Browsing Category

Văn học

Literature Văn học Mỹ Latinh

Jorge Luis Borges – Sự bất tử

 

Jorge Luis Borges

Sự bất tử

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Eliot Weinberger

Trong một cuốn sách tuyệt hảo như bao cuốn khác của ông, cuốn The Varieties of Religious Experience, thì William James chỉ dành ra một trang để tra vấn về sự bất tử cá nhân. Ông bảo rằng, đối với ông thì đây là vấn đề nhỏ nhoi, rằng việc tra vấn về sự bất tử của con người gắn liền với vấn đề tông giáo, và còn cho rằng đối với hầu hết mọi người ở cõi nhân gian này, đối với quần chúng nói chung, thì “Chúa là người sản sinh ra sự bất tử.”

Không hiểu lời nói đùa ấy , Don Miguel de Unamuno lặp lại điều đó trong cuốn The Tragic Sense of Life, ông ta còn nói khá nhiều lần rằng ông muốn tiếp tục là Don Miguel de Unamuno. Đến đây thì tôi không hiểu Miguel de Unamuno. Tôi không muốn tiếp tục là Jorge Luis Borges, tôi muốn thành người khác. Tôi hi vọng mình có cái chết tuyệt đối; tôi hi vọng chết cả về thể xác lẫn tâm hồn.

Khi tôi rán nói đến sự bất tử cá nhân– của phần hồn bảo toàn được kí ức về chính bản thân nó khi còn tồn tại trên cõi nhân gian, và ở cõi khác nhớ được cái chết của mình – thì tôi không biết như thế là tham vọng hay khiêm nhường, hay hoàn toàn có lí do chính đáng. Chị Norah của tôi ở nhà tôi hôm nọ, và chị nói, “Chị sắp vẽ bức tranh tên là ‘Nỗi hoài niệm về nhân gian’, chủ đề trong tranh sẽ là những điều mà một người may mắn trên thiên đàng cảm nhận được khi nghĩ về cõi nhân gian. Nó sẽ có các yếu tố của Buenos Aires lúc chị còn nhỏ.” Tôi có một bài thơ cùng chủ đề mà chị không hề biết. Trong bài thơ ấy, tôi nghĩ đến Jesus, ông nhớ đến cơn mưa tại Galilee, cái mùi trong xưởng gỗ, và một thứ ông chẳng bao giờ thấy được lúc ở thiên đàng và thế là ông lưu luyến điều đó: vòm trời đầy sao.

Chủ đề trên thiên đàng hoài niệm về cõi nhân gian cũng xuất hiện trong thơ của Dante Gabriel Rossetti. Bài thơ đề cập đến một người con gái ở chốn thiên đàng, dù vậy lại cảm thấy bất hạnh bởi tình nhân của nàng không ở cùng nàng; nàng hi vọng anh ta sẽ đến, nhưng anh sẽ không bao giờ tới được bởi lẽ anh đã phạm phải tội lỗi, thế là cô nàng cứ mãi nuôi hi vọng không bao giờ dứt. 

William James nói rằng, đối với ông đó chỉ là vấn đề nhỏ nhoi; rằng những vấn đề lớn lao của triết học là thời gian, là thực tại của cõi sống bên ngoài, và là giác tính. Bất tử chiếm một vị trí nhỏ nhoi, vị trí này phù hợp với thi ca nhiều hơn là triết học, và tất nhiên phù hợp với cả thần học nữa dù cho không phải loại thần học nào cũng hợp.

Có một giải pháp khác, đó là sự đầu thai của linh hồn, đây hẳn là một giải pháp thi ca, và một giải pháp nữa còn thú vị hơn, đó là việc tiếp tục tồn tại như chính bản thân mình và nhớ về chính con người mình – mà theo tôi thì đây là một chủ đề nghèo nàn.

Tôi nhớ được mười, mười hai hình ảnh từ thuở ấu thơ, và cố quên chúng. Khi tôi nghĩ đến thời niên thiếu, tôi không cam chịu con người mình lúc ấy; tôi hẳn là thích trở thành người khác. Đồng thời, toàn bộ việc này có thể được thi ca chuyển hoá, có thể trở thành chủ đề cho thi ca.

Đoạn văn xúc động nhất trong triết học nào giờ, xúc động một cách tự nhiên, chính là tác phẩm Đối thoại Phaidōn của Platōn. Tác phẩm đối thoại đó đề cập đến những ngày cuối cùng của Sokrates, khi bạn bè ông iết là chiếc thuyền từ Delos đã tới và biết Sokrates sẽ uống thuốc độc. Sokrates tiếp đón bạn bè trong ngục tù, biết rằng ông sẽ bị xử tử. Ông gặp tất cả bọn họ, ngoại trừ một người. Tới đây chúng ta phát hiện được câu chữ cảm động nhất mà Platōn từng viết trong suốt đời mình, như Max Brod đã ghi nhận. Ông viết: “Platōn, ta nghĩ anh ấy bệnh rồi.” Theo Brod, trong số tất cả những đoạn đối thoại thì đây là lần đầu tiên Platōn xướng tên mình. Nếu Platōn viết ra cuộc đối thoại ấy, thì rõ là ông ta có mặt ở đó – hoặc không ở đó, cũng như nhau thôi – nhưng ông tự xướng tên mình theo ngôi thứ ba. Điều này cho ta thấy ông khắc khoải khi chứng kiến khoảnh khắc hệ trọng đó.

Người ta suy xét rằng Platōn thêm vế đó vào để cho phép bản thân được tự do hơn, như thể muốn nói: “Tôi không biết Sokrates đã nói gì ngày cuối cùng hôm đó, nhưng tôi muốn nghĩ là ông ta đã nói những điều như thế.” Hoặc: “Tôi có thể hình dung ông nói ra những điều như thế.” Tôi tin Platōn cảm được cái đẹp văn chương tuyệt đỉnh trong câu nói “Ta nghĩ Platōn, anh ấy bệnh rồi.”

Sau đó xuất hiện một đoạn tuyệt diệu, có lẽ là đẹp nhất trong số những đoạn đối thoại. Mấy người bạn bước vào; Sokrates an toạ trên giường; gông cùm đã được tháo hết ra rồi. Ông xoa xoa đầu gối và cảm thấy khoan khoái khi không còn chịu sức nặng của xiềng xích nữa, và nói: “Lạ làm sao. Xiềng xích làm ta trĩu nặng, đó là một dạng đau đớn. Giờ đây ta cảm thấy nhẹ nhõm bởi họ gỡ bỏ chúng ra rồi. Lạc thú và đau đớn đi cùng nhau, chúng là một cặp sinh đôi.”

Lời lẽ thật tuyệt vời, trong khoảnh khắc ấy, vào ngày cuối cùng đời mình, ông không nói mình sẽ chết, thay vào đó ông lại chiêm nghiệm về chuyện lạc thú và đau đớn là hai thứ không thể tách rời nhau. Điều đó cho thấy đây là một người đàn ông can trường, một người đàn ông chuẩn bị chết mà không hề nói lời nào về cái chết đang cận kề.

Sau đó ông nói rằng bữa đó ông phải uống thuốc độc thôi, và khi ấy nảy sinh cuộc bàn luận mà theo ta đã bị sự kiện thế này làm hỏng hết: ông nói đến hai thực tồn, đến hai bản thể, thể xác và tâm hồn. Sōkratēs cho rằng phần bản thể tâm thần (tâm hồn) có thể sống tốt hơn mà không cần đến thể xác; cho rằng thể xác là thứ gây trở ngại. Ý này lặp lại học thuyết, thường gặp ở người xưa, cho rằng ta bị cầm tù trong chính thân xác mình.

Ở đây tôi muốn gợi lại vài dòng từ một nhà thơ vĩ đại người Anh Rupert Brooke, bằng những vần thơ tuyệt hảo nhưng triết lí tệ, ông nói rằng sau khi chết ta sẽ “cảm thấy được, những ai đặt đôi bàn tay mơn trớn của ta ra xa nhau; Và thấy được, mà không bị đôi mắt mình che mù.” Gustav Spiller trong bài luận văn xuất sắc về tâm lí học đã nói rằng nếu ta nghĩ đến những rủi ro khác của thân xác – một sự tổn thương, một quả đấm ngay vào đầu – thì chúng sẽ không có lợi cho phần hồn. Thật khó hình dung một cơn tai biến đối với thể xác lại tốt cho tâm hồn mình. Tuy thế, Sōkratēs, vốn tin vào hai thứ có thực này, xác và hồn, lại lập luận rằng tâm hồn nếu được giải phóng khỏi thể xác thì nó có thể tận hiến cho việc tư duy.

Ý tưởng này gợi nhắc đến huyền thoại về Dēmokritos. Người ta cho rằng một hôm trong khu vườn nọ ông ấy tự móc mắt mình để có thể suy tư và để không bị thế giới bên ngoài làm mình xao lãng. Điều này dĩ nhiên không thực, nhưng câu chuyện thật đẹp. Đây là một người thấy được thế giới hình ảnh – cái thế giới của bảy sắc màu mà tôi đã đánh mất – và ông ta coi đó là chướng ngại đối với tư duy thuần tuý và đã lôi cặp mắt mình ra để tiếp tục tư duy  trong cõi tịch mịch an nhiên.

Với chúng ta, những ý tưởng về thể xác và về tâm hồn này tất thảy đều đáng ngờ. Ta hãy nhắc lại sơ bộ lịch sử triết học. Locke bảo rằng thứ duy nhất tồn tại là cảm quan và cảm giác, và các kí ức cùng những cảm quan về những cảm giác đó. Sau đó Berkeley khẳng định vật chất là là một chuỗi những cảm quan và những cảm quan này là thứ bất khả tư nghị nếu không cảm quan thông qua ý thức. Màu đỏ là gì? Màu đỏ tuỳ thuộc vào mắt nhìn của ta, và đôi mắt ta thì lại phụ thuộc và hệ thống cảm quan. Rồi tới phiên Hume, ông này bác bỏ cả hai lí thuyết đó, và tiêu huỷ luôn cả hồn lẫn xác. Hồn là gì ngoại trừ cái cảm quan được, và vật chất là gì ngoại trừ cái được cảm quan? Nếu trên cõi đời này người ta đè nén đi những danh từ, thì chúng ắt được qui giảm đi thành các động từ. Chúng ta không thể nói, “tôi tư duy” bởi lẽ “tôi” là một chủ ngữ; ta nên nói, “tư duy đây” cũng như nói “trời mưa” vậy. Trong cả hai động từ, ta có được hành động mà không cần đến chủ ngữ. Khi Descartes nói, “tôi tư duy, do vậy tôi tồn tại”, thì lẽ ra ông ấy nên nói, “Có thứ gì đó tư duy” hoặc “tư duy đây” bởi lẽ “tôi” ở đây giả định một thực thể, và tôi không có quyền để giả định điều đó. Đáng lẽ ông ta nên nói, “tư duy đây, do vậy tồn tại thứ gì đó”.

