ghi chép tỉ mỉ về đời sống thường nhật của ông, phản ánh những mối bận tâm của ông về cách sống thánh thiện và tốt đẹp. Ông kể lại những chuyện nho nhỏ như mua kẹo tặng một phụ nữ mà ông yêu, cuộc tranh luận giữa họ về việc ông có nên có phong cách quý tộc và sống phù phiếm như mang tóc giả và đi xe sang trọng hay không…

Mary Rowlandson
(Khoảng 1635 đến khoảng 1678)

Là vợ của một luật sư, bà là người viết văn xuôi đầu tiên gây được sự chú ý. Bà đã kể lại một cách rõ ràng, cảm động mười một tuần bị người Da đỏ bắt giữ trong một cuộc tàn sát người Da đỏ năm 1676. Cuốn sách, cố nhiên đã thêm dầu vào ngọn lửa tinh thần chống đối người Da đỏ, như trong cuốn The Redeemed Captive (Tù binh được chuộc mạng 1707) của John William mô tả hai năm bị người Pháp và người Da đỏ bắt giam sau một cuộc thảm sát. Những tác phẩm do phụ nữ sáng tác thường là những câu chuyện kể về đời sống gia đình. Có thể cho rằng văn chương phái nữ hưởng lợi thế từ thế giới hiện thực ấm cúng của gia đình và sự tinh tế do kinh nghiệm sống; chắc chắn những tác phẩm như cuốn Journal (Nhật ký) rất sinh động của Sarah Kemble Knight (xuất bản năm 1825 sau khi bà mất) kể về chuyến đi đơn độc gan dạ năm 1704 từ Boston đến New York và trở về đã thoát ra khỏi sự rối rắm màu mè của lối viết mang phong cách Thanh giáo.

Cotton Mather
(1663 – 1728)

Không một biên khảo nào về văn học thuộc địa New England được gọi là đầy đủ mà không nhắc đến nhà giáo mẫu mực Cotton Mather. Là thế hệ thứ ba trong bốn thế hệ của dòng họ Mather ở Vịnh Massachusetts, ông viết thật tỉ mỉ về New England trong hơn 500 cuốn sách lớn và nhỏ. Cuốn ông viết vào năm 1702 Magnalia Christi Americana (Ecclesiastical History of New England -Lịch sử Giáo hội Cơ đốc ở New England) là tác phẩm thành công nhất của ông, một cuốn biên niên sử toàn diện về công cuộc định cư ở New England thông qua một loạt tiểu sử. Cuốn sách vĩ đại này kể về những cuộc chinh phục thiêng liêng vào những miền đất hoang dã của tín đồ Thanh giáo để thiết lập nên một đất nước của Chúa Trời. Cuốn sách được cấu trúc từ một chuỗi chuyện kể về cuộc đời của các vị thánh Mỹ tiêu biểu.

Nhiệt tâm của ông đã bù đắp một phần nào sự khoa trương trong văn chương của ông: “Tôi viết về những nhiệm màu của đạo Thiên Chúa, bay đi từ những tước đoạt ở châu Âu để đến bến bờ đại dương châu Mỹ”.

Roger Williams 
(khoảng 1603 – 1683)

Suốt từ thế kỷ 17 kéo sang thế kỷ 18, chủ nghĩa giáo điều đã từng bước suy tàn, mặc cho những cố gắng dữ dội và thất thường của người Thanh giáo nhằm cản trở tinh thần khoan dung tôn giáo. Mục sư Roger Williams đã phải đau khổ vì quan điểm riêng của mình về tôn giáo. Là con trai một người thợ may sinh trưởng ở Anh, ông bị trục xuất khỏi Massachusetts giữa mùa đông khắc nghiệt ở New England năm 1635. Được Thống đốc bang Massachusetts John Winthrop bí mật giúp đỡ, ông đã sống sót trong cuộc sống chung với người Da đỏ. Vào năm 1636, ông lập một thuộc địa mới ở Rhode Island, chào đón người dân thuộc mọi tôn giáo.

