Browsing Category

Văn học Mỹ

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 3: Thời kỳ lãng mạn 1820-1860

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998


NHỮNG CÂY BÚT TIỂU LUẬN VÀ CÁC THI SĨ

Chủ nghĩa lãng mạn, bắt nguồn từ Đức rồi nhanh chóng lan sang Anh, Pháp và xa hơn, rồi đến Mỹ khoảng năm 1820, trên dưới 20 năm sau khi William Wordsworth và Samuel Taylor Coleridge làm cuộc cách mạng thi ca Anh bằng việc xuất bản tập Lyrical Ballads (Thơ trữ tình). Ở Mỹ cũng như châu Âu thời đó, một quan điểm mới mẻ tươi tắn truyền đi như dòng điện trong giới nghệ sĩ, trí thức. Tuy vậy, cũng có một sự khác biệt quan trọng: chủ nghĩa lãng mạn ở Mỹ xảy ra cùng lúc với thời kỳ bành trướng quốc gia và sự khám phá giọng điệu riêng của nước Mỹ. Sự củng cố đặc trưng quốc gia và sự trỗi dậy của chủ nghĩa lý tưởng cùng với niềm đam mê chủ nghĩa lãng mạn đã nuôi dưỡng những kiệt tác của “thời Phục hưng Mỹ”.

Những tư tưởng lãng mạn tập trung quanh nghệ thuật như nguồn cảm hứng, như chiều kích thẩm mỹ và tâm linh của cõi tự nhiên và như những ẩn dụ về sự phát triển hữu cơ.

Những tác gia của chủ nghĩa Lãng mạn lý luận rằng nghệ thuật, chứ không phải khoa học, có thể diễn tả tốt nhất về chân lý phổ quát. Họ cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của nghệ thuật biểu hiện đối với mỗi cá nhân và xã hội. Trong tiểu luận The Poet (Nhà thơ – 1844) Ralph Waldo Emerson, có lẽ là tác giả có ảnh hưởng lớn nhất của thời kỳ Lãng mạn, khẳng định:

Con người ta sống bằng chân lý và có nhu cầu tự biểu hiện. Trong tình yêu, trong nghệ thuật, trong lòng tham, trong chính trị, trong lao động, trong vui đùa, chúng ta học để thốt ra những bí ẩn đau đớn của chúng ta. Con người chỉ là một nửa của mình, nửa kia chính là sự diễn đạt tư tưởng của anh ta.

Sự phát triển cái tôi trở thành một chủ đề quan trọng; trong đó sự tự nhận thức là phương pháp cơ bản. Nếu theo lý luận của chủ nghĩa lãng mạn, cái tôi của con người và tự nhiên là một, thì sự tự biết mình không phải là mục đích hoàn toàn vị kỷ mà là một cách nhận thức có hướng mở ra cùng toàn thể vũ trụ.

Khi cái tôi của một người cũng hợp nhất làm một với toàn nhân loại thì khi ấy mỗi cá nhân có một bổn phận đạo đức trong việc cải tạo những bất bình đẳng trong xã hội và làm vơi đi nỗi khổ đau của con người. Bản ngã -cái tôi được các thế hệ trước cho là đầy tính vị kỷ đã được định nghĩa lại. Những từ kép mới với ý nghĩa tích cực đã xuất hiện: “tự nhận thức”, “tự biểu hiện”, “tự tín”. Khi cái tôi chủ quan đơn nhất trở nên quan trọng, thì lãnh địa tâm lý cũng trở thành quan yếu. Những kỹ thuật và hiệu quả mang tính nghệ thuật đặc biệt được phát triển để khơi dậy những trạng thái tâm lý cao cấp. Cái “siêu phàm” – hiệu quả của cái đẹp trong sự hùng vĩ (ví dụ, một cảnh quan nhìn từ một đỉnh núi) – đã tạo ra những cảm giác sợ hãi, tôn kính, choáng ngợp và sức mạnh vượt ra ngoài sự hiểu biết của con người.

Chủ nghĩa Lãng mạn chiếm ưu thế và thích hợp với hầu hết những nhà thơ và những nhà tiểu luận Mỹ. Rừng núi bao la, sa mạc vô tận và miền nhiệt đới mênh mông của nước Mỹ là hiện thân của cái “siêu phàm”. Tinh thần lãng mạn dường như đặc biệt thích hợp với nền dân chủ Mỹ: nó đề cao chủ nghĩa cá nhân, tôn vinh giá trị của con người bình thường, và hướng vào sự tưởng tượng đầy cảm hứng để tìm những giá trị thẩm mỹ và đạo đức. Chắc hẳn những tác giả theo chủ nghĩa siêu nghiệm ở New England: Ralph Waldo Emerson, Henry David Thoreau và bằng hữu của họ – đã được trào lưu Lãng mạn kích thích để vươn tới một sự khẳng định lạc quan và mới mẻ. New England chính là mảnh đất màu mỡ của hạt giống lãng mạn chủ nghĩa.

CHỦ NGHĨA SIÊU NGHIỆM

Phong trào Siêu nghiệm trong văn học là sự phản ứng chống lại chủ nghĩa Duy lý thế kỷ thứ 18 và là biểu hiện của khuynh hướng nhân bản trong các trào lưu tư tưởng thế kỷ thứ 19. Trào lưu này đặt nền tảng trên niềm tin cơ bản vào sự hợp nhất của Thế giới và Thượng đế. Linh hồn của mỗi cá nhân được xem là đồng dạng với vũ trụ – một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ. Học thuyết về tự – tin – cậy và chủ nghĩa cá nhân đã phát triển thông qua niềm tin vào sự đồng nhất của linh hồn mỗi con người với Thượng đế.

Trào lưu Siêu nghiệm gắn bó mật thiết với Concord, một làng nhỏ ở New England cách Boston 32km về phía tây. Concord là vùng định cư sâu trong đất liền đầu tiên của thuộc địa Vịnh Massachusetts buổi ban đầu. Được rừng cây bao quanh, nó đã và vẫn là một thị trấn thanh bình đủ gần để có thể tiếp xúc với những bài giảng, những hiệu sách và những trường đại học ở Boston để có thể gặt hái thật nhiều quả ngọt tri thức, nhưng cũng đủ xa để giữ được sự thanh khiết. Concord cũng là nơi xảy ra cuộc chiến đầu tiên của cách mạng Hoa Kỳ và bài thơ của Ralph Waldo Emerson tưởng nhớ về trận chiến đó, Concord Hymn (Bản tụng ca Concord), có một khổ thơ mở đầu nổi tiếng trong văn học Mỹ:

Bên chiếc cầu thô sơ bắc ngang dòng nước
Lá cờ bay trong gió tháng Tư
Đã có thời ở đây người nông dân đứng lên chiến đấu
Tiếng súng của họ vang lên trên khắp địa cầu.

Concord là lãnh địa thôn dã đầu tiên của các nghệ sĩ Mỹ và là nơi đầu tiên cống hiến một chọn lựa tinh thần và văn hóa cho chủ nghĩa vật chất Mỹ. Nó cũng là nơi diễn ra các cuộc đàm luận tư tưởng và cuộc sống giản đơn đạm bạc (cả Emerson lẫn Henry David Thoreau đều tự trồng rau). Emerson đến Concord năm 1834, và Thoreau là những người gắn bó nhất với thị trấn này, nhưng địa danh này cũng lôi cuốn cả nhà văn Nathaniel Hawthorne, nhà văn đấu tranh cho nữ quyền Margaret Fuller, nhà giáo dục (và là cha của nhà văn Louisa May Alcott) Bronson Alcott, và nhà thơ William Ellery Channing. Câu lạc bộ Siêu nghiệm được tổ chức một cách rất thoáng đạt vào 1836 và bao gồm, ở nhiều thời điểm, Emerson, Thoreau, Fuller, Channing, Bronson Alcott, Orestes Brownson (một mục sư hàng đầu), Theodore Parker (một mục sư ủng hộ bãi bỏ chế độ nô lệ) và những người khác.

Những người theo chủ nghĩa Siêu nghiệm xuất bản một tạp chí ra hàng quý, tờ The Dial, tồn tại được 4 năm. Margaret Fuller làm chủ bút đầu tiên và về sau là Emerson. Họ dấn thân cả vào lĩnh vực cải cách xã hội cũng như văn học. Một số người theo chủ nghĩa Siêu nghiệm ủng hộ việc bãi bỏ chế độ nô lệ, và một số tham gia vào các cộng đồng của chủ nghĩa xã hội không tưởng thử nghiệm, chẳng hạn như Brook Farm (Trại Brook) ở gần đấy (được Hawthorne mô tả trong cuốn The Blithedale Romance (Khúc ca thung lũng hạnh phúc) và Fruilands.

Khác với nhiều nhà văn châu Âu, các nhà văn theo phái Siêu nghiệm không đưa ra một bản tuyên ngôn nào. Họ vẫn duy trì quan điểm về những khác biệt cá nhân – về kiến quan độc đáo của cá nhân. Về mặt này, các nhà văn lãng mạn Siêu nghiệm Mỹ đẩy chủ nghĩa cá nhân tiến bộ đến cực điểm. Các nhà văn Mỹ thường xem mình là những người thám hiểm đơn độc bên ngoài cơ cấu và quy ước xã hội. Người hùng Mỹ – như thuyền trưởng Ahab của Herman Melville, Huck Finn của Mark Twain hay Arthur Gordon Pym của Edgar Allan Poe – thường đương đầu với hiểm nguy, thậm chí với cả sự hủy diệt, trong việc theo đuổi sự tìm kiếm bản thân mang tính chất siêu hình. Đối với các nhà văn lãng mạn Mỹ chẳng có gì là điều chắc chắn. Những quy ước trong văn học và xã hội, chẳng mảy may có ích lợi gì, lại nguy hiểm. Một áp lực khổng lồ thúc bách các nhà văn khám phá ra một hình thức, nội dung và tiếng nói cho một nền văn học đích thực – tất cả đều cùng một lúc. Rõ ràng, nhiều kiệt tác sản sinh ra trong 3 thập kỷ trước cuộc nội chiến Mỹ (1861 – 1865) là kết quả của việc các nhà văn Mỹ vươn lên đối đầu với thử thách.

Ralph Waldo Emerson 
(1803 – 1882)

Ralph Waldo Emerson, nhân vật hàng đầu trong thời kỳ của ông, đã có ý thức về một sứ mệnh có ý nghĩa tôn giáo. Mặc dù nhiều người lên án ông là đã phá hoại Thiên Chúa giáo, ông giải thích rằng, với ông “để phụng sự Chúa tốt hơn ông cần phải ra khỏi nhà thờ”. Bài diễn văn ông đọc năm 1838 ở trường học của mình, trường Harvard Divinity (Harvard Hiển Linh) khiến ông lại cấm cửa suốt 30 năm. Trong bài này, Emerson kết tội Giáo hội là đã hành xử “như thể Chúa đã chết” và đã nhấn mạnh các giáo điều đồng thời bóp nghẹt đời sống tinh thần của con người.

Triết lý của Emerson được gọi là triết lý ngược, và đúng là ông đã có ý thức tránh xây dựng một hệ thống lý luận logic vì một hệ thống duy lý như thế sẽ phủ nhận niềm tin lãng mạn của ông vào trực giác và tính bất định của tâm hồn con người. Trong tiểu luận Self-Reliance (Tự tin vào mình) của ông, Emerson nhấn mạnh: “Sự kiên định ngu si là lũ quỷ trong những đầu óc bé nhỏ”. Tuy vậy, ông đã kiên định một cách phi thường trong lời kêu gọi khai sinh chủ nghĩa cá nhân Mỹ, lấy tự nhiên làm cảm hứng sáng tạo. Hầu hết những ý tưởng chủ đạo của ông: nhu cầu về một tầm nhìn quốc gia có tính đổi mới, phát huy các kinh nghiệm cá nhân, khái niệm Linh-Hồn-Toàn- Năng của vũ trụ và chủ thuyết đền bù, được đề cập đến trong tác phẩm đầu tiên của ông, Nature (Tự nhiên – 1836). Tiểu luận này được mở đầu như sau:

Thời đại chúng ta đang quay nhìn lại quá khứ. Nó xây lăng tẩm cho thế hệ cha ông. Nó viết tiểu sử, lịch sử và phê bình. Những thế hệ đi trước chiêm ngưỡng Thượng đế và thiên nhiên một cách trực diện, còn chúng ta nhìn Thiên nhiên và Thượng đế qua cái nhìn của họ. Tại sao chúng ta lại không sẵn lòng trong mối quan hệ nguyên sơ với vũ trụ? Tại sao chúng ta lại không có loại thi ca kiến giải nội tâm mà không đi theo truyền thống, và một tôn giáo mặc khải cho chúng ta, chứ không phải lịch sử của các tôn giáo và truyền thống của họ. Được bao bọc suốt một mùa bởi thiên nhiên, những cơn lũ của dòng đời tuôn trào, tràn qua chúng ta, dùng hết quyền năng dồi dào của chúng để mời gọi chúng ta hành động hài hòa với tự nhiên, vậy thì tại sao chúng ta lại dò dẫm trong đám xương khô của quá khứ…? Ngày hôm nay mặt trời vẫn soi sáng. Ngoài kia trên cánh đồng có thêm nhiều len và bông. Có thêm những miền đất mới, những con người mới, những tư tưởng mới. Chúng ta hãy yêu cầu có được những tác phẩm, những luật lệ và sự tôn thờ của riêng ta.

Emerson yêu thích Montaigne, một thiên tài trác tuyệt người Pháp thế kỷ 16, chuyên viết tiểu luận. Ông đã từng nói với Bronson Alcott rằng ông muốn viết một cuốn sách giống như cuốn sách của Montaigne “đầy chất thơ, tràn ngập niềm vui, thần tính, triết lý, dụ ngôn và các truyện thông tục”. Ông trách cứ rằng văn phong trừu tượng của Alcott đã bỏ đi “cái ánh sáng lấp lánh trên nón của con người, và trên cái thìa của một đứa bé”.

Kiến quan tâm linh và cách diễn đạt vừa thâm thúy sâu sắc vừa thực tiễn khiến cho văn Emerson sinh động, đầy phấn khích. Một trong những nhà văn theo phái Siêu nghiệm ở Concord đã so sánh rất hay giữa việc nghe ông nói chuyện với cảm giác “vọt một phát lên tới trời”. Phần lớn những kiến giải tâm linh của ông bắt nguồn từ việc nghiên cứu tôn giáo phương Đông, đặc biệt là Ấn Độ giáo, Khổng giáo và Đạo thần bí Hồi giáo (Sufi). Ví dụ, bài thơ Brahma của ông dựa trên nguồn gốc Ấn giáo để khẳng định trật tự của vũ trụ là vượt khỏi cảm quan giới hạn của con người có sinh có tử.

Nếu kẻ sát nhân hung ác biết hắn đang chém giết
Hay người bị tàn sát biết mình bị hại
Họ không hay biết những con đường huyền ảo
Tôi đã giữ, đã vượt qua, và rồi quay trở lại.

Cả những gì xa xôi, bị quên lãng với tôi đều quen thuộc
Bóng tối và ánh sáng, có gì đâu, là một
Những thiên thần biến đi lại trở lại tôi;
Nỗi ô nhục, niềm vinh quang với tôi cũng là một mà thôi

Họ đã nghĩ xấu và rời bỏ tôi
Khi họ bay đi, tôi chính là đôi cánh;
Tôi – kẻ nghi ngờ và mối hiềm nghi,
Tôi là khúc tụng ca vị giáo sĩ ngân nga

Những thần linh oai vũ mong muốn chốn trú ngụ của tôi
Và ước ao vô vọng về Bảy Đấng thiêng liêng.
Nhưng em, người yêu dịu hiền của điều thiện
Hãy tìm tôi, và cùng quay lưng lại với Thiên đường.

Bài thơ này, in trong số đầu tiên của tạp chí Atlantic Monthly (1857), làm cho độc giả bối rối ngỡ ngàng bởi Brahma, vị thần Ấn Độ giáo cao nhất, linh hồn vĩnh cửu và vô tận của vũ trụ còn xa lạ với họ. Emerson khuyên độc giả của mình: “Hãy bảo họ đọc tên Jehovah thay cho Brahma”.

Nhà phê bình người Anh Matthew Arnold nói rằng những tác phẩm quan trọng nhất viết bằng tiếng Anh của thế kỷ 19 là những bài thơ của Wordsworth và những tiểu luận của Emerson. Là một nhà thơ – văn xuôi vĩ đại, Emerson đã có ảnh hưởng lớn đến một loạt các nhà thơ Mỹ, bao gồm Walt Whitman, Emily Dickinson, Edwin Arlington Robinson, Wallace Stevens, Hart Crane, và Robert Frost. Ông cũng được thừa nhận là người ảnh hưởng đến tư tưởng triết học của John Dewey, George Santayana, Friedrich Nietzsche và William James.

Henry David Thoreau 
(1817 – 1862)

Henry David Thoreau, có dòng máu Pháp và Scotland, sinh ở Concord và chọn nơi đây làm chốn định cư. Xuất thân từ một gia đình nghèo, cũng như Emerson, ông vừa làm việc vừa học Đại học Harvard. Trong suốt cuộc đời mình, ông giảm thiểu nhu cầu của mình đến mức đơn giản nhất và xoay xở để sống với một số tiền ít ỏi, vì vậy duy trì được sự độc lập của mình. Thực chất, ông đã sống bằng chính nghề của mình.

Là một người theo chủ nghĩa khắc kỷ, ông cố gắng thực hiện những nguyên tắc sống cứng rắn trong mọi thời điểm của cuộc đời. Nỗ lực này là chủ đề cho nhiều tác phẩm của ông.

Kiệt tác của Thoreau, Walden, hay là Life in the Woods (Cuộc sống trong rừng 1854), tổng kết 2 năm, 2 tháng và 2 ngày (từ 1845 -1847) sống trong một túp lều ông dựng lên ở Walden Pond (Hồ Walden) trên phần đất Emerson sở hữu. Trong cuốn Walden, Thoreau cố ý dồn khoảng thời gian trên vào một năm, và cuốn sách được cấu trúc một cách chu đáo để các mùa trong năm xuất hiện đúng theo tuần tự một cách tinh tế. Cuốn sách cũng được sắp xếp sao cho những điều quan tâm trần tục đơn giản nhất xuất hiện trước (trong phần gọi là 73 “kinh tế”, ông mô tả chi phí xây dựng một túp lều); khi kết thúc, cuốn sách tiến đến sự chiêm nghiệm về các vì tinh tú.

Trong cuốn Walden, Thoreau, người yêu thích sách du ký và là tác giả nhiều cuốn du ký cho chúng ta một cuốn sách phản du ký đã khai mở một cách nghịch lý biên giới nội tâm của sự tự khám phá, một điều không một cuốn sách nào ở Mỹ làm được cho đến thời điểm đó. Cuốn sách cũng có vẻ khiêm tốn như cuộc đời khổ hạnh của Thoreau, nó không gì hơn là một cuốn cẩm nang để sống theo cái lý tưởng cổ điển về một cuộc sống tốt đẹp. Vừa là thơ ca và triết học, cuốn tiểu luận dài, giàu chất thơ này kêu gọi độc giả xét lại đời mình và sống cuộc đời đó một cách thực sự. Việc xây dựng một túp lều được mô tả chi tiết, là một ẩn dụ cụ thể cho việc xây dựng linh hồn một cách cẩn trọng. Trong nhật ký của mình ngày 30 tháng Giêng 1852, Thoreau giải thích niềm yêu thích muốn sống cắm rễ sâu vào một mảnh đất: Tôi sợ đi đó đi đây nhiều hoặc đến những nơi danh thắng, vì e rằng nó sẽ làm thương tổn hoàn toàn trí óc.

Cách sống ẩn dật và tập trung tư tưởng của Thoreau giống như phương pháp Thiền định ở châu Á. Sự tương đồng đó không phải là tình cờ; cũng như Emerson và Whitman, ông bị ảnh hưởng bởi triết học Ấn Độ giáo và Phật giáo. Tài sản quý giá nhất của ông là thư viện gồm những tác phẩm kinh điển của châu Á, sở hữu chung của ông và Emerson. Văn phong chiết trung của ông chọn lọc từ những tác phẩm kinh điển Hy Lạp và Latin thì trong sáng như pha lê, sử dụng biện pháp chơi chữ và giàu ẩn dụ như những tác giả siêu hình Anh vào cuối thời Phục hưng.

Trong tác phẩm Walden, Thoreau không chỉ kiểm chứng những lý thuyết của chủ nghĩa Siêu nghiệm; ông tái biểu hiện lại kinh nghiệm chung của nước Mỹ hồi thế kỷ 19: cuộc sống ở nơi hoang vu. Thoreau cảm thấy rằng sự đóng góp của ông có thể sẽ làm sống lại nhận thức về tự nhiên hoang dã trong địa hạt ngôn ngữ. Nhật ký của ông có một phần không ghi ngày tháng vào năm 1851 như sau:

Văn học Anh, từ thời của những người hát rong trung cổ cho đến những nhà thơ Hồ[1], gồm cả Chaucer, Spenser, Shakespeare và Milton, không hề có giọng điệu mới mẻ và, theo cái nghĩa này, không có hơi hướng hoang dại chút nào. Nó chủ yếu là một nền văn học đã thuần tinh và gọt giũa, phản ánh văn minh Hy-La. Tính cách hoang dã của nó chỉ ở mức một cánh rừng xanh, con người hoang dã chỉ là Robin Hood, có rất nhiều tình yêu tràn trề đối với thiên nhiên trong các nhà thơ xứ này, nhưng trong chính nền văn học Anh lại vắng bóng dáng của thiên nhiên. Những cuốn biên niên sử của nó cho ta biết lúc nào những con thú hoang của nó, chứ không phải nhữngcon người hoang dã trong nó, bị tuyệt chủng. Đó là điều nước Mỹ cần phải biết.

Walden tạo nguồn cảm hứng cho William Butler Yeats, một người Ireland nhiệt thành theo chủ nghĩa dân tộc, viết bài thơ The Lake Isle of Innisfree(Hồ trên đảo Innisfree), còn bài tiểu luận Civil Disobedience (Sự bất tuân dân sự) của Thoreau, với lý thuyết phản kháng thụ động dựa trên nhu cầu đạo đức cho phép cá nhân công chính bất tuân thứ pháp luật bất công, là nền tảng tinh thần cho phong trào đấu tranh giành độc lập ở Ấn Độ của Mahatma Gandhi và cuộc đấu tranh nhân quyền cho người Mỹ Da đen vào thế kỷ 20 của Martin Luther King.

Cho đến nay, Thoreau là tác giả được ưa thích nhất trong số những người theo chủ nghĩa Siêu nghiệm bởi ý thức về môi sinh, quan điểm độc lập chỉ trông cậy vào bản thân, yêu cầu (1) Các nhà thơ Hồ (Lake Poets): nhóm nhà thơ Anh sống ở quận Lake, gồm có: Wordsworth, Coleridge và Southey… có tính cách đạo đức với việc bãi bỏ chế độ nô lệ và lý thuyết chính trị về sự bất tuân của công dân và sự phản kháng trong hòa bình của ông. Những tư tưởng của ông vẫn còn mới mẻ, văn phong sắc sảo đầy chất thơ và thói quen quan sát cụ thể chính xác của ông vẫn còn rất hiện đại.

Walt Whitman 
(1819 – 1892)

Sinh ra ở Long Island, New York, Walt Whitman có nghề tay trái là thợ mộc. Ông là một người con của nhân dân Mỹ qua các tác phẩm cách tân, sáng chói của mình đã nói lên được tinh thần dân chủ của đất nước. Whitman chủ yếu tự học; ông bỏ học lúc 11 tuổi để đi làm, đánh mất cái cơ hội có được nền giáo dục chính thống đã làm cho hầu hết các tác giả Mỹ trở thành những kẻ mô phỏng đáng kính của nền văn học Anh. Tập thơ Leaves of Grass (Lá cỏ – 1855) của ông, một tác phẩm mà ông đã viết đi viết lại và chỉnh lý trong suốt cuộc đời, có bài Song of Myself (Bài ca tự ngã), một bài thơ độc đáo trác tuyệt nhất từ trước đến nay do một người Mỹ viết. Lời ngợi khen hết mình mà Emerson và một vài người khác đổ tới tấp lên tập thơ hết sức dấn thân này, khẳng định Whitman trong sự nghiệp thi ca của ông, mặc dù thành công của cuốn sách không được rộng khắp lúc đương thời.

Là một cuốn sách đi trước thời đại, ca ngợi mọi sự sáng tạo, Leaves of Grass được lấy cảm hứng chủ đạo từ những tác phẩm của Emerson, đặc biệt tiểu luận The Poet (Thi sĩ) của ông, từng dự đoán sự ra đời của một lớp thi sĩ đầy sức mạnh, có tầm nhìn khoáng đạt và trái tim rộng mở với 77 cuộc đời giống với Whitman một cách lạ kỳ. Lá cỏ là tập thơ mang tính đổi mới: thể thơ tự do, không vần, công khai ca ngợi tính dục với những xúc cảm dân chủ mãnh liệt, và sự khẳng định cực đoan theo kiểu chủ nghĩa Lãng mạn rằng cái tôi của nhà thơ phải hòa làm một với bài thơ, với vũ trụ, và với bạn đọc, đã thay đổi vĩnh viễn nền thơ ca Mỹ.

Leaves of Grass cũng mênh mông, đầy sức sống và tự nhiên nhi nhiên như lục địa châu Mỹ; nó là thiên sử thi mà nhiều thế hệ các nhà phê bình Mỹ kêu gọi, dầu họ không nhận ra nó. Sự chuyển động trào lên như sóng quaSong of Myself như âm nhạc không ngừng nghỉ:

Những xiềng xích cùm gông tôi bỏ lại
Tôi vòng qua các núi non, lòng tay che các miền lục địa
Và sẵn sàng với tri kiến của mình.

Tập thơ tròn đầy với muôn ngàn cảnh tượng và âm thanh sống động. Những con chim trong thơ Whitman không phải là hình ảnh ước lệ về các “linh hồn có cánh” như trong thi ca truyền thống. “Con diệc đầu vàng” của ông “đêm đêm đến bìa đầm lầy và mò ăn những con cua nhỏ”. Dường như Whitman đắm mình trọn vẹn vào mỗi thứ ông chứng kiến hay tưởng tượng ra. Ông là con người của quần chúng, “Du hành đến mọi bến tàu để mặc cả và phiêu lưu. Cùng vội vã giữa một đám đông tân kỳ cũng háo hức và đổi thay như bất cứ ai”. Trong cuộc sống riêng, ông chịu nhiều đau khổ. “Người mẹ già nua, bị kết án là phù thủy, bị đưa lên giàn hỏa thiêu trước sự chứng kiến của đàn con… Tôi là tên nô lệ bị săn đuổi, đớn đau sau bao lần chó cắn… Tôi là người lính cứu hỏa bị nghiền nát đến vỡ vụn xương sườn…”.

Chính Whitman chứ không phải ai khác đã phát minh ra huyền thoại về nước Mỹ dân chủ. “Những người Mỹ đến từ mọi quốc gia trên trái đất ở bất cứ thời điểm nào mang bản tính thi ca trong cái nghĩa đầy đủ nhất. Nước Mỹ tự bản chất là bài thơ vĩ đại nhất”. Khi Withman viết bài thơ này, ông đã mạnh dạn đảo ngược ý kiến phổ biến cho rằng nước Mỹ quá thô thiển và non dại không có gì chung với thơ ca. Ông phát hiện ra một nước Mỹ phi thời gian của trí tưởng tượng không giới hạn, nơi cư ngụ của các tinh thần tiên phong đến từ khắp các quốc gia. D. H. Lawrence, nhà văn và nhà thơ Anh, đã gọi ông một cách chính xác là nhà thơ của “con đường rộng mở”.

Sự vĩ đại của Whitman thể hiện rõ trong nhiều bài thơ, trong đó có các bài Crossing Brooklyn Ferry (Qua phà Brooklyn). Out of the Cradle Endlessly Rocking (Từ chiếc nôi đong đưa) và When Lilacs Last in the Dooryard Bloom’d (Những đóa tử đinh hương cuối cùng trong khoảng sân trước đầy hoa), một khúc bi ca về cái chết của Abraham Lincoln. Một tác phẩm quan trọng khác là tiểu luận dài Democratic Vistas (Triển vọng dân chủ 1871), được viết vào “thời đại hoàng kim” của nền công nghiệp, vào cái lúc chủ nghĩa thực dụng phát triển không kiềm chế. Trong tiểu luận này, Whitman phê bình nước Mỹ một cách đúng đắn về sự giàu có và nền công nghiệp đan xen, hùng mạnh của nó đã che giấu một sa mạc Shahara khô cằn, tẻ nhạt của tâm hồn. Ông kêu gọi một loại hình văn học mới để làm sống lại dân Mỹ (“Không phải cuốn sách được cần nhiều đến thế để trở thành một cái gì hoàn chỉnh, mà là độc giả cần điều đó”). Tuy nhiên, lời khẳng định chủ yếu của Whitman về sự bất tử nằm trong Song of Myself. Ở đây, ông đặt cái tôi của trào lưu Lãng mạn ở trung tâm nhận thức của bài thơ:

Tôi tự ca ngợi mình và hát về tôi
Và những gì tôi tiến hành thì anh cũng làm thôi
Bởi vì mỗi nguyên tử thuộc về tôi
Lại cũng thuộc về anh.

Tiếng thơ của Whitman gây hứng khởi ngay cả cho độc giả hiện đại với lời tuyên ngôn của ông về sức mạnh tối cao và hợp nhất của tất cả vũ trụ. Ông đã có tinh thần cách tân lớn lao. Kể từ ông, mỗi bài thơ là một bản tiểu sử tự thuật, mỗi người Mỹ bình thường trở thành một nhà thơ, người đọc cũng là người sáng tạo, và sự khám phá cái hình thức gọi là “thử nghiệm” hay hệ thống này vẫn còn mang tính thời sự cho đến nay.

CÁC NHÀ THƠ BRAHMIN

Vào thời của mình, nhóm nhà thơ Boston Brahmin (tên gọi những nhà trí thức quý tộc được đào tạo ở Harvard) đã sản sinh ra cho nước Mỹ những đại biểu có tiếng nói quyết định trong thi đàn, những người thật sự hiểu biết và đáng kính trọng. Cuộc sống của họ là một mẫu mực tao nhã của những con người giàu sang, nhàn hạ có ý thức đạo đức mạnh mẽ, hướng sự quan tâm và lòng cầu thị vào việc học tập.

Nếu ở vào thời kỳ đầu Thanh giáo, những tác giả của nhóm Boston Brahmin có thể đã là các mục sư; vào thế kỷ 19, họ trở thành các giáo sư, chủ yếu là ở Harvard. Vào nửa cuối cuộc đời một số người trở thành đại sứ hoặc là nhận được những bằng cấp danh dự từ các Viện hàn lâm hoặc trường Đại học ở châu Âu. Hầu hết những người trong nhóm này đều đi du lịch hoặc học tập ở châu Âu. Họ rất quen thuộc với những tư tưởng và sách vở ở Anh, Đức, Pháp, và nhất là ở Ý và Tây Ban Nha. Xuất thân từ tầng lớp quý tộc nhưng lại có tư tưởng dân chủ thật sự, các nhà thơ Brahmin phổ biến khắp Hoa Kỳ các quan điểm quý phái, hướng về châu Âu, qua những bài thuyết giảng cho công chúng ở vào khoảng ba ngàn hội trường (trung tâm diễn thuyết công cộng) và trên những trang báo của hai tờ tạp chí rất có ảnh hưởng ở Boston, tờ North American Review và Atlantic Monthly.

Những tác phẩm của các nhà thơ Brahmin, kết hợp hai truyền thống châu Mỹ và châu Âu, tìm cách tạo ra tính liên tục của các kinh nghiệm chung của hai bên bờ Đại Tây Dương. Những nhà thơ – bác học này nỗ lực nâng cao dân trí bằng cách truyền bá những khuôn vàng thước ngọc của châu Âu vào văn học Mỹ. Oái ăm thay, các ảnh hưởng của họ nhìn chung mang tính tiêu cực. Do quá chú trọng đến những vấn đề và những hình thức của châu Âu, họ đã cản trở sự phát triển của một ý thức đặc thù Mỹ. Là những con người đầy thiện ý, nhưng định kiến bảo thủ đã làm họ mù quáng không nhìn thấy được tính cách tân táo bạo của Thoreau, Whitman (những người họ từ chối không muốn tiếp xúc) và Edgar Allan Poe (người mà ngay cả Emerson cũng xem là thi sĩ hạng bét – người làm những bài vè bình dân). Họ là rường cột của cái được gọi là “truyền thống quý tộc” mà ba thế hệ những nhà văn hiện thực Mỹ đã phải chiến đấu. Tuy vậy, phần nào cũng do ảnh hưởng khoan hòa và nhẹ nhàng của họ mà phải gần 100 năm sau những thiên tài sáng chói của nước Mỹ như Whitman, Melville, Thoreau, và Poe mới được thừa nhận rộng rãi tại Mỹ.

Henry Wadsworth Longfellow 
(1807 – 1882)

Những nhà thơ Boston Brahmin quan trọng nhất là Henry Wadsworth Longfellow, Oliver Wendell Holmes và James Russel Lowell. Longfellow là giáo sư giảng dạy ngôn ngữ hiện đại ở Harvard, là nhà thơ Mỹ nổi tiếng nhất thời đó. Ông là người đã sản sinh ra cái ý thức truyền kỳ, phi lịch sử và mơ hồ về quá khứ mà nó đã hòa quyện truyền thống Âu và Mỹ. Ông viết ba bài thơ tự sự dài phổ biến những huyền thoại của dân bản địa bằng hình thức thơ châu Âu Evangeline (1847), The Song of Hiawatha (Bài hát của Hiawatha – 1855) và The Courtship of Miles Standish (Lời tỏ tình của Miles Standish 1858).

Longfellow cũng viết sách giáo khoa ngôn ngữ hiện đại và một cuốn du ký Outre -Mer (Hải ngoại), kể lại những LONGFELLOW truyện thần thoại nước ngoài mô phỏng cuốn Sketch Book của Washington Irving. Mặc dù tính ước lệ, tính ủy mị và cách xử lý dễ dãi đã làm hỏng những bài thơ dài, những bài thơ trữ tình ngắn khó quên như The Jewish Cemetery at Newport(Nghĩa trang Do Thái ở Newport -1854), My Lost Youth (Tuổi trẻ đã mất của tôi – 1855), The Tide RisesThe Tide Falls (Thủy triều lên rồi xuống -1880) vẫn tiếp tục mang lại niềm vui cho độc giả.

James Russell Lowell 
(1819 -1891)

James Russell Lowell, người trở thành giáo sư dạy ngôn ngữ hiện đại tại Harvard sau khi Longfellow về hưu là Matthew Arnold([1]) của văn học Mỹ. Ông bắt đầu sự nghiệp với tư cách một nhà thơ, nhưng tài năng dần dần thui chột, rốt cuộc ông trở thành nhà phê bình và nhà giáo dục khả kính. Là chủ bút tờ Atlantic và đồng chủ bút tờ North American Review, Lowell gây được ảnh hưởng rất lớn. Cuốn A Fable for Critics (Truyện ngụ ngôn về các nhà phê bình – 1848) là lời ngợi ca những nhà văn Mỹ một cách ngộ nghĩnh và phù hợp, như trong lời bình phẩm của ông: “Poe đến kìa, với con quạ của mình, như Barnaby Rudge. Ba phần năm trong ông là thiên tài, hai phần hoàn toàn là khờ khạo”.

Nhờ ảnh hưởng của vợ, Lowell trở thành nhà cải cách tự do, một chiến sĩ chống lại chế độ nô lệ, và là người ủng hộ quyền bầu cử của phụ nữ và những đạo luật chấm dứt lao động trẻ em. Tác phẩm Biglow Papers First Series (Loạt tác phẩm đầu tiên của Biglow – 1847 – 1848) xây dựng nhân vật Hosca Biglow, một nhà thơ đồng quê ít học nhưng lanh lợi lao vào tranh luận bênh vực sự cải tổ trong thơ ca địa phương.

Chính Benjamin Franklin và Phillip Freneau cũng đã dùng những người dân quê thông minh làm cái loa truyền bá những luận điểm xã hội. Lowell cũng viết theo mạch đó, nối kết truyền thống “tính cách” thuộc địa với hiện thực mới và tinh thần địa phương dựa trên ngôn ngữ địa phương nở rộ vào những năm 1850 và đạt đến đỉnh cao với Mark Twain.

Oliver Wendell Holmes 
(1809 – 1894)

Oliver Wendell Holmes, là bác sĩ và là giáo sư cơ thể học và sinh lý học nổi tiếng ở Harvard, là nhà thơ khó phân loại nhất trong 3 nhà thơ Brahmin nổi danh bởi vì tác phẩm của ông mang dấu ấn của một tài năng đa diện, khác thường. Ông để lại tuyển tập các tiểu luận trào lộng (ví dụ, The Autocrat of the Breakfast -Table (Tên độc tài bên bàn ăn sáng – 1858), tiểu thuyếtElsie Venner – 1861, tiểu sử Ralph Waldo Emerson, 1885, những bài thơ có thể sôi động (như The Deacon’s Masterpiece hay The Wonderful One- Hoss Shay – Kiệt tác của Deacon), đầy triết lý (như trong The Chambered Nautilus – Hang ốc anh vũ), và lòng nhiệt tình yêu nước (Old Ironsides –Con tàu Old Ironsides[2]).

Sinh ra ở Cambridge, bang Massachusetts vùng ngoại ô Boston, vốn là địa bàn của Harvard, Holmes là con trai của một mục sư xuất sắc trong vùng. Mẹ ông là hậu duệ của nhà thơ Anne Bradstreet. Vào thời ông, và nhiều năm sau nữa, ông tượng trưng cho sự thông tuệ và duyên dáng không chỉ với tư cách một nhà thám hiểm hay một nhà đi tiên phong mà thực sự là một bậc trí giả minh triết mẫu mực có thể giải thích mọi điều từ các hiện tượng xã hội và ngôn ngữ đến các vấn đề y khoa và bản chất con người.

HAI NHÀ CẢI CÁCH

New England lóe sáng sức mạnh trí tuệ trong những năm trước cuộc Nội chiến. Vài vì sao trong số đó ngày nay còn sáng hơn cả dải thiên hà nổi tiếng gồm các nhà thơ Brahmin, nhưng trước đây họ bị lu mờ vì đói nghèo hay gặp khó khăn về giới tính và chủng tộc trong thời của họ. Độc giả ngày nay đánh giá ngày càng cao tác phẩm của tác gia ủng hộ phong trào bãi bỏ chế độ nô lệ John Greenleaf Whittier và nhà bảo vệ nữ quyền và cải cách xã hội Margaret Fuller.

John Greenleaf Whittier
(1807 – 1892)

John Greenleaf Whittier, nhà thơ năng động nhất trong thời kỳ đó, có hoàn cảnh xuất thân rất giống với Walt Whitman. Ông sinh ra và lớn lên ở một trang trại Quaker bình dị ở Massachusetts, không được học hành đến nơi đến chốn, rồi kiếm sống bằng nghề báo. Vài chục năm trước khi phong trào đòi bãi bỏ chế độ nô lệ lan tràn rộng rãi, ông là người hăng hái ủng hộ xóa bỏ chế độ nô lệ. Whittier được trân trọng vì những bài thơ chống chế độ nô lệ như là Ichabold, và thơ ca của ông đôi lúc được xem là một điển hình đầu tiên của chủ nghĩa hiện thực địa phương.

Những hình ảnh sắc nét, cấu trúc đơn giản, những cặp câu bốn nhịp giống thơ ballad của Whittier có kết cấu thô sơ đơn giản như thơ của Robert Burns. Tác phẩm hay nhất của ông, bài thơ dài “Snow Bound” (Kẹt trong bão tuyết) tái hiện một cách sống động hình ảnh những người thân đã mất hoặc bạn bè thời thơ ấu mà ông vẫn nhớ đang quây quần đầm ấm quanh lò sưởi rực hồng, bên ngoài cơn bão tuyết đang lồng lộn. Bài thơ đơn sơ, sùng đạo và mang dấu ấn cá nhân này, xuất hiện sau cơn ác mộng dài của cuộc Nội chiến, là khúc mặc niệm người chết và bài ca xoa dịu vết thương. Nó khẳng định sự bất tử của tâm hồn, sức mạnh phi thời gian của tình yêu trong hoài niệm, và vẻ đẹp bền vững của thiên nhiên, mặc cho những cơn bão táp chính trị cuồng loạn bên ngoài.

Margaret Fuller
(1810 – 1850)

Margaret Fuller, một người viết tiểu luận nổi bật, sinh ra và lớn lên ở Cambridge, bang Massachusetts. Xuất thân từ tầng lớp thường dân, bà chỉ học ở nhà dưới sự dạy dỗ của cha (phụ nữ không được phép học ở Harvard) và trở thành thần đồng, thông thạo cả văn học cổ điển và hiện đại. Niềm đam mê đặc biệt của bà là văn học lãng mạn Đức, đặc biệt là Goethe, một thi sĩ mà bà thích dịch.

Là một nhà báo nữ chuyên nghiệp nổi tiếng đầu tiên ở Mỹ, bà Fuller đã viết những bài phê bình, điểm sách gây nhiều ảnh hưởng và những báo cáo về các vấn đề xã hội như là việc đối xử với nữ phạm nhân và người điên. Nhiều bài tiểu luận này được in trong cuốn Papers on Literature and Art(Những bài viết về văn chương và nghệ thuật – 1846) của bà. Trước đó một năm, bà đã viết cuốn sách quan trọng nhất của mình, Woman in the Nineteenth Century (Người đàn bà của thế kỉ 19) xuất hiện lần đầu trên tạp chí của Trào lưu Siêu nghiệm, The Dial, tờ tạp chí bà làm chủ bút từ 1840 đến 1842.

Cuốn Woman in the Nineteenth Century của Fuller là sự khám phá sớm nhất và có tính cách Mỹ nhất về vai trò phụ nữ trong xã hội. Trong khi đưa ra những lý giải sâu sắc về rất nhiều nguyên nhân tế nhị và hậu quả tai hại của tệ nạn phân biệt nam nữ và đưa ra những giải pháp tích cực, bà đã vận dụng những nguyên tắc dân chủ và lý luận của trường phái Siêu nghiệm. Nhiều ý tưởng của bà cực kỳ hiện đại. Bà nhấn mạnh tầm quan trọng của sự “lệ thuộc vào chính mình” mà phụ nữ vốn thiếu bởi vì “họ được dạy phải học luật lệ từ Emily Dickinson bên ngoài, chứ không phải khai mở nó từ bên trong”.

Cuối cùng, Fuller không chỉ là một người bảo vệ nữ quyền mà hơn nữa, bà còn là nhà hoạt động và cải cách hiến đời mình cho lý tưởng tự do sáng tạo của con người và phẩm giá cho mọi người.

… chúng ta hãy khôn ngoan và đừng tự trói buộc đời sống tinh thần… chúng ta hãy có một năng lực sáng tạo… Hãy để cho nó định hình, và đừng ràng buộc nó bằng quá khứ dù với đàn ông hay đàn bà, da đen hay da trắng.

Emily Dickinson
(1830 – 1886) 

Emily Dickinson, trong chừng mực nào đó, là cầu nối giữa thời đại bà và tính mẫn cảm văn chương vào khoảng giao thời của thế kỷ. Là một tác giả theo chủ nghĩa cá nhân cấp tiến, bà sinh ra và sống trọn đời ở Amherst bang Massachusetts, một ngôi làng nhỏ theo phái Calvin. Bà không lập gia đình, và cũng không tuân theo các tập tục xã hội, bên dưới một cuộc đời tưởng như bình lặng là cả một cuộc sống nội tâm sâu thẳm mãnh liệt. Bà yêu thiên nhiên và chim chóc, muông thú, cỏ cây, sự thay đổi bốn mùa ở miền quê New England đã gợi lên trong bà những cảm hứng sáng tạo sâu xa.

Vào giai đoạn cuối của cuộc đời, Dickinson sống như một ẩn sĩ, có lẽ là do bà quá nhạy cảm và có lẽ bà cũng muốn dành thời gian cho sáng tác (có những quãng thời gian bà viết áng chừng mỗi ngày một bài thơ). Một ngày của bà cũng bao gồm chuyện chăm lo việc nhà cho ông bố luật sư, một nhân vật có tiếng ở Amherst đã trở thành một nghị viên ở Quốc hội.

Dickinson không được học nhiều, nhưng những gì mà bà am hiểu như Kinh thánh, các vở kịch của Shakespeare, và các tác phẩm thần thoại cổ đại thì thật sâu sắc và thấu đáo. Đó là những người thầy thật sự của bà, vì Dickinson chắc chắn là thiên tài văn chương cô độc nhất trong thời đại bà. Chính người phụ nữ thôn quê kín đáo, e lệ hầu như vô danh và chẳng xuất bản tập thơ nào lại tạo nên một số trong những tác phẩm thi ca vĩ đại nhất của Mỹ vào thế kỷ 19, và cho đến nay vẫn mê hoặc quần chúng kể từ thập niên 50, khi thơ ca của bà lại được người ta khám phá lần nữa.

Phong cách súc tích giàu hình ảnh của Dickinson thậm chí còn hiện đại và cách tân hơn cả Whitman. Bà không bao giờ dùng tới hai từ khi một từ là đã đủ, bà biết kết hợp những điều cụ thể với những ý tưởng trừu tượng bằng bút pháp cô đọng rất gần với tục ngữ. Những bài thơ hay nhất của bà không có chi tiết thừa; nhiều bài giễu cợt những tình cảm ủy mị đương thời; một số bài thậm chí còn thể hiện quan điểm dị giáo. Đôi lúc bà phô bày một nhận thức hiện sinh đáng sợ. Cũng như Poe, bà khai phá phần tâm thức ẩn giấu và tối tăm, kịch tính hóa cái chết và nấm mồ. Tuy nhiên, bà cũng ca ngợi những vật thể đơn giản -một đóa hoa, một con ong. Thơ ca của bà là thơ của một trí tuệ vĩ đại thường nêu ra cái nghịch lý đau đớn về những giới hạn của ý thức con người bị trói buộc bởi thời đại. Bà có được óc khôi hài tuyệt vời, các chủ đề và cách xử lý vấn đề của bà phong phú một cách đáng kinh ngạc. Thơ của bà không có tựa đề. Trong ấn bản tiêu chuẩn năm 1955, Thomas H. Johnson đã đánh số các bài thơ để dễ nhận biết. Những bài thơ ấy chứa đầy những lối viết hoa và dấu gạch kỳ quặc.

Là một người không lệ thuộc các quy ước xã hội, giống như Thoreau, bà thường đảo ngược ý nghĩa của từ, nhóm từ và sử dụng nghịch lý một cách rất hiệu quả. Đây là bài thơ số 435:

Điên dại nhiều gần với thần thánh nhất –
Với một Con mắt biết phân biệt
Nhiều ý nghĩa – sự dại điên trọn vẹn
Với nhiều người
Trong nghĩa này, như Tất cả, tràn lan
Đồng ý – và anh thì minh mẫn –
Không ư – anh thật sự là nguy nan
Và bị xử lý với một sợi xích

Trí tuệ của bà tỏa sáng trong bài thơ số 288 sau đây, một bài thơ chế nhạo tham vọng và cuộc sống xã hội.

Em không là ai cả! Còn anh!
Anh cũng chẳng là ai đó chứ?
Vậy là có hai chúng ta sao?
Đừng nói gì! Họ loa lên – anh biết đó!
Đáng sợ khi phải là ai đó
Trong đám đông như một Con Ếch xưng tên tuổi
Tháng Sáu
Trước một ao đầm bái phục ngươi.

Cả 1.775 bài thơ của Dickinson tiếp tục là vấn đề với các nhà phê bình, họ thường bất đồng ý kiến với nhau. Một số nhấn mạnh đến sự huyền bí của bà, một số khác ca ngợi sự nhạy cảm của bà đối với thiên nhiên; nhiều người lại lưu ý đến vẻ hấp dẫn kỳ lạ có phần kỳ cục của thơ bà. R.P. Blackmur, một nhà phê bình hiện đại bình luận rằng thơ ca của Dickinson đôi lúc mang lại cảm giác như là “một con mèo đến bên ta nói tiếng Anh”. Những bài thơ đẹp đẽ, trong sáng được gọt giũa của bà là một số trong những tác phẩm lôi cuốn và đầy thử thách nhất trong văn chương Mỹ.


[1] Matthew Arnold (1822 – 1888): nhà thơ viết tiểu luận và phê bình nổi tiếng người Anh.

[2] Old Ironsides là tên của con tàu đầu tiên của Mỹ được bọc thép.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_iii.html

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 2: Nguồn gốc của nền dân chủ và các nhà văn cách mạng thời kỳ 1776-1820

Chương 2: Nguồn gốc của nền dân chủ và các nhà văn cách mạng thời kỳ 1776-1820

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Cuộc Cách mạng gian khổ của Mỹ chống người Anh (1775-1783) là cuộc chiến tranh giải phóng hiện đại đầu tiên chống lại một cường quốc thuộc địa. Chiến thắng của nền độc lập Mỹ đối với nhiều người thời đó hình như là một dấu hiệu linh thiêng báo hiệu rằng nước Mỹ và nhân dân Mỹ được trao cho sứ mệnh làm nên điều kỳ vĩ. Chiến thắng quân sự cũng khơi dậy những hi vọng của dân tộc Mỹ về một nền văn học mới vĩ đại. Tuy nhiên ngoại trừ những bài viết chính trị kiệt xuất, chỉ có một số tác phẩm có giá trị xuất hiện trong hoặc ngay sau thời kỳ Cách mạng.

Các tác phẩm văn chương Mỹ được bình phẩm một cách khắt khe ở Anh. Người Mỹ đau khổ nhận ra sự lệ thuộc quá độ vào khuôn mẫu văn học Anh. Cuộc tìm kiếm một nền văn học mang bản sắc riêng trở thành một ám ảnh dân tộc. Như chủ bút một tạp chí Mỹ viết vào khoảng năm 1816: “Lệ thuộc là một tình trạng thấp kém đầy ô nhục và phụ thuộc vào tư tưởng bên ngoài để có được những gì chính chúng ta có thể làm ra được là cộng thêm sự kém cỏi do ngu dốt vào với tội ác của thói lười biếng”.

Những cuộc cách mạng văn hóa, không giống với những cuộc cách mạng quân sự, không thể thành công bằng cách áp đặt; nó phải được nẩy nở trên mảnh đất của các kinh nghiệm được chia sẻ. Cách mạng là những biểu hiện của trái tim của nhân dân, chúng lớn dần lên từ những cảm nhận mới mẻ và những kinh nghiệm phong phú. Phải mất 50 năm tích lũy lịch sử để nước Mỹ có thể giành được độc lập văn hóa và để sản sinh thế hệ các nhà văn Mỹ vĩ đại đầu tiên: Washington Irving, James Fenimore Cooper, Ralph Waldo Emerson, Henry David Thoreau, Herman Melville, Nathaniel Hawthorne, Edgar Allan Poe, Walt Whitman và Emily Dickinson. Sự độc lập của văn học Mỹ bị chậm lại bởi quá trình đồng hóa kéo dài với Anh quốc, một sự rập khuôn thái quá những khuôn mẫu văn học Anh hay văn học cổ điển, thêm vào đó tình hình kinh tế, chính trị khó khăn cũng cản trở việc xuất bản.

Những nhà văn cách mạng, dù có tinh thần ái quốc thật sự và cảm thấy cần một sự tự nhận thức cũng không bao giờ tìm được cội nguồn trong những cảm nhận với tư cách người Mỹ của họ. Những nhà văn thuộc địa của thế hệ cách mạng thường sinh trưởng ở Anh, đạt tới tuổi trưởng thành với tư cách là một công dân Anh, có cách suy nghĩ của người Anh, thậm chí cách ăn mặc và cư xử cũng là của người Anh. Cha mẹ của họ cũng là người Anh hoặc người châu Âu và tất cả bạn bè của họ cũng thế. Thêm vào đó, nhận thức của người Mỹ về các trào lưu văn học vẫn còn lê bước đằng sau người Anh, và sự tụt hậu thời gian làm tăng thêm thói mô phỏng của người Mỹ. Năm mươi năm sau khi đã thành danh ở Anh, những nhà văn Tân cổ điển Anh như Joseph Addison, Richard Stelle, Jonathan Swift, Alexander Pope, Oliver Goldsmith và Samuel Johnson vẫn còn được hăm hở bắt chước ở Mỹ.

Hơn nữa những thử thách vội vã của việc xây dựng một quốc gia mới đã lôi cuốn những người tài năng, có học vấn vào lĩnh vực chính trị, luật pháp, và ngoại giao. Những theo đuổi này mang lại danh dự, vinh quang và sự đảm bảo tài chính. Viết lách, ngược lại, không đẻ ra tiền. Những nhà văn Mỹ buổi đầu, một khi đã tách khỏi mẫu quốc, đã không có sự bảo trợ có hiệu quả của các nhà xuất bản hiện đại, không có độc giả và cũng không có được sự bảo vệ hợp pháp tương xứng. Công việc hỗ trợ về biên tập, phân phối và quảng cáo đều ở dạng phôi thai.

Cho đến tận 1825, hầu hết các tác giả Mỹ phải trả tiền cho các nhà in để xuất bản tác phẩm của mình. Hẳn nhiên, chỉ những người giàu có, độc lập, không phải làm gì để kiếm sống như Washington Irving và nhóm Knickerbocker New York hay nhóm các nhà thơ Connecticut, còn được gọi là Hartford Wits, mới có thể có đủ tiền để nuôi dưỡng niềm say mê viết lách của mình. Benjamin Franklin là một ngoại lệ. Dẫu xuất thân từ một gia đình nghèo, nhưng ông làm nghề in nên có thể tự xuất bản tác phẩm của mình.

Charles Brockden Brown tiêu biểu hơn cả. Là tác giả nhiều chuyện tình cảm động mang phong cách Gothic([1]), Brown là nhà văn Mỹ đầu tiên cố sống bằng nghề viết lách. Nhưng cuộc đời ngắn ngủi của ông kết thúc trong nghèo khổ.

Thiếu độc giả cũng là một vấn đề nan giải. Số độc giả có văn hóa vốn rất ít ở Mỹ chỉ muốn đọc những tác giả nổi tiếng ở châu Âu, một phần cũng do lòng kính trọng thái quá mà những người dân thuộc địa trước đây dành cho những kẻ cai trị ngày xưa của họ. Sự ưa chuộng những tác phẩm Anh không hoàn toàn là vô căn cứ nếu xét đến sự kém cỏi của các tác phẩm văn chương Mỹ. Chính điều này đã làm cho tình hình thêm xấu đi vì nó khiến các nhà văn Mỹ chẳng còn được bao nhiêu bạn đọc. Chỉ có báo chí tạo ra được sự bù đắp tài chính, tuy vậy phần đông độc giả thích loại thơ văn nhẹ nhàng, không đòi hỏi phải suy tư và những tiểu luận ngắn mang tính thời sự chứ không phải loại tác phẩm dài hoặc thử nghiệm.

Việc không có những điều luật đầy đủ về bản quyền có lẽ là nguyên nhân rõ nhất dẫn đến sự trì trệ của văn học. Điều đó thật dễ hiểu; khi các nhà in ở Mỹ có thể dễ dàng đánh cắp bản quyền của các tác phẩm bán chạy nhất ở Anh, thì việc gì họ phải trả tiền cho một tác giả Mỹ vì một cuốn sách vớ vẩn nào đó.

Việc in lại các tác phẩm văn học nước ngoài mà không có giấy phép, thoạt đầu được xem như là để phục vụ cho thuộc địa cũng như là một nguồn lợi cho các chủ nhà in như Franklin, người đã in lại các tác phẩm văn học cổ điển và vĩ đại của châu Âu để nâng cao dân trí ở Mỹ.

Tất cả nhà in trên đất Mỹ đều theo gương của ông. Có nhiều vụ ăn cắp bản quyền rất tiếng tăm. Matthew Carey, một nhà xuất bản quan trọng ở Mỹ trả cho một mật viên ở London một loại tình báo văn học – để gửi những bản sao những trang sách chưa đóng bìa, hay ngay cả bản in thử đến cho ông trên những chiếc tàu nhanh có thể đến Mỹ trong vòng một tháng. Người của Carey sẽ đi thuyền ra đón những con tàu đang vào cảng và cấp tốc in lại những cuốn sách bị ăn cắp này bằng cách chia cuốn sách ra nhiều phần cho nhiều người cùng sắp chữ và làm việc theo ca 24 trên 24. Một cuốn sách bị ăn cắp như vậy có thể được in lại trong vòng một ngày và đưa lên kệ bày bán trong các hiệu sách ở Mỹ hầu như cùng một lúc với các cuốn sách ở Anh.

Vì giá của các ấn bản nhập khẩu hợp pháp rất đắt do đó không thể cạnh tranh với những bản sách ăn cắp, tình trạng này làm thiệt hại quyền lợi của những tác giả nước ngoài như Nam tước Walter Scott và Charles Dickens, cũng như những tác giả Mỹ khác. Nhưng ít nhất những tác giả ngoại quốc đã được các nhà xuất bản gốc trả tiền và đã nổi tiếng về các tác phẩm của mình. Các nhà văn Mỹ, chẳng hạn như James Fenimore Cooper không những không được trả tiền đầy đủ, mà lại còn phải đau khổ chứng kiến sách mình bị ăn cắp ngay trước mũi. Cuốn sách thành công đầu tiên của Cooper The Spy (Điệp viên -1821) bị bốn chủ nhà in khác nhau ăn cắp trong vòng một tháng khi xuất hiện.

Thật trớ trêu, luật về bản quyền năm 1790 cho phép việc ăn cắp bản quyền, lại xuất phát từ một ý định bảo vệ quyền lợi quốc gia. Ý kiến này là của Noah Webster, một nhà từ điển học lớn và về sau biên soạn một cuốn từ điển Mỹ nổi tiếng. Điều luật này chỉ bảo vệ tác phẩm của những nhà văn Mỹ; làm cho các nhà văn Anh hiểu rằng họ phải tự chăm lo quyền lợi cho bản thân.

Dù điều luật này có tệ hại đến thế nào vẫn không một nhà xuất bản nào trong buổi đầu muốn thay đổi vì nó hiển nhiên là có lợi cho họ. Nạn ăn cắp bản quyền đã làm thế hệ các nhà văn Cách mạng Mỹ đầu tiên sống trong nghèo đói; nên chẳng lạ gì khi thế hệ tiếp theo cho ra đời càng ít tác phẩm có giá trị hơn. Cao trào của nạn ăn cắp bản quyền vào năm 1815, phù hợp với điểm thấp nhất của văn học Mỹ. Tuy nhiên, nguồn cung cấp rẻ tiền và dồi 37 dào các tác phẩm cổ điển và sách báo nước ngoài trong khoảng 50 năm đầu của đất nước non trẻ này đã có tác dụng đào tạo nên những người Mỹ xuất chúng, trong đó bao gồm thế hệ những nhà văn vĩ đại đầu tiên, những ngôi sao bắt đầu xuất hiện vào khoảng năm 1825.

THỜI KỲ VĂN HỌC KHAI SÁNG

Thời kỳ Khai sáng Mỹ thế kỷ 18 là một trào lưu văn học được đánh dấu bằng sự nhấn mạnh vào tính duy lý hơn là truyền thống, vào những tìm tòi khoa học thay vì giáo điều tôn giáo tuyệt đối, và vào hình thức chính phủ đại diện cho dân thay vì một vương quyền. Các nhà tư tưởng và tác gia thời Khai sáng đã tận hiến đời mình cho lý tưởng về công lý, tự do và bình đẳng vốn được coi như là những quyền tự nhiên của con người.

Benjamin Franklin 
(1706 – 1790)

Ông là người được triết gia Scotland David Hume gọi là “tác gia vĩ đại đầu tiên của Mỹ”, hiện thân của lý tưởng thời Khai sáng về tư tưởng duy lý nhân bản. Thực tiễn nhưng lại đầy lý tưởng, làm việc cật lực và thành công rực rỡ, Franklin đã kể về thời niên thiếu của mình trong cuốn Autobiography(Tiểu sử tự thuật) nổi tiếng. Là nhà văn, chủ nhà in, nhà xuất bản, nhà khoa học, nhà từ thiện và nhà ngoại giao, ông là nhân vật nổi tiếng nhất và được tôn kính nhất vào thời của mình. Ông cũng là bậc vĩ nhân đầu tiên ở Mỹ đạt đến đỉnh cao bằng nỗ lực bản thân, vươn lên từ một nhà ngoại giao nghèo sinh ra trong thời đại quý tộc, mà chính gương sáng của ông đã giúp nước Mỹ giải phóng khỏi thời đại đó.

Franklin là người di dân thuộc thế hệ thứ hai. Cha ông là tín đồ Thanh giáo, một người làm nến từ Anh di cư đến Boston, bang Massachusetts năm 1683. Cuộc đời của Franklin, ở nhiều phương diện là một minh chứng cho ảnh hưởng của thời đại Khai sáng đến một cá nhân thiên tài. Tự học nhưng đọc rất nhiều của các tác giả như John Locke, Lord Shaftesbury, Joseph Addison và những tác giả Khai sáng khác, Franklin học hỏi ở họ nhiều điều để ứng dụng những lý luận đó vào cuộc sống riêng của mình và để có thể đoạn tuyệt với truyền thống -đặc biệt truyền thống Thanh giáo lỗi thời -khi nó đe dọa bóp chết lý tưởng của ông.

Khi còn trẻ, Franklin tự học nhiều ngoại ngữ, đọc miệt mài đủ các lãnh vực và luyện viết văn cho công chúng. Khi từ Boston dời đến Philadelphia, bang Pennsylvania, Franklin đã có được trình độ học vấn tương đương với giai cấp thượng lưu. Ông cũng có khả năng làm việc cần cù, chu đáo của một tín đồ Thanh giáo. Ông thường tự vấn bản thân và luôn khát khao tự hoàn thiện mình. Chính những phẩm chất này dần dần đưa ông đến sự giàu sang, danh tiếng và lòng kính trọng của người đời. Không chỉ sống cho riêng mình, Franklin cố gắng giúp đỡ những người bình thường khác được thành công bằng cách chia sẻ những tư tưởng và kinh nghiệm của mình. Ông chính là cha đẻ của một loại sách mang tính cách Mỹ đặc trưng -loại sách tự giúp mình.

Cuốn Poor Richard’s Almanack (Niên lịch về chàng Richard Nghèo khổ), được bắt đầu năm 1732 và xuất bản trong nhiều năm, đã làm cho Franklin trở nên giàu có và nổi tiếng khắp thuộc địa. Cuốn niên lịch này chứa đựng những lời động viên, khuyên bảo hữu ích, những thông tin thực tế và những nhân vật ngộ nghĩnh khôi hài như người cha già Abraham và Richard Nghèo khổ cống hiến cho độc giả những cách ngôn ý vị, đáng nhớ. TrongThe Way to Weath (Đường đến giàu sang) xuất hiện đầu tiên trong bộ niên lịch, bố Abraham, “một ông già tươm tất giản dị, với những lọn tóc trắng” trích dẫn nguyên văn lời Richard Nghèo khổ. “Một lời với kẻ khôn đã là đủ, ông nói”. “Trời giúp những ai tự giúp mình”, “Ngủ sớm, dậy sớm, làm cho người ta khỏe mạnh, giàu có và thông thái”. Richard Nghèo khổ còn là một nhà tâm lý (“Sự siêng năng trả được nợ nần, còn thất vọng làm nợ chất chồng hơn”) và ông luôn khuyến khích người ta cần cù lao động (“Cần mẫn là mẹ của cơ may”). “Đừng lười biếng”, ông khuyên, bởi vì “một hôm nay bằng hai ngày mai”. Đôi lúc ông sáng tạo những giai thoại để minh họa quan điểm của mình. “Một sự bất cẩn nhỏ nhưng có thể ấp ủ một tai họa lớn… Vì thiếu một cái đinh, ta mất một chiếc móng ngựa, thiếu chiếc móng ta mất con ngựa, thiếu con ngựa ta mất một kỵ sĩ. Bị quân thù đuổi kịp và tàn sát, tất cả chỉ vì thiếu lưu tâm một cái đinh ở móng ngựa”. Franklin rõ ràng là một thiên tài trong khi diễn đạt cô đọng một điều luân lý: “Những gì dung dưỡng một tật xấu, có thể nuôi được hai đứa con”, “Một lỗ nhỏ sẽ làm đắm một chiếc thuyền lớn”, “Kẻ ngu dọn cỗ, người khôn chén sạch”.

Tiểu sử tự thuật của Franklin, phần nào đó, cũng là một cuốn sách tự – giúp -mình. Viết để khuyên bảo con trai, cuốn sách chỉ gói ghém vào những năm thơ ấu. Phần nổi tiếng nhất, mô tả một chương trình tự rèn luyện tu dưỡng bản thân một cách khoa học. Franklin liệt kê 13 đức tính: tự tiết chế, trầm lặng, ngăn nắp, kiên tâm, cần kiệm, chăm chỉ, trung thực, công bằng, mực thước, sạch sẽ, bình thản, thanh bạch, và khiêm nhường. Ông đã hiển thị mỗi đức tính bằng một châm ngôn; chẳng hạn, châm ngôn dành cho sự tiết chế là: “Đừng nên ăn đến phát ngán. Đừng nên uống đến lâng lâng”. Là một nhà khoa học thực nghiệm, Franklin đưa ý tưởng về sự hoàn thiện vào thử nghiệm, dùng chính mình làm đối tượng thử nghiệm.

Để rèn luyện những thói quen tốt, Franklin phát minh ra một cuốn sách ghi chép thường niên có thể dùng lại được, trong đó ông rèn luyện một đức tính mỗi tuần, ghi lại mỗi một lỗi bằng một chấm đen nhỏ. Phương pháp của ông gợi ý cho lý thuyết hành vi tâm lý sau này, còn cách thức ghi chép một cách có hệ thống của ông đã dự kiến phương pháp điều chỉnh hành vi của con người hiện đại. Phương cách tự hoàn thiện mình của Franklin hòa trộn niềm tin vào sự hoàn bích của thời Khai sáng cùng với tập quán đạo đức tự xét mình của tín đồ Thanh giáo.

Franklin đã thấy rõ từ rất sớm, sáng tác là cách tốt nhất hoàn thiện ý tưởng của mình, và vì vậy ông chú tâm hoàn thiện phong cách viết văn xuôi uyển chuyển của mình, không lấy nó làm mục đích tự thân mà biến nó thành phương tiện. “Hãy viết cho những người có học. Và nói thành lời với người bình dân”, ông khuyên. Là một nhà khoa học, ông nghe theo lời khuyên của Hiệp hội khoa học Hoàng gia năm 1667 sử dụng một cách nói tự nhiên, gần gũi và bộc trực; những cách diễn đạt hay rõ nghĩa, đơn giản một cách tự nhiên, càng gần với sự giản đơn toán học càng tốt”.

Mặc dù giàu có và nổi tiếng, Franklin có đầu óc dân chủ, và ông còn là một nhân vật quan trọng tham gia vào việc xây dựng Hiến pháp Mỹ. Trong những năm cuối đời, ông là chủ tịch một hiệp hội chống chế độ nô lệ. Một trong những nỗ lực cuối cùng của ông là phổ cập giáo dục cho công chúng.

Hector St. John de Crèvecoeur 
(1735 – 1813)

Một tác gia tiêu biểu khác của thời kỳ Khai sáng là Hector St. John de Crèvecoeur, tác giả cuốn Letters from an American Farmer (Thư từ của một điền chủ Mỹ – 1782) đã đem đến cho người dân Cựu lục địa cái ý tưởng về những cơ hội có được một cuộc sống thanh bình, giàu sang và niềm kiêu hãnh tại Mỹ. Không phải là người Mỹ di cư, cũng chẳng phải là nông dân, Crèvecoeur là một nhà quý tộc Pháp sở hữu một trang trại ngoại ô New York trước Cách mạng. Ông nhiệt thành ca ngợi lòng hăng say lao động, đức tính khoan dung độ lượng và sự thịnh vượng không ngừng gia tăng của người dân thuộc địa, trong 12 lá thư mô tả nước Mỹ như là thiên đường của nhà nông -một sự tiên lượng đã khích lệ Thomas Jefferson, Ralph Waldo Emerson và nhiều tác gia khác cho mãi tới ngày nay.

Crèvecoeur là người châu Âu đầu tiên có công xây dựng một quan điểm hợp lý rất Mỹ và một tính cách Mỹ mới mẻ. Ông cũng là người đầu tiên đưa ra hình ảnh biểu trưng về nước Mỹ -một “melting pot” (một đất nước của mọi chủng tộc, mọi màu da, mọi giống người). Trong một đoạn văn nổi tiếng ông hỏi:

Thế thì người Mỹ là gì, con người mới này là ai? Anh ta đến từ châu Âu không thì cũng là con cháu của người châu Âu, kết quả là sự pha trộn máu huyết lạ lùng đó, bạn sẽ không tìm thấy ở một đất nước nào khác. Tôi có thể chỉ cho bạn một gia đình mà ông nội là người Anh, bà nội là người Hà Lan, con của họ lấy vợ người Pháp. Và rồi bốn đứa con trai của bà vợ Pháp lấy bốn bà vợ từ bốn quốc gia khác nhau… Ở đây những cá nhân của tất cả các đất nước được hòa trộn thành một giống dân mới, mà sức lao động và hậu duệ của họ một ngày nào đó sẽ tạo nên những thay đổi trên thế giới.

SÁCH PAMPHLET([2])

Thomas Paine
(1737 -1809)

Lòng say mê văn học Cách mạng được thể hiện đậm nét trong những tập sách mỏng, một hình thức phổ biến nhất của văn chương chính trị trong thời đó.

Hơn 2000 tập sách pamphlet được xuất bản trong thời kỳ Cách mạng. Những tập sách này mê hoặc những người yêu nước và đe dọa những người trung thành với mẫu quốc. Chúng có vai trò của sân khấu, vì thường được đọc lớn giữa nơi công cộng để khích lệ, cổ động và tuyên truyền khán giả. Binh lính Mỹ đọc chúng thành tiếng trong doanh trại; còn những người trung thành với Vương triều Anh thì ném chúng vào lửa.

Tập sách Common Sense (Ý thức công dân) của Thomas Paine bán được hơn 100 ngàn bản trong 3 tháng đầu xuất hiện. Nó vẫn còn khơi dậy tình yêu nước cho đến tận ngày nay. “Chính nghĩa của nước Mỹ chủ yếu là chính nghĩa của toàn nhân loại”, Paine viết, gióng lên tiếng nói của ý tưởng về chủ thuyết đặc thù Mỹ vẫn còn rất mạnh ở Mỹ -rằng trong một ý nghĩa cơ bản nào đó – vì nước Mỹ là một thể nghiệm dân chủ và là một đất nước có chủ trương mở rộng cửa cho mọi cuộc di dân nên số phận nước Mỹ báo trước số phận của nhân loại nói chung.

Những bài viết tuyên truyền chính trị trong một nền dân chủ phải thật đơn giản, rõ ràng để thu hút cử tri. Và để có được những cử tri hiểu biết, giáo dục phổ cập được đẩy mạnh bởi nhiều nhà tiên phong. Một dấu hiệu của sự khởi sắc trong đời sống văn chương rõ ràng là nhờ sự nở rộ của báo chí. Trong thời kỳ Cách mạng, người ta đọc báo nhiều hơn bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Một văn phong đơn giản, trong sáng, súc tích rất cần thiết đối với mọi người dân nhập cư, vì tiếng Anh sẽ là ngôn ngữ thứ hai của họ. Bản thảo viết tay lần đầu Tuyên ngôn độc lập của Thomas Jefferson rất rõ ràng, lập luận chặt chẽ; những sửa đổi của Ủy ban giúp việc còn làm cho nó thậm chí đơn giản hơn. The Federalist Papers (Những tiểu luận của Phái Liên bang), được viết ra để hỗ trợ Hiến pháp, là một áng văn trong sáng với những lập luận logic phù hợp với các cuộc tranh luận trong một quốc gia dân chủ.

CHỦ NGHĨA TÂN CỔ ĐIỂN: SỬ THI, SỬ THI CHÂM BIẾM VÀ TRÀO PHÚNG

Thật không may, cái được gọi là “văn chương” lại không đơn giản và trực diện như các bài viết chính trị. Trong nỗ lực sáng tác thi ca, hầu hết những nhà thơ thông thái đều vấp vào cái bẫy tao nhã của chủ nghĩa Tân cổ điển. Đặc biệt, sử thi có một sự quyến rũ chết người. Các nhà thơ Mỹ giàu lòng ái quốc chắc chắn rằng tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Mỹ chỉ có thể được thể hiện tương ứng trong sử thi -một loại truyện thơ dài đầy kịch tính sử dụng ngôn ngữ trang trọng ca ngợi những hành động phi thường của một anh hùng huyền thoại.

Nhiều tác giả đã thử viết nhưng không ai thành công. Timothy Dwight (1752-1817), một người trong nhóm những nhà văn được gọi là “The Hartfort Wits” (Những nhà thông thái Hartfort), là một ví dụ. Dwight sau này trở thành hiệu trưởng Đại học Yale, dựa vào câu chuyện về cuộc đấu tranh của Joshua đến miền Đất Hứa trong Kinh thánh để viết sử thi The Conquest of Canaan (Cuộc chinh phục vùng Canaan([3]) – 1785) của mình. Trong sử thi này, Dwight đã lồng hình ảnh tướng Washington, chỉ huy quân đội Mỹ và về sau trở thành Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ vào nhân vật Joshua trong truyền thuyết và ông đã vay mượn hình thức cặp câu mà Alexander Pope dùng để dịch Homer. Sử thi của Dwight vừa nhàm chán vừa đầy tham vọng. Các nhà phê bình Anh thẳng tay sổ toẹt, ngay cả bạn bè của Dwight, như là John Trembull (1750 -1831) cũng chẳng nhiệt tình bảo vệ. Có quá nhiều sấm chớp rền vang trong những cảnh chiến trận đầy kịch tính và khiên cưỡng đến nỗi Trembull đề nghị tập sử thi nên có thêm những cột thu lôi.

Nên không có gì ngạc nhiên khi loại thi ca châm biếm có đất dụng võ hơn thi ca nghiêm túc trên. Thể loại sử thi châm biếm khuyến khích các thi sĩ Mỹ sử dụng tiếng nói tự nhiên của họ và không khuyến dụ họ rơi vào vũng lầy những tình cảm ái quốc vừa đao to búa lớn vừa có thể đoán được đầy những hình dung từ trong thi ca ước lệ thiếu bản sắc từ thời cổ đại Hy Lạp với nhà thơ Homer, thời La Mã với thi sĩ Virgil qua cách biểu đạt của các nhà thơ Anh.

Trong M’Fingal (1776-1782), một sử thi trào tiếu vui nhộn của John Trembull, loại văn phong đầy ắp những xúc cảm truyền thống và ước lệ lại chính là vũ khí cho sự trào phúng lành mạnh và chính lối hùng biện khoa trương trong thời Cách mạng bị chế nhạo. Dựa vào khuôn mẫu của tập thơ Hudibras của nhà thơ Anh Samuel Butler, tập sử thi đã cười nhạo một người trung thành với Mẫu quốc, M’Fingal. Tác phẩm thường rất hàm súc như khi ghi nhận về những tên tội phạm đối mặt với giá treo cổ.

Chẳng có ai đứng dưới giá treo cổ
Lại có ý nghĩ tốt đẹp về luật pháp.

M’Fingal được tái bản tới 30 lần, được in đi in lại trong vòng nửa thế kỷ, được đánh giá cao cả ở Anh lẫn ở Mỹ. Văn trào phúng thu hút đông đảo độc giả thời Cách mạng một phần bởi nó chứa đựng những lời bình phẩm và phê phán xã hội. Những đề tài chính trị và những vấn đề xã hội là những nội dung chính trong thời kỳ này. Vở hài kịch đầu tiên của Mỹ The Contrast(Sự tương phản) của Royall Tyler (1757 -1826) là một sự tương phản nực cười giữa Đại tá Manly, một sĩ quan Mỹ, và Dimple, một người Anh học đòi. Lẽ dĩ nhiên, nhân vật Dimple được dàn dựng trông hết sức lố bịch. Vở kịch đã giới thiệu một tính cách Yankee([4]) đầu tiên, nhân vật Jonathan.

Một tác phẩm châm biếm khác, cuốn tiểu thuyết Modern Chivalry (Chàng hiệp sĩ thời nay), do Hugh Henry Brackenridge xuất bản từng phần từ 1792 đến 1815, đả kích những biểu hiện thái quá của người đương thời một cách đầy ấn tượng. Brackenridge (1748 -1816), một người gốc Scotland di cư và lớn lên ở vùng biên giới Mỹ, đã xây dựng cuốn tiểu thuyết phiêu lưu khổng lồ của mình trên hình tượng hiệp sĩ Don Quixote để mô tả những bất hạnh của đại úy Farrago và người đầy tớ Teague O’Regan ngu đần, thô lỗ nhưng đầy nhân tính.

NHÀ THƠ CỦA THỜI KỲ CÁCH MẠNG

Philip Freneau 
(1752 -1832)

Philip Freneau là thi sĩ đã kết hợp những rung động mới mẻ của chủ nghĩa lãng mạn châu Âu, và cũng thoát ly khỏi tính chất mô phỏng chung chung mơ hồ của nhóm The Hartford Wits. Cái điều dẫn đến cả thành công lẫn thất bại của ông chính là tinh thần say mê dân chủ kết hợp với cá tính cứng nhắc.

Chẳng có gì để nghi ngờ tinh thần yêu nước nhiệt thành của nhóm The Hartford Wits, họ phản ánh quan niệm bảo thủ văn hóa nói chung của những tầng lớp trí thức. Freneau căm ghét thái độ ngoan cố của đám trung thành với Mẫu quốc, phê phán lối viết quý tộc, thuần túy tư biện ở Hartford, thái độ bảo hoàng và sự phân biệt đẳng cấp của họ. Mặc dù Freneau rất uyên bác, thông kim bác cổ như bất kỳ một tác gia nào trong nhóm The Hartford Wits, ông dễ dàng hội nhập với làn sóng tự do, dân chủ.

Là một người theo phái Huguenote (Tin lành tiến bộ Pháp), Freneau tham gia vào cuộc chiến tranh cách mạng với tư cách là một dân quân tự vệ. Vào năm 1780, ông bị bắt và bị giam giữ trong hai chiếc tàu của Anh, nơi ông suýt chết trước khi gia đình xoay xở giải thoát được cho ông. Bài thơ của ông The British Prison Ship (Con tàu nhà tù của bọn Anh) là một lời kết án cay đắng sự độc ác của người Anh “những người muốn nhuộm cả thế giới này bằng máu”. Bài thơ này và những tác phẩm cách mạng khác bao gồm:Eutaw Springs (Mùa xuân ở Eutaw), American Liberty (Tự do Mỹ), A Political Litany (Sách kinh chính trị), A Midnight Consultation (Cuộc hội đàm lúc nửa đêm), George the Third’s Soliloquy (Đoạn độc thoại của George đệ Tam) đã mang đến cho ông danh hiệu “Nhà thơ của cuộc cách mạng Mỹ”.

Freneau làm biên tập cho nhiều tờ báo, suốt đời dành nhiệt huyết cho lý tưởng vĩ đại về một nền dân chủ. Khi Thomas Jefferson giúp ông lập nên tờ National Gazette chiến đấu, chống phái Liên bang([5]) năm 1791, Freneau trở thành người chủ bút đầy sức mạnh và có tinh thần đấu tranh không khoan nhượng nhất ở Mỹ, và là người tiền nhiệm của hàng loạt tên tuổi lừng danh như William Cullen Bryant, William Lloyd Garrison và H. L. Mencken.

Là một nhà thơ và chủ bút, Freneau gắn bó với lý tưởng dân chủ của mình. Những bài thơ nổi tiếng của ông đăng tải trên báo là để cho độc giả bình dân, với âm hưởng chủ đạo là ngợi ca những vấn đề của người Mỹ. Bài thơVirtue of Tobacco (Lợi ích cây thuốc lá) đề cập đến cây thuốc lá địa phương, nguồn sống của nền kinh tế miền Nam, còn bài thơ The Jug of Rum (Rượu mạnh) ca tụng loại rượu này ở miền West Indies, một mặt hàng quan trọng của nền thương mại non trẻ Mỹ và là mặt hàng xuất khẩu chính của Tân thế giới. Những con người Mỹ hết sức bình thường hiện diện trong bài The Pilot of Hatteras (Người phi công ở Hatteras) cũng như trong những bài thơ về những bác sĩ giả hiệu và những giáo sĩ lộng ngôn.

Freneau đã đạt đến phong cách bình dân tự nhiên thích hợp với nền dân chủ thật sự, nhưng ông cũng đồng thời vươn tới một phong cách trữ tình tân cổ điển cao nhã thể hiện rõ nét trong những bài thơ thường được tuyển chọn như là The Wild Honey Suckle (Hoa cố hương([6]) – 1786), gợi lên hình ảnh về lùm cây nơi quê nhà ngào ngạt hương. Mãi cho đến những năm 1820 – thời điểm được coi là khởi đầu của văn học Phục hưng Mỹ, thi ca Mỹ mới vượt qua được những đỉnh cao mà Freneau đã đạt đến trước đó 40 năm.

Những cơ sở tăng cường cho thành tựu văn học trong tương lai đã được đặt nền móng từ những năm đầu tiên. Chủ nghĩa Dân tộc tạo nguồn cảm hứng cho các tác phẩm trong nhiều lãnh vực, dẫn đến một sức cảm thụ mới cho những gì mang tính cách Mỹ. Noah Webster (1758 – 1843) đã soạn một cuốn từ điển Mỹ, cũng là một học giả nổi tiếng và một người soạn sách chính tả quan trọng cho trường học. Cuốn sách dạy chính tả (Spelling Book) của ông bán ra hơn 100 triệu bản trong nhiều năm. Những cuốn từ điển Webster được cập nhật hóa vẫn còn mang tính chuẩn mực cho đến ngày nay. Cuốn American Geography (Địa lý Mỹ) do Jedidiah Morse biên soạn là một tác phẩm tham khảo rất nổi tiếng, đã góp phần nâng cao trình độ hiểu biết về chính vùng đất Mỹ vốn đã mênh mông lại luôn được mở rộng. Một số tác phẩm hay nhất mặc dù không thuần túy là tác phẩm văn chương của thời kỳ này là nhật ký của những người vừa là nhà định cư tiên phong vừa là nhà thám hiểm như là Meriwether Lewis (1774 – 1809) và Zebulon Pike (1779 – 1813), viết những câu chuyện về những cuộc thám hiểm khắp lãnh thổ Louisiana, phần đất mênh mông của lục địa Bắc Mỹ mà Thomas Jefferson đã mua lại của Napoléon năm 1803.

CÁC NHÀ VĂN VIẾT TIỂU THUYẾT

Những nhà văn viết tiểu thuyết đầu tiên được đại chúng ngày nay công nhận như Charles Brockden Brown, Washington Irving và James Fenimore Cooper đã sử dụng các chủ đề về Mỹ, các bối cảnh lịch sử, những đề tài về sự vô thường với giọng điệu mang màu sắc hoài niệm. Họ sử dụng nhiều thể loại văn xuôi, khởi xướng những hình thức mới và bằng nhiều cách thức mới mẻ dùng văn học làm nghề kiếm sống. Cùng với họ, văn học Mỹ bắt đầu được biết đến và thưởng thức ở đất Mỹ cũng như ở nước ngoài.

Charles Brockden Brown 
(1771 – 1810)

Được nhắc tới như nhà văn Mỹ chuyên nghiệp đầu tiên, Charles Brockden Brown lấy nguồn cảm hứng từ các nhà văn Anh như nữ sĩ Radcliffe và William Godwin (Radcliffe nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết kinh dị mang phong cách; Godwin là tiểu thuyết gia và là nhà cải cách xã hội, cũng là bố của Mary Sheller, người viết cuốn Frankernstein và lấy nhà thơ Percy Bysshe Shelley).

Bị thúc đẩy bởi sự đói nghèo, Brown vội vã phóng bút viết bốn cuốn tiểu thuyết hấp dẫn trong hai năm: Wieland (1798), Arthur Mervyn (1799),Ormond (1799) và Edgar Huntley (1799). Trong những cuốn này, ông phát triển một thể loại Gothic Mỹ. Tiểu thuyết mang phong cách là một thể loại thông dụng vào thời kỳ đó, đặc biệt thích nói về những bối cảnh hoang dã và kỳ lạ, về chiều sâu tâm lý bất ổn và những điều kỳ bí. Làm nền cho những câu chuyện đó là những tòa lâu đài hay tu viện hoang phế, đổ nát, những hồn ma, những điều bí mật huyền bí, những nhân vật gieo rắc nỗi kinh hoàng, những trinh nữ cô đơn tồn tại được nhờ vào trí thông minh và sức mạnh tâm linh của họ.

Ở vào giai đoạn hưng thịnh nhất, những cuốn tiểu thuyết như vậy đã đem lại cảm giác mạnh đầy hãi hùng và những ám ảnh ma thuật, cùng với những tìm kiếm sâu xa vào tâm hồn con người trong những trạng thái cực đoan. Các nhà phê bình cho rằng cảm quan trong các tiểu thuyết Gothic của Brown diễn đạt những âu lo sâu sắc về thể chế xã hội chưa hoàn chỉnh của một đất nước còn non trẻ.

Brown tái hiện những bối cảnh đặc biệt của nước Mỹ. Là một người giàu ý tưởng, ông đã kịch hóa những lý thuyết khoa học, phát triển một lý thuyết riêng về tiểu thuyết và ông đã đạt được những đỉnh cao văn chương mẫu mực mặc dù sống nghèo khổ. Dẫu có sai sót, những tác phẩm của ông có sức mạnh kinh người. Cùng với thời gian, ông được nhìn nhận là người mở đường cho các nhà văn lãng mạn như Edgar Allan Poe, Herman Melville và Nathaniel Hawthorne. Ông diễn tả những nỗi sợ hãi tiềm thức mà các nhà văn lạc quan thời Khai sáng cố tình lẩn tránh.

Washington Irving 
(1789 -1859)

Là con út trong một gia đình thương gia giàu có ở New York có tới 11 đứa con, Washington Irving từng là đại sứ ngoại giao và văn hóa ở châu Âu, giống như Benjamin Franklin và Nathaniel Hawthorne. Dù rất tài năng, có thể ông đã không trở thành một nhà văn chuyên nghiệp, một cái nghề xét ra chẳng kiếm được bao nhiêu tiền, nếu không có một loạt biến cố ngẫu nhiên đưa đẩy ông đến với nghề viết lách. Qua bạn bè, ông đã xuất bản cuốn Sketch Book (Phác thảo – 1819-1820) cùng một lúc cả ở Anh lẫn Mỹ, nhận được bản quyền và nhuận bút ở cả hai nơi.

Trong cuốn Sketch Book của Geoffrye Crayon (bút hiệu của Irving) có 2 truyện đáng nhớ nhất là Rip Van Winkle và The Legend of Sleepy Hollow(Truyền thuyết về thung lũng Buồn ngủ). Từ “sketch” (phác thảo) mô tả một cách thích hợp văn phong tinh tế, trau chuốt tuy có phần phóng túng của Irving, và “crayon” nghĩa là “tranh chì màu” nói lên tài năng của một họa sĩ có khả năng sử dụng màu sắc, có thể sáng tạo những sắc độ phong phú và tinh tế và những hiệu quả gây xúc động. Trong cuốn Sketch Book, ngòi bút của Irving đã biến dãy núi Catskill chạy dọc con sông Hudson phía bắc thành phố New York thành một vùng đất ma thuật, huyễn hoặc.

Độc giả Mỹ đón nhận cái “lịch sử” tưởng tượng về dãy núi Catskill của ông với lòng biết ơn, mặc dầu sự thật là (họ không được biết), ông đã vay mượn từ những câu chuyện ở Đức.

Dẫu vậy, Irving đã tặng nước Mỹ cái mà họ rất cần trong cái thế giới vật chất, hỗn mang của những năm đầu, đó là một cách liên hệ đầy tưởng tượng đến vùng đất mới.

Không một nhà văn nào đạt được thành công như Irving trong việc nhân cách hóa một vùng đất, đặt cho một cái tên, tạo ra một khuôn mặt và dựng lên một chuỗi huyền thoại về nó. Câu chuyện chàng Rip Van Winkle, ngủ suốt 20 năm, khi thức dậy để thấy thuộc địa đã giành được độc lập, đã biến thành một truyền thuyết dân gian. Nó được chuyển thể sang sân khấu, đi vào văn hóa truyền khẩu và dần dà được nhiều thế hệ người Mỹ chấp nhận như là một huyền thoại Mỹ đích thực.

Irving đã khám phá và đáp ứng yêu cầu về ý thức lịch sử của một quốc gia non trẻ. Rất nhiều tác phẩm của ông có thể được xem là những cố gắng hết mình để kiến tạo bộ mặt tinh thần của một quốc gia mới mẻ về nhiều mặt bằng cách sáng tạo lại lịch sử, trao cho nó hơi thở của sự sống và cùng với điều đó là cuộc sống tràn đầy sắc màu tưởng tượng. Irving có khuynh hướng chọn những đề tài chứa đựng nhiều kịch tính nhất trong lịch sử nước Mỹ: sự khám phá ra Tân thế giới, vị tổng thống và anh hùng dân tộc đầu tiên, cuộc chinh phục miền Tây. Tác phẩm đầu tay của ông History of New York (Lịch sử New York -1809) là một tác phẩm chói sáng, có tính trào phúng về thời kỳ New York còn là khu định cư do người Hà Lan thành lập. Cuốn sách được coi như là của tác giả Diedrich Knickerbocker (và kể từ đó nó là tên gọi chung cho bạn bè Irving và những nhà văn New York thời đó, trường phái “Knickerbocker”).

James Fenimore Cooper 
(1789 -1851)

Cũng như Irving, James Fenimore Cooper là nhà văn đã khơi dậy ý thức về quá khứ và gây dựng cho nó một môi trường và đặt cho nó một cái tên. Dầu vậy, người ta tìm thấy ở Cooper một truyền thuyết đầy sức mạnh về một thời vàng son và nỗi đau về sự mất mát đó. Trong khi Irving và những nhà văn Mỹ khác trước hoặc sau thời của ông lùng sục khắp châu Âu để tìm kiếm những huyền thoại, những lâu đài cổ và những đề tài vĩ đại, Cooper trung thành với huyền thoại cơ bản của nước Mỹ: rằng nó vĩnh cửu, cũng như sự hoang dã vậy. Lịch sử nước Mỹ là một sự xâm nhập vào sự vĩnh hằng; lịch sử châu Âu diễn ra ở Mỹ là một sự suy vong trong Vườn Địa đàng. Người ta lướt mắt qua chu kỳ sinh thái của tự nhiên chỉ là để hủy hoại nó: sự hoang dã biến mất trước mắt người Mỹ, chẳng còn dấu vết gì trước mắt thế hệ những người khai khẩn kế tiếp, như một phép lạ.

Đấy là cái nhìn cơ bản mang tính bi quan của Cooper trước sự tàn hủy chua xót của cõi hoang dã, vốn được xem là Vườn Địa đàng mới từng thu hút những người nhập cư đến đây trong buổi đầu.

Kinh nghiệm riêng đã cho phép Cooper có thể viết một cách sinh động về sự biến đổi của các vùng đất hoang dã và về những chủ đề khác như biển và những xung đột của các dân tộc có nền văn hóa khác nhau. Là con của một gia đình theo giáo phái Quaker, ông lớn lên trong một trang trại xa xôi của cha mình ở Otsego Lake (bây giờ là Cooperstown), giữa tiểu bang New York. Mặc dù vùng này tương đối yên bình khi Cooper còn niên thiếu, nó từng là nơi diễn ra cảnh tàn sát người Da đỏ. Cậu bé Fenimore Cooper gần như lớn lên trong một môi trường phong kiến. Cha ông, chánh án Cooper, cũng là một chủ đất và là một nhà lãnh đạo. Khi còn bé Cooper đã chứng kiến trận chiến giữa những người khai hoang và người Da đỏ. Sau này chính những người định cư Da trắng liều mạng đã xâm phạm đất đai của ông.

Natty Bumppo, một nhân vật nổi tiếng trong văn chương của Cooper, thể hiện quan điểm của ông về người khẩn hoang như một con người lịch lãm, một “nhà quý tộc từ trong máu” kiểu Jefferson. Vào đầu năm 1823, trong cuốn The Pioneers (Những người mở đất), Cooper đã bắt đầu khai sinh ra Bumppo. Natty là nhân vật người khai hoang đầu tiên trong văn học Mỹ và là tiền thân văn học của vô số chàng cao bồi và những anh hùng hảo hán vùng xa xôi hẻo lánh. Chàng ta là con người mang tự do cá nhân, chính trực, và được lý tưởng hóa – một con người còn tốt đẹp hơn cái xã hội mà anh ta bảo vệ. Nghèo, đơn độc nhưng rất mực trong sáng, anh ta là thước đo cho những giá trị đạo đức và là tiền thân cho nhân vật Billy Budd của Herman Melville và Huck Finn của Mark Twain.

Natty Bumppo được sáng tạo một phần dựa vào nguyên mẫu về một người Mỹ có công khai khẩn đất hoang – Daniel Boone – một người cũng theo phái Quaker như Cooper. Cũng như Boone, Natty Bumpo là một anh hùng hảo hán và hơn nữa là một người yêu hòa bình được một bộ tộc Da đỏ thừa nhận. Cả Boone và nhân vật Bumppo hư cấu đều yêu thiên nhiên và tự do. Họ liên tục di chuyển về hướng Tây để thoát khỏi làn sóng những người định cư kế tiếp mà họ đã đưa đường vào vùng đất hoang dã. Họ đã trở thành những huyền thoại ngay trong khi còn sống. Natty cũng có đời sống nội tâm sâu sắc, hết sức cao thượng và tràn đầy những khát vọng cao đẹp. Anh là chàng Hiệp sĩ Cơ đốc giáo trong những cuốn tiểu thuyết thời Trung cổ được đặt vào cánh rừng trinh nguyên và đất đai sỏi đá của châu Mỹ.

Sợi dây liên kết năm cuốn tiểu thuyết trong tuyển tập dưới cái tên Leather-Stocking Tales (Truyện kể về anh chàng đi bittất da) là kể về cuộc đời Natty Bumppo. Là thành quả tốt đẹp nhất của Cooper, chúng tạo nên một bộ sử thi bằng văn xuôi đồ sộ với bối cảnh là lục địa Bắc Mỹ, các bộ lạc Da đỏ là các nhân vật, những cuộc giao tranh vĩ đại, cuộc di dân Tây tiến là những sự kiện làm bối cảnh xã hội. Những cuốn tiểu thuyết đó đã làm sống lại một nước Mỹ tiên phong từ năm 1740 đến 1804.

Tác phẩm của Cooper đã khắc họa những đợt sóng liên tục của dòng người tìm kiếm những khu định cư mới ở biên giới: vùng hoang sơ nguyên thủy của người Da đỏ; sự xuất hiện những người Da trắng đầu tiên: những người dẫn đường, binh lính, nhà buôn, và những người đi mở rộng biên giới; rồi đến làn sóng những gia đình định cư nghèo khổ và thô lỗ; và sau cùng là tầng lớp trung lưu, cùng những người có nghề chuyên môn đầu tiên -quan tòa, thầy thuốc và chủ ngân hàng. Mỗi làn sóng đến sau lại thay thế làn sóng trước, người Da trắng chiếm đất của người Da đỏ, buộc họ phải rút sâu về phía Tây; những tầng lớp trung lưu “văn minh” xây dựng trường học, nhà thờ, và cả nhà tù xua đuổi đám người hạ lưu, sống theo lối tự do cá nhân – tuy có công trong cuộc chinh phục đất hoang -đi xa hơn nữa về hướng Tây để họ lại lần lượt thay thế người Da đỏ đã đến trước.

Trong khi tái hiện dòng người nhập cư vô tận, như một sự thật không thể khác được, Cooper đã nhìn thấy không chỉ những cái được mà còn cả những cái mất.

Tiểu thuyết của Cooper bộc lộ mâu thuẫn sâu sắc giữa cá nhân đơn độc và xã hội, giữa tự nhiên và văn hóa, giữa đời sống tâm linh và tôn giáo có tổ chức. Trong tác phẩm của Cooper, cả thế giới tự nhiên và người Da đỏ đều tốt đẹp từ trong bản chất -như thể đó là vương quốc hết sức văn minh gắn liền với những nhân vật có văn hóa nhất của ông. Nhân vật trung gian thường là những người định cư Da trắng nghèo khổ, tham lam, thất học, đa nghi và quá thô thiển để có thể thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên và những giá trị văn hóa, tinh thần. Cũng như Rudyard Kipling, E.M. Forster, Herman Merville, và những nhà quan sát nhạy cảm khác từng nhìn thấy cho rằng các nền văn hóa lớn rất đa dạng tác động lẫn nhau, Cooper là người theo chủ thuyết tương đối về văn hóa. Ông hiểu rằng chẳng có một nền văn hóa nào có độc quyền về đạo đức và trình độ nghệ thuật.

Cooper chấp nhận nét riêng trong điều kiện sống của nước Mỹ còn Irving thì không. Irving nhìn bối cảnh Mỹ như một người châu Âu – bằng cách du nhập và mô phỏng huyền thoại, văn hóa và lịch sử châu Âu. Cooper đã đi một bước xa hơn trong tiến trình này. Ông sáng tạo nên bối cảnh Mỹ, những chủ đề và nhân vật Mỹ đặc thù mới mẻ. Ông cũng là nhà văn đầu tiên mà tác phẩm vang lên âm hưởng bi kịch trở đi trở lại trong tiểu thuyết Mỹ.

VĂN CHƯƠNG CỦA PHỤ NỮ VÀ CÁC CỘNG ĐỒNG THIỂU SỐ

Mặc dù thời thuộc địa đã sản sinh một số nhà văn nữ đáng chú ý, kỷ nguyên Cách mạng đã không đẩy mạnh hơn sự nghiệp văn học của họ và các nhóm thiểu số dù cho nhiều trường học, tạp chí, nhật báo và câu lạc bộ văn học mọc lên ở khắp nơi. Những người phụ nữ thời thuộc địa như Anne Bradstreet, Anne Hutchinson, Ann Cotton và Sarah Kemble Knight đã có một ảnh hưởng trong văn học và xã hội đáng kể mặc cho những điều kiện sống sơ khai và nguy hiểm; trong 18 phụ nữ đến Mỹ trên con tàu Mayflower vào năm 1620, chỉ có 4 người sống sót qua năm đầu tiên. Vào cái thời mà một cơ thể khỏe mạnh được xem là quan trọng, và hoàn cảnh sống thì đầy biến động, một tài năng bẩm sinh có thể dễ dàng được thể hiện. Nhưng khi những thể chế văn hóa được thể thức hóa trong một nước cộng hòa mới mẻ, phụ nữ và cộng đồng thiểu số bị loại dần ra khỏi những thể chế đó.

Phillis Wheatley
(khoảng 1753 – 1784)

Xét đến những điều kiện sống gian khổ trong buổi đầu ở Mỹ, trớ trêu thay, những bài thơ hay nhất của thời kỳ này lại là của một nữ nô lệ kiệt xuất. Tác giả Mỹ gốc Phi châu được liệt vào hàng quan trọng đầu tiên ở Hoa Kỳ là Phillis Wheatley sinh ở châu Phi và được đưa đến Boston, bang Massachusetts, khi bà chỉ mới khoảng 7 tuổi. Bà được một thợ may từ tâm và giàu có là John Wheatley mua về để hầu hạ vợ mình. Ông bà Wheatley nhận ra sự thông minh xuất chúng của Phillis và với sự giúp đỡ của người con gái của họ là Mary, Phillis đã học đọc và viết.

Các chủ đề trong thơ của Wheatley đều là tôn giáo và phong cách thơ của bà là Tân cổ điển cũng giống như phong cách của Philip Freneau. Trong số những bài thơ nổi tiếng nhất của bà, bài thơ To S.M, a Young African Painter, on Seeing His Works (Gửi S.M, họa sĩ trẻ Phi châu trong lần viếng thăm xưởng vẽ) là một bài thơ ca ngợi và khích lệ một tài năng Da đen khác, và cũng là một bài thơ ngắn thể hiện xúc cảm tôn giáo mạnh mẽ đã được gạn lọc qua kinh nghiệm cải giáo theo đạo Thiên Chúa của bà. Bài thơ này làm cho vài nhà phê bình đương thời cảm thấy khó chịu -những nhà phê bình Da trắng khó 61 chịu vì họ thấy nó ước lệ, và những nhà phê bình Da đen khó chịu vì bài thơ đã không chống lại sự phi đạo đức của chế độ nô lệ. Tuy nhiên bài thơ là một tâm sự chân thành, nó đối đầu với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của người Da trắng và khẳng định quyền bình đẳng tâm linh. Như vậy, Wheatley là người đầu tiên phát biểu những vấn đề này một cách đầy tin tưởng trong thi ca. Như trong bài On Being Brought from Africa to America (Khi bị đem từ châu Phi sang Mỹ) có đoạn:

Ân huệ nào đã mang tôi từ mảnh đất vô thần
Dạy tâm hồn tăm tối của tôi biết nhận thức.
Rằng có một Chúa trời và cũng có Đấng Cứu rỗi
Đã một thời tôi không biết và không kiếm tìm cứu vớt
Có ai đó đã nhìn chúng tôi với ánh mắt khinh khi
“Màu da chúng nhuộm màu của quỷ”
Xin hãy nhớ, các tín đồ Cơ Đốc, người Da đen, tăm tối như Cain(
[7])
Cũng có thể được thanh tẩy, và cùng đi chuyến tàu thiên sứ.

CÁC NHÀ VĂN NỮ KHÁC

Nhiều nhà văn nữ thành đạt thời kỳ Cách mạng lại được chính các học giả ủng hộ nữ quyền khám phá. Susanna Rowson (khoảng 1762 – 1824) là một trong những tiểu thuyết gia chuyên nghiệp đầu tiên ở Mỹ. Di sản của bà gồm bảy tiểu thuyết trong đó cuốn thuộc vào loại bán chạy nhất làCharlotte Temple (Đền thờ Charlotte – 1791). Sách của bà nổi lên các chủ đề về quyền bình đẳng của phụ nữ, sự phá bỏ chế độ nô lệ, bà đã miêu tả người Mỹ Da đỏ với một sự kính trọng.

Một nhà văn khác bị chìm trong lãng quên suốt thời gian dài là Hannah Foster (1758 – 1840), tác giả cuốn tiểu thuyết ăn khách The Coquette (Đứa lẳng lơ – 1797) viết về một người phụ nữ trẻ bị xâu xé giữa đức hạnh và cám dỗ. Bị quyến rũ bởi một tu sĩ lạnh lùng rồi bị chính người đó khước từ, bỏ rơi, nàng sinh một đứa con rồi chết trong cô đơn.

Judith Sargent Murray (1751 – 1820) phải xuất bản sách dưới một cái tên nam giới để người ta chú ý một cách nghiêm túc đến tác phẩm của mình. Mercy Otis Warren (1728 -1814) là một nhà thơ, sử gia, nhà soạn kịch, nhà văn châm biếm và một người ái quốc. Bà tổ chức các cuộc nhóm họp thời kỳ tiền cách mạng tại nhà, công kích người Anh trong những vở kịch đặc sắc và viết bộ lịch sử tiến bộ đương thời duy nhất về cách mạng Mỹ.

Những lá thư giữa những người phụ nữ như bà Mercy Otis Warren và Abigail Adams, và những thư từ nói chung, là những tài liệu quan trọng về thời kỳ đó. Ví dụ, Abigail Adams viết cho chồng bà – John Adams (sau này là vị tổng thống thứ 2 của Mỹ) – vào năm 1776 yêu cầu sự độc lập của phụ nữ phải được bảo đảm trong hiến pháp tương lai của Hoa Kỳ.


[1] Gothic: Một loại tiểu thuyết xuất hiện vào cuối thế kỷ 18 chuyên viết về những chuyện bí hiểm, rùng rợn. Được gọi là Gothic bởi vì nó thường lấy bối cảnh ở các lâu đài, tu viện hoang phế, đổ nát thời Trung cổ với những đường hầm ngầm dưới mặt đất, những bức tường thành với những lỗ châu mai ám muội, những hội kín và những cánh cửa bí mật.

[2] Pamphlet: Theo định nghĩa của UNESCO là một ấn phẩm không đóng thành sách, xuất bản không định kỳ, không ngắn hơn 5 trang và không dài hơn 48 trang, dùng để tuyên truyền, cổ động hoặc nêu quan điểm, chính kiến về một vấn đề thời sự chính trị, xã hội được quần chúng quan tâm. Xuất hiện vào đầu thế kỷ 16 trong việc ủng hộ Cải cách tôn giáo, ngày nay, pamphlet được dùng như sách bướm nhằm cung cấp thông tin của các tổ chức chính phủ hay là các hiệp hội.

[3] Canaan: Vùng đất phía tây Palestine, được người Do Thái cổ tin rằng đó là Miền đất Hứa mà Chúa dành cho họ.

[4] Yankee: Một cái tên mà người miền Nam gọi người miền Bắc một cách giễu cợt.

[5] Phái Liên bang (Federalist) chủ trương dành nhiều quyền lực cho chính quyền liên bang.

[6] Về tựa của bài thơ này chúng tôi xin tạm đưa ra một cái tựa dựa vào nội dung của bài thơ.

[7] Cain: Trong Cựu ước, Cain là con trai trưởng của Adam và Eva, đã giết em trai của mình là Abel. Cain – một nông dân – đã hết sức giận dữ khi Chúa Trời cho phép Abel làm người chăn cừu nên đã giết em và bị Chúa đày đi biệt xứ.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_ii.html

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 1: Thời kỳ lập quốc và thuộc địa cho đến năm 1776

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Chương 1: Thời kỳ lập quốc và thuộc địa cho đến năm 1776

Văn học Mỹ khởi đầu bằng các truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ và những bài ca truyền miệng thuộc các nền văn hóa của dân Da đỏ. Trong hơn 500 ngôn ngữ và nền văn hóa bộ lạc khác nhau của dân Da đỏ tồn tại ở Bắc Mỹ trước khi những người châu Âu đầu tiên tìm đến đã chẳng có được một nền văn học thành văn nào. Kết quả là nền văn học truyền miệng châu Mỹ bản địa hết sức đa dạng. Những truyện kể của các nền văn hóa săn bắn sống gần như du mục của bộ lạc Navajo khác hẳn với các câu chuyện của những bộ lạc nông nghiệp định cư như dân tộc Acoma sinh sống trong làng; những câu chuyện của cư dân sống ven hồ ở phương Bắc như Ojibwa về cơ bản khác hẳn các câu chuyện của các bộ lạc sống trên sa mạc như Hopi.

Mỗi bộ lạc có tín ngưỡng riêng của mình – thờ thần thánh, linh vật, cây cỏ hoặc những nhân vật linh thiêng. Hệ thống nhà nước biến thiên đa dạng từ hội đồng bô lão có tính chất dân chủ cho đến chính thể thần quyền (hội đồng tăng lữ giáo sĩ). Sự đa dạng của các bộ tộc này cũng ảnh hưởng đến văn học truyền miệng.

Tuy vậy chúng ta vẫn có thể nắm được một vài nét khái quát. Chẳng hạn những câu chuyện của người Da đỏ rực lên sự tôn thờ thiên nhiên như một người mẹ vừa linh thiêng lẫn trần tục. Thiên nhiên luôn tràn đầy sinh lực và chất chứa những quyền lực thiêng liêng, những nhân vật chính dù là loài vật hay cỏ cây, thường là những linh vật gắn liền với một bộ lạc, một nhóm người hay một cá nhân nào đó. Ý niệm gần gũi nhất với ý niệm về tính linh thiêng của người Da đỏ trong văn học Mỹ sau này là khái niệm siêu nghiệm của Ralph Waldo Emerson “siêu linh hồn” trải khắp cuộc đời.

Những bộ lạc Mexico sùng bái thần Quetzalcoatl thiêng liêng, một vị thần của người Toltecs và Aztecs, và ở nhiều nơi khác cũng có một số câu chuyện về một vị thần linh tối cao hay một nền văn hóa nào đó. Tuy vậy, không có một hệ thống các sự tích tôn giáo chuẩn mực, lâu dài về một đấng thiêng liêng tối cao. Những sự tích tương đương gần gũi nhất với những câu chuyện tôn giáo của Cựu thế giới thường là những chuyện về thuyết pháp và các chuyến hành hương của các pháp sư. Ngoài các câu chuyện này còn có những câu chuyện về những nhân vật dân gian như Manabozho của bộ lạc Ojibwa hay Coyote của bộ lạc Navajo. Những kẻ hai mặt này được coi trọng hoặc khinh miệt tùy theo từng câu chuyện. Trong câu chuyện này họ hành động như những anh hùng, trong khi ở một truyện khác họ lại có vẻ ích kỷ và ngu xuẩn. Mặc dù các tác giả có thẩm quyền trong quá khứ, chẳng hạn nhà tâm lý học Thụy Sĩ Carl Jung, đã xem những câu chuyện về những kẻ lừa đảo này như là cách miêu tả khía cạnh thấp hèn, vô đạo của tâm thức con người, những học giả đương thời – nhiều người trong số đó là người Mỹ Da đỏ – chỉ ra rằng Odysseus và Prometheus, những anh hùng Hy Lạp đáng kính, tự bản chất cũng là những kẻ lừa lọc.

Người ta có thể tìm thấy được những ví dụ của hầu như mọi thể loại truyền miệng trong nền văn học Mỹ Da đỏ: thơ trữ tình, bài ca, huyền thoại, truyện cổ tích, giai thoại tiếu lâm, thần chú, câu đố, tục ngữ, sử thi và những câu chuyện dã sử. Truyện về tổ tiên và những cuộc di dân cũng như những bài sấm truyền hay những bài ca chữa bệnh và những câu chuyện về các tay hảo hán thì nhiều vô kể. Một vài truyện về sáng tạo muôn loài cũng rất phổ biến, trong đó có nhiều bộ lạc lưu truyền câu chuyện về một con rùa nâng được cả thế giới với nhiều dị bản khác nhau. Trong dị bản của người Cheyenne, đấng sáng tạo, Maheo, có bốn cơ hội để tạo nên thế giới từ một vũ trụ làm bằng nước. Vị thần này đã phái xuống bốn con chim lặn xuống nước cố mang trái đất từ dưới đáy lên. Ngỗng trời, chim lặn, vịt trời bay vút lên trời và nhào xuống lặn nhưng không thể xuống tới đáy được; nhưng con chim sâm cầm nhỏ bé, không bay được đã có thể mang lên được một ít bùn ở mõm. Chỉ duy nhất một tạo vật, Rùa Bà tầm thường, là hình dáng thích hợp để mang thế giới bùn lầy mà Maheo tạo dựng trên lưng của nó – từ đó người Da đỏ gọi châu Mỹ là Đảo Rùa.

Những bài hát hoặc thơ ca, cũng như những truyện kể bắt đầu từ thể tài linh thiêng đến những loại nhẹ nhàng, hài hước: đó là những lời ru, những bài ca chiến trận, những bản tình ca, và những khúc hát đặc biệt trong những trò chơi của trẻ con, đánh bài, cho đủ thứ công việc, cho những nghi lễ ma thuật hay nhảy múa. Nhìn chung những khúc ca này thường được lặp đi lặp lại. Những bài hát nên thơ ngắn ngủi hiện ra trong mơ đôi lúc có những hình tượng rõ ràng và tình cảm tinh tế rất gần với thơ haiku của Nhật hoặc loại thơ ca hình tượng chịu ảnh hưởng phương Đông. Một bài ca của người Chippewa như sau:

Tôi nghĩ đó là một con chim lặn
Nhưng lại là
Mái chèo khua nước
Của tình tôi.

Những bài hát thuộc loại tiên tri thường rất ngắn, được thể hiện bằng hình thức khác hẳn. Xuất hiện trong giấc mơ hay giữa những ảo ảnh, đôi khi không được báo trước, chúng có thể là những bài hát dùng trong chữa bệnh, khi săn bắn hay về tình yêu. Chúng thường mang đậm dấu ấn cá nhân, như trong bài hát này của người Madoc:

Tôi
là bài ca
trong khi đang bước.

Truyền thống văn học truyền miệng của người Da đỏ và mối quan hệ của nó với văn học Mỹ nhìn chung là một trong những đề tài phong phú nhất và ít được nghiên cứu nhất trong những nghiên cứu về nước Mỹ. Sự đóng góp của người Da đỏ cho nước Mỹ còn lớn hơn những gì mà người ta biết. Hàng trăm từ thông dụng của ngôn ngữ Anh Mỹ là bắt nguồn từ thổ dân Da đỏ: “canoe” (canô), “tobacco” (thuốc lá), “potato” (khoai tây), “moccasin” (giày da đế phẳng), “moose” (nai sừng tấm), “persimmon” (cây hồng), “racoon” (gấu trúc Nam Mỹ), “tomahawk” (cái rìu) và “totem” (vật tổ).

VĂN HỌC CỦA THỜI KỲ KHAI PHÁ

Nếu lịch sử rẽ sang một hướng khác, Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ rất có thể đã dễ dàng biến thành một lãnh thổ hải ngoại của Pháp hay Tây Ban Nha. Cư dân hiện tại của nó có thể nói tiếng Tây Ban Nha và cùng với Mexico tạo thành một quốc gia, hoặc sử dụng tiếng Pháp kết hợp với Quebec và Montreal trở thành người Canada. Tuy nhiên những nhà thám hiểm châu Mỹ sớm nhất không phải là người Anh, người Tây Ban Nha hay người Pháp.

Văn bản về cuộc chinh phục châu Mỹ đầu tiên mà châu Âu ghi lại được là bằng ngôn ngữ Scandinavia, cuốn Vinland Saga bằng tiếng Na Uy cổ kể lại cuộc phiêu lưu của Leif Ericson và một nhóm người Na Uy cổ định cư ngắn ngủi đâu đó trên bờ biển Đông Bắc châu Mỹ – có lẽ là Nova Scotia ở Canada – vào thập niên đầu của thế kỷ 11, gần 400 năm trước việc khám phá tiếp theo Tân thế giới còn được ghi chép ở châu Âu.

Tuy nhiên, cuộc tiếp xúc đầu tiên được biết đến và còn duy trì giữa châu Mỹ và phần còn lại của thế giới bắt đầu bằng cuộc du hành nổi tiếng của một nhà thám hiểm người Ý, Christopher Columbus, được Hoàng đế Ferdinand và Hoàng hậu Isabella của Tây Ban Nha tài trợ. Nhật ký của Columbus trong tập “Thư từ”([1]) của mình, in năm 1493, kể lại thảm kịch của chuyến du hành – đám người hoảng loạn, sợ những con thủy quái và nghĩ rằng họ sẽ rơi khỏi rìa trái đất([2]), cuộc nổi loạn suýt xảy ra; việc Columbus giả mạo nhật ký hải hành để thủy thủ không thể biết được họ đã đi xa hơn những người đi trước bao nhiêu; và cảnh lần đầu tiên nhìn thấy dải đất liền khi họ đến gần châu Mỹ.

Bartolomé de las Casas là nguồn tư liệu phong phú nhất về cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa người Da đỏ châu Mỹ và người châu Âu. Với tư cách là một giáo sĩ trẻ, ông ta đã giúp chinh phục được Cuba. Ông đã chép lại nhật ký của Columbus, và về sau đã viết cuốn History of the Indians (Lịch sử của người Da đỏ) thật đồ sộ và sinh động, phê phán việc người Tây Ban Nha bắt người Da đỏ làm nô lệ.

Những toan tính đầu tiên của người Anh biến châu Mỹ thành thuộc địa thật sự là những tai họa. Thuộc địa đầu tiên được thành lập năm 1585 ở Roanoke, ngoài khơi bang Bắc Carolina; sau đó tất cả những người lập thuộc địa ở đây đã biến mất, và cho đến nay người ta vẫn kể nhiều huyền thoại về người Da đỏ -Croatan mắt xanh trong vùng. Thuộc địa thứ hai bền vững hơn: Jamestown, thiết lập năm 1607. Nó chịu đựng được đói khát, bạo ngược và rối ren. Tuy nhiên, văn học thời kỳ này đã tô vẽ cho nước Mỹ những màu sắc rực rỡ như là một vùng đất giàu có và đầy hứa hẹn. Những chuyện kể về công cuộc thuộc địa hóa đã nổi danh khắp thế giới. Cuộc thám hiểm của Roanoke được Thomas Hariot ghi lại cặn kẽ trong cuốn A Brief and True Report of the New – Found Land of Virginia (Một báo cáo ngắn và chân thật về vùng đất mới tìm thấy thuộc Virginia – 1588). Cuốn sách của Hariot được nhanh chóng dịch ra tiếng Latin, tiếng Pháp và tiếng Đức; nội dung và hình ảnh được làm thành bản khắc và được tái bản rộng rãi suốt hơn 200 năm.

Tuy vậy chính các bài viết của thuyền trưởng John Smith, một trong những nhà lãnh đạo của thuộc địa là những ghi chép chủ yếu về thuộc địa Jamestown, lại ngược hẳn với bản tường trình rất khoa học, chính xác của Hariot. Smith là một người cực kỳ lãng mạn, hình như ông ta đã thêu dệt thêm cho những chuyến mạo hiểm của mình. Nhờ ông mà chúng ta mới biết được câu chuyện nổi tiếng kể về Pocahontas – một người con gái Da đỏ. Dù là có thật hay hư cấu, câu chuyện này đã cắm rễ sâu vào sức tưởng tượng có tính cách lịch sử của Mỹ. Câu chuyện kể lại rằng Pocahontas, con gái cưng của tù trưởng Powhatan, đã cứu sống thuyền trưởng Smith – một tù nhân của tù trưởng. Sau này, khi những người Anh thuyết phục Powhatan trao Pocahontas cho họ làm con tin, thì nét dịu dàng, óc thông minh và vẻ đẹp của nàng đã gây ấn tượng sâu đậm cho người Anh. Vào năm 1614, nàng lấy John Rolfe – một nhà quý tộc người Anh có thế lực. Cuộc hôn nhân đem lại hòa bình trong khoảng tám năm giữa những người thiết lập thuộc địa và người Da đỏ, đảm bảo sự sống còn của thuộc địa mới…

Vào thế kỷ 17, hải tặc, những kẻ phiêu lưu và các nhà thám hiểm mở đường cho một làn sóng thứ hai cho những người đi lập thuộc địa, cho phép họ mang theo vợ con, dụng cụ làm nông nghiệp và thủ công. Nền văn học non trẻ của thời khai phá chủ yếu là nhật ký, thư từ, ghi chép hành trình, nhật ký hải hành và những báo cáo tường trình gửi các nhà tài trợ các bậc vua chúa ở châu Âu hoặc các công ty cổ phần ở Anh và Hà Lan vốn có xu hướng trọng thương. Những ghi chép này từng bước nhường chỗ cho nhiều bản báo cáo của các thuộc địa đã ổn định. Bởi vì Anh quốc rốt cuộc chiếm hết những thuộc địa Bắc Mỹ, nền văn học thuộc địa phổ biến nhất và được đưa vào tuyển tập nhiều nhất là văn học Anh. Khi văn học của người Mỹ Da đỏ tiếp tục nở rộ vào thế kỷ 20 và đời sống Mỹ trở nên ngày càng đa văn hóa hơn, các học giả có xu hướng trở lại khám phá tầm quan trọng của di sản chủng tộc pha trộn của đại lục địa này. Mặc dầu giờ đây câu chuyện văn học chủ yếu là của người Anh, điều quan trọng là phải công nhận những giai đoạn khởi đầu phong phú mang tính quốc tế.

THỜI KỲ THUỘC ĐỊA Ở NEW ENGLAND

Có thể nói, không một nhóm người đi tìm thuộc địa nào trong lịch sử thế giới lại đạt đến trình độ tri thức cao như những người Thanh giáo. Khoảng giữa 1630 đến 1690, ở phần Đông Bắc Hoa Kỳ, được gọi là New England, đã có số người tốt nghiệp đại học nhiều bằng với Mẫu quốc – một dữ kiện gây ngạc nhiên vì người ta vẫn cho rằng hầu hết những người có học vấn thời đó vốn xuất thân từ quý tộc chẳng dại gì liều mạng sống trong môi trường hoang dã. Những người Thanh giáo tự lập và thường là tự học là những ngoại lệ đáng chú ý. Họ khao khát tri thức để có thể hiểu và thực thi được ý muốn Thượng đế trong khi họ thiết lập những khu định cư khắp New England.

Thanh giáo định nghĩa một lối viết hay là lối viết có thể giúp con người nhận thức đầy đủ về sự quan trọng của việc thờ phụng Chúa và những hiểm nguy tâm linh mà linh hồn phải đối mặt trên trần thế. Sự thể hiện của văn chương Thanh giáo rất đa dạng – từ những bài thơ siêu hình phức tạp, cho đến những ghi chép trong cuộc sống thông thường và lịch sử tôn giáo mang tính chất câu nệ và áp đặt. Bất luận phong cách thể loại gì, nhưng một số chủ đề vẫn không đổi. Cuộc sống được xem là cuộc thử thách; thất bại sẽ dẫn đến hỏa ngục và án phạt đời đời, thành công mang đến niềm phúc lạc Thiên đàng. Thế gian này là chiến trường của cuộc chiến muôn thưở giữa những thế lực của Thượng đế và thế lực của Satan, một kẻ thù đáng sợ thiên biến vạn hóa. Nhiều tín hữu Thanh giáo náo nức trông chờ cái “Thiên niên kỷ” Chúa Jesus sẽ trở lại trần thế, đặt dấu chấm hết cho sự khổ đau của loài người và khởi đầu một ngàn năm hòa bình thịnh vượng.

Từ lâu các học giả đã chỉ ra mối liên kết giữa Thanh giáo và chủ nghĩa Tư bản: cả hai đều đặt nền tảng trên tham vọng, cần cù và sự phấn đấu không mệt mỏi để đạt đến thành công. Mặc dù mỗi một tín đồ Thanh giáo không thể biết được, nói theo thuật ngữ Thần học nghiêm túc, mình có được “cứu rỗi” và có được ở trong số những người được chọn vào Thiên đàng hay không, họ có khuynh hướng nghĩ rằng những thành công ở trần thế là một trong những điều kiện của sự tuyển chọn đó. Họ tìm kiếm giàu sang và địa vị không chỉ vì cần có chúng mà còn bởi vì chúng được xem như những bảo đảm cho sự lành mạnh tâm linh và những hứa hẹn về một cuộc sống vĩnh cửu.

Hơn nữa, chính quan niệm về một sự cố gắng hết mình đã khích lệ thành công. Tín đồ Thanh giáo lý giải tất cả mọi điều, mọi biến cố như những biểu tượng với ý nghĩa tâm linh sâu sắc, và cảm thấy rằng trong khi cố gắng làm giàu cho mình và cho cộng đồng, họ cũng thực thi tốt hơn những ý muốn của Thượng đế. Họ đã không phân định ranh giới giữa thế giới trần tục và tôn giáo: cả cuộc đời là sự diễn đạt ý muốn thần linh ố một niềm tin về sau lại xuất hiện trong triết học Siêu nghiệm.

Khi ghi lại những biến cố đời thường để bộc bạch ý nghĩa tâm linh, các tác giả Thanh giáo thường trích dẫn Kinh thánh. Lịch sử được hình dung là một toàn cảnh tôn giáo mang tính biểu tượng dẫn đến sự toàn thắng của Thanh giáo và vương quốc của Thượng đế trên trần gian.

Những người thực dân Thanh giáo đầu tiên định cư ở New England đã nêu gương cho sự nghiêm túc của Thiên Chúa giáo cải cách. Được mệnh danh là “Những kẻ Pilgrim”, họ gồm một nhóm nhỏ các tín đồ di cư từ Anh đến Hà Lan – hồi ấy Hà Lan nổi tiếng vì sự dễ dãi với tôn giáo của mình – vào năm 1608, trong thời kỳ khủng bố tôn giáo.

Như hầu hết những người Thanh giáo, những tín đồ Thiên Chúa ở Anh và Hà Lan lý giải Kinh thánh theo nghĩa đen. Họ đọc và hành động theoSecond Book of Corinthians (Tập thư thứ hai gửi tín hữu thành Corinth của Thánh tông đồ Paul) -“Ngươi hãy tách ra khỏi họ và ly cách ngươi, lời của Chúa”. Không còn hy vọng thanh tẩy được Giáo hội Anh giáo từ trong nội bộ, “Những người ly khai” đã thành lập những giáo hội “giao ước” bí mật thề nguyền trung thành với hội nhóm thay vì với vua. Bị xem là những người phản bội hoàng đế cũng như là những kẻ phản đạo buộc phải xuống hỏa ngục, họ thường bị đàn áp. Cuối cùng sự ly khai đã đưa họ đến Tân thế giới.

William Bradford
(1590 – 1657)

Ông được bầu làm Thống đốc Plymouth ở thuộc địa vùng vịnh Massachusetts ngay sau khi những người Ly giáo đến. Ông là người cực kỳ sùng đạo, có tinh thần tự học, biết nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Do Thái cổ, chỉ để “tận mắt nhìn thấy sấm truyền của Thượng Đế trong vẻ đẹp nguyên sơ”. Cuộc di cư sang Hà Lan, rồi cuộc hành trình trên con tàu Mayflower đến Plymouth; cũng như những bổn phận của ông với cương vị thống đốc đã khiến ông trở thành sử gia đầu tiên của thuộc địa này một cách thật thích hợp. Cuốn sử của ông, Of Plymouth Plantation (Đồn điền Plymouth – 1651) là một bản tường trình rõ ràng và mạch lạc về thuở ban đầu của thuộc địa. Những trang ông ghi lại ấn tượng ban đầu của mình khi nhìn thấy châu Mỹ rất nổi tiếng:

Thế là vượt qua đại dương muôn trùng, và vô vàn những bất trắc… giờ đây họ chẳng có bạn bè chào đón, chẳng có một quán trọ để nghỉ ngơi và phục hồi những thân xác bị sóng gió dập vùi; không cửa nhà hay phố xá để dạo chơi hay để tìm sự an ủi… chỉ có những kẻ man rợ… vẻ như sẵn sàng trút lên họ cung tên hơn là thứ gì khác. Và bấy giờ là mùa đông, họ biết rằng mùa đông ở đây còn khắc nghiệt và dữ dội hơn nhiều và phải chịu đựng những cơn bão hung hãn và tàn ác… tất cả đều mang một khuôn mặt sương gió, và khắp nơi là rừng rậm, biểu hiện một sắc màu hoang dã sơ khai.

Bradford cũng ghi lại tư liệu đầu tiên việc tự quản thuộc địa ở Tân thế giới, “Hiệp ước Mayflower” được lập ra ngay khi những người hành hương còn ở trên con tàu. Hiệp ước là một bản nháp cho một bản Tuyên ngôn độc lập xuất hiện một thế kỷ rưỡi sau.

Tín đồ Thanh giáo không tán thành những thú vui trần tục như khiêu vũ và bài bạc mà họ cho rằng luôn đi kèm với đám quý tộc vô đạo và cách sống vô luân. Đọc và viết những loại “nhẹ nhàng” cũng bị xếp vào phạm trù này. Trí óc người Thanh giáo luôn dồn hết mọi năng lượng vào những thể loại phi tiểu thuyết và tôn giáo: thi ca, thuyết giảng, thần học và lịch sử. Nhật ký và suy nghiệm riêng tư của họ ghi lại cuộc sống nội tâm phong phú của những con người sâu sắc hướng nội này.

Anne Bradstreet 
(Khoảng 1612 – 1672)

Tập thơ đầu tiên cũng là cuốn sách đầu tiên ở Mỹ là của một phụ nữ – bà Anne Bradstreet. Cũng chẳng có gì phải ngạc nhiên khi cuốn sách này được xuất bản ở Anh, hẳn nhiên trong những năm tháng sơ khai, các thuộc địa đầu tiên ở châu Mỹ thiếu cơ sở in ấn. Sinh trưởng và được học tập ở Anh, Anne Bradstreet là con gái của một viên quản lý điền trang của một Nam tước. Bà di cư cùng với gia đình năm 18 tuổi. Chồng bà là Thống đốc thuộc địa Vịnh Massachusetts, sau này trở thành thành phố Boston. Bà thích những bài thơ dài của mình về tôn giáo theo những đề tài ước lệ như 4 mùa, nhưng độc giả đương thời thích nhất những bài thơ thông minh giàu chất trí tuệ về những đề tài trong cuộc sống hàng ngày và những bài thơ tràn đầy tình yêu thương nồng nàn bà dành cho chồng con. Thơ ca siêu hình Anh đã tạo cho bà nguồn cảm hứng và cuốn The Tenth Muse Lately Sprung Up in America (Nàng thơ thứ mười xuất hiện muộn màng ở Mỹ) của bà (1650) cho thấy ảnh hưởng của Edmund Spencer, Philip Sidney cũng như các nhà thơ Anh khác. Bà thường sử dụng những câu thơ dí dỏm cầu kỳ và những ẩn dụ có phần cường điệu. Bài thơ To my Dear and Loving Husband (Gửi người chồng thương yêu, quý mến của tôi -1650) dùng những hình tượng phương Đông, đề tài tình yêu và một thủ pháp so sánh phổ biến ở châu Âu thời đó, nhưng bà đã khoác cho chúng một ý nghĩa tôn giáo ở đoạn cuối.

Nếu có bao giờ hai người là một, thì chắc sẽ là đôi ta
Nếu có bao giờ người chồng được vợ yêu thương, thì đấy là anh
Nếu có bao giờ người vợ hạnh phúc với bạn đời
Hãy so sánh với em, những người phụ nữ của anh, nếu được
Tình yêu của anh quý hơn cả mỏ vàng mỏ bạc
Hơn tất cả châu báu ở phương Đông
Tình yêu của em là điều mà mọi dòng sông không thể nhận chìm
Cũng chẳng gì bù đắp được, ngoại trừ tấm tình anh
Tình yêu của anh là điều em không thể đền đáp được
Em cầu trời cao ban phước lành cho anh vạn bội
Để trong cuộc đời này tình yêu luôn ở lại
Và cả khi ta không tồn tại nữa, ta vẫn sống bên nhau đến muôn đời.

Edward Taylor 
(Khoảng 1644 – 1729)

Cũng như Anne Bradstreet, và hẳn nhiên, như tất cả những tác giả đầu tiên của New England, nhà thơ mục sư năng nổ, tài hoa, Edward Taylor sinh ở Anh. Là con trai của một tiểu nông -một nông dân độc lập sở hữu ruộng đất riêng – Taylor, một thầy giáo thà di cư đến New England vào năm 1668 còn hơn là giữ lời thề trung thành với Giáo hội Anh Giáo. Ông học ở đại học Harvard. Như hầu hết các mục sư được đào tạo ở Harvard, ông biết tiếng Hy Lạp, Latin và Do Thái cổ. Là một người vị tha và sùng đạo, Taylor đã hoạt động như một nhà truyền giáo giữa đám dân định cư khi ông chấp nhận sứ mệnh mục sư trọn đời ở thị trấn biên giới Westfield, Massachusetts, đi sâu vào vùng rừng rậm hoang vu đến 160km nữa. Taylor là người có học nhất trong vùng, và ông đã sử dụng kiến thức của mình một cách hữu ích với cương vị một mục sư, một bác sĩ và một nhà lãnh đạo thị trấn.

Khiêm tốn, sùng đạo và làm việc hết mình, Taylor chưa bao giờ xuất bản thơ mình. Thơ ông chỉ được phát hiện vào thập niên 30 thế kỷ 20. Chắc chắn, ông đã thấy sự khám phá ra tác phẩm của mình như là điều thuận theo ý Chúa. Còn độc giả ngày nay rất cám ơn vì đã có được những bài thơ của ông -những bài thơ hay nhất của thi ca thế kỷ 17 ở Bắc Mỹ.

Sáng tác của Taylor thật phong phú: điếu văn trong lễ tang, khúc bi ca, một cuộc “bàn luận” trung cổ, và một cuốn sách dày 500 trang Metrical History of Christianity (chủ yếu là một cuốn sử về những vị thánh tử vì đạo). Những tác phẩm hay nhất của ông, theo các nhà phê bình ngày nay, là hàng loạt những chiêm nghiệm.

Michael Wigglesworth 
(1631 – 1705)

Michael Wigglesworth, một mục sư Thanh giáo cũng giống như Taylor, sinh trưởng ở Anh và được đào tạo ở Harvard, hành nghề y, là nhà thơ nổi bật thứ ba của thuộc địa New England. Ông tiếp tục những chủ đề Thanh giáo trong tác phẩm nổi tiếng nhất của mình: The Day Of Doom (Ngày tận thế – 1662). Một truyện thơ dài thường rơi vào thể loại vè nhàm chán, tính phổ cập đáng sợ này của chủ thuyết Calvin([3]) là bài thơ phổ biến nhất của thời thuộc địa. Tác phẩm bán chạy nhất đầu tiên ở Mỹ này là hình ảnh đáng sợ về hình phạt địa ngục được làm theo thể thơ ballad.

Đó là một thứ thi ca khủng khiếp – nhưng lại được mọi người yêu thích. Nó gắn kết sự quyến rũ của một câu chuyện kinh dị với quyền lực của John Calvin. Trong hơn hai thế kỷ, người ta thuộc lòng tác phẩm dài hơi và rùng rợn về nỗi kinh hoàng tôn giáo này. Trẻ con tự hào ngâm nga nó, người lớn trích dẫn nó trong giao tiếp hằng ngày. Từ những hình phạt khủng khiếp trong bài thơ này đến vết thương đáng sợ tự gây cho mình của vị mục sư Thanh giáo tội lỗi – Arthur Dimmesdale, trong The Scarlet Letter (Chữ A màu đỏ – 1850) của Nathaniel Hawthorne hay đến viên thuyền trưởng Ahab tật nguyền của Herman Melville, một Faust([4]) của New England mà vì sự kiếm tìm tri thức bị ngăn cấm của mình đã làm đắm con tàu nhân bản Mỹ trong Moby-Dick (Cá voi trắng – 1851) cũng chẳng phải một bước nhảy xa xôi gì (Moby-Dick là cuốn tiểu thuyết yêu thích của William Faukner, nhà văn của thế kỷ 20, tác giả của những cuốn tiểu thuyết sâu sắc có sức chấn động dữ dội dự báo rằng cái nhìn siêu hình, tăm tối của nước Mỹ Tin lành vẫn lẩn quất đâu đây).

Như hầu hết nền văn học thuộc địa, những bài thơ của New England buổi đầu đã bắt chước hình thức và kỹ thuật của Mẫu quốc, dù niềm say mê tôn giáo và sự ảnh hưởng Kinh thánh sâu đậm, cũng như bối cảnh mới, tạo cho văn học New England một diện mạo đặc biệt. Những tác giả của Tân thế giới bị cô lập lại sống trong thời kỳ trước khi có sự xuất hiện của những phương tiện vận chuyển và truyền thông điện tử nhanh chóng. Kết quả là những tác giả thuộc địa đã bắt chước một lối viết đã lỗi thời ở nước Anh: Edward Taylor, nhà thơ Mỹ hay nhất vào thời ông đã viết thơ siêu hình sau khi thể loại thơ này trở thành lỗi thời ở Anh. Tuy vậy, cũng có những tác phẩm có giá trị, thể hiện cá tính sáng tạo nổi bật vượt khỏi sự cô lập của thuộc địa.

Những tác giả thuộc địa dường như không biết đến những tác giả Anh tên tuổi như Ben Johnson. Vài người còn chối bỏ các thi sĩ Anh thuộc trường phái khác, do đó đã tách mình khỏi những khuôn mẫu lãng mạn và kịch tính thuần túy nhất mà tiếng Anh đã sản sinh được. Một nguyên nhân nữa khiến nhiều nhà văn thuộc địa không có đủ thông tin là do thiếu sách.

Khuôn mẫu vĩ đại cho cách viết, niềm tin và cách sống lại là Kinh thánh, mà bản dịch tiếng Anh được chuẩn y, thì đã lỗi thời ngay khi vừa xuất bản. Tuổi của Kinh thánh còn già cỗi hơn cả nhà thờ La Mã, chỉ điều đó thôi đã làm cho Kinh thánh trở nên có quyền lực hơn dưới mắt những người Thanh giáo.

Những người Thanh giáo ở New England bám vào các truyền thuyết về dân Do Thái trong Cựu Ước, tin rằng họ, cũng như những người Do Thái, bị ngược đãi vì niềm tin của mình, rằng họ biết được một Thượng đế thật sự, và rằng họ là những người được chọn để thiết lập Jerusalem mới – một Thiên đàng ở trần gian. Người Thanh giáo cũng ý thức được sự tương đồng giữa họ và người Do Thái cổ trong Cựu Ước. Moses đã dẫn dắt dân Israel ra khỏi vòng kiềm giữ của người Ai Cập, với sự giúp đỡ của Thượng đế dùng phép màu tách Biển Đỏ để có thể dắt đoàn người thoát, và cuối cùng nhận được bộ luật thiêng liêng dưới hình thức Mười điều răn. Tương tự Moses, những người lãnh đạo Thanh giáo cảm thấy mình đang cứu dân ra khỏi sự suy đồi tâm linh ở Anh, vượt qua biển dữ một cách kỳ diệu với sự hỗ trợ của Thượng đế, và tạo lập những luật lệ và hình thức chính quyền mới theo ý Chúa.

Những mảnh đất thuộc địa có khuynh hướng hoài cổ, và New England chắc hẳn không phải là ngoại lệ. Những người Thanh giáo ở New England nệ cổ là do cách chọn lựa, niềm tin và tình cảnh của họ.

Samuel Sewall 
(1652 – 1730)

Dễ đọc hơn loại thơ ca đậm màu sắc tôn giáo đầy những trích dẫn Kinh thánh là những bài viết về lịch sử và thế tục, kể lại những sự kiện có thật, sử dụng những tình tiết sống động. Tác phẩm Journal (Nhật ký – 1790) của Thống đốc John Winthrop cung cấp thông tin đáng tin cậy về những ngày đầu của Thuộc địa Vịnh Massachusetts và lý thuyết chính trị Thanh giáo.

Tác phẩm Diary (Nhật ký) của Samuel Sewall, ghi lại những sự kiện từ năm 1674 đến 1729, rất sống động và dấn thân. Sewall thích hợp với phong cách của những tác giả New England buổi đầu mà chúng ta gặp ở Bradford và Taylor. Sinh ở Anh, Sewall được đưa sang thuộc địa từ lúc còn nhỏ. Ông cư ngụ ở vùng Boston, nơi ông tốt nghiệp Harvard, và tạo được sự nghiệp trong lãnh vực luật, hành chính và tôn giáo.

Nhờ sinh sau đẻ muộn, Sewall may mắn được chứng kiến sự thay đổi từ đời sống tôn giáo khắc khổ buổi đầu của tín đồ Thanh giáo đến sau này, bước sang thời kỳ dân Bắc Mỹ buôn bán thịnh vượng hơn ở những thuộc địa New England. Nhật ký của ông, thường được so sánh với nhật ký của một người Anh cùng thời – Samuel Pepys – cũng ngẫu nhiên ghi lại giai đoạn giao thời.

Giống nhật ký của Pepys, nhật ký của Sewall cũng ghi chép tỉ mỉ về đời sống thường nhật của ông, phản ánh những mối bận tâm của ông về cách sống thánh thiện và tốt đẹp. Ông kể lại những chuyện nho nhỏ như mua kẹo tặng một phụ nữ mà ông yêu, cuộc tranh luận giữa họ về việc ông có nên có phong cách quý tộc và sống phù phiếm như mang tóc giả và đi xe sang trọng hay không…

Mary Rowlandson
(Khoảng 1635 đến khoảng 1678)

Là vợ của một luật sư, bà là người viết văn xuôi đầu tiên gây được sự chú ý. Bà đã kể lại một cách rõ ràng, cảm động mười một tuần bị người Da đỏ bắt giữ trong một cuộc tàn sát người Da đỏ năm 1676. Cuốn sách, cố nhiên đã thêm dầu vào ngọn lửa tinh thần chống đối người Da đỏ, như trong cuốn The Redeemed Captive (Tù binh được chuộc mạng 1707) của John William mô tả hai năm bị người Pháp và người Da đỏ bắt giam sau một cuộc thảm sát. Những tác phẩm do phụ nữ sáng tác thường là những câu chuyện kể về đời sống gia đình. Có thể cho rằng văn chương phái nữ hưởng lợi thế từ thế giới hiện thực ấm cúng của gia đình và sự tinh tế do kinh nghiệm sống; chắc chắn những tác phẩm như cuốn Journal (Nhật ký) rất sinh động của Sarah Kemble Knight (xuất bản năm 1825 sau khi bà mất) kể về chuyến đi đơn độc gan dạ năm 1704 từ Boston đến New York và trở về đã thoát ra khỏi sự rối rắm màu mè của lối viết mang phong cách Thanh giáo.

Cotton Mather
(1663 – 1728)

Không một biên khảo nào về văn học thuộc địa New England được gọi là đầy đủ mà không nhắc đến nhà giáo mẫu mực Cotton Mather. Là thế hệ thứ ba trong bốn thế hệ của dòng họ Mather ở Vịnh Massachusetts, ông viết thật tỉ mỉ về New England trong hơn 500 cuốn sách lớn và nhỏ. Cuốn ông viết vào năm 1702 Magnalia Christi Americana (Ecclesiastical History of New England -Lịch sử Giáo hội Cơ đốc ở New England) là tác phẩm thành công nhất của ông, một cuốn biên niên sử toàn diện về công cuộc định cư ở New England thông qua một loạt tiểu sử. Cuốn sách vĩ đại này kể về những cuộc chinh phục thiêng liêng vào những miền đất hoang dã của tín đồ Thanh giáo để thiết lập nên một đất nước của Chúa Trời. Cuốn sách được cấu trúc từ một chuỗi chuyện kể về cuộc đời của các vị thánh Mỹ tiêu biểu.

Nhiệt tâm của ông đã bù đắp một phần nào sự khoa trương trong văn chương của ông: “Tôi viết về những nhiệm màu của đạo Thiên Chúa, bay đi từ những tước đoạt ở châu Âu để đến bến bờ đại dương châu Mỹ”.

Roger Williams 
(khoảng 1603 – 1683)

Suốt từ thế kỷ 17 kéo sang thế kỷ 18, chủ nghĩa giáo điều đã từng bước suy tàn, mặc cho những cố gắng dữ dội và thất thường của người Thanh giáo nhằm cản trở tinh thần khoan dung tôn giáo. Mục sư Roger Williams đã phải đau khổ vì quan điểm riêng của mình về tôn giáo. Là con trai một người thợ may sinh trưởng ở Anh, ông bị trục xuất khỏi Massachusetts giữa mùa đông khắc nghiệt ở New England năm 1635. Được Thống đốc bang Massachusetts John Winthrop bí mật giúp đỡ, ông đã sống sót trong cuộc sống chung với người Da đỏ. Vào năm 1636, ông lập một thuộc địa mới ở Rhode Island, chào đón người dân thuộc mọi tôn giáo.

Dù là một người học vấn cao đã tốt nghiệp đại học Cambridge (Anh quốc), Roger Williams có niềm cảm thông sâu xa với người lao động và với cả những người có quan điểm trái ngược. Tư tưởng của ông đã đi trước thời đại. Ông sớm nhận ra mặt trái của chủ nghĩa đế quốc, duy trì quan điểm rằng những vị vua chúa châu Âu không có quyền ban phát đất đai bởi vì đất Mỹ thuộc về người Da đỏ. Williams cũng tin tưởng vào sự phân lập giữa giáo hội và nhà nước, cho đến nay vẫn còn là một nguyên tắc cơ bản ở Mỹ. Ông cho rằng Tòa án không có quyền trừng phạt người dân vì lý do tôn giáo – một quan điểm làm suy yếu chế độ thần quyền New England. Là người tin tưởng vào quyền bình đẳng và dân chủ, ông là người bạn trung thành của dân Da đỏ. Williams viết nhiều sách, trong đó có một cuốn dạy hội thoại bằng ngôn ngữ người Da đỏ: A Key Into the Languages of America (Chiếc chìa khóa bước vào kho tàng ngôn ngữ ở châu Mỹ -1643). Cuốn sách cũng là một công trình dân tộc học phôi thai, đưa ra những mô tả sắc nét về đời sống của người Da đỏ trong thời gian ông sống với các bộ lạc Da đỏ. Mỗi chương dành cho một chủ đề – ví dụ, ẩm thực và bữa ăn. Những từ và nhóm từ của người Da đỏ về các đề tài này được pha trộn với những lời bình, giai thoại và một bài thơ kết luận. Đây là bài thơ kết của chương đầu tiên:

Nếu những cháu con của Tự nhiên
Dù sơ khai hay đã sống văn minh
Đều lịch thiệp và giàu lòng nhân ái 
Thì tại sao chính những đứa con Ngài
Lại cần sống trong tình đồng loại

Trong một chương về những từ ngữ thuộc lĩnh vực vui chơi giải trí, ông bình luận rằng “có một sự thật lạ lùng là người ta thường tìm được sự nghỉ ngơi và giải trí tự do ở những người bán khai hơn là ở giữa những người tự cho mình là người Thiên Chúa giáo”.

Cuộc đời của Williams đầy những ngẫu hứng độc đáo. Trong một chuyến viếng thăm nước Anh vào thời gian ở đây diễn ra cuộc nội chiến đẫm máu, ông đã liều cả mạng sống của mình trong cái lạnh khủng khiếp ở New England để tổ chức việc cung cấp chất đốt cho những người nghèo ở London trong mùa đông, sau khi nguồn cung cấp than của họ đã bị cắt đứt. Ông cũng đã viết những lời bào chữa sống động cho sự khoan dung tôn giáo, không những chỉ cho những người thuộc giáo phái Thiên Chúa giáo mà còn cho cả những người không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo. Ông đã viết trong cuốn The Bloudy Tenent of Persecution for Cause of Conscience – 1644([5]) rằng: “Đây chính là ý nguyện và mệnh lệnh của Thượng đế… rằng lương tâm và tín ngưỡng cho dù mang tính chất Do Thái, Thổ Nhĩ Kỳ, vô thần hay phản Thiên Chúa giáo nhất, cũng được ban phát cho mọi người, ở mọi quốc gia…”. Không nghi ngờ gì nữa, chính thời gian sống hòa hợp với các bộ lạc Da đỏ hào hiệp và đầy tình người đã góp một phần lớn vào sự thông tuệ của ông.

Sự ảnh hưởng trong các thuộc địa đã diễn ra theo hai hướng. Ví dụ, John Eliot dịch Kinh thánh ra tiếng Narragansett. Trong khi nhiều người Da đỏ lại theo đạo Thiên Chúa. Cho đến ngày nay, giáo hội Mỹ bản địa là một sự kết hợp giữa Thiên Chúa giáo và tín ngưỡng truyền thống của người Da đỏ.

Tinh thần khoan dung và tự do tôn giáo dần phát triển và lớn mạnh ở những thuộc địa Mỹ đầu tiên được thiết lập ở Rhode Island và Pennsylvania, quê hương của giáo phái Quaker([6]) khoan dung, hay được biết đến dưới cái tên “Những người anh em”. Họ tin vào sự thánh thiện của lương tâm mỗi con người như là cội nguồn của trật tự và đạo lý xã hội. Niềm tin cơ bản của giáo phái Quaker vào tình yêu dành cho muôn loài và tình đồng loại đã khiến họ có tinh thần dân chủ sâu sắc và chống lại quyền bính tôn giáo giáo điều. Bị khai trừ ra khỏi Massachusetts hà khắc vì xứ này e sợ ảnh hưởng của họ, họ đã lập nên thuộc địa Pennsylvania rất thành công, đặt dưới sự lãnh đạo của Williams Penn vào năm 1681.

John Woolman
(1720 – 1772)

Tác phẩm Quaker nổi tiếng nhất là cuốn tiểu thuyết dài hơi Journal (Nhật ký – 1774) của John Woolman, ghi chép cuộc sống tinh thần của mình bằng giọng văn chân thành, trong sáng, ngọt ngào được nhiều tác giả Mỹ và Anh khen ngợi. Con người phi thường này từ bỏ căn nhà tiện nghi ở thành phố để lang thang đó đây cùng với những người Da đỏ trong các vùng đất hoang dã vì ông nghĩ rằng ông có thể học hỏi ở họ và chia sẻ ý tưởng với họ. Ông lý giải một cách giản đơn về đam mê của mình, muốn “cảm nhận và hiểu cuộc đời của họ cũng như đời sống tinh thần của họ”. Tinh thần yêu-công- lý của Woolman hẳn nhiên mang tính phê phán xã hội: “Tôi thấy nhiều người Da trắng bán rượu Rhum cho người Da đỏ và tôi tin đó là một tội lớn”.

Woolman cũng là một trong những tác giả đầu tiên chống chế độ nô lệ, bằng việc xuất bản hai tiểu luận Some Considerations on the Keeping of Negroes (Vài nhận định về việc bắt giữ người Da đen) năm 1754 và 1762. Là một nhà văn nhân bản đầy nhiệt huyết, ông đã đi theo con đường “thụ động vâng lời” đối với các nhà cầm quyền và luật pháp mà ông cho là bất công. Tác phẩm của ông dự báo sự ra đời nhiều tiểu luận nổi tiếng của Henry David Thoreau ở các thế hệ sau tác phẩm Civil Disobedience (Sự bất tuân dân sự – 1849).

Jonathan Edwards 
(1703 – 1758)

Người chống lại các luận điểm của John Woolman là Jonathan Edwards, chỉ sinh ra trước tác giả Quaker kia có 17 năm. Woolman không được học tập một cách chính quy trong khi Edwards có học vấn cao. Woolman đi theo ánh sáng nội tâm mình; Edwards hiến mình cho luật pháp và quyền hành. Cả hai là những tác giả xuất sắc, nhưng họ là hai thái cực trong kinh nghiệm về tôn giáo ở thuộc địa.

Chính môi trường Thanh giáo hà khắc và ý thức trách nhiệm cao đã hun đúc nên Edwards, và hai yếu tố này kết hợp để khiến ông đứng ra bảo vệ cho học thuyết Calvin khắc nghiệt và u ám chống lại chủ thuyết tự do bấy giờ đang dấy lên đầy sức sống chung quanh ông. Edwards trở nên nổi tiếng bởi bài thuyết giảng đầy sức mạnh và gieo rắc nỗi kinh hoàng Sinners in the Hands of an Angry God (Những kẻ phạm tội trong bàn tay của một Thượng đế đang phẫn nộ – 1741). “Nếu Chúa buông ra, các ngươi sẽ lập tức chìm xuống, rơi xuống vực sâu của tội lỗi, và đắm chìm trong cái vực sâu vô tận ấy… Chính Chúa đã treo các ngươi trên miệng hỏa ngục như người ta đưa một con nhện hay một con côn trùng kinh tởm nào đó trên ngọn lửa. Ngài ghê tởm các ngươi và Ngài đang bị 27 khiêu khích dữ dội. Ngài nhìn các ngươi như thể các ngươi chẳng đáng gì ngoài việc bị ném xuống vực sâu không đáy ấy”.

Những bài thuyết giảng của Edwards có sức tác động ghê gớm, làm cho cả cộng đồng giáo dân kinh động. Mặc dầu vậy, cuối cùng sự cứng rắn đến mức quái đản của chủ thuyết Calvin mà Edwards dũng cảm bảo vệ đã khiến mọi người phải xa lánh. Những bài giảng giáo điều kiểu trung cổ của Edwards không còn phù hợp với những kinh nghiệm sống của người dân thuộc địa về thế kỷ 18 tương đối thịnh vượng, an bình. Sau Edwards, những khuynh hướng khoan dung tự do, mới mẻ của chủ nghĩa nhân văn ngày càng lớn mạnh.

VĂN HỌC Ở CÁC THUỘC ĐỊA MIỀN NAM VÀ MIỀN TRUNG

Trước Cách mạng, văn học miền Nam mang tính quý tộc và thế tục, phản ánh chế độ kinh tế và xã hội thống trị của những trang trại miền Nam. Những di dân Anh đầu tiên kéo đến những thuộc địa phía Nam vì cơ may kinh tế hơn là vì tự do tôn giáo.

Mặc dầu nhiều người miền Nam là nông dân nghèo hoặc là những người buôn bán nhỏ, sống không khá hơn dân nô lệ là mấy; nhưng giai cấp thượng lưu, trí thức miền Nam được nuôi dưỡng bởi khuôn mẫu lý tưởng của Cựu lục địa về giới quý tộc nắm trong tay đất đai do chế độ nô lệ tạo dựng. Chính thể chế này đã giải phóng những người Da trắng miền Nam giàu có thoát khỏi lao động chân tay, đồng thời mang lại cho họ thú vui và làm cho niềm ước mơ về một cuộc sống quý phái ở châu Mỹ nguyên sơ thành hiện thực.

Những điều mà Thanh giáo đề cao như sự cần cù, học vấn, và lòng nhiệt tình, nghiêm túc đã trở nên hiếm hoi -thay vào đó chúng ta thường nghe nói đến những thú vui quý phái như cưỡi ngựa và săn bắn. Nhà thờ là tâm điểm của đời sống xã hội thanh lịch, chứ không phải là diễn đàn cho sự tự vấn lương tâm một cách kỹ càng.

William Byrd
(1674 – 1744)

Văn hóa phương Nam tự nhiên xoay quanh lý tưởng về con người lịch lãm: Con người thời Phục hưng vừa giỏi quản lý trang trại vừa đọc được sách tiếng Hy Lạp cổ, con người ấy có quyền hành của một lãnh chúa thời phong kiến.

William Byrd đã mô tả lối sống sang trọng, lịch duyệt ở trang trại mình, Westover, trong bức thư nổi tiếng năm 1726 gửi cho một người bạn Anh, Charles Boyle, bá tước xứ Orrery như sau:

Bên cạnh lợi thế về không khí trong lành, chúng tôi còn có đủ các vật dụng dự trữ mà không cần phải tiêu pha tốn kém (tôi muốn nói chúng tôi có nhiều trang trại). Gia đình riêng của tôi rất đông người, và cánh cửa nhà tôi luôn rộng mở đón mọi người, mà tôi chả mấy khi phải tiêu tiền; và cái đồng bạc nửa crown([7]) cứ ngủ yên trong túi của tôi hàng mấy tháng trời.

Như một tộc trưởng, tôi có hàng đàn gia súc và đám đông nô lệ, đàn ông có, đàn bà có. Đám đầy tớ của tôi rất thạo công việc. Tôi sống độc lập với mọi người, ngoại trừ với Đấng Tối cao.

William Byrd tiêu biểu cho tinh thần của giai cấp thượng lưu thuộc địa miền Nam. Thừa kế 1040 mẫu đất, rồi nhân lên thành 7160 mẫu, ông vừa là nhà buôn, nhà ngoại thương vừa là chủ trại. Thư viện với 3.600 cuốn sách của ông lớn nhất miền Nam. Bẩm sinh thông minh lanh lợi, ông được cha mẹ gửi tới học tại các trường tốt nhất ở Anh và Hà Lan để phát triển tài năng. Ông từng đến thăm Cung đình Pháp, trở thành thân hữu của hoàng tộc, và kết bạn thân thiết với nhiều học giả Anh hàng đầu cùng thời với ông, đặc biệt là William Wycherley và William Congreve. Những trang nhật ký của ông về London ngược hẳn với những ghi chép của người Thanh giáo ở New England, đầy những bữa tiệc xa hoa, những dạ hội rực rỡ, rồi chuyện tán tỉnh phụ nữ và rất ít những đoạn suy ngẫm nội tâm.

Ngày nay Byrd rất nổi tiếng với cuốn History of the Dividing Line (Lịch sử một đường phân chia ranh giới), một nhật ký sống động ghi lại cuộc hành trình dài 960 kilômet đi sâu vào nội địa để khảo sát đường phân chia giữa các thuộc địa láng giềng Virginia và Bắc Carolina vào năm 1729. Những ấn tượng sống động của ông về những vùng đất hoang dã mênh mông, người Da đỏ, người Da trắng bán khai, thú hoang, và cơ man những khó khăn xảy đến cho con người lịch lãm văn minh này đã làm nên một cuốn sách mang bản sắc Mỹ độc đáo và đậm đà khí chất miền Nam. Ông chế giễu đám thực dân đầu tiên ở Virginia, “khoảng một trăm gã đàn ông, hầu hết là những kẻ trụy lạc xuất thân từ những gia đình gia giáo” và đùa rằng ở Jamestown, “như người Anh thật sự, họ xây một cái nhà thờ chỉ tốn không hơn 50 bảng, và một cái quán rượu với giá 500 bảng”. Tác phẩm của Byrd là những ví dụ sắc sảo về sự quan tâm sâu sắc của người miền Nam về một thế giới cụ thể: đất đai, người Da đỏ, cây cỏ, muông thú và những người định cư.

Robert Beverley
(khoảng 1673 – 1722)

Robert Beverley là một trại chủ giàu có khác và là tác giả cuốn The History and Present State of Virginia (Lịch sử và tình trạng hiện thời của bang Virginia – 1705, 1722) ghi lại lịch sử của thuộc địa Virginia theo phong cách đầy nhân bản và mạnh mẽ. Cũng như Byrd, ông ngưỡng mộ người Da đỏ và chú ý đến những quan niệm mê tín khá lạ lùng của châu Âu về Virginia – ví dụ, có niềm tin “rằng vùng đất này biến mọi người đến đó thành đen”. Ông cũng ghi nhận lòng hiếu khách vô biên của người miền Nam, một tính cách nổi bật còn duy trì cho đến ngày nay.

Loại văn châm biếm trào phúng -một thể loại văn học đả kích, chế giễu những thói hư tật xấu và sự ngu xuẩn của con người thông qua sự mỉa mai, chế nhạo hoặc là sự hóm hỉnh là thể loại quen thuộc ở thuộc địa miền Nam. Một nhóm người định cư ưa gây gổ viết bài đả kích người sáng lập ra tổ chức từ thiện ở bang Georgia, tướng James Oglethorpe, trong một tập sách mỏng tựa đề A True and Historical Narrative of the Colony of Georgia (Chuyện kể lịch sử và chân thực về thuộc địa Georgia – 1741). Họ giả vờ khen ngợi ông vì ông đã khiến họ nghèo đói và lao động quá sức đến nỗi họ phải phát huy “đức tính khiêm tốn vô giá” và trốn chạy “những lo toan cho bất kỳ một tham vọng xa xôi nào”.

Bài thơ châm biếm rất thẳng thừng có tên “The Sotweed Factor” đả kích thuộc địa Maryland, nơi tác giả, một người Anh tên Ebenezer Cook, đã thử thời vận buôn thuốc lá nhưng không thành. Cook phơi bày những cung cách làm ăn thô bạo, trần trụi của thuộc địa với tinh thần trào lộng sâu sắc, và tố cáo những người dân thuộc địa lường gạt ông ta. Bài thơ kết thúc bằng một lời nguyền rủa cường điệu: “Cầu xin cơn giận dữ linh thiêng làm cho vùng đất này hoang tàn. Vùng đất không có người đàn ông trung thành, cũng như không có người đàn bà tiết hạnh”.

Nhìn chung, văn học thuộc địa miền Nam có thể nói là có mối liên hệ phần nào với truyền thống văn học hiện thực, gần gũi với cuộc sống, mang tính phổ quát và chứa nhiều thông tin. Bắt chước những trào lưu văn học Anh, người miền Nam thể hiện trí tưởng tượng phong phú trong sự quan sát sắc sảo và thông minh, chính xác những điều kiện sống đặc thù của Tân thế giới.

Olaudah Equiano (Gustavus Vassa) 
(khoảng 1745 – khoảng 1797)

Hai tác giả Da đen có tầm quan trọng và nổi bật trong thời kỳ thuộc địa là Olaudah Equiano và Jupiter Hammon. Equiano, một người Ibo đến từ Niger (Tây Phi), là người Da đen đầu tiên ở Mỹ viết một tiểu sử tự thuật mang tênThe Interesting Narrative of the Life of Olaudah Equiano, or Gustavus Vassa, the African (Tự thuật thú vị về cuộc đời của Olaudah Equiano hay Gustavus Vassa, người châu Phi – 1789). Cuốn sách là ví dụ đầu tiên của thể loại truyện kể về người nô lệ trong đó Equiano kể về mảnh đất quê hương mình, những nỗi hãi hùng và sự tàn ác mà ông phải chịu đựng trong thời gian ông bị cầm giữ và làm nô lệ ở West Indies([8]). Equiano đã cải giáo theo đạo Thiên Chúa, than vãn một cách đầy xúc động về cách đối xử “phi Thiên Chúa giáo” của những người Thiên Chúa giáo đối với mình – một cảm xúc mà nhiều người Mỹ – Phi châu sẽ lên tiếng tố cáo trong những thế kỷ tiếp theo.

Jupiter Hammon
(khoảng 1720 – khoảng 1800)

Nhà thơ Mỹ Da den này là nô lệ ở Long Island, New York. Ông được nhớ đến nhờ những bài thơ tôn giáo của mình cũng như nhờ tác phẩm An Address to the Negroes of the State of New York (Nói với người Da đen ở bang New York 1787), trong đó ông kêu gọi giải phóng con cái của người nô lệ thay vì kết án chúng phải làm nô lệ truyền kiếp. Bài thơ “An Evening Thought” (Suy tư buổi chiều hôm) của ông là bài thơ đầu tiên của một người đàn ông da đen được xuất bản ở Mỹ.

[1] Nguyên văn Epistola (tiếng Tây Ban Nha) có nghĩa là thư từ.

[2] Thời đó người ta tin rằng trái đất có hình cái điã.

[3] Calvin: John Calvin (1509-1564), nhà lãnh tự cải cách đạo Tin lành, người Pháp, chủ thuyết do ông khởi xướng và các học trò của ông noi theo được gọi là chủ nghĩa Calvin (Calvinism) có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống văn hóa và tôn giáo ở các nước phương Tây.

[4] Faust: tên nhân vật chính trong tác phẩm cùng tên của Goeth – thi sĩ vĩ đại người Đức.

[5] Tác phẩm này, cũng như một vài quyển sách khác chúng tôi chưa có đủ dữ kiện để dịch tựa sách ra tiếng Việt, xin cáo lỗi cùng bạn đọc.

[6] Quaker: là một giáo phái Thiên Chúa tôn thờ Chúa Jesus, từ chối những nghi thức trịnh trọng, giáo điều và có những hoạt động phản đối chiến tranh và bạo lực.

[7] Đồng crown trị giá 5 shilling (bảng Anh), đồng nửa crown là 2,5 shilling.

[8] West Indies: các đảo Tây Ấn, bao quanh biển Caribbean.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_i.html

Văn học Mỹ

To kill a mockingbird (1962)

‘To Kill a Mockingbird’ và bài ca về tình đồng loại

Hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng bộ phim với những thông điệp đầy nhân văn, ý nghĩa vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến khán giả yêu điện ảnh hôm nay.
Bộ phim kết thúc bằng câu thoại bất hủ “Like kill a mockingbird” (như là giết một con chim nhại) – những gì người ta sẽ làm nếu buộc tội giết người cho một kẻ thiểu năng, bất thường như Boo Radley. Bởi lẽ, Boo cũng giống như một con chim nhại – loài chim vô hại nhưng trở nên đáng ghét chỉ bởi tiếng hót bị người ta cho là khó ưa. Gần hết cuộc đời mình, Boo cũng sống trong định kiến của cộng đồng như một con quái vật đáng ghê sợ, một mối nguy hiểm luôn rình rập chỉ bởi anh ta khác mọi người.
Bộ phim "Giết con chim nhại" từng giành 3 giải Oscar vào năm 1963 cho "Nam diễn viên chính xuất sắc" (Gregory Peck), "Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc" và "Kịch bản chuyển thể xuất sắc".

Bộ phim “Giết con chim nhại” từng giành ba giải Oscar vào năm 1963 cho “Nam diễn viên chính xuất sắc” (Gregory Peck), “Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc” và “Kịch bản chuyển thể xuất sắc”.

Được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn nữ Harper Lee,To Kill a Mockingbird khai thác chủ đề về sự khác biệt và khả năng chấp nhận sự khác biệt trong một cộng đồng. Từ ngôi kể thứ nhất của nhân vật chính là cô bé Scout, đạo diễn Robert Mulligan đưa người xem đến với miền Nam nước Mỹ những năm 1930 của thế kỷ 20. Đó là buổi đầu của kỷ nguyên nô lệ, của nạn phân biệt chủng tộc khắc nghiệt đánh dấu một thời kỳ đen tối, khủng hoảng bậc nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Scout, Jem và Dill là những đứa trẻ lớn lên trong một khu phố nhỏ ở Maycomb cùng người cha đáng kính Atticus Finch. Tuổi thơ của chúng là những kỳ nghỉ hè và những trò rình rập, quậy phá quanh ngôi nhà của một người đàn ông bí ẩn chỉ ra ngoài vào ban đêm, chuyên bắt sóc và mèo để ăn sống…

Đến một ngày, vụ án kinh động cả thị trấn xảy ra. Tom Robinson – một người da đen bị buộc tội cưỡng hiếp một phụ nữ da trắng. Atticus được giao làm luật sư phản biện cho bị cáo. Scout, Jem và Dill đồng hành cùng cha trong cuộc chiến đấu cho công lý, cho sự thật, sự công bằng ấy và từ đó mà nhận ra những bài học ý nghĩa trong cuộc sống và trưởng thành…

Lấy ý tưởng từ hình ảnh những con chim nhại – loài chim vô hại nhưng vốn bị kỳ thị, nhà văn Harper Lee đã viết nên cuốn tiểu thuyết đầu tiên và duy nhất của đời mình về tình đồng loại. Trên cơ sở đó, đạo diễn Robert Mulligan đã chuyển thể tương đối trung thành và trọn vẹn nội dung, tư tưởng của cuốn sách lên phim.

Câu chuyện của cô bé Scout kể cho khán giả về “những con chim nhại” của miền Nam nước Mỹ những năm 1930. Đó là Tom – một anh chàng hiền lành, lương thiện, hay giúp đỡ mọi người nhưng mang tội lỗi vì là người da màu. Đó là Boo – một cậu học sinh hiếu học, trong sáng nhưng gần suốt cuộc đời phải sống trong bóng tối vì là kẻ thiểu năng, nửa điên nửa dại trong mắt mọi người.

Luật sư Atticus và ba đứa trẻ

Luật sư Atticus Finch và ba đứa trẻ Scout, Jem, Dill.

Họ là cả những người da trắng, cả những người da đen, không trừ ai, đều phải sống sau những rào cản là định kiến xã hội mà không thể vượt qua. Không những thế, để chối bỏ họ một cách tuyệt đối, người ta còn sẵn sàng nghĩ ra những âm mưu, rắp tâm đẩy họ vào bước đường cùng.

Tom Robinson đã phải chịu một kết cục bi thảm để cứu lấy danh dự và lòng tự trọng của mình trước khi tiếp tục bị những kẻ xấu lặng mạ, vu khống theo cái cách phàm phu, thô bạo nhất. Boo Harley may mắn hơn khi cuối cùng cũng có người nhận ra anh, chấp nhận anh nhưng không có nghĩa vì thế mà anh thoát khỏi thân phận là một cái bóng dật dờ đi bên lề xã hội.

Ở một giới hạn nào đó, công lý đã lên tiếng khi lấy mạng để đền mạng cho một con người lương thiện phải chết oan. Tuy nhiên, bức tranh hiện thực xã hội Mỹ giai đoạn khủng hoảng ấy cũng không vì thế mà tươi sáng thêm khi quyền lực vẫn nằm trong tay kẻ cầm súng và những kẻ đặc quyền mang màu da của người làm chủ.

Trên một khía cạnh khác, To Kill a Mockingbird còn gửi đến một bài học sâu sắc về tầm quan trọng của giáo dục đối với mỗi người. Trường học, ngoài mục đích đầu tiên là truyền dạy kiến thức, còn có ý nghĩa lớn lao trong việc dạy cho con người biết sợ và biết kiểm soát, kiềm chế bản thân.

Sự khác nhau giữa người có học và người không có học nằm ở chỗ: Trong khi Bob Ewell sẵn sàng nhổ toẹt nước bọt vào mặt đối phương trước khi bất cứ cuộc trò chuyện nào kịp diễn ra thì Atticus Finch, trước hành động lỗ mãng ấy, tuyệt nhiên không có bất cứ hành động trả đũa nào. Ông chỉ im lặng, rút khăn lau mặt rồi quay lưng bỏ đi. Người có học sẽ biết kiểm soát và làm chủ cảm xúc thay vì hành xử hoang dại và thiếu suy nghĩ như những người chưa từng được đến trường.

Không chỉ thành công trong việc chuyển hóa nhuần nhuyễn và trọn vẹn nhiều tầng chủ đề trong dung lượng thời gian cho phép, To Kill a Mockingbird còn được xếp vào một trong những phim thành công về ngôn ngữ tạo hình điện ảnh. Những cuộc rình rập, rượt đuổi trong đêm với sự hỗ trợ đắc lực của âm nhạc dồn dập, căng thẳng như nhịp thở của đứa trẻ hoảng hốt trốn chạy thực sự kéo người xem vào cuộc để cùng tham gia vào những trò ú tim. Máy quay không rời người kể chuyện (Scout) nửa bước đã kéo khán giả gần lại chiếc xích đu cót két về đêm, những bờ rào lạnh lẽo hay những lối đi dưới hàng cây tăm tối… theo đúng như cách cô bé sáu tuổi lắng nghe và cảm nhận.

Chủ đề về sự phân biệt đối xử được đan cài khéo léo vào những tình tiết được xử lý tinh tế mà không quá phô trương. Người xem sẽ không thể quên cách cậu bé da màu lần đầu tiên loay hoay với bộ dao, dĩa để hì hục cắt những miếng thịt trong đĩa hay như cách một nhóm người da đen đang trò chuyện bỗng dưng im bặt khi gã nông dân người da trắng đến và sẵn sàng tuân theo mọi sai bảo của hắn mà tuyệt nhiên không thắc mắc gì.

Phim nói về thời kỳ đen tối của nước Mỹ khi sự phân biệt giàu nghèo, giai cấp và màu da còn quá lớn.

Phim nói về thời kỳ đen tối của nước Mỹ khi sự phân biệt giàu nghèo, giai cấp và màu da còn quá lớn.

Những quy định ngầm về thân phận, địa vị xã hội được đạo diễn Robert Mulligan chuyển tải bằng một lối kể chuyện thông minh, giàu liên tưởng. Đặc biệt, dụng ý của việc sử dụng màu phim cũ (trắng – đen) thay vì phim màu như trào lưu đang lên vào những năm 1960 cũng là một lựa chọn hoàn toàn thuyết phục của ông. Chính mỗi thước phim sẽ là lời tố cáo trần trụi nhất cho một sự thật đen tối về nạn phân biệt chủng tộc của nước Mỹ một thời.

Một trong những điều phi thường khác của To Kill a Mockingbird có lẽ đến từ dàn diễn viên. Luật sư Finch – người cha đáng kính của những đứa trẻ chính là vai diễn đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của Gregory Peck. Vai diễn mang về cho ông một tượng vàng Oscar đồng thời đóng đinh ông vào hình tượng một người cha ân cần, lương thiện, đại diện cho công lý và lẽ phải.

Bên cạnh đó, Robert Mulligan cũng rất may mắn khi có được một dàn diễn viên đồng đều và xuất sắc đến thế. Họ có thể không phải là những người xuất sắc trong suốt sự nghiệp của mình nhưng chắc chắn đều đã “xuất thần” khi đứng cùng nhau ở đây.

Dù chỉ xuất hiện ở nửa sau và những phút cuối của bộ phim, James Anderson (vai Bob Ewell) với cách liếm môi, chiếc mũ phớt, ánh mắt nham hiểm và thái độ xấc xược cũng khiến khán giả chỉ muốn lao vào màn ảnh để đánh đập, rủa xả. Collin Wincox Paxton – người phụ nữ như hoá điên dại, tóc tai rối bời, vừa mấp máy môi vừa co giật sau cú sốc tâm lý vì bị bạo hành; Brock Peters – người da đen nhút nhát, lương thiện đến toát mồ hôi khi đứng trước toà… cũng là những vai diễn khó quên của bộ phim.

Anh Mai

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/diem-phim/to-kill-a-mockingbird-va-bai-ca-ve-tinh-dong-loai-2937035.html

http://www.edmondschools.net/portals/3/docs/sue%20newman/tkam%20text/to_kill_a_mockingbird_text.pdf