Browsing Category

Văn học

Literature Nguyễn Du Nguyễn Dữ Văn học Trung Quốc Văn học Việt Nam

陈益源教授在复旦的讲座

陈益源教授第一讲:中国汉籍在越南的传播与接受
发布时间: 2014-04-05

4月4日上午台湾国立成功大学中文系陈益源教授做了题为“中国汉籍在越南的传播与接受”的报告,此为其在复旦系列讲座的第一讲。报告在光华楼西主楼1001室进行,黄霖老师主持。

       关于越南汉籍,中越文化交流方面的研究,陈教授付出了许多努力也取得了诸多的成就,他谈到自己到过越南六十多次,为了研究做了大量的田野调查,可以说他对越南文学及越南汉籍的研究在世界范围内都是享有很多声誉的。

      此一讲,陈教授是“以十九世纪越南使节在中国的购书经验为例”来说明中国汉籍在越南的传播和接受的问题。他首先提到复旦文史研究院近期编辑出版的《越南汉文燕行文献集成》,刘春银、王小盾、陈义主编的《越南汉喃文献目录提要》(台北:中央研究院中国文哲研究所,200212月)以及玉珺的《越南汉喃古籍的文献学研究》(北京:中华书局,20077月)等越南文献研究论著。以此为契,陈教授先后谈到越南使节黎贵惇、汝伯行、阮述等人到中国出使时买书的经历及记载。陈教授特别的发现是这些使节当时的购书书单,同时代的中国官员对相关事情的零星记述,如马先登的《护送越南贡使日记》等。其中陈教授最为关心的是这些购回的汉籍在越南的刊行及传播情况,如陈文准归梓版行的《五类遣规》等对民众日常生活及伦理产生影响的书籍的传播情况。陈教授特别提到越南历史学家陈文玾整理抄录的《北书南印板书目》(可参考陈教授的《越南汉籍文献述论》一书)这本古代最完整详细地记录越南汉籍的目录书,同时还找到十八、十九世纪有关越南藏书的一些情况,如当时的国史馆、国子监、新书院、古学院等。特别是古学院有《古学院书籍手册》,它对当时所藏汉籍的著录是极为珍贵的,但可惜的是我们现在能找到的线索非常之少。

    陈教授讲到自己很想弄清“越南古学院所藏中国汉籍的来源与去向”,但由于种种条件的限制,目前还无发取得重大的研究突破。最后陈教授呼吁同学们关于中越交流,关于越南文学、文化及越南汉籍的研究,为中越文献文学的研究做出贡献,同时也带动越南汉学家的研究工作。

http://www.gdwx.fudan.edu.cn/7c/f8/c4123a31992/page.htm
陈益源教授第二讲:中国古代小说在越南的传播与影响
发布时间: 2014-04-07

         2014年4月7日上午在光华楼西主楼1101室,陈益源教授进行了本次复旦讲学系列的第二讲:中国古代小说在越南的传播与影响。虽然正值清明假期,但仍然有不少同学积极地到场听讲。会议由黄霖老师和罗书华老师主持。

       这一讲陈教授主要从三个方面的内容进行了讲述,即在文献目录方面,有关中国古代小说在越南的著录及出版情况; 在田野调查过程中,陈教授发现的中国小说在民间的流传及各种影响情况; 最后,从前两部分的论述得出关于文学研究要重视文本文献与田野调查相结合的方法和途径。

         在第一部分,陈教授对比了当时的聚奎书院的藏书和内阁书目,对照了当时的《新书院守册》、《古学院书目》,让大家对越南阮朝的汉文小说收藏有了相当的了解。同时,陈老师以《红楼梦》为例,介绍了“越南阮朝图书馆所藏的《红楼梦》及其续书的情况”,从中发现几个书目著录的差异以及一些版本逐渐失传的情况。陈教授讲,对越南小说影响最大的不是《红楼梦》,而是《金云翘传》和《三国演义》,在阮朝时期《红楼梦》从来没被再版过(关于这些问题可参看胡文彬先生的《<红楼梦>在国外》一书)。在第二部分,陈教授以他的田间求证经验为例介绍了中国小说在越南的影响。他以《金仲和阿翘》的民间故事为例讲到越南文学家阮攸用六、八民歌体重写的3254句叙事长诗《金云翘传》和中国“三言”中的短篇故事的关系,和越南民间平民“唱翘”之间的关系。他又以越南模仿《剪灯新话》的小说集《传奇漫录》中的一篇《南昌女子录》为例,讲述自己亲自到南昌当地寻找南昌女子庙的经历来说明田野调查的重要性。第三部分,陈老师重申自己的观点,即文献与田野结合之必要。他还是以现实的例子为据来说明。他谈了顺化关公祠的现存情况,及其与“方志”、“碑刻”中所记录情形的差异,来寻找追踪这些差异和变化所产生的原因及意义。

        最后同学提问阶段,大家讨论了《金银翘传》的版本情况,越南民众喜爱王翠翘的历史原因及关公、孙悟空信仰在越南的存在状况等等。罗书华老师坐了报告总结。

http://www.gdwx.fudan.edu.cn/7c/fe/c4123a31998/page.htm

Literature Nguyễn Dữ Văn học Việt Nam

陳益源:越南漢文小說在台灣的出版與研究

Xuất bản và Nghiên cứu tiểu thuyết Hán văn Việt Nam tại Đài Loan

Literature Nguyễn Du Văn học Việt Nam 中文

《龍城琴者歌》 - 阮攸

龍城琴者歌 < 阮攸 >

龍城佳人
姓氏不記清
獨擅阮琴
舉城之人以琴名
學得先朝宮中供奉曲
自是天上人間第一聲
余憶少年曾一見
鑑湖湖邊夜開宴
其時三七正芳年
紅裝晻曖桃花面
酡顏憨態最宜人
歷亂五聲隨手變
緩如疏風渡松林
清如隻鶴鳴在陰
烈如薦福碑頭碎霹靋
哀如莊舄病中為越吟
聽者靡靡不知倦
便是中和大內音
西山諸臣滿座盡傾倒
徹夜追歡不知飽
左拋右擲爭纏頭
泥土金錢殊草草
豪華意氣凌公侯
五陵少年不足道
并將三十六宮春
活做長安無價寶
此席回頭二十年
西山敗後余南遷 
咫尺龍城不復見
何況城中歌舞筵 
宣撫使君為余重買笑 
席中歌妓皆年少 
席末一人髮半華 
顏瘦神枯形略小 
狼藉殘眉不飾妝 
誰知就是當時城中第一妙 
舊曲新聲暗淚垂 
耳中靜聽心中悲 
猛然億起二十年前事 
鑑湖席中曾見之 
城郭推移人事改 
幾處桑田變滄海 
西山基業盡消亡 
歌舞空遺一人在 
瞬息百年能幾時 
傷心往事淚沾衣 
南河歸來頭盡白 
怪底佳人顏色衰 
雙眼瞪瞪空想像 
可憐對面不相知。

Long Thành Cầm Giả Ca < Nguyễn Du >

Lê Văn Ðặng phiên lục và trình bày

Long Thành giai nhơn,
Tính thị bất ký thanh.
Độc thiện Nguyễn cầm,
Cử thành chi nhơn dĩ Cầm danh.
Học đắc tiên triều cung trung cung phụng khúc,

Tự thị thiên thượng nhơn gian đệ nhứt thanh.

Dư ức thiếu thời tằng nhứt kiến,

Giám hồ hồ biên dạ khai yến.
Kỳ thời tam thất chánh phương niên,
Hồng trang yểm ái đào hoa diện.
Đà nhan hám thái tối nghi nhơn,
Lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến.
Hoãn như sơ phong độ tùng lâm,
Thanh như song hạc minh tại âm.
Liệt như Tiến Phúc bi đầu toái phích lịch,

Ai như Trang Tích bịnh trung vi Việt ngâm.

Thính giả mi mi bất tri quyện,
Tiện thị Trung Hoà đại nội âm.
Tây Sơn chư thần mãn tọa tận khuynh đảo,

Triệt dạ truy hoan bất tri bão.
Tả phao hữu trịch tranh triền đầu,
Nê thổ kim tiền thù thảo thảo.
Hào hoa ý khí lăng công hầu,
Ngũ lăng thiếu niên bất túc đạo.
Tính tương tam thập lục cung xuân,
Hoạt tố Trường An vô giá bảo.
Thử tịch hồi đầu nhị thập niên,

Tây Sơn bại hậu, dư nam thiên.

Chỉ xích Long Thành bất phục kiến,

Hà huống thành trung ca vũ diên,

Tuyên phủ sứ quân vị dư trùng mãi tiếu,

Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu.
Tịch mạt nhất nhơn phát bán hoa,
Nhan sấu thần khô, hình lược tiểu,

Lang tạ tàn my bất sức trang,
Thùy tri tựu thị đương thời thành trung đệ nhất diệu.

Cựu khúc tân thanh ám lệ thùy,
Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi,
Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự,
Giám hồ tịch trung tằng kiến chi.
Thành quách thôi di nhân sự cải,
Kỷ xứ tang điền biến thương hải,
Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong,
Ca vũ không di, nhất nhân tại.
Thuấn tức bách niên năng kỷ thì,
Thương tâm vãng sự lệ triêm y.
Nam hà quy lai đầu tận bạch,
Quái để giai nhơn nhan sắc suy.
Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng,
Khả liên đối diện bất tương tri.

Thành Thăng Long nhớ từ thửa nọ
Bậc giai nhân tên họ ai hay
Ðàn cầm thánh thoát mấy dây
Khắp thành quen miệng gọi ngay Nàng Cầm “Cung Phụng khúc” xưa ngâm trong Nội Phổ nên chương tiếng nổi một thời

Nhớ ngày đương độ vui chơi
Giám Hồ yến tiệc gặp người tài hoa
Tuổi hăm mốt nõn nà lộng lẫy
Gió xuân êm hây hẩy bông đào
Men tô duyên não nùng sao
Nỉ non năm tiếng thấp cao tuyệt vời
Theo tay ngọc lòng người ủ rũ
Tiếng bổng trầm to nhỏ miên man
Khoan như gió lướt thông ngàn
Trong như tiếng hạc lạc đàn kêu sương Mạnh như sấm phũ phàng xé đá
Tiến Phúc bia nổ phá ầm ầm
Buồn như khúc Việt ai ngâm
Nỗi lòng Trang Tích âm thầm mà đau
Ðiệu êm ấm nghe lâu chẳng mỏi
Chính khúc này Ðại Nội triều xưa
Tây Sơn quân tướng thẫn thờ
Ngả nghiêng đến sáng còn chưa thỏa lòng Quăng lụa thưởng tây đông tíu tít
Vàng tựa bùn cứ việc vung tay
Công hầu hào khí đua say
Ngũ lăng niên thiếu một bày sá chi

Học Canh dịch

Dạo khúc xuân diễm kỳ lả lướt
Băm sáu cung thánh thót xinh xinh
Tràng An treo ngọc liên thành
Phẩm cao vô giá, tài tình riêng ai
Thoảng hai chục năm trời từ đấy
Tây Sơn thua, ta trẩy Nam Hà
Long Thành gang tấc còn xa
Ðiệu xưa nhớ mấy cũng là đành thôi Tuyên phủ sứ lại mời dự tiệc
Thiếu chi người mày biếc má hồng
Cuối bàn phảng phất não nùng
Một nàng đầu tóc hình dung bơ phờ Mình gầy võ mày thưa duyên nhạt
Ai biết nàng oanh liệt xưa kia
Khúc đâu lệ chảy đầm đìa
Khiến người nghe những đê mê xót thầm Chợt nhớ lại bao năm chuyện cũ
Từng bên ai vui thú Hồ xưa
Thành tàn duyên cũng xác xơ
Ngậm ngùi mấy cuộc biển mờ dâu xanh Rồi một sớm bại thành là thế
Cảm khúc ca Trời để một người
Trăm năm một thoáng bao dài
Ngậm ngùi chuyện cũ cho đời buồn đau Ở Nam về, mái đầu đã bạc
Người đẹp xưa cũng khác hình xưa Giương đôi mắt ngó mà mơ
Thảm thay ai biết bây giờ là ai

http://www.jaist.ac.jp/~dnthao/index_files/@Books/LongThanhCamGiaCa%20NguyenDu.pdf

Literature Văn học Trung Quốc 中文

Viễn biệt ly 遠別離

遠別離

遠別離,
古有皇英之二女,
乃在洞庭之南,瀟湘之浦。
海水直下萬里深,
誰人不言此離苦。
日慘慘兮雲冥冥,
猩猩啼煙兮鬼嘯雨。
我縱言之將何補,
皇穹竊恐不照餘之忠誠。
雲憑憑兮欲吼怒,
堯舜當之亦禪禹。
君失臣兮龍為魚,
權歸臣兮鼠變虎。
或言堯幽囚,舜野死,
九疑聯綿皆相似,
重瞳孤墳竟何是。
帝子泣兮綠雲間,
隨風波兮去無還。
慟哭兮遠望,
見蒼梧之深山。
蒼梧山崩湘水絕,
竹上之淚乃可滅。

 

Viễn biệt ly

Viễn biệt ly,
Cổ hữu Hoàng, Anh chi nhị nữ,
Nãi tại Động Đình chi nam, Tiêu Tương chi phố.
Hải thuỷ trực hạ vạn lý thâm,
Thuỳ nhân bất ngôn thử ly khổ.
Nhật thảm thảm hề vân minh minh,
Tinh tinh đề yên hề quỷ khiếu vũ.
Ngã túng ngôn chi tương hà bổ,
Hoàng khung thiết khủng bất chiếu dư chi trung thành.
Vân bằng bằng hề dục hống nộ,
Nghiêu Thuấn đương chi diệc thiện Vũ.
Quân thất thần hề long vi ngư,
Quyền quy thần hề thử biến hổ.
Hoặc ngôn Nghiêu U tù, Thuấn dã tử,
Cửu Nghi liên miên giai tương tự,
Trùng đồng cô phần cánh hà thị.
Đế tử khấp hề lục vân gian,
Tuỳ phong ba hề khứ vô hoàn.
Động khốc hề viễn vọng,
Kiến Thương Ngô chi thâm sơn.
Thương Ngô sơn băng Tương thuỷ tuyệt,
Trúc thượng chi lệ nãi khả diệt.

远别离
李白
远别离,古有皇英之二女,
乃在洞庭之南,潇湘之浦。
海水直下万里深,谁人不言此离苦?
日惨惨兮云冥冥,猩猩啼烟兮鬼啸雨。
我纵言之将何补?
皇穹窃恐不照余之忠诚,雷凭凭兮欲吼怒。
尧舜当之亦禅禹。君失臣兮龙为鱼,权归臣兮鼠变虎。
或云尧幽囚,舜野死。
九疑联绵皆相似,重瞳孤坟竟何是?
帝子泣兮绿云间,随风波兮去无还。
恸哭兮远望,见苍梧之深山。
苍梧山崩湘水绝,竹上之泪乃可灭。

李白 远别离
注释:
⑴《远别离》,乐府“别离”十九曲之一,多写悲伤离别之事。
⑵皇英,指娥皇、女英,相传是尧的女儿,舜的妃子。舜南巡,两妃随行,溺死于湘江,世称湘君。她们的神魂游于洞庭之南,并出没于潇湘之滨。见《水经注》。
⑶乃,就。
⑷潇湘,湘水中游与潇水合流处。这里作湘江的别称。
⑸“海水”两句意为:谁人不说这次分离的痛苦,象海水那样的深不见底!
⑹惨惨,暗淡无光。冥,阴晦的样子。两句意为:日光暗淡,乌云密布;猩猩在烟云中悲鸣,鬼怪在阴雨中长啸。这是比喻当时政治黑暗。
⑺纵,即使。补,益处。皇穹,天。这里喻指唐玄宗。窃恐,私自以为。照,明察。凭凭,盛大的意思。雷凭凭,形容雷声响而又接连不断。这三句意为:我即使向唐玄宗进谏,又有什么补益?恐怕他不会了解我的忠诚,以至雷公也将要为我大鸣不平。
⑻禅,禅让,以帝位让人。这句是“尧当之亦禅舜,舜当之亦禅禹”的意思。
⑼“君失臣”两句意为:帝王失掉了贤臣,犹如龙变成鱼;奸臣窃取了大权,就像老鼠变成猛虎。
⑽或云,有人说。幽囚,囚禁。尧幽囚,传说尧因德衰,曾被舜关押,父子不得相见。舜野死,传说舜巡视时死在苍梧。这两句,作者借用古代传说,暗示当时权柄下移,藩镇割据,唐王朝有覆灭的危险。
⑾九疑,即苍梧山,在今湖南宁远县南。因九个山峰联绵相似,不易辨别,故又称九疑山。相传舜死后葬于此地。重瞳,指舜。相传舜的两眼各有两个瞳仁。两句意为:九疑山的峰峦联绵相似,舜的坟墓究竟在哪儿呢?
⑿帝子,指娥皇、女英。传说舜死后,二妃相与恸哭,泪下沾竹,竹上呈现出斑纹。见《述异记》。这两句意为:两妃哭泣于翠竹之间,自投于湘江,随波一去不返。
⒀“恸哭”四句意为:两妃远望着苍梧山,大声痛哭,泪水不断洒落在湘竹上。除非苍梧山崩裂,湘水断流,竹上的泪痕才会消灭。

远别离 李白
赏析:

《远别离》是唐代伟大诗人李白的著名诗篇之一。这首诗通过娥皇、女英二妃和舜帝生离死别的故事,表现远别离的悲哀,并从故事中引出“尧幽囚”、“舜野死”的传说,说明人君失权的后果。“君失臣兮龙为鱼,权归臣兮鼠变虎”,形象地表现了诗人对唐王朝前途的忧虑。

这是一个古老的传说:帝尧曾经将两个女儿(长曰娥皇、次曰女英)嫁给舜。舜南巡,死于苍梧之野。二妃溺于湘江,神游洞庭之渊,出入潇湘之浦。这个传说,使得潇湘洞庭一带似乎几千年来一直被悲剧气氛笼罩着,“远别离,古有皇英之二女;乃在洞庭之南,潇湘之浦,海水直下万里深,谁人不言此离苦?”一提到这些诗句,人们心理上都会被唤起一种凄迷的感受。那流不尽的清清的潇湘之水,那浩淼的洞庭,那似乎经常出没在潇湘云水间的两位帝子,那被她们眼泪所染成的斑竹,都会一一浮现在脑海里。所以,诗人在点出潇湘、二妃之后发问:“谁人不言此离苦?”就立即能获得读者强烈的感情共鸣。
接着,承接上文渲染潇湘一带的景物:太阳惨淡无光,云天晦暗,猩猩在烟雨中啼叫,鬼魅在呼唤着风雨。但接以“我纵言之将何补”一句,却又让人感到不是单纯写景了。阴云蔽日,那“日惨惨兮云冥冥”,就像是说皇帝昏聩、政局阴暗。“猩猩啼烟兮鬼啸雨”,正像大风暴到来之前的群魔乱舞。而对于这一切,一个连一官半职都没有的诗人,即使说了,也无补于世,没有谁能听得进去。既然“日惨惨”、“云冥冥”,那么朝廷就不能区分忠奸。所以诗人接着写道:我觉得皇天恐怕不能照察我的忠心,相反,雷声殷殷,又响又密,好像正在对我发怒呢。这雷声是指朝廷上某些有权势的人的威吓,但与上面“日惨惨兮云冥冥,猩猩啼烟兮鬼啸雨”相呼应,又像是仍然在写潇湘洞庭一带风雨到来前的景象,使人不觉其确指现实。
“尧舜当之亦禅禹,君失臣兮龙为鱼,权归臣兮鼠变虎。”这段议论性很强,很像在追述造成别离的原因:奸邪当道,国运堪忧。君主用臣如果失当,大权旁落,就会像龙化为可怜的鱼类,而把权力窃取到手的野心家,则会像鼠一样变成吃人的猛虎。当此之际,就是尧亦得禅舜,舜亦得禅禹。诗人说:不要以为我的话是危言耸听、亵渎人们心目中神圣的上古三代,证之典籍,确有尧被秘密囚禁,舜野死蛮荒之说啊。《史记·五帝本纪》正义引《竹书纪年》载:尧年老德衰为舜所囚。《国语·鲁语》:“舜勤民事而野死。”由于忧念国事,诗人观察历史自然别具一副眼光:尧幽囚、舜野死之说,大概都与失权有关吧?“九疑联绵皆相似,重瞳孤坟竟何是?”舜的眼珠有两个瞳孔,人称重华。传说他死在湘南的九嶷山,但九座山峰联绵相似,究竟何处是重华的葬身之地呢?称舜墓为“孤坟”,并且叹息死后连坟地都不能为后人确切知道,更显凄凉。不是死得暧昧,不至于如此。娥皇、女英二位帝子,在绿云般的丛竹间哭泣,哭声随风波远逝,去而无应。“见苍梧之深山”,着一“深”字,令人可以想象群山迷茫,即使二妃远望也不知其所,这就把悲剧更加深了一步。“苍梧山崩湘水绝,竹上之泪乃可灭。”斑竹上的泪痕,乃二妃所洒,苍梧山应该是不会有崩倒之日,湘水也不会有涸绝之时,二妃的眼泪自然没有止期。这个悲剧实在是太深了。
诗所写的是二妃的别离,但“我纵言之将何补”一类话,分明显出诗人是对现实政治有所感而发的。所谓“君失臣”、“权归臣”是天宝后期政治危机中突出的标志,并且是李白当时心中最为忧念的一端。元代萧士赟认为玄宗晚年贪图享乐,荒废朝政,把政事交给李林甫、杨国忠,边防交给安禄山、哥舒翰,“太白熟观时事,欲言则惧祸及己,不得已而形之诗,聊以致其爱君忧国之志。所谓皇英之事,特借指耳。”这种说法是可信的。李白之所以要危言尧舜之事,意思大概是要强调人君如果失权,即使是圣哲也难保社稷妻子。后来在马嵬事变中,玄宗和杨贵妃演出一场远别离的惨剧,可以说是正好被李白言中了。
诗写得迷离惝恍,但又不乏要把迷阵挑开一点缝隙的笔墨。“我纵言之将何补?皇穹窃恐不照余之忠诚,雷凭凭兮欲吼怒。”这些话很像他在《梁甫吟》中所说的“我欲攀龙见明主,雷公砰轰震天鼓。……白日不照吾精诚,杞国无事忧天倾。”不过,《梁甫吟》是直说,而《远别离》中的这几句隐隐呈现在重重迷雾之中,一方面起着点醒读者的作用,一方面又是在述及造成远别离的原因时,自然地带出的。诗仍以叙述二妃别离之苦开始,以二妃恸哭远望终结,让悲剧故事笼括全篇,保持了艺术上的完整性。
诗人是明明有许多话急于要讲的。但他知道即使是把喉咙喊破了,也决不会使唐玄宗醒悟,真是“言之何补”。况且诗人自己也心绪如麻,不想说,但又不忍不说。因此,写诗的时候不免若断若续,似吞似吐。范梈说:“此篇最有楚人风。所贵乎楚言者,断如复断,乱如复乱,而辞意反复行于其间者,实未尝断而乱也;使人一唱三叹,而有遗音。”(据瞿蜕园、朱金城《李白集校注》转引)这是很精到的见解。诗人把他的情绪,采用楚歌和骚体的手法表现出来,使得断和续、吞和吐、隐和显,消魂般的凄迷和预言式的清醒,紧紧结合在一起,构成深邃的意境和强大的艺术魅力。

http://sns.91ddcc.com/t/57342

Literature Văn học Việt Nam 中文

用中國文史料來理解越南漢文小説: 以《皇越春秋》為例 (Dùng văn sử liệu Trung Quốc lý giải tiểu thuyết Hán văn Việt Nam: trường hợp Hoàng Việt xuân thu)

用中國文史料來理解越南漢文小説: 以《皇越春秋》為例 (Dùng văn sử liệu Trung Quốc lý giải tiểu thuyết Hán văn Việt Nam: trường hợp Hoàng Việt xuân thu)

Sunday, 04 September 2011 23:01 阮南 (Nguyễn Nam) 阮南

壹、前言

 

用中國文史材料來解讀越南漢文小説並不是一條新的途徑,這是由於中、越文學長存非常密切的關聯,所以研究越南古典文學時,引用或對照中國文史材料,是爲了達到更深入的理解。本文以互文性(intertextuality)和接受理論(reception theory)的角度重新檢視這條常見的研究途徑,選擇越南漢文歷史小説Hoàng Việt xuân thu《皇越春秋》(亦名 Việt Lam xuân thu《越藍春秋》)作爲考察對象,先呈現越南漢文歷史小説的概觀,再介紹《皇越春秋》在越南歷史小説大系中的地位。本文的重點是運用互文性與接受理論來解讀《皇越春秋》的一些關鍵情節,通過閲讀的過程,可以觀察出被引用及互讀的文史材料易位到新語境後發揮了什麽作用,建構了什麽新含義,同時揭露讀者參與建構文本意象之職能。

貳、越南漢文歷史小説和《皇越春秋》

一、《三國演義》:越南漢文歷史小説的外來啓發因素

 

關於越南漢文歷史小説的起源,除了本國社會、政治、文化環境一同促成歷史和小説結合之外,學者還不能忽略《三國演義》作爲外來的啓發因素。而在考察《三國演義》傳入越南的歷史以前,值得先考察《三國演義》所依據的《三國志》在越南的流傳情形,因為《三國志》史書與《三國演義》歷史小説中間有十多個世紀的間隔,而在這長久期間之中,《三國志》故事成爲中國話本、戲劇熱愛的題材,並也流傳到近鄰諸國。

西晉陳壽所撰的《三國志》傳入越南的確切時間雖還待考,不過應該不會太晚。十八世紀史學家Ngô Thì Sĩ 吳時士在其Việt sử tiêu án《越史標案》中批評 Lý Anh Tông 李英宗皇帝(1138年到1175年在位)濫用民力,惟其建設社稷壇及孔明廟可算合義[1],由此可見祭祀諸葛孔明之信仰在十二世紀越南已經很盛了。此外,《大越史記全書》也有幾條關於諸葛亮的記載,例如書中的 Trần Anh Tông 陳英宗紀(1294年到1314年在位)說:「昔者黄帝立井田以制兵,諸葛累江石以為『八陣圖』,衛公裁為『六花陣』。」又如 Trần Thuận Tông 陳順宗紀(從1388年到1398年在位)說:「甲戌七年明洪武二十七年……二月,上皇命畫工畫周公輔成王、霍光輔昭帝、諸葛輔蜀後主、Tô Hiến Thành 蘇憲誠輔 Lý Cao Tông 李髙宗,名為『四輔圖』以賜 [Hồ] Quý Ly 季犛,使輔官家當如此也。」另外,還值得注意的是越南名士李濟川 Lý Tế Xuyên 按照《三國志》史料來編撰其Việt điện u linh tập《越甸幽靈集》(1329),特別是該書中的〈士(燮)王傳〉[2]。越南黎朝大臣Nguyễn Trãi 阮廌抵抗明朝軍隊侵略時曾寫信給明朝將軍王通諭降(〈再諭王通書〉1427),其中說:「昔漢昭帝,劉氏之遺派耳,孔明能使大業復興。……吳人之不勝困苦,其害卿等相繼來降,如張飛、呂布,反為群下所害,此必然之理也。」[3]從上面所述可以看到,《三國志》故事、人物以及其衍生的宗教信仰到十五世紀初期已經深入越南社會、政治、文化各方面,為越南人接受歷史小説《三國演義》提供了有利的條件。

那麽《三國演義》何時傳入越南呢?廣西民族大學的陸淩霄教授認爲:「綜觀越南漢文歷史小説,一般都受《三國演義》一書的影響,可以說,是《三國演義》啓發了越南的漢文歷史小説創作。」 [4] 北京大學夏露教師也指出:「〔《三國演義》〕幫助開啓了越南的歷史小説。」[5] 但是對於《三國演義》傳入越南的時期,教授承認:「目前缺乏這方面的資料記載。」[6] 還有學者根據越南詩人吳時仕 (1726-1780) 所寫的《奉准撰三國各回詩并贊題障風屏》一組詩而斷定:「《三國演義》早在十八世紀就流傳到越南。」[7]

其實有數個可靠資料可以顯示《三國演義》於何時傳入越南。明人嚴從簡《殊域周咨錄》(1574)一書中提及中國書籍在越南流傳的狀況曰:「及其黎氏諸王自奉天朝正朔,本國〔指安南〕遞年差使臣往來,常有文學之人則往學藝,編買經傳諸書,并抄取禮儀官制内外文武等職,與其刑律制度,將回本國,一一倣行。」[8] 據嚴從簡的書籍分類和記述,其所謂「儒書」之中,除了四書,五經之外,還有《三國志》與《剪燈新餘話》等。[9] 雖然嚴從簡沒有清楚地説明此部《三國志》為史書抑或小説,然其可能是《三國志通俗演義》的簡稱。另外還有其他的旁證可以顯示《三國演義》在越南流傳的早期狀況。越南十六世紀的作家 Nguyễn Tự 阮嶼在他的小説 Truyền kỳ mạn lục《傳奇漫錄》裏所用的典故也來自《三國演義》,例如孔明隱居臥龍崗的「寄傲草盧,南陽閑日月」 (“Na sơn tiều đối lục”〈那山樵對錄〉)[10],曹操誤殺呂伯奢全家的「縛殺之語」(“Nam Xương nữ tử lục” 〈南昌女子錄〉的批語)[11],及張昭勸告孫權的「水莫共長江之險」(“Lệ Nương truyện” 〈麗娘傳〉)[12]。明末遺臣朱舜水(1600-1682)在其《安南供役纪事》(1657?)裏,對於本地士人關注九流之術而忽略儒典之情況也有如此的告誡:「貴國〔指安南〕讀《三國演義》、《封神》等記,信為實然,勤勤問此,譬猶舍金玉而寳瓦礫,芟嘉禾而養荑稗也,亦甚失取舍之義矣。」[13] 從朱舜水所言可以知道在十七世紀前半期,《三國演義》已成為越南人士熱愛閲讀之作品。

據上所述,可以推斷《三國演義》傳入越南應是在1428年至1574年之間,且是在越南黎朝創立之後與《殊域周咨錄》成書之前。這部小説與陳壽《三國志》應在十五世紀初期左右已於本國士大夫中廣泛地流行,而到十六世紀時,《三國演義》已成爲本國士大夫常常引用的文學材料,到了十七世紀,此書在越南新開闢的南方疆土之中亦是廣受歡迎。

 

二、補史,勸誡和虛構

 

十七世紀創作的 Hoan châu ký《歡州記》(亦名 Thiên nam liệt truyện Nguyễn Cảnh thị Hoan châu ký《天南列傳阮景氏歡州記》)是現存最早的越南漢文歷史小説。《歡州記》有四卷,一卷四回,描寫「自越胡朝丙戌歲[1406]至本朝永治戊午年[1678],凡二百七十三年事跡」。[14] 該書是採摭前有的三部作品 Thường quốc nam chinh ký《常國南征記》、Phan thị trường biên《潘氏長編》和 Hoan châu Nguyễn Cảnh ký《歡州阮景記》編寫而成的,故作者云:「于閑日凴取三藁兼綴為一。」

《歡州阮景記》跋云:「阮氏所記,著一家之事可也。今則牽引國事,許多條話,援引遺編。……蓋借南塘阮氏一記,而泛顯天下二百七十三年事跡。」由此可知《歡州記》不但是一部宗族家譜,也是一部關於國史之書。在編撰此書的過程中,編者還摻入他本鄉的「Nam Đường 南塘泛話」。所謂「南塘泛話」包括「與正史有異」的事情,有的有荒誕、虛構之屬性,例如「萊公尸臥象背、景河活捉乾王等事,不知真否如何,須待尋查別集,始得凴信」。[15]

本書編撰的方向與目標是:「稗官野史敢賽朝編,唯因這著以寓古今傳跡,覽其脫漏而為國史之釋注也。……雖輯倘有未詳,而按史演文,經歷世事,編繼入傳,間已成帙。後有欲要覽中古記載,方可從此批閲,自有勸誡在乎其中云。」[16] 以上的跋語明顯地表達了編者「以失傳史實來補充正史」的定向,及運用虛構筆法之意識(例如「泛話」、「按史演文」等),並含有勸誡之目的。後來的作品如《皇越春秋》、Nam triều công nghiệp diễn chí《南朝功業演志》(亦名 Việt Nam khai quốc chí truyện《越南開國志傳》)、Hoàng Lê nhất thống chí《皇黎一統志》諸歷史小説等,都與《歡州記》一樣有「補史」、 勸誡之意識。

 

、《皇越春秋》:成書年代及其他問題

 

《皇越春秋》先述Hồ Quý Ly 胡季犛(1336–1407)和其子 Hồ Hán Thương 胡漢蒼篡奪 Trần 陳朝江山,繼而敘述 Lê Lợi黎利(1384–1433)與明朝軍隊聯合討伐胡氏,後又起義打敗明朝軍隊,恢復安南主權,創立朝,共三十年的歷程經過(1400-1430)。全書分為三卷,一卷二十回,計六十回。

關於該書的作者,越南學者Trần Văn Giáp 陳文甲根據「傳聞」(“tương truyền”)提出作者可能是河内省春安坊的甲申(1884)舉人Vũ Xuân Mai 武春梅。但是陳先生也承認這種「傳聞」是無書可查的,所以武春梅是否為《皇越春秋》之作者應該存疑。[17]

雖然《皇越春秋》之作者至今還不可考,然按照文本内外在之證據來判斷,此書應是十九世紀初的作品。《皇越春秋》有兩種版本形式,除了 Duy Tân 維新戊申(1908)出版的是木版印刷(叫《越藍春秋》,以下簡稱「印本」)外,其他現存諸本皆為手抄本。[18] 其共同的特點是避越南阮朝皇帝之避諱字,特別是 Thiệu Trị 紹治皇帝(諱名 Nguyễn Phúc Miên Tông 阮福綿宗, 1807–1847)和 Tự Đức 嗣德皇帝(諱名 Nguyễn Phúc Thời 阮福時,1829–1883)。不過,並非所有的手抄本都一律避紹治皇帝之諱名,譬如皇帝的諱字「宗」有的版本寫缺了「示」頂上的一橫,而有的仍完整地寫出。印本則避紹治皇帝諱名,「宗」字皆作缺筆,也避嗣德皇帝之諱名,「時」皆作「辰」字。[19] 總而言之,版本中的避諱字顯示該書在十九世紀中期已經問世了。[20]

還可以從書名「皇越」兩字和書内一些地名,而證知《皇越春秋》是越南阮朝之作品。用「皇越」來代表越南是阮朝常見的說法,許多阮朝的書籍都以「皇越」為書名。[21] 書中還有幾個阮朝才有的地名,例如鎮定、鎮邊(第40回)、福壽(第45回),都是阮朝才設的新地名。[22]

值得注意的是在越南統一之前,《皇越春秋》在越南北方不但長期沒有受到關注,反而還受到激烈的批判。陳文甲先生由於假定《皇越春秋》的作者是武春梅,而武春梅與兩位常被認爲親法的大臣Hoàng Cao Khải 黃高啟(1850–1933)和Lê Hoan黎讙(1856-1915)有所牽連,所以陳先生在越-美戰爭高潮的一九六○年代後期嚴厲地批判他們:

 

作者故意地歪曲了許多史實,作品也充滿了反動、反歷史、反正義的思想。最明顯的例子是:第10回描寫黎利兄弟謀圖和朝諸將軍聯合,贊助明朝軍隊攻打季犛,以安定人民。這是影射黃高啟黎讙幫助法軍彈壓〔越南義軍〕的事情,把這件事和黎利、黎善〔黎利之弟〕幫助明朝將軍張輔 [1375-1449] 打敗季犛之事,看成等同。……對這樣的事情,他們叫做正義,當心做走狗,讓同胞殘殺同胞,真是無限可憎、無限可惡![23]

 

由於假定為作者的武春梅其來歷仍然不詳,陳先生的譴責實際上僅僅是基於歷史人物黎讙而來。由於黎讙為印本「越藍小史」作序,一些學者(包括陳文甲先生)認爲黎讙和跟他一樣親法的人士,利用《皇越春秋》所寫黎利聯合明朝軍隊打敗胡季犛父子的事情,來為他們和法軍合作之行爲辯護。但是最近南定省南直縣緣興村的陳氏家族在網路上公佈了嗣德36年(1883)編成的族譜,其中提到該族譜參考了《皇越春秋》一書。[24] 所以《皇越春秋》之作不是直接跟黎讙有關,而可能是以黎利暫時與明朝軍隊聯合的情節,來反映越南阮朝一部分士大夫爲了等待崛起的時機而跟法國強敵暫時妥協。

據上所論,可以推定《皇越春秋》成書於阮朝中期,在法侵之後(1858以後),或者在1858年至1883年中間。

 

參、互文性簡介

 

爲了瞭解外部文本如何增加和建構一個文本之意義,此處先簡介「互文性」概念,以作爲理論基礎。「互文性」(intertextuality)這術語來自於法國學者Julia Kristeva (朱麗婭‧克里斯特娃)在 Critique (第23輯,1967年)發表的文章“Bakhtine, le mot, le dialogue et le roman”(巴赫金、詞、對話、小説),她說:

 

橫向軸(作者-讀者)和縱向軸(文本-背景)重合後揭示這樣一個事實:一個詞(或一篇文本)是另一些詞(或文本)的再現,我們從中至少可以讀到另一個詞(或一篇文本)。[25]

 

Roland Barthes (羅蘭‧巴特)亦提出相似的理論,認爲任何文本都是互文(intertext)。基於互文性理論,克里斯特娃在1974年提出 「transposition」 (易位)的新概念:

 

互文性一詞指的是一個(或多個)信號系統被移至另一系統中。但是由於此術語常常被通俗地理解為某一篇文本的「考據」,故此我們更傾向於取易位 (transposition) 之意,因爲後者的好處在於它明確指出了一個能指體系 (système signifiant) 向另一能指體系的過渡,出於切題的考慮,這種過渡要求重新組合文本——也就是對行文和外延的定位。[26]

 

幾年前,克里斯特娃再寫一篇文章“‘Nous Deux’ or a (Hi)story of Intertextuality”(我們倆兒或是互問性之(歷史)故事),其中她贊同 Michael Riffaterre (米歇爾·里法泰爾)描寫互文性是怎樣在閲讀過程中被啓發的。根據里法泰爾的立論,在閲讀過程中,「文本驅力」(textual drive)使讀者與文本之間形成一種「强迫的讀者反應」 (compulsory reader response)。他把讀者需要尋求其他文本以理解其正在閲讀之文本的驅力與吃油炸圈餅 (doughnut)的人的心態比擬。如同吃油炸圈餅的人一樣,讀完一個文本之後,讀者的思緒還離不開文本(或者油炸圈餅)的虛空中心(naught),爲了理解文本(或「吃光」那個油炸圈饼),故想辦法來填補那個虛空中心,而所謂的虛空中心也可稱作「解釋項」(interpretant) 或是「聯結者」(connector)。克里斯特娃亦認為文本中缺少、不見的部分,是一種驅使讀者的魅力,使讀者因自身閱讀的需求而強迫自己以「互文」的方式來追求文本的完整性。[27]

基於上述的互文性理論,以下我要採用中國文史材料來理解《皇越春秋》這部越南漢文歷史小説。

 

肆、用中國文史料來理解《皇越春秋》

 

一、從書名談起

 

本小説的書名中「春秋」兩個字容易讓人想到從孔夫子起頭的《春秋》系列書籍,包括《春秋三傳》、《呂氏春秋》、《晏子春秋》、《春秋繁露》以及《吳越春秋》等書。談起孔子與《春秋》的關係,就必然想到《孟子‧滕文公下》:

 

世衰道微,邪說暴行有作,臣弒其君者有之,子弒其父者有之。孔子懼,作《春秋》。《春秋》,天子之事也。是故孔子曰:「知我者其惟春秋乎!罪我者其惟春秋乎!」……孔子成《春秋》而亂臣賊子懼。[28]

 

孟子的話令我們聯想到《皇越春秋》嚴厲批判胡季犛父子篡位之事。值得注意的是孟子說的「亂臣賊子」在該書前面的四言詩〈傳敍〉中也借用了(看下文),所以本書作者是否想以《春秋》筆法來寫作?事實上作品的章回形式已經反映作者的創作虛構小説之意圖。胡氏篡位之事本來是小説主線之一,這可以施展孔子《春秋》褒貶精神。另一個主線是黎利對抗明朝軍隊的大故事,作者的寫法毫無疑問地是將歷史和小説結合的,這一點使本書更接近東漢時期的《吳越春秋》。關於《吳越春秋》的寫法,今人張覺解釋說:

 

該書雖大量取資於《左傳》、《國語》、《史記》等史籍,但並不拘泥於此,而又採摭摻入了不少佚聞傳説,其中恐怕也不乏作者的想象塑造之辭;同時,它又注意到故事的完整性,注意寫清其來龍去脈。所以從它記載史事這一點來説,是一部史書;但從它記載的内容與格調來説,有不同嚴謹的史家之實錄。它實是一部介於史家與小説家之間的作品,可謂是後代歷史演義小説的濫觴。[29]

 

再者,《吳越春秋》和《皇越春秋》兩書的書名構造也是一致的:它們都把國名跟「春秋」一詞連起來。因此讀者拿到《皇越春秋》一書的時候,就收到了書名傳來的預告:本書既有孔子《春秋》褒貶的精神,又有《吳越春秋》歷史與小説結合的模式。

 

二、本書之大意

 

拿該書〈傳敍〉開頭的四言詩來說,這首詩共十六句,大部分都可以用外在互文的方式來解讀。當然讀者也可以不要互文而直接瞭解整首〈傳敍〉詩,但是他只能領會這首詩的表面意義,不能看出文本的多層語義。舉例而言,〈傳敍〉詩的開頭四行和它們的互文如下:

 

傳敍詩 互文
有德則治 《荀子‧致士》:無土則人不安居,無人則土不守,無道法則人不至,無君子則道不舉。故土之與人也,道之與法也者,國家之本作也。君子也者,道法之摠要也,不可少頃曠也。得之則治,失之則亂。[30]

 

邦乃其昌 《尚書‧商書‧仲虺之誥》:佑賢輔德,顯忠遂良,兼弱攻昧,取亂侮亡,推亡固存,邦乃其昌。[31]
無德則亂 (同上第一句)
天促其亡 (同上第二句)

 

關於第一句「有德則治」,來自《荀子‧致士》的相近互文「得之則治」給與讀者一個更完備語境:有德的聖王必得君子擁護,得君子擁護之後必能擧道法,道法已舉必能百姓歸依而國土安定,國土安定必能天下大治。同樣地,來自《尚書‧商書‧仲虺之誥》的互文「邦乃其昌」繼承其前的意境而發展之,使第二句的含義更加顯露:隨順天道而奉行正義的聖王必能安邦昌國。上引兩條互文也確立了其後兩句的意境,指出無德者必要慘敗之後果。

爲了更深入領會本書的大意,我們還可以閲讀第一回的開頭:

 

話説天下大物也,自非聖德好生神武不殺,不足以當之也。為人牧者,不可恃富強而文德不修,武功不競,甚至教化淪於上,風俗壞於下,雖強如,富如,亦不能救亡國敗家之患也。[32]

 

上引的短文中有三個值得注意的道德政治概念:「聖德好生」、「神武不殺」和「文德」。《尚書‧虞書‧大禹謨》有一段皋陶議論帝王好生之德可以教化其臣民的話,茲引述如下:

 

皋陶曰:「帝德罔愆,臨下以簡,御眾以寬;罰弗及嗣,賞延於世。宥過無大,刑故無小;罪疑惟輕,功疑惟重;與其殺不辜,寧失不經;好生之德,洽於民心,茲用不犯於有司。」[33]

 

帝王以純善之心統御其臣民,公明和寬容地行賞罰,他的好生之德下洽於其臣民心中,因此臣民敬服帝德而不敢違反刑律。「神武不殺」之語出自《周易‧繫辭上》:「古之聰明叡知神武而不殺者夫。」孔穎達疏曰:「夫《易》道深遠,以吉凶禍福威服萬物,故古之聰明叡知神武之君,謂伏羲等用此《易》道能威服天下,而不用刑殺而畏服之也。」[34] 這是說君王不應該濫用殘酷的刑罰來壓制其民,而是通過吉凶禍福的機制而畏服之。 「文德」一詞可見於《周易‧小畜》象辭:「風行天上,小畜。君子以懿文德。」這裡「文德」是美好、高尚的道德。此詞也出於《論語‧季氏》:「蓋均無貧,和無寡,安無傾。夫如是,故遠人不服,則修文德以來之。既來之,則安之。」何晏集解引包咸曰:「政教均平,則不貧矣。上下和同,不患寡矣。大小安寧,不傾危矣。」[35] 假如國土、民生已經統一、安定,而「遠人」還「不服」,則王者必修其文德,讓他們歸服。這裡「文德」正是「内聖外王」之聖德,不僅包括以禮樂教化遠人,也要按照聖德而修身。此外,「文德」還與「武功」相對:王者應該以文德懷柔遠人,不應該用武功征服,使遠人慕其德化而來。

最後,我們還應該參閲該書最末一段,以完成我們略論《皇越春秋》大意的使命。黎利打敗明朝軍隊之後,由於陳朝的後裔已絕,所以向明朝上表求封,即國王位,施行正法:

 

文書調役,務從寬簡。天下太平,四民樂業,朝廷閒暇,邊境無虞,成一唐虞之宇宙。始知有大德者,天與之,人歸之,固不恃富強而天下自治矣。[36]

 

這段結語間接地把黎朝與胡朝對比:胡氏無道,不順天理,而致敗亡;黎朝順天行道,又有大德,而得天下,天下太平自治。其中「大德」是得受天命的前提,故《中庸》說「德為聖人」和「故大德必得其位,必得其祿,必得其名,必得其壽,……故大德者必受命。」[37] 此外,「天與之,人歸之」之語來自《孟子‧萬章上》:「萬章問:堯以天下與舜,有諸?孟子曰:否。天子不能以天下與人。然則舜有天下也,孰與之?曰:天與之。……堯薦舜於天,而天受之,慕之於民而民受之。……故曰:天與之,人與之。」[38]據小説所述,「大德」或「文德」也包含「聖德好生」和「神武不殺」諸品德,特別表現於黎利對明朝敗將及其士兵寬和仁愛的態度(第59、60回),胡氏父子和明朝軍隊則因缺乏這些品德而終歸失敗。

 

三、補史意識及國土獨立精神

 

小説正文前的序說:「是書也,於黎太祖得國之始末,六十回中固已概括之。」爲了對整段歷史的演變做更多面向的呈現,該書作者引用了多種史料,其中最值得注意的是一些中國史書。越南教授Phan Huy Lê 潘輝瓈指出這本小説不但只「參考許多國内史書、民間傳説」,而且還諮詢了「一些中國史料」[39]。這些中國史料至少有《明史》、《明史紀事本末》、《殊域周咨錄》和《越嶠書》,且在《皇越春秋》寫作過程之中發揮了重要的作用。通過借用中國史書記錄下來而在越南比較罕見的資料,本書提供給其讀者同胞站在皇明朝廷上旁聽、觀察君臣議論的機會,揭露越南史書絕無記載的明朝内情。《皇越春秋》在小説語境之中引用中國史料的情形很多,以下是一些例證。

由於胡季犛和其子胡漢蒼篡奪王位,陳朝後裔天〔添〕平奏請明成祖救援。成祖敕諭漢蒼迎接天平歸國,奉其為君主,另也敕令廣西總兵韓觀選兵五千,與其副都督黃中將之,以防事變。漢蒼表面上奏表奉命,而暗地裏伏兵殺害天平[40]。黃中等不免引兵回國。下面是《殊域周咨錄》與《皇越春秋》記述成祖與諸臣論安南之事的對比:

 

《殊域周咨錄》 《皇越春秋》
天平與〔薛〕喦皆死。〔黃〕中等不得已,引兵還。事聞,上大怒,謂成國公朱能等曰:「蕞爾小醜,罪惡滔天,猶敢潛伏奸謀,肆毒如此。朕推誠容納,乃為所欺,此而不誅,兵則奚用!」能等皆曰:「逆賊罪大,天地不容。臣等請仗天威,一舉殄滅之。」上遂決意興師。[41] 先是黃中等送天平歸國被失,引殘卒回朝。奏聞,成祖大怒,謂成國公朱能曰:「蕞爾小國,敢拒大邦。此而不誅,兵則何用!」朱能頓首曰:「逆賊大罪,不可容誅。臣等請伏天威,一舉殄絕。」(未必)成祖遂決志興師。[42]

 

 

從以上的兩段引文可以看見,同一事件通過不同自我和他者的語言敍事,而呈現差異。《殊域周咨錄》以陳天平之死作爲黃中「不得已引兵還」之緣由,而《皇越春秋》說的是黃氏兵敗而不得不「引殘卒回朝」,似是換轉視角,將保護陳朝後裔回國的明朝軍隊,轉換成必須打敗的外國干涉勢力。《殊域周咨錄》中明成祖把安南和胡氏父子合稱爲「蕞爾小醜」,《皇越春秋》則把「小醜」改成「小國」,而這個「小國」打敗黃中的後果是將戰爭升級,與「大邦」全面開戰。至於未來大戰的結果,安南小國是否不敵明朝大邦,作者在朱能所說「一舉殄絕」之後的兩字簡潔批語「未必」已先作預告了。

出兵之日,明成祖在龍江江邊禡祭誓眾,其誓詞依然從《殊域周咨錄》易位到《皇越春秋》:

 

《殊域周咨錄》 《皇越春秋》
黎〔胡〕賊父子必獲無赦,脅從必釋,毋養亂,毋玩寇,毋毀廬墓,毋害稼穡,毋恣取貨財,毋掠人妻女,毋殺降。有一于此,雖功不宥。毋冒險肆行,毋貪利輕進。罪人既得,即擇立陳氏子孫賢者,撫治一方,班師告廟,揚功名于無窮。其共勉之。[43] 胡賊父子必獲無赦,脅從必釋,無養亂,無玩寇,無毀廛行,毋害稼穡,毋肆取貨財,毋掠人妻妾(二句是徒誓耳),無殺降。有一犯者,雖功不宥。無冒險肆行,毋貪利輕進。罪人既得,必擇立陳氏子孫賢者,統治一方(如此,不敢奉詔),班師告廟、以次定功。[44]

 

《殊域周咨錄》作者嚴從簡對明太祖之誓詞評論說:「按:觀誓衆之詞,俱平定安集之略,與古帝王神武不殺,真有光哉!」[45] 假如明朝軍隊將領都能嚴格執行其命令,四海將會安定,天下將會太平。可惜的是凡人的言行之間常不一致。《皇越春秋》借越南將軍范旦之口,告訴我們明朝軍隊之過失(第13回):

 

兵法曰:「引兵圖國,先用其民。民先和而後造大事。」況彼〔指明朝軍隊〕自構兵以來,殘虐生靈,殺傷黎庶,河北之眾扶老擕幼度江而南,號哭之聲振動天地,將軍已親見之矣。且人極則反,民苦則離,事起于中,欲制不得。[46]

 

《皇越春秋》又敘述了明朝軍隊佔據安南之後,設立都指揮司與承宣布政使司、提刑按察使司,將安南納入中國版圖,直接統治。這違背了明成祖出兵前的誓眾之詞,當時他宣示的是,要立陳氏子孫為王,然後撤兵,讓安南仍舊是一個獨立國家。小說中又敘述,乙未年(1415)冬十二月明成祖遣使攜《洪武禁書》與高騈《圖稾》賜予布政使、按察使黃福,諭之曰:「朕聞安南多有貴地。卿係風水名家,承平之辰〔時〕,細心經覽,圖其形勢,遞回朕看。」黃福奉命,乃遣弟子到處尋訪民間收藏的書稿。[47] 《洪武禁書》與《圖稾》都是地理風水專著,古人相信利用或改變山川、地勢、靈氣能影響人生、國運之興衰[48]。此事是史實還是虛構,今已不可攷,然而小說敘述明成祖想要掌握安南地理、風水知識的情節,更加顯示明成祖把安南據為己有,與內地一樣統治,這違背了當初誓眾之詞。

如將明成祖誓眾之詞與小説中安南侍郎段發奉命撰布天下的諭文共讀,明朝言行不一的罪狀會更分明。諭文聲討明朝軍隊的罪行如下:

禮蒭義狗,教既絕於四維;劍樹刀山,刑又慘於五虐。

法曹爭蠢,政深猛虎之殘;猾吏侵漁,民被毒蛇之苦。

神人共怒,天地不容。[49]

 

《殊域周咨錄》所宣揚、讚頌的誓眾文詞,易位到《皇越春秋》就變成了小說批語所謂的「徒誓」。

《皇越春秋》雖然敘述黎利等人曾經與明朝軍隊聯合攻伐胡氏父子,但是他們和外國軍隊聯盟最重要的原則是疆土的獨立自主:

 

且我兵微將寡,國小民貧。欲提數千烏合之師而抗百萬熊桓之眾,正猶以鳥卵而鬥泰山耳。古人有言曰:「南國山河南帝居,截然定分在天書。」不虛言也。無如與合力艾刈亂臣,使南國山河歸于故主,然後我兄弟退回于田里,樂業安居。倘有覬覦之心,亦畏其名義矣。[50]

 

此文之後的批語曰:「明明〔黎利兄弟〕欲立陳氏而回田野,恐未之然,至於多事耳。」這是說明朝終究「有覬覦之心」,黎利兄弟爲了收回國土之主權,必須繼續領導軍民抗戰。於是「神武不殺」之聖德也不屬於明朝,而易位到黎利,助其建立保民衛國的功業。

《皇越春秋》描述明朝軍隊佔據安南之期間,明朝大官黃福有功於安南人民的教化,不過該書和中國史書對黃氏的功勞也有不同的說法。小説第36回說:「黃福設府縣州學、及陰陽、醫學、僧綱、道紀等書〔原文如此〕。辰〔時〕交州人林少礙、黎公僎亦來東都受業於黃福。」後有批語云:「此揚林、黎二人伏筆,後回便見。」[51] 此處所謂「伏筆」需等到第58回才呼應,第58回說到太祖黎利的兩位將軍林少礙和黎公僎奉命率兩千兵出留關埋伏,阻止明朝軍隊退兵之路。黃福的兵馬遭遇伏兵,而林、黎兩將在陣地上認出對方之大將正是恩師。這一離奇的情節原已在黎利胞弟、副軍師黎善之預料之中:「昔日遣二將已決然獲福,必不敢以私滅公。」果然黃福為安南軍士所活捉之後、林、黎兩將「皆下馬羅拜」曰:「我父母也!先生向不北歸、小子必不至此。」「言已皆泣」。

黃福與林、黎的師生關係有無實證?《明史‧黃福傳》有如下的敍述:

 

〔黃福〕至雞陵關,為賊所執,欲自殺。賊羅拜泣曰:「公民父母也,公不去,我曹不至此。」力持之。黎利聞之曰:「中國遣官吏治交阯,使人人如尚書,我豈得反哉!」遣人馳往守護,饋白金,餱糧,肩輿送出境。[52]

 

顯然《明史》的記述正是《皇越春秋》黃、林、黎三人師生關係的敍事原形。黃福的仁慈、才智諸品行無可否認,《大越史記全書‧簡定帝》也說:「福為人聰慧,善應變,有治民才,人服其能。」但是《皇越春秋》的作者認為黃氏之功績只限於直接受教於他的小圈子而已,因此把《明史》稱頌黃氏的那句話「公交民父母也」改爲「我〔林、黎等〕父母也」。

另外我們也不能忽略《皇越春秋》林、黎故事所側重的理念。黃福為南軍生獲之後,與其圖書典籍(包括其弟子收集的《安南地課》與高駢之遺稿)被遞解到黎太祖前,聽候發落。太祖看到黃氏之書籍,聼到他大言「我若受刑,是無地理」,大怒,欲斬之。幸有黎公僎抱住黃福,林少礙稽首請代黃福之死,又有副軍師黎善勸解:「獻俘帳下,是事君以忠;請代刀前,正事師以義。請主上宥之,使二人得忠義兩全可也。」而黃氏得赦[53]。因此故事之重點不再是黃福對安南人民之功績,而在林、黎兩位忠君愛國、尊師重道的義氣精神。

 

伍、結語

 

在《三國演義》傳入越南之前,《三國志》已經在本國流傳,深入其社會、政治、文化各方面。而《三國演義》至少在十五世紀初期已經在越南讀書人階層中流行,因此其故事成爲越南文學常用之典故。這部經典歷史小説在十七世紀又流傳到本國新開闢的南方疆土,受到衆人熱愛。阮主名臣陶維慈(1572-1634)出仕以前,曾作〈臥龍崗挽〉,把自己比為諸葛亮,以敘其志。《三國演義》無疑是越南漢文歷史小説的外來啓發因素。十七世紀末,越南第一部歷史小説《歡州記》問世,富有補史、勸誡和虛構之意識。

使用互文來瞭解小説文本,與理解典故有共同之處,但兩者不是同一的。以一條文獻、史料來做典故,作者與讀者據稱必須共用同一文獻、史料;讀者解讀像解謎一樣,只能有一個唯一正確的答案而已。互文不像典故,它根基於讀者聯想的範圍與能力。讀者的資料更廣泛、見聞更豐富,便會對文本有更多的理解,為文本創造更多樣的色彩。讀者運用互文閲讀作品時,會被文本驅力所推動,不斷地聯想、考驗、清除、選擇對語境合適之材料。因此,讀者運用互文之後的解讀結果不一定同一,然而通常有相同之處。本文的互文解讀可以算是一個例子。「有德則治」或「天與、人歸」如果當作日常成語,可以即時使文本段落有意義,但是通過古典作品的互文,可以看見詞語、句段背後層層沉積的含意。這也揭露作者可能參考過的文史材料。

十九世紀的《皇越春秋》一方面繼承了越南的歷史小説傳統,另一方面又有孔子《春秋》褒貶的精神,以及中國的《吳越春秋》結合歷史與小説的形式。運用互文的手法,可以解讀出該書將儒家的正統觀、治國安民思想融入本地環境之中,在安邦衛國的事業上,必須有「大德」,才能收服人心、抵抗外敵而安定國家。明君必敬用有德之人,展現「文德」,包括「聖德好生」和「神武不殺」諸品德。小説中的正面人物黎利在抗明、復國過程當中,因兼有聖王諸品行,而能收回國土主權,創立新朝,安定民生。

兼有史學家和小説家筆法的《皇越春秋》大量採用中國史料,提供機會給讀者觀察明朝的内情。作者採用中國史料時雖然如實地引用,而是易位到其本身的小説語境中,改變其原始意含,跟著小說的情節互相作用,而對原始材料形成批判性的回應。作爲小説有機部分的批語,經常插入引用史料之中,對引用史料發揮去除神聖化(desacralization)的作用。從而在這部富含國土獨立精神的小說中間,那些史料有時易位爲諷刺文章(如明成祖誓眾之詞),有時則被改寫以突出新的重點(如黃、林、黎師生之故事)。

[1] 【越】吳時士、《越史標案》、越南亞洲文化研究聯絡協會翻譯從漢文成拉丁字母越文、西貢:文史出版社、1960年。

[2] 《越甸幽靈集》在陳慶浩、鄭阿財、陳義主編,《越南漢文小説叢刊》,第二輯、第2册,法國遠東學院刊・臺灣學生書局鉛印、1992年。

[3] 這條引證是劉紅山先生提供的。因此致謝。

[4] 陸淩霄:《越南漢文歷史小説研究》,北京:民族出版社,2008,頁49。

[5] 夏露:〈《三國演義》對越南漢文歷史小説的影響〉,《内蒙古師範大學學報》(哲學社會科學版),第39卷,第3期(2010年5月),頁46。

[6] 與上注(4)同。

[7] 夏康達,王曉平:《二十世紀國外中國文學研究》,天津人民出版社,2000,第二章<越南中國文學研究面面觀>,頁136。

[8] 嚴從簡:《殊域周咨錄》,余思黎點校,北京:中華書局,2000,頁237。

[9] 同上,頁238。

[10] [越]Nguyễn Tự 阮嶼Truyền kỳ mạn lục傳奇漫錄》,在陳慶浩,王三慶主編:《越南漢文小説叢刊》,法國遠東學院出版社,臺灣學生書局印行,1987,頁273和頁286, 注47。

[11] 同上,頁382和頁402, 注91。

[12] 同上,頁422和頁437, 注60。

[13] 《朱舜水集》,臺北:中華書局,1980,卷二<安南供役纪事>,頁26。

[14] [越] Hoan châu ký《歡州記》在陳慶浩,王三慶主編:《越南漢文小説叢刊》,法國遠東學院出版社,臺灣學生書局印行,1987,頁283。

[15] 同上

[16] 同上

[17]參考:陳文甲:Tìm hiểu kho sách Hán Nôm – Nguồn tư liệu văn học, sử học Việt Nam 《爲了理解越南漢喃書庫——越南文史資源》(二集),第二集,河内:社會科學出版社, 1990, 頁179。

[18] [越] Vũ Xuân Mai 武春梅(撰),Lê Hoan 黎讙(潤色):Hoàng Việt xuân thu《越藍春秋》,陳義翻譯成越南文並有引言,河内:世界出版社, 1999, 頁 11-12.

[19] 同上,頁18,注3;也參考此書的漢文附錄,頁445-693。

[20] 關於《皇越春秋》版本細節地討論諸問題,請參考:Nguyễn Nam 阮南, “Cái chết của tác giả tiểu thuyết lịch sử? Những vấn đề nhân đọc Hoàng Việt xuân thu 歷史小説作者之死亡?《皇越春秋》讀後諸問題”文章發表在國際研討會 “Tiếp cận văn học châu Á từ lý thuyết phương Tây hiện đại: vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội 用西方文論來閲讀亞洲文學:運用,相適,和機會”,文學研究院(越南,河内),2011年3月13-14日。

[21] 例如 Hoàng Việt lịch đại hợp biên皇越歷代合編, Hoàng Việt thực lục皇越實錄 (記載從元和八年(1540) 到景興三十八年(1877)諸事件), Hoàng Việt ngọc phả ký tập 皇越玉譜記集 (1816), Hoàng Việt hội điển toát yếu 皇越會典撮要 (1833), Hoàng Việt sách tuyển 皇越策選 (Ngô Thế Vinh吳世榮 (1802 – 1856) 評閲), Hoàng Việt văn tuyển 皇越文選 (1825), Hoàng Việt thi tuyển 皇越詩選 (1825), Hoàng Việt thái phó Lưu quân mộ chí 皇越太傅劉君墓志 (附錄吳世榮在嗣德八年(1855)撰的碑文一篇), Hoàng Việt phong nhã thống biên皇越風雅統編 (do Phan Thanh Giản  潘清簡(1796-1867) 編輯), Hoàng Việt lịch đại thi phú 皇越歷代詩賦 (1879), Hoàng Việt long hưng chí皇越龍興志(1904), Hoàng Việt khoa cử kính 皇越科舉鏡 (1919), Hoàng Việt tân san luật 皇越增刊新律 (1923), Hoàng Việthình luật 皇越刑律(1933), 或者 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật 皇越中圻戶律 (1937).  參考越南漢喃研究學院的在綫書目: http://www.hannom.org.vn/default.asp?CatID=131.

[22] 參考:[越] Phan Huy Lê 潘輝黎:“Tác phẩm Việt Lam xuân thu có giá trị về mặt sử liệu hay không? 《越藍春秋》是否有史料價值?”, Nghiên cứu lịch sử 《歷史研究》, 第 58卷 (1964年1月)。

[23] 同上注14。

[24] 參考:http://sites.google.com/site/hotranduyenhung/goc-tich-ho-tran-duyen-hung

[25] 克裏斯特娃 (Julia Kristeva): “Séméiotikè, Recherches pour une sémanalyse” 《符號學,語意分析研究》), Seuil出版社,1969年,115頁;引自[法]薩莫瓦約 (Tiphaine Samoyault ): 《互文性研究》,邵煒譯,天津:天津人民出版社,2002,頁4。

[26]克裏斯特娃: La Révolution du langage poétique《文學創作的革命》,Seuil 出版社,1974年,60頁;引自[法]薩莫瓦約 (Tiphaine Samoyault ): 《互文性研究》,同上,頁6。

[27]克里斯特娃: “‘Nous Deux’ or a (Hi)story of Intertextuality“我們倆兒”或是互問性之(歷史)故事”,Romanic Review 《拉丁语系雜誌》,第93集,2002年1月到3月期,頁7-12。

[28] 《十三經註疏:孟子註疏》,《十三經註疏》整理委員會整理,北京:北京大學出版社,1999,頁178。

[29] 趙曄:《吳越春秋全譯》,張覺譯註,貴州人民出版社,1993,頁1。

[30] 《荀子全譯》,蔣南華,羅書勤,楊寒清等注譯,貴州人民出版社,1995,頁285。

[31] 《十三經註疏:尚書正義》,《十三經註疏》整理委員會整理,北京:北京大學出版社,1999,頁197。

[32] 同上注18,頁445。

[33] 《十三經註疏:尚書正義》,《十三經註疏》整理委員會整理,北京:北京大學出版社,1999,頁91-92。

[34] 《十三經註疏:周易正義》,《十三經註疏》整理委員會整理,北京:北京大學出版社,1999,頁288。

[35] 《十三經註疏:論語註疏》,《十三經註疏》整理委員會整理,北京:北京大學出版社,1999,頁221。

[36] 同注18,頁693。

[37] 《四書章句集注》,朱熹撰,北京:中華書局,1983,頁25-26。

[38]同注27,頁256-257。

[39] 同注19,頁41-43。

[40] 按《大越史記全書·胡漢蒼》:「明永樂四年夏四月明遣征南軍右軍都督同知韓觀參將都督同知黃中領廣西兵十萬來侵、假送僞添平還國···八日黃中犯冷涇関、軍敗。···惟左聖翊軍胡問武髙引軍奄至敗之。料不敵、夜漏二鼓遁歸。···明乃解送添平遣軍醫高景照致降書云:縂兵官差小人前來達官人知這事情。先為陳添平走到朝廷奏他正是安南國王子以此差大兵來招。不期彼䖏百姓俱各不服、顯是虛誕。今退官軍回奏、遇關隘去䖏守把路塞不通。今[送]添平來獻、放去幸甚。胡射許之。···處[添平]陵遲罪。」

[41] 同注5,頁177。

[42] 同注18,頁468。

[43]同注5,頁177。

[44]同注18,頁469。

[45]同注5,頁177。

[46]同注18,頁494。

[47]同注18,頁597。

[48] 越南國家圖書館(河内)現存《洪武大定地理禁書》一書(編號:R.1972)。

[49]同注18,頁609。

[50]同注18,頁489。

[51]同注18,頁596。按《大越史記全書》,1414年,「九月明黃福榜示各府州縣設立文廟、社稷、風、雲、山、川無祀等神壇壝、時行祭禮」, 同時也「差官押路送府州縣儒、醫、隂陽、僧、道正身赴燕京除授官職、回本衙門管事」。

[52] 張廷玉等,《明史》第十四、卷一四七至卷一六二(傳),北京:中華書局,1974,頁4226。

[53]同注18,頁686-687。

 

Dùng văn sử liệu Trung Quốc

 lý giải tiểu thuyết Hán văn Việt Nam:

trường hợp Hoàng Việt xuân thu

Nguyễn Nam

ThS. Nguyễn Đông Triều dịch

 

  1. Lời dẫn

Dùng văn sử liệu Trung Quốc giải đọc tiểu thuyết Hán văn Việt Nam không phải là một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới, vì lẽ hai nền văn học Trung – Việt từ lâu đã có mối quan hệ vô cùng mật thiết, nên khi nghiên cứu văn học cổ điển Việt Nam, dẫn dụng hoặc đối chiếu văn sử liệu Trung Quốc là để lý giải vấn đề sâu sắc hơn. Bài viết có ý nhận thức lại hướng tiếp cận thường gặp này từ góc độ liên văn bản (intertextuality) và lý luận tiếp nhận (reception theory), chọn bộ tiểu thuyết Hán văn Việt Nam Hoàng Việt xuân thu (còn gọi Việt Lam xuân thu) làm đối tượng khảo sát: trước tiên sẽ trình bày tổng quan về tiểu thuyết lịch sử Hán văn Việt Nam, sau đó giới thiệu vị trí của Hoàng Việt xuân thu trong hệ thống tiểu thuyết lịch sử Việt Nam. Trọng điểm của bài viết là vận dụng tính liên văn bản và lý luận tiếp nhận để giải đọc một số tình tiết mấu chốt của Hoàng Việt xuân thu, qua quá trình duyệt đọc, có thể nhận thấy văn sử liệu được dẫn dụng và hỗ trợ duyệt đọc phát huy vai trò như thế nào và mang hàm nghĩa gì trong ngữ cảnh mới, đồng thời làm nổi bật vai trò tham gia kiến tạo ý nghĩa văn bản của người đọc.

  1. Tiểu thuyết lịch sử Hán văn Việt Nam và Hoàng Việt xuân thu

2.1. Tam quốc diễn nghĩa: Nhân tố ngoại lai khởi đầu cho tiểu thuyết lịch sử Hán văn Việt Nam

Liên quan đến nguồn gốc tiểu thuyết lịch sử Hán văn Việt Nam, ngoại trừ hoàn cảnh xã hội, chính trị, văn hóa của Việt Nam cùng góp phần đưa đến việc kết hợp giữa lịch sử với tiểu thuyết, các nhà nghiên cứu cũng không thể bỏ qua trường hợp Tam quốc diễn nghĩa với vai trò là nhân tố ngoại lai có tác dụng khai mở.  Trước khi khảo sát quá trình Tam quốc diễn nghĩa du nhập vào Việt Nam, cần tìm hiểu tình hình Tam quốc chí lưu truyền tại Việt Nam, vì đây là nền tảng của Tam quốc diễn nghĩa, và cũng vì bộ sách sử Tam quốc chí và bộ tiểu thuyết lịch sửTam quốc diễn nghĩa ra đời cách nhau hơn mười thế kỷ, trong khoảng thời gian dài đó, những câu chuyện trong Tam quốc chí đã trở thành những đề tài thoại bản và hí kịch Trung Quốc được công chúng đặc biệt yêu thích, đồng thời cũng lan truyền sang các nước lân cận.

Tam quốc chí do Trần Thọ thời Tây Tấn soạn chưa rõ du nhập vào Việt Nam chính xác vào thời điểm nào, nhưng có lẽ không quá muộn. Trong Việt sử tiêu án ra đời vào thế kỷ 18, sử gia Ngô Thì Sĩ phê bình vua Lý AnhTông (trị vì từ năm 1138 đến năm 1175) lạm dụng sức dân, chỉ riêng có việc dựng đàn Xã tắc và miếu Khổng Minh được xem là có ý nghĩa[1], từ đó có thể thấy tín ngưỡng thờ Gia Cát Khổng Minh đã thịnh hành ở Việt Nam vào thế kỷ 12. Ngoài ra,Đại Việt sử ký toàn thư cũng có vài ghi chép liên quan đến Gia Cát Lượng, như kỷ Trần Anh Tông (trị vì từ năm 1294 đến năm 1314) có chép: “Ngày xưa Hoàng Đế lập tỉnh điền chế định quân đội, Gia Cát Lượng chất đá trên sông tạo Bát trận đồ, Vệ Công sửa lại làm Lục hoa trận.” Lại như kỷ Trần Thuận Tông (trị vì từ năm 1388 đến năm 1398) có chép: “Năm thứ 7 Giáp tuất, tức năm thứ 27 niên hiệu Hồng Vũ nhà Minh… vào tháng 2, Hoàng thượng sai thợ vẽ vẽ bức “Tứ phụ đồ”, gồm Chu Công phò Thành Vương, Hoắc Quang phò Chiêu Đế, Gia Cát phò Thục Hậu Chủ, Tô Hiến Thành phò Lý Cao Tông, ban cho [Hồ] Quý Ly nhằm tỏ ý các hiền thần phò tá phải học theo như thế.” Ngoài ra, một điều đáng chú ý nữa là, danh sĩ Việt Nam Lý Tế Xuyên dựa vào sử liệu trong Tam quốc chí biên soạn Việt điện u linh tập (1329), đặc biệt là “Sĩ (Nhiếp) Vương truyện” trong sách ấy.[2] Đại thần triều Lê Nguyễn Trãi trong khoảng thời gian chiến đấu chống quân Minh từng viết thư dụ hàng tướng nhà Minh là Vương Thông (“Tái dụ Vương Thông thư”, 1427), trong thư có nói: “Xưa Hán Chiêu Đế chỉ là di phái họ Lưu, nhờ có Khổng Minh giúp phục hưng nghiệp lớn… Bọn người Ngô không kham được gian khổ, làm hại lũ ngươi rồi lần lượt ra hàng, như chuyện Trương Phi, Lã Bố bị thuộc hạ làm hại, đó là lẽ tất nhiên.”[3] Từ những điều trên có thể thấy rằng, sự kiện, nhân vật trong Tam quốc chí, cho đến những tôn giáo tín ngưỡng có liên quan đã thâm nhập vào các lĩnh vực xã hội, chính trị, văn hóa Việt Nam từ đầu thế kỷ 15, là điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam tiếp nhận tiểu thuyết lịch sử Tam quốc diễn nghĩa.

Vậy, Tam quốc diễn nghĩa du nhập vào Việt Nam từ khi  nào? Giáo sư Lục Lăng Tiêu thuộc Đại học Dân tộc Quảng Tây nhận định rằng: “Nhìn chung, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đều chịu ảnh hưởng từ Tam quốc diễn nghĩa, có thể nói, Tam quốc diễn nghĩa đã mở đầu cho việc sáng tác tiểu thuyết lịch sử Hán văn ở Việt Nam.”[4] Giảng sư Hạ Lộ thuộc Đại học Bắc Kinh cũng chỉ ra rằng: “Tam quốc diễn nghĩa là nền tảng cho sự ra đời của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam.”[5] Tuy nhiên, về thời kỳ Tam quốc diễn nghĩa du nhập vào Việt Nam, giáo sư Lục thừa nhận: “Hiện nay vẫn còn thiếu tài liệu ghi chép về vấn đề này.”[6] Có nhà nghiên cứu căn cứ vào chùm thơ Phụng chuẩn soạn Tam quốc các hồi thi tịnh tán đề chướng phong bình của thi sĩ Việt Nam Ngô Thì Sĩ để đoán định rằng: “Tam quốc diễn nghĩa đã sớm truyền vào Việt Nam từ thế kỷ 18.”[7]

Thực ra, có một số tài liệu đáng tin cậy để tìm hiểu thời kỳ Tam quốc diễn nghĩa du nhập vào Việt Nam. Sách Thù vực chu tư lục (1574) của Nghiêm Tùng Giản triều Minh đề cập tình hình thư tịch Trung Quốc du nhập vào Việt Nam như sau: “Đến khi vua Lê phụng chiếu thiên triều lên ngôi trị nước, bản địa (chỉ An Nam) mỗi năm đều sai sứ sang, trong đó thường có các văn sĩ đến học nghệ, biên chép hoặc mua các sách kinh truyện, đồng thời cũng ghi chép các chức quan văn võ trong và ngoài lễ nghi quan chế cùng chế độ hình luật đem về nước, nhất nhất làm theo như thế.”[8] Theo cách phân loại thư tịch và ghi chép của Nghiêm Tùng Giản, trong số sách gọi là “Nho thư”, ngoài Tứ thưNgũ kinh, còn có Tam quốc chí và Tiễn đăng tân dư thoại.[9]

Tuy Nghiêm Tùng Giản chưa nói rõ bộ Tam quốc chí này là sách sử hay tiểu thuyết, nhưng rất có thể đó là tên gọi giản lược của Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa. Ngoài ra còn có chứng cứ khác cho biết Tam quốc diễn nghĩa du nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Những điển cố trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Tự (một tác gia Việt Nam sống vào thế kỷ 16) có xuất xứ từ Tam quốc diễn nghĩa, như nói về việc Khổng Minh ẩn cư Ngọa Long Cương “gửi niềm vui nơi am cỏ, nhàn trăng gió chốn Nam Dương” (Na sơn tiều đối lục)[10], Tào Tháo ngộ sát cả nhà Lữ Bá Xa khi nghe “những lời trói giết” (Nam Xương nữ tử lục)[11], và Trương Chiêu khuyên Tôn Quyền “chẳng sông nào hiểm trở như Trường Giang水莫共長江之險” (Lệ nương truyện)[12]. Di thần nhà Minh là Chu Thuấn Thủy (1600 – 1682) trong An Nam cung dịch kỷ sự(1657?) có lời cảnh báo về hiện tượng nhân sĩ bản địa đua theo học phái cửu lưu mà quên mất kinh điển Nho gia: “Quý quốc (chỉ An Nam) đọc các sách Tam quốc diễn nghĩaPhong thần, ngỡ là sự thật, răm rắp tin theo, ví như bỏ vàng ngọc lấy gạch gói, nhổ lúa tốt cấy bo bo, thật là cách chọn lựa sai lầm vậy.”[13]

Dựa vào lời của Chu Thuấn Thủy có thể biết tiền bán thế kỷ 17, Tam quốc diễn nghĩađã trở thành tác phẩm mà nhân sĩ Việt Nam đặc biệt thích thú.

Từ những điều nói trên, có thể suy đoán Tam quốc diễn nghĩa du nhập vào Việt Nam khoảng năm 1428 đến năm 1574, tức là sau khi nhà Lê lập quốc, và trước khi sách Thù vực chu tư lục ra đời. Bộ tiểu thuyết này và Tam quốc chí của Trần Thọ có lẽ được lưu hành phổ biến trong giới sĩ đại phu bản quốc vào khoảng đầu thế kỷ 15; đến thế kỷ 16, Tam quốc diễn nghĩa đã trở thành tài liệu văn học được các sĩ đại phu thường dẫn dụng; đến thế kỷ 17, sách này lại được chào đón rộng rãi ở vùng đất mới mở cõi phương nam.

2.2. Bổ sử, khuyến giới và hư cấu

Hoan châu ký (viết vào thế kỷ 17, còn gọi là Thiên nam liệt truyện Nguyễn Cảnh thị Hoan châu ký) là tiểu thuyết lịch sử Hán văn sớm nhất hiện còn của Việt Nam. Hoan châu ký gồm bốn quyển, mỗi quyển có bốn hồi, kể lại “những sự việc xảy ra trong 273 năm, từ nhà Hồ lập quốc năm Bính Tuất [1406] đến niên hiệu Vĩnh Trị bản triều [1678].”[14] Bộ sách này được viết dựa vào ba tác phẩm trước đó là Thường quốc nam chinh kýPhan thị trường biên và Hoan châu Nguyễn Cảnh ký, nên tác giả nói: “Lúc rảnh rỗi chắp ba sách thành một.”

Lời bạt sách Hoan châu Nguyễn Cảnh ký chép: “Sự việc họ Nguyễn ghi chép có thể là của một nhà. Nay dẫn thêm việc nước, nhiều câu nhiều lời viện dẫn từ các sách đã mất… Mượn sách ghi chép của họ Nguyễn ở Nam Đường để hiển rõ sự việc của thiên hạ trong 273 năm.” Do đó ta biết rằng Hoan châu ký chẳng những là một bộ tộc phả mà còn là sách liên quan đến quốc sử. Trong quá trình biên soạn sách này, tác giả còn tham khảo sách NamĐường phiếm thoại của chính quê ông. Nam Đường phiếm thoại bao gồm cả những chuyện “không thuộc chính sử”, có chuyện hoang đường, hư cấu như “xác Lai Công có thực nằm yên trên lưng voi không, Cảnh Hà có thực bắt sống Kiền Vương không…, không biết hư thực thế nào, cần phải kiểm chứng ở các thư tịch khác mới có thể tin được.”[15]

Phương pháp và mục tiêu biên soạn sách này là: “Sách dã sử của một chức quan nhỏ dám đâu sánh với sách sử của triều đình, mượn sách này gửi vào sự tích xưa nay, xem những điều còn bỏ sót mà chú thích thêm cho quốc sử…Tuy những điều thu góp còn chưa được rõ ràng, nhưng dựa vào sử, diễn lại thành văn, trải qua việc đời, kế ghi vào truyện, rốt cũng thành pho. Sau muốn biết sự tích đời xưa, thì có thể xem ở sách này, đều có lời răn giới trong đó.”[16]

Lời bạt trên nói rõ định hướng của tác giả “dùng sự thật đã thất truyền bổ sung chính sử”, chủ ý vận dụng bút pháp hư cấu (như “phiếm thoại”, “dựa vào sử diễn lại thành văn”…), đồng thời có cả mục đích răn giới. Các tiểu thuyết lịch sử sau này như Hoàng Việt xuân thu,Nam triều công nghiệp diễn chí (còn gọi là Việt Nam khai quốc chí truyện, Hoàng Lê nhất thống chí đều có ý thức “bổ sử”, khuyến giới như Hoan châu ký.

  1. Hoàng Việt xuân thu: niên đại ra đời và những vấn đề khác

Hoàng Việt xuân thu trước tiên kể lại chuyện Hồ Quý Ly (1336 – 1407) cùng con là Hồ Hán Thương đoạt lấy giang sơn từ tay nhà Trần, kế đó kể chuyện Lê Lợi (1384 – 1433) liên minh với quân Minh thảo phạt họ Hồ, về sau khởi nghĩa đánh bại quân Minh, khôi phục vương vị An Nam, sáng lập triều Lê, tổng cộng trải qua 30 năm (1400 – 1430). Bộ sách chia làm ba quyển, mỗi quyển hai mươi hồi, tổng cộng 60 hồi.

Về tác giả sách này, học giả Trần Văn Giáp căn cứ vào lời “truyền văn” (tương truyền) cho rằng tác giả có thể là Vũ Xuân Mai – Cử nhân năm Giáp thân ở phường Xuân An tỉnh Hà Nội. Nhưng Trần tiên sinh cũng nhận rằng lời “truyền văn” này không có sách vở để chứng thực, nên Vũ Xuân Mai có phải là tác giả của Hoàng Việt xuân thu hay không vẫn còn trong vòng nghi vấn.[17]

Tuy tác giả Hoàng Việt xuân thu đến nay vẫn chưa xác định được, nhưng dựa vào chứng cứ nội tại và ngoại tại của văn bản để phán đoán, sách này có thể ra đời vào đầu thế kỷ 19. Hoàng Việt xuân thu có hai loại văn bản, ngoại trừ mộc bản khắc vào năm Mậu thân niên hiệu Duy Tân 1908 (gọi là Việt Lam xuân thu, dưới đây gọi tắt là “ấn bản”), các bản còn lại đều là thủ bản.[18] Điểm giống nhau giữa chúng là kỵ húy Hoàng đế triều Nguyễn của Việt Nam, đặc biệt là Hoàng đế Thiệu Trị (tên húy Nguyễn Phúc Miên Tông, 1807 – 1847) và Hoàng đế Tự Đức (tên húy Nguyễn Phúc Thời, 1829 – 1883). Tuy nhiên, không có thủ bản nào đồng loạt kỵ húy Hoàng đế Thiệu Trị, như chữ “Tông” 宗 có bản viết bỏ đi một nét ngang trên bộ phận chữ 示, nhưng có bản vẫn giữ nguyên. Ấn bản thì kỵ húy Hoàng đế Thiệu Trị, chữ “Tông” đều viết bỏ nét, và kỵ húy Hoàng đế Tự Đức, chữ “Thời” 時 đều viết thành 辰.[19] Tóm lại, chữ kỵ húy trong văn bản cho thấy sách này đã xuất hiện vào giữa thế kỷ 19.[20]

Còn có thể dựa vào hai chữ Hoàng Việt trong tên sách và một số địa danh trong sách để chứng thực Hoàng Việt xuân thu là tác phẩm ra đời vào thời Nguyễn. Dùng “Hoàng Việt” thay cho Việt Nam là cách gọi thường gặp ở thời Nguyễn, khá nhiều thư tịch thời Nguyễn đều lấy hai chữ “Hoàng Việt” đặt tên sách.[21]

Trong sách còn có vài địa danh đến triều Nguyễn mới có, như Trấn Định, Trấn Biên (hồi 40), Phú Thọ (hồi 45), đều là những địa danh mới, được thiết định dưới triều Nguyễn.[22]

Điều đáng chú ý là trước khi Việt Nam thống nhất, trong một thời gian dài, Hoàng Việt xuân thu chẳng những không được chú ý ở miền Bắc, trái lại còn bị phê bình kịch liệt. Do Trần Văn Giáp tiên sinh giả định tác giả Hoàng Việt xuân thu là Vũ Xuân Mai, mà Vũ Xuân Mai lại có liên quan đến hai vị đại thần thường bị cho là thân Pháp là Hoàng Cao Khải (1850 – 1933) và Lê Hoan (1856 – 1915), nên vào cuối thập niên 1960, lúc chiến tranh chống Mỹ đang ở giai đoạn cao trào, Trần tiên sinh phê bình họ một cách gay gắt như sau:

“[T]ác giả đã cố xuyên tạc nhiều sự thực lịch sử, đầy rẫy tư tưởng phản động, phản lịch sử, phản chính nghĩa.  Một thí dụ rõ ràng nhất: Hồi thứ mười, chép việc hai anh em Lê Lợi lập mưu thông với tướng Minh, kéo quân giúp quân Minh đánh Quý Ly để cho dân được yên.  Như thế, là ám chỉ việc của Hoàng Cao Khải và Lê Hoan giúp người Pháp đàn áp quân Bãi Sậy của Tán Thuật, bình định quân Yên Thế của Đề Thám cũng như Lê Lợi, Lê Thiện giúp Trương Phụ nhà Minh đánh Quý Ly.  Cố nhiên Quý Ly không thể so sánh với Tán Thuật và Đề Thám được, nhưng tác giả chỉ nắm một điểm để xuyên tạc: Lê Lợi giúp quân Minh.  Như thế, họ gọi là chính nghĩa, làm tay sai cho địch, đem đồng bào giết đồng bào, bỉ ổi đến đâu tội ác đến đâu!”[23]

Do chưa xác định rõ ràng lai lịch tác giả giả định Vũ Xuân Mai, lời trách cứ của Trần tiên sinh trên thực tế chỉ dựa vào nhân vật lịch sử Lê Hoan mà thôi. Do Lê Hoan viết lời tựa cho ấn bản Việt Lam tiểu sử nên một số học giả (bao gồm cả Trần Văn Giáp tiên sinh) cho rằng Lê Hoan và các nhân sĩ thân Pháp như ông ấy lấy việc Lê Lợi liên kết với quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly trong Hoàng Việt xuân thu làm lời biện hộ cho hành vi hợp tác với quân Pháp của họ. Nhưng gần đây gia tộc họ Trần ở thôn Diên Hưng huyện Nam Trực tỉnh Nam Định đã công bố trên mạng bộ tộc phả được biên soạn vào năm thứ 36 niên hiệu Tự Đức (1883), trong đó cho biết bộ tộc phả có tham khảo sách Hoàng Việt xuân thu.[24] Do vậyHoàng Việt xuân thu không liên quan trực tiếp đến Lê Hoan, mà có thể là dùng chi tiết Lê Lợi tạm thời liên hiệp với quân Minh phản ánh việc một bộ phận sĩ đại phu triều Nguyễn chờ đợi thời cơ quật khởi mà tạm thời thỏa hiệp với giặc Pháp.

Từ những suy luận trên, có thể đoán định Hoàng Việt xuân thu được hoàn thành vào khoảng giữa thời Nguyễn, sau khi Pháp xâm lược Việt Nam (từ 1858 về sau) hoặc khoảng từ năm 1858 đến năm 1883.

  1. Giản giới về “tính liên văn bản”

Để hiểu bằng cách nào những văn bản bên ngoài góp phần tăng bổ và kiến tạo ý nghĩa cho một bản văn có sẵn, trước tiên xin giới thiệu sơ lược khái niệm “Tính liên văn bản” làm cơ sở lý luận. Thuật ngữ “Tính liên văn bản” lần đầu tiên xuất hiện trong bài viết “Bakhtine, từ, đối thoại, và tiểu thuyết” (Bakhtine, le mot, le dialogue et le roman) của nữ học giả người Pháp Julia Kristeva tại Critique (tập 23, năm 1967):

“Sau khi có sự trùng khít giữa trục hoành (tác giả – độc giả) và trục tung (văn bản – bối cảnh) sẽ yết lộ một sự thực thế này: một từ (hoặc một văn bản) là sự tái hiện của vài từ (hoặc văn bản) khác, tối thiểu chúng ta cũng đọc được một từ (hoặc một văn bản) trong đó.”[25]

Roland Barthes cũng đề xuất lý luận tương tự, cho rằng văn bản nào cũng đều là liên văn bản (intertext). Đặt nền tảng trên lý luận tính liên văn bản, năm 1974 Kristeva đề xuất khái niệm mới: chuyển vị (transposition):

“Từ ‘tính liên văn bản’ dùng để chỉ một (hoặc nhiều) hệ thống tín hiệu được dịch chuyển sang một hệ thống khác. Nhưng do thuật ngữ này thường được giải thích một cách dễ dãi là sự “khảo chứng” của một văn bản nào đó; thế nên [để tránh khuynh hướng ấy] chúng ta càng thiên về hướng dùng nghĩa chuyển vị (transposition), bởi vì ưu điểm của thiên hướng sau là ở chỗ nó chỉ ra chính xác sự quá độ của một hệ thống có khả năng biểu nghĩa này sang một hệ thống khác; khảo nghiệm theo cơ sở trên đây, loại quá độ này yêu cầu phải tổ hợp lại văn bản, cũng chính là định vị cho hành văn và ngoại diên.”[26]

Mấy năm trước, Kristeva viết bài “Hai chúng ta có thể là câu chuyện [lịch sử] của tính liên văn bản” (‘Nous Deux’ or a (Hi)story of Intertextuality), trong đó bà tán đồng với với luận điểm của Michael Riffaterre rằng tính liên văn bản được khởi phát như thế nào trong quá trình đọc. Căn cứ vào lập luận của Riffaterre, trong quá trình đọc, “lực đẩy văn bản” sẽ khiến giữa độc giả và văn bản hình thành một dạng “hồi đáp có tính cưỡng bách của người đọc”. Ông so sánh lực đẩy độc giả tìm những văn bản khác để lý giải văn bản mình đang đọc giống như tâm thái của người ăn bánh rán hình khuyên tròn (doughnut). Giống như người ăn bánh rán, sau khi đọc xong một văn bản, suy nghĩ của độc giả vẫn không rời khỏi cái khoảng trống (naught) của văn bản (hay chiếc bánh rán hình khuyên tròn); để hiểu rõ văn bản (hay là cái bánh rán vừa “ăn hết”), cố nhiên họ phải tìm cách lấp đầy cái khoảng trống ấy; cái khoảng trống ấy cũng có thể gọi là “hạng mục giải thích” (interpretant), hoặc “mối liên kết”. Kristeva cũng cho rằng, bộ phận thiếu hoặc không nhìn thấy trong văn bản là một loại ma lực thôi thúc độc giả, buộc độc giả tự mình dùng phương thức “liên văn bản” để truy tìm tính hoàn chỉnh của văn bản nhằm thỏa mãn nhu cầu duyệt đọc của mình.[27]

Đặt trên nền tảng lý luận tính liên văn bản, dưới đây tôi sử dụng văn sử liệu Trung Quốc lý giải bộ tiểu thuyết lịch sử Hán văn Việt Nam Hoàng Việt xuân thu.

  1. Dùng văn sử liệu Trung Quốc lý giải Hoàng Việt xuân thu

4.1. Bàn về tên sách

Hai chữ “xuân thu” trong tên sách dễ khiến ta nghĩ đến hàng loạt sách dùng hai chữ do Khổng phu tử khởi đầu này đặt tên, như các sách Xuân thu tam truyệnLã thị xuân thuYến Tử xuân thuXuân thu phồn lộ, và Ngô Việt xuân thu. Nói đến quan hệ giữa Khổng Tử với kinhXuân thu, ắt sẽ nghĩ đến thiên Đằng Văn Công (hạ) trong sách Mạnh Tử:

“Đời loạn đạo mất, hung bạo nổi lên, tà thuyết ngập tràn, có kẻ làm tôi giết chúa, có kẻ làm con giết cha. Đức Khổng Tử lo sợ, mới làm ra kinh Xuân thuXuân thu chép việc của Thiên tử. Do đó Khổng Tử nói rằng: ‘Người đời biết ta chỉ do Xuân thu, người đời trách ta cũng do Xuân thu!’… Khổng Tử soạn xong Xuân thu, khiến những kẻ loạn thần tặc tử đều sợ.”[28]

Lời Mạnh Tử khiến chúng ta liên tưởng đến việc Hoàng Việt xuân thu phê phán gay gắt hành động cha con Hồ Quý Ly soán ngôi vua. Điều đáng chú ý là bốn chữ “loạn thần tặc tử” mà Mạnh Tử nói cũng được bài thơ tứ ngôn (bài tựa truyện) vay mượn sử dụng (xem phần sau).  Vậy có phải tác giả định mượn bút pháp của Xuân thu mà viết sách này? Thật ra, hình thức chương hồi của tác phẩm đã phản ánh ý đồ của tác giả là viết tiểu thuyết hư cấu. Việc họ Hồ soán ngôi vốn là một trong những tuyến chủ đạo của quyển tiểu thuyết, điều này có thể phát huy tinh thần khen trách trong kinh Xuân thu của Khổng Tử. Một tuyến chủ đạo khác là việc Lê Lợi chống quân Minh, bút pháp của tác giả rõ ràng là kết hợp lịch sử với tiểu thuyết, điểm này khiến sách càng gần với Ngô Việt xuân thu thời Đông Hán hơn. Liên quan đến bút pháp của Ngô Việt xuân thu, một nhà nghiên cứu hiện đại là Trương Giác giải thích như sau:

“Sách này tuy phần lớn lấy sự việc từ các sách sử Tả truyệnQuốc ngữSử ký, nhưng không hề câu nệ vào đó, mà có chọn lọc đưa vào nhiều truyền thuyết nghe được ở các nơi, trong đó e rằng cũng không tránh khỏi những ngôn từ do tác giả tưởng tượng vẽ vời; đồng thời, nó lại chú ý đến tính hoàn chỉnh và kể rõ đầu đuôi ngọn ngành câu chuyện. Vì vậy, từ việc ghi chép sự thật lịch sử, nó là một bộ sách sử; nhưng từ nội dung và cách thể hiện, lại không giống như sách của một sử gia nghiêm túc. Thực ra, nó là một tác phẩm ở giữa giới hạn của sử gia và tiểu thuyết gia, có thể xem là nguồn gốc của tiểu thuyết diễn nghĩa sau này.”[29]

Sau nữa, cấu trúc tên sách Ngô Việt xuân thu và Hoàng Việt xuân thu cũng giống nhau: đều nối tên nước với từ “xuân thu”. Do đó, khi độc giả cầm Hoàng Việt xuân thu trên tay có thể nhận biết được những điều tên sách dự báo: sách này đã mang tinh thần khen trách trong kinhXuân thu của Khổng Tử, lại có mô thức kết hợp giữa lịch sử với tiểu thuyết của Ngô Việt xuân thu.

4.2. Đại ý của Hoàng Việt xuân thu

Đến với bài thơ tứ ngôn (bài tựa truyện) ở đầu sách, bài thơ tổng cộng mười sáu câu, phần lớn đều có thể dùng phương thức liên văn bản ngoại tại để giải đọc. Đương nhiên độc giả cũng có thể không cần liên văn bản mà vẫn có thể tìm hiểu trực tiếp bài thơ (bài tựa truyện), nhưng khi đó chỉ lĩnh hội được ý nghĩa bề mặt của bài thơ mà thôi, không thể nắm bắt được ngữ nghĩa đa tầng của nó. Ví dụ, bốn dòng đầu của bài thơ (bài tựa truyện) và liên văn bản của chúng như sau:

Bài thơ (bài tựa truyện) Liên văn bản
Hữu đức tắc trị Tuân Tử – Trí sĩ: Không có đất thì người chẳng an cư, không có người thì không ai giữ đất, không có đạo đức phép tắc thì người không đến, không có quân tử thì đạo chẳng hưng thạnh. Cho nên đất với người, đạo với phép tắc là gốc của quốc gia. Quân tử là người nắm cương lĩnh đạo đức, phép tắc, nên không thể không có. Có họ thì nước trị (nguyên văn: Đắc chi tắc trị), không có họ thì nước loạn.[30]
Bang nãi kỳ xương Thượng thư – Thương thư – Trọng Hủy chi cáo: Giúp người hiền, trợ người đức, trọng người giỏi, kính người trung, yếu thì chiếm, ngu thì đánh, loạn thì lấy, mất thì diệt, đẩy kẻ vong đạo đến diệt vong, củng cố cho người tồn giữ đạo trời, nước sẽ ngày càng thịnh vượng (nguyên văn: Bang nãi kỳ xương).[31]
Vô đức tắc loạn Giống câu 1 ở trên
Thiên xúc kỳ vong Giống câu 2 ở trên

Câu “Hữu đức tắc trị”, xuất xứ từ liên văn bản tương cận là “Đắc chi tắc trị” trong thiên Trí sĩsách Tuân Tử, đem đến cho người đọc một ngữ cảnh hoàn chỉnh hơn: Bậc thánh vương có đức ắt được người quân tử ủng hộ, được người quân tử ủng hộ mới có thể chấn hưng đạo đức phép tắc, đạo đức phép tắc đã hưng ắt được trăm họ quay về, đất nước được an định, đất nước an định ắt thiên hạ đại trị. Cũng như thế, liên văn bản “Bang nãi kỳ xương”, lấy từ chương Trọng Hủy chi cáo thiên Thương thư sáchTuân Tử, kế thừa phát triển ý câu trên, khiến hàm nghĩa câu thứ hai càng thể hiện rõ ràng: Bậc thánh vương tùy thuận đạo trời thi hành chính nghĩa ắt có thể an bang hưng quốc. Hai câu liên văn bản trên cũng đã xác lập ý nghĩa của hai câu sau, chỉ ra rằng kẻ vô đức ắt sẽ nhận lấy hậu quả thảm bại.

Để lĩnh hội sâu sắc đại ý sách này, chúng ta có thể đọc thêm đoạn đầu hồi thứ nhất:

“Chuyện kể thiên hạ là “đại vật”, nếu không phải là Thánh đức hiếu sinhthần vũ bất sát thì không đủ gánh vác. Là người chăn dắt dân, không thể ỷ mình giàu mạnh mà chẳng chịu tu sửa văn đức, chẳng rèn võ công, thậm chí ở trên giáo hóa suy đồi, ở dưới phong tục bại hoại, nếu như thế thì dù mạnh như Tần, giàu như Tùy, cũng không thể cứu vãn cái nguy tán gia vong quốc.”[32]

Đoạn văn ngắn trên có ba khái niệm về đạo đức, chính trị đáng chú ý: “Thánh đức hiếu sinh”, “Thần vũ bất sát” và “Văn đức”. Thiên Đại Vũ mô chương Ngu thư trong sách Thượng thư có một đoạn Cao Dao bàn về đức hiếu sinh của các bậc đế vương có thể giáo hóa thần dân, xin thuật lại như sau:

“Cao Dao nói: ‘Đức của vua không sai lầm, tiếp kẻ dưới bằng giản dị, trị dân chúng bằng khoan hồng; phạt không bắt tội con, thưởng rộng đến đời sau. Tha thứ kẻ lầm lỗi, không kể lỗi lớn; bắt tội kẻ ngoan cố, không chừa lỗi nhỏ; phạt tội nghi lo khinh nhẹ, thưởng công nghi lo trọng hậu. Thà chịu lỗi không theo luật thường, chứ không giết kẻ không [rõ] tội hình ; đức hiếu sinh thấm tới lòng dân, cho nên dân chúng chẳng phạm đến các quan coi việc.”[33]

Các bậc đế vương dùng tâm thuần thiện thống trị thần dân, thưởng phạt công minh rộng lượng, đức hiếu sinh của họ thấm nhuần tất cả thần dân, nên thần dân kính phục đế đức, không dám vi phạm pháp luật. Câu “Thần vũ bất sát” xuất xứ từ Hệ từ (thượng) sách Chu Dịch: “Xưa các bậc thông minh, duệ trí, thần vũ không hiếu sát.” Khổng Dĩnh Đạt chú: “Đạo của Dịch sâu xa, dùng cát hung họa phúc chế ngự vạn vật, nên các đấng quân vương thông minh duệ trí thần vũ ngày xưa cho rằng các bậc thánh vương như Phục Hy dùng đạo của Dịch chế ngự được cả thiên hạ, không cần dùng hình luật chém giết để làm thiên hạ khiếp phục.”[34]

Ở đây ý nói bậc quân vương không nên lạm dụng hình phạt tàn khốc áp chế người dân, mà phải thông qua quy luật cát hung họa phúc để chế ngự họ.

Hai chữ “văn đức” tìm thấy trong lời tượng quẻ Tiểu súc sách Chu Dịch: “Gió đi trên trời là quẻ Tiểu súc, người quân tử coi đó mà sửa văn đức cho tốt đẹp.” “Văn đức” ở đây là đạo đức tốt đẹp, cao thượng. Từ này cũng thấy ở thiên Quý thị sách Luận ngữ: “Bởi vì đồng đều thì không nghèo khổ, hòa hợp thì không cô quả, an định thì không nghiêng ngả. Do đó, nếu người phương xa chẳng phục thì phải tu sửa văn đức để họ đến với. Khi họ tới rồi, thì giúp họ yên ổn.” Tập giải của Hà Án dẫn lời Bao Hàm rằng: “Chính trị, giáo hóa đồng đều thì không lo nghèo khổ. Trên dưới hòa hợp thì chẳng lo dân ít. Kẻ lớn người nhỏ yên ổn thì không sợ nước nhà ngả nghiêng.”[35]

Nếu đất nước, nhân dân đã thống nhất, an định, mà “người ở xa” vẫn chưa phục, thì bậc vương giả ắt phải tu sửa văn đức, khiến họ quy phục mình. “Văn đức” ở đây chính là thánh đức “nội thánh ngoại vương”, không chỉ là dùng lễ nghĩa giáo hóa người ở xa (ngoại vương), mà còn phải noi theo thánh đức để tu thân (nội thánh). Ngoài ra, “văn đức” còn đối ngược với “vũ công”: bậc vương giả nên dùng văn đức phủ dụ người ở xa, không nên dùng vũ lực chinh phục, khiến người ở xa luyến mộ đức hóa mà đến với mình.

Cuối cùng, chúng ta cũng nên đọc qua đoạn cuối của sách này, để hoàn thành sứ mệnh tìm hiểu đại ý Hoàng Việt xuân thu. Sau khi Lê Lợi đánh bại quân Minh, do hậu duệ nhà Trần đã dứt, nên dâng biểu cầu phong với nhà Minh, lên ngôi quốc vương, thi hành chính pháp:

“Văn thư thong thả, mọi việc thảnh thơi. Thiên hạ thái bình, nhân dân lạc nghiệp, việc triều chính nhàn hạ, chốn biên địa chẳng lo, đã trở thành trời Nghiêu đất Thuấn. Thế mới biết bậc có đại đức thì trời tiếp sức, người quy phục, vốn chẳng đợi phú cường mà quốc gia thịnh trị.”[36]

Đoạn kết này gián tiếp so sánh nhà Lê với nhà Hồ: họ Hồ vô đạo, không thuận thiên lý, dẫn đến thất bại; nhà Lê thuận thiên hành đạo, lại có đại đức, nên được thiên hạ, thiên hạ thái bình thịnh trị. Trong đó “đại đức” là tiền đề để có được Thiên mệnh, nên Trung dung nói “Đức là thánh nhân” và “Cho nên có đại đức ắt đạt được ngôi vị, bổng lộc, danh tiếng, tuổi thọ… Cho nên, có đại đức ắt có được Thiên mệnh.”[37]

Ngoài ra, câu “Trời tiếp sức, người quy phục” xuất xứ từ thiên Vạn Chương (thượng) sách Mạnh Tử: “Vạn Chương hỏi: Có việc vua Nghiêu nhường thiên hạ cho ông Thuấn không? Mạnh Tử đáp: Không có. Thiên tử không thể đem thiên hạ nhường cho người. Vậy thì ai cho mà ông Thuấn có được thiên hạ? Đáp: Trời cho… Vua Nghiêu tiến cử ông Thuấn với Trời, Trời nhận ông ấy, dân mến phục mà nhận ông ấy… Cho nên nói: Trời tiếp sức, người quy phục.”[38] Theo Hoàng Việt xuân thu, “Đại đức” hoặc “văn đức” cũng bao hàm các phẩm hạnh “thánh đức hiếu sinh” và “thần vũ bất sát”, đặc biệt thể hiện ở thái độ khoan hòa nhân ái của Lê Lợi đối với bại tướng nhà Minh (hồi 59, 60), cha con họ Hồ và quân Minh không có những đức tính ấy nên cuối cùng đã thất bại.

4.3. Ý thức bổ sử và tinh thần độc lập quốc gia

Lời tựa trước phần chính văn của quyển tiểu thuyết viết: “Sách này sáu mươi hồi kể khái quát những chuyện trước và sau khi Lê Thái Tổ dựng nước.” Để thể hiện hoàn chỉnh diễn biến một giai đoạn lịch sử, tác giả đã dẫn dụng nhiều loại sử liệu, trong đó đáng chú ý nhất là một số sách sử Trung Quốc. Giáo sư Phan Huy Lê đã chỉ ra rằng bộ tiểu thuyết này không chỉ “tham khảo nhiều sách sử, truyền thuyết dân gian trong nước”, mà còn dựa vào “một số sử liệu Trung Quốc”[39]. Chí ít trong số sử liệu Trung Quốc này có Minh sửMinh sử kỷ sự bản mạtThù vực chu tư lục và Việt kiệu thư, hơn nữa những sách ấy đã phát huy vai trò quan trọng trong quá trình viết Hoàng Việt xuân thu. Thông qua việc mượn những tư liệu Trung Quốc khá hiếm thấy ở Việt Nam để viết, sách này mang đến cho độc giả đồng bào cơ hội lắng nghe, quan sát những lời nghị luận của vua tôi triều Minh, hé mở những nội tình triều Minh mà sách sử Việt Nam không hề ghi chép. Hoàng Việt xuân thu dẫn dụng rất nhiều sử liệu Trung Quốc trong những ngữ cảnh khác nhau, dưới đây là một vài minh chứng.

Do Hồ Quý Ly cùng con là Hồ Hán Thương soán ngôi vua, hậu duệ nhà Trần là Thiên [Thiêm] Bình thỉnh cầu Minh Thành Tổ cứu viện. Thành Tổ sắc dụ Hán Thương nghinh đón Thiên Bình trở về nước, tôn lên làm vua, mặt khác ban sắc lệnh cho Tổng binh Quảng Tây là Hàn Quán tuyển năm nghìn quân lính, cùng Phó đô đốc Hoàng Trung thống lĩnh đề phòng sự biến. Hán Thương ngoài mặt tuân mệnh thi hành, nhưng âm thầm cho quân mai phục giết chết Thiên Bình.[40] Bọn Hoàng Trung đành phải kéo quân về nước. Sau đây là sự so sánh lời bàn của vua tôi nhà Minh về việc của nước An Nam giữa Thù vực chu tư lục và Hoàng Việt xuân thu:

Thù vực chu tư lục Hoàng Việt xuân thu
Thiên Bình và [Tiết] Nham đều đã chết. Bọn [Hoàng] Trung bất đắc dĩ kéo quân về. Biết chuyện, nhà vua nổi giận, bảo Thành quốc công Chu Năng rằng: “Bọn tiểu nhân bỉ ổi nhỏ bé, tội ác tày trời, lại còn dám ngấm ngầm bày kế gian hạ độc như thế. Trẫm suy lòng thành thật mà dung nạp, lại bị mắc lừa, nếu chẳng tru diệt, quân đội dùng vào đâu!” Bọn Chu Năng thưa: “Nghịch tặc tội lớn, trời đất không dung. Bọn thần xin lãnh oai trời, một phen tiêu diệt chúng.” Vua liền quyết định hưng binh.[41] Trước tiên là bọn Hoàng Trung đưa Thiên Bình về nước thất bại, dẫn tàn binh hồi triều. Tâu lại chuyện ấy, Thành Tổ thạnh nộ, bảo Thành quốc công Chu Năng rằng: “Bọn tiểu quốc dám chống lại đại quốc. Nếu chẳng tru diệt, quân đội dùng vào đâu!” Chu Năng rập đầu thưa: “Nghịch tặc tội lớn, không thể dung tha. Bọn thần xin lãnh oai trời, một phen tiêu diệt chúng.” [Chưa chắc] Thành Tổ liền quyết định hưng binh.[42]

Từ hai đoạn trên có thể thấy, cùng một sự việc nhưng thông qua lời kể khác nhau giữa ta và họ, thì sự thể hiện cũng không giống nhau. Thù vực chu tư lục xem cái chết của Thiên Bình là nguyên do khiến Hoàng Trung “bất đắc dĩ kéo quân về”, còn theo Hoàng Việt xuân thuthì họ Hoàng thất bại không thể không “dẫn tàn binh trở về”, dường như thay đổi góc nhìn, chuyển quân đội nhà Minh từ một đội quân bảo vệ hậu duệ nhà Trần về nước thành một lực lượng thảm bại khi can thiệp vào việc của nước khác. Trong Thù vực chu tư lục, Thành Tổ gọi gộp cả An Nam và cha con họ Hồ là “bọn tiểu nhân bỉ ổi nhỏ bé”, Hoàng Việt xuân thu thì đổi “tiểu nhân bỉ ổi” thành “tiểu quốc”, hậu quả việc “tiểu quốc” này đánh bại Hoàng Trung là chiến tranh tăng cấp, khai chiến toàn diện với “đại quốc”. Về kết quả sau này của cuộc đại chiến, nước nhỏ An Nam có bị bại trận trước nước lớn Minh triều hay không, tác giả đã phê hai chữ “chưa chắc” ngắn gọn rõ ràng như một dự cáo sau lời nói “một phen tiêu diệt chúng” của Chu Năng.

Ngày xuất binh, Minh Thành Tổ dừng chân bên bờ Long Giang làm lễ thệ chúng, lời tuyên thệ chuyển vị từ Thù vực chu tư lục sang Hoàng Việt xuân thu không hề sai khác:

Thù vực chu tư lục Hoàng Việt xuân thu
Cha con giặc Lê [Hồ] nếu bắt được không tha, những người bị ép phản nghịch thì không bắt tội, không dung dưỡng kẻ gây loạn, không khinh địch, không phá hoại nhà cửa mộ phần, không làm hại ruộng lúa, không tham đoạt của cải, không cướp vợ người, không giết kẻ quy phục. Nếu ai phạm phải điều này, tuy có công cũng chẳng tha thứ. Không mạo hiểm xông pha, không tham lợi tiến quân bừa bãi. Sau khi bắt được tội nhân, sẽ chọn con cháu hiền tài họ Trần, lập lên vương vị, cai trị một phương, khao thưởng quân đội, trình báo miếu đường, công danh rỡ ràng vô tận. Tất cả hãy cố gắng.[43] Cha con giặc [Hồ] nếu bắt được không tha, những người bị ép phản nghịch thì không bắt tội, không dung dưỡng kẻ gây loạn, không khinh địch, không phá hoại nhà cửa hàng quán, không làm hại ruộng lúa, không tham đoạt của cải, không cướp vợ người[hai câu này là lời thề suông mà thôi], không giết kẻ quy phục. Nếu ai vi phạm, tuy có công cũng chẳng tha thứ. Không mạo hiểm xông pha, không tham lợi tiến quân bừa bãi. Sau khi bắt được tội nhân, sẽ chọn con cháu hiền tài họ Trần, lập lên vương vị, thống trị một phương [như vậy, không dám phụng chiếu], khao thưởng quân đội, trình báo miếu đường, theo thứ bậc định công lao.[44]

Tác giả Thù vực chu tư lục Nghiêm Tùng Giản bình luận về lời thệ chúng của Minh Thành Tổ như sau: “Xét rằng: đọc những lời thệ chúng, đều là mưu chước bình định, chiêu tập an dân, thật sáng rỡ không thua gì các bậc đế vương đời xưa thần vũ bất sát!”[45]

Nếu như các tướng lĩnh quân đội nhà Minh đều nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh, thì bốn biểu sẽ an định, thiên hạ được thái bình. Đáng tiếc là lời nói và việc làm của phàm nhân thường không tương ứng. Hoàng Việt xuân thu mượn lời của tướng quân Việt Nam là Phạm Đán nói cho chúng ta biết lỗi lầm của quân đội nhà Minh (hồi 13):

“Binh pháp dạy: ‘Trị binh cơ, mưu quốc sự, trước tiên phải nhờ sức dân. Trước dân hòa thì sau mới thành đại sự.’ Huống chi họ [chỉ quân Minh] từ khi dấy binh đến nay, tàn hại sinh linh, chém giết dân lành, bá tánh Bắc Hà, dìu già dắt trẻ, vượt sông Nam tiến, tiếng khóc lời than, vang động đất trời, tướng quân đã tận mắt trông thấy. Vả lại, người cùng đường ắt phản, dân cùng khổ ắt lìa, họa phát khởi từ trong, muốn tiêu trừ chẳng kịp.”[46]

Hoàng Việt xuân thu lại kể thêm, sau khi quân Minh chiếm cứ An Hà, thiết lập Đô chỉ huy ty cùng Thừa Tuyên bố chánh sứ ty và Đề hình án sát sứ ty, nhập An Nam vào bản đồ Trung Quốc và trực tiếp thống trị. Điều này trái ngược với lời thệ chúng của Minh Thành Tổ trước khi xuất binh, lúc ấy tuyên bố lập con cháu họ Trần tức vị, sau đó lui quân, để An Nam vẫn là một quốc gia độc lập. Tiểu thuyết lại kể, tháng 12 mùa đông năm Ất mùi (1415) Minh Thành Tổ sai sứ đem Hồng Vũ cấm thư cùng Đồ cảo của Cao Biền ban cho Bố chánh sứ, Án sát sứ Hoàng Phúc và bảo: “Trẫm nghe An Nam có nhiều vùng đất tốt. Khanh là nhà phong thủy tài ba, nhân thời bình hãy dạo xem kỹ càng, vẽ lại hình thế đệ trình cho trẫm.” Hoàng Phúc vâng mệnh, liền sai thuộc hạ đi khắp nơi hỏi tìm sách vở tàng trữ trong dân chúng.[47]

Hồng Vũ cấm thư và Đồ cảo đều là sách viết chuyên về địa lý phong thủy, người xưa tin rằng dựa vào hoặc sửa đổi núi sông, địa thế, linh khí có thể ảnh hưởng đến sự thịnh suy của cuộc đời, của vận nước.[48] Điều này có đúng hay không, nay không thể xét được, nhưng tiểu thuyết kể chuyện Minh Thành Tổ muốn nắm rõ kiến thức về địa lý, phong thủy An Nam càng cho thấy Minh Thành Tổ xem An Nam đã thuộc về mình và thống trị đất ấy, như vậy đã làm trái lời thệ chúng trước kia.

Nếu cùng đọc lời thệ chúng của Minh Thành Tổ với bài dụ văn trong tiểu thuyết do quan Thị lang nước An Nam là Đoàn Phát phụng mệnh soạn và bố cáo trước thiên hạ, sẽ càng thấy rõ tội trạng ngôn hành bất nhất của Minh triều. Bài dụ văn vạch rõ tội của quân Minh như sau:

“Lễ rơm nghĩa cỏ, giáo đã dứt nơi bốn giềng;

Gươm rừng đao núi, hình lại thảm với năm oan.

Pháp ty lộng quyền, chính hà khắc hơn mãnh hổ;

Quan ranh đoạt lợi, dân khốn khổ nỗi độc xà.

Thật là: Người thần cùng oán, trời đất chẳng dung.”[49]

Lời thệ chúng được tuyên dương, ca ngợi trong Thù vực chu tư lục chuyển vị sangHoàng Việt xuân thu đã trở thành “lời thề suông” như lời phê của tác giả.

Theo Hoàng Việt xuân thu thuật lại, tuy Lê Lợi cùng nghĩa quân từng liên kết với quân Minh công phạt cha con họ Hồ, nhưng nguyên tắc hàng đầu của việc liên minh giữa họ với quân Minh là độc lập chủ quyền của quốc gia dân tộc:

“Vả lại, ta binh yếu tướng ít, nước nhỏ dân nghèo. Muốn cất mấy ngàn quân ô hợp chống trăm vạn lính kiêu hùng, khác nào đem trứng chim gà chọi vào núi Thái. Người xưa có lời rằng: ‘Sông núi nước Nam, Nam đế ngự; rành rành phân định ở sách Trời.” thật chẳng phải lời suông lẽ dối. Chi bằng hợp lực với Minh trừ khử loạn thần, khiến sông núi nước Nam trở về chủ cũ, sau đó huynh đệ ta lui về chốn ruộng đồng, an cư lạc nghiệp. Ví như người Minh cótâm địa ham muốn vượt phận, cũng phải lo sợ đến danh nghĩa của họ.”[50]

Sau đoạn này có lời phê rằng: “Rõ ràng [anh em Lê Lợi] muốn lập họ Trần rồi lui về đồng ruộng.  Chỉ e không được như thế, đến nỗi lắm chuyện thêm thôi.” Nghĩa là, nếu Minh triều vẫn “có tâm địa ham muốn vượt phận”, thì anh em Lê Lợi ắt sẽ tiếp tục lãnh đạo quân dân kháng chiến, giành lại chủ quyền quốc gia. Thế là, thánh đức “thần vũ bất sát” không thuộc về Minh triều mà chuyển vị sang Lê Lợi, giúp ông ấy dựng xây công nghiệp vệ quốc an dân.

Hoàng Việt xuân thu kể lại thời kỳ quân Minh chiếm cứ An Nam, đại tướng Minh triều là Hoàng Phúc có công giáo hóa nhân dân An Nam, nhưng cách nói về công lao họ Hoàng trong ở đây và trong sách sử Trung Quốc cũng không giống nhau. Hồi thứ 36 viết: “Hoàng Phúc lập nhà học ở các phủ, huyện, châu, cùng các sách về âm dương, y học, tăng cương, đạo kỷ… [nguyên văn như thế]. Lúc ấy có người Giao Châu là Lâm Thiếu Ngại và Lê Công Soạn đến Đông Đô thọ học với Hoàng Phúc.” Phía sau có lời phê: “Ở đây nói đến hai người Lâm, Lê để phục bút, hồi sau nói tiếp.”[51]

“Phục bút” ở đây phải đợi đến hồi thứ 58 mới được hiển lộ.  Hồi thứ 58 kể chuyện hai vị tướng quân của Thái Tổ Lê Lợi là Lâm Thiếu Ngại và Lê Công Soạn phụng mệnh dẫn hai ngàn quân lính mai phục ở ải quan, chặn đường lui binh của quân Minh. Binh mã Hoàng Phúc bị phục binh, hai tướng Lâm, Lê nhận ra đại tướng đối phương trên chiến trường chính là ân sư của họ. Tình tiết ly kỳ này vốn đã được em ruột Lê Lợi – Phó quân sư Lê Thiện – liệu trước: “Ngày trước sai hai tướng phải bắt cho được Phúc, ắt chẳng dám vì tình riêng làm hỏng việc chung.” Quả nhiên, sau khi Hoàng Phúc bị quân sĩ An Nam bắt sống, hai tướng Lâm, Lê “đều xuống ngựa xúm lại vái chào” và nói: ‘Ngài là bậc cha mẹ của chúng tôi! Ngài nếu không về Bắc thì tiểu tử này cũng chẳng đến đây.’ Nói xong đều khóc.”

Quan hệ thầy trò giữa Hoàng Phúc với Lâm, Lê có thật không? Hoàng Phúc truyện trongMinh sử có kể như sau:

“[Hoàng Phúc] đến ải Kê Lăng, bị giặc bắt, toan tự sát. Giặc xúm lại vái mà khóc rằng: “Ngài là cha mẹ của dân, ngài không đi, chúng tôi cũng chẳng tới đây.” Nói rồi cố ngăn ông ấy. Lê Lợi biết chuyện ấy, nói: “Trung Quốc sai quan cai trị Giao Chỉ, nếu ai cũng như Hoàng Thượng thư thì ta há phản kháng làm gì!” Sai người đến bảo vệ, tặng bạc vàng, ban lương thực, đưa kiệu xuất quan.”[52]

Rõ ràng, điều ghi chép trong Minh sử chính là sự thật về quan hệ thầy trò giữa ba người Hoàng, Lâm, Lê trong Hoàng Việt xuân thu. Những phẩm chất nhân từ, tài trí của Hoàng Phúc là không thể phủ nhận.  Phần Giản Định Đế trong Đại Việt sử ký toàn thư cũng nói: “Phúc là người thông tuệ, khéo ứng biến, có tài trị dân, mọi người đều phục.” Nhưng tác giả Hoàng Việt xuân thu cho rằng họ Hoàng chỉ có công trong vòng giáo hóa hạn hẹp một số đồ đệ mà thôi, nên sửa lời khen họ Hoàng “Ngài là cha mẹ của dân” trong Minh sử thành “Ngài là bậc cha mẹ của chúng tôi [Lâm, Lê].”

Ngoài ra, chúng ta cũng nên chú ý trọng điểm tư tưởng của câu chuyện về Lâm, Lê trong Hoàng Việt xuân thu. Sau khi Hoàng Phúc bị quân An Nam bắt sống, cùng với các loại đồ thư điển tịch của ông (bao gồm An Nam địa khóa do đệ tử thu thập và di cảo của Cao Biền) được đưa đến trước Lê Thái Tổ, chờ nghe phán xét. Thái Tổ xem sách của họ Hoàng, lại nghe Hoàng đại ngôn rằng “Nếu ta thọ hình thì không hợp địa lý” bèn nổi giận định xử trảm. May có Lê Công Soạn ôm lấy Hoàng Phúc, Lâm Thiếu Ngại khấu đầu xin chết thay, lại có Phó quân sư Lê Thiện khuyên giải: “Bắt kẻ thù giải về dưới trướng, đó lấy trung thờ vua; xin thay chết trước gươm, đó dùng nghĩa thờ thầy. Xin chúa thượng ra ơn, giúp hai người lưỡng toàn trung nghĩa.” Nhờ thế là họ Hoàng được tha chết.[53] Như vậy, trọng điểm của câu chuyện trên không còn là công lao của Hoàng Phúc đối với nhân dân An Nam nữa, mà là tinh thần nghĩa khí trung quân ái quốc, tôn sư trọng đạo của hai người Lâm, Lê.

  1. lời kết

Trước khi Tam quốc diễn nghĩa du nhập vào Việt Nam, Tam quốc chí đã được lưu truyền và thâm nhập vào các phương diện xã hội, chính trị, văn hóa bản địa. Tam quốc diễn nghĩa chí ít đã được lưu hành trong tầng lớp trí thức Việt Nam đầu thế kỷ 15, vì vậy những tích truyện trong đó đã trở thành điển cố thường dùng trong văn học Việt Nam. Đến thế kỷ 17, bộ tiểu thuyết lịch sử kinh điển này lại được truyền đến vùng đất phương nam mới khai phá của Việt Nam và nhận được sự yêu thích đặc biệt. Danh thần của chúa Nguyễn là Đào Duy Từ (1572 – 1634) trước khi ra làm quan từng viết tác phẩm Ngọa Long Cương vãn, tự sánh mình với Gia Cát Lượng để tỏ chí bình sinh. Tam quốc diễn nghĩa là nhân tố ngoại lai khai phát cho tiểu thuyết lịch sử Hán văn Việt Nam. Cuối thế kỷ 17, bộ tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của Việt Nam là Hoan châu ký ra đời, giàu chất bổ sử, khuyến giới và hư cấu.

Sử dụng liên văn bản tìm hiểu văn bản tiểu thuyết, cũng giống việc giải thích điển cố, nhưng hai thao tác không đồng nhất hoàn toàn. Trong việc giải đọc điển cố, tác giả và độc giả thường được giả định dùng chung một nguồn tài liệu hay sử liệu; độc giả giải đọc điển cố giống như giải câu đố, và chỉ có duy nhất một đáp án chính xác mà thôi. Liên văn bản không giống điển cố ở chỗ, nó tùy thuộc vào phạm vi và năng lực liên tưởng của độc giả. Độc giả có tài liệu càng nhiều, hiểu biết càng rộng, lý giải văn bản sẽ càng phong phú, càng tạo thêm nhiều màu sắc cho văn bản. Khi độc giả vận dụng liên văn bản đọc tác phẩm, sẽ bị lực đẩy của văn bản tác động, khiến không ngừng liên tưởng, khảo nghiệm, từ bỏ hoặc lựa chọn một tài liệu nào đó thích hợp với ngữ cảnh. Do đó, kết quả giải đọc sau khi vận dụng liên văn bản không nhất định phải giống nhau, nhưng thường có điểm tương đồng. Giải đọc tiểu thuyết Hoàng Việt xuan thutheo tiếp cận liên văn bản có thể xem là một ví dụ. Các câu “Hữu đức tắc trị” hoặc “Thiên dữ, nhân quy” (Trời phú, dân theo) nếu được xem như những thành ngữ thường dùng, đã có thể lập tức khiến phân đoạn trong văn bản có ý nghĩa, nhưng thông qua liên văn bản với các tác phẩm kinh điển, lại có thể nhận ra hàm ý của từ ngữ, câu cú, phân đoạn được tàng ẩn nhiều lớp nhiều tầng. Điều này cũng chỉ cho chúng ta biết những tài liệu văn sử tác giả có thể đã từng tham khảo.

Hoàng Việt xuân thu ra đời ở thế kỷ 19 một mặt kế thừa truyền thống tiểu thuyết lịch sử Việt Nam, mặt khác lại có tinh thần khen trách trong Xuân thu của Khổng Tử, đồng thời có hình thức kết hợp lịch sử với tiểu thuyết giống như Ngô Việt xuân thu của Trung Quốc. Thông qua thủ pháp vận dụng liên văn bản có thể giải đọc đại ý của sach: đó là sự dung hợp quan điểm chính thống và tư tưởng trị quốc an dân của Nho gia vào hoàn cảnh Việt Nam, sự nghiệp an bang vệ quốc phải dùng “đại đức” và tài năng thu phục lòng người, chống lại ngoại xâm giữ yên xã tắc. Nhân vật chính diện trong tiểu thuyết là Lê Lợi trong quá trình chống Minh phục quốc, do gồm đủ phẩm hạnh thánh vương, nên đã giành lại được chủ quyền đất nước, gây dựng triều đình, an định dân sinh.

Hoàng Việt xuân thu mang bút pháp của cả sử học gia và tiểu thuyết gia, đã dùng một lượng lớn sử liệu Trung Quốc, đem đến cho người đọc cơ hội quan sát nội tình nhà Minh. Khi chọn dùng sử liệu Trung quốc, sách đã dẫn dụng tinh tế, chuyển vị tư liệu sang ngữ cảnh mới của tiểu thuyết, nhân đó thay đổi hàm ý vốn có của chúng, bổ trợ cho tình tiết của tiểu thuyết, và tạo ra sự hồi ứng có tính phê phán đối với tài liệu được sử dụng. Những lời phê là bộ phận hữu cơ của tiểu thuyết, thường được xen vào sử liệu trích dẫn, phát huy vai trò triệt tiêu ý nghĩa thần thánh hóa của sử liệu được dẫn dụng. Từ đó, trong bộ tiểu thuyết giàu tinh thần độc lập tự chủ này, các sử liệu ấy có khi được chuyển vị thành những lời văn phúng thích (như lời thệ chúng của Minh Thành Tổ), có khi được sửa đổi thành những điểm nhấn mới mẻ bất ngờ (như câu chuyện của ba thầy trò Hoàng, Lâm, Lê).

 

[1] [Việt] Ngô Thì Sĩ, Việt sử tiêu án, Hiệp hội liên lạc nghiên cứu văn hóa Á Châu Việt Nam dịch từ Hán văn sang Việt văn La-tinh, Sài Gòn, Văn Sử xuất bản xã, 1960.

[2] Việt điện u linh tập, trong Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san, Trần Khánh Hạo, Trịnh A Tài, Trần Nghĩa chủ biên, tập 2, sách 2, Pháp quốc Viễn Đông học viện san, Đài Loan Học sinh thư cục, 1992.

[3] Dẫn chứng này do ông Lưu Hồng Sơn cung cấp. Nhân đây xin gửi lời cảm tạ.

[4] Lục Lăng Tiêu, Việt Nam Hán văn lịch sử nghiên cứu, Dân tộc xuất bản xã, Bắc Kinh, 2008, tr.49.

[5] Hạ Lộ, “Tam quốc diễn nghĩa đối Việt Nam Hán văn lịch sử tiểu thuyết đích ảnh hưởng,” Nội Mông Cổ Sư phạm đại học học báo, Triết học xã hội khoa học bản, quyển 9, kỳ 3, tr.46.

[6] Như chú thích 4.

[7] Hạ Khang Đạt, Vương Hiểu Bình, Nhị thập thế kỷ quốc ngoại Trung Quốc văn học nghiên cứu, Thiên Tân Nhân dân xuất bản xã, 2000, chương 2 “Việt Nam Trung Quốc văn học nghiên cứu diện diện quan,” tr.136.

[8] Nghiêm Tùng Giản, Thù vực chu tư lục, Dư Tư Lê điểm hiệu, Trung Hoa thư cục, Bắc Kinh, 2000, tr.237.

[9] Như trên, tr.238.

[10] [Việt] Nguyễn Tự, Truyền kỳ mạn lục, trong Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san, Trần Khánh Hạo, Vương Tam Khánh chủ biên, Pháp quốc Viễn Đông học viện xuất bản xã, Đài Loan Học sinh thư cục ấn hành, 1987, tr.273 và 287, chú 47.

[11] Như trên, tr.382 và 402, chú 91.

[12] Như trên, tr.422 và 437, chú 60.

[13] Chu Thuấn Thủy tập, Trung Hoa thư cục, Đài Bắc, 1980, quyển 2 An Nam cung dịch kỷ sự, tr.26.

[14] [Việt] Hoan châu ký, trong Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san, Trần Khánh Hạo, Vương Tam Khánh chủ biên, Pháp quốc Viễn Đông học viện xuất bản xã, Đài Loan Học sinh thư cục ấn hành, 1987, tr.283.

[15] Như trên.

[16] Như trên.

[17] Xem: Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm – Nguồn tư liệu văn học, sử học Việt Nam, (2 tập), tập 2, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1990, tr.179.

[18] Vũ Xuân Mai soạn, Lê Hoan nhuận sắc, Hoàng Việt xuân thu, Trần Nghĩa dịch sang Việt văn và viết lời dẫn, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1999, tr.11-12.

[19] Như trên, tr.18, chú 3; xem thêm phần phụ lục Hán văn của sách này, tr.445-693.

[20] Những vấn đề thảo luận chi tiết về văn bản Hoàng Việt xuân thu, xin xem: Nguyễn Nam, Cái chết của tác giả tiểu thuyết lịch sử? Những vấn đề nhân đọc Hoàng Việt xuân thu, phát biểu tại Hội thảo quốc tế “Tiếp cận văn học châu Á từ lý thuyết phương Tây hiện đại: vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội”, Viện nghiên cứu văn học (Việt Nam, Hà Nội), ngày 13-14 tháng 3 năm 2011.

[21] Như Hoàng Việt lịch đại hợp biênHoàng Việt thực lục (chép việc từ năm thứ 8 niên hiệu Nguyên Hòa 1540 đến năm thứ 38 niên hiệu Cảnh Hưng 1877), Hoàng Việt ngọc phả ký tập (1816), Hoàng Việt hội điển toát yếu(1833), Hoàng Việt sách tuyển (Ngô Thế Vinh (1802 – 1856) đọc và bình), Hoàng Việt văn tuyển (1825), Hoàng Việt thi tuyển (1825), Hoàng Việt thái phó Lưu quân mộ chí (có phụ lục bài văn bia do Ngô Thế Vinh soạn năm Tự Đức thứ 8 (1855)), Hoàng Việt phong nhã thống biên (do Phan Thanh Giản (1796-1867) biên tập), Hoàng Việt lịch đại thi phú (1879), Hoàng Việt long hưng chí (1904), Hoàng Việt khoa cử kính (1919), Hoàng Việt tân san luật(1923), Hoàng Việt hình luật (1933), hoặc Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật (1937). Xem thư mục trực tuyến Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam tại địa chỉ: http://www.hannom.org.vn/default.asp?CatID=131.

[22] Xem: Phan Huy Lê, “Tác phẩm Việt Lam xuân thu có giá trị về mặt sử liệu hay không?”, Nghiên cứu lịch sử, số 58 (tháng 1 năm 1964).

[23] Như chú thích 14.

[24] Xem: http://sites.google.com/site/hotranduyenhung/goc-tich-ho-tran-duyen-hung.

[25] Julia Kristeva, Séméiotikè, Recherches pour une sémanalyse, Nxb. Seuil, 1969, tr.115; dẫn từ [Pháp] Tiphaine Samoyault, Nghiên cứu tính liên văn bản, Thiệu Vĩ dịch, Thiên Tân Nhân dân xuất bản xã, Thiên Tân, 2002, tr.4.

[26] Kristeva, La Révolution du langage poétique, Nxb. Seuil, 1974, tr.60; dẫn từ [Pháp] Tiphaine Samoyault, Nghiên cứu tính liên văn bản, như trên, tr.6.

[27] Kristeva, Nous Deux’ or a (Hi)story of Intertextuality, Tạp chí Ngữ hệ La-tinh, tập 93, kỳ tháng 1 đến tháng 3 năm 2002, tr.7-12.

[28] Thập tam kinh chú sớ – Mạnh Tử chú sớThập tam kinh chú sớ chỉnh lý ủy viên hội chỉnh lý, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, Bắc Kinh, 1999, tr.178.

[29] Triệu Diệp, Ngô Việt xuân thu toàn dịch, Trương Giác dịch chú, Quý Châu Nhân dân xuất bản xã, 1993, tr.1.

[30] Tuân Tử toàn dịch, Tưởng Nam Hoa, La Thư Cần, Dương Hàn Thanh chú dịch, Quý Châu Nhân dân xuất bản xã, 1995, tr.285.

[31] Thập tam kinh chú sớ – Thượng thư chính nghĩaThập tam kinh chú sớ chỉnh lý ủy viện hội chỉnh lý, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, Bắc Kinh, 1999, tr.197.

[32] Như chú thích 18, tr.445.

[33] Thập tam kinh chú sớ – Thượng thư chính nghĩaThập tam kinh chú sớ chỉnh lý ủy viên hội chỉnh lý, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, Bắc Kinh, 1999, tr.91-92.

[34] Thập tam kinh chú sớ – Chu Dịch chính nghĩaThập tam kinh chú sớ chỉnh lý ủy viên hội chỉnh lý, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, Bắc Kinh, 1999, tr.288.

[35] Thập tam kinh chú sớ – Luận ngữ chú sớThập tam kinh chú sớ chỉnh lý ủy viên hội chỉnh lý, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, Bắc Kinh, 1999, tr.221.

[36] Như chú thích 18, tr.693.

[37] Tứ thư chương cú tập chú, Chu Hy soạn, Trung Hoa thư cục, Bắc Kinh, 1983, tr.25-26.

[38] Như chú thích 27, tr.256-257.

[39] Như chú thích 19, tr.41-43.

[40] Theo Đại Việt sử ký toàn thư – Hồ Hán Thương: “Tháng 4 mùa hạ năm Vĩnh Lạc thứ 4, nhà Minh sai Chinh Nam quân Hữu quân Đô đốc Đồng tri Hàn Quán cùng Tham tướng Đô đốc Đồng tri Hoàng Trung dẫn 50 vạn quân Quảng Tây sang xâm chiếm, lấy cớ đưa ngụy Trần là Thiêm Bình về nước… Tháng 8 Hoàng Trung vào đến cửa Lãnh Kinh, quân Hồ bị đánh bại… Duy Tả thánh dực quân Hồ Vấn từ Vũ Cao bất ngờ dẫn quân đến đánh bại chúng. Trung liệu không địch nổi, đêm đến canh 2 bỏ trốn… Quân Minh dẫn Thiêm Bình theo và sai Quân y Cao Cảnh Chiếu đưa thư hàng rằng: ‘Hoàng Tổng binh sai hạ quan đến báo rõ tình hình. Trước kia do Trần Thiêm Bình đến triều đình tấu rằng hắn chính là Vương tử nước An Nam, nên kéo đại quân đến. Không ngờ dân chúng nước ấy không phục, rõ ràng là giả dối. Nay dẫn quan quân về tâu lại, tới quan ải lại bị chặn đường. Nay dâng nạp Thiêm Bình, may nhờ tha cho. Hồ cảm tạ đồng ý… Xử [Thiêm Bình] tội lăng trì.’”

[41] Như chú thích 5, tr.177.

[42] Như chú thích 18, tr.468.

[43] Như chú thích 5, tr.177.

[44] Như chú thích 18, tr.469.

[45] Như chú thích 5, tr.177.

[46] Như chú thích 18, tr.494.

[47] Như chú thích 18, tr.597.

[48] Thư viện Quốc gia Việt Nam (Hà Nội) hiện còn 1 quyển Hồng Vũ đại định địa lý cấm thư, (ký hiệu R.1972).

[49] Như chú thích 18, tr.609.

[50] Như chú thích 18, tr.489.

[51] Như chú thích 18, tr.596. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1414, “Tháng 9, Hoàng Phúc triều Minh treo bảng bảo các phủ, châu, huyện thiết lập Văn miếu, đàn Xã tắc, đàn thờ các thần chưa được thờ như Gió, Mây, Núi, Sông…, thường làm lễ tế”, đồng thời còn “sai quan đưa các nhà nho, y, âm dương, tăng, đạo sang Yên Kinh phong chức quan (mới) về lại nha môn giữ chức”.

[52] Trương Đình Ngọc, Minh sử thứ 14, từ quyển 147 đến quyển 162 (truyện), Trung Hoa thư cục, Bắc Kinh, 1974, tr.4226.

[53] Như chú thích 18, tr.686-687.

http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=2344:-dung-vn-s-liu-trung-quc-ly-gii-tiu-thuyt-han-vn-vit-nam-trng-hp-hoang-vit-xuan-thu&catid=121:ht-vit-nam-trung-quc-nhng-quan-h-vn-hoa-vn&Itemid=187

Literature Văn học Văn học Mỹ Latinh

SỨC QUYẾN RŨ CỦA VĂN HỌC MỸ LATINH

SỨC QUYẾN RŨ CỦA VĂN HỌC MỸ LATINH

Gabriel Garcia Márquez
TRẦN NGHI HOÀNG

Có thể nói sự thành tựu của văn học Mỹ Latinh hiện nay đã có một quá trình lâu dài mà cốt lõi là khởi đi từ văn học truyền khẩu qua những truyền thuyết bí nhiệm. Tuy nhiên, để chứng minh sự hiện diện hết sức nghiêm túc của nó trong nền văn học toàn cầu, và tạo nên một sức hút đáng kinh ngạc, văn học Mỹ Latinh đã phải trải qua nhiều biến động lớn trong một lịch sử phức điệu.

Khởi đi từ văn học truyền khẩu

Vì sao văn học Mỹ Latinh có một sức hấp dẫn lạ kì như vậy? Tôi tin không hiếm người đã có lần bần thần tư lự với câu hỏi này. Từ nửa sau của thế kỷ 20, văn học Mỹ Latinh bừng sáng lên với tính toàn cầu do sự thành công quốc tế của phong cách được gọi là magical realism (chủ nghĩa hiện thực huyền bí). Như vậy, văn học Mỹ Latinh hiện đại thường được liên kết hầu như duy nhất với phong cách này. Và tiêu biểu lẫy lừng hơn hết là Gabriel Garcia Márquez, nhà văn người Colombia, Nobel Văn chương 1982.

Gabriela Mistral

Tuy nhiên, trước Gabriel Garcia Márquez và chủ nghĩa magical realism, văn học Mỹ Latinh cũng đã xuất hiện những tài năng kiệt xuất, như nhà văn, nhà thơ người Argentina Jorge Luis Borges (1899 –1986), được giới văn học thế giới xem như một nhà văn surrealist (siêu thực) rất thế giá. Hay nhà thơ người Chile Gabriela Mistral (1889 – 1957), nữ tác giả Mỹ Latinh đầu tiên thắng giải Nobel năm 1945.

Và sau Márquez, văn học Mỹ Latinh vẫn tiếp tục rực rỡ trong văn học thế giới với ba giải Nobel cho nhà thơ Chile Pablo Neruda 1, nhà thơ – nhà văn Mexico Octavio Paz, và nhà văn Peru Mario Vargas Llosa.

Trước đây, người ta biết đến văn học Mỹ Latinh như một tổng hợp của văn học truyền khẩu và văn học văn bản với ngôn ngữ chủ yếu là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, còn lại là một vài ngôn ngữ bản địa của châu Mỹ.

Từ thời kỳ văn hóa tiền Columbus, văn học Mỹ Latinh chủ yếu là truyền khẩu, mặc dù có những dân tộc như người Aztec và Maya đã có những cuốn kinh thánh chép tay hết sức tỉ mỉ công phu. Văn hóa truyền khẩu thời này hầu hết nằm trong hai lãnh vực thần thoại và tín ngưỡng tôn giáo, đã được ghi chép lại từ sau sự xuất hiện của những người thực dân châu Âu. Như là trường hợp với Popol Vuh2. Truyền thống chuyện kể bằng miệng vẫn tồn tại đến ngày nay trong vài dân tộc như số cư dân nói tiếng Quechua ở Peru và Quiché của Guatemala.

Jorge Luis Borges

Từ lúc Columbus tìm ra Tân Thế Giới, những nhà thám hiểm đầu tiên sau Columbus và những conquistadores 3 đã có những văn bản giống như sử biên niên và ghi chép sự kiện kinh nghiệm. Như những bức thư của Columbus về chuyến phiêu lưu của ông ta và việc tình cờ khám phá ra lục địa châu Mỹ hay Bernal Díaz del Castillo mô tả cuộc chinh phục Mexico.

Chuyện khôi hài là, thi thoảng, đám thực dân lại khuấy động những cuộc tranh luận sôi nổi về “đạo đức” của thực dân và tình trạng của các “con dân” bản-thuộc-địa, thí dụ như những ghi chép trong A Short Account of the Destruction of the Indies của Bartolomé de las Casas, nhà sử học, nhà cải cách xã hội người Tây Ban Nha, đồng thời là thầy dòng Dominican. A Short Account of the Destruction of the Indies biên niên những thập kỷ đầu tiên của thực dân Tây Ban Nha trên vùng phía Tây của người Da Đỏ bản địa, tập trung đặc biệt vào các hành động tàn bạo của thực dân áp đặt trên các dân tộc bản địa. Những Mestizos 4 và người bản địa cũng đóng góp không ít vào một nền “văn học thuộc địa”.

Những tác giả như El Inca Garcilaso de la Vega và Guaman Poma đã có những ghi chép về các cuộc chinh phục của Tây Ban Nha cho thấy những sự thực thường tương phản với những ghi chép của phía thực dân cầm quyền. Trong thời kỳ thuộc địa, văn hóa văn bản thường nằm trong tay các nhà thờ, trong đó có Sơ Juana Inés de la Cruz 5 đã viết những tiểu luận triết học đáng nhớ và những bài thơ nhân bản.

Cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, một truyền thống văn học đặc biệt gọi là Criollo 6xuất hiện. Criollo đã cho ra đời những cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong đó có José Joaquín de Fernández Lizardi của El Periquillo Sarniento (1816). Nhiều “Libertadores” (giải phóng quân) đồng thời cũng là những nhà văn đặc sắc, như nhà quân sự và chính trị gia Simón Bolívar hay nhà lập pháp và chính trị gia Andrés Bello, đều là người Venezuela.

Carlos Fuentes

Thế kỷ 19 là thời kỳ của “foundational fictions” (chữ của nhà phê bình, GS Doris Sommer, Đại học Harvard), những tiểu thuyết thuộc các truyền thống lãng mạn và tự nhiên, trong chủ tâm thiết lập một ý thức về bản sắc dân tộc hay nguồn cội. Tập trung vào vấn đề bản địa hay sự phân đôi của “nền văn minh hay man rợ” để tìm kiếm những nhận diện, có thể kể đến nhà văn Colombia Jorge Isaacs với tiểu thuyết duy nhất María (1867); nhà văn, cũng là Tổng thống thứ bảy của Argentina Domingo Sarmiento với Facundo (1845); nhà văn, cha đẻ của nền văn học Ecuador Juan León Mera Martínez với Cumandá (1879); hoặc nhà văn Brazil Euclides da Cunha với O Sertões (1902).

O Sertões là một tác phẩm ghi chép phi hư cấu quan trọng về các cuộc viễn chinh quân sự được Chính phủ Brazil thúc đẩy đối với các làng nổi loạn của Canudos, được gọi là War of Canudos (Chiến tranh Canudos). Cuốn sách này là tác phẩm yêu thích của nhà thơ danh tiếng người Mỹ Robert Lowell, người đã đặt nó ở trên cả tác phẩm của Lev Tolstoy, nhà văn Nga vĩ đại. Cuốn sách đã được dịch sang tiếng Anh nhờ Samuel Putnam và do NXB ĐH Chicago ấn hành năm 1944. Đến nay, công trình này vẫn còn là nền tảng của giáo luật quốc gia và nằm trong danh sách những tác phẩm được giảng dạy trong các trường trung học.

Một điển hình khác trong văn học Mỹ Latinh thế kỷ 19 là José Hernández, người Argentina, tác giả trường ca Martin Fierro (1872). Đây là một cuốn sử thi kinh điển của văn học gauchesque, thể loại văn học nói về những cuộc chiến đấu của tầng lớp “chăn bò” khốn cùng. José Hernández bắt đầu viết Martin Fierro trong thời gian lưu vong ở Brazil sau thất bại ở cuộc chiến tại Naembé (1870).

Rubén Darío
Văn học Mỹ Latinh thời kì Modernismo (hiện đại) cuối thế kỷ 19 xuất hiện tập thơ Azul (1888) của Rubén Darío 7 người Nicaragua. Đây là tác phẩm Mỹ Latinh đầu tiên trong phong trào văn học chịu ảnh hưởng ngoài biên địa. Và cũng có thể xem như là tác phẩm “thực sự” Mỹ Latinh đầu tiên, mà trong đó sự khác biệt quốc gia không còn là vấn đề đáng quan tâm.

Một hiện diện nghiêm túc trong văn học toàn cầu

Hành trình của văn học Mỹ Latinh còn rất nhiều những biến động và vô số những tác giả quan trọng kỳ thú khác mà người viết không thể hoàn tất qua giới hạn của một bài báo. Có thể nói sự thành tựu của văn học Mỹ Latinh hiện nay đã có một quá trình lâu dài mà cốt lõi là khởi đi từ văn học truyền khẩu qua những truyền thuyết bí nhiệm. Tuy nhiên, để bước vào văn học hiện đại, và tạo nên một sức hút đáng kinh ngạc qua chủ nghĩa hiện thực huyền bí, văn học Mỹ Latinh đã đi vào thời kỳ Modernismo rồi Boom 8 và Post-Boom 9. Đó là những biến động cận đại của văn học Mỹ Latinh mà chắc rằng có nhiều người đã biết.

Nhà văn Argentine Jorge Luis Borges sáng tạo ra hầu như là một thể loại mới trong văn học, với những truyện ngắn có tính triết học. Ông trở nên nhà văn có tầm ảnh hưởng rất lớn chẳng những với tất cả những nhà văn Mỹ Latinh, mà còn với cả những nhà văn châu Âu và châu Mỹ. Nhà phê bình văn học nổi tiếng người Mỹ Latinh Harold Bloom viết như sau: “Trong số tất cả các tác giả Mỹ Latinh của thế kỷ 20 này, Luis Borges là người phổ quát nhất… Nếu bạn đọc một cách thường xuyên và chặt chẽ Borges, bạn trở thành một cái gì đó của một Borgesian, vì đọc Borges là kích hoạt một nhận thức về văn học, trong đó ông ấy đã đi xa hơn so với bất cứ ai.”

Pablo Neruda

Vào thế kỷ 20, thơ ca trong văn học Mỹ Latinh thường bộc lộ cùng lúc tình yêu và sự quyết tâm chính trị. Đặc biệt nhất và có thể coi như mẫu mực là nhà thơ Chile được giải Nobel, Pablo Neruda, người mà Gabriel García Marquez từng tuyên xưng là “nhà thơ vĩ đại nhất của thế kỷ 20, trong bất kỳ ngôn ngữ nào.”

Thơ của Neruda gợi mở tính dục như một cái đẹp của sự bi thương… Thử đọc một bài thơ của Pablo Neruda:

Carnal apple, Woman filled, burning moon
Carnal apple, Woman filled, burning moon,
dark smell of seaweed, crush of mud and light,
what secret knowledge is clasped between your pillars?
What primal night does Man touch with his senses?
Ay, Love is a journey through waters and stars,
through suffocating air, sharp tempests of grain:
Love is a war of lightning,
and two bodies ruined by a single sweetness.
Kiss by kiss I cover your tiny infinity,
your margins, your rivers, your diminutive villages,
and a genital fire, transformed by delight,
slips through the narrow channels of blood
to precipitate a nocturnal carnation,
to be, and be nothing but light in the dark.

Xác thịt táo, no nê đàn bà, trăng cháy
Xác thịt táo, no nê đàn bà, trăng cháy,
Mùi rong biển tối ám, vầy vò lòng bùn và ánh sáng,
Tri ​​thức thầm kín gì bị siết chặt giữa các trụ cột của em?
Đêm ban sơ nào mà Con Người đã chạm vào bằng các giác quan của hắn?
À, Tình yêu là một cuộc hành trình xuyên lòng biển và các ngôi sao,
Thông qua không khí ngột ngạt, cơn bão sắc bén của bản chất:
Tình yêu là một cuộc chiến tranh của sấm sét,
Và hai thân xác bị hủy hoại bởi một vị ngọt duy nhất.
Từng nụ hôn từng nụ hôn tôi phủ trùm lên sự vô cùng nhỏ bé của em,
Những mép bờ của em, các con sông của em, những làng mạc xíu tị của em,
Và một đám cháy tình dục, chuyển đổi bởi niềm khoái cảm,
Trượt trôi qua các kênh hẹp của máu
Để kết tủa thành một đóa cẩm chướng đêm,
Để được, và không là gì, chỉ ánh sáng trong bóng tối.

(TNH chuyển ngữ)

Gabriel García Márquez tất nhiên là tiểu thuyết gia vĩ đại hàng đầu của châu Mỹ Latinh trong thế kỷ 20. Chẳng những thế, One Hundred Years of Solitude (Trăm năm cô đơn, 1967) là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của văn học thế giới thế kỷ 20. Luis Borges cho rằng “One Hundred Years of Solitude là Don Quixote của châu Mỹ Latinh.”

One Hundred Years of Solitude (tiếng Tây Ban Nha: Cien años de Soledad) của Gabriel García Márquez là một cuốn tiểu thuyết kể câu chuyện về nhiều thế hệ của gia đình Buendía, người tộc trưởng, José Arcadio Buendía, sáng lập thị xã Macondo, và các ẩn dụ Colombia. Câu chuyện phi tuyến tính là thuật thông qua các khung thời gian khác nhau, một kỹ thuật xuất phát từ nhà văn người Argentina Jorge Luis Borges. Cuốn sách biểu trưng cho phong cách hiện thực huyền bí được nồng nhiệt đón nhận khắp nơi, được tôn xưng là một kiệt tác, đã được dịch sang 37 thứ tiếng, bán hơn 20 triệu bản.

Mario Vargas Llosa

Và năm ngoái, thêm một lần, văn học Mỹ-Latinh lại thể hiện sự quyến rũ và chứng minh sự hiện diện hết sức nghiêm túc của nó trong nền văn học toàn cầu với giải Nobel dành cho nhà văn Peru Mario Vargas Llosa, người được một số nhà phê bình đánh giá là có ảnh hưởng lớn với độc giả thế giới hơn bất kỳ nhà văn nào khác của Mỹ Latinh trong thời kỳ Boom. Ông được trao giải Nobel cho “những lí giải về cấu trúc quyền lực và hình ảnh sắc bén về sự kháng cự, nổi dậy và thất bại của con người cá nhân”.Như vậy, sự thành tựu hiện nay của văn học Mỹ Latinh cũng đã trả cái giá rất trường kỳ và tận tụy nhiêu khê của nó. Nó xứng đáng để toàn thế giới chiêm ngưỡng và chiêm nghiệm.

———–
CHÚ THÍCH:
1 Pablo Neruda (1904 – 1973) là bút danh của nhà thơ, chính trị gia người Chile Ricardo Reyes Basoalto Neftalí. Ông chọn bút danh này để tưởng mộ nhà thơ Czech, Jan Neruda. Neruda luôn luôn viết bằng mực màu xanh lá cây vì nó là màu của hy vọng.2 Popol Vuh là ngữ liệu thần thoại lịch sử về vương quốc cổ Quiché, ở phía tây cao nguyên Guatemala. Popol Vuh có tính năng nổi bật là đã tạo ra những huyền thoại như câu chuyện sử thi về các anh hùng như cặp song sinh Hunahpú và Xbalanqué và các sinh vật lạ lùng trong đó.3 Conquistadores: chữ dùng chỉ những người Tây Ban Nha đi xâm chiếm Trung và Nam Mỹ.

4 Mestizo là thuật ngữ được sử dụng ở châu Mỹ Latinh và Tây Ban Nha cho những người pha trộn, bố mẹ là một người châu Âu và một người Mỹ bản xứ.

5 Sơ Juana Inés de la Cruz (1648 (tồn nghi 1651) – 1695), là nữ học giả tự học và nhà thơ của trường phái Baroque. Mặc dù sống trong thời kỳ khi Mexico là một phần của Đế quốc Tây Ban Nha, ngày nay bà được xem là một nhà văn hàng đầu của lịch sử văn học Mexico viết bằng tiếng Tây Ban Nha.

6 Các Criollos (số ít: Criollo) là một tầng lớp xã hội trong hệ thống đẳng cấp của các thuộc địa ở nước ngoài được thành lập bởi Tây Ban Nha vào thế kỷ 16, đặc biệt là ở châu Mỹ Latinh. Họ là những người dân sinh tại địa phương thuộc địa nhưng nguyên gốc bố mẹ tổ tiên là thuần hoặc đa số là Tây Ban Nha.

7 Rubén Darío (1867 – 1916), nhà thơ Nicaragua, người khởi xướng phong trào văn học Tây Ban Nha – Mỹ, là một tên tuổi Modernismo lừng lẫy vào cuối thế kỷ 19. Ông đã được ca ngợi là “Prince of Castilian Letters” tức là “Hoàng tử của ngôn ngữ Castilian”, thứ ngôn ngữ Tây Ban Nha mẫu mực; và là bậc thầy không thể tranh cãi của phong trào văn học Modernismo. Darío còn được kính trọng như một nhà ngoại giao lớn của Nicaragua.

8 Phong trào văn học của những năm 1960 và 1970 khi tác phẩm của một nhóm tiểu thuyết gia người Mỹ Latinh tương đối trẻ được xuất bản rộng rãi ở châu Âu và trên toàn thế giới. Phong trào này gắn liền với tên tuổi của các nhà văn như Julio Cortázar (Argentina), Carlos Fuentes (Mexico), Mario Vargas Llosa (Peru), và Gabriel García Márquez (Colombia)…

9 Thời kỳ một số nhà văn cảm thấy thành công của thời kỳ Boom là gánh nặng và muốn thoát ra khỏi ảnh hưởng áp đảo của chủ nghĩa hiện thực huyền bí trong văn học Mỹ Latinh thời kỳ Boom.

Literature Văn học Văn học Mỹ Latinh

Chuyên đề Văn học Mỹ La tinh

 

Phùng Hoài Ngọc
 CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC HUYỀN ẢO TRONG VĂN HỌC MĨ LA TINH

 Chuyên đ năm th 4 Đại học Ngữ văn

    

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trước đây, chương trình Ngữ văn đại học và cao đẳng chưa đề cập các nền văn học châu Mĩ Latin. Đến những năm 80 thế kỉ XX, những tác phẩm xuất sắc, độc đáo từ các nền văn học này mới thu hút giới nghiên cứu phê bình văn học các châu lục khác và gõ cửa sinh hoạt văn học nước ta. Đề tài này được coi là một chưyên đề tự chọn của chương trình đào tạo Ngữ văn đại học.

 Chuyên đề này nhằm hai mục đích

1. Bổ sung chương trình Lịch sử Văn học Phương Tây (Tây Âu thế kỉ XX và Hoa Kì)

2. Bổ sung Lý thuyết văn học (phần Phương pháp sáng tác)

Văn học khu vực Mĩ Latin có nhiều điều mới lạ gây chú ý cho công chúng thế giới từ nửa thế kỉ qua, Việt Nam từ 16 năm qua (đặc biệt từ năm 1986 khi cuốn Trăm năm cô đơn của G.G.Marquez được xuất bản do dịch giả Nguyễn Trung Đức dịch và nhà xuất bản Ngoại văn Hà Nội ấn hành…). Chúng tôi chọn “Văn học Mĩ La tinh” vào phần chương trình “mềm” cho SV Ngữ văn tiếp cận.

Cũng như mọi nền văn học chân chính, văn học Mĩ Latin đã phản ánh được tâm thức của con người dân tộc Mĩ Latin, nêu vấn đề của thời đại và sáng tạo một thành tựu nghệ thuật mới. Cụ thể họ đã thưc sự bàn đến những vấn đề cơ bản sau:

Nhu cầu liên kết của các nước nhỏ thành khối lớn hơn để đương đầu với nước lớn trong quan hệ chính trị kinh tế xã hội toàn cầu cũng đang đặt ra cấp bách. Nhà văn bằng tiếng nói nghệ thuật độc đáo của mình cũng tham gia vào quá trình đó với tiếng nói riêng.

Văn học Mĩ Latin góp phần đặt vấn đề và thử giải quyết hai vấn đề, đồng thời khẳng định dòng văn học hiện thực mang tính huyền ảo – một thành tựu văn học mới mẻ.

Một mâu thuẫn đang tồn tại trong lối sống Mĩ Latin cũng tồn tại trong nhân loại là: trong khi sự giao lưu hội nhập trên phạm vi thế giới càng tăng thì lối sống cô đơn khép kín, vị kỉ (hay nói cách khác là chủ nghã cá nhân) cũng có chiều hướng gia tăng.

Như vậy, văn học Mĩ Latin, đặc biệt là dòng tiểu thuyết mới, đã mang cả hai tính thời sự: thời sự của cuộc sống loài người nói chung và thời sự văn học nghệ thuật nói riêng. Một hiện tượng văn học nghệ thuật chân chính phải mang cả hai tính chất ấy.

Năm 2000 lần đầu tiên văn học Mĩ Latin được giới thiệu vào sách văn 12 tập 2, bộ sách hơp nhất. Phần giới thiệu văn học Mĩ Latin ở trang 118. Một đoạn trích tiểu thuyết nhà văn Jorge Amado, thuộc dòng văn học hiện thực nghiêm nhặt được soạn thành bài đọc thêm. Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo được giới thiệu truyện ngắn của G.G. Marquez

Chúng tôi nghĩ rằng cần giới thiệu và trang bị cho sinh viên đại học ngữ văn một cách tiếp cận tương đối toàn diện về vùng văn học này bằng chuyên đề. Từ đó SV có thể tiếp tục nghiên cứu.

Cũng cần lưu ý rằng con mắt nghiên cứu của giới văn học Tây Âu vốn rất tự mãn, kiêu hãnh về sáu thế kỉ phát triển mạnh mẽ (từ thời Phục hưng thế kỉ 14 khi họ phát hiện ra thời cổ đại Hi Lạp).

Cả thế giới đều công nhận thành tựu lớn lao sâu sắc điển hình của văn học Tây Âu sáu thế kỉ đó kéo liền đến hiện tại từng gây ảnh hưởng mạnh khắp thế giới. Giới văn học Tây Âu (kể cả giới văn hoá) quen đánh giá thấp Đông Âu, châu Á và cả châu Mĩ nữa. Ngay cả văn học Hoa Kì ban đầu cũng bị coi thường (họ bảo Hemingway cũng chỉ viết theo phong cách châu Âu!). Vùng Mĩ Latin lại còn bị coi rẻ hơn cả Bắc Mĩ (gồm Canadavà Hoa Kì). Do đó trong bài này chúng tôi trình bày cả hai hướng nghiên cứu của Tây Âu, Bắc Mĩ – Mĩ latin để đối chiếu, sau đó trình bày hướng nghiên cứu của Francoise Perus (người Pháp, quốc tịch Mexico, người áp dụng phương pháp macxit, đồng thời bản thân bà là người sống với cả hai nền văn hoá Tây Âu và Mĩ Latin- một điều kiện đáng tin cậy nữa). Phần kết luận chúng tôi rút ra từ Từ điển thuật ngữ văn học ViệtNam làm quan điểm chính thức, bên cạnh đó nêu những quan điểm riêng bổ sung.

Tuy chưa đủ điều kiện nghiên cứu nhiều tác phẩm các thể loại, nhưng chúng tôi đã chọn hai tác phẩm tiêu biểu cho nền văn học Mỹ La tinh, đỉnh cao kết tinh phương thức sáng tác mới.

Biên giả

KHÁI QUÁT VĂN HỌC MĨ LA TINH

 

1.THỜI KỲ THUỘC ĐỊA (1492-1826)

1.1 Thời kỳ chinh phục (1492-1600)

1.2 Văn học thuộc địa

1.3 Văn học nổi dậy (1808- 1826)

2.THỜI KỲ HÌNH THÀNH VĂN HỌC MỸ LA TINH (1826-1910)

2.1 Văn học lãng mạn

2.2 Chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự nhiên

2.3 Văn học hiện đại chủ nghĩa

3.VĂN HỌC THẾ KỶ XX

3.1 Văn học tiên phong

3.2 Văn học phản kháng xã hội

3.3 Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và các khuynh hướng mới

Văn học khu vực Mĩ La tinh gây chú ý cho công chúng thế giới từ nửa thế kỉ qua, Việt Nam từ hơn 20 năm qua (đặc biệt từ năm 1986 khi cuốn Trăm năm cô đơn của G.G.Marquez được xuất bản do dịch giả Nguyễn Trung Đức dịch và Nhà xuất bản Ngoại văn Hà Nội ấn hành).

Cũng như mọi nền văn học chân chính, văn học Mĩ La tinh đã phản ánh được tâm thức của con người dân tộc Mĩ La tinh, nêu vấn đề của thời đại và sáng tạo một thành tựu nghệ thuật mới. Cụ thể họ đã thưc sự bàn đến những vấn đề cơ bản sau:

Nhu cầu liên kết của các nước nhỏ thành khối lớn hơn để đương đầu với nước lớn trong quan hệ chính trị kinh tế xã hội toàn cầu cũng đang đặt ra cấp bách. Nhà văn bằng tiếng nói nghệ thuật độc đáo của mình cũng tham gia vào quá trình đó với tiếng nói riêng.

Văn học Mĩ La tinh góp phần đặt vấn đề và thử giải quyết hai vấn đề, đồng thời khẳng định dòng văn học hiện thực mang tính huyền ảo – một thành tựu văn học mới mẻ.

Một mâu thuẫn đang tồn tại trong lối sống Mĩ La tinh cũng tồn tại trong nhân loại là: trong khi sự giao lưu hội nhập trên phạm vi thế giới càng tăng thì lối sống cô đơn khép kín, vị kỉ (hay nói cách khác là chủ nghã cá nhân) cũng có chiều hướng gia tăng.

Như vậy, văn học Mĩ La tinh, đặc biệt là dòng tiểu thuyết mới, đã mang cả hai tính thời sự: thời sự của cuộc sống loài người nói chung và thời sự văn học nghệ thuật nói riêng. Một hiện tượng văn học nghệ thuật chân chính phải mang cả hai tính chất ấy.

Từ những năm 60, tiểu thuyết Mĩ La tinh xuất hiện như “quả bom” dội vang dư luận Âu Mỹ khiến người ta ngạc nhiên coi nó như một hiện tượng thần kì. Văn xuôi Mỹ La tinh nửa thế kỉ trước còn nằm ngoài rìa nền văn học lớn của nhân loại, nay đột ngột bước lên tiền đài của  văn học thế giới . “Một châu lục không phát triển về mặt kinh tế và bị áp bức đã cung cấp cho loài người một nền  văn học có chất lượng cao như thế, “đó là một sự ngạc nhiên”, nhà văn Ros Bastos ngườiParaguayđã nhận định như vậy.

Giới nghiên cứu văn học thấy cần phải tìm hiểu cơ chế nảy sinh ra “sự thần kì đó”. Họ muốn thấu hiểu đặc trưng nghệ thuật và xã hội của nó, từ đó mới có thể đánh giá một cách khách quan. Tiểu thuyết mới của Mĩ La tinh là cái gì? Đâu là những tiêu chí và ranh giới phạm vi của nó? Sự khác biệt của nó so với tiểu thuyết châu Âu và tiểu thuyết Tây Ban Nha là gì?

Fernandez Retamar, nhà phê bình văn học Cubađã trả lời câu hỏi đó một cách đơn giản nhất “bản thân hiện thực của châu lục về nhân chủng học, địa lí, xã hội là thước đo duy nhất nét đặc thù của văn xuôi Mĩ La tinh”. Nhà phê bình Antonio Portuondo (Cuba) cũng viết: “tiểu thuyết Tây Ban Nha – Mĩ bao giờ cũng được nuôi dưỡng chủ yếu bằng thực tại xã hội của chúng tôi.” Nhà phê bình văn học Hoa Kì Brotherston cũng ủng hộ quan điểm đó, ông cho rằng đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết Mĩ La tinh là sự phản ánh đặc trưng dân tộc của châu lục này.

Muốn nghiên cứu nắm vững văn học Mĩ La tinh, chủ yếu là văn xuôi và phương thức sáng tác hiện thực huyền ảo của nó, chúng ta cần phải xem xét quá trình hình thành châu Mĩ và đặc điểm đất nước, dân tộc, xã hội của vùng đất này.

3.1. Khái quát sự hình thành châu Mĩ và Mĩ La tinh

Năm 1492 một thuyền trưởng Tây Ban Nha người gốc Italia tên là Christoph Columbus-con người dũng cảm đầy nghị lực đã được vua Fernando và nữ hoàng Isabeila giao nhiệm vụ tổ chức một chuyến tàu biển đi về hướng tây của Đại Tây dương nhằm mục tiêu cập bến bán đảo Ấn Độ. Mục tiêu cụ thể của chuyến đi lịch sử này là gì?

Trong nhiều thế kỉ dưới chế độ phong kiến trung cổ, tầm nhìn của người châu Âu bị bó hẹp trong khu vực Địa Trung Hải. Đại dương mênh mông bao la ở kề bên chỉ làm họ sợ hãi hơn là gợi trí tò mò. Các giai cấp phong kiến Tây Âu quen xài nhiều hàng xa xỉ như tơ lụa, hương liệu, đồ châu ngọc mua từ Ấn Độ sang. Hàng hoá này thường phải mua lại qua tay giới lái buôn Ả Rập độc quyền … Vàng bạc xứ Trung Hoa và Nhật Bản cũng có sức hấp dẫn kì lạ đối với giới vua chúa châu Âu. Những con người đi sang phía Ấn Độ – Trung Quốc – Nhật gọi là “con đường tơ lụa” lại hay bị người dân Thổ Nhĩ Kì ngăn chặn cướp cạn. Người Tây Âu băn khoăn, liệu có thể tìm một con đường biển an toàn đi tới phương Đông nhất là xứ Ấn được không? Chính sự ham muốn nguồn tơ lụa châu báu hương liệu rẻ của xứ Ấn đã trở thành động cơ thúc đẩy giai cấp phong kiến châu Âu cố tìm con đường biển đi tới xứ đó.

Trước Columbus đã có tới ba cuộc thám hiểm đi tìm Ấn Độ. Lần 1 và 2 đi tới mũi châu Phi, lần 3 đi tới phía tây Ấn Độ. Nhưng cả ba lần đều thiệt hại năng nề mà không kết quả.

Cuộc hành trình của Columbus với 90 thuỷ thủ qua nhiều ngày lênh đênh gian truân trên mặt biển Đại Tây dương (Atlantic) đã tới vùng đảo Bahamas, Cuba và một số đảo khác. Thuyền trưởng tưởng lầm rằng đã tới xứ Nhật Bản nên kiếm được một ít vàng và đường mía rồi quay trở về.Columbuscòn đi tiếp ba chuyến nữa, lần chót tới được bờ biển phía Đông của vùng Nam Mĩ – nơi đây ông đã nhầm tưởng là xứ Ấn Độ và gọi thổ dân xứ này là người Anh điêng (Indien: người Ấn). Chiến lợi phẩm ít ỏi mang về không làm hài lòng triều đình Tây Ban Nha. Thuyền trưởngColumbusbi bỏ rơi trong nghèo khổ lãng quên, và chết năm 1506 .

Về sau, nhà hàng hải người Tây Ban Nha (gốc Italia) là Amerigo tiếp tục đi thám hiểm theo lộ trình củaColumbus. Đến bờ biển Châu Mĩ, ông xem xét và kết luận đây không phải là xứ Ấn Độ . Nó là vùng đất hoàn toàn mới lạ đối với người châu Âu. Người ta đặt tên cho châu lục mới này là Amerigo, về sau đổi lại là “America” cho thống nhất với cách gọi tên các châu lục khác (Europa – châu Âu, Africa – châu Phi và Asia – châu Á) .

Năm 1519, cuộc thám hiểm vĩ đại của Magellant – nhà khoa học người Bồ Đào Nha (đang phục vụ triều đình Tây Ban Nha) đã đi trọn vòng quanh thế giới và qua Nam Mĩ. Họ xác định một cách chắc chắn: có một châu lục mới – châu Mĩ, và vẽ vùng đất này vào bản đồ thế giới.

Đầu thế kỉ 16 những đoàn quân Tây Ban Nha vượt đại dương đi chinh phục miền Trung và Nam Mĩ .

Đến giữa thế kỉ 16, những đoàn vũ trang người Pháp tiến sang Bắc Mĩ, chiếm đấtCanada.

Sang thế kỉ 17, người Anh kéo sang chiếm miền duyên hải Bắc Mĩ, thiết lập các bang trên lãnh thổ Hoa Kỳ, sau đó mở rộng lên miền Tây sau những cuộc đổ xô đi tìm vàng…Cùng lúc đó người Ireland, Thuỵ Điển, Hà Lan, Đức …cũng kéo tới hội cư.

Chúng ta cần dõi theo quá trình xâm nhập và khai thác thuộc địa của người Tây Ban Nha (sau đó thêm người Bồ Đào Nha) trên vùng đất Trung Nam Mĩ và sự hình thành khu vực văn hoá Mĩ La tinh.

Trước khi người châu Âu đặt chân tới xứ sở mà họ gọi là lục địaAmericathì nơi đây đã có một nền văn minh cổ xưa riêng biệt. Chủ nhân của nền văn hoá đó là những người thổ dân đang sống trong giai đoạn phát triển cao của xã hội thị tộc. Ba quốc gia – bộ tộc Maya, Azteques và Incas đã có trình độ văn minh khá cao. Những nông dân  thành thạo trồng trọt. Thợ thủ công khéo tay sáng chế đồ vật bằng vàng, đồng, đá và kéo sợi dệt vải. Những thành trì cung điện rực rỡ, đền đài đồ sộ. Đây là những quốc gia độc lập có tôn giáo và nền văn hoá riêng trước khi người Tây Ban Nha đến.

Quân Tây Ban Nha chủ trương chiếm dần từng vùng, xoá bỏ hẳn từng quốc gia, biến thành thuộc địa. Mới đầu họ tiến hành “mua bán”, “trao đổi” những thứ mang theo như chai lọ thuỷ tinh, kiếng soi … và hàng xấp Kinh thánh Gia Tô để đổi lấy vàng bạc, đồ trang sức. Sau đó, họ tàn phá cung điện, đền đài, huỷ diệt tôn giáo bản địa, cướp bóc đồ vật quí hiếm. Họ bắt thổ dân đóng thuế bằng sản vật địa phương …

Trong cuộc chinh phục qui mô của thực dân, các giáo sĩ Thiên chúa giáo đã cộng tác đắc lực với giai cấp thưc dân. Họ ép dân bỏ tôn giáo cũ theo Thiên chúa giáo. Dưới bóng cây thánh giá, chúng đã thiêu sống nhiều người và đốt cháy nhiều làng mạc của bộ tộc da đỏ. Đứng đầu các “quốc gia mới” là các “phó vương Tây Ban Nha” – ông vua mới của vùng Mĩ La tinh.

Những đoàn thuyền Tây Ban Nha liên tục chở vàng bạc kim cương về nước. Sau khi vơ vét “của nổi”, bọn thưc dân tìm cách đào bới “của chìm”. Họ tìm cách khai mỏ, như mỏ bạc ởBoliviamỗi năm đào được 300 tấn bạc. Chúng cưỡng bách dân địa phương lao động quá sức và tàn sát những người chống đối. Hàng triệu người chết vì kiệt sức hoặc bị giết hại…Để tăng thêm lao động, bọn thực dân tổ chức tìm bắt hoặc “mua ép” người da đen ở châu Phi (vốn đang là thuộc địa của Tây Âu) đưa sang châu Mĩ làm nô lệ. Nhiều tháng trời lênh đênh trên mặt biển, những người châu Phi bị nhét dồn dưới hầm tàu, thiếu ăn uống và khí trời, khi tới châu Mĩ họ bị dồn vào các hầm mỏ và đồn điền mía, cà phê, ca cao…

Ngày càng nhiều dân chúng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha chuyển sang lập nghiệp ở châu Mĩ (vùng Trung Nam Mĩ). Chế độ cai trị thuộc địa bắt đầu. Người đàn ông thực dân kết hôn với phụ nữ bản xứ, lập nghiệp lâu dài hoặc định cư luôn. Qúa trình trộn huyết giữa các màu da trắng đỏ đen tạo ra nhiều sắc dân đa dạng hơn xưa. Đồng thời quá trình pha trộn  các nguồn văn hoá Âu, Phi và bản địa cũng diễn ra. Trong khi đang sản sinh những yếu tố văn hoá mới, người dân Mĩ La tinh vẫn xem văn hoá châu Âu là nguồn chính, tiếp tục là nguồn sữa nuôi dưỡng các nền văn hoá Trung Nam Mĩ. Người dân gốc lục địa Âu vẫn hướng về quê cũ để học tập, cho con cái về “du học” ở xứ sở cội nguồn. (f)

Khi các quốc gia thuộc địa ở châu Mĩ hình thành thì liên tục xảy ra những cuộc đấu tranh giành độc lập khỏi ách cai trị của thực dân Tây Âu (thực ra là đấu tranh ly khai với mẫu quốc), đấu tranh dai dẳng hàng thế kỉ.

Mở đầu thành công là sự thành lập Hiệp chủng quốc Hoa Kì 1776 (The United States of America) rồi đến Cannada tiếp tục lan rộng khắp Trung và Nam Mĩ. Thuộc vùng Bắc Mĩ, nền văn hoá Hoa Kì phát triển mạnh, có nhiều thành tựu văn học tuy đã có phong cách riêng nhưng vẫn mang tính Âu châu khá rõ nét.

Khu vực Mĩ La tinh (do việc truyền giáo dùng văn tự La tinh nên vùng trung nam Mĩ được gọi là Mĩ La tinh) bao gồm 24 quốc gia sau: Argentina, Bahamas, Bollivia, Brasil, Cuba, Costa Rica, Colombia, Chile, Ecuador, Elsanvado, Guatemala, Grenada, Guyana, Haiiti, Honduras, Jamaika, Mexico, Nicaragua, Panama, Paraguay, Tobago, Trinidad, Uruguay, và Venezuela. Tất cả nói tiếng Tây Ban Nha, riêng vùng Brasil nói tiếng Bồ.

Nước Cubasau khi thoát khỏi ách thực dân Tây Ban Nha đã tiến thẳng lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hầu hết các nước khác chọn con đường tư bản chủ nghĩa với tư tưởng tư sản dân tộc (chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa Peron chống phụ thuộc và chống bành trướng Hoa Kì). Tư tưởng Mác- Lê nin cũng đã thâm nhập vùng này. Nhiều đảng cộng sản hoạt động hợp pháp ở một số nước. Có thể nói vùng Mĩ La tinh chứa đựng hầu hết những hệ ý thức tư tưởng của nhân loại, chủ nghĩa đa nguyên tư tưởng về chính trị là một đặc điểm của vùng đất này. Có thể tin rằng lục địa Mĩ La tinh là một “bảo tàng sống” những mô hình lịch sử nhân loại. Nơi đây vẫn còn tồn tại phương thức sống thời nguyên thuỷ, nô lệ, phong kiến, tư bản và xã hội chủ nghĩa. Trong một nước cũng chứa đựng cả những hệ tư tưởng trái ngược nhau. Những thành phố lớn hiện đại tiện nghi cao cấp, sang trọng cách không xa là những bộ lạc sống gần như hoang dã, nghèo khổ, mông muội và man rợ. [Chẳng hạn một nghi lễ tín ngưỡng như sau còn tồn tại: nghi lễ tế thần mùa Xuân ở vùng trung du Colombia. Đầu vụ trồng trọt chăn nuôi, dân làng chọn một đôi nam nữ khoẻ mạnh  xinh đẹp làm vật tế thần. Ngày lễ, dân làng tập trung quanh một bãi cỏ rộng, phẳng lì, ai nấy cầm sẵn dao, mác trên tay. Đôi trai gái ưu tú “được chọn”  bị dẫn vào giữa bãi cỏ, trút bỏ quần áo và giao hoan trước sự chứng kiến của mọi người. Đến một thời điểm nào đó, người chỉ huy đứng kề bên đôi trai gái hô lên một mệnh lệnh. Đám dân chúng reo hò xông vào đâm chém vằm nát hai con người hạnh phúc kia. Phút chốc họ trở thành đám thịt nhão đầm đìa máu. Mỗi người dân giành lấy một nắm chạy đi rải vào đồng ruộng, chuồng gia súc để cầu mong mọi vật sinh sôi nảy nở nhiều.]

Về mặt dân tộc học, người ta rút ra vài đặc tính đáng chú ý: dân Mĩ La tinh ít bảo thủ, nhạy bén, khí chất nồng nàn mãnh liệt đến độ bạo liệt, vừa “hiện sinh” lại vừa “cô đơn”, vừa hâm mộ khoa học lại vừa sùng tín đạo Thiên chúa, kể cả những nhà khoa học.

 

3.2  HAI DÒNG VĂN HỌC THẾ KỶ XX Ở VÙNG MĨ  LA TINH

3.2.1 Dòng văn học theo chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt, tiếp nối truyền thống Tây Âu thế kỉ XIX

Khuynh hướng văn học này nối tiếp văn học hiện thực phê phán của Tây Âu thế kỉ XIX, tất nhiên phản ánh được hiện thực Nam Mĩ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Truyện ngắn, đặc biệt tiểu thuyết có lối viết trong sáng, ngắn gọn, trực tiếp với lối viết quen thuộc. Nó miêu tả hiện thực Mĩ La tinh khá chính xác về chi tiết, bám sát địa bàn và sự kiện có thật, tất nhiên vẫn có hư cấu như mọi tiếu thuyết. Tiêu biểu là tiểu thuyết “Nô tì Isaura” của nhà văn Bernador, “Những con đường đói khát”, “Đất dữ”, “Ca cao”, “Miền đất quả vàng”, “Tereza” của George Amado. Bên cạnh đó, còn có những tác phẩm tiêu biểu của Gabriel Gaccia Marquez (Ngài đại tá chờ thư, Trăm năm cô đơn…), nhà văn Cuba Carpentier với truyện “Vương quốc trần gian”, thơ ca của Pablo Neruda v.v…

Nhìn chung, dòng văn học hiện thực phê phán Mĩ La tinh chưa có những cách tân đáng kể về thi pháp nhưng cũng có giá trị trình bày hiện thực tàn khốc của vùng đất và con người xứ sở này.

Nội dung chính là trình bày dòng văn học thứ hai: dòng văn học hiện thực huyền  ảo cùng với phương thức sáng tạo nghệ thuật của nó.

Jorge Amado – vị hoàng đế của văn học Brazil

Trong lịch sử văn học Brazil, không có nhà văn nào nổi tiếng, có uy tín và nhiều độc giả như Jorge Amado. Bằng những tác phẩm văn học và hoạt động chính trị không mệt mỏi, nhà văn cộng sản này đã được sự ngưỡng mộ của tầng lớp người nghèo khổ, người da đen bị áp bức và cũng có không ít kẻ thù . Nhà văn nổi tiếng nhất Brazilvới hơn 40 tác phẩm được dịch ra 54 thứ tiếng trên thế giới đã từ trần tại thành phố quê hương Salvador, bangBahia,  thọ 88 tuổi.

 

Nhân vật chính là nhân dân: hầu hết những tiểu thuyết của Jorge Amado đều được thai nghén tại thành phốSalvador, thủ phủ bang Bahia thuộc vùng Đông Bắc vốn là thủ đô của Brazilcho đến năm 1763.

Ra đời năm 1912 trong ngôi làng Ferradas, con một nông dân trồng ca cao, J. Amado trải qua thời thơ ấu trong một khu phố nghèo  của Salvador mà mọi đường phố, ngôi nhà giờ đây vẫn gợi nhớ về quá khứ thuộc địa của Bồ Đào Nha từ thế kỷ 17. Hàng năm, hàng ngàn, hàng vạn người hâm mộ ông vẫn hành hương tới đây để được sống trong không khí mà nhà văn đã mô tả rất sống động trong các cuốn tiểu thuyết của ông. Năm 1989, trong một lần trả lời phỏng vấn, Jorde Amado bộc bạch: Các cuốn sách của tôi đều nhằm tái tạo thực tếBrazil, tái tạo cuộc sống của nhân dân. Tất cả các chủ đề đều phát sinh từ thực tế. Các nhân vật của tôi đều từ nhân dân mà ra.

Là một nhà văn cộng sản kiên cườnghiến mình cho sự nghiệp giải phóng người nghèo khổ, Jorge Amado bắt đầu cuộc chiến đấu từ nghề làm báo năm 14 tuổi. 5 năm sau, ông xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên Đất nước ngày hội Carnaval (1931) trong khi đang học luật tại Rio. Tuy nhiên, Amado không hề hành nghề luật sư  mà tự nguyện đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng sản Brazil, đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng người nghèo. Cho đến những năm 1950 của thế kỷ trước, hàng loạt tác phẩm của Amado viết về người nghèo đã ra đời như: Sertao, Cacao (1933), Mồ trôi (1934), Jubiala (1935), Biển chết (1936), Xứ Bahia của những vị thánh (1935) v.v… Đến cuối những năm 50, các tác phẩm của Amado có một bước ngoặt sang hướng trào lộng và phê phán mà ông tự nhận là theo chủ nghĩa hiện thực XHCN. Các cuốn tiểu thuyết Gabriela, Cravoe Canela (1958) hoặc Dona Flor và hai người chồng (1966) nói lên sức sống mãnh liệt của nhân dân Brazil. Đây là 2 cuốn tiểu thuyết được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới, kể cả ở Việt Nam (cuốn  Dona Flor và hai người chồng do NXB Đà Nẵng ấn hành năm 1987) và được dựng thành phim năm 1977 và 1984 do các nghệ sĩ tên tuổi Marcello Mastroianni và Sonia Braga thể hiện.

Là nghị  sĩ cộng sản của bang Sao Paulo, Amado đã nhiều lần bị cầm tù và phải sống lưu vong nhiều năm ở nước ngoài, lần đầu tiên tại Argentina trong những năm đầu 1940, lần thứ hai năm 1946 và năm 1948 sang Paris, nơi đây ông gặp các nhà văn Pháp J. P. Sartre, Aragon và danh họa Tây Ban Nha Picasso. Năm 1950, ông sang Tiệp Khắc viết tác phẩm Thế giới và Hòa bình đoạt giải thưởng  Hòa bình Quốc tế. Ông còn được  nhiều giải thưởng  khác  trong đó có giải thế giới Cinodel Luca năm 1990.

Các tác phẩm hiện thực XHCN kiểu Braziltố cáo những bất công xã hội mà Amado tâm đắc có Những vùng đất tận cùng thế giới và bộ tiểu thuyết 3 tậpHầm ngầm của tự do. Đó là những tác phẩm tâm huyết  của Amado mà mọi sự hành hạ về thể xác và tinh thần của chế độ độc tài vẫn không thể  làm nhà văn nhụt chí.

Đã nhiều lần được đề cử giải, nhưng do bị thành kiến, Amado chưa lần nào đoạt giải. Giải duy nhất cho đến nay dành cho một nhà văn tiếng Bồ Đào Nha là ông José Saramago. Năm 1998, đất nướcBrazilcủa Amado là khách mời danh dự tham gia Hội chợ Triển lãm sáchParistrong đó tên tuổi Amado được tôn vinh xứng đáng. Sự có mặt của vị hoàng đế thành phốSalvadortại hội chợ được coi là một sự kiện có ý nghĩa. Những thành công của Amado có phần đóng góp không nhỏ của bà Zélia Gattai, người bạn đời cũng là một nhà văn và nhà trí thức  có tên tuổi ởBrazil.

Những tác phẩm tiêu biểu của Amado đã được dịch  được sang tiếng Việt. Đúng như lời nhà văn Ilya Ehrenburg Liên Xô từng nói: Tất cả chúng ta đều yêu mến Jorge Amado. Chúng ta hết sức  tôn trọng ông. Độc giả Xô viết coi tác phẩm Hầm ngầm của tự do như bộ tiểu thuyết Chiến tranh và Hòa bìnhcủa Lev Tolstoi. Nhà văn Pháp Albert Camus (1913 – 1960), tháng 4-1939, từng đánh giá cuốn Xứ Bahia của tất cả các vị thánh của Amado là một bộ tiểu thuyết hoành tráng làm ngây ngất lòng người. Camus viết thêm: “Điều cuối cùng tôi muốn nói là Jorge Amado viết tác phẩm này khi mới 23 tuổi”. Với cuốn Dona Flor và hai người chồng, ông Camus viết “Nó đã vượt qua câu chuyện đạo đức, câu chuyện tình yêu  của nàng Dona Flor để trở thành cuộc chiến khủng khiếp giữa tinh thần và vật chất như chính lời Jorge Amado đã nói”.

Giới thiệu tiểu thuyết “Đất dữ”.

Đất vốn hiền từ nhẫn nại nuôi sống con người từ thuở sơ khai, sở dĩ trở thành đất dữ bởi sống trên đó là những con người tham lam, sẵn sàng giết nhau vì thứ phúc lợi mà đất mang lại cho con người. Đất dữ của H.Amađô thuật lại tấn bi kịch của nền kinh tế cao, quá trình chiếm đất của bọn chủ đất phong kiến hồi đầu thế kỷ. Chính bọn chúng đã đẩy những cuộc tranh giành lãnh địa thành những cuộc chiến đẫm máu, nhưng nạn nhân cuối cùng lại là những người dân nghèo. Đất dữ còn là thông điệp của tác giả gửi tới loài người: Con người chỉ có thể sống tự do và bình đẳng khi mọi phúc lợi vật chất trên thế gian này đều được phân phối một cách công bằng.

3.2.2. Dòng văn học theo chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mĩ La tinh

            Trong mấy thập kỉ cuối thế kỉ XX, giới nghiên cứu văn học châu Âu và vùng Mĩ La tinh đã có nhiều công nghiên cứu với những quan điểm lí giải khác nhau. Dưới đây chúng tôi lựa chọn một số ý kiến tiêu biểu.

Nhà phê bình P. Trigo (Venezuela) đánh giá văn xuôi Mĩ La tinh bằng công thức: “khát vọng hướng tới hiện thực được chuyển thành khát vọng hướng tới ngôn ngữ”. Nghĩa là, nhà văn muốn thâm nhập vào thực chất của sự vật thông qua hình thức của chúng. Họ hướng tới tính quái dị và tính siêu thực của chúng. Tiểu thuyết Mĩ La tinh đầy sức sống, không hướng tới nhân vật mà hướng tới tình huống, hoàn cảnh.

Nhà phê bình James Joy (Bắc Ailen) phác thảo ra 7 đặc điểm của văn xuôi Mĩ

La tinh trong sự so sánh với tiểu thuyết hiện thực Tây Âu:

Nhà văn muốn và có ý thức tách khỏi tiếu thuyết Tây Âu thế kỉ XIX .

Họ tìm tòi táo bạo và thể nghiệm tác phẩm trong những tình huống đa dạng nhất, họ sử dụng lối kết cấu đa thanh, bố cục của nghệ thuật điện ảnh, dòng ý thức, lối đối thoại cùng một lúc.

Từ bỏ truyền thống ngôn ngữ vì phê bình chúng là bất lực và chỉ biết nhái lại thực tiễn, họ biến đổi ngôn ngữ văn xuôi rất mạnh dạn.

Nhà văn không chỉ đặt ra những vấn đề tư tưởng mà còn nêu ra những vấn đề thẩm mĩ nữa.

Theo họ, không có sự đối lập giữa thành thị và nông thôn.

Các nhân vật của họ không có tính định trước theo khuynh hướng hẹp hòi.

Nhà văn cố gắng miêu tả hình tượng hiện thực một cách trọn vẹn.

Nhà nghiên cứu Emir Rodrigues (Uruguay) thì nhận xét một cách thất vọng: “tiểu thuyết mới Mĩ La tinh là một cái không đồng nhất và không thể định nghĩa một cách rành rọt về lí luận”. Ông cho rằng tiểu thuyết Mĩ La tinh đi theo “chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa hiện đại” (những khuynh hướng văn học Tây Âu nửa đầu thế kỉ XX hoặc “chủ nghĩa tự nhiên” cuối thế kỉ XIX).

Những năm cuối thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu Âu Mĩ có nhiều cố gắng làm sáng tỏ đặc trưng của “tiểu thuyết mới Mĩ La tinh”. Nhà phê bình Ferandez Retama (Cuba) đã tuyên bố: “càng ngày càng thấy rõ rằng, không thể lí giải nó bằng những khái niệm cũ của những nền văn học khác”.

Và nhiều nhà nghiên cứu đã nêu lên những khái niệm mới “barokko mới” và “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” (hoặc huyền diệu).

Năm 1975, giảng bài tại Trường Đại học Tổng hợp Karakas (Venezuela), giáo sư nhà văn Cuba Carpentier đã cố gắng trình bày ngắn gọn hai khái niệm “tính barokko” và “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” và khẳng định đó là hai nhân tố quan trọng xác định một cách dứt khoát tính chất và nội dung của nghệ thuật Mĩ La tinh. Carpentier so sánh “Khác với phong cách Gotique, phong cách Roman và chủ nghĩa cổ điển vốn là những phong cách nghệ thuật có tính nhất thời về mặt lịch sử nghệ thuật, barokko mang tính phi thời gian, có tính tuyệt đối”. Chống lại những ý kiến nói về bản chất suy đồi của barokko, giáo sư nhấn mạnh: “Đó là nghệ thuật của sự vận động, của sự xung đột, nghệ thuật phục tùng sự ly tâm. Nó xuất hiện ở nơi nào có sự chuyển hoá và đổi mới.” Giáo sư đánh giá cao thánh đường Vasilij Blazhenyj ở nước Nga, “đó là một trong những mẫu mực tuyệt tác nhất của nghệ thuật Borokko Nga”.

Châu Mĩ là miền đất hứa của tính barokko vì châu lục này luôn luôn ở trong trạng thái vận động. Mỗi sự cộng sinh, mỗi cuộc lai giống đều trở thành mảnh đất màu mỡ cho sự nảy nở phong cách barokko. Có thể nói bản thân hiện thực Mĩ La tinh có tính barokko nên nghệ thuật của nó cũng mang tính barokko.

Tính Barokko mới là gì ?

Barokko tiếng Bồ Đào Nha là tên một thứ ngọc trai có hình thù kì dị. Nhìn từ các góc độ khác nhau thấy bề mặt rậm rạp, lấp lánh huyền ảo và kì thú.

Từ thế kỉ 16 và 17 ở Tây Âu đã xuất hiện trào lưu nghệ thuật tạo hình (kiến trúc, hội hoạ) gọi là Baroque nhằm chống lại lối kiến trúc Gothique. Nếu kiến trúc của Gothique có tính chất đường bệ cân đối vững chắc hài hoà lộng lẫy tĩnh lặng và vĩnh cửu thì kiến trúc Baroque coi trọng bề mặt, ưa tạo đường cong xoáy ốc, gợi ra sự vận động linh hoạt…Từ nghệ thuật kiến trúc, Baroque lan dần sang văn chương, âm nhạc, từ Tây Âu qua Nga tới Ấn Độ. Văn chương Baroque xuất hiện yếu ớt ở Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức, Pháp…và chưa đủ sức trở thành một trào lưu và phương thức sáng tác đáng kể. Tuy vậy, khi mới bắt đầu nhen nhóm tính Baroque trong văn học thì văn học lãng mạn đi tiên phong với nhà văn Lope de Vega, Kalderon, Gogonru…mà theo Carpentier:

“Các nhà lãng mạn là những người hành động, những người tấn công, những người có sự vận động của ý chí, của sự tự khẳng định và phẫn nộ. Cảm hứng lãng mạn của Baroque là sự thể hiện cực kì phong phú của nền văn minh, nó bay bổng và bộc lộ cảm xúc mãnh liệt”.

Những tư tưởng của Carpentier được đa số giới phê bình nghiên cứu ủng hộ. Người ta tin rằng tính Baroque là một đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Mĩ La tinh. Đề tài “barokko và barokko mới” đã được thảo luận tại phiên họp đầu tiên của Hội nghị lần thứ 27 của Viện Văn học thế giới (Mĩ) với hơn 50 bản tham luận. Mỗi người tham dự đưa ra một khái niệm Barokko theo ý riêng, do đó chưa thống nhất được.

Khuynh hướng phê phán chỉ trích “tiểu thuyết mới” thì cho rằng “hiện thực được phản ánh trong tiểu thuyết rất lộn xộn và do đó mang tính Baroque. Rằng đó là ví tác giả đã đem cấu trúc phi logic và phản thực tế, phá vỡ những mối liên hệ nhân quả và tuyến thời gian. Dẫn chứng các tiểu thuyết “Gia đình xa xôi” của Fuentaz, “Buổi hoà nhạc Barokko” của Carpentier và “Kí sự về một cái chết được báo trước” của G.Marquez.

Chưa có một nhà tiểu thuyết nào đã thể hiện được một cách đầy đủ tính cách của người công dân Tân thế giới (New World – châu Mĩ).

Nhà phê bình Natalia (người Mĩ) đã nêu được một hệ thống dấu hiệu tính Barokko của tiểu thuyết Mĩ La tinh như sau:

Sự tìm tòi tất cả những cái mới và cái lạ thường

Cường điệu phóng đại, ngoa dụ

Sự hư cấu và rối rắm về tư tưởng, hướng tới một thiểu số trí tuệ.

Cảm thụ rất chủ quan đối với hiện thực.

Sự rắc rối của phong cách

Văn thể hiện sự mất cân bằng về tinh thần, sự hư vô và sự thất vọng, bi quan.

Nhìn chung, đa số nhà nghiên cứu vẫn khẳng định giá trị của “Barokko mới”, như bà Rumb nhà nghiên cứu – giáo sư Đại học tổng hợp California – đã coi việc nắm bắt hiện thực trong toàn bộ chỉnh thể sâu sắc của nó là đặc điểm chủ yếu của barokko Mĩ La tinh. Bà khẳng định rằng “tính barokko đó không chỉ là sự coi trọng “sự vận động””. Thực chất, đó là một cái gì lớn lao hơn thế. Ý đồ nắm bắt dòng hiện thực sống động, mãnh liệt trong tính toàn vẹn của nó đã thôi thúc Carpentier, ông quan tâm đến cuộc sống trong mọi biểu hiện của nó. Ông đã đoạn tuyệt với cách viết tiểu thuyết hiện thực truyền thống.

Những quan niệm khác nhau về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo

Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (CHHTHA) là phương pháp, khuynh hướng, trường phái, thế giới quan hay phong cách? – Chưa có được một lời giải đáp thoả đáng cho những câu hỏi đó. Tuy vậy, nó vẫn được sử dụng trong phê bình văn học, thậm chí còn rộng rãi hơn trước. Mọi công trình nghiên cứu về các tác gia lớn như Carpentier (Cuba), GG.Marquez (Colombia), Ros Batoz (Brasil) đều phải dùng thuật ngữ “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” (Magic realisme).

Vinh dự phát minh ra thuật ngữ này thuộc về nhà nghiên cứu nghệ thuật người Đức là Frans Roh. Năm 1925 ông đã dùng thuật ngữ này nói về hội hoạ của chủ nghĩa biểu hiện. Ở châu Mĩ La tinh, thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng trong văn học là năm 1948 do nhà phê bình nổi tiếng Uslar Retri (người Venezuela) khi phân tích một trong những truyện ngắn. Ông nêu lên tính chất tổng hợp lạ thường giữa cái hiện thực và cái huyền ảo / bí ẩn. Nhà phê bình viết rằng: “Đó là cái không thể gọi bằng từ nào khác chủ nghĩa hiện thực huyền ảo”.

Nhà văn giáo sư Carpentier lại thôi thúc mạnh mẽ nhằm truyền bá thuật ngữ đó hơn ai hết. Trong Lời nói đầu cuốn tiểu thuyết Vương quốc trần gian của mình (năm 1949) ông đã nói đến cái “tính hiện thực của cái kì diệu” hoặc “hiện thực thần kì” .

Những công trình nghiên cứu văn học Mĩ La tinh gần cuối thế kỉ 20 về CNHTHA gồm 3 nhóm chính:

Nhóm thứ nhất

Nhóm ý‎ kiến được phổ biến rộng hơn cả, cho rằng CHHTHA là một khuynh hướng văn học được phát triển trực tiếp từ chủ nghĩa siêu thực của văn học Pháp đầu thế kỉ 20. Bà Auor Ocampo – nhà nghiên cứu văn học người Mexico không những đã đặt cơ sở văn học sử mà còn đặt cơ sở sinh lí học cho CNHTHA. Trong bài tham luận, bà đưa ra những lời xác nhận của các bác sĩ thần kinh, tâm thần về vai trò chủ yếu của giấc mộng trong hoạt động cơ thể, rằng “giấc mộng là một trong những nhịp điệu chủ yếu của hoạt động sống”. Từ đó tác giả kết luận: “cả chủ nghĩa siêu thực lẫn CNHTHA đều nảy sinh trên mảnh đất của nó, đều là biểu hiện tính hiện thực của sự tồn tại con người. Khác nhau ở chỗ, chủ nghĩa siêu thực phù hợp với cái vô thức của cá nhân và tư tưởng Freud còn CNHTHA thì phù hợp với cái vô thức của tập thể và tư tưởng triết học Jung”. Nhà nghiên cứu Langovski nêu ra ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực  đối với toàn bộ tiểu thuyết Mĩ La tinh hiện đại, gồm các nội dung:

  1. Tinh thần “nổi loạn” chống lại những quy tắc của tiểu thuyết Tây Âu.
  2. Khát vọng tìm kiếm cái kì diệu khi đi sâu vào cái vô thức
  3. Tính ẩn dụ nổi bật và tính hình tượng kèm theo sự rối rắm về cú pháp
  4. Sự sùng bái tính phi lí của “hài hước đen”
  5. Lối tự sự biến hiện thực thành phi hiện thực (thủ pháp)
  6. Những biện pháp tu từ đặc biệt (hồi cố, montage / chồng chéo kiểu điện ảnh)
  7. Việc sử dụng thời gian không tuyến (nhiều loại thời gian, đảo lộn, chồng chéo hình ảnh).

Nhóm thứ hai

Việc lí giải CNHTHA là sự kêu gọi trả lại ý nghĩa đúng đắn cho tiểu thuyết Mĩ La tinh và chỉ áp dụng thuật ngữ đó cho Mĩ La tinh. Nhóm này phát triển ý kiến của Caperntier (không chấp nhận ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực Pháp với tính hiện thực của cái kì diệu) rằng “thế giới của cái kì diệu, khi người ta định đưa nó vào cuộc sống với thái độ không tín ngưỡng như các nhà siêu thực đã làm bao nhiêu năm nay, đã và sẽ chỉ là một ảo thuật văn học”. James Roy và Pedro Trigo cho rằng: “tính hiện thực của cái kì diệu là là thuộc tính riêng của tiểu thuyết Mĩ La tinh chứ không phải sự vay mượn những khám phá của chủ nghĩa hiện đại”. Đáng chú ý là cuốn sách của nhà nghiên cứu nhà văn Antonio Bravo (Peru) nêu lên tám bộ phận hợp thành của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo  gồm tựu trung hai nhân tố:

Niềm tin: người ta tin vào một cái gì đó mang tính siêu nhiên, nó giao kết với tín đồ. Sự giao kết ấy là cái kì diệu (niềm tin của nhà văn, của người đọc và của nhân vật vào cái kì diệu ấy).

Cảnh vật, lịch sử, các sự kiện được bao phủ bằng tấm màn bí ẩn huyền diệu. Antonio lại chia chúng ra ba phần:

1.   Phong cảnh môi trường huyền bí.

2.   Nhân vật:

–  Có những phẩm chất siêu nhân

–  Có hành động khác thường

–  Những người quan sát cái kì diệu và những người có niềm tin vào cái kì diệu.

3.  Những sự kiện phi thường.

Tiếp đó tác giả lại áp dụng sơ đồ ấy vào ba cuốn tiểu thuyết tiêu biểu: “Trăm năm cô đơn” của G.G. Marquez, “Vương quốc trần gian” của Carpentier và “Pedro Paramo” của  J. Russo. Antonio cho rằng đi theo chiều hướng “tính hiện thực của cái kì diệu” nhà văn không chỉ kết hợp cái có thực và cái kì diệu mà còn “đấu tranh với tính hiện thực”. Tác giả nhấn mạnh rằng “phóng đại, cường điệu là thủ pháp chủ yếu của cuộc đấu tranh với hiện thực, tức là cải tạo hiện thực bằng nghệ thuật”. Theo ông, tất cả những chủ đề chính của tiểu thuyết Mĩ La tinh hiện đại gồm: cái chết, tình yêu, du ngoạn, lòng căm thù, chính trị và sự cô đơn đều được xử lý bằng thủ pháp cường điệu phóng đại.

Nhóm thứ ba

Đây là cách tiếp cận “dân tộc học” được thể hiện trong luận án tiến sĩ của nhà nghiên cứu Ortiz Aponte (Puertorico) với tên đề tài là “CÁI SIÊU NHIÊN TRONG VĂN XUÔI MĨ LA TINH”. Nhà nữ nghiên cứu đã xuất phát từ một tiền đề hoàn toàn hợp lí: “nếu như trong tiểu thuyết Mĩ La tinh chứa đầy những cái kì diệu chính là vì trong thực tế có nhiều điều kì diệu”. Nhưng khác với Carpentier và những môn đồ của ông, bà quan niệm về những phạm trù “hiện thực” và “kì diệu” không phải với tất cả vẻ dị dạng của nó mà là rất hẹp như một tầng nền của những tín ngưỡng cụ thể, những nghi lễ, huyền thoại, những cách thờ cúng còn giữ lại được cho đến ngày nay. Chính những tầng văn hoá còn được tồn tại ấy đã thăng hoa trong văn học dưới hình thức “chủ nghĩa hiện thực huyền diệu”. Luận án tiến sĩ này đã kết hợp phương pháp và tư liệu của hai bộ môn khoa học “dân tộc học” và “ngữ văn”. Phần đầu, tác giả điểm lại một cách tổng quát dưới dạng dân tộc học những phong tục thờ cúng đa dạng lưu truyền trên lãnh thổ châu Mĩ. Phần hai, bà thử đem chúng đối chiếu với những tác phẩm của các nhà văn tiêu biểu ở Mĩ La tinh.

Một tuyển tập luận văn của tác giả Francoise Perus (người Pháp quốc tịch Mexico) vừa được xuất bản được chú ý đặc biệt và được trao giải thưởng của nhà xuất bản Cuba Casa de Las America. Cuốn sách có vẻ biệt lập khác những công trình đã trình bày ở trên, được coi là theo khuynh hướng macxit – duy vật biện chứng trong công việc nghiên cứu văn học Mĩ La tinh. F. Perus xuất phát từ luận điểm cho rằng: trong lĩnh vực phê bình hiện đại vẫn đang diễn ra cuộc đấu tranh không ngừng giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật. Luận điểm này đã dẫn bà tới cuộc bút chiến. Theo bà, những trào lưu duy tâm tập hợp xung quanh hai quan niệm chính: quan niệm thứ nhất dựa trên sự tuyệt đối hoá vai trò của cá tính sáng tác và phạm sai lầm tách chủ thể ra khỏi khách thể và tách ý thức cá nhân ra khỏi ý thức xã hội. Quan niệm thứ hai thì dựa trên sự tuyệt đối hoá phong cách, hình thức, ngôn ngữ của tác phẩm văn học.

Tranh luận với những nhà phê bình thiên về lối nhìn đặc điểm folklore của tác phẩm văn học tách rời sự tồn tại lịch sử, Perus khẳng định luận điểm “trong văn học không có những giá trị và những nhận định vĩnh cửu bất biến”, bà quả quyết rằng: tất cả những thông số thẩm mĩ của văn chương đều do tính cụ thể và gắn liền với một thời đại nhất định.

Từ quan điểm đó tác giả nhìn nhận đặc trưng của tiểu thuyết Mĩ La tinh hiện đại. Cao trào của văn học mới ở vùng này được bà giải thích bằng những nhân tố xã hội – chính trị và gắn với cách mạng: sự nở rộ của văn chương Mĩ La tinh đã gắn bó mật thiết với thắng lợi của cách mạng Cuba – cuộc cách mạng làm thay đổi cơ bản vai trò của Mĩ La tinh trên vũ đài quốc tế. Nó cũng được tạo ra bởi sự đoàn kết của lực lượng dân chủ và chống đế quốc khiến người ta nhận ra rằng: số phận của họ trực tiếp gắn liền với cuộc đấu trang giải phóng dân tộc của các nước dang phát triển  (trang 11)

Vấn đề xác định đặc trưng của Tiểu thuyết mới Mĩ La tinh vẫn còn tiếp tục. Chừng nào thiết lập được cơ sở vững chắc cho việc khái quát về mặt loại hình tác phẩm của văn xuôi Mĩ La tinh hiện đại thì những thuật ngữ như “barokko mới, hiện thực huyền ảo”, “tính hiện thực của cái huyền diệu” sẽ được chọn hoặc thay thế.

Tuy nhiên chúng tôi cũng chọn lấy những quan niệm tương đối phổ biến hiện nay để trình bày thành tựu văn học Mĩ La tinh thế kỉ 20.

Quan niệm hiện thực và cảm hứng chủ đạo của nhà văn

Theo nhà văn Mĩ La tinh, hiện thực là tất cả cuộc sống thực tại bao gồm mọi hoạt động của con người, kể cả đời sống tâm linh (niềm tin tôn giáo, mộng mị, thần giao cách cảm, trí nhớ di truyền, lời nguyền…). Tóm lại, hiện thực là tất cả những gì mà cảm giác, trí tuệ con người có thể thu nhận được.

Do gắn bó sâu sắc với cộng đồng và thời đại, người trí thức luôn luôn bị giày vò đau khổ về tình trạng lạc hậu và chia xẻ phân tán của các dân tộc hỗn tạp vùng Mĩ La tinh. Họ vừa bất bình vừa lo sợ tình cảnh đất nước ngày càng bị phụ thuộc vào các ông chủ Mĩ.

Họ lại buồn nản vì thấy nhiều người đang bị tha hoá, sa đoạ trong đời sống tinh thần sinh hoạt, kiếm sống và vô chính phủ về mặt chính trị. Họ tin rằng sự chia rẽ chính là nguyên nhân gây ra tình trạng trì trệ Mĩ La tinh. Văn chương của họ giàu triết lí v6è số phận con người, số phận dân tộc và cả châu lục Mĩ La tinh.

Mặc khác, tôn giáo Cơ Đốc giáo tuy mới tồn tại vài trăm năm ở lục địa Mĩ La tinh nhưng đã gây dấu ấn sâu đậm nơi đây tới tận tầng lớp trí thức khoa học. Cái “mặc cảm khải huyền” là tinh thần cơ bản của Kinh Thánh đang chế ngự cuộc sống tinh thần của dân chúng vùng Trung Nam Mĩ. “Mặc cảm khải huyền” là mặc cảm về ngày tận thế – ngày phán xét cuối cùng của nhân loại. Mặc cảm đó lại gặp gỡ tinh thần tư duy biện chứng khiến nhà văn nảy sinh mặc cảm nỗi ám ảnh về ngày cáo chung của hình thái kinh tế – xã hội tư bản tư hữu và dự cảm ngày khởi thuỷ của một hình thái kinh tế – xã hội mới và con người mới. (Đó là chủ nghĩa xã hội hay là một cái gì khác?). Trong tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn”, thi pháp thời gian nghệ thuật thể hiện một tâm trạng đợi chờ lo lắng khắc khoải một tương lai không rõ buồn vui sắp đến.

Theo cảm hứng đó, nhà văn hiện thực huyền ảo muốn đi ngược thời gian nghệ thuật truyền thống. Họ miêu tả nhân vật và sự kiện trong những kết cấu thời gian lạ lùng như: thời gian đa chiều, thời gian ngược chiều, thời gian đồng hiện, thời gian – không gian – thời gian…

Ở cấp độ chi tiết nghệ thuật, họ không ngần ngại miêu tả cả những chi tiết phi lý, hoang đường.

Về tư tưởng-nghệ thuật, họ tự mâu thuẫn khi vừa tiếp thu chủ nghĩa nhân văn Phục Hưng lại vừa “nổi loạn” bài bác chống lại nó. Có lẽ cần phải có một tư tưởng mĩ học mới cho thời đại.

Họ chủ trương văn học phóng túng, chống giáo điều tôn giáo nhưng họ cũng rất sùng tín.

Họ ca ngợi, ước ao cuộc sống vật chất dồi dào và khoáng đạt tinh thần cho con người đồng thời lại kêu gọi cuộc sống khắc kỉ theo lí trí.

Trên đây chúng tôi đã tóm tắt, chọn lọc những ý kiến, quan điểm đánh giá và xác định đặc trưng nền văn học mới Mĩ La tinh trong vài chục năm cuối thế kỉ 20. Đặc biệt khi cuốn tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn” của Marquez (Colombia) được trao giải  1982 thì sự khẳng định của giới nghiên cứu văn học về một dòng tiểu thuyết Mĩ La tinh theo khuynh hướng hiện thực huyền ảo mang bản sắc riêng độc đáo cũng được thừa nhận như MỘT BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC.

 Hướng dẫn học tập

  • Ghi nhớ chủ yếu

So sánh với chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX Tây Âu, chúng ta nhận thấy CNHTHA Mĩ La tinh cố gắng vượt thoát ra khỏi vòng ảnh hưởng của nó nhằm đáp ứng nhu cầu mới của thời đại- thế kỉ XX đầy biến động phức tạp và dữ dội.

So sánh với chủ nghĩa hiện thực có mức độ của Hoa kì (E.Hemingway) như một cố gắng chấp nhận thực tại tư sản ở châu Mĩ. Nhà văn Hoa kì không đi sâu lí giải tận cùng bản chất của chủ nghĩa tư bản theo hướng bi quan như nhà văn Tây Âu thế kỉ XIX (Balzac). Theo họ, chủ nghiã tư bản phát triển vẫn tồn tại chứ không “giãy chết” như quan điểm mac-xit. Điều cần sửa đổi chỉ là phạm vi đạo đức.

Văn học Mĩ La tinh vẫn có một dòng tiếp tục CNHT Tây Âu- đó là chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt, tiêu biểu như nhà văn George Amado (Brasil).

Thực ra CNHTHA Mĩ La tinh cũng có tiếp thu kế thừa dòng văn học siêu thực Tây Âu đầu thế kỉ XX mặc dù họ không thừa nhận.

  • Yêu cầu /Chỉ dẫn khác

SV cần ôn lại đặc điểm của chủ nghiã hiện thực thế kỉ XIX.

Từ đó thấy cố gắng của nhà văn hiện thực huyền ảo là mở rộng phạm vi hiện thực, thay đổi quan điểm về hiện thực.

™

PHẦN HAI

Phần này giới thiệu hai tác phẩm tiêu biểu của dòng văn học “hiện thực huyền ảo” Mĩ Latin. Đó là tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn” và truyện ngắn “Biển của thời đã mất” của nhà văn Gabriel Gacia Marquez.

 

TRĂM NĂM CÔ ĐƠN

(Cien anos de solidad)

Tác giả Gabriel Gacia Marquez – nhà văn Colombia

Người dịch: Nguyễn Trung Đức, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng.

Nhà Xuất Bản Văn hoc,  Hà  Nội 1986.

1. CỐT TRUYỆN VÀ ĐỀ TÀI

Tểu thuyết kể câu chuyện về dòng họ Buendya tồn tại được bảy thế hệ (khoảng 100 năm), người đầu tiên bị trói vào gốc cây và người cuôí cùng bị kiến ăn. Đó là một dòng họ tự lưu đày đến cõi cô đơn để chạy trốn tội loạn luân.

Tội loạn luân phát sinh do việc tên cướp biển Francis Dark tấn công vùng Rioacha khiến cho các cụ tổ của bà Ucsula Igoaran phải chuyển đi lập nghiệp ở một làng hẻo lánh. Nơi đây họ gặp gỡ dòng họ Hose Accadio Buendya cũng đến đây sinh sống bằng nghề trồng thuốc lá. Hai dòng họ này kết thân và hôn nhân chồng chéo suốt ba thế kỉ. Cuộc hôn nhân cuối cùng là một thảm hoạ: đẻ ra đứa bé có cái đuôi lợn. Tấm gương khủng khiếp ấy khiến cha mẹ của chàng trai Buendya và cha mẹ của Ucsula tìm cách ngăn cản con trai con gái hai dòng họ lấy nhau. Không có sức mạnh nào ngăn cản nổi hai người đến với nhau. Khi làm đám cưới, Mẹ cô dâu Ucsula tìm cách trì hoãn việc ăn ở của con gái bằng cách may cho cô “chiếc đai trinh tiết” dặn cô sử dụng để ngăn chặn thảm hoạ. Mới đầu sợ hãi, cô nghe lời mẹ trước khi đi ngủ nhớ mặc “chiếc quần trinh tiết”. Sự giữ gìn ấy kéo dài một năm, dân làng ngạc nhiên tò mò và đồn đại anh chồng bị bệnh bất lực. Buendya tyên bố: “dù có đẻ ra con kỳ nhông anh cũng cóc cần”. Bị một người bạn thua đá gà chế giễu, Buendya nổi nóng giết chết anh ta, rồi phá đai trinh tiết của vợ. Cuộc hôn nhân của họ không còn được thanh thản, từ đây càng thêm lo lắng. Họ rủ rê nhiều cặp trai gái khác bỏ làng ra đi, tìm đến một nơi xa xôi hẻo lánh, lập ra làng Macondo. Họ chấp nhận tự lưu đày ở cái làng cô đơn tách rời quê hương suốt một trăm năm. Nơi đây, những con trai,con gái cháu trai, gái lần lượt ra đời với nỗi cô đơn, thấp thỏm phạm tội loạn luân.

Bà cụ tổ Ucsula càng già càng cố sống lâu để nhắc nhở, canh chừng, ngăn cản lũ con cháu tránh chung đụng xác thịt, tỉnh táo nhận rõ họ hàng dòng họ, tránh loạn luân để khỏi rơi vào thảm hoạ sinh con có đuôi  lợn. (Một gã đàn ông người làng quê cũ khi bị bà Ucsula từ chối tình yêu đã nguyền rủa độc địa rằng: nếu chúng mày loạn luân thì rồi sẽ lại đẻ đứa con có đuôi lợn và lúc ấy cả dòng họ mày sẽ tuyệt diệt. Từ đó bà lo sợ suốt đời). Nhưng bà không thể sống mãi để ngăn cản cô cháu gái đời thứ 5 là Amaranta kết hôn với đứa cháu trai đời thứ 6. Đôi trai gái này là hai dì cháu nhưng họ không được người lớn cho biết (vì người lớn ngoại tình sinh ra họ nên cố tình giấu giếm). Cụ bà chỉ ra sức ngăn cản nhưng không dám nói sự thật. Hai người yêu nhau mãnh liệt. Khi chàng tìm ra gốc gác của mình thì đã trễ: nàng sinh đứa con trai có đuôi lợn. Con vật huyền thoại này đã kết liễu dòng họ Buendya – Ucsula cùng với cả làng Macondo bị một cơn bão lốc khủng khiếp cuốn đi. Thế là cuộc chạy trốn tội loạn luân của họ đã không thoát khỏi sự trừng phạt.

Sự loạn luân của hai người, kéo theo lũ con cháu cũng bị loạn luân đã mở đầu và kết thúc thiên truyện làm nên cốt lõi của câu chuyện dài trăm năm. Tuy vậy thiên truyện còn miêu tả số phận của cái làng Macondo nữa.

Lúc đầu Macondo là một làng quê hiền hoà toàn những người trẻ tuổi. Làng chưa có người già chưa có trẻ con, không có nghĩa địa. Trình độ văn hoá của dân làng còn rất thấp, cuộc sống theo kiểu bộ lạc. Đứng đầu làng là chàng trai Hose Accadio Buendya được coi là tộc trưởng. Anh đã lãnh đạo dân làng theo kiểu công xã nông thôn. Dân chúng sinh sôi nảy nở, sống hiền lành, không phạm tội. Họ không cần quan cai trị hành chính và cũng không cần linh mục để săn sóc phần hồn. Mặc dù sống biệt lập với thế giới bên ngoài, dân chúng Macondo cũng biết xây dựng làng thành một miền quê trù phú và yên vui.

Những người di gan cùng với tiếng chim hót và tiếng nhạc đồng hồ đã tìm đến làng Macondo. Họ mang theo nhiều thứ mới lạ dân làng chưa từng biết. Nghề thủ công và buôn bán bắt đầu hình thành. Họ lập ra phố xá kiểu Thổ Nhĩ Kì. Macondo trở thành thị trấn. Chính phủ trung ương phái tới làng một quan thanh tra – ông Don Apoline Mocote. Sự có mặt của quan thanh tra khiến cho cuộc sống vốn thanh bình của Macondo trở nên xáo trộn. Những cuộc nội chiến liên miên ở đất nước này giữa phái Bảo Hoàng và phái Tự Do đã lan tới nhiều phen tàn phá làng Macondo khiến dân chúng vô cùng điêu đứng. Đây là lúc thế hệ thứ hai của dòng họ Buendya sinh ra và trưởng thành – nổi bật là ngài đại tá Aureliano Buendya. Ngài đã từng phát động 32 cuộc chiến tranh và đều thất bại. Ngài buộc phải kí hiệp định đình chiến Neclandia – thực chất là sự đầu hàng của phái Tự Do trước phái Bảo Hoàng.

Nhờ có đường xe lửa chạy ngang qua, làng Macondo tăng cường giao lưu với thế giới bên ngoài rộng rãi. Phim ảnh, máy phát điện, máy dĩa hát, khách du lịch và gái điếm tràn ngập làng Macondo. Công ty Chuối (thực tế là Công ty hoa quả Mĩ) cũng đến đây lập ra đồn điền chuối. Dân tứ xứ đổ về Macondo. Cuộc sống vùng này sầm uất hẳn lên. Thế hệ thứ tư của dòng họ Buendya là hai anh em sinh đôi: Aureliano Segundo và Hose Accadio. Người anh, Aureliano, to khoẻ, sống mãnh liệt kiểu hiện sinh, hết mình với cõi thế tục. Người em mảnh khảnh yếu ớt rất thông minh, đã tham gia lãnh đạo công đoàn công ty Chuối, phát động đấu tranh chống giới chủ đòi cải thiện sinh hoạt và tăng lương. Ông chủ công ty – ngài Brown người Mĩ rất xảo quyệt tráo trở tìm mọi cách từ chối yêu sách của công dân. Khi cuộc đấu tranh lên cao trào, người Mĩ đã tắm máu công nhân bằng một vụ thảm sát tất cả những người có mặt ở sân ga và sau đó dùng một đoàn tàu dài hai trăm toa chở xác chết ném xuống biển như khi chúng đổ chuối thối.

Công ty Chuối đành rút khỏi thị trấn Macondo. Bằng phép thuật, Công ty Chuối đã làm trận mưa kéo dài “bốn năm mười một tháng hai ngày” dìm ngập làng Macondo sau đó lại rang khô cái làng đáng thương này trong nắng hạn kéo dài mười một năm. Macondo xơ xác tiêu điều. Cỏ dại, sâu bọ sinh sôi nảy nở nhanh chóng và hung hãn tấn công con người ngày càng quyết liệt. Và một ngày kia, đứa con thế hệ thứ 7 vừa sinh ra có đuôi lợn đã bị đàn kiến dữ ăn thịt, một trận cuồng phong nổi lên xoá sạch làng Macondo khỏi mặt đất này.

2. KẾT CẤU VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

Khi đọc đến đoạn chót: Aureliano Babilonia giải được mã của tấm văn bản viết trên tấm da thuộc của ông già Menkyadez để lại, chúng ta nhận thấy tiểu thuyết kể về dòng họ Buendya theo phương thức thời gian đồng hiện với một kết cấu chặt chẽ phức tạp. Tiểu thuyết có hai văn bản:

Văn bản một: là văn bản chúng ta đọc từ trang đầu đến trang cuối.

Văn bản hai: là văn bản do ông già di gan làm nghề ảo thuật tên Menkyadez viết trên tấm da thuộc. Văn bản hai làm nền tảng cho văn bản một.

Tương ứng với hai văn bản trên là hai người kể chuyện. Một là nhà văn.Hai là ông già Menkyadez. Văn bản hai do ông già kể bằng thứ chữ lạ lùng khiến cho nhân vật Aureliano đời thứ sáu tốn nhiều năm học tới năm sáu ngoại ngữ mới mò ra được vào cuối thiên truyện – nó là chữ Phạn – (Sanskrit – một thứ chữ cổ Ấn Độ). Văn bản hai chính là gia phả dòng họ Buendya mà khi Aureliano đọc hiểu được thì đã quá muộn. Hai văn bản chồng chéo lên nhau theo kết cấu sau: người kể chuyện thứ nhất sau khi đã thuộc lòng câu chuyện (văn bản hai) trên tấm da thuộc, với tư cách nhà thông thái hiểu biết tất cả, theo sở thích của mình kể lại cho bạn đọc nghe những chuyện ấy theo cách tập trung mọi sự kiện, sự việc để làm nổi bật tính cách của nhân vật.

Có hai thời gian sau đây tương ứng với hai người kể chuyện:

 

a – Thời gian của người kể chuyện thứ nhất:

Thời gian này tương ứng với văn bản một. Tuỳ ý bắt đầu giới thiệu một nhân vật, chẳng hạn đại tá Aureliano thế hệ thứ hai, hồi tưởng về thời gian quá khứ, rồi lại tiến tới một quá khứ gần hơn : “Rất nhiều năm sau này, đứng trước đội hành hình, đại tá nhớ lại buổi chiều xa xưa ấy, cái buổi chiều cha chàng dẫn chàng đi xem nước đá”. Nhưng sự kiện đứng trước đội hành hình thực sự xảy ra ở chương 7, còn sự kiện cha chàng dẫn chàng đi xem nước đá lại được kể ở chương 1. Chương 1 lại kể các sự kiện ở giữa và cuối đời nhân vật. Câu văn trên đã chỉ ra ba thời điểm khác nhau cách xa nhau. Người đọc dễ bị lạc lối trong kết cấu thời gian phức tạp như thế. Đây là một thi pháp thời gian nghệ thuật. Nhà văn dẫn nhân vật đi ngược chiều thời gian chẳng phải vô cớ, mà để miêu tả nỗi hoài nhớ quá khứ và quê hương hoặc thể hiện sự “vô ý thức” về thời gian của nhân vật. Nó thuộc loại thời gian tâm lý.

b- Thời gian của người kể chuyện thứ hai

Thời gian này gắn với văn bản thứ hai. Đây là thời gian của cuốn gia phả (a family tree) của dòng họ Buendya từ khi ra đời qua thịnh vượng tới khi tuyệt diệt. Thời gian này chuyển động vòng tròn – là thời gian cốt truyện – thời gian thực tại, tồn tại độc lập với thời gian của người kể chuyện thứ nhất.

Hai loại thời gian này đan lồng hoà quyện với nhau, trong đó thời gian của người kể chuyện thứ hai giữ vai trò then chốt phản ánh hiện thực trì trệ chậm phát triển vùng Mĩ Latin qua sự vận động lẩn quẩn, dẫm chân tại chỗ.

Thời gian đa chiều này chính là thời gian nghệ thuật của “Trăm Năm Cô Đơn” là thành tựu đặc sắc của nhà văn Marquez.

Mặc khác, thời gian nghệ thuật chỉ đạt hiệu quả cao khi nó đi với một không gian tương ứng –làng quê Macondo xa xôi.

3. KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT

Làng quê Macondo là sản phẩm tuyệt diệu của hư cấu nghệ thuật. Người đọc có thể nhận ra làng Acatarata quê quán của nhà văn Marquez được làm nguyên mẫu cho tiểu thuyết. Người đọc nhận ra nhiều nhân vật có thật của làng Acatarata, trong đó có nhân vật Gabriel cùng họ tác giả và một số bạn bè của ông. Nhưng Macondo cũng là bất kì làng quê, thị trấn nào của đất nước Colombia và vùng Mĩ Latin. Macondo là một làng quê hư cấu nhưng nhưng đủ sức dung nạp mọi chuyện, từ chuyện có thật đến chuyện huyễn hoặc, hoang đường được nhà văn tưởng tượng theo gnuyên tắc hư cấu nghệ thuật truyền thống hoặc theo ngưyên tắc huyền thoại. Nhờ hư cấu, thực tại cuộc sống ùa vào chen chúc trong tác phẩm, rậm rạp chi tiết, phong phú đa dạng. Tạm phân loại các chi tiết như sau:

Cái có thực vốn là những sự kiện lịch sử xảy ra ở Colombia và Mĩ Latin được tái hiện đến từng chi tiết. Đó là những cụôc nội chiến triền miên khốc liệt giữa phái Bảo Hoàng và phái Tự Do.

Cái có thực vốn là sự lạc hậu cổ hủ của Mĩ Latin được tái hiện theo kiểu phúng dụ tạo ra giọng điệu hài hước trào phúng. Ví dụ đá nam châm, la bàn, kính lúp, thước đo góc, nước đá, máy dĩa hát, máy nổ, xe lửa, phim ảnh…là những thứ quen thuộc với thế giới bên ngoài nhưng lại là tân kì, kì diệu ở vùng Mĩ Latin.

Cái có thực mang tính kì diệu. Đó là khả năng ngoại cảm của đại tá Aureliano Buendya. Sự đồng cảm tuyệt vời giữa hai chú bé sinh đôi: khi người này uống nước chanh thì người kia vẫn nói đúng là nước chanh không pha đường.v.v…

Cái có thực được tưởng tượng theo nguyên tắc huyền thoại hoá. Ví dụ nhân vật Remediot – người đẹp bay lên trời. Cô là hiện thân của cái đẹp không thuộc về trần gian này. Vụ thảm sát hơn ba ngàn người ở Colombia xảy ra cuối những năm hai mươi thế kỉ 20 đã được huyền thoại hoá quái dị để tố cáo bản chất xấu xa đê tịên tàn bạo của tư bản Mĩ.

 Cái không có thực do nhà văn dựa theo cảm quan trước thực tại xã hội mà tưởng tượng theo nguyên tắc huyền thoại hoá: cơn mưa hoa vàng trong đám tang của nhân vật Hose Accadio Buendya bộc lộ lòng xót thương của nhà văn trước một con người giàu nghị lực, thông minh, đam mê hiểu biết. Trận mưa lụt hơn bốn năm là cảm quan của nhà văn trước thực tại trì đọng của xã hội Mĩ Latin sắp đến ngày tận thế. Và cái đuôi lợn của thằng bé cuối cùng dòng họ Buendya là cảm quan của nhà văn về một con người chưa thành người, hoặc bị hạ cấp xuống thành con vật – đó là loại người sống ích kỉ trong cô đơn.

Thử so sánh GÍA TRỊ CỦA CÁI THỰC VÀ KHÔNG THỰC: chúng ta thấy cái không thực lại có ấn tượng mạnh mẽ và ý nghĩa sâu sắc hơn hẳn cái có thực. Tuy nhiên không thể thiếu cái có thực, vì nó đem lại niềm tin hiện thực cho độc giả.

4. NHÂN VẬT VÀ BẢN THÔNG ĐIỆP THỨ NHẤT

Thành công của nhà văn tạo ra không gian và thời gian nghệ thuật nói trên đã mở ra khả năng to lớn cho sự xây dựng nhân vật. Đó là nhân vật siêu mẫu (phi thường / dị thường). Tính siêu mẫu đã gây hứng thú hào hứng theo dõi của người đọc để rồi mãi mãi đọng lại trong tâm trí họ.

Trăm năm cô đơn có khoảng 60 nhân vật gồm cả chính phụ. Nhân vật nào cũng cá tính rất sống động trước mắt người đọc. Marquez đã vận dụng và nâng cao thủ pháp xây dựng nhân vật kể chuyện dân gian: chỉ chấm phá đôi nét, còn lại người đọc tha hồ tưởng tượng. Miêu tả tiếng khóc của chú bé Aureliano khi còn trong bụng mẹ để khắc hoạ tính ích kỉ của anh ta sau này. Remediot người đẹp đến tuổi trưởng thành vẫn thích sống trần trụi không y phục nhưng cô lại toả ra luồng khí độc làm chết những kẻ đam mê – đó là thủ pháp đeo mặt nạ phóng đại. Thiếu nữ Rebecca có nỗi nhớ tuổi thơ ấu – luôn mút ngón tay và bốc đất ăn khi đã 15 tuổi…Với những thủ pháp miêu tả đặc biệt ấy, Marquez giúp người đọc phân biệt được những nhân vật cùng tên trong dòng họ theo kiểu lấy tên người thế hệ trước đặt cho người thế hệ sau khác chi nhánh (tên anh đặt cho con gái của người em và ngược lại).

Tiểu thuyết có tới năm người tên Hose với tính cách khác nhau: Hose người lập làng Macondo ham mê vùi đầu nghiên cứu khoa học vô bổ, Hose Accadio kẻ đi vòng quanh thế giới, Accadio Hose một kẻ bạo ngược, Hose Accadio Segundo kẻ trầm tư lánh đời và Hose Accadio Acadio kẻ đi tu không đắc đạo.

Tiểu thuyết có những Aureliano rất khác nhau. Ngài đại tá Aureliano Buendya phát động 32 cuộc nội chiến. Aureliano Segundo kẻ trác táng ăn chơi. Aureliano Balonia thông minh, học ngoại ngữ liên miên cuối cùng đọc hiểu được văn bản tiếng Phạn trên tấm da thuộc và Aureliano cuối cùng – kẻ vừa ra đời thì bị kiến ăn thịt.

Những nhân vật của dòng họ này bao gồm hai loại người:

Những Aureliano có trí thông minh tuyệt vời nhưng trầm tư ủ dột lánh đời.

Những Hose khỏe mạnh, bạo gan, sống hiện sinh, chan hoà. Gộp lại đó chính là tính cách của ông tổ Hose Accadio Buendya được di truyền thành hai nhánh. Ông tổ này tuyền cho con cháu cả nỗi cô đơn, hoài cổ do lương tri bị dằn vặt bởi cái chết của Prudencio Anghilak bị giết bởi bàn tay Hose thế hệ 1 khi còn ở quê cũ. Tuy khoẻ mạnh thông minh có ý chí nghị lực nhưng tất cả những Hose và Aureliano đều phải thất bại, sống hết đời trong cảnh cô đơn.

Những sự giống nhau truyền đời ấy đã khiến bà lão Ucsula có cảm giác thời gian quay vòng tròn. Bà cứ nhầm lẫn Hose cháu với Hose con trai bà. Những sự lặp lại, tạo ra những vòng tròn nhỏ hợp lại thành vòng tròn lớn – dòng họ buendya chạy trốn tội loạn luân – đi lập làng mới – lại loạn luân – và bị tuyệt diệt. Vòng tròn tắt lịm.

Vì đâu họ cố gắng chạy trốn mà không thoát khỏi?

Vì các nhân vật Buendya càng ngày càng tách ra khỏi cộng đồng xã hội, sống trái tính trái nết. Thói sống đó khiến họ càng cô đơn và tách xa cộng đồng, nhỏ là gia đình, rộng hơn là làng xã và cả đất nước Colombia (kể cả cộng đồng Mĩ Latin). Người đầu tiên bỏ quê nhà đi lập làng mới, tách mình khỏi lịch sử và truyền thống văn hoá. Khi lập được làng mới, ông Hose lại khao khát nghiên cứu máy mò phát minh sáng chế và liên miên thất bại. Ông hoá điên dại đến nỗi gia đình phải xích ông vào gốc cây trong vườn nhà. Còn Hose Segundo sau khi chứng kiến vụ thảm sát rùng rợn những người công nhân đồn điền chuối ở sân ga đã quá hoảng sợ không dám đi tố cáo cho dân chúng biết mà chạy trốn về căn phòng của cụ già Menkyadez, tự giam mình trong đó, không tiếp xúc với ai ngoại trừ người em sinh đôi và thằng cháu họ.

Đặc biệt nhân vật Aureliano Buendya tách ra khỏi cộng đồng sống dị thường trở nên độc đoán chuyên quyền chẳng còn giống cái thời thơ trẻ đáng yêu. Khi có quyền hành, Buendya trở thành tên độc tài bạo chúa  khát máu nhất là từ sau khi bị kết án tử hình chạy thoát. Với chức tổng tư lệnh quân đội, anh chỉ huy “trò chơi chiến tranh”. Anh chiến đấu không có mục đích lí tưởng cao cả nào hết. Anh chỉ chiến đấu cho bản thân mình, cho niềm kiêu hãnh cá nhân với phương châm xử thế “người bạn tốt nhất là người bạn vừa chết”. Anh không có bạn nữa, ngày càng cô đơn. Mọi người dần xa lánh, không cộng tác không bảo vệ anh. Anh ta lập chiến công cuối cùng bằng cách kí hiệp định đầu hàng chính phủ, được thưởng huân chương. Những người cách mạng, những người chiến sĩ tự do không tuân lệnh đầu hàng, họ vẫn tiếp tục chiến đấu khiến anh cảm thấy nhục nhã và từ chối nhận huân chương, trở về đoàn tụ gia đình, sống trong tình thương của bà mẹ – bà lão Ucsula Igoaran. Và giống như hồi nhỏ, anh nuôi cá vàng để khuây khoả. Cách sống này vẫn chỉ là ích kỉ cá nhân chẳng vì ai cả. Đó chính là cuộc đời bi kịch của đại tá Aureliano.

Chỉ có một người hiểu rõ tư chất ích kỉ của anh là mẹ anh – bà Ucsula. Đầu óc vẫn minh mẫn của bà già trên trăm tuổi còn nhớ cái tiếng khóc của Aureliano khi còn trong bụng mẹ. Tiếng khóc ấy là sự bất lực trước tình yêu, đó là sự cô đơn. Cụ già điểm lại lũ con cháu và và nhận ra bọn chúng đều trái tính trái nết ích kỉ – cái thói đáng sợ như hình ảnh cái đuôi lợn ám ảnh cụ suốt đời. Cái đuôi lợn báo hiệu con người đã mất hết tính người trở thành con thú.Bà nhận ra con cháu bà có đủ mọi phẩm chất tốt duy chỉ thiếu một thứ: tình yêu- trái tim yêu thương. Chỉ có cô bé Rebecca người không hề bú dòng sữa của cụ thì lại có trái tim yêu thương mãnh liệt vô tư. Tình yêu là cái cần thiết nhất cho dòng họ này. Chỉ có tình yêu thực sự và lòng chân thành mới làm cho cá nhân hoà hợp với cộng đồng  và thoát khỏi cảnh cô đơn. Đó là lớp ý nghĩa triết học – mĩ học bộc lộ ra khi các nhân vật sắp đi vào cõi khác. Chỉ khi đứng trước mũi súng của bọn hành hình, Accadio Hose mới biết yêu thật sự nàng Rebecca Remediot. Chỉ đến khi hấp hối, Amaranta cô gái già (ế chồng vì khó tính) mới thật sự cởi mở lòng mình, sống cho người khác bằng hành động: hứa chuyển bức thư và lời nhắn của người sống cho vong hồn người thân cõi âm phủ.

Tư tưởng mĩ học về tình yêu còn được thể hiện ở nhân vật nửa huyền thoại Remediot “người đẹp”. Nhiều chàng trai say mê nàng và chết oan vì nàng.  Kẻ thì rơi từ mái nhà tắm xuống chết tươi. Kẻ chết gục ngoài song cửa. Kẻ bị ngựa đá dập ngực chết. Có kẻ si mê quá hoá rồ dại… Phải chăng như lời dân chúng đồn đại nàng là cạm bẫy của tử thần. Nàng toả ra hơi độc khiến ai gần nàng đều phải tiêu vong ? Thật ra không hẳn như vậy. Những người đàn ông không biết cách mở cửa vào tâm hồn nàng. Họ chỉ biết tỏ tình theo những kiểu vụng về ngây ngô hoặc thô bạo điểu cáng. Qua những cách tỏ tình ấy, họ tỏ ra chỉ coi sắc đẹp của nàng là thứ cần hưởng thụ. Còn Remediot nàng tỏ ra là người biết yêu: “có lẽ chỉ cần một thứ tình cảm nguyên thuỷ và giản dị như tình yêu là đủ chinh phục nàng và tránh mọi nguy hiểm”. Nhưng nàng thất vọng,  đành bỏ đi khỏi thế giới này.

Tư tưởng mĩ học về tình yêu còn được thể hiện ở hai nhân vật Aureliano Babilonia và Amaranta Ucsula. Hai người đã nhận ra những thất bại của dòng họ mình, và họ yêu nhau cuồng say với nguyện vọng sinh ra một Aureliano có thể chiến thắng ba mươi hai cuộc chiến, họ mong muốn tình yêu sẽ cải tạo nòi giống mình tốt hơn giỏi hơn. Tiếc thay cái tình yêu loạn luân diễn ra trong cảnh cô đơn cùng cực ấy chỉ đẩy nhanh thêm dòng họ Buendya đến giờ diệt vong kéo theo sự huỷ diệt của cả cộng đồng Macondo. Như vậy, thông điệp thứ nhất của  “Trăm năm cô đơn” là kêu gọi mọi người hãy sống đúng bản chất người – tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Hãy vượt qua định kiến, thành kiến cá nhân và những hố sâu ngăn cách trong cộng đồng để cá nhân hoà hợp với gia đình. cộng đồng và xã hội. Vì lẽ đó, nhà văn GG. Marquez đã tuyên bố cuốn sách mà ông để cả đời sáng tác là “cuốn sách về cái cô đơn”. Qua đó, ông kêu gọi mọi người đoàn kết để đấu tranh, đoàn kết để chiến thắng tình trạng chậm phát triển của vùng Mĩ Latin, đoàn kết để sáng tạo ra một “thiên huyền thoại khác, định đoạt số phận ngay cả cái cách thức chết, nơi tình yêu có lối thoát và hạnh phúc là cái có khả năng thực sự và nơi những dòng họ bị kết án trăm năm cô đơn cuối cùng và mãi mãi sẽ có vận may lần thứ hai được tái sinh trên mặt đất này” [Phát biểu của tác giả trong buổi nhận giải Nobel tổ chức tại Viện Hàn Lâm Thuỵ Điển ].

Và còn những thông điệp thứ hai, thứ ba…mà nhà văn muốn gửi vào tiểu thuyết Trăm Năm Cô Đơn? Một bộ tiểu thuyết mênh mông đồ sộ chứa đựng khá nhiều vấn đề của lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hoá, lối sống và những nghi vấn kha học, tức là còn ẩn chứa nhiều bức thông điệp khác nữa mà người đọc tuỳ theo mức quan tâm có thể nhận ra.

(Nguyễn Trung Đức- Lời giới thiệu Trăm năm cô đơn, Nxb Văn học, Hà Nội, 1986)

 

BIỂN CỦA THỜI ĐÃ MẤT

Truyện ngắn của GG. MARQUEZ

[Bản dịch Nguyễn Trung Đức – NXB Ngoại văn Hà Nội 1987]

Các nhân vật chính:

Tobiats – chồng

Clotindez – vợ

Ông bà Jacob

Cha xứ

Herbert: một người Mĩ

Lão Catarino chủ quán

Một làng quê nghèo ven bờ biển. Không có ai thức đến sau tám giờ tối. Một đêm tháng ba, gió biển phả lên bờ một mùi hương hoa hồng. Tobias thức giấc, ngửi thấy mùi hoa, thịt da anh cũng thơm phức hấp dẫn loài cua biển bò lên, chui vào giường của anh. Anh mất ngủ cả đêm để xua lũ cua khỏi giường. Gần sáng mùi hoa hồng nhạt đi, anh mới ngủ yên được.

Buổi sáng hôm sau, anh thức dậy muộn hơn vợ. Clotindez đang nhóm lửa ngoài sân. Uống cà phê xong anh hỏi vợ có biết mùi hoa hồng đêm qua. Cô trả lời từ nhỏ đến giờ “chưa từng biết mùi hoa ấy”. Ở cái làng nghèo này, thỉnh thoảng có người từ xa tới mang những bó hoa hồng ném xuống biển – nơi đây chính là nghĩa địa của làng. Mỗi khi có người chết đều phải ném xuống. Anh bảo vợ – đó là mùi người chết. Mỗi khi thuỷ triều đưa rác rửi vào bờ, khi rút đi để lại những xác cá chết. Làng nghèo lại càng nghèo nữa.

Cùng buổi sáng đó, nhà vợ chồng ông bà Jacob. Bà lão dậy sớm hơn thường lệ, ngồi vào bàn ăn sáng, cáu kỉnh nói với chồng “nguyện vọng cuối cùng của tôi là được chôn sống”. Bà năn nỉ người chồng vốn yêu bà tha thiết, rằng bà cảm thấy mình sắp chết vì đêm qua ngửi thấy mùi hoa hồng “ông ơi, tôi muốn khi chết được chôn dưới đất như một người tử tế”. Ông an ủi rằng bà còn khoẻ mạnh…Nhưng ông cũng hứa với bà làm theo ý nguyện (được chôn sống). Ông xin bà ráng chờ ít bữa để chuẩn bị các thứ cần thiết. Ông lão rất lo lắng về thái độ của vợ.

9 giờ sáng, lão Jacob đi ra tiệm chơi cờ đam. Hỏi ông bạn có dám chôn sống vợ không. Ông kia trả lời tỉnh khô rằng có thừa can đảm làm việc đó. Và an ủi Jacob rằng nửa làng này ngửi thấy mùi hoa hồng. Jacob lang thang trong làng dò hỏi xem ai nữa ngửi thấy mùi hoa hồng. Gặp anh chàng Tobias, lão lôi anh tới nhà để làm chứng cho cho bà lão biết rằng anh cũng ngửi thấy hoa hồng. Bà lão Jacob đang ngồi may bộ đồ kiểu dành cho người đàn ông goá vợ. Bà nghe Tobias nói anh cũng ngửi thấy hoa hồng, bà không tin, cho rằng ông Jacob và Tobias nói dối bà.

Tobias thức canh nhiều đêm để chờ đợi theo dõi biển, còn Clotindez vợ anh ngủ say ngáy vang như sấm…Biển lặng lẽ hoặc sôi sục, ngầu bọt và rác, đổi màu, gầm gừ.

Tháng thám, bà lão Jacob chết ở trên giường. Cả làng đến dự an táng bà theo lệ thường: ném thi thể bà xuống biển mà không kèm vòng hoa viếng.

Mấy đêm sau, Tobias lại thức canh chờ mùi hương. Anh bừng tỉnh khi gió biển phả mùi hoa hồng. Anh gọi vợ thức dậy mà thưởng thức, Nhưng Clotindez ngái ngủ không chịu ra. Anh chạy bổ đi gõ cửa khắp làng, chỉ có một cụ già theo anh ra bãi biển để hít thở thưởng thức mùi hương ấy lâu lắm mới lại thấy kể từ sau cái chết của bà lão Jacob.

Tiệm giải khát và giải trí của lão Catarino đang mở dĩa hát phục vụ khách với những dĩa hát cũ. Mây đen kéo trùm mặt biển. Khách uống rượu và chơi cờ. Ông Jacob cũng mò tới, than phiền với bạn bè rằng cái mùi hương hoa hồng đã giết chết bà vợ yêu của ông. Lần này mùi hoa hồng từ biển thổi lên suốt mấy tuần liền, nhiều người ngửi thấy. Ông Jacob say mê chơi cờ với hy vọng rằng thì kiếm được 20 đồng pêsô đủ để bỏ làng ra đi. Ngày chủ nhật có nhiều người đến làng này trong đó có những phụ nữ vốn gốc dân làng này bỏ đi từ lâu khi làng điêu tàn. Bây giờ họ trở về béo tốt, giàu có, mang về nhiều dĩa hát mới, xổ số, sòng bạc, thuốc trường sinh bất tử bán rong…Người đến cuối cùng là một cha xứ. Dần dần cha xứ cấm đánh bạc, cấm nhạc mới và một số điệu nhảy (Mĩ Latin là nơi sinh ra nhiều điệu nhảy lạ khác hẳn châu Âu, gần đây như điệu Lambada cuối thế kỉ 20). Ngài giảng giải về mùi hoa hồng: “các con hãy cảm ơn Đức Chúa Trời, đó là mùi hương của Thượng đế. Trong Kinh Thánh, cái mùi hương này đã được nói và giải thích rõ. Chúng ta may mắn đang sống trong một làng được Chúa yêu quý”. Tobias dẫn vợ – Clotindez đi xem các trò chơi để cô làm quen với đồng tiền.

Một đêm kia, có người khách lạ xuất hiện ở làng – ngài Herbert một người Mĩ giàu có. Ngài mang theo hai thùng tiền lớn. Ngài rung chuông, dân chúng xúm xít lại lắng nghe:

– Ta là người giàu có nhất trần gian. Ta muốn chia tiền cho mọi người. Chia tiền mà không có lí do như thế sẽ chẳng có ý nghĩa gì hết.

Một người đàn ông bước ra xin ngài 48 đồng peso, ngài hỏi anh biết làm gì. Anh hót đủ 48 giọng chim hót khác nhau và ngài trao tiền cho anh. Mỗi ngày, ngài Herbert tiếp một người và cho họ tiền. Một cô gái xin 500 đồng. Ngài bảo cô phải tiếp khách đàn ông đủ 100 người ở phòng bên cạnh. Cô đồng ý. Ngài gọi 100 người đàn ông, cấp cho họ mỗi người 5 đồng lần lượt vào phòng cô gái…

Ông lão Jacob vác bàn cờ xin chơi với ngài Herbert. Lão thua liên miên, hết tiền phải ghi tiếp vào sổ nợ. Cuối cùng lão gán luôn ngôi nhà – cái tài sản duy nhất của lão cho ngài Hertbert.

Lần lượt, ngài Herbert chiếm đoạt nhẹ nhàng hầu hết nhà cửa và cái làng ven biển này. Ngài cho tổ chức một tuần lễ vui chơi có âm nhạc, pháo nổ và hoa. Ngài hứa với dân làng sẽ cho xây dựng một thành phố tương lai ở đây. Ngài đưa bức vẽ cho dân chúng xem. Họ mừng rơn với trái tim đau thương, họ cười ra nước mắt. Họ sống trong đám mây mù bảng lảng của niềm tin…Ngài lắc chuông kết thúc cuộc vui.

Rồi ngài lăn ra ngủ hết ngày này sang ngày khác. Nhiều ngày trôi qua, nhiều người đến xin ngài giúp đỡ nhưng chờ mãi ngài chưa thức dậy. Họ bỏ đi đào cua biển để sống. Cha xứ báo cho ông Jacob biết dân chúng đang dần dần bỏ làng đi nơi khác. Cha đề nghị xây một cái nhà thờ để giữ lòng tin cho dân chúng vùng này và cần phải nhờ ngài Herbert giúp đỡ. Ông Jacob nói phải chờ ngài. Hai người ngồi chơi cờ đam liên tục nhiều ngày mà ngài vẫn say ngủ. Cha xứ lú lẫn, đi lang thang khắp làng quyên tiền xây nhà thờ. Nhưng người ta cho rất ít tiền. Một ngày chủ nhật, cha dắt hai con la, một chở va li quần áo và một va li tiền, một con cha cưỡi lên và ra đi vĩnh viễn. Cha còn kịp nói với một số người, : “mùi hoa hồng sẽ không còn trở về nữa. Cần phải hiểu rằng cái làng này đã phạm tội chết”.

Khi ngài Herbert thức dậy, kêu đói. Ông Jacob bảo ngài đi đào cua nếu không chẳng có gì ăn. Ngài Herbert đi đào cát, sùi bọt mép mà chỉ được một ít con cua. Chiều đến, ngài rủ anh Tobias lặn xuống đáy biển kiếm thức ăn. Ngài bảo ở tầng đáy biển nơi ném nhiều người chết hẳn có nhiều rùa béo. Hai người nhảy xuống biển, lặn sâu tới tận nơi ánh sáng trời không thể lọt tới. Họ bơi qua một cái làng dưới đáy biển, nơi có nhiều đàn ông đàn bà cưỡi ngựa quanh những quán âm nhạc. Ngoài sân, hoa hồng rực rỡ tươi thắm. Ngài bảo: “cái làng này bị chìm vào một ngày chủ nhật – đó là một thảm hoạ”. Tobias nhìn thấy trong làng có nhiều hoa hồng, anh định bơi vào: “tôi muốn hái một bông đem về cho Clotindez để cô ấy biết thế nào là hoa hồng”. Ngài Herbert ngăn cản anh lúc khác hãy hái vì giờ này ngài đói gần chết rồi. Hai người bơi tiếp và gặp rất nhiều người chết, nằm ngửa bất động, tầng trên tầng dưới. Họ là những người bị bỏ quên – ngài nghĩ vậy – có lẽ họ đã chết hàng thế kỉ nên mới có trình độ nghỉ ngơi như thế…Vừa lúc đó có một người phụ nữ bơi qua trước mắt họ. Người ấy bơi nghiêng, hai mắt mở to, một dòng hoa trôi theo sau. Ngài Herbert dừng lại ngắm, bất động cho tới khi bông hoa cuối cùng lướt qua: “Đó là người đàn bà đẹp nhất trong đời ta được hân hạnh nhìn thấy”. Tobias nói: “Đó là bà vợ của ông Jacob đấy. Bà ấy trẻ lại đến năm mươi tuổi”.

Họ bơi tiếp tới đáy biển. Bóng tối phủ đầy. Họ nhìn thấy rất nhiều rùa, hàng ngàn con nằm úp thìa vào nhau im như hoá đá.  Ngài Herbert bảo: “Chúng còn sống cả đấy, nhưng chúng đã ngủ hàng triệu năm”. Họ bắt về một số rùa. Ngài Herbert dặn Tobias: “Muốn tốt thì chớ có kể lại với ai. Anh nghĩ xem, thế gian sẽ loạn lên nếu mọi người biết rõ những cảnh tượng này”. Gần nửa đêm họ về tới làng. Họ đánh thức Clotindez đun nước làm thịt rùa. Ngài Herbert cắt tiết làm thịt con rùa. Khi moi tim con rùa, họ phải cầm dao giết chết trái tim bởi nó cứ giãy đành đạch ở ngoài sân.

Cả ba người xì xụp ăn không kịp thở. Ngài Herbert bảo: “mùi hoa hồng sẽ không bao giờ trở lại”. Tobias cãi: “nó sẽ trở lại, thưa ngài”. Clotindez nói chen vào: “Nó sẽ không bao giờ trở lại., bởi vì nó chưa bao giờ đến đây cả. Chính anh đã khuấy động cả thiên hạ”. Ngài Herbert khuyên hai anh chị hãy bỏ làng đi kiếm sống nơi khác rồi sau đó ngài từ biệt họ ra đi.

Clotindez gọi anh vào phòng đi ngủ. Nhưng anh không để ý. “Vào đây anh ngốc ơi, đã hàng thế kỉ chúng ta không đùa giỡn như những con thỏ”. Tobias đợi một hồi nữa. Khi anh vào phòng, Cltindez đã ngủ say. Anh thức cô dậy. Vì mệt mỏi ngái ngủ, họ nhầm lẫn lung tung. Cuối cùng họ cuốn vào nhau như những con giun. “Anh đang ngớ ngẩn nghĩ đến việc khác phải không?” – cô vợ cáu kỉnh hỏi. “Ừ, anh đang nghĩ về những việc khác”. Cô vợ đòi nghe những việc đó. Anh bắt cô hứa phải không được kể cho ai nghe. Cô hứa sẽ giữ kín.

– Ở dưới đáy biển có một làng gồm những ngôi nhà trắng có trồng hàng triệu bông hoa.

Clotindez giơ tay ôm lấy đầu: “Ôi anh Tobias, hãy vì tình thương của Thượng đế mong từ đây anh đừng làm những chuyện như thế nữa”.

Tobias thôi nói chuyện, lăn mấy vòng ra tận mép giường nằm chờ giấc ngủ. Anh vẫn không sao ngủ được cho đến sáng khi gió nhẹ đổi chiều và những con cua biển chịu để cho anh yên.

“Biển của thời đã mất” là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách “hiện thực huyền ảo”. Truyện tuy ngắn nhưng rậm rạp chi tiết, tầng tầng lớp lớp nhưng vẫn bảo đảm cốt cách truyện ngắn cổ điển là khép kín, không tản mạn ra nhiều hướng, không chệch hướng chính.

Một số nhân vật chính được miêu tả sinh động tự nhiên:

Nhân vật cha xứ: một chân dung biếm hoạ (kí hoạ biếm)

Nhân vật ngài Herbert: rất sinh động, uyên bác, năng động. Nhân vật bí ẩn như một nỗi e ngại, một lời cảnh báo.

Cặp vợ chồng già: ông bà lão Jacob và cặp vợ chồng trẻ Tobias – Clotindez. Đây là những nhân vật chính của thiên truyện. Đặc biệt Tobias được tập trung ánh sáng – anh là nhân vật lý tưởng của nhà văn. Anh luôn luôn băn khoăn trước cuộc đời có ý hướng thiện. Ông lão Jacob già hơn anh và bất lực hơn anh. Ông cũng có một chút yêu đời nhưng chỉ biết trông chờ vào trò cờ bạc.

Hai người phụ nữ. Bà Jacob chỉ nghĩ tới cái chết, mong được chôn sống trên đất liền như những ngày xưa đám tang có hoa hồng – cái thời xa xưa chỉ còn trong kí ức và nỗi hoài nhớ của người già. Thà rằng chết sớm mà có hoa hồng còn hơn bị ném xuống biển. Clotindez trẻ tuổi hơn, vô tư thảm hại, chưa từng biết và cũng chẳng muốn thưởng thức hoa hồng. Cô chỉ biết có ngày hôm nay và ban đêm bên cạnh người chồng là đủ. Bà Jacob vẫn bị ném xuống biển, nhưng bà không chịu chết. Bà trẻ lại và bơi cùng dòng hoa hồng. Bà sống ngược chiều thời gian, hướng về “biển của thời đã mất”. Tựa đề của thiên truyện có ý nghĩa gợi một thời êm đẹp đã qua của châu Mĩ Latin – thời có những bông hoa hồng cho cuộc sống và cái chết của con người. Thiên truyện là nỗi hoài nhớ khôn nguôi của người dân Mĩ Latin hướng về cái thời chưa có người thực dân châu Âu tới đây. Thiên truyện nhắc nhở con gnười hãy – cùng với anh Tobias thao thức – nghĩ tới một tương lai tích cực hơn.

Yếu tố “huyền ảo” trong văn học Mĩ Latin khác hẳn yếu tố “thần thoại” trong văn học dân gian  của các dân tộc khác. Trong văn học dân gian, huyền thoại nhằm giải thích thế giới và ước mơ hạnh phúc, ước mơ công lý…Huyền ảo Mĩ Latin vừa là sự phản ánh tận cùng hiện thực, cũng là thủ pháp nghệ thuật gây ấn tượng mạnh mẽ làm cho tâm trí người đọc bị cuốn hút và không khỏi băn khoăn suy nghĩ nghiêm túc. Kể những chuyện huyền ảo nhưng văn học Mĩ Latin kéo người đọc trở về thực tại.

Tiểu thuyết Mĩ Latin có tham vọng chuyển tải bao trùm nhiều khoa học khác như triết học, lịch sử, địa lý, kinh tế, tâm lý học, xã hội học…với cố gắng tái tạo cái hiện thực rậm rạp bề bộn Mĩ Latin. Để thực hiện tham vọng ấy, tiểu thuyết Mĩ Latin vẫn chấp nhận phương pháp hiện thự truyền thống kiểu Tây Âu thế kỉ 19 như các tác phẩm đã trình bày trong phần chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt (4.1)

Z

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

     PHẦN KẾT

BÀN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC MĨ LATIN Ở VIỆT NAM

Văn học Mĩ Latin với công chúng Việt Nam

 

Các tác phẩm đã dịch ở Việt Nam

Tiểu thuyết “Những con đường đói khát” của Jorge Amado (NXB Văn học 1960) là tác phẩm đầu tiên ra mắt bạn đọc ViệtNam.

“Thơ Pablo Neruda” do Đào Xuân Quý dịch (NXB Văn học 1961),

“Thơ Angeri-Cuba”.

“Đất dữ” xuất bản 1980,

“Bectilion 166” tiểu thuyếtCubacủa Puiger xuất bản 1962.

“Những người phu đốn gỗ” của Toravon (Mexico) – NXB Văn học, 1963.

. Tiểu thuyết “Ngài tổng thống” của Asturias (Guatemala) 1964, sau đó là “Dông tố”, “Giáo hoàng xanh”, “Mắt những người đã khuất” (Asturias cùng với Alejo Carpentier mở đường cho chủ nghĩa hiện thực kì ảo).

Tuyển tập truyện ngắnCubanhiều tác giả “Giờ thì em không còn sợ nữa” 1980.

Thơ Nicolas Guillen (NXB VN 1981).

“Ngài đại tá chờ thư” của GG. Marquez 1983,

“Ngôi nhà của những hồn ma” của Isabella,

“Tình yêu thời thổ tả” (GG. Marquez),

“Miền đất quả vàng” (J. Amado) 1985 và Biển cả và ái tình (J.Amado).

“Trăm năm cô đơn” lần đầu tiên được Nguyễn Trung Đức dịch từ tiếng Tây Ban Nha (lần đầu 1986, tái bản 1993),

Tướng quân trong mê hồn trận (G.G. Marquez),

Sự tráo trở của phương pháp (A. Carpentier) 1987,

Biển của thời đã mất (GG. Marquez) của Nhà xuất bản Ngoại văn 1987.

Văn học Mĩ Latin với nhà văn Việt Nam

Bài tuỳ bút đầu tiên giới thiệu vùng đất xa xôi Cuba là “Hiên ngang Cuba” của nhà văn Thép Mới đăng trong cuốn “Hiên ngang Cuba”, NXB Văn học 1962.

Nhiều tác phẩm của một số tác giả đã chấp nhận phương thức sáng tác hiện thực huyền ảo một cách tự nhiên, với các mức độ khác nhau.

Nghệ thuật huyền ảo Mĩ Latin đã mau chóng chứng tỏ sức mạnh của nó trên các lục địa. Trước hết nó lôi cuốn sự nhiệt tình hưởng ứng của cả châu Mĩ. Tiếp tục ảnh hưởng sang châu Âu, châu Á. Nhà văn cứ sáng tác bất chấp thái độ thận trọng e ngại của giới nghiên cứu phê bình. Ở Việt Nam, cái mốc đánh dấu sự ảnh hưởng của văn học Mĩ Latin khi cuốn tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn” được dịch giả Nguyễn Trung Đức giới thiệu với bạn đọc Việt Nam. Có lẽ nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là người đầu tiên vận dụng một vài biện pháp nghệ thuật huyền ảo vào sáng tác, như các truyện ngắn “Giọt máu”, “Kiếm sắc”, “Phẩm tiết”.

Chúng tôi thử so sánh hai cốt truyện của Marquez và Nguyễn Huy Thiệp:

TRĂM NĂM CÔ ĐƠN (Marquez)
Dòng họ Buendia, nhà giàu nhất làng Macondo.
Trải qua bảy thế hệ, liên tục phạm tội loạn luân và cô đơn, kéo dài khoảng 100 năm.
Đứa bé cuối cùng l
ọt lòng mẹ với cái đuôi lợn, bị
đàn
kiến xúm lại ăn thịt, cả làng Macondo bị gió cuốn bay mất.

GIỌT MÁU

(Nguyễn Huy Thiệp)

Dòng họ Phạm, một đại gia nổi tiếng, chủ họ là Phạm Ngọc Liên.

Các đời con cháu luôn luôn thủ ác, dâm loạn, lừa đảo, bị quả báo…

Đời chót, họ Phạm tán gia bại sản, cô vợ nhỏ tên Chiêm và thằng bé cuối cùng họ Phạm tìm về miền quê xa nương náu.

Truyện ngắn “Bụi trắng” của nhà văn Nguyễn Quang Thân (đăng báo Nhân Dân Chủ Nhật số ra ngày 15.7.1990) miêu tả số phận một chiếc huân chương chiến công của một liệt sĩ chống Mĩ nằm trong hành lý tư trang của cô sinh viên con gái liệt sĩ, đang học đại học ở thành phố Hồ Chí Minh. Huân chương tự huỷ thành “đám bụi trắng” khi cô nữ sinh sa ngã và thác loạn.

Tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”, nhà văn Bảo Ninh đã vận dụng thủ pháp “thời gian đồng hiện và ngược chiều”. Một nhân vật người lính Trường Sơn – anh bộ đội cuối cùng của đơn vị trông coi binh trạm ở Trường Sơn đã bị quên lãng và lạc loài trong rừng sâu hàng chục năm. Khi đồng đội gặp lại, anh đã thành con vượn lẩn lút rừng sâu, nhút nhát sợ sệt tất cả…

Đặc biệt tiểu thuyết “Lời nguyền hai trăm năm” của Khôi Vũ (NXB Thanh Niên 1989) giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam. Câu chuyện kể về một nhân vật độc ác sống từ thời nhà Nguyễn cách đây khoảng hai trăm năm bị lời nguyền của kẻ thù: “khi nào dòng họ mi hết kẻ ác tâm thì sẽ phải tuyệt diệt”. Kẻ độc ác lo sợ triền miên cứ phải tiếp tục làm ác, trước khi chết không quên nhắc lại lời nguyền khủng khiếp đó cho con cháu. Suốt hai trăm năm, lời nguyền được chuyển tiếp qua các thế hệ sau khiến cả dòng họ bất đắc dĩ cứ phải làm điều ác để mong được tồn tại. Đến thế kỉ Hai Mươi một hậu duệ của dòng họ là một cán bộ cách mạng, ở một làng ven biển miền Nam Trung Bộ  đã quyết chí hoá giải lời nguyền bằng cách quyết tâm tránh việc ác, cố làm những việc thiện. Kết quả là lời nguyền độc ác kia trở nên vô hiệu. Nhà văn Khôi Vũ xác nhận: “tôi thử Việt Nam hoá phong cách Mĩ Latin”. Dư luận báo chí hồi ấy khen anh “khá nhuần nhuyễn trong bút pháp hiện thực huyền ảo” (Báo Tuổi Trẻ năm 1990).

Nhà thơ Phạm Thị Ngọc Liên viết tập thơ “Biển đã mất” hẳn là được gợi cảm hứng từ truyện vừa “Biển của thời đã mất” của GG. Marquez.

Truyện ngắn “Khi người ta trẻ” của cây bút trẻ Phan Thị Vàng Anh đã xây dựng hai nhân vật chính “bà tôi” và “cô tôi” mang dấu vết rất rõ nét của nhân vật bà lão Ucsula và cô con gái Amaranta trong tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn”. So sánh:

TRĂM NĂM CÔ ĐƠN
(GG. Marq
u
ez)
Bà lão Ucsula, buồn nản vì con cháu sống cô độc, loạn luân,
tính nết giống ông hoặc bà, chú bác thế hệ trước. Cụ cố sống để ngăn cản chúng, đến nỗi “cụ đã dần dần đánh mất ý niệm về thực tại đang sống…Cụ chìm sâu trong trạng thái nhầm lẫn hết sức kì quặc.
(
trang 450 – sđd)
Cô Amaranta xinh đẹp tối ngày thêu thùa mộ
t tấm áo gối dành cho ngày cưới, nhưng coi khinh mọi chàng trai…Cô Amaranta tự mình mua hòm, nằm vào trong đậy nắp, không di chúc.

KHI NGƯỜI TA TRẺ

(Phan Thị Vàng Anh)

 

“Bà nội tôi” buồn nản vì cô con gái tính kiêu kỳ cô độc, mãi không lấy được chồng. Trách cô gái “tính cô thất thường như ông nội”.

“Bà tôi như người khác, lờ đờ, uất ức, lẫn lộn…”

 

 

(trang 7 – sđd)

Cô tôi tối ngày chỉ viết nhật kí và cắt vải.

Cô tôi cuối cùng tự tìm cái chết bằng thuốc ngủ. Trong tủ đầy những mảnh vải áo cắt dở. Không để lại một lời tuyệt mệnh.

Mức độ ảnh hưởng Mĩ Latin trong Khi người ta trẻ khá rõ nét: trước hết Phan Thị Vàng Anh mượn mẫu hai nhân vật nữ chính. Thậm chí mượn đến cả câu văn khi miêu tả “bà” và “cô tôi”, giống tới từng lời. Giọng kể chuyện của Phan Thị Vàng Anh cố lạnh lùng như giọng văn Nguyễn Huy Thiệp. Nhưng khác cơ bản là: Huy Thiệp xử lý tình huống vẫn không rời xa tính dân tộc (phần kết truyện Giọt Máu). Còn thái độ cay đắng nhẫn tâm của hai mẹ con người dẫn chuyện của Vàng Anh thì tàn nhẫn hơn cả Marquez. Khi thấy cô ruột tự tử, nhân vật “tôi” của Vàng Anh bảo: “chết đi là vừa”. Còn mẹ “tôi” thì bảo: “vớ vẩn, có đáng gì đâu!” Vậy là cả hai mẹ con nhân vật dẫn chuyện cũng tranh đua vay mượn “cái cô đơn” của nhân vật Marquez, chẳng hiểu vì lí do nào? Chỉ là cái “mốt” bắt chước vậy thôi! “Khi người ta trẻ” có quyền tiếp nhận ảnh hưởng của Mĩ Latin nhưng không nên từ bỏ tính dân tộc ViệtNam; Giọng văn Vàng Anh xa lạ với tình cảm và tâm thức người ViệtNam (nghĩa tử là nghĩa tận!). Có người chưa nghiên cứu kĩ sự vay mượn sống sít của tác phẩm “Khi người ta trẻ” đã vội vàng quá lời ca ngợi “tài năng trẻ” Phan Thị Vàng Anh!

Những vấn đề về khả năng kỳ diệu của con người như “ngoại cảm” tìm mộ tìm cốt, những sự báo mộng linh nghiệm, điềm hay điềm gở…từ lâu đã được nêu lên ở Việt Nam nhưng khoa học vẫn chưa thể trả lời. Khi đó văn học có thể lên tiếng với ngôn gnữ đặc trưng của mình. Phương pháp hiện thực huyền ảo đã cung cấp thêm một thủ pháp đắc dụng cho nhà văn ViệtNam. Bởi vậy ngay sau khi “Trăm năm cô đơn” dịch và phát hành vào nước ta, nhà văn ViệtNamtiếp nhận ảnh hưởng một cách thản nhiên mà còn công khai thừa nhận như trường hợp Khôi Vũ.

 Giới nghiên cứu văn học ở ViệtNam đã ghi nhận dòng văn học hiện thực huyền ảo Mĩ Latin như sau:

TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ KHOA HỌC, Nhà xuất bản Giáo dục, nhóm tác giả Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Lê Bá Hán, xuất bản 1999, mục từ “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo”, trang 53.

“Trào lưu văn học quan trọng của văn học châu Mĩ Latin xuất hiện vào những năm 60 thế kỉ XX. Các nhà văn của trào lưu này thường hay mượn những truyền thuyết dân gian cổ xưa để tạo các huyền thoại mới về hiện thực xã hội châu Mĩ Latin. Tác phẩm vừa có những cảnh tượng li kỳ, hư ảo vừa có những chi tiết và hoàn cảnh hiện thực, gây cho người đọc cảm giác về các hiện tượng nghịch lý.

      Nguyên tắc sáng tác của họ là “biến hiện thực thành hoang đường mà không đánh mất tính chân thực”. Để gây hiệu quả hoang đường, các tác giả thường sử dụng hình ảnh biểu trưng, ngụ ý, liên tưởng, ám thị, phóng đại, khoa trương, người và hồn ma bất phân, trật tự thời gian bị xáo trộn, thực và ảo hoà quyện. Lăng kính huyền thoại đã giúp các nhà văn vạch trần những hiện thực đen tối tàn bạo của các chế độ độc tài, phê phán tình trạng khép kín văn hoá, đoạn tuyệt giao lưu. Trào lưu này vừa kế thừa các các truyền thhống văn học cổ điển của người Anh điêng vừa dung hợp các biểu hiện của huyền thoại và nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa của phương Tây. Họ thường dùng hồn ma vạch mặt bọn chủ trang trại tàn bạo, mượn thần linh chỉ trích, chế giễu bọn độc tài bất lực, ngu độn thậm chí mượn phù thuỷ trêu chọc các nhà thống trị. Dòng văn học này có ý nghĩa nhận thức và chiến đấu cao, có ảnh hưởng lớn trên trường quốc tế. Các tác giả tiêu biểu của trào lưu này có thể kể Marquez, Hoan Rulfo và Caclos Fuentex (Mexico), Hose Donose (Chile)”.

 

Triển vọng nghiên cứu: Sự tiếp nhận chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong văn học ViệtNam đã diễn ra như thế nào, “ViệtNam hoá” theo những hướng nào ? Để giải quyết vấn đề đó, đòi hỏi giới văn học nước ta tiến hành một đề tài nghiên cứu theo phương pháp so sánh loại hình kết hợp với việc vân dụng quy luật văn hoá học.

 P.H.N

 PHỤ LỤC

(đọc thêm)

Cụ già có đôi cánh khổng lồ

Truyện ngắn của G.G Marquez

Trời mưa đến ngày thứ ba. Cua bị chết ở trong nhà rất nhiều đến nỗi Pê-la-đô phải lội qua sân nhà mình ngập nước để ra biển ném chúng đi, bởi vì đứa trẻ mới sinh cả đêm qua sốt cao quá và người ta liền nghĩ ngay rằng nó ốm là do nhiễm phải cái mùi khắm của xác những con vật chết. Ngay từ ngày thứ ba, khung cảnh làng thật buồn bã. Bầu trời và mặt biển đều xám màu tro. Các bãi biển mọi ngày cứ vàng rộm chói chang dưới ánh mặt trời nay biết thành những vũng nước nổi váng bùn và rác rưởi. Ngay lúc đang trưa ánh sáng cũng lờ mờ yếu ớt đến mức Pê-la-đô từ ngoài biển trở về phải lấy hết sức bình sinh mới nhìn ra ở cuối sân có một vật gì đó đang cựa quậy và rên rỉ. Anh ta buộc phải đến rất gần mới nhận ra được có một ông già ngã sấp trên mặt đất bùn và dù cố sức vùng vẫy đến đâu ông già cũng không đứng dậy nổi bởi hai cánh to, rất to cứ ghim cổ lại.

Pê-la-đô rất kinh hoàng, vội chạy đi tìm Ê-li-xen-đa, vợ anh đang pha thuốc cho đứa trẻ ốm và lôi chị đến tận nơi có ông già. Hai người vừa lo sợ vừa chăm chú quan sát ông già. Quần áo của ông rách như tổ đỉa. Trên cái đầu hói bóng lơ thơ sót lại mấy sợi tóc bạc kéo từ thái dương ra sau gáy và hai hàm răng cũng chỉ còn lại mấy chiếc khấp khểnh. Trông ông già trong tình trạng ấy thật là thiểu não. Đôi cánh của ông già giống như cánh gà, bê bết bùn trụi gần hết lông, cứ dính chặt xuống đất bùn. Do ngắm nhìn ông già quá lâu và quá quan tâm lo lắng cho ông già, cả hai người không cảm thấy sợ nữa và bắt đầu cảm thấy ông già gần gũi với mình hơn. Thế là họ bạo dạn đến nói chuyện với ông già và ông già đã trả lời họ bằng thứ ngôn ngữ địa phương khó hiểu nhưng giọng nói của ông sang sảng như giọng nói của thủy thủ. Thế là, không kể đôi cánh kia gây cho họ cảm giác khó chịu, ông già đem lại cho họ một ý nghĩ đúng đắn. Họ nghĩ, đó là một hành khách đi trên một chiếc tàu ngoại quốc bị cơn bão đánh đắm và ông già đã dạt vào đây. Tuy nhiên, bọn họ đã gọi bà hàng xóm thông hiểu nhiều chuyện đời và chuyện bí ẩn của thần chết cùng đến xem ông già. Chỉ cần nhìn thoáng một cái, bà ta đã nói để an ủi hai người:

– Đó là một vị thần. Ta tin chắc rằng ngài đến để chúc mừng đức trẻ mới đẻ nhưng vì quá già nên đã bị mưa bão đánh ngã.

Đến ngày hôm sau, cả bàn dân thiên hạ đều biết rằng trong nhà Pê-la-đô có một vị thần bằng xương bằng thịt. Theo quan điểm của bà hàng xóm thông hiểu mọi nhẽ thì trong thời kì ấy các vị thần đều là những kẻ sống sót và phải chạy trốn cuộc nổi loạn trên thiên đường, cho nên dân làng không đang tâm dùng gậy mà đập chết ông già. Suốt buổi chiều hôm ấy, từ nhà bếp, Pê-la-đô dùng chiếc dùi cui ngồi canh chừng ông già. Trước khi đi ngủ, anh ta lôi ông già trên đất bùn đến chuồng gà và nhốt ông già vào với bầy gà trong chuồng bưng lưới sắt. Đến nửa đêm, khi trời mưa tạnh, Pê-la-đô và Ê-li-xen-đa vẫn tiếp tục giết lũ cua bò trong nhà. Sau đó ít lâu, đứa trẻ thức giấc, hết sốt, đòi ăn. Thế là vợ chồng họ cảm thấy sung sướng và họ liền trở thành hào phóng, đã quyết định để ông già lên một chiếc máng cùng với nước uống và thức ăn trong ba ngày sẽ thả cụ ra ngoài biển phó mặc cho vận may rủi. Nhưng khi trời vừa hửng sáng hai vợ chồng ra sân thì thấy hàng xóm láng giềng kéo đến đông nghịt đứng trước chuồng gà mà trêu chọc vị thần già, mà ném cho ngài các thức ăn làm như thể vị thần già là một con người không bình thường mà chỉ là một con vật làm xiếc mà thôi.

Cha xứ Gông-xa-ra đến đây lúc bảy giờ. Cha được tin này, không chỉ có những người nhẹ dạ cả tin mà còn có những người chín chắn hơn cũng tò mò kéo đến nhà Pê-la-đô và họ thi nhau bình luận về tương lai của kẻ bị nhốt trong chuống gà. Những người đần độn hơn cả thì nghĩ rằng có lẽ ông già sẽ được bổ nhiệm làm quan thị trưởng của cả thế giới. Những người khác, những người có tinh thần bi quan lại nghĩ rắng ông già sẽ được phong tước năm sao để chiền thắng tất cả các cuộc chiến tranh. Những kẻ hay mơ mộng hão lại nghĩ rằng ông già sẽ được bảo quản và giữ gìn cẩn thận như con vật giống để gieo rắc trên trái đất này một loại người có cánh và thông minh để lãnh đạo cả thế giới. Nhưng cha xứ Gông-xa-ra, trước khi là thầy tu đã là tay tiều phu lực lưỡng, dù đang chăm chú nhìn qua lưới sắt vẫn ôn lại cuốn sách giáo lí vấn đáp của mình và vẫn tiếp tục đề nghị mở rộng cánh cửa hơn để đến gần ông già đáng thương mang dáng dấp giống một con gà cộc già nua khổng lồ đang đứng ở giữa bầy gà ngây ngô. Ông già đang nằm ở xó chuồng, giữa đám vỏ hoa quả và thức ăn mà người ta ném cho từ lúc sáng sớm, để phơi đôi cánh khổng lồ giăng ra dưới nắng. Khi cha xứ Gông-xa-ra bước vào chuồng gà và dùng tiếng La-tinh chào vị thần thì ông già vẫn giữ vẻ thờ ơ mặc cho đám đông tò mò đang đứng trước của chuồng gà và hầu như ông già cũng chỉ ngước mắt lên và lẩm bẩm điều gì bắng thứ ngôn ngữ địa phương khó hiểu. Khi cha xứ biết rằng ông già này không biết ngôn ngữ La-tinh, ngôn ngữ của Thượng đế là cũng không biết chào hỏi những đại diện của mình ở hạ giới thì cha sinh nghi. Sau đó, càng quan sát kĩ, cha càng thấy ông già giống người nhiều hơn giống thần, cũng có mùi hôi ẩm trong trận bão, có rêu xanh lè trong hai cánh, và những chiếc lông lớn cũng bị bão làm cho xơ xác và như vậy là không một biểu hiện bề ngoài nào của ông già này phù hợp với các thánh được vẽ trong tranh. Thế là đức cha ra khỏi chuồng gà rồi đức cha đọc một bài thuyết giảng vắn tắt nhắc nhở những kẻ tò mò hãy cành giác trước những ý nghĩ nông cạn và chớ nên vội tin vào những điều mà mình nhìn thấy. Cha nhắc họ rằng quỷ dữ cũng thường ranh ma trá hình các thánh, trà trộn trong các vũ hội các-na-van để đánh lừa những kẻ nhẹ dạ cả tin. Cha còn lập lí rằng nếu đôi cánh kia không phải là yếu tố cơ bản để phân biệt con diều hâu với một chiếc máy bay thì lại càng không phải là điều kiện để thừa nhận ông già là một vị thần. Tuy nhiên, cha xứ hứa sẽ viết ngay một bức thư gửi lên đức giám mục báo cho ngài biết tin này để ngài viết thư lên đấng bề trên để đấng bề trên của ngài lại viết thư lên đấng bề trên nữa cho đến khi nào tới tay Đức Giáo hoàng và nhờ thế mọi người ở đây sẽ được đọc lời phán xét cuối cùng của tòa thượng thẩm.

Sự cẩn trọng của cha xứ là vô ích. Tin tức về vị thần bị nhốt trong nhà Pê-la-đô được lan truyền đi rất nhanh đến mức chỉ sau ít đó mấy giờ, sân nhà Pê-la-đô đông (…) kẻo họ làm đổ mất nhà. Ê-li-xen-đa, lưng còng hẳn đi vì phải cúi suốt ngày để quét rác chợ, lúc ấy liền nảy ra ý định rất đẹp: che sân nhà lại và bán vé với giá năm xu cho những ai muốn xem vị thần già có đôi cánh khổng lồ.

Những kẻ tò mò thích chuyện lạ từ đảo Mác-ti-ních cũng đến đây. Một gánh xiếc lưu động mang cả một gã làm trò nhào lộn cũng đến đây. Gã nhiều lần bay vù vù trên đầu đám dân chúng nhưng cũng không một ai thèm để ý vì đôi cánh của gã không phải là đôi cánh thiên thần mà chỉ là cánh của con dơi khổng lồ. Những người bất hạnh nhất của cả vùng biển Ca-ri-bê đến đến đây để mong được chữa bệnh: một người đàn bà bị bệnh tim ngay từ thời ấu thơ lúc nào cũng đếm nhịp tim mình và bà ta đã đếm được rất nhiều, tới mức không còn đủ con số cho bà ta đếm; một bác nông dân Ha-mai-ca không tài nào ngủ được vì tiếng động của các vì sao cứ làm bác khó chịu; một kẻ mộng du ban đêm cứ đi lại ồn ào không cho ai ngủ và rất nhiều những người bị bệnh khác. Trong hoàn cảnh ồn ào chen lấn đến ngộp thở kia, Pê-la-đô và Ê-li-xen-đa cực kì sung sướng vì chưa đầy một tuần, họ đã thu được rất nhiều tiền và nhét chặt vào các phòng ngủ và hàng người chờ xếp hàng đến lượt vào xem vẫn dài lê thê đến tận chân trời.

Chỉ có cụ già kia là không tham dự vào chính sự kiện do mình gây ra. Trong lúc thời gian qua đi, vị thần già tìm cách nằm thoải mái trong cái ổ người ta làm cho mình mà chịu đựng cái nóng khủng khiếp nơi hỏa ngục do những ngọn đèn dầu và nến thắp sáng ngay bên cạnh gây nên. Thoạt đầu mọi người tưởng rằng vị thần già sẽ ăn lá long não, mà theo như lời bà hàng xóm thông thái nọ đó là món ăn đặc biệt của các vị thần. Nhưng ngài không thèm ăn, cũng như ngài không đụng đến các thức ăn trưa của Giáo hoàng do các tín đồ dâng lên mà chỉ ăn lá nõn cây bê-rê-nhê-na. Kiên nhẫn đó là đức tính nổi bật của ngài, nhất là trong những ngày đầu, ngài rất nhẫn nại, cứ mặc nhiên thây kệ bọn gà thi nhau rỉa sâu bọ sinh sản trong đôi cánh ngài, thây kệ bọn ốm đau nhổ lông ngài để phết lên những chỗ đau, thây kệ những kẻ ném đá vào ngài để buộc ngài phải đứng dậy cho họ có dịp được nhìn ngắm toàn bộ thân hình ngài. Chỉ có một lần duy nhất họ khiến ngài phải đứng dậy ấy là khi bọn họ dùng một con dấu sắt nung đỏ ấn vào mạn sườn ngài, vì họ nghĩ rằng ngài đã chết rồi. Thế là ngài thức dậy đầy hoảng hốt, miệng vẫn lảm nhảm một thứ ngôn ngữ rất khó hiểu, nước mắt lưng tròng, rồi ngài vỗ cánh liền hai cái khiến cho bụi và phân gà trong chuồng bay lên tựa như một cơn lốc.

Nhiều người tin rằng sự phản ứng của ngài không phải do ngài giận dữ mà là do ngài đau đớn. Thế là từ đó trở đi, người ta chăm lo cho ngài cẩn thận hơn, vì phần lớn đều cho rằng sự nhẫn nại chịu đựng được mọi phiền toái của ngài không phài sự nhẫn nại của người anh hùng mà là trạng thái nghỉ ngơi sau bao gian truân trong bão táp.

Cha Gông-xa-ra dùng những lời lẽ ngọt ngào để thuyết phục đám dân chúng đừng đến đây nữa mà hãy chăm lo công việc gia đình trong lúc đợi sự phán quyết dứt khoát của đấng bề trên về bản thể của kẻ bị giam giữ. Nhưng đường thư Rô-ma có lẽ không còn ý thức trách nhiệm trước tính chất khẩn cấp của lá thư. Trong lúc thời gian trôi đi thì mọi người bận tâm tìm hiểu xem cái vị thần già giam giữ kia có trốn không, tiếng địa phương của ông già có phải là tiếng A-ra-mê-rô hay chỉ đơn giản ông già là một người Nê-ru-ê-gô có cánh mà thôi. Những bức thư chậm trễ ấy cứ việc đi rồi về cho đến tận cuối các thế kỉ nếu như không có một sự kiện hiển nhiên xảy ra kịp thời chấm dứt những tham vọng của đức vua.

Quả nhiên, trong những ngày ấy có một sự kiện độc đáo xảy ra. Giữa những gánh xiếc lưu động đến làng có một gánh xiếc trình diễn tiết mục về một người con gái vì không nghe lời cha mẹ bị biến thành con nhện. Vé vào cửa chẳng những rẻ tiền hơn so với vé xem vị thần già mà còn trong khi xem người ta có thể hỏi rất nhiều điều về hoàn cảnh câu chuyện xảy ra. Người ta có thể phân tích kĩ càng câu chuyện cho đến khi nào không còn nghi ngờ gì về sự thật của nó. Đó là một con nhện khổng lồ to như con cừu và nó có bộ mặt trông như bộ mặt cô trinh nữ buồn tủi. Nhưng điều đáng thương tâm hơn cả là không phải cái hình thù xấu xí, nực cười của cô ả mà chính là thái độ ngây thơ chân thành trong khi cô ả kể lại chuyện đời mình với đầy đủ các chi tiết nhỏ nhặt nhất ngay từ khi còn là trẻ ranh, cô ả đã trốn cha mẹ để đi khiêu vũ. Sau một đêm khiêu vũ không được phép của cha mẹ, trên đường về cô ta bị một tiếng sấm nổ rạch đôi bầu trời và một tia chớp xanh lè bổ xuống biến cô ta thành con nhện. Thức ăn duy nhất của cô ả là những viên thịt băm người ta vui vẻ ném vào mồm ả. Một tích truyện như thế tự nó mang một sự thật nhân bản và một bài học đáng sợ, nó đã đánh bại một cách không thương tiếc cái trò đi xem vị thần già nua không làm được trò trống gì ngoài việc đủ can đảm nhìn vào cái chết. Ngoài ra, những phép màu hiếm hoi mà người ta cố gán cho vị thần già chẳng có sức thuyết phục, tỉ như phép màu mà ngài chữa bệnh cho một ông mù thì ông mù không lành mắt lại mọc thêm được ba răng, như phép màu ngài dùng để trị bệnh cho kẻ bị bại liệt thì kẻ này không khỏi bệnh mà lại suýt nữa trúng số độc đắc hoặc phép màu ngài dùng để trị bệnh cho một người hủi không lành bệnh mà lại thấy cây hướng dương mọc lên quanh những vết lở loét. Đúng ra những phép màu này giống như những lời đùa tếu bông lơn đã đánh tan thanh danh của vị thần già khi gánh xiếc có người con gái bị biến thành nhện đến làng. Đó là nguyên nhân khiến đức cha khỏi bệnh lẩm cẩm, giúp cho sân nhà Pê-la-đô trở lại khung cảnh vắng vẻ như cái hồi mưa ba ngày liền khiến cua thi nhau bò lồm cồm khắp các phòng trong ngôi nhà.

Chủ nhà chẳng có lí do gì để mà phải ca thán. Với số vốn lớn thu được họ làm một ngôi nhà hai tầng, có ban công và vườn hoa, chân nhà ốp gạch men để cho cua không thể bò được vào phòng trong những ngày mưa to gió lớn và tại các cửa sổ lưới thép được chăng lên để không một vị thần nào có thể chui vào trong nhà. Pê-la-đô còn cho lập một trại nuôi thỏ ngay cạnh làng và xin thôi không làm trương tuần nữa. Ê-li-xen-đa mua những đôi giày cao gót và khá nhiều váy lụa y hệt y phục các bà mệnh phụ thường dùng trong các ngày lễ tết. Chỉ riêng chuồng gà là nơi họ không thèm quan tâm. Nếu như có vài lần họ cọ rửa và xông lá thơm bên trong chuồng thì không phải là để thờ phụng vị thần già mà chính là để tẩy uế cái mùi hôi thối lởn vởn khắp ngôi nhà như một hồn ma và nó làm cho ngôi nhà ngày một cũ đi. Lúc đầu, khi đứa trẻ mới lững chững biết đi, họ chú ý chăm nom nó, không cho nó đến gần chuồng gà. Nhưng rồi họ cũng quên đi nỗi sợ hãi và bắt đầu làm quen với cái mùi hôi khó chịu kia và trước khi đứa trẻ thay răng sữa, nó đã vào chơi ngay trong chuồng gà làm cho sắt gỉ rơi lả tả từng mảng một. Vị thần khó chịu trước thằng bé hiếu động nhưng đã cố sức chịu đựng nó với tinh thần nhẫn nhục của một con chó đã rũ sạch mọi ảo tưởng. Cùng một lúc đứa trẻ và vị thần già đều bị bệnh thuỷ đậu. Viên bác sĩ lo điều trị cho đứa trẻ không thể kìm được lòng thương hại đã lấy ống nghe khám bệnh cho vị thần già và ông cũng cảm thấy rằng tim vị thần già đập nhanh quá và trong thận ông già có nhiều tiếng sôi khiến ông ta cảm thấy rằng vị thần già khó mà sống nổi. Tuy nhiên điều khiến ông ta ngạc nhiên hơn cả là tính chất logic của đôi cánh. Chúng rất tự nhiên trong cái bộ phận hoàn toàn người của vị thần già khiến bác sĩ không hiểu vì sao ở những người đàn ông khác lại không có cánh.

Khi đứa trẻ đi học, nắng mưa đã phá sập chuồng gà từ lâu. Vị thần già lê đôi cánh đi lại đây đó như một kẻ mộng du. Vợ chồng Pê-la-đô vừa đuổi vị thần già ra khỏi phòng ngủ thì ngay sau đó lại thấy ngài có mặt trong nhà bếp. Dường như cùng một lúc vị thần già có mặt ở khắp mọi nơi trong ngôi nhà địa ngục đầy ma quái. Vị thần già hầu như không ăn và đôi mắt trong của ngài lại ngầu đục và thế là ngài đi mà cứ va vấp hoài vào cột nhà, đôi cánh ngài trụi hết lông. Pê-la-đô lấy chăn đắp lên lưng cho vị thần già và cho ngài nằm trong nhà và chỉ đến khi ấy anh ta mới nhận ra rằng ngài lên cơn sốt suốt đêm và trong lúc lên cơn sốt ngài lẩm bẩm nói tiếng khó hiểu của người Nê-ru-ê-gô cổ xưa. Đó là một trong những lần hiếm có họ phải ngạc nhiên bởi ý nghĩ vị thần già sẽ chết và ngay cả bà hàng xóm thông thái cũng không thể bảo họ cần phải làm gì trước khi vị thần chết.

Tuy nhiên, vị thần già không những không chết trong ngày đông tháng giá mà còn tươi tỉnh khi mặt trời thức dậy. Nhiều ngày, ngài nằm im trong góc sân biệt lập, không mấy ai nhìn thấy ngài và vào những ngày tháng chạp bỗng trên đôi cánh ngài nở ra một ít lông to và cứng, đó là những chiếc lông của con chim già nua, chúng là biểu hiện của tuổi già lão. Nhưng có lẽ chính vị thần hiểu mình hơn ai hết về những lí do thay đổi ấy bởi vì ngài tự chăm lo mình cẩn thận hơn, để không một ai nhận ra ngài, để không một ai nghe thấy tiếng hát của những người đi biển mà đôi lúc họ như đang ca hát bên dưới các vì sao.

Một buổi sáng nọ trong lúc Ê-li-xen-đa đang ngồi thái hành chuẩn bị cho bữa cơm trưa thì nghe thấy một cơn gió hình như từ ngoài khơi lọt vào nhà bếp. Thế là Ê-li-xen-đa liền thò đầu qua cái cửa sổ và cô ngạc nhiên thấy vị thần già đang chuẩn bị cất cánh bay. Lúc đầu là những cú vỗ cánh hãy còn ngượng nghịu cuốn bụi bay theo và suýt làm đổ cả mái hiên. Nhưng rồi cuối cùng, vị thần già đã bay được và ngày càng bay cao. Ê-li-xen-đa thở phào một cánh nhẹ nhõm khi chị ta nhìn thấy ngài hiên ngang vẫy đôi cánh vĩ đại của con đại bàng. Chị ta tiếp tục nhìn theo cho đến khi hình bóng vị thần già mất hút ở đường chân trời, ấy là khi chị thái hành xong, bởi vì lúc ấy không phải là lúc vất vả của đời chị mà đúng hơn lúc ấy là một điểm tưởng tượng trong đường chân trời ngoài biển cả mênh mông.

1968

Trích trong GG Mác-két, 36 truyện đặc sắc, NXB Văn học, Hà Nội, 2001)



Gợi ý nghiên cứu

 

1/ Nhân vật “cụ già có đôi cánh khổng lồ” đã gây tác động mạnh mẽ như thế nào đối với làng quê của vợ chồng Pê-la-đô, Ê-li-xen-đa và đứa trẻ bệnh. Hãy liên hệ với cái làng quê ven biển trong truyện ngắn “Biển của thời đã mất” cùng tác giả.

2/ Hình ảnh “vị thần già” bị nhốt trong chuồng gà gợi nên cho bạn điều gì về tình trạng trục lợi bất lương ngày nay xảy ra đây đó trong cuộc sống?

3/ Nhân vật “cụ già có đôi cánh khổng lồ” là một nhân vật “hiện thực- huyền ảo” gặp gỡ một em bé đang lớn lên trong bệnh hoạn. Bạn có suy nghĩ gì về nghệ thuật xây dựng cặp nhân vật này ?

4/ Nghệ thuật tự sự  qua những điểm nhìn khác nhau tạo ra tác phẩm đa nghĩa. Hãy tìm hiểu các biện pháp tự sự trong truyện ngắn.

ß

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Giáo trình Lịch sử thế giới, Đại học Sư phạm Hà Nội, 1976
  2. Tạp chí Viện thông tin Khoa Học Xã Hội, số chuyên đề “Một số vấn đề tiểu thuyết hiện đại”, Hà Nội, 1988.
  3. Tạp chí Văn học số 2 năm 1989.
  4. Một số từ điển văn học Mĩ, Anh.
  5. Tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn” của GG. Marquez, NXB Văn học, Hà Nội, 1986, Nguyễn Trung Đức dịch
  6. Tập truyện ngắn chọn lọc Á, Phi, Mĩ La tinh “Biển của thời đã mất”,

NXB Ngoại văn, Hà Nội, 1987.

  1. Tiểu thuyết “Lời nguyền hai trăm năm” của Khôi Vũ, Nxb Thanh niên, HN, 1989).
  2. Tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp “Những ngọn gió Hua Tat”
  3. Tập truyện “Khi người ta trẻ”, Phan Thị Vàng Anh, Nxb Trẻ, TP HCM, 1995.
  4. Văn học Mỹ La tinh, Viện thông tin Khoa Học Xã Hội, thực hiện Nguyễn Thị Khánh (chủ biên), Hà Nội, 1999.
  5. Một số sách báo văn học khác.

Hết

An Giang 2002

Phùng Hoài Ngọc

(f ) Xem tiểu thuyết Nô tỳ Isaura của nhà văn Bernado người Brasil, sau chuyển thể thành bộ phim cùng tên. Phim kể chuyện: một nhân vật tên Leon Chiev con lão huân tước chủ nô được gửi về Pháp học đại học ởParis – lúc đó được coi là thủ đô văn hoá của Tây Âu. Anh ta đi học ngành vật lý nhưng chỉ ham mê ăn chơi. Khi anh ta về nước, lão huân tước cay đắng nhận thấy thằng con “quý tử” chẳng mang về được một mảnh bằng nào. Anh ta cũng chẳng học được thói gallant của người Pháp nên vẫn giữ thói “ông chủ thực dân”  khi đối xử với nô tì Isaura. Isaura là con lai – bố là người Bồ Đào Nha da trắng, mẹ người Phi da đen. Tuy không được đi du học nhưng cô lại được học tinh hoa văn hoá Pháp, giỏi tiếng Pháp, chơi đàn Piano thành thạo. Có khi ngẫu hứng cô diễn tấu những bài nhạc lạ lùng tự sáng tạo – những giai điệu nhạc Phi, khiến người nghe kinh ngạc say mê. Cô đã sáng tạo những giai điệu pha trộn nhạc Âu cổ điển với nhạc Phi hoang dã – gọi là nhạc Mĩ La tinh và đã chinh phục được bà  diễn viên kịch người Pháp…

https://nguvandhag.wordpress.com/2011/11/22/chuyen-dề-van-học-mỹ-la-tinh/