Dù là một người học vấn cao đã tốt nghiệp đại học Cambridge (Anh quốc), Roger Williams có niềm cảm thông sâu xa với người lao động và với cả những người có quan điểm trái ngược. Tư tưởng của ông đã đi trước thời đại. Ông sớm nhận ra mặt trái của chủ nghĩa đế quốc, duy trì quan điểm rằng những vị vua chúa châu Âu không có quyền ban phát đất đai bởi vì đất Mỹ thuộc về người Da đỏ. Williams cũng tin tưởng vào sự phân lập giữa giáo hội và nhà nước, cho đến nay vẫn còn là một nguyên tắc cơ bản ở Mỹ. Ông cho rằng Tòa án không có quyền trừng phạt người dân vì lý do tôn giáo – một quan điểm làm suy yếu chế độ thần quyền New England. Là người tin tưởng vào quyền bình đẳng và dân chủ, ông là người bạn trung thành của dân Da đỏ. Williams viết nhiều sách, trong đó có một cuốn dạy hội thoại bằng ngôn ngữ người Da đỏ: A Key Into the Languages of America (Chiếc chìa khóa bước vào kho tàng ngôn ngữ ở châu Mỹ -1643). Cuốn sách cũng là một công trình dân tộc học phôi thai, đưa ra những mô tả sắc nét về đời sống của người Da đỏ trong thời gian ông sống với các bộ lạc Da đỏ. Mỗi chương dành cho một chủ đề – ví dụ, ẩm thực và bữa ăn. Những từ và nhóm từ của người Da đỏ về các đề tài này được pha trộn với những lời bình, giai thoại và một bài thơ kết luận. Đây là bài thơ kết của chương đầu tiên:

Nếu những cháu con của Tự nhiên
Dù sơ khai hay đã sống văn minh
Đều lịch thiệp và giàu lòng nhân ái 
Thì tại sao chính những đứa con Ngài
Lại cần sống trong tình đồng loại

Trong một chương về những từ ngữ thuộc lĩnh vực vui chơi giải trí, ông bình luận rằng “có một sự thật lạ lùng là người ta thường tìm được sự nghỉ ngơi và giải trí tự do ở những người bán khai hơn là ở giữa những người tự cho mình là người Thiên Chúa giáo”.

Cuộc đời của Williams đầy những ngẫu hứng độc đáo. Trong một chuyến viếng thăm nước Anh vào thời gian ở đây diễn ra cuộc nội chiến đẫm máu, ông đã liều cả mạng sống của mình trong cái lạnh khủng khiếp ở New England để tổ chức việc cung cấp chất đốt cho những người nghèo ở London trong mùa đông, sau khi nguồn cung cấp than của họ đã bị cắt đứt. Ông cũng đã viết những lời bào chữa sống động cho sự khoan dung tôn giáo, không những chỉ cho những người thuộc giáo phái Thiên Chúa giáo mà còn cho cả những người không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo. Ông đã viết trong cuốn The Bloudy Tenent of Persecution for Cause of Conscience – 1644([5]) rằng: “Đây chính là ý nguyện và mệnh lệnh của Thượng đế… rằng lương tâm và tín ngưỡng cho dù mang tính chất Do Thái, Thổ Nhĩ Kỳ, vô thần hay phản Thiên Chúa giáo nhất, cũng được ban phát cho mọi người, ở mọi quốc gia…”. Không nghi ngờ gì nữa, chính thời gian sống hòa hợp với các bộ lạc Da đỏ hào hiệp và đầy tình người đã góp một phần lớn vào sự thông tuệ của ông.

Sự ảnh hưởng trong các thuộc địa đã diễn ra theo hai hướng. Ví dụ, John Eliot dịch Kinh thánh ra tiếng Narragansett. Trong khi nhiều người Da đỏ lại theo đạo Thiên Chúa. Cho đến ngày nay, giáo hội Mỹ bản địa là một sự kết hợp giữa Thiên Chúa giáo và tín ngưỡng truyền thống của người Da đỏ.

Tinh thần khoan dung và tự do tôn giáo dần phát triển và lớn mạnh ở những thuộc địa Mỹ đầu tiên được thiết lập ở Rhode Island và Pennsylvania, quê hương của giáo phái Quaker([6]) khoan dung, hay được biết đến dưới cái tên “Những người anh em”. Họ tin vào sự thánh thiện của lương tâm mỗi con người như là cội nguồn của trật tự và đạo lý xã hội. Niềm tin cơ bản của giáo phái Quaker vào tình yêu dành cho muôn loài và tình đồng loại đã khiến họ có tinh thần dân chủ sâu sắc và chống lại quyền bính tôn giáo giáo điều. Bị khai trừ ra khỏi Massachusetts hà khắc vì xứ này e sợ ảnh hưởng của họ, họ đã lập nên thuộc địa Pennsylvania rất thành công, đặt dưới sự lãnh đạo của Williams Penn vào năm 1681.