Liên quan đến sự bất tử cá nhân, chúng ta sẽ xem thử có những luận cứ nào ủng hộ ý này. Tôi sẽ dẫn ra hai cái. Fechner bảo rằng ý thức con người đi kèm với chuỗi những ham muốn, thèm khát, hi vọng và nỗi sợ hãi vốn là những điều không tương ứng với quãng đời của ta. Khi Dante nói “n’el mezzo del cammin de nostra vita”, thì ông ấy gợi ta nhớ rằng Kinh thánh ban cho ta bảy mươi năm cuộc đời. Do vậy, lúc ông ấy có được cái nhìn như thế thì ông đã bước sang tuổi ba mươi lăm rồi. Trong diễn trình bảy mươi năm đời mình – không may là tôi đã đi vượt quá giới hạn: giờ tôi bảy mươi tám tuổi rồi – chúng ta cảm nhận được những thứ vốn chẳng có ý nghĩa gì trong cuộc đời này.  Fechner nghĩ đến thai nhi, về cái thân xác trước lúc nó rời khỏi bụng mẹ. Trong thân xác ấy có đôi chân không làm gì cả, có đôi cánh tay, đôi bàn tay – không có thứ nào có ý nghĩa: nó chỉ có thể có ý nghĩa ở cuộc sống sau này. Chúng ta phải tin rằng những chuyện thế cũng sẽ xảy đến với ta, rằng chúng ta tràn đầy hi vọng, sợ hãi, phỏng đoán, và chúng ta không thể nói chính xác chúng có nghĩa gì đối với một cuộc đời thuần tuý của con người khả tử. Chúng ta có thể nói chính xác loài vật có gì, nhưng chúng có thể lờ đi tất thảy mọi thứ đó, những thứ có thể được dùng đến ở một cuộc sống khác, vẹn toàn hơn. Đây là một luận cứ ủng hộ cho sự bất tử.

Ta hãy dẫn lời Thánh Tommaso d’Aquino, người đã để lại cho ta câu văn thế này: “Intellectus naturaliter desiderat esse semper”, trí tuệ vốn dĩ khao khát được tồn tại mãi mãi. Với câu nói đó ta có thể đáp lại rằng nó cũng ham muốn cả những thứ khác, và nó thường ham muốn cả việc ngưng tồn tại. Chúng ta có mấy trường hợp tự sát, và trường hợp phổ biến nhất của những ai cần phải ngủ, đó cũng là một hình thức của cái chết. Chúng ta có thể dẫn ra những đoạn thơ dựa trên  ý tưởng về cái chết và coi đó là một dạng cảm thụ. Ví dụ, copla tiếng Tây-ban-nha nổi tiếng sau: “Ven, muerte tan escondida / que no te sienta venir / porque of placer de morir / no me torne a dar la vida” (Đến đây, là cái chết ẩn tàng / đến mức tôi không cảm thấy được người đến / bởi niềm lạc thú được chết đi / đã làm tôi không thiết trở về cuộc sống). Rồi có một khổ thơ của thi sĩ Pháp Leconte de Lisle: “Giải phóng anh ta ra khỏi thời gian, ra khỏi con số, và ra khỏi không gian, rồi đưa anh trở về giấc an lành nơi anh đã rời bỏ.”

Chúng ta có nhiều khao khát, trong đó có khao khát cuộc sống, khao khát được tồn tại mãi mãi, không những thế còn có khao khát được ngừng sự tồn tại này, cũng như còn có nỗi sợ và điều đối nghịch với nó, niềm hi vọng. Hết thảy những điều này có thể tồn tại mà dù thiếu vắng sự bất tử cá nhân, và cũng không cần đến nó. Bản thân tôi không ham muốn nó, và tôi sợ nó, bởi lẽ thật kinh khiếp khi biết rằng tôi sẽ còn tiếp tục, sẽ còn sợ hãi khi nghĩ đến chuyện tôi vẫn cứ làm Borges như vầy. Tôi chán chường bản thân, chán tên mình, chán cả danh tiếng của mình và tôi muốn giải phóng bản thân thoát khỏi tất thảy những điều ấy.

Có một dạng thoả hiệp tôi phát hiện ở Tacitus, và sau này Goethe lấy lại ý đó. Tacitus, trong cuốn Cuộc đời của Agrippa, đã nói rằng: “Non cum corpore periunt magnae animae”, những tâm hồn vĩ đại không chết cùng với thân xác. Tacitus tin rằng sự bất tử cá nhân là món quà dành sẵn cho một số người, không phải những kẻ tầm thường, mà cho những tâm hồn nhất định xứng đáng được bất tử, ông tin là họ đáng được người đời ghi nhớ về con người mình. Goethe lấy lại tư tưởng này, và viết ra, lúc người bạn Wieland của ông lâm chung: “Thật kinh khủng khi nghĩ rằng Wieland đã chết đi chết lại muôn lần.” Ông không thể nghĩ được Wieland lại không tiếp tục được ở một nơi nào khác, ông tin vào sự bất tử cá nhân ở Wieland, nhưng không phải ở tất cả mọi người. Ta biết rằng bất tử là đặc ân của một vài người. Nhưng ai cũng tự đánh giá mình là cao cả, ai cũng có xu hướng tin rằng sự bất tử của họ là cần thiết. Tôi không tin điều đó.

Sau đó, tôi nghĩ ta sẽ có những sự bất tử khác vốn là những nhân vật quan trọng. Đầu tiên là ý tưởng về luân hồi. Ý tưởng này thuộc về Pythagoras, và Platon. Platon thấy luân hồi là điều có thể. Luân hồi giúp giải thích vận may và vận rủi. Nếu ta may mắn hoặc xui xẻo trong cuộc đời này, thì tức là ta mắc nợ nó ở kiếp trước; ta sẽ tiếp nhận hình phạt hoặc được tưởng thưởng. Có một thứ có thể khó hiểu: nếu cuộc đời cá nhân ta, theo như đức tin Hindu và đạo Phật, lại phụ thuộc vào kiếp trước, và kiếp trước đó tới phiên nó phụ thuộc vào một kiếp trước nữa, và do đó cứ tiếp diễn vô tận về miền quá khứ. Người ta nói rằng nếu thời gian là vô hạn, thì vô hạn các kiếp trước là điều mâu thuẫn. Nếu con số đó vô hạn, thì làm sao mà một thứ vô hạn lại chạm được tới hiện tại này? Ta nghĩ nếu thời gian vô hạn, mà tôi tin là vậy, thì thời gian vô hạn đó phải bao hàm tất thảy những thời vô hạn và, trong số toàn bộ những thời vô hạn, tại sao không phải là thời vô hạn này ở tại nơi đây, trong trường Đại học Belgrano, với tôi và các bạn ngồi lại cùng nhau như vầy? Tại sao cũng không phải là khoảng thời gian đó? Nếu thời gian vô hạn, thì tại bất kì thời điểm này chúng ta cũng ở trung tâm thời gian.

Pascal suy tư rằng nếu vũ trụ vô hạn, thì vũ trụ là một khối cầu với chu vi của nó nằm ở mọi nơi và tâm của nó không nằm ở đâu cả. Tại sao không nói rằng thời điểm hiện tại này có một quá khứ vô hạn đằng sau nó, một ngày hôm qua vô hạn, và nói rằng quá khứ này cũng đã băng qua thời hiện tại này? Ở bất kì thời điểm nào, ta cũng ở trung tâm của một đường thẳng vô hạn, bất kể ở chốn nào của cái trung tâm vô hạn ấy, ta cũng ở trung tâm của không gian, bởi thời gian và không gian đều vô hạn.

Các Phật tử tin rằng ta sống vô số kiếp, theo nghĩa con số vô tận, mà nếu xét từ ngữ nghiêm chặt hơn: con số vô thuỷ vô chung, giống với con số siêu hạn trong toán học của Cantor. Ta giờ đây đang ở trung tâm – toàn bộ mọi thời điểm đều là những trung tâm – của thời gian vô hạn đó. Lúc này ta đang nói chuyện, bạn đang nghĩ về những thứ tôi nói, bạn sẽ đồng ý hoặc phản đối.

Luân hồi ban cho ta khả năng chuyển tâm hồn từ thân xác này sang thân xác nọ, từ thân xác con người sang thân xác loài vật. Ta có bài thơ của Pietro di Agrigento trong đó ông cho biết làm thế nào mà ông nhận ra được tấm khiên từng là của ông trong cuộc chiến Trojan. Ta có bài thơ của John Donne “Sự phát triển của tâm hồn”, ra đời sớm hơn chút so với Shakespeare. Donne bắt đầu bằng câu nói: “ta ngợi ca sự phát triển của tâm hồn bất diệt”, và tâm hồn đó chuyển từ thân xác này sang thân xác kia. Ông tuyên bố mình sẽ viết một cuốn sách cao cấp hơn tất cả những cuốn khác, ngoại trừ Kinh Thánh. Dự án của ông rất táo bạo, và mặc dù không bao giờ thành hiện thực, nhưng nó có những đoạn thơ đẹp. Ông bắt đầu bằng một linh hồn ngụ trong quả táo – tức là, trong quả táo của Adam, quả táo của tội lỗi. Rồi nó ở trong bụng nàng Eve và sinh ra Cain; rồi ở mỗi khổ thơ nó đi từ thân xác này qua thân xác nọ (một trong những thân xác đó là Hoàng hậu Elizabeth). Bài thơ vẫn còn dang dở. Donne tin vào sự luân hồi của linh hồn, và một trong những đoạn mở đầu, ông đề cập đến những nguồn cội nổi danh về khái niệm này và đưa ra hai cái tên: Pythagoras và Socrates ở đoạn đối thoại cuối cùng.

