Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 3: Thời kỳ lãng mạn 1820-1860

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998


NHỮNG CÂY BÚT TIỂU LUẬN VÀ CÁC THI SĨ

Chủ nghĩa lãng mạn, bắt nguồn từ Đức rồi nhanh chóng lan sang Anh, Pháp và xa hơn, rồi đến Mỹ khoảng năm 1820, trên dưới 20 năm sau khi William Wordsworth và Samuel Taylor Coleridge làm cuộc cách mạng thi ca Anh bằng việc xuất bản tập Lyrical Ballads (Thơ trữ tình). Ở Mỹ cũng như châu Âu thời đó, một quan điểm mới mẻ tươi tắn truyền đi như dòng điện trong giới nghệ sĩ, trí thức. Tuy vậy, cũng có một sự khác biệt quan trọng: chủ nghĩa lãng mạn ở Mỹ xảy ra cùng lúc với thời kỳ bành trướng quốc gia và sự khám phá giọng điệu riêng của nước Mỹ. Sự củng cố đặc trưng quốc gia và sự trỗi dậy của chủ nghĩa lý tưởng cùng với niềm đam mê chủ nghĩa lãng mạn đã nuôi dưỡng những kiệt tác của “thời Phục hưng Mỹ”.

Những tư tưởng lãng mạn tập trung quanh nghệ thuật như nguồn cảm hứng, như chiều kích thẩm mỹ và tâm linh của cõi tự nhiên và như những ẩn dụ về sự phát triển hữu cơ.

Những tác gia của chủ nghĩa Lãng mạn lý luận rằng nghệ thuật, chứ không phải khoa học, có thể diễn tả tốt nhất về chân lý phổ quát. Họ cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của nghệ thuật biểu hiện đối với mỗi cá nhân và xã hội. Trong tiểu luận The Poet (Nhà thơ – 1844) Ralph Waldo Emerson, có lẽ là tác giả có ảnh hưởng lớn nhất của thời kỳ Lãng mạn, khẳng định:

Con người ta sống bằng chân lý và có nhu cầu tự biểu hiện. Trong tình yêu, trong nghệ thuật, trong lòng tham, trong chính trị, trong lao động, trong vui đùa, chúng ta học để thốt ra những bí ẩn đau đớn của chúng ta. Con người chỉ là một nửa của mình, nửa kia chính là sự diễn đạt tư tưởng của anh ta.

Sự phát triển cái tôi trở thành một chủ đề quan trọng; trong đó sự tự nhận thức là phương pháp cơ bản. Nếu theo lý luận của chủ nghĩa lãng mạn, cái tôi của con người và tự nhiên là một, thì sự tự biết mình không phải là mục đích hoàn toàn vị kỷ mà là một cách nhận thức có hướng mở ra cùng toàn thể vũ trụ.

Khi cái tôi của một người cũng hợp nhất làm một với toàn nhân loại thì khi ấy mỗi cá nhân có một bổn phận đạo đức trong việc cải tạo những bất bình đẳng trong xã hội và làm vơi đi nỗi khổ đau của con người. Bản ngã -cái tôi được các thế hệ trước cho là đầy tính vị kỷ đã được định nghĩa lại. Những từ kép mới với ý nghĩa tích cực đã xuất hiện: “tự nhận thức”, “tự biểu hiện”, “tự tín”. Khi cái tôi chủ quan đơn nhất trở nên quan trọng, thì lãnh địa tâm lý cũng trở thành quan yếu. Những kỹ thuật và hiệu quả mang tính nghệ thuật đặc biệt được phát triển để khơi dậy những trạng thái tâm lý cao cấp. Cái “siêu phàm” – hiệu quả của cái đẹp trong sự hùng vĩ (ví dụ, một cảnh quan nhìn từ một đỉnh núi) – đã tạo ra những cảm giác sợ hãi, tôn kính, choáng ngợp và sức mạnh vượt ra ngoài sự hiểu biết của con người.

Chủ nghĩa Lãng mạn chiếm ưu thế và thích hợp với hầu hết những nhà thơ và những nhà tiểu luận Mỹ. Rừng núi bao la, sa mạc vô tận và miền nhiệt đới mênh mông của nước Mỹ là hiện thân của cái “siêu phàm”. Tinh thần lãng mạn dường như đặc biệt thích hợp với nền dân chủ Mỹ: nó đề cao chủ nghĩa cá nhân, tôn vinh giá trị của con người bình thường, và hướng vào sự tưởng tượng đầy cảm hứng để tìm những giá trị thẩm mỹ và đạo đức. Chắc hẳn những tác giả theo chủ nghĩa siêu nghiệm ở New England: Ralph Waldo Emerson, Henry David Thoreau và bằng hữu của họ – đã được trào lưu Lãng mạn kích thích để vươn tới một sự khẳng định lạc quan và mới mẻ. New England chính là mảnh đất màu mỡ của hạt giống lãng mạn chủ nghĩa.

CHỦ NGHĨA SIÊU NGHIỆM

Phong trào Siêu nghiệm trong văn học là sự phản ứng chống lại chủ nghĩa Duy lý thế kỷ thứ 18 và là biểu hiện của khuynh hướng nhân bản trong các trào lưu tư tưởng thế kỷ thứ 19. Trào lưu này đặt nền tảng trên niềm tin cơ bản vào sự hợp nhất của Thế giới và Thượng đế. Linh hồn của mỗi cá nhân được xem là đồng dạng với vũ trụ – một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ. Học thuyết về tự – tin – cậy và chủ nghĩa cá nhân đã phát triển thông qua niềm tin vào sự đồng nhất của linh hồn mỗi con người với Thượng đế.

Trào lưu Siêu nghiệm gắn bó mật thiết với Concord, một làng nhỏ ở New England cách Boston 32km về phía tây. Concord là vùng định cư sâu trong đất liền đầu tiên của thuộc địa Vịnh Massachusetts buổi ban đầu. Được rừng cây bao quanh, nó đã và vẫn là một thị trấn thanh bình đủ gần để có thể tiếp xúc với những bài giảng, những hiệu sách và những trường đại học ở Boston để có thể gặt hái thật nhiều quả ngọt tri thức, nhưng cũng đủ xa để giữ được sự thanh khiết. Concord cũng là nơi xảy ra cuộc chiến đầu tiên của cách mạng Hoa Kỳ và bài thơ của Ralph Waldo Emerson tưởng nhớ về trận chiến đó, Concord Hymn (Bản tụng ca Concord), có một khổ thơ mở đầu nổi tiếng trong văn học Mỹ:

Bên chiếc cầu thô sơ bắc ngang dòng nước
Lá cờ bay trong gió tháng Tư
Đã có thời ở đây người nông dân đứng lên chiến đấu
Tiếng súng của họ vang lên trên khắp địa cầu.

Concord là lãnh địa thôn dã đầu tiên của các nghệ sĩ Mỹ và là nơi đầu tiên cống hiến một chọn lựa tinh thần và văn hóa cho chủ nghĩa vật chất Mỹ. Nó cũng là nơi diễn ra các cuộc đàm luận tư tưởng và cuộc sống giản đơn đạm bạc (cả Emerson lẫn Henry David Thoreau đều tự trồng rau). Emerson đến Concord năm 1834, và Thoreau là những người gắn bó nhất với thị trấn này, nhưng địa danh này cũng lôi cuốn cả nhà văn Nathaniel Hawthorne, nhà văn đấu tranh cho nữ quyền Margaret Fuller, nhà giáo dục (và là cha của nhà văn Louisa May Alcott) Bronson Alcott, và nhà thơ William Ellery Channing. Câu lạc bộ Siêu nghiệm được tổ chức một cách rất thoáng đạt vào 1836 và bao gồm, ở nhiều thời điểm, Emerson, Thoreau, Fuller, Channing, Bronson Alcott, Orestes Brownson (một mục sư hàng đầu), Theodore Parker (một mục sư ủng hộ bãi bỏ chế độ nô lệ) và những người khác.

Những người theo chủ nghĩa Siêu nghiệm xuất bản một tạp chí ra hàng quý, tờ The Dial, tồn tại được 4 năm. Margaret Fuller làm chủ bút đầu tiên và về sau là Emerson. Họ dấn thân cả vào lĩnh vực cải cách xã hội cũng như văn học. Một số người theo chủ nghĩa Siêu nghiệm ủng hộ việc bãi bỏ chế độ nô lệ, và một số tham gia vào các cộng đồng của chủ nghĩa xã hội không tưởng thử nghiệm, chẳng hạn như Brook Farm (Trại Brook) ở gần đấy (được Hawthorne mô tả trong cuốn The Blithedale Romance (Khúc ca thung lũng hạnh phúc) và Fruilands.

Khác với nhiều nhà văn châu Âu, các nhà văn theo phái Siêu nghiệm không đưa ra một bản tuyên ngôn nào. Họ vẫn duy trì quan điểm về những khác biệt cá nhân – về kiến quan độc đáo của cá nhân. Về mặt này, các nhà văn lãng mạn Siêu nghiệm Mỹ đẩy chủ nghĩa cá nhân tiến bộ đến cực điểm. Các nhà văn Mỹ thường xem mình là những người thám hiểm đơn độc bên ngoài cơ cấu và quy ước xã hội. Người hùng Mỹ – như thuyền trưởng Ahab của Herman Melville, Huck Finn của Mark Twain hay Arthur Gordon Pym của Edgar Allan Poe – thường đương đầu với hiểm nguy, thậm chí với cả sự hủy diệt, trong việc theo đuổi sự tìm kiếm bản thân mang tính chất siêu hình. Đối với các nhà văn lãng mạn Mỹ chẳng có gì là điều chắc chắn. Những quy ước trong văn học và xã hội, chẳng mảy may có ích lợi gì, lại nguy hiểm. Một áp lực khổng lồ thúc bách các nhà văn khám phá ra một hình thức, nội dung và tiếng nói cho một nền văn học đích thực – tất cả đều cùng một lúc. Rõ ràng, nhiều kiệt tác sản sinh ra trong 3 thập kỷ trước cuộc nội chiến Mỹ (1861 – 1865) là kết quả của việc các nhà văn Mỹ vươn lên đối đầu với thử thách.

Ralph Waldo Emerson 
(1803 – 1882)

Ralph Waldo Emerson, nhân vật hàng đầu trong thời kỳ của ông, đã có ý thức về một sứ mệnh có ý nghĩa tôn giáo. Mặc dù nhiều người lên án ông là đã phá hoại Thiên Chúa giáo, ông giải thích rằng, với ông “để phụng sự Chúa tốt hơn ông cần phải ra khỏi nhà thờ”. Bài diễn văn ông đọc năm 1838 ở trường học của mình, trường Harvard Divinity (Harvard Hiển Linh) khiến ông lại cấm cửa suốt 30 năm. Trong bài này, Emerson kết tội Giáo hội là đã hành xử “như thể Chúa đã chết” và đã nhấn mạnh các giáo điều đồng thời bóp nghẹt đời sống tinh thần của con người.

Triết lý của Emerson được gọi là triết lý ngược, và đúng là ông đã có ý thức tránh xây dựng một hệ thống lý luận logic vì một hệ thống duy lý như thế sẽ phủ nhận niềm tin lãng mạn của ông vào trực giác và tính bất định của tâm hồn con người. Trong tiểu luận Self-Reliance (Tự tin vào mình) của ông, Emerson nhấn mạnh: “Sự kiên định ngu si là lũ quỷ trong những đầu óc bé nhỏ”. Tuy vậy, ông đã kiên định một cách phi thường trong lời kêu gọi khai sinh chủ nghĩa cá nhân Mỹ, lấy tự nhiên làm cảm hứng sáng tạo. Hầu hết những ý tưởng chủ đạo của ông: nhu cầu về một tầm nhìn quốc gia có tính đổi mới, phát huy các kinh nghiệm cá nhân, khái niệm Linh-Hồn-Toàn- Năng của vũ trụ và chủ thuyết đền bù, được đề cập đến trong tác phẩm đầu tiên của ông, Nature (Tự nhiên – 1836). Tiểu luận này được mở đầu như sau:

Thời đại chúng ta đang quay nhìn lại quá khứ. Nó xây lăng tẩm cho thế hệ cha ông. Nó viết tiểu sử, lịch sử và phê bình. Những thế hệ đi trước chiêm ngưỡng Thượng đế và thiên nhiên một cách trực diện, còn chúng ta nhìn Thiên nhiên và Thượng đế qua cái nhìn của họ. Tại sao chúng ta lại không sẵn lòng trong mối quan hệ nguyên sơ với vũ trụ? Tại sao chúng ta lại không có loại thi ca kiến giải nội tâm mà không đi theo truyền thống, và một tôn giáo mặc khải cho chúng ta, chứ không phải lịch sử của các tôn giáo và truyền thống của họ. Được bao bọc suốt một mùa bởi thiên nhiên, những cơn lũ của dòng đời tuôn trào, tràn qua chúng ta, dùng hết quyền năng dồi dào của chúng để mời gọi chúng ta hành động hài hòa với tự nhiên, vậy thì tại sao chúng ta lại dò dẫm trong đám xương khô của quá khứ…? Ngày hôm nay mặt trời vẫn soi sáng. Ngoài kia trên cánh đồng có thêm nhiều len và bông. Có thêm những miền đất mới, những con người mới, những tư tưởng mới. Chúng ta hãy yêu cầu có được những tác phẩm, những luật lệ và sự tôn thờ của riêng ta.

Emerson yêu thích Montaigne, một thiên tài trác tuyệt người Pháp thế kỷ 16, chuyên viết tiểu luận. Ông đã từng nói với Bronson Alcott rằng ông muốn viết một cuốn sách giống như cuốn sách của Montaigne “đầy chất thơ, tràn ngập niềm vui, thần tính, triết lý, dụ ngôn và các truyện thông tục”. Ông trách cứ rằng văn phong trừu tượng của Alcott đã bỏ đi “cái ánh sáng lấp lánh trên nón của con người, và trên cái thìa của một đứa bé”.

Kiến quan tâm linh và cách diễn đạt vừa thâm thúy sâu sắc vừa thực tiễn khiến cho văn Emerson sinh động, đầy phấn khích. Một trong những nhà văn theo phái Siêu nghiệm ở Concord đã so sánh rất hay giữa việc nghe ông nói chuyện với cảm giác “vọt một phát lên tới trời”. Phần lớn những kiến giải tâm linh của ông bắt nguồn từ việc nghiên cứu tôn giáo phương Đông, đặc biệt là Ấn Độ giáo, Khổng giáo và Đạo thần bí Hồi giáo (Sufi). Ví dụ, bài thơ Brahma của ông dựa trên nguồn gốc Ấn giáo để khẳng định trật tự của vũ trụ là vượt khỏi cảm quan giới hạn của con người có sinh có tử.

Nếu kẻ sát nhân hung ác biết hắn đang chém giết
Hay người bị tàn sát biết mình bị hại
Họ không hay biết những con đường huyền ảo
Tôi đã giữ, đã vượt qua, và rồi quay trở lại.

Cả những gì xa xôi, bị quên lãng với tôi đều quen thuộc
Bóng tối và ánh sáng, có gì đâu, là một
Những thiên thần biến đi lại trở lại tôi;
Nỗi ô nhục, niềm vinh quang với tôi cũng là một mà thôi

Họ đã nghĩ xấu và rời bỏ tôi
Khi họ bay đi, tôi chính là đôi cánh;
Tôi – kẻ nghi ngờ và mối hiềm nghi,
Tôi là khúc tụng ca vị giáo sĩ ngân nga

Những thần linh oai vũ mong muốn chốn trú ngụ của tôi
Và ước ao vô vọng về Bảy Đấng thiêng liêng.
Nhưng em, người yêu dịu hiền của điều thiện
Hãy tìm tôi, và cùng quay lưng lại với Thiên đường.

Bài thơ này, in trong số đầu tiên của tạp chí Atlantic Monthly (1857), làm cho độc giả bối rối ngỡ ngàng bởi Brahma, vị thần Ấn Độ giáo cao nhất, linh hồn vĩnh cửu và vô tận của vũ trụ còn xa lạ với họ. Emerson khuyên độc giả của mình: “Hãy bảo họ đọc tên Jehovah thay cho Brahma”.

Nhà phê bình người Anh Matthew Arnold nói rằng những tác phẩm quan trọng nhất viết bằng tiếng Anh của thế kỷ 19 là những bài thơ của Wordsworth và những tiểu luận của Emerson. Là một nhà thơ – văn xuôi vĩ đại, Emerson đã có ảnh hưởng lớn đến một loạt các nhà thơ Mỹ, bao gồm Walt Whitman, Emily Dickinson, Edwin Arlington Robinson, Wallace Stevens, Hart Crane, và Robert Frost. Ông cũng được thừa nhận là người ảnh hưởng đến tư tưởng triết học của John Dewey, George Santayana, Friedrich Nietzsche và William James.

Henry David Thoreau 
(1817 – 1862)

Henry David Thoreau, có dòng máu Pháp và Scotland, sinh ở Concord và chọn nơi đây làm chốn định cư. Xuất thân từ một gia đình nghèo, cũng như Emerson, ông vừa làm việc vừa học Đại học Harvard. Trong suốt cuộc đời mình, ông giảm thiểu nhu cầu của mình đến mức đơn giản nhất và xoay xở để sống với một số tiền ít ỏi, vì vậy duy trì được sự độc lập của mình. Thực chất, ông đã sống bằng chính nghề của mình.

Là một người theo chủ nghĩa khắc kỷ, ông cố gắng thực hiện những nguyên tắc sống cứng rắn trong mọi thời điểm của cuộc đời. Nỗ lực này là chủ đề cho nhiều tác phẩm của ông.

Kiệt tác của Thoreau, Walden, hay là Life in the Woods (Cuộc sống trong rừng 1854), tổng kết 2 năm, 2 tháng và 2 ngày (từ 1845 -1847) sống trong một túp lều ông dựng lên ở Walden Pond (Hồ Walden) trên phần đất Emerson sở hữu. Trong cuốn Walden, Thoreau cố ý dồn khoảng thời gian trên vào một năm, và cuốn sách được cấu trúc một cách chu đáo để các mùa trong năm xuất hiện đúng theo tuần tự một cách tinh tế. Cuốn sách cũng được sắp xếp sao cho những điều quan tâm trần tục đơn giản nhất xuất hiện trước (trong phần gọi là 73 “kinh tế”, ông mô tả chi phí xây dựng một túp lều); khi kết thúc, cuốn sách tiến đến sự chiêm nghiệm về các vì tinh tú.

Trong cuốn Walden, Thoreau, người yêu thích sách du ký và là tác giả nhiều cuốn du ký cho chúng ta một cuốn sách phản du ký đã khai mở một cách nghịch lý biên giới nội tâm của sự tự khám phá, một điều không một cuốn sách nào ở Mỹ làm được cho đến thời điểm đó. Cuốn sách cũng có vẻ khiêm tốn như cuộc đời khổ hạnh của Thoreau, nó không gì hơn là một cuốn cẩm nang để sống theo cái lý tưởng cổ điển về một cuộc sống tốt đẹp. Vừa là thơ ca và triết học, cuốn tiểu luận dài, giàu chất thơ này kêu gọi độc giả xét lại đời mình và sống cuộc đời đó một cách thực sự. Việc xây dựng một túp lều được mô tả chi tiết, là một ẩn dụ cụ thể cho việc xây dựng linh hồn một cách cẩn trọng. Trong nhật ký của mình ngày 30 tháng Giêng 1852, Thoreau giải thích niềm yêu thích muốn sống cắm rễ sâu vào một mảnh đất: Tôi sợ đi đó đi đây nhiều hoặc đến những nơi danh thắng, vì e rằng nó sẽ làm thương tổn hoàn toàn trí óc.

Cách sống ẩn dật và tập trung tư tưởng của Thoreau giống như phương pháp Thiền định ở châu Á. Sự tương đồng đó không phải là tình cờ; cũng như Emerson và Whitman, ông bị ảnh hưởng bởi triết học Ấn Độ giáo và Phật giáo. Tài sản quý giá nhất của ông là thư viện gồm những tác phẩm kinh điển của châu Á, sở hữu chung của ông và Emerson. Văn phong chiết trung của ông chọn lọc từ những tác phẩm kinh điển Hy Lạp và Latin thì trong sáng như pha lê, sử dụng biện pháp chơi chữ và giàu ẩn dụ như những tác giả siêu hình Anh vào cuối thời Phục hưng.

Trong tác phẩm Walden, Thoreau không chỉ kiểm chứng những lý thuyết của chủ nghĩa Siêu nghiệm; ông tái biểu hiện lại kinh nghiệm chung của nước Mỹ hồi thế kỷ 19: cuộc sống ở nơi hoang vu. Thoreau cảm thấy rằng sự đóng góp của ông có thể sẽ làm sống lại nhận thức về tự nhiên hoang dã trong địa hạt ngôn ngữ. Nhật ký của ông có một phần không ghi ngày tháng vào năm 1851 như sau:

Văn học Anh, từ thời của những người hát rong trung cổ cho đến những nhà thơ Hồ[1], gồm cả Chaucer, Spenser, Shakespeare và Milton, không hề có giọng điệu mới mẻ và, theo cái nghĩa này, không có hơi hướng hoang dại chút nào. Nó chủ yếu là một nền văn học đã thuần tinh và gọt giũa, phản ánh văn minh Hy-La. Tính cách hoang dã của nó chỉ ở mức một cánh rừng xanh, con người hoang dã chỉ là Robin Hood, có rất nhiều tình yêu tràn trề đối với thiên nhiên trong các nhà thơ xứ này, nhưng trong chính nền văn học Anh lại vắng bóng dáng của thiên nhiên. Những cuốn biên niên sử của nó cho ta biết lúc nào những con thú hoang của nó, chứ không phải nhữngcon người hoang dã trong nó, bị tuyệt chủng. Đó là điều nước Mỹ cần phải biết.

Walden tạo nguồn cảm hứng cho William Butler Yeats, một người Ireland nhiệt thành theo chủ nghĩa dân tộc, viết bài thơ The Lake Isle of Innisfree(Hồ trên đảo Innisfree), còn bài tiểu luận Civil Disobedience (Sự bất tuân dân sự) của Thoreau, với lý thuyết phản kháng thụ động dựa trên nhu cầu đạo đức cho phép cá nhân công chính bất tuân thứ pháp luật bất công, là nền tảng tinh thần cho phong trào đấu tranh giành độc lập ở Ấn Độ của Mahatma Gandhi và cuộc đấu tranh nhân quyền cho người Mỹ Da đen vào thế kỷ 20 của Martin Luther King.

Cho đến nay, Thoreau là tác giả được ưa thích nhất trong số những người theo chủ nghĩa Siêu nghiệm bởi ý thức về môi sinh, quan điểm độc lập chỉ trông cậy vào bản thân, yêu cầu (1) Các nhà thơ Hồ (Lake Poets): nhóm nhà thơ Anh sống ở quận Lake, gồm có: Wordsworth, Coleridge và Southey… có tính cách đạo đức với việc bãi bỏ chế độ nô lệ và lý thuyết chính trị về sự bất tuân của công dân và sự phản kháng trong hòa bình của ông. Những tư tưởng của ông vẫn còn mới mẻ, văn phong sắc sảo đầy chất thơ và thói quen quan sát cụ thể chính xác của ông vẫn còn rất hiện đại.

Walt Whitman 
(1819 – 1892)

Sinh ra ở Long Island, New York, Walt Whitman có nghề tay trái là thợ mộc. Ông là một người con của nhân dân Mỹ qua các tác phẩm cách tân, sáng chói của mình đã nói lên được tinh thần dân chủ của đất nước. Whitman chủ yếu tự học; ông bỏ học lúc 11 tuổi để đi làm, đánh mất cái cơ hội có được nền giáo dục chính thống đã làm cho hầu hết các tác giả Mỹ trở thành những kẻ mô phỏng đáng kính của nền văn học Anh. Tập thơ Leaves of Grass (Lá cỏ – 1855) của ông, một tác phẩm mà ông đã viết đi viết lại và chỉnh lý trong suốt cuộc đời, có bài Song of Myself (Bài ca tự ngã), một bài thơ độc đáo trác tuyệt nhất từ trước đến nay do một người Mỹ viết. Lời ngợi khen hết mình mà Emerson và một vài người khác đổ tới tấp lên tập thơ hết sức dấn thân này, khẳng định Whitman trong sự nghiệp thi ca của ông, mặc dù thành công của cuốn sách không được rộng khắp lúc đương thời.

Là một cuốn sách đi trước thời đại, ca ngợi mọi sự sáng tạo, Leaves of Grass được lấy cảm hứng chủ đạo từ những tác phẩm của Emerson, đặc biệt tiểu luận The Poet (Thi sĩ) của ông, từng dự đoán sự ra đời của một lớp thi sĩ đầy sức mạnh, có tầm nhìn khoáng đạt và trái tim rộng mở với 77 cuộc đời giống với Whitman một cách lạ kỳ. Lá cỏ là tập thơ mang tính đổi mới: thể thơ tự do, không vần, công khai ca ngợi tính dục với những xúc cảm dân chủ mãnh liệt, và sự khẳng định cực đoan theo kiểu chủ nghĩa Lãng mạn rằng cái tôi của nhà thơ phải hòa làm một với bài thơ, với vũ trụ, và với bạn đọc, đã thay đổi vĩnh viễn nền thơ ca Mỹ.

Leaves of Grass cũng mênh mông, đầy sức sống và tự nhiên nhi nhiên như lục địa châu Mỹ; nó là thiên sử thi mà nhiều thế hệ các nhà phê bình Mỹ kêu gọi, dầu họ không nhận ra nó. Sự chuyển động trào lên như sóng quaSong of Myself như âm nhạc không ngừng nghỉ:

Những xiềng xích cùm gông tôi bỏ lại
Tôi vòng qua các núi non, lòng tay che các miền lục địa
Và sẵn sàng với tri kiến của mình.

Tập thơ tròn đầy với muôn ngàn cảnh tượng và âm thanh sống động. Những con chim trong thơ Whitman không phải là hình ảnh ước lệ về các “linh hồn có cánh” như trong thi ca truyền thống. “Con diệc đầu vàng” của ông “đêm đêm đến bìa đầm lầy và mò ăn những con cua nhỏ”. Dường như Whitman đắm mình trọn vẹn vào mỗi thứ ông chứng kiến hay tưởng tượng ra. Ông là con người của quần chúng, “Du hành đến mọi bến tàu để mặc cả và phiêu lưu. Cùng vội vã giữa một đám đông tân kỳ cũng háo hức và đổi thay như bất cứ ai”. Trong cuộc sống riêng, ông chịu nhiều đau khổ. “Người mẹ già nua, bị kết án là phù thủy, bị đưa lên giàn hỏa thiêu trước sự chứng kiến của đàn con… Tôi là tên nô lệ bị săn đuổi, đớn đau sau bao lần chó cắn… Tôi là người lính cứu hỏa bị nghiền nát đến vỡ vụn xương sườn…”.

Chính Whitman chứ không phải ai khác đã phát minh ra huyền thoại về nước Mỹ dân chủ. “Những người Mỹ đến từ mọi quốc gia trên trái đất ở bất cứ thời điểm nào mang bản tính thi ca trong cái nghĩa đầy đủ nhất. Nước Mỹ tự bản chất là bài thơ vĩ đại nhất”. Khi Withman viết bài thơ này, ông đã mạnh dạn đảo ngược ý kiến phổ biến cho rằng nước Mỹ quá thô thiển và non dại không có gì chung với thơ ca. Ông phát hiện ra một nước Mỹ phi thời gian của trí tưởng tượng không giới hạn, nơi cư ngụ của các tinh thần tiên phong đến từ khắp các quốc gia. D. H. Lawrence, nhà văn và nhà thơ Anh, đã gọi ông một cách chính xác là nhà thơ của “con đường rộng mở”.

Sự vĩ đại của Whitman thể hiện rõ trong nhiều bài thơ, trong đó có các bài Crossing Brooklyn Ferry (Qua phà Brooklyn). Out of the Cradle Endlessly Rocking (Từ chiếc nôi đong đưa) và When Lilacs Last in the Dooryard Bloom’d (Những đóa tử đinh hương cuối cùng trong khoảng sân trước đầy hoa), một khúc bi ca về cái chết của Abraham Lincoln. Một tác phẩm quan trọng khác là tiểu luận dài Democratic Vistas (Triển vọng dân chủ 1871), được viết vào “thời đại hoàng kim” của nền công nghiệp, vào cái lúc chủ nghĩa thực dụng phát triển không kiềm chế. Trong tiểu luận này, Whitman phê bình nước Mỹ một cách đúng đắn về sự giàu có và nền công nghiệp đan xen, hùng mạnh của nó đã che giấu một sa mạc Shahara khô cằn, tẻ nhạt của tâm hồn. Ông kêu gọi một loại hình văn học mới để làm sống lại dân Mỹ (“Không phải cuốn sách được cần nhiều đến thế để trở thành một cái gì hoàn chỉnh, mà là độc giả cần điều đó”). Tuy nhiên, lời khẳng định chủ yếu của Whitman về sự bất tử nằm trong Song of Myself. Ở đây, ông đặt cái tôi của trào lưu Lãng mạn ở trung tâm nhận thức của bài thơ:

Tôi tự ca ngợi mình và hát về tôi
Và những gì tôi tiến hành thì anh cũng làm thôi
Bởi vì mỗi nguyên tử thuộc về tôi
Lại cũng thuộc về anh.

Tiếng thơ của Whitman gây hứng khởi ngay cả cho độc giả hiện đại với lời tuyên ngôn của ông về sức mạnh tối cao và hợp nhất của tất cả vũ trụ. Ông đã có tinh thần cách tân lớn lao. Kể từ ông, mỗi bài thơ là một bản tiểu sử tự thuật, mỗi người Mỹ bình thường trở thành một nhà thơ, người đọc cũng là người sáng tạo, và sự khám phá cái hình thức gọi là “thử nghiệm” hay hệ thống này vẫn còn mang tính thời sự cho đến nay.

CÁC NHÀ THƠ BRAHMIN

Vào thời của mình, nhóm nhà thơ Boston Brahmin (tên gọi những nhà trí thức quý tộc được đào tạo ở Harvard) đã sản sinh ra cho nước Mỹ những đại biểu có tiếng nói quyết định trong thi đàn, những người thật sự hiểu biết và đáng kính trọng. Cuộc sống của họ là một mẫu mực tao nhã của những con người giàu sang, nhàn hạ có ý thức đạo đức mạnh mẽ, hướng sự quan tâm và lòng cầu thị vào việc học tập.

Nếu ở vào thời kỳ đầu Thanh giáo, những tác giả của nhóm Boston Brahmin có thể đã là các mục sư; vào thế kỷ 19, họ trở thành các giáo sư, chủ yếu là ở Harvard. Vào nửa cuối cuộc đời một số người trở thành đại sứ hoặc là nhận được những bằng cấp danh dự từ các Viện hàn lâm hoặc trường Đại học ở châu Âu. Hầu hết những người trong nhóm này đều đi du lịch hoặc học tập ở châu Âu. Họ rất quen thuộc với những tư tưởng và sách vở ở Anh, Đức, Pháp, và nhất là ở Ý và Tây Ban Nha. Xuất thân từ tầng lớp quý tộc nhưng lại có tư tưởng dân chủ thật sự, các nhà thơ Brahmin phổ biến khắp Hoa Kỳ các quan điểm quý phái, hướng về châu Âu, qua những bài thuyết giảng cho công chúng ở vào khoảng ba ngàn hội trường (trung tâm diễn thuyết công cộng) và trên những trang báo của hai tờ tạp chí rất có ảnh hưởng ở Boston, tờ North American Review và Atlantic Monthly.

Những tác phẩm của các nhà thơ Brahmin, kết hợp hai truyền thống châu Mỹ và châu Âu, tìm cách tạo ra tính liên tục của các kinh nghiệm chung của hai bên bờ Đại Tây Dương. Những nhà thơ – bác học này nỗ lực nâng cao dân trí bằng cách truyền bá những khuôn vàng thước ngọc của châu Âu vào văn học Mỹ. Oái ăm thay, các ảnh hưởng của họ nhìn chung mang tính tiêu cực. Do quá chú trọng đến những vấn đề và những hình thức của châu Âu, họ đã cản trở sự phát triển của một ý thức đặc thù Mỹ. Là những con người đầy thiện ý, nhưng định kiến bảo thủ đã làm họ mù quáng không nhìn thấy được tính cách tân táo bạo của Thoreau, Whitman (những người họ từ chối không muốn tiếp xúc) và Edgar Allan Poe (người mà ngay cả Emerson cũng xem là thi sĩ hạng bét – người làm những bài vè bình dân). Họ là rường cột của cái được gọi là “truyền thống quý tộc” mà ba thế hệ những nhà văn hiện thực Mỹ đã phải chiến đấu. Tuy vậy, phần nào cũng do ảnh hưởng khoan hòa và nhẹ nhàng của họ mà phải gần 100 năm sau những thiên tài sáng chói của nước Mỹ như Whitman, Melville, Thoreau, và Poe mới được thừa nhận rộng rãi tại Mỹ.

Henry Wadsworth Longfellow 
(1807 – 1882)

Những nhà thơ Boston Brahmin quan trọng nhất là Henry Wadsworth Longfellow, Oliver Wendell Holmes và James Russel Lowell. Longfellow là giáo sư giảng dạy ngôn ngữ hiện đại ở Harvard, là nhà thơ Mỹ nổi tiếng nhất thời đó. Ông là người đã sản sinh ra cái ý thức truyền kỳ, phi lịch sử và mơ hồ về quá khứ mà nó đã hòa quyện truyền thống Âu và Mỹ. Ông viết ba bài thơ tự sự dài phổ biến những huyền thoại của dân bản địa bằng hình thức thơ châu Âu Evangeline (1847), The Song of Hiawatha (Bài hát của Hiawatha – 1855) và The Courtship of Miles Standish (Lời tỏ tình của Miles Standish 1858).

Longfellow cũng viết sách giáo khoa ngôn ngữ hiện đại và một cuốn du ký Outre -Mer (Hải ngoại), kể lại những LONGFELLOW truyện thần thoại nước ngoài mô phỏng cuốn Sketch Book của Washington Irving. Mặc dù tính ước lệ, tính ủy mị và cách xử lý dễ dãi đã làm hỏng những bài thơ dài, những bài thơ trữ tình ngắn khó quên như The Jewish Cemetery at Newport(Nghĩa trang Do Thái ở Newport -1854), My Lost Youth (Tuổi trẻ đã mất của tôi – 1855), The Tide RisesThe Tide Falls (Thủy triều lên rồi xuống -1880) vẫn tiếp tục mang lại niềm vui cho độc giả.

James Russell Lowell 
(1819 -1891)

James Russell Lowell, người trở thành giáo sư dạy ngôn ngữ hiện đại tại Harvard sau khi Longfellow về hưu là Matthew Arnold([1]) của văn học Mỹ. Ông bắt đầu sự nghiệp với tư cách một nhà thơ, nhưng tài năng dần dần thui chột, rốt cuộc ông trở thành nhà phê bình và nhà giáo dục khả kính. Là chủ bút tờ Atlantic và đồng chủ bút tờ North American Review, Lowell gây được ảnh hưởng rất lớn. Cuốn A Fable for Critics (Truyện ngụ ngôn về các nhà phê bình – 1848) là lời ngợi ca những nhà văn Mỹ một cách ngộ nghĩnh và phù hợp, như trong lời bình phẩm của ông: “Poe đến kìa, với con quạ của mình, như Barnaby Rudge. Ba phần năm trong ông là thiên tài, hai phần hoàn toàn là khờ khạo”.

Nhờ ảnh hưởng của vợ, Lowell trở thành nhà cải cách tự do, một chiến sĩ chống lại chế độ nô lệ, và là người ủng hộ quyền bầu cử của phụ nữ và những đạo luật chấm dứt lao động trẻ em. Tác phẩm Biglow Papers First Series (Loạt tác phẩm đầu tiên của Biglow – 1847 – 1848) xây dựng nhân vật Hosca Biglow, một nhà thơ đồng quê ít học nhưng lanh lợi lao vào tranh luận bênh vực sự cải tổ trong thơ ca địa phương.

Chính Benjamin Franklin và Phillip Freneau cũng đã dùng những người dân quê thông minh làm cái loa truyền bá những luận điểm xã hội. Lowell cũng viết theo mạch đó, nối kết truyền thống “tính cách” thuộc địa với hiện thực mới và tinh thần địa phương dựa trên ngôn ngữ địa phương nở rộ vào những năm 1850 và đạt đến đỉnh cao với Mark Twain.

Oliver Wendell Holmes 
(1809 – 1894)

Oliver Wendell Holmes, là bác sĩ và là giáo sư cơ thể học và sinh lý học nổi tiếng ở Harvard, là nhà thơ khó phân loại nhất trong 3 nhà thơ Brahmin nổi danh bởi vì tác phẩm của ông mang dấu ấn của một tài năng đa diện, khác thường. Ông để lại tuyển tập các tiểu luận trào lộng (ví dụ, The Autocrat of the Breakfast -Table (Tên độc tài bên bàn ăn sáng – 1858), tiểu thuyếtElsie Venner – 1861, tiểu sử Ralph Waldo Emerson, 1885, những bài thơ có thể sôi động (như The Deacon’s Masterpiece hay The Wonderful One- Hoss Shay – Kiệt tác của Deacon), đầy triết lý (như trong The Chambered Nautilus – Hang ốc anh vũ), và lòng nhiệt tình yêu nước (Old Ironsides –Con tàu Old Ironsides[2]).

Sinh ra ở Cambridge, bang Massachusetts vùng ngoại ô Boston, vốn là địa bàn của Harvard, Holmes là con trai của một mục sư xuất sắc trong vùng. Mẹ ông là hậu duệ của nhà thơ Anne Bradstreet. Vào thời ông, và nhiều năm sau nữa, ông tượng trưng cho sự thông tuệ và duyên dáng không chỉ với tư cách một nhà thám hiểm hay một nhà đi tiên phong mà thực sự là một bậc trí giả minh triết mẫu mực có thể giải thích mọi điều từ các hiện tượng xã hội và ngôn ngữ đến các vấn đề y khoa và bản chất con người.

HAI NHÀ CẢI CÁCH

New England lóe sáng sức mạnh trí tuệ trong những năm trước cuộc Nội chiến. Vài vì sao trong số đó ngày nay còn sáng hơn cả dải thiên hà nổi tiếng gồm các nhà thơ Brahmin, nhưng trước đây họ bị lu mờ vì đói nghèo hay gặp khó khăn về giới tính và chủng tộc trong thời của họ. Độc giả ngày nay đánh giá ngày càng cao tác phẩm của tác gia ủng hộ phong trào bãi bỏ chế độ nô lệ John Greenleaf Whittier và nhà bảo vệ nữ quyền và cải cách xã hội Margaret Fuller.

John Greenleaf Whittier
(1807 – 1892)

John Greenleaf Whittier, nhà thơ năng động nhất trong thời kỳ đó, có hoàn cảnh xuất thân rất giống với Walt Whitman. Ông sinh ra và lớn lên ở một trang trại Quaker bình dị ở Massachusetts, không được học hành đến nơi đến chốn, rồi kiếm sống bằng nghề báo. Vài chục năm trước khi phong trào đòi bãi bỏ chế độ nô lệ lan tràn rộng rãi, ông là người hăng hái ủng hộ xóa bỏ chế độ nô lệ. Whittier được trân trọng vì những bài thơ chống chế độ nô lệ như là Ichabold, và thơ ca của ông đôi lúc được xem là một điển hình đầu tiên của chủ nghĩa hiện thực địa phương.

Những hình ảnh sắc nét, cấu trúc đơn giản, những cặp câu bốn nhịp giống thơ ballad của Whittier có kết cấu thô sơ đơn giản như thơ của Robert Burns. Tác phẩm hay nhất của ông, bài thơ dài “Snow Bound” (Kẹt trong bão tuyết) tái hiện một cách sống động hình ảnh những người thân đã mất hoặc bạn bè thời thơ ấu mà ông vẫn nhớ đang quây quần đầm ấm quanh lò sưởi rực hồng, bên ngoài cơn bão tuyết đang lồng lộn. Bài thơ đơn sơ, sùng đạo và mang dấu ấn cá nhân này, xuất hiện sau cơn ác mộng dài của cuộc Nội chiến, là khúc mặc niệm người chết và bài ca xoa dịu vết thương. Nó khẳng định sự bất tử của tâm hồn, sức mạnh phi thời gian của tình yêu trong hoài niệm, và vẻ đẹp bền vững của thiên nhiên, mặc cho những cơn bão táp chính trị cuồng loạn bên ngoài.

Margaret Fuller
(1810 – 1850)

Margaret Fuller, một người viết tiểu luận nổi bật, sinh ra và lớn lên ở Cambridge, bang Massachusetts. Xuất thân từ tầng lớp thường dân, bà chỉ học ở nhà dưới sự dạy dỗ của cha (phụ nữ không được phép học ở Harvard) và trở thành thần đồng, thông thạo cả văn học cổ điển và hiện đại. Niềm đam mê đặc biệt của bà là văn học lãng mạn Đức, đặc biệt là Goethe, một thi sĩ mà bà thích dịch.

Là một nhà báo nữ chuyên nghiệp nổi tiếng đầu tiên ở Mỹ, bà Fuller đã viết những bài phê bình, điểm sách gây nhiều ảnh hưởng và những báo cáo về các vấn đề xã hội như là việc đối xử với nữ phạm nhân và người điên. Nhiều bài tiểu luận này được in trong cuốn Papers on Literature and Art(Những bài viết về văn chương và nghệ thuật – 1846) của bà. Trước đó một năm, bà đã viết cuốn sách quan trọng nhất của mình, Woman in the Nineteenth Century (Người đàn bà của thế kỉ 19) xuất hiện lần đầu trên tạp chí của Trào lưu Siêu nghiệm, The Dial, tờ tạp chí bà làm chủ bút từ 1840 đến 1842.

Cuốn Woman in the Nineteenth Century của Fuller là sự khám phá sớm nhất và có tính cách Mỹ nhất về vai trò phụ nữ trong xã hội. Trong khi đưa ra những lý giải sâu sắc về rất nhiều nguyên nhân tế nhị và hậu quả tai hại của tệ nạn phân biệt nam nữ và đưa ra những giải pháp tích cực, bà đã vận dụng những nguyên tắc dân chủ và lý luận của trường phái Siêu nghiệm. Nhiều ý tưởng của bà cực kỳ hiện đại. Bà nhấn mạnh tầm quan trọng của sự “lệ thuộc vào chính mình” mà phụ nữ vốn thiếu bởi vì “họ được dạy phải học luật lệ từ Emily Dickinson bên ngoài, chứ không phải khai mở nó từ bên trong”.

Cuối cùng, Fuller không chỉ là một người bảo vệ nữ quyền mà hơn nữa, bà còn là nhà hoạt động và cải cách hiến đời mình cho lý tưởng tự do sáng tạo của con người và phẩm giá cho mọi người.

… chúng ta hãy khôn ngoan và đừng tự trói buộc đời sống tinh thần… chúng ta hãy có một năng lực sáng tạo… Hãy để cho nó định hình, và đừng ràng buộc nó bằng quá khứ dù với đàn ông hay đàn bà, da đen hay da trắng.

Emily Dickinson
(1830 – 1886) 

Emily Dickinson, trong chừng mực nào đó, là cầu nối giữa thời đại bà và tính mẫn cảm văn chương vào khoảng giao thời của thế kỷ. Là một tác giả theo chủ nghĩa cá nhân cấp tiến, bà sinh ra và sống trọn đời ở Amherst bang Massachusetts, một ngôi làng nhỏ theo phái Calvin. Bà không lập gia đình, và cũng không tuân theo các tập tục xã hội, bên dưới một cuộc đời tưởng như bình lặng là cả một cuộc sống nội tâm sâu thẳm mãnh liệt. Bà yêu thiên nhiên và chim chóc, muông thú, cỏ cây, sự thay đổi bốn mùa ở miền quê New England đã gợi lên trong bà những cảm hứng sáng tạo sâu xa.

Vào giai đoạn cuối của cuộc đời, Dickinson sống như một ẩn sĩ, có lẽ là do bà quá nhạy cảm và có lẽ bà cũng muốn dành thời gian cho sáng tác (có những quãng thời gian bà viết áng chừng mỗi ngày một bài thơ). Một ngày của bà cũng bao gồm chuyện chăm lo việc nhà cho ông bố luật sư, một nhân vật có tiếng ở Amherst đã trở thành một nghị viên ở Quốc hội.

Dickinson không được học nhiều, nhưng những gì mà bà am hiểu như Kinh thánh, các vở kịch của Shakespeare, và các tác phẩm thần thoại cổ đại thì thật sâu sắc và thấu đáo. Đó là những người thầy thật sự của bà, vì Dickinson chắc chắn là thiên tài văn chương cô độc nhất trong thời đại bà. Chính người phụ nữ thôn quê kín đáo, e lệ hầu như vô danh và chẳng xuất bản tập thơ nào lại tạo nên một số trong những tác phẩm thi ca vĩ đại nhất của Mỹ vào thế kỷ 19, và cho đến nay vẫn mê hoặc quần chúng kể từ thập niên 50, khi thơ ca của bà lại được người ta khám phá lần nữa.

Phong cách súc tích giàu hình ảnh của Dickinson thậm chí còn hiện đại và cách tân hơn cả Whitman. Bà không bao giờ dùng tới hai từ khi một từ là đã đủ, bà biết kết hợp những điều cụ thể với những ý tưởng trừu tượng bằng bút pháp cô đọng rất gần với tục ngữ. Những bài thơ hay nhất của bà không có chi tiết thừa; nhiều bài giễu cợt những tình cảm ủy mị đương thời; một số bài thậm chí còn thể hiện quan điểm dị giáo. Đôi lúc bà phô bày một nhận thức hiện sinh đáng sợ. Cũng như Poe, bà khai phá phần tâm thức ẩn giấu và tối tăm, kịch tính hóa cái chết và nấm mồ. Tuy nhiên, bà cũng ca ngợi những vật thể đơn giản -một đóa hoa, một con ong. Thơ ca của bà là thơ của một trí tuệ vĩ đại thường nêu ra cái nghịch lý đau đớn về những giới hạn của ý thức con người bị trói buộc bởi thời đại. Bà có được óc khôi hài tuyệt vời, các chủ đề và cách xử lý vấn đề của bà phong phú một cách đáng kinh ngạc. Thơ của bà không có tựa đề. Trong ấn bản tiêu chuẩn năm 1955, Thomas H. Johnson đã đánh số các bài thơ để dễ nhận biết. Những bài thơ ấy chứa đầy những lối viết hoa và dấu gạch kỳ quặc.

Là một người không lệ thuộc các quy ước xã hội, giống như Thoreau, bà thường đảo ngược ý nghĩa của từ, nhóm từ và sử dụng nghịch lý một cách rất hiệu quả. Đây là bài thơ số 435:

Điên dại nhiều gần với thần thánh nhất –
Với một Con mắt biết phân biệt
Nhiều ý nghĩa – sự dại điên trọn vẹn
Với nhiều người
Trong nghĩa này, như Tất cả, tràn lan
Đồng ý – và anh thì minh mẫn –
Không ư – anh thật sự là nguy nan
Và bị xử lý với một sợi xích

Trí tuệ của bà tỏa sáng trong bài thơ số 288 sau đây, một bài thơ chế nhạo tham vọng và cuộc sống xã hội.

Em không là ai cả! Còn anh!
Anh cũng chẳng là ai đó chứ?
Vậy là có hai chúng ta sao?
Đừng nói gì! Họ loa lên – anh biết đó!
Đáng sợ khi phải là ai đó
Trong đám đông như một Con Ếch xưng tên tuổi
Tháng Sáu
Trước một ao đầm bái phục ngươi.

Cả 1.775 bài thơ của Dickinson tiếp tục là vấn đề với các nhà phê bình, họ thường bất đồng ý kiến với nhau. Một số nhấn mạnh đến sự huyền bí của bà, một số khác ca ngợi sự nhạy cảm của bà đối với thiên nhiên; nhiều người lại lưu ý đến vẻ hấp dẫn kỳ lạ có phần kỳ cục của thơ bà. R.P. Blackmur, một nhà phê bình hiện đại bình luận rằng thơ ca của Dickinson đôi lúc mang lại cảm giác như là “một con mèo đến bên ta nói tiếng Anh”. Những bài thơ đẹp đẽ, trong sáng được gọt giũa của bà là một số trong những tác phẩm lôi cuốn và đầy thử thách nhất trong văn chương Mỹ.


[1] Matthew Arnold (1822 – 1888): nhà thơ viết tiểu luận và phê bình nổi tiếng người Anh.

[2] Old Ironsides là tên của con tàu đầu tiên của Mỹ được bọc thép.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_iii.html

You Might Also Like