John Woolman
(1720 – 1772)

Tác phẩm Quaker nổi tiếng nhất là cuốn tiểu thuyết dài hơi Journal (Nhật ký – 1774) của John Woolman, ghi chép cuộc sống tinh thần của mình bằng giọng văn chân thành, trong sáng, ngọt ngào được nhiều tác giả Mỹ và Anh khen ngợi. Con người phi thường này từ bỏ căn nhà tiện nghi ở thành phố để lang thang đó đây cùng với những người Da đỏ trong các vùng đất hoang dã vì ông nghĩ rằng ông có thể học hỏi ở họ và chia sẻ ý tưởng với họ. Ông lý giải một cách giản đơn về đam mê của mình, muốn “cảm nhận và hiểu cuộc đời của họ cũng như đời sống tinh thần của họ”. Tinh thần yêu-công- lý của Woolman hẳn nhiên mang tính phê phán xã hội: “Tôi thấy nhiều người Da trắng bán rượu Rhum cho người Da đỏ và tôi tin đó là một tội lớn”.

Woolman cũng là một trong những tác giả đầu tiên chống chế độ nô lệ, bằng việc xuất bản hai tiểu luận Some Considerations on the Keeping of Negroes (Vài nhận định về việc bắt giữ người Da đen) năm 1754 và 1762. Là một nhà văn nhân bản đầy nhiệt huyết, ông đã đi theo con đường “thụ động vâng lời” đối với các nhà cầm quyền và luật pháp mà ông cho là bất công. Tác phẩm của ông dự báo sự ra đời nhiều tiểu luận nổi tiếng của Henry David Thoreau ở các thế hệ sau tác phẩm Civil Disobedience (Sự bất tuân dân sự – 1849).

Jonathan Edwards 
(1703 – 1758)

Người chống lại các luận điểm của John Woolman là Jonathan Edwards, chỉ sinh ra trước tác giả Quaker kia có 17 năm. Woolman không được học tập một cách chính quy trong khi Edwards có học vấn cao. Woolman đi theo ánh sáng nội tâm mình; Edwards hiến mình cho luật pháp và quyền hành. Cả hai là những tác giả xuất sắc, nhưng họ là hai thái cực trong kinh nghiệm về tôn giáo ở thuộc địa.

Chính môi trường Thanh giáo hà khắc và ý thức trách nhiệm cao đã hun đúc nên Edwards, và hai yếu tố này kết hợp để khiến ông đứng ra bảo vệ cho học thuyết Calvin khắc nghiệt và u ám chống lại chủ thuyết tự do bấy giờ đang dấy lên đầy sức sống chung quanh ông. Edwards trở nên nổi tiếng bởi bài thuyết giảng đầy sức mạnh và gieo rắc nỗi kinh hoàng Sinners in the Hands of an Angry God (Những kẻ phạm tội trong bàn tay của một Thượng đế đang phẫn nộ – 1741). “Nếu Chúa buông ra, các ngươi sẽ lập tức chìm xuống, rơi xuống vực sâu của tội lỗi, và đắm chìm trong cái vực sâu vô tận ấy… Chính Chúa đã treo các ngươi trên miệng hỏa ngục như người ta đưa một con nhện hay một con côn trùng kinh tởm nào đó trên ngọn lửa. Ngài ghê tởm các ngươi và Ngài đang bị 27 khiêu khích dữ dội. Ngài nhìn các ngươi như thể các ngươi chẳng đáng gì ngoài việc bị ném xuống vực sâu không đáy ấy”.

Những bài thuyết giảng của Edwards có sức tác động ghê gớm, làm cho cả cộng đồng giáo dân kinh động. Mặc dầu vậy, cuối cùng sự cứng rắn đến mức quái đản của chủ thuyết Calvin mà Edwards dũng cảm bảo vệ đã khiến mọi người phải xa lánh. Những bài giảng giáo điều kiểu trung cổ của Edwards không còn phù hợp với những kinh nghiệm sống của người dân thuộc địa về thế kỷ 18 tương đối thịnh vượng, an bình. Sau Edwards, những khuynh hướng khoan dung tự do, mới mẻ của chủ nghĩa nhân văn ngày càng lớn mạnh.

VĂN HỌC Ở CÁC THUỘC ĐỊA MIỀN NAM VÀ MIỀN TRUNG

Trước Cách mạng, văn học miền Nam mang tính quý tộc và thế tục, phản ánh chế độ kinh tế và xã hội thống trị của những trang trại miền Nam. Những di dân Anh đầu tiên kéo đến những thuộc địa phía Nam vì cơ may kinh tế hơn là vì tự do tôn giáo.

Mặc dầu nhiều người miền Nam là nông dân nghèo hoặc là những người buôn bán nhỏ, sống không khá hơn dân nô lệ là mấy; nhưng giai cấp thượng lưu, trí thức miền Nam được nuôi dưỡng bởi khuôn mẫu lý tưởng của Cựu lục địa về giới quý tộc nắm trong tay đất đai do chế độ nô lệ tạo dựng. Chính thể chế này đã giải phóng những người Da trắng miền Nam giàu có thoát khỏi lao động chân tay, đồng thời mang lại cho họ thú vui và làm cho niềm ước mơ về một cuộc sống quý phái ở châu Mỹ nguyên sơ thành hiện thực.

Những điều mà Thanh giáo đề cao như sự cần cù, học vấn, và lòng nhiệt tình, nghiêm túc đã trở nên hiếm hoi -thay vào đó chúng ta thường nghe nói đến những thú vui quý phái như cưỡi ngựa và săn bắn. Nhà thờ là tâm điểm của đời sống xã hội thanh lịch, chứ không phải là diễn đàn cho sự tự vấn lương tâm một cách kỹ càng.

William Byrd
(1674 – 1744)

Văn hóa phương Nam tự nhiên xoay quanh lý tưởng về con người lịch lãm: Con người thời Phục hưng vừa giỏi quản lý trang trại vừa đọc được sách tiếng Hy Lạp cổ, con người ấy có quyền hành của một lãnh chúa thời phong kiến.

William Byrd đã mô tả lối sống sang trọng, lịch duyệt ở trang trại mình, Westover, trong bức thư nổi tiếng năm 1726 gửi cho một người bạn Anh, Charles Boyle, bá tước xứ Orrery như sau:

Bên cạnh lợi thế về không khí trong lành, chúng tôi còn có đủ các vật dụng dự trữ mà không cần phải tiêu pha tốn kém (tôi muốn nói chúng tôi có nhiều trang trại). Gia đình riêng của tôi rất đông người, và cánh cửa nhà tôi luôn rộng mở đón mọi người, mà tôi chả mấy khi phải tiêu tiền; và cái đồng bạc nửa crown([7]) cứ ngủ yên trong túi của tôi hàng mấy tháng trời.

Như một tộc trưởng, tôi có hàng đàn gia súc và đám đông nô lệ, đàn ông có, đàn bà có. Đám đầy tớ của tôi rất thạo công việc. Tôi sống độc lập với mọi người, ngoại trừ với Đấng Tối cao.

William Byrd tiêu biểu cho tinh thần của giai cấp thượng lưu thuộc địa miền Nam. Thừa kế 1040 mẫu đất, rồi nhân lên thành 7160 mẫu, ông vừa là nhà buôn, nhà ngoại thương vừa là chủ trại. Thư viện với 3.600 cuốn sách của ông lớn nhất miền Nam. Bẩm sinh thông minh lanh lợi, ông được cha mẹ gửi tới học tại các trường tốt nhất ở Anh và Hà Lan để phát triển tài năng. Ông từng đến thăm Cung đình Pháp, trở thành thân hữu của hoàng tộc, và kết bạn thân thiết với nhiều học giả Anh hàng đầu cùng thời với ông, đặc biệt là William Wycherley và William Congreve. Những trang nhật ký của ông về London ngược hẳn với những ghi chép của người Thanh giáo ở New England, đầy những bữa tiệc xa hoa, những dạ hội rực rỡ, rồi chuyện tán tỉnh phụ nữ và rất ít những đoạn suy ngẫm nội tâm.

Ngày nay Byrd rất nổi tiếng với cuốn History of the Dividing Line (Lịch sử một đường phân chia ranh giới), một nhật ký sống động ghi lại cuộc hành trình dài 960 kilômet đi sâu vào nội địa để khảo sát đường phân chia giữa các thuộc địa láng giềng Virginia và Bắc Carolina vào năm 1729. Những ấn tượng sống động của ông về những vùng đất hoang dã mênh mông, người Da đỏ, người Da trắng bán khai, thú hoang, và cơ man những khó khăn xảy đến cho con người lịch lãm văn minh này đã làm nên một cuốn sách mang bản sắc Mỹ độc đáo và đậm đà khí chất miền Nam. Ông chế giễu đám thực dân đầu tiên ở Virginia, “khoảng một trăm gã đàn ông, hầu hết là những kẻ trụy lạc xuất thân từ những gia đình gia giáo” và đùa rằng ở Jamestown, “như người Anh thật sự, họ xây một cái nhà thờ chỉ tốn không hơn 50 bảng, và một cái quán rượu với giá 500 bảng”. Tác phẩm của Byrd là những ví dụ sắc sảo về sự quan tâm sâu sắc của người miền Nam về một thế giới cụ thể: đất đai, người Da đỏ, cây cỏ, muông thú và những người định cư.

Robert Beverley
(khoảng 1673 – 1722)

Robert Beverley là một trại chủ giàu có khác và là tác giả cuốn The History and Present State of Virginia (Lịch sử và tình trạng hiện thời của bang Virginia – 1705, 1722) ghi lại lịch sử của thuộc địa Virginia theo phong cách đầy nhân bản và mạnh mẽ. Cũng như Byrd, ông ngưỡng mộ người Da đỏ và chú ý đến những quan niệm mê tín khá lạ lùng của châu Âu về Virginia – ví dụ, có niềm tin “rằng vùng đất này biến mọi người đến đó thành đen”. Ông cũng ghi nhận lòng hiếu khách vô biên của người miền Nam, một tính cách nổi bật còn duy trì cho đến ngày nay.

Loại văn châm biếm trào phúng -một thể loại văn học đả kích, chế giễu những thói hư tật xấu và sự ngu xuẩn của con người thông qua sự mỉa mai, chế nhạo hoặc là sự hóm hỉnh là thể loại quen thuộc ở thuộc địa miền Nam. Một nhóm người định cư ưa gây gổ viết bài đả kích người sáng lập ra tổ chức từ thiện ở bang Georgia, tướng James Oglethorpe, trong một tập sách mỏng tựa đề A True and Historical Narrative of the Colony of Georgia (Chuyện kể lịch sử và chân thực về thuộc địa Georgia – 1741). Họ giả vờ khen ngợi ông vì ông đã khiến họ nghèo đói và lao động quá sức đến nỗi họ phải phát huy “đức tính khiêm tốn vô giá” và trốn chạy “những lo toan cho bất kỳ một tham vọng xa xôi nào”.

Bài thơ châm biếm rất thẳng thừng có tên “The Sotweed Factor” đả kích thuộc địa Maryland, nơi tác giả, một người Anh tên Ebenezer Cook, đã thử thời vận buôn thuốc lá nhưng không thành. Cook phơi bày những cung cách làm ăn thô bạo, trần trụi của thuộc địa với tinh thần trào lộng sâu sắc, và tố cáo những người dân thuộc địa lường gạt ông ta. Bài thơ kết thúc bằng một lời nguyền rủa cường điệu: “Cầu xin cơn giận dữ linh thiêng làm cho vùng đất này hoang tàn. Vùng đất không có người đàn ông trung thành, cũng như không có người đàn bà tiết hạnh”.

Nhìn chung, văn học thuộc địa miền Nam có thể nói là có mối liên hệ phần nào với truyền thống văn học hiện thực, gần gũi với cuộc sống, mang tính phổ quát và chứa nhiều thông tin. Bắt chước những trào lưu văn học Anh, người miền Nam thể hiện trí tưởng tượng phong phú trong sự quan sát sắc sảo và thông minh, chính xác những điều kiện sống đặc thù của Tân thế giới.

Olaudah Equiano (Gustavus Vassa) 
(khoảng 1745 – khoảng 1797)

Hai tác giả Da đen có tầm quan trọng và nổi bật trong thời kỳ thuộc địa là Olaudah Equiano và Jupiter Hammon. Equiano, một người Ibo đến từ Niger (Tây Phi), là người Da đen đầu tiên ở Mỹ viết một tiểu sử tự thuật mang tênThe Interesting Narrative of the Life of Olaudah Equiano, or Gustavus Vassa, the African (Tự thuật thú vị về cuộc đời của Olaudah Equiano hay Gustavus Vassa, người châu Phi – 1789). Cuốn sách là ví dụ đầu tiên của thể loại truyện kể về người nô lệ trong đó Equiano kể về mảnh đất quê hương mình, những nỗi hãi hùng và sự tàn ác mà ông phải chịu đựng trong thời gian ông bị cầm giữ và làm nô lệ ở West Indies([8]). Equiano đã cải giáo theo đạo Thiên Chúa, than vãn một cách đầy xúc động về cách đối xử “phi Thiên Chúa giáo” của những người Thiên Chúa giáo đối với mình – một cảm xúc mà nhiều người Mỹ – Phi châu sẽ lên tiếng tố cáo trong những thế kỷ tiếp theo.

Jupiter Hammon
(khoảng 1720 – khoảng 1800)

Nhà thơ Mỹ Da den này là nô lệ ở Long Island, New York. Ông được nhớ đến nhờ những bài thơ tôn giáo của mình cũng như nhờ tác phẩm An Address to the Negroes of the State of New York (Nói với người Da đen ở bang New York 1787), trong đó ông kêu gọi giải phóng con cái của người nô lệ thay vì kết án chúng phải làm nô lệ truyền kiếp. Bài thơ “An Evening Thought” (Suy tư buổi chiều hôm) của ông là bài thơ đầu tiên của một người đàn ông da đen được xuất bản ở Mỹ.

[1] Nguyên văn Epistola (tiếng Tây Ban Nha) có nghĩa là thư từ.

[2] Thời đó người ta tin rằng trái đất có hình cái điã.

[3] Calvin: John Calvin (1509-1564), nhà lãnh tự cải cách đạo Tin lành, người Pháp, chủ thuyết do ông khởi xướng và các học trò của ông noi theo được gọi là chủ nghĩa Calvin (Calvinism) có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống văn hóa và tôn giáo ở các nước phương Tây.

[4] Faust: tên nhân vật chính trong tác phẩm cùng tên của Goeth – thi sĩ vĩ đại người Đức.

[5] Tác phẩm này, cũng như một vài quyển sách khác chúng tôi chưa có đủ dữ kiện để dịch tựa sách ra tiếng Việt, xin cáo lỗi cùng bạn đọc.

[6] Quaker: là một giáo phái Thiên Chúa tôn thờ Chúa Jesus, từ chối những nghi thức trịnh trọng, giáo điều và có những hoạt động phản đối chiến tranh và bạo lực.

[7] Đồng crown trị giá 5 shilling (bảng Anh), đồng nửa crown là 2,5 shilling.

[8] West Indies: các đảo Tây Ấn, bao quanh biển Caribbean.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_i.html

Văn học Mỹ

To kill a mockingbird (1962)

‘To Kill a Mockingbird’ và bài ca về tình đồng loại

Hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng bộ phim với những thông điệp đầy nhân văn, ý nghĩa vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến khán giả yêu điện ảnh hôm nay.
Bộ phim kết thúc bằng câu thoại bất hủ “Like kill a mockingbird” (như là giết một con chim nhại) – những gì người ta sẽ làm nếu buộc tội giết người cho một kẻ thiểu năng, bất thường như Boo Radley. Bởi lẽ, Boo cũng giống như một con chim nhại – loài chim vô hại nhưng trở nên đáng ghét chỉ bởi tiếng hót bị người ta cho là khó ưa. Gần hết cuộc đời mình, Boo cũng sống trong định kiến của cộng đồng như một con quái vật đáng ghê sợ, một mối nguy hiểm luôn rình rập chỉ bởi anh ta khác mọi người.
Bộ phim "Giết con chim nhại" từng giành 3 giải Oscar vào năm 1963 cho "Nam diễn viên chính xuất sắc" (Gregory Peck), "Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc" và "Kịch bản chuyển thể xuất sắc".

Bộ phim “Giết con chim nhại” từng giành ba giải Oscar vào năm 1963 cho “Nam diễn viên chính xuất sắc” (Gregory Peck), “Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc” và “Kịch bản chuyển thể xuất sắc”.

Được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn nữ Harper Lee,To Kill a Mockingbird khai thác chủ đề về sự khác biệt và khả năng chấp nhận sự khác biệt trong một cộng đồng. Từ ngôi kể thứ nhất của nhân vật chính là cô bé Scout, đạo diễn Robert Mulligan đưa người xem đến với miền Nam nước Mỹ những năm 1930 của thế kỷ 20. Đó là buổi đầu của kỷ nguyên nô lệ, của nạn phân biệt chủng tộc khắc nghiệt đánh dấu một thời kỳ đen tối, khủng hoảng bậc nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Scout, Jem và Dill là những đứa trẻ lớn lên trong một khu phố nhỏ ở Maycomb cùng người cha đáng kính Atticus Finch. Tuổi thơ của chúng là những kỳ nghỉ hè và những trò rình rập, quậy phá quanh ngôi nhà của một người đàn ông bí ẩn chỉ ra ngoài vào ban đêm, chuyên bắt sóc và mèo để ăn sống…

Đến một ngày, vụ án kinh động cả thị trấn xảy ra. Tom Robinson – một người da đen bị buộc tội cưỡng hiếp một phụ nữ da trắng. Atticus được giao làm luật sư phản biện cho bị cáo. Scout, Jem và Dill đồng hành cùng cha trong cuộc chiến đấu cho công lý, cho sự thật, sự công bằng ấy và từ đó mà nhận ra những bài học ý nghĩa trong cuộc sống và trưởng thành…

Lấy ý tưởng từ hình ảnh những con chim nhại – loài chim vô hại nhưng vốn bị kỳ thị, nhà văn Harper Lee đã viết nên cuốn tiểu thuyết đầu tiên và duy nhất của đời mình về tình đồng loại. Trên cơ sở đó, đạo diễn Robert Mulligan đã chuyển thể tương đối trung thành và trọn vẹn nội dung, tư tưởng của cuốn sách lên phim.

Câu chuyện của cô bé Scout kể cho khán giả về “những con chim nhại” của miền Nam nước Mỹ những năm 1930. Đó là Tom – một anh chàng hiền lành, lương thiện, hay giúp đỡ mọi người nhưng mang tội lỗi vì là người da màu. Đó là Boo – một cậu học sinh hiếu học, trong sáng nhưng gần suốt cuộc đời phải sống trong bóng tối vì là kẻ thiểu năng, nửa điên nửa dại trong mắt mọi người.

Luật sư Atticus và ba đứa trẻ

Luật sư Atticus Finch và ba đứa trẻ Scout, Jem, Dill.

Họ là cả những người da trắng, cả những người da đen, không trừ ai, đều phải sống sau những rào cản là định kiến xã hội mà không thể vượt qua. Không những thế, để chối bỏ họ một cách tuyệt đối, người ta còn sẵn sàng nghĩ ra những âm mưu, rắp tâm đẩy họ vào bước đường cùng.

Tom Robinson đã phải chịu một kết cục bi thảm để cứu lấy danh dự và lòng tự trọng của mình trước khi tiếp tục bị những kẻ xấu lặng mạ, vu khống theo cái cách phàm phu, thô bạo nhất. Boo Harley may mắn hơn khi cuối cùng cũng có người nhận ra anh, chấp nhận anh nhưng không có nghĩa vì thế mà anh thoát khỏi thân phận là một cái bóng dật dờ đi bên lề xã hội.

Ở một giới hạn nào đó, công lý đã lên tiếng khi lấy mạng để đền mạng cho một con người lương thiện phải chết oan. Tuy nhiên, bức tranh hiện thực xã hội Mỹ giai đoạn khủng hoảng ấy cũng không vì thế mà tươi sáng thêm khi quyền lực vẫn nằm trong tay kẻ cầm súng và những kẻ đặc quyền mang màu da của người làm chủ.

Trên một khía cạnh khác, To Kill a Mockingbird còn gửi đến một bài học sâu sắc về tầm quan trọng của giáo dục đối với mỗi người. Trường học, ngoài mục đích đầu tiên là truyền dạy kiến thức, còn có ý nghĩa lớn lao trong việc dạy cho con người biết sợ và biết kiểm soát, kiềm chế bản thân.

Sự khác nhau giữa người có học và người không có học nằm ở chỗ: Trong khi Bob Ewell sẵn sàng nhổ toẹt nước bọt vào mặt đối phương trước khi bất cứ cuộc trò chuyện nào kịp diễn ra thì Atticus Finch, trước hành động lỗ mãng ấy, tuyệt nhiên không có bất cứ hành động trả đũa nào. Ông chỉ im lặng, rút khăn lau mặt rồi quay lưng bỏ đi. Người có học sẽ biết kiểm soát và làm chủ cảm xúc thay vì hành xử hoang dại và thiếu suy nghĩ như những người chưa từng được đến trường.

Không chỉ thành công trong việc chuyển hóa nhuần nhuyễn và trọn vẹn nhiều tầng chủ đề trong dung lượng thời gian cho phép, To Kill a Mockingbird còn được xếp vào một trong những phim thành công về ngôn ngữ tạo hình điện ảnh. Những cuộc rình rập, rượt đuổi trong đêm với sự hỗ trợ đắc lực của âm nhạc dồn dập, căng thẳng như nhịp thở của đứa trẻ hoảng hốt trốn chạy thực sự kéo người xem vào cuộc để cùng tham gia vào những trò ú tim. Máy quay không rời người kể chuyện (Scout) nửa bước đã kéo khán giả gần lại chiếc xích đu cót két về đêm, những bờ rào lạnh lẽo hay những lối đi dưới hàng cây tăm tối… theo đúng như cách cô bé sáu tuổi lắng nghe và cảm nhận.

Chủ đề về sự phân biệt đối xử được đan cài khéo léo vào những tình tiết được xử lý tinh tế mà không quá phô trương. Người xem sẽ không thể quên cách cậu bé da màu lần đầu tiên loay hoay với bộ dao, dĩa để hì hục cắt những miếng thịt trong đĩa hay như cách một nhóm người da đen đang trò chuyện bỗng dưng im bặt khi gã nông dân người da trắng đến và sẵn sàng tuân theo mọi sai bảo của hắn mà tuyệt nhiên không thắc mắc gì.

Phim nói về thời kỳ đen tối của nước Mỹ khi sự phân biệt giàu nghèo, giai cấp và màu da còn quá lớn.

Phim nói về thời kỳ đen tối của nước Mỹ khi sự phân biệt giàu nghèo, giai cấp và màu da còn quá lớn.

Những quy định ngầm về thân phận, địa vị xã hội được đạo diễn Robert Mulligan chuyển tải bằng một lối kể chuyện thông minh, giàu liên tưởng. Đặc biệt, dụng ý của việc sử dụng màu phim cũ (trắng – đen) thay vì phim màu như trào lưu đang lên vào những năm 1960 cũng là một lựa chọn hoàn toàn thuyết phục của ông. Chính mỗi thước phim sẽ là lời tố cáo trần trụi nhất cho một sự thật đen tối về nạn phân biệt chủng tộc của nước Mỹ một thời.

Một trong những điều phi thường khác của To Kill a Mockingbird có lẽ đến từ dàn diễn viên. Luật sư Finch – người cha đáng kính của những đứa trẻ chính là vai diễn đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của Gregory Peck. Vai diễn mang về cho ông một tượng vàng Oscar đồng thời đóng đinh ông vào hình tượng một người cha ân cần, lương thiện, đại diện cho công lý và lẽ phải.

Bên cạnh đó, Robert Mulligan cũng rất may mắn khi có được một dàn diễn viên đồng đều và xuất sắc đến thế. Họ có thể không phải là những người xuất sắc trong suốt sự nghiệp của mình nhưng chắc chắn đều đã “xuất thần” khi đứng cùng nhau ở đây.

Dù chỉ xuất hiện ở nửa sau và những phút cuối của bộ phim, James Anderson (vai Bob Ewell) với cách liếm môi, chiếc mũ phớt, ánh mắt nham hiểm và thái độ xấc xược cũng khiến khán giả chỉ muốn lao vào màn ảnh để đánh đập, rủa xả. Collin Wincox Paxton – người phụ nữ như hoá điên dại, tóc tai rối bời, vừa mấp máy môi vừa co giật sau cú sốc tâm lý vì bị bạo hành; Brock Peters – người da đen nhút nhát, lương thiện đến toát mồ hôi khi đứng trước toà… cũng là những vai diễn khó quên của bộ phim.

Anh Mai

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/diem-phim/to-kill-a-mockingbird-va-bai-ca-ve-tinh-dong-loai-2937035.html

http://www.edmondschools.net/portals/3/docs/sue%20newman/tkam%20text/to_kill_a_mockingbird_text.pdf