Đáng chú ý là Socrates chiều hôm ấy khi đàm đạo cùng các bằng hữu, lại không muốn nói lời tạm biệt trong tình cảnh lâm li bi đát. Ông đuổi vợ con ra ngoài, ông muốn đuổi luôn cả người bạn đang khóc lóc, ông muốn có không khí êm đềm để đàm đạo, đơn giản chỉ để tiếp tục đàm đạo và suy tư. Cái chết cá nhân không làm ông phiền muộn. Vai trò của ông, thói quen của ông, là một thứ gì đó khác nữa: để bàn luận, bàn luận theo theo một lối nhất định nào đấy.

Tại sao ông lại uống thuốc độc? Không có nguyên do.

Ông nói ra những điều làm người đời tò mò: “Orpheus muốn biến mình thành chim sơn ca; Agamemnon, kẻ chăn chiên của loài người, thì muốn biến thành chim ưng; Ulysses thì lạ lắm, hắn muốn biết thành một gã hèn mọn và bí ẩn nhất ở thế gian này.” Socrates cứ nói, cái chết ngắt lời ông. Người ta thấy cái chết sầu muộn lần lên đôi chân ông. Ông đã uống thuốc độc. Ông bảo một người bạn rằng ông nhớ lời thề với Aesculapius, và nhớ sẽ tặng người đó một chú gà trống. Bằng lẽ đó ông muốn nói rằng Asculapius, vị thần y học, đã giải trừ ông khỏi cái ác thiết yếu. “Tôi mắc nợ Aesculapius một con gà trống, ông đã giải trừ tôi khỏi cuộc sống, tôi chuẩn bị chết đây.” Tức là ông ta không tin những gì mình nói lúc trước; ông nghĩ là mình chuẩn bị chết như ở vai trò cá nhân.

Ta có một văn bản cổ điển khác, De rerum natura của Lucretius là tác phẩm trong đó tác giả phủ nhận sự bất tử cá nhân. Những luận cứ đáng nhớ nhất do Lucretius đưa ra là thế này: Một người than phiền rằng mình sắp sửa chết. Anh ta nghĩ rằng tương lai sẽ lãng quên mình. Như Victor Hugo có nói: “Chàng đơn độc ngay giữa bữa tiệc / không thứ gì thiếu vắng đi trong cõi đời rực rỡ và tươi vui này.” Ở bài thơ tuyệt vời ấy, cũng đầy tham vọng như Donne, Lucretius dùng luận cứ sau: “Anh khổ đau bởi anh không nắm giữ được thời tương lai. Thế mà anh lại tin có một khoảng thời gian vô tận trước anh, tin rằng khi anh chào đời, thời điểm ấy cũng đã đi qua khi Carthage và Troy lao vào trận chiến giành quyền cai trị thế giới. Điều đó không nghĩa lí gì với anh. Thế sao cái gì sắp tới lại quan trọng đến vậy? Anh đã mất đi cái quá khứ vô tận, thì có gì quan trọng nếu anh mất đi thời tương lai vô tận?” Đây là điều Lucretius nói đến. Thật tiếc là tôi không không biết nhiều tiếng Latin để nhớ hết mấy dòng đẹp đẽ của ông, mà mãi gần đây tôi mới đọc được kèm theo trợ giúp của từ điển.

Schopenhauer trả lời – và tôi nghĩ Schopenhauer có thẩm quyền lớn nhất – rằng học thuyết luân hồi chẳng là gì cả ngoại trừ việc nó là hình thức phổ biến cho một loại học thuyết khác, vốn được Shaw và Bergson biểu hiện ra sau này, học thuyết về ý chí sống.  Có một thứ khao khát được sống, một thứ mở lối băng qua vật chất, hoặc bất chấp cả vật chất. Đó là thứ mà Schopenhauer gọi là wille, ông quan niệm nó như là ý chí tái sinh.

Sau đó, Shaw nói đến “sinh lực”, và cuối cùng Bergson bàn về cái “élan vital”, cái sức sống được biểu thị ở vạn vật, nó tạo nên vũ trụ, và nó nằm trong mỗi con người chúng ta. Nó chết trong chất khoáng, im lìm trong cỏ cây, như giấc mộng nơi loài vật, nhưng nó tự ý thức bản thân bên trong chúng ta. Ở đây ta có được lời giải thích cho câu chữ kia của Aquinas: ““Intellectus naturaliter desiderat esse semper”, trí tuệ vốn dĩ khao khát được tồn tại mãi mãi. Nhưng bằng cách nào trí tuệ khao khát điều ấy? Nó không khao khát điều ấy theo cách riêng mình; nó không khao khát theo nghĩa của Unamuno, tức muốn tiếp tục làm Unamuno; nó khao khát theo một kiểu tổng quát.

Cái “tôi” của chúng ta là thứ ít hệ trọng nhất. Nó có nghĩa gì khi ta tự cảm nhận mình là một “tôi”? Nó khác biệt theo kiểu ra sao khi tôi cảm nhận mình là Borges so với việc bạn tự cảm nhận mình là A, B hay C? Hoàn toàn không có gì khác. Cái tôi mà chúng ta chia sẻ, nó là cái ở hiện tại, ở hình thức này hay hình thức kia, trong mọi sinh vật. Chúng ta có thể nói rằng bất tử là điều cần thiết – không phải chuyện cá nhân mà là chuyện bất tử theo cách khác. Chẳng hạn mỗi khi có người yêu thương lấy một kẻ thù, thì sự bất tử của Đức Kitô hiện ra. Trong thời điểm đó anh ta là Kitô. Mỗi khi ta lặp lại một dòng chữ của Dante hay Shakespeare, thì bằng cách nào đó ta ở ngay thời khắc Dante hay Shakespeare sáng tạo nên dòng chữ ấy. Bất tử trong kí ức của kẻ khác và trong tác phẩm ta bỏ lại phía sau. Việc đó quan trọng gì nếu tác phẩm ấy bị người đời quên đi?

Tôi đã dành hai mươi năm qua cho lĩnh vực thi ca Anglo-Saxon, và tôi thuộc lòng nhiều bài thơ Anglo-Saxon. Thứ duy nhất tôi không nhớ là tên các thi sĩ. Việc đó quan trọng gì miễn là khi dẫn ra mấy bài thơ từ hồi thế kỉ mười chín, tôi vẫn còn cảm nhận được thứ mà người thời đó cảm nhận được? Người thi sĩ ấy sống trong tôi ở thời điểm ấy, tôi lúc ấy thành kẻ quá cố kia rồi. Mỗi người chúng ta bằng cách nào đó đều trở thành tất cả những người vốn đã chết trước ta. Và không chỉ giới hạn trong những người thuộc dòng máu của mình.

Dĩ nhiên ta thừa hưởng nhiều thứ từ dòng máu của mình. Từ lời kể của mẹ mà tôi biết được mỗi lần tôi dẫn ra những bài thơ tiếng Anh, tôi đã đọc chúng lên bằng giọng nói của cha tôi, ông mất hồi năm 1938. Khi tôi dẫn Shakespeare ra, thì cha tôi lúc ấy sống bên trong con người tôi. Những ai nghe tôi đều sẽ sống trong giọng nói tôi, đó là phản chiếu lại từ một giọng nói và có lẽ giọng nói ấy cũng là thứ phản chiếu lại từ giọng nói của các bậc cha ông. Cũng có thể nói điều tương tự thế cho âm nhạc và ngôn ngữ. Ngôn ngữ là sáng tạo, nó trở thành một loại hình bất tử. Tôi đang dùng tiếng Castile. Có bao nhiêu người Castile quá cố đang sống trong tôi?

Trong cõi sống hiện tại mỗi người chúng ta hợp tác với nhau bằng cách này hay cách nọ. Mỗi người chúng ta muốn cõi sống này sẽ tốt đẹp hơn, nếu nếu cõi sống này thật sự tốt đẹp hơn – một hi vọng bất diệ – nếu đất nước tự cứu lấy nó – và tại sao đất nước không tự cứu lấy nó được? – chúng ta trở nên bất tử ở trong sự cứu rỗi ấy, bất kể ta có biết tên mình hay không. Đó là điều ít hệ trọng nhất; điều quan trọng là người ta có được sự bất tử đó ở trong các tác phẩm, trong kí ức người này để lại cho kẻ khác.

Ý kiến của tôi nào có quan trọng gì, óc phán đoán của tôi cũng vậy; tên gọi của quá khứ không quan trọng miễn là ta cứ tiếp tục giúp ích cho tương lai thế giới này, sự bất tử của ta. Sự bất tử đó không có lí do gì thuộc về cá nhân, nó có thể có được mà không cần đến những cái tên ngẫu nhiên, nó có thể làm lơ kí ức của ta. Bởi vì sao mà tin rằng ta sẽ tiếp tục ở cuộc đời khác với kí ức của mình, như thể tôi phải tiếp tục nghĩ suốt cả đời mình về thời thơ ấu ở Palermo, ở Adrogué hoặc ở Montevideo? Tại sao tôi luôn phải quay lại chuyện đó? Đó là một cách cầu viện theo văn chương; tôi có thể quên hết những thứ đó và tiếp tục tồn tại, và tất thảy những thứ đó ắt vẫn sống trong tôi dẫu cho tôi không gọi tên chúng. Có lẽ điều quan trọng nhất là ta không thật sự nhớ được rằng mình có thể ghi nhớ trong vô thức.

Để chốt lại, tôi cho rằng mình tin vào sự bất tử, không phải bất tử cá nhân mà bất tử theo nghĩa toàn thể vũ trụ. Chúng ta sẽ tiếp tục bất tử; bên kia cái chết thể xác thì kí ức ta vẫn còn đó, bên kia kí ức thì vẫn còn đó hành động của ta, hoàn cảnh của ta, thái độ của ta, toàn bộ phần tuyệt diệu ấy trong lịch sử vũ trụ, dẫu cho chúng ta không biết được điều đó, mà tốt hơn là không biết được.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20130314

Nguồn:

Borges, Jorge Luis. “Immortality.” Selected Non-fictions. Ed. Eliot Weinberger. New York: Penguin, 1999.

https://chiecnon.wordpress.com/2013/03/14/jorge-luis-borges-su-bat-tu/

Literature Văn học Mỹ Latinh

The Paris Review – Nghệ thuật Hư cấu số 39: Jorge Luis Borges

 Phỏng vấn do Ronald Christ thực hiện

Buổi phỏng vấn này thực hiện vào tháng Bảy năm 1966, trong buổi chuyện trò với Borges tại văn phòng của ông ở Biblioteca Nacional (Thư viện Quốc gia Argentina), nơi ông làm giám đốc. Căn phòng, làm nhớ lại một Buenos Aires xưa cũ, thực sự không phải là văn phòng gì cả, mà nó là một gian phòng rộng lớn, trang hoàng lộng lẫy với trần nhà cao, ngụ trong một thư viện vừa mới sửa sang lại. Treo trên tường là những tờ giấy chứng nhận và các trích dẫn văn chương – nhưng lại được treo quá cao khó mà đọc được, như thể không muốn ai nhìn thấy. Cũng có vài bản khắc acid của Piranesi, làm nhớ lại tàn tích như cơn mộng dữ của Piranesi trong truyện “Kẻ bất tử” của Borges. Phía trên lò sưởi là tấm chân dung lớn; khi tôi hỏi cô thư kí của Borges, cô Susana Quinteros, về bức chân dung ấy, thì cô đáp lại bằng cung cách rất phù hợp, dù là tiếng vang vọng vô tình, theo kiểu Borges đơn giản: “Không quan trọng gì đâu. Nó là bức tái chế lại một bức hoạ khác thôi.”

Ở góc chéo đối diện trong căn phòng là hai kệ sách lớn, có thể xoay vòng, và cô Quinteros cho biết chúng chứa những cuốn sách mà Borges thường xuyên tra cứu, tất cả đều được sắp xếp theo trật tự nhất định và không bao giờ thay đổi để Borges, vốn gần như mù loà, có thể tìm thấy chúng theo vị trí và kích cỡ cuốn sách. Chẳng hạn, mấy cuốn từ điển được sắp cạnh nhau, trong đó có cuốn Webster’s Encyclopedic Dictionary of the English Language đã cũ sờn, được đóng gáy chắc chắn và một cuốn từ điển Anglo-Saxon cũng sờn cũ y như thế. Những cuốn khác, từ mấy cuốn bằng Đức ngữ và Anh ngữ về thần học và triết học cho đến văn chương và lịch sử, trong số đó có cuốn Pelican Guide to English Literature hoàn chỉnh, cuốnSelected Writings của Francis Bacon ấn bản nhà Modern Library, cuốn Poetic Edda của Hollander, cuốn The Poems of Catullus, cuốn Geometry of Four Dimensions của Forsyth, vài cuốn trong bộ English Classics (Kinh điển Anh ngữ) của Harrap, cuốn The Conspiracy of Pontiac của Parkman, và ấn bản Beowulf của nhà Chambers. Cô Quinteros cho biết, gần đây Borges đang đọc cuốn The American Heritage Picture History of the Civil War, mà mới đêm trước thì ông đã mang cuốn The Life of Mahomet của Washington Iriving về nhà mình, và ở đó mẹ ông, nay đã chín mươi, đọc cuốn đó cho ông nghe.

Mỗi ngày, lúc chiều muộn, Borges tới thư viện, nơi đây ông đã có thói quen đọc mấy bức thư và mấy bài thơ cho cô Quinteros đánh máy rồi đọc lại cho ông. Theo chỉ dẫn sửa chữa của ông, cô làm ra hai ba hoặc có lúc tới bốn bản sao cho mỗi bài thơ trước khi Borges hài lòng. Cứ chiều chiều, cô đọc cho ông nghe, và ông cẩn trọng chữa lại phát âm tiếng Anh của cô. Thỉnh thoảng, lúc muốn suy nghĩ, Borges rời văn phòng và chậm rãi đi vòng quanh căn phòng lớn có mái vòm của thư viện, ở lối đi phía trên bàn đọc sách của độc giả bên dưới. Nhưng ông không phải lúc nào cũng nghiêm nghị, cô Quinteros nhấn mạnh, xác nhận cái mà người ta có thể mong đợi từ những tác phẩm của ông: “Bao giờ cũng có những câu nói đùa, những câu đùa có chút thực tế.”

Khi Borges bước vào thư viện, đội mũ beret và bộ vét vải flannel xám đen treo hững hờ trên đôi vai rủ xuống tới chân, thì mọi người ngừng nói chuyện trong một đỗi, ngưng lại vì lòng kính trọng, có lẽ phát xuất từ sự ngập ngừng với vẻ thấu cảm dành cho người đàn ông không hoàn toàn bị mù. Ông bước đi ngập ngừng, mang theo cây gậy dùng làm vật dò đường. Người ông thấp, với mái tóc có chút không tự nhiên ở kiểu nó dựng lên trên đầu ông. Nét mặt ông không theo hình dáng rõ ràng, bệt ra do tuổi già, một phần bị làn da nhợt nhạt xoá nhoà đi. Giọng nói ông cũng rất dứt khoát, gần như đều đều, có thể là do ánh mắt ông không tập trung được vào một chỗ, điều đó khiến giọng nói ông dường như phát xuất từ một kẻ khác đằng sau gương mặt ấy; cử chỉ và biểu hiện của ông trông lờ phờ – đặc điểm là mí mắt vô tình rủ xuống. Nhưng khi ông cười – và ông hay cười – thì nét mặt ông co rút lại thành một thứ thực sự giống như dấu chấm hỏi nhăn nhó; ông hay có cử chỉ dang rộng tay khua một vòng hoặc khoác tay gạt ra và đặt bàn tay lên bàn. Hầu hết các câu phát biểu của ông đều ở hình thức câu hỏi tu từ, nhưng khi đặt ra câu hỏi thực sự thì Borges lại thể hiện nét tò mò hiện ra ngay trên mặt, một nỗi rụt rè, gần như là vẻ hoài nghi đầy xúc cảm. Khi ông chọn cách nói, như kể chuyện cười, thì ông dùng giọng khô khốc, gây xúc động; câu trích ông lấy từ Oscar Wilde khiến ông có thể sánh với diễn viên thời vua Edward VII bên Anh quốc. Ngữ giọng của ông dễ dàng chối từ việc phân loại: cách chọn từ theo lối quốc tế hoá xuất hiện từ phông nền Tây-ban-nha, được giáo dục bởi cách nói Anh ngữ chuẩn xác và ảnh hưởng từ nền điện ảnh Mĩ. (Hẳn nhiên không người Anh nào từng phát âm chữ piano thành “pieano”, và không người Mĩ nào nói “a-nee-hilates” cho chữ annihilates.) Phẩm chất nổi trội trong cách nói rõ ràng lưu loát của ông là cách những từ ngữ của ông khi phát ra thì chúng nhẹ nhàng nhoà vào nhau, làm mất dần các hậu tố  đến mức “couldn’t” hay “could” gần như đều giống nhau không phân biệt nổi. Lúc thì dùng chữ lóng và bình dân khi ông muốn thế, điển hình hơn cả là lối nói Anh ngữ đầy trịnh trọng và mang vẻ sách vở, dựa trên cách dùng tự nhiên những cụm từ như “that is to say” và “wherein”. Lúc nào câu chữ của ông cũng được liên kết với cụm “and then” theo kiểu dẫn chuyện hay từ “consequently” theo kiểu logic.

Nhưng trên hết, Borges là người rụt rè, thậm chí còn tự thu mình lại, ông tránh những phát biểu cá nhân đến hết mức có thể và gián tiếp trả lời những câu hỏi về bản thân bằng cách nói đến các nhà văn khác, dùng từ ngữ của mấy người đó và cả sách của họ nữa như là những biểu hiệu cho tư duy của chính ông.

Trong buổi phỏng vấn này, chúng tôi nỗ lực bảo toàn tính chất dân dã trong lời nói Anh ngữ của ông – một sự tương phản rõ nét đối với những bài viết của ông và là sự tiết lộ cho biết độ mật thiết của ông với một ngôn ngữ vốn có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành cách viết của ông.

Jorge Luis Borges

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông không phản đối việc tôi thu âm lại buổi nói chuyện này chứ?

JORGE LUIS BORGES

Không không. Anh cứ lắp đặt mấy thiết bị đó đi. Chúng gây cản trở đó, nhưng tôi sẽ cố gắng nói chuyện như thể chúng chẳng có ở kia. Giờ thì anh đến từ đâu nhỉ?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Từ New York.

BORGES

A, New York. Tôi từng ở đó rồi, và tôi thích chỗ đó lắm – tôi tự nhủ là “À, mình đã làm ra thứ này; đây là tác phẩm của tôi.”

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ý ông là những bức tường nơi mấy toà nhà cao tầng, và cái mê cung phố xá?

BORGES

Đúng đó. Tôi đã đi tản bộ vòng vòng mấy con đường – Fifth Avenue – và bị lạc, nhưng người dân chỗ đó lúc nào cũng tốt bụng. Tôi nhớ đã trả lời nhiều câu hỏi về tác phẩm của mình cho mấy người đàn ông cao cao có dáng vẻ rụt rè. Ở Texas họ bảo tôi nên e ngại thành phố New York, nhưng tôi thích nó. À mà anh sẵn sàng chưa?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vâng, máy đã chạy rồi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Giờ thì trước khi ta bắt đầu, thì anh tính đặt loại câu hỏi gì?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Phần lớn là về tác phẩm của chính ông và nói về mấy nhà văn Anh ngữ mà ông có hứng thú.

BORGES

À, vậy ổn. Bởi nếu anh hỏi tôi mấy câu về những nhà văn đương thời trẻ tuổi, thì tôi e là mình chẳng biết gì về họ. Trong khoảng bảy năm qua tôi đang cố hết sức để có thể hiểu biết chút ít về Old English (tiếng Anh cổ) và Old Norse (tiếng Đức cổ). Hệ quả là, tôi cách biệt với Argentina và các nhà văn Argentina khá xa cả về thời gian lẫn không gian, không phải sao? Nhưng nếu phải nói với anh về Finnsbury Fragment hoặc mấy khúc bi thương hoặc Battle of Brunanburg….

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có muốn nói về chúng không?

BORGES

Không, không đặc biệt muốn lắm.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Điều gì khiến ông quyết định nghiên cứu tiếng Anglo-Saxon và Old Norse?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi khởi sự từ chuyện vô cùng hứng thú với ẩn dụ. Và trong cuốn này, cuốn kia – tôi nghĩ trong cuốn History of English Literature của Andrew Lang – tôi có đọc về các thể kenning, các ẩn dụ của Old English, và theo kiểu cách phức tạp hơn nhiều trong thi ca Old Norse. Sau đó tôi bắt đầu hứng thú nghiên cứu Old English. Bây giờ, hay đúng hơn là đến hôm nay, sau nhiều năm nghiên cứu, tôi không còn hứng thú với các ẩn dụ nữa bởi tôi nghĩ rằng chúng phần nào làm cho chính các thi sĩ mỏi mòn xương cốt – ít nhất là đối với các thi sĩ dùng Old English.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Lặp lại chúng, ý ông là thế?

BORGES

Lặp lại chúng, dùng đi dùng lại các từ và cứ nói về hranrād, waelrād, hay “road of the whale” (con đường cá voi) thay vì “the sea” (biển cả) – kiểu như thế – và “the seawood”, “the stallion of the sea” (ngựa giống ở biển) thay vì “the ship” (con tàu). Do đó tôi cuối cùng quyết định nên ngưng sử dụng chúng, các ẩn dụ ấy; nhưng trong lúc đó, tôi đã bắt đầu học ngôn ngữ này, và đã phải lòng nó. Giờ tôi đã hình thành được một nhóm – khoảng sáu bảy sinh viên gì đó – và chúng tôi học gần như hàng ngày. Chúng tôi đi vào xem xét những đoạn nổi bật trongBeowulf, cuốn Finnsburg Fragment, và The Dream of the Road. Tuy thế chúng tôi cũng lao vào nghiên cứu văn xuôi của King Alfred. Giờ thì chúng tôi đã bắt đầu học Old Norse, có phần nào giống Old English. Ý tôi là từ vựng không quá thực sự khác biệt: Old English là một dạng lưng chừng nửa đường giữa Low German và tiếng Scandinavia.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Văn chương sử thi lúc nào cũng làm ông hứng thú rất nhiều, đúng không?

BORGES

Lúc nào cũng vậy, đúng đó. Chẳng hạn, có nhiều người đi coi phim rồi khóc này nọ. Chuyện đó lúc nào cũng diễn ra: Nó cũng diễn ra với tôi. Nhưng tôi chưa bao giờ khóc bởi mấy thứ ướt át, hay mấy trường đoạn thảm sầu. Nhưng, ví dụ như, khi tôi xem mấy phim gangster của Joseph von Sternberg, tôi nhớ là lúc có chỗ nào đó trông thật sử thi về mấy bộ phim đó – ý tôi là mấy tay cướp Chicago có cái chết dũng cảm – ờ đó, lúc ấy thì tôi cảm giác mình ngân ngấn nước mắt. Tôi cảm thơ mang chất sử thi nhiều hơn thơ trữ tình hoặc khúc ca bi thương. Tôi bao giờ cũng cảm thấy thế. Giờ có lẽ điều đó là do tôi xuất thân từ dòng dõi quân sự. Ông tôi, Đại tá Francisco Borges Lafinur, đã chiến đấu trong trận chiến biên giới với dân da đỏ, và ông chết trong một cuộc cách mạng; ông cố tôi, Đại tá Suárez, dẫn đầu cuộc đột kích của kị binh Peru tại một trong những trận đánh vĩ đại cuối cùng chống lại dân Tây-ban-nha; một ông cụ kị khác của tôi đã dẫn đầu toán quân tiên phong của quân đội San Martin – đại loại thế. Và tôi có, à, một trong những người bà cụ tổ nhà tôi là chị em với Rosas [1] – tôi đặc biệt không hãnh diện về mối quan hệ đó bởi tôi nghĩ Rosas là một loại người như Perón vào thời đó; nhưng dù vậy toàn bộ mấy điều đó đã liên kết tôi với nền lịch sử Argentina và với ý tưởng cho rằng đàn ông thì phải dũng cảm, phải không nào?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nhưng các nhân vật mà ông chọn làm anh hùng sử thi của mình – bọn gangster chẳng hạn – thì người ta lại không nghĩ đó thuộc dạng sử thi, phải không? Tuy thế dường như ông tìm được tính sử thi ở đó?

BORGES

Tôi nghĩ có lẽ có một loại sử thi cấp thấp ở mấy nhân vật – phải không nào?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ý ông là bởi vì ta rõ ràng không còn dùng được thể loại sử thi cũ kĩ nữa, nên ta phải suy xét đến loại nhân vật này cho các anh hùng của chúng ta?

BORGES

Tôi nghĩ về sử thi hay nói cho đúng là về văn chương sử thi – nếu ta loại trừ những nhà văn như T. E. Lawrence trong cuốn Seven Pillars of Wisdom hoặc một vài thi sĩ như Kipling, chẳng hạn như trong “Harp Song of the Dane Women” hay thậm chí trong truyện của ông – thì tôi nghĩ ngày nay, trong lúc giới văn sĩ dường như lờ đi nghĩa vụ sử thi của họ, thì sử thi lạ lùng thay vẫn được mấy bộ phim Western cứu vớt giữ đó cho ta.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi nghe nói là ông từng xem phim West Side Story nhiều lần.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nhiều lần, đúng đó. Dĩ nhiên West Side Story không phải phim Western.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Đúng là không phải, nhưng với ông thì có phải nó có cùng những tính chất sử thi?

BORGES

Tôi nghĩ là có, đúng vậy. Trong suốt thế kỉ này, như tôi đã nói, thì trong tất cả mọi nơi chỉ có Hollywood cứu vớt truyền thống sử thi cho cả thế giới này. Khi tôi đến Paris, tôi cảm giác mình muốn gây sốc cho người ta, và khi họ hỏi tôi – họ biết tôi hứng thú với điện ảnh, hoặc đã từng hứng thú, bởi thị lực của tôi giờ yếu lắm rồi – và họ hỏi tôi, “Ông thích loại phim nào?” Rồi tôi đáp, “Nói thật thì thứ tôi thích nhất là dòng phim Western”. Tất cả họ đều là dân Pháp; họ đồng tình hoàn toàn với tôi. Họ bảo, “Dĩ nhiên chúng tôi cũng xem những phim nhưHiroshima mon amour hoặc L’Anée dernière à Marienbad, xem do bổn phận thôi, nhưng khi chúng tôi muốn tiêu khiển bản thân, khi chúng tôi muốn bản thân tận hưởng, ờ, khi chúng tôi muốn mình thấy thật đã, thì chúng tôi sẽ xem phim Mĩ.”

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy thì chính nội dung, phần nội dung mang chất “văn học” trong phim, chứ không phải các khía cạnh kĩ thuật, mới là thứ làm ông hứng thú phải không?

BORGES

Tôi gần như chẳng biết gì về mảng kĩ thuật điện ảnh.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nếu tôi có thể thay đổi chủ đề cho tác phẩm hư cấu của chính ông, thì tôi muốn hỏi về chuyện ông có nói là mình từng rất e dè khoảng thời gian đầu viết truyện.

BORGES

Đúng vậy, tôi từng rất e dè bởi lúc tôi còn trẻ, tôi nghĩ bản thân là thi sĩ. Thế là tôi nghĩ, “Nếu mình viết truyện, thiên hạ sẽ biết mình là kẻ ngoài cuộc, rằng mình đang xâm phạm vào khu đất cấm.” Rồi tôi gặp tai nạn. Anh cũng thấy vết sẹo đó. Nếu anh chạm vào đầu tôi chỗ này đây, anh sẽ thấy. Cảm thấy mấy cái núi đồi chưa, mấy vết sưng ấy? Sau đó tôi ở trong bệnh viện nửa tháng trời. Tôi gặp ác mộng và không ngủ được – chứng mất ngủ đó mà. Sau đó họ bảo tôi rằng trước đó tôi rất có nguy cơ, à ờ, sắp chết đó mà, rằng thực sự tuyệt diệu khi ca phẫu thuật thành công. Tôi bắt đầu lo sợ về tình trạng nguyên vẹn của trí óc mình – tôi tự nhủ, “Có lẽ mình không thể viết lách được nữa rồi.” Sau đó cuộc đời tôi hẳn là sẽ kết thúc thật bởi vì văn chương rất quan trọng đối với tôi. Không phải vì tôi nghĩ mấy thứ tôi viết ra đặc biệt tốt gì, mà vì tôi biết mình chẳng thể nào sống sót mà không viết lách gì cả. Nếu không viết lách, ờ, thì tôi cảm thấy có gì đó hối tiếc, phải không nào? Rồi tôi nghĩ mình sẽ thử bắt tay viết báo hay bài thơ nào đó. Nhưng tôi lại nghĩ, “Mình đã viết hàng trăm bài báo và bài thơ rồi. Nếu giờ không thể viết thì mình sẽ biết ngay tức thì là tiêu rồi, mọi thứ đã chấm hết.” Do đó tôi nghĩ mình sẽ thử bắt tay viết thứ gì khác mà chưa từng làm: Nếu tôi không làm được thì chẳng có gì lạ hết bởi vì tại sao tôi viết truyện ngắn? Nó sẽ chuẩn bị tôi tiếp nhận đòn giáng cuối cùng không thể chống đỡ: đó là khi biết mình đã tới điểm giới hạn cuối cùng. Tôi viết một truyện, để tôi xem, tôi nghĩ nó có nhan đề “Hombre de la esquina rosada” [2], và người ta rất thích nó. Tôi cảm thấy thật nhẹ nhõm. Nếu tôi không có cú đập đặc biệt kia vào đầu mình, thì có lẽ tôi sẽ không bao giờ viết truyện ngắn.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Và có lẽ ông cũng sẽ không bao giờ dịch thuật?

BORGES

Và không ai nghĩ đến chuyện dịch tôi. Do đó có thể nói trong cái rủi có cái may. Những câu chuyện đó, bằng cách này hay cách khác, đã có lối đi của mình: Chúng được dịch ra tiếng Pháp, tôi đoạt giải Prix Formentor, rồi dường như tôi lại được dịch sang nhiều thứ tiếng khác. Dịch giả đầu tiên là Ibarra. Ông ấy là bạn thân của tôi, và ông đã dịch nhiều truyện sang tiếng pháp. Tôi nghĩ ông ta đã hoàn thiện chúng rất nhiều, không phải sao?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ibarra là dịch giả đầu tiên, không phải Caillois sao?

BORGES

Ông ấy và Roger Caillois [3]. Ở tuổi già như trái chín cây, tôi bắt đầu phát hiện ra trên toàn thế giới có nhiều người thích tác phẩm của tôi. Chuyện này trông lạ quá: Nhiều bài viết của tôi được chuyển sang tiếng Anh, tiếng Thuỵ-điển, tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng Bồ-đào-nha, một vài tiếng Slavic, tiếng Đan-mạch. Và lúc nào chuyện này cũng xuất hiện làm tôi ngạc nhiên quá đỗi bởi tôi nhớ mình đã xuất bản cuốn sách – ắt là phải từ năm 1932, tôi nghĩ vậy[4] – và cuối năm đó tôi thấy không ít hơn ba mươi bảy quyển được bán!

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Đó là cuốn Universal History of Infamy?

BORGES

Không, không. History of Eternity chứ. Ban đầu tôi còn muốn tìm từng người mua để xin lỗi vì cuốn sách ấy và cũng để cảm ơn họ vì những gì họ đã làm. Có một lời giải thích cho chuyện đó. Nếu anh nghĩ đến ba mươi bảy người – những người này toàn có thực hết, ý tôi là mỗi người trong số họ đều có gương mặt của chính mình, có một gia đình, họ sống ở những con phố cụ thể của riêng mình. Tại sao, nếu anh bán, cho là hai mươi ngàn bản, thì nó lại giống như thể anh không bán gì cả vì hai mươi ngàn quá sức lớn – ý tôi là, quá lớn để trí tưởng tượng có thể nắm bắt được. Trong khi ba mươi bảy người – có lẽ ba mươi bảy cũng nhiều, có lẽ mười bảy thì tốt hơn hoặc thậm chí bảy thôi – nhưng tuy thế ba mươi bảy vẫn nằm trong phạm vi tưởng tượng của ta.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nói đến các con số, tôi chú ý trong truyện của ông thì các con số nhất định cứ tái diễn.

BORGES

Ồ đúng đó. Tôi mê tín ghê lắm. Tôi thấy xấu hổ vì vậy. Tôi tự nhủ rằng rốt cuộc, chuyện mê tín, tôi cho là, là một hình thức điên rồ nhè nhẹ, không phải sao?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Hay là hình thức tông giáo?

BORGES

À, tông giáo, nhưng… tôi cho là nếu ta đạt được một trăm năm mươi tuổi, thì ắt là ta sẽ khá điên, không phải sao? Bởi vì toàn bộ những triệu chứng nhỏ đó sẽ phát triển lên. Tuy thế, tôi thấy mẹ mình, đã chín mươi rồi, và bà ít mê tín hơn tôi nhiều. Giờ thì khi đọc sách, đến lần thứ mười, tôi cho là vậy, cuốn Johnson của Boswell, thì tôi thấy là ông ấy mê tín ngập tràn, và đồng thời, thấy rằng ông ta có nỗi sợ hãi vô cùng đối với chứng điên. Trong những kinh cầu nguyện ông tạo ra, một trong nhữn điều ông thỉnh cầu Thượng đế là ông không muốn là gã điên, do đó ông ta ắt là phải lo lắng về nó lắm.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Có phải ông nói rằng cùng một lí do – mê tín – mà khiến ông dùng những màu sắc giống nhau – đỏ, vàng, xanh lục – lặp đi lặp lại?

BORGES

Nhưng tôi có dùng màu xanh lục à?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Không thường như các màu khác. Nhưng ông thấy là tôi có làm một chuyện khá vặt vãnh. Tôi đã đếm số màu sắc trong…

BORGES

Không không. Đó gọi là estilística [văn phong]; ở đây nó cần được nghiên cứu. Không, tôi nghĩ anh sẽ tìm thấy màu vàng.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nhưng màu đỏ cũng vậy, thường xê dịch, phai dần thành màu hoa hồng.

BORGES

Thật ư? À, tôi chưa bao giờ biết điều đó.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nó cứ như thể thế giới ngày nay là mẩu tro của đám cháy ngày hôm qua – đó là một ẩn dụ mà ông dùng. Ông nói đến “Adam đỏ” chẳng hạn.

BORGES

À, từ Adam, tôi nghĩ, trong tiếng Hebrew nghĩa là “đất đỏ” (red earth). Ngoài ra nó phát âm cũng ổn, không phải sao? “Rojo Adán”.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vâng, đúng thế. Nhưng đó không phải thứ ông định phô bày ra chứ: sự suy đồi của thế gian bằng việc dùng màu sắc theo lối ẩn dụ?

BORGES

Tôi không định phô bày ra gì hết. [Cười lớn.] Tôi không có ý định gì cả.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Chỉ mô tả thôi sao?

BORGES

Tôi mô tả. Tôi viết. Giờ nhắc đến sắc vàng, có một lời giải thích vật lí cho điều đó. Khi tôi bắt đầu mất thị lực, màu sắc cuối cùng tôi thấy được, hay đúng hơn là sắc màu cuối cùng nổi bật lên, bởi vì tất nhiên giờ tôi biết áo khoác của anh không cùng màu với cái bàn này hoặc với mấy món đồ gỗ sau lưng anh – cái sắc màu cuối cùng nổi bật lên đó là màu vàng bởi vì đó là màu sáng rõ nhất trong số các màu. Đó là lí do tại sao các anh có Yellow Cab Company (Công ti taxi vàng) ở Hoa-kì. Ban đầu họ nghĩ đến sơn mấy chiếc xe màu đỏ tươi. Rồi ai đó phát hiện ra vào ban đêm hay lúc có sương mù thì màu vàng nổi bật sáng rõ hơn màu đỏ tươi. Thế là các anh có xe taxi vàng bởi vì bất kì ai cũng có thể nhận ra chúng. Giờ, lúc tôi bắt đầu mất thị lực, khi thế gian bắt đầu nhạt nhoà dần đi, thì có thời điểm mà mấy người bạn của tôi… à họ đùa cợt, chế giễu tôi bởi tôi lúc nào cũng đeo cà-vạt màu vàng. Rồi họ tưởng tôi thực sự thích màu vàng, mặc dù nó thực sự quá chói. Tôi nói, “Vâng, với mấy anh thôi, chứ không phải với tôi, bởi vì đó là sắc màu duy nhất tôi có thể thấy, gần như vậy!” Tôi sống trong cõi sống xám xịt, khá giống cõi sống của màn bạc. Nhưng sắc vàng nổi bật lên. Điều đó có thể giải thích chuyện này. Tôi nhớ một câu đùa của Oscar Wilde: bạn ông ấy có cà-vạt màu vàng, màu đỏ, và cứ thế, rồi Wilde nói, Ồ, anh bạn thân mến của tôi ơi, chỉ có gã điếc mới mang cà-vạt như thế!

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông ấy có lẽ nói về cái cà-vạt màu vàng mà tôi đeo hiện giờ.

BORGES

À, ừ. Tôi nhớ đã kể câu chuyện đó cho một quý bà mà bà này vuột mất nguyên cả ý. Bà ta nói, “Dĩ nhiên, chắc là vì bị điếc ông ta không thể nghe những gì người ta nói về cà-vạt của mình”. Câu đó có lẽ sẽ làm Oscar Wilde khoái chí lắm, không phải sao?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi muốn nghe lời ông ấy đáp trả cho câu đó.

BORGES

Vâng, tất nhiên. Tôi chưa bao giờ nghe nói đến trường hợp nào mà bị hiểu lầm tuyệt đối hoàn hảo như vậy. Sự hoàn hảo của tình trạng ngu đần. Dĩ nhiên, nhận xét của Wilde là cách dịch hóm hỉnh của một ý tưởng; bằng tiếng Tây-ban-nha cũng như tiếng Anh các anh nói đến một “loud color” [sắc màu ồn ã]. “Loud color” là thành ngữ thông dụng, nhưng khi những thứ vốn được nói trong văn chương lúc nào cũng giống nhau. Cái quan trọng là cách chúng được nói ra. Chuyện tìm kiếm các ẩn dụ chẳng hạn: Hồi trẻ tôi luôn săn tìm các ẩn dụ mới. Rồi tôi phát hiện những ẩn dụ thực sự hay ho thì bao giờ cũng giống nhau. Ý tôi là các vị so sánh thời gian với con đường, cái chết với việc ngủ, cuộc sống với việc mơ, và những cái đó đều là những ẩn dụ tuyệt vời trong văn chương bởi chúng tương ứng với những điều căn cốt. Nếu bạn chế ra ẩn dụ, thì chúng phải có khả năng gây ngạc nhiên trong một tích-tắc, nhưng chúng lại không tạo ra chút cảm xúc sâu xa nào. Nếu bạn nghĩ đến cuộc đời như một giấc mơ, thì đó là một ý nghĩ, một ý nghĩ có thực, hoặc ít nhất thì đó là điều mà hầu hết người ta đều chắc chắn có, không phải sao? “Những điều thường là tư duy, lại không bao giờ được biểu lộ trơn tru.” Tôi nghĩ điều đó tốt hơn ý tưởng gây sốc cho người ta, hơn việc tìm ra những nối kết giữa những vật chưa từng được nối kết trước đây, bởi vì chẳng có nối kết thực sự nào cả, do vậy toàn thể sự vật là một loại sắp đặt thôi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Sắp đặt chỉ từ ngữ thôi à?

BORGES

Chỉ từ ngữ thôi. Tôi thậm chí không gọi chúng là những ẩn dụ thực sự bởi vì trong một ẩn dụ thực sự thì cả hai phần nghĩa đều thực sự liên kết với nhau. Tôi phát hiện được một ngoại lệ – một loại ẩn dụ lạ lùng, mới mẻ, và đẹp tuyệt đến từ thi ca Old Norse. Ở thi ca Old English thì một trận đánh được nói đến như là “cuộc chơi của gươm kiếm” hay “cuộc chạm trán của những ngọn giáo”. Còn trong Old Norse, và tôi nghĩ cũng có ở thi ca Celtic nữa, trận đánh được gọi là một “mạng lưới của những gã đàn ông”. Cái đó lạ quá phải không nào? Bởi vì trong mạng lưới thì anh sẽ có một mẫu hình, một hành động đan dệt của những gã đàn ông,un tejido [một chuỗi]. Tôi cho là trong trận đánh thời trung cổ anh có một loại mạng lưới bởi vì có được gươmg giáo ở hai đầu chiến tuyến và cứ thế. Do vậy ở đó tôi nghĩ anh sẽ có một ẩn dụ mới; và dĩ nhiên cùng với một cú đụng chạm ác mộng về nó, phải không nào? Ý tưởng về mạng lưới làm từ những gã đàn ông bằng xương bằng thịt, làm từ những vật sống, và vẫn là một mạng lưới, vẫn là một mẫu hình. Thật là một ý tưởng lạ, phải không nào?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nhìn chung thì nó tương ứng với ẩn dụ mà George Eliot dùng trong Middlemarch, xã hội đó là một mạng lưới và người ta không thể gỡ một phần trong đó ra mà không chạm vào tất cả những phần khác.

BORGES

[Với niềm thích thú tột đỉnh] Ai nói cái đó vậy?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

George Eliot, trong Middlemarch.

BORGES

A, Middlemarch! Đúng rồi, dĩ nhiên! Ý anh là toàn thể vũ trụ được liên kết với nhau; mọi thứ liên kết nhau. À, đó là một trong những lí do khiến các triết gia Khắc-kỉ tin vào các điềm báo. Có một bài viết, một bài viết rất đáng lưu tâm của De Quincey, như tất thảy các bài khác của ông, bàn về chuyện mê tín thời hiện đại, và ở đó ông có đưa ra lí thuyết của phái Khắc-kỉ. Ý tưởng cho rằng bởi vì toàn thể vũ trụ là một vật sống, thế nên có mối thân thuộc giữa các sự vật trông có vẻ xa xôi cách trở. Chẳng hạn, nếu mười ba người ăn tối cùng nhau, một trong số họ chắc chắn qua đời nội trong năm đó. Không chỉ đơn thuần bởi vì Jesus Christ và Bữa tối cuối cùng, mà còn bởi vì toàn bộ mọi thứ đều ràng buộc với nhau. Ông ta nói – tôi tự hỏi làm thế nào mà hình thành ra được câu chữ ấy – rằng mọi thứ trên cõi nhân gian này là một chiếc li bí mật hay một tấm gương bí mật của vũ trụ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông thường nói đến những người ảnh hưởng lên ông, như De Quincey…

BORGES

Từ De Quincey rất nhiều, đúng vậy, và Schopenhauer bên Đức ngữ nữa. Vâng, thực tế thì trong suốt thế chiến thứ nhất, tôi được Carlyle dẫn dắt – Carlyle: tôi không ưa ông này: tôi nghĩ ông ta đã chế ra Đức Quốc xã và mọi thứ khác, một trong những cha đẻ hay tổ tiên của những thứ kiểu vậy – à, tôi được Carlyle dẫn dắt trong chuyện học tiếng Đức, và tôi cố thử sức với cuốn “Phê phán lí tính thuần tuý” của Kant. Dĩ nhiên, tôi cũng bị sa lầy như bao người khác – như hầu hết những người Đức. Sau đó, tôi bảo, “À, cháu sẽ thử thi ca của họ vậy, bởi vì thi ca thì ngắn hơn do được làm ở thể thơ”. Tôi lấy một cuốn Lyrisches Intermezzo của Heine và một cuốn từ điển Anh-Đức, và cứ mỗi hai hay ba tháng trôi qua thì tôi phát hiện mình có thể xoay xở khá ngon lành mà không cần từ điển hỗ trợ.

Tôi nhớ cuốn tiểu thuyết Anh ngữ đầu tiên tôi đọc kĩ lưỡng là một cuốn tiểu thuyết Scotland với nhan đề The House with the Green Shutters.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ai viết cuốn đó thế?

BORGES

Một gã tên là Douglas. Rồi cuốn ấy bị gã khác đạo văn để viết nên cuốn Hatters Castle – Cronin – hai cuốn gần như cùng một cốt chuyện. Cuốn sách ấy được viết theo thổ ngữ Scotland – ý tôi là người ta thay vì nói money thì lại nói bawbees hoặc thay vì nói children thì lại nói bairns – đó là từ Old English và cũng là từ Norse – và họ nói nicht thay vì nói night: đó là tiếng Old English.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Và lúc đọc cuốn đó thì ông bao nhiêu tuổi?

BORGES

Chắc là khoảng – hồi ấy có nhiều thứ tôi chưa hiểu – hẳn là tôi khoảng mười hay mười một gì đó. Trước đó, dĩ nhiên tôi có đọc The Jungle Book, và tôi cũng đã đọc Treasure Island của Stevenson, một cuốn rất ổn. Nhưng cuốn tiểu thuyết thực sự đầu tiên là cuốn đó. Khi đọc nó, tôi muốn thành người Scotland, sau đó tôi hỏi bà tôi, và bà rất phẫn nộ về chuyện đó. Bà bảo, “Tạ ơn chúa là con không phải vậy!” Dĩ nhiên có lẽ bà sai. Bà đến từ Northumberland; họ ắt hẳn có chút dòng máu Scotland trong người. Có lẽ còn có cả dòng máu Đan-mạch từ hồi xa xưa.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Cùng với niềm thích thú dài hạn với Anh ngữ và tình yêu tuyệt vời của ông dành cho nó…

BORGES

Này nhé, tôi đang nói chuyện với một người Mĩ: Có một cuốn sách tôi phải đề cập tới – không có gì bất ngờ về nó hết – cuốn đó là Huckleberry Finn. Tôi cực kì ghét Tom Sawyer. Tôi nghĩ Tom Sawyer đã làm hư hết mấy chương cuối trong cuốn Huckleberry Finn. Toàn bộ mấy câu chuyện đùa ngớ ngẩn đó. Tất cả là những câu chuyện đùa cợt vô nghĩa; nhưng tôi cho rằng Mark Twain nghĩ bổn phận của ông là phải hài hước thậm chí khi ông không có tâm trạng. Bằng cách nào đó phải lồng vào mấy câu chuyện đùa. Theo những gì George Moore từng nói, người Anh luôn nghĩ: “Thà là chuyện đùa dở tệ còn hơn không có chuyện đùa nào.”

Tôi nghĩ Mark Twain là một trong những nhà văn thực sự vĩ đại, nhưng tôi nghĩ ông ấy hoàn toàn không ý thức đến sự thực đó. Nhưng có lẽ để viết nên cuốn sách thật sự tuyệt vời, bạnphải hoàn toàn không ý thức đến thực tế đó. Bạn phải è cổ ra vì tác phẩm và thay đổi mỗi tính từ sang một tính từ khác, nhưng có lẽ bạn có thể viết tốt hơn nếu bạn để lại sai sót. Tôi nhớ những điều Bernard Shaw từng nói, rằng khi nói về văn phong, một nhà văn sẽ có văn phong đa dạng ở mức niềm tin cho phép chứ không hơn. Shaw nghĩ ý tưởng về trò chơi văn phong là điều tương đối phi thực tế, hoàn toàn vô nghĩa. Chẳng hạn ông nghĩ đến Bunyan như một nhà văn vĩ đại bởi ông bị thuyết phục bởi những gì Bunyan nói ra. Nếu một nhà văn ngờ vực về những điều họ viết, thì họ khó lòng mong đợi người đọc tin nó. Dù vậy ở đất nước này, lại có khuynh hướng xem bất kì dạng viết nào – nhất là chuyện viết thơ – như một trờ chơi về văn phong. Tôi biết nhiều thi sĩ ở đây viết tốt lắm – cho ra mấy thứ ổn vô cùng – với lối hành văn thanh nhã và nhiều thứ khác – nhưng nếu anh nói chuyện với họ, thì thứ duy nhất họ bảo anh là mấy câu chuyện tục tĩu hoặc họ sẽ nói đến chính trị theo kiểu như bao người khác, thành thử thực sự thì lối viết của họ trở thành một loại lặt vặt nào đó thôi. Họ đã học cách viết như thể người ta học chơi cờ hoặc chơi bài bridge. Họ thực ra chẳng phải là thi sĩ hay nhà văn gì hết. Đó chỉ là mánh khoé họ học được, và họ học điều đó rất kĩ càng. Họ có cả toàn bộ mấy thứ vậy ở ngay mấy đầu ngón tay. Nhưng hầu hết họ – ngoại trừ bốn năm người, có thể nói vậy – dường như đều nghĩ đến cuộc đời như thể chẳng có gì thi vị hoặc bí ẩn gì hết. Họ cứ mặc nhiên cho mọi thứ là vậy. Họ biết rằng khi họ phải viết, thì, ừm, họ phải đột nhiên trở nên buồn rầu hoặc phải đột nhiên buông ra mấy lời mỉa mai.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Để có vẻ như nhà văn?

BORGES

Đúng đó, để có vẻ như nhà văn và để có được tâm trạng hợp hoàn cảnh, rồi viết ra. Sau đó, họ quay về nền chính trị hiện tại.

SUSANA QUINTEROS [bước vào]

Xin lỗi. Señor Campbell đang chờ ạ.

BORGES

À, xin hãy yêu cầu ông ấy chờ một chút nhé. À, có ông Campbell đang chờ đó mà; gia đình Campbell đang tới.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông viết truyện từ khi nào, mà ông có chỉnh sửa lại nhiều không?

BORGES

Ban đầu thì có. Rồi tôi thấy là khi người ta tới ngưỡng tuổi nào đó, họ đã tìm ra được giọng điệu thực sự cho mình. Ngày nay, tôi cố kiểm lại những gì mình viết sau nửa tháng hay khoảng đó, và dĩ nhiên có nhiều chỗ vấp váp và lặp từ cần tránh đi, những mánh khoé ưa thích nhất định mà ta không nên lạm dụng. Nhưng tôi nghĩ rằng những gì tôi viết ra ngày nay lúc nào cũng ở tầng mức nhất định và tôi không thể chỉnh cho nó tốt hơn nhiều được, cũng như tôi cũng chẳng thể làm nó hỏng bét đi nhiều được. Vậy là tôi cứ để nó đó, quên đi mọi thứ về nó, và nghĩ về chuyện tôi sắp làm lúc đó. Những thứ cuối cùng mà tôi viết nên là cácmilonga, những bài hát dân dã.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vâng, tôi có thấy một cuốn về chúng, một quyển sách đẹp tuyệt.

BORGES

Đúng vậy, Para las seis cuerdas [Dành cho đàn sáu dây], dĩ nhiên có ý là đàn guitar. Đàn guitar là một nhạc cụ phổ biến hồi tôi còn nhỏ. Rồi anh sẽ thấy người ta gảy đàn guitar, không thật điêu luyện, ở mỗi góc đường ở mỗi khu phố. Một số bài tango hay nhất được soạn ra bởi những người không có khả năng viết lẫn đọc chúng. Nhưng dĩ nhiên là họ chứa đựng âm nhạc trong tâm hồn mình, như Shakespeare có lẽ đã từng nói. Do vậy họ cất lên những bài hát ấy cho ai đó nghe: Chúng được chơi bằng piano, rồi được chấp bút viết ra, và được xuất bản cho những người biết chữ đọc. Tôi nhớ có gặp một người như vậy – Ernesto Poncio. Anh ấy viết bản “Don Juan”, một trong những bản tango hay nhất trước khi người đời làm hỏng nhạc tango bằng mớ bài hát Ý ở La Boca và nhiều thứ khác: Ý tôi là, thời điểm nhạc tango bắt nguồn từ dòng criolla. Có lần anh ta nói với tôi, “Tôi đã vào tù nhiều lần rồi Señor Borges ạ, nhưng bao giờ cũng là tội ngộ sát!” Ý muốn nói ở đây là anh ấy không phải một tên trộm hay một tay ma-cô.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Trong cuốn Antología Personal của ông…

BORGES

Này nhé, tôi muốn nói là cuốn sách ấy đầy lỗi in ấn. Thị lực tôi mờ rồi, và phần đọc bản in thử được giao cho người khác.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi hiểu, nhưng đó chỉ là những sai sót lẻ tẻ đúng không?

BORGES

Đúng, tôi biết thế, nhưng chúng cứ chui vào, làm bận tâm người viết, chứ không phải độc giả. Độc giả sẽ chấp nhận bất kì thứ gì, phải không nào? Thậm chí cả những điều vô lí rõ ràng nhất.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nguyên tắc tuyển chọn của ông trong cuốn sách đó là gì?

BORGES

Nguyên tắc tuyển chọn của tôi đơn giản là tôi cảm thấy mớ đó tốt hơn những thứ tôi gạt bỏ ra. Dĩ nhiên, nếu tôi khôn khéo hơn, tôi sẽ khăng khăng gạt bỏ ra mấy câu chuyện đó, rồi sau khi tôi chết thì sẽ có người nhận ra những thứ bị gạt bỏ đi đó thực sự rất ổn. Đó hẳn là một chuyện khôn khéo có thể làm, phải không nào? Ý tôi là, để xuất bản toàn bộ mớ yếu kém đó, rồi cho người ta phát hiện tôi đã gạt bỏ đi những thứ ngon lành thực sự.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông rất thích những câu chuyện đùa phải không?

BORGES

Đúng, tôi rất thích, đúng vậy.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nhưng những người viết về mấy quyển sách của ông, đặc biệt tác phẩm hư cấu của ông…

BORGES

Không, không – họ viết quá ư nghiêm trọng đó mà.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Họ hiếm khi nhận ra có một vài quyển rất khôi hài.

BORGES

Chúng được viết với ý khôi hài mà. Bây giờ có một cuốn chuẩn bị ra mắt, có nhan đề Cronícas de Bustos Domecq, viết chung với Adolfo Bioy Casares. Cuốn sách đó nói về các kiến trúc sư, các thi sĩ, các tiểu thuyết gia, điêu khắc gia, và nhiều người nữa. Toàn bộ nhân vật đều hư cấu, và toàn bộ họ đều là dạng người hợp mốt, rất thời thượng; họ quá nghiêm xét bản thân mình; nhà văn cũng thế, nhưng họ không hẳn là những nhân vật giễu nhại bất kì ai đó. Chúng tôi chỉ đơn giản đi tới một điều nào đó có thể được thực hiện. Chẳng hạn, nhiều nhà văn ở đây bao tôi, “Chúng tôi muốn biết thông điệp của ông”. Anh thấy đó, chúng tôi có thông điệp gì đâu. Khi viết ra, tôi viết bởi vì cần phải làm một điều gì đó. Tôi không nghĩ một nhà văn cần can dự quá nhiều vào chính tác phẩm của mình. Họ nên để tác phẩm tự viết ra câu chuyện cho chính nó, phải không nào?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông vừa bảo là đừng bao giờ phán xét nhà văn bởi các ý tưởng của họ.

BORGES

Đúng đó, tôi không nghĩ ý tưởng là thứ quan trọng.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy thì, phán xét họ dựa vào cái gì?

BORGES

Họ nên được phán xét bởi niềm vui thích họ trao cho tác phẩm và bởi những cảm xúc ta có được. Về chuyện ý tưởng, rốt cuộc thì nó không phải là thứ quá quan trọng bất kể nhà văn có quan điểm chính trị nào bởi vì tác phẩm sẽ cứ tiếp diễn đến rốt ráo bất chấp các ý tưởng, như trong trường hợp tác phẩm Kim của Kipling. Giả định anh xem xét ý tưởng về đế chế người Anh – à, trong Kim tôi nghĩ các nhân vật mà người ta thật sự thích không phải người Anh, mà là nhiều nhân vật Ấn-độ, những người theo Islam. Tôi nghĩ họ là những người thú vị hơn. Và đó bởi vì ông ấy nghĩ họ – Không! Không! Không phải vì ông ta nghĩ họ thú vị hơn – mà vì ông ta cảm thấy họ thú vị hơn.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Còn về những ý tưởng siêu hình học thì sao?

BORGES

À, ờ, những ý tưởng siêu hình học, vâng. Người ta nên gộp chúng vào các câu chuyện dân gian hay đại loại thế.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Độc giả thường hay gọi truyện của ông là truyện ngụ ngôn. Ông thích cách mô tả như thế chứ?

BORGES

Không, không. Chúng được viết ra đâu nhằm trở thành truyện ngụ ngôn. Ý tôi nếu chúng là truyện ngụ ngôn… [ngưng một quãng dài] …tức là, nếu chúng là truyện ngụ ngôn, thì chúngtình cờ trở thành truyện ngụ ngôn, nhưng tôi chưa bao giờ có ý viết truyện ngụ ngôn.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Thế là không như truyện ngụ ngôn của Kafka?

BORGES

Ở trường hợp Kafka, ta hầu như chả biết gì. Ta chỉ biết rằng ông ấy rất bất mãn với tác phẩm của chính mình. Dĩ nhiên là lúc ông ta nói với người bạn Max Brod rằng ông muốn mấy bản thảo của mình phải được đem đốt sạch, giống Virgil từng làm, thì khi ấy tôi cho là ông dư biết bạn mình sẽ chả làm chuyện đó đâu. Nếu ai đó muốn tiêu huỷ đi tác phẩm của chính mình, thì họ phải ném nó vào lửa, và thế là xong. Khi ông ấy bảo với người bạn thân rằng, “Tôi muốn ông huỷ hết mớ bản thảo đó đi”, thì ông dư biết là bạn mình sẽ chả bao giờ làm vậy, và người bạn ấy cũng biết là ông biết thế và còn biết là ông biết người kia cũng biết là ông biết, vân vân và vân vân.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tất cả mấy thứ đó rất giống kiểu James.

BORGES

Vâng, dĩ nhiên rồi. Tôi nghĩ rằng cả thế giới của Kafka sẽ được phát hiện theo một cách còn phức tạp hơn nhiều trong những truyện của Henry James. Tôi nghĩ cả hai người này đều tư duy thế giới như một cõi sống đồng thời vừa phức tạp vừa vô nghĩa.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vô nghĩa?

BORGES

Anh không nghĩ thế sao?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Không, thực sự tôi không nghĩ vậy. Trong trường hợp của James thì…

BORGES

Nhưng ở trường hợp của James, vâng. Trong trường hợp của James, vâng. Tôi không nghĩ là ông ta nghĩ thế giới có mục đích luân lí nào. Tôi nghĩ ông ấy không tin vào Thượng đế. Thực sự thì tôi nghĩ có một lá thư gửi cho anh ông ấy, nhà tâm lí học William James, trong đó ông ấy bảo rằng thế giới là một viện bảo tàng bằng kim cương, ta hãy nói đó là một bộ sưu tập các thứ kì dị, phải không nào? Tôi cho ý ông ta là thế. Giờ ở trường hợp Kafka, tôi nghĩ Kafka đang tìm kiếm thứ gì đó.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Cho một ý nghĩa nào đó?

BORGES

Cho ý nghĩa nào đó, đúng vậy; và không tìm được nó, có lẽ vậy. Nhưng tôi nghĩ cả hai người họ đều sống trong một dạng mê cung, phải không nào?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi sẽ đồng ý chuyện đó. Chẳng hạn một cuốn sách như cuốn The Sacred Fount.

BORGES

Vâng, The Sacred Fount và nhiều truyện ngắn khác. Ví dụ, “The Abasement of the Northmores” (“Sự khuất nhục của nhà Northmore”), trong đó cả câu chuyện là một sự trả thù tuyệt đẹp, nhưng lại là cuộc trả thù mà độc giả không bao giờ biết là nó có xảy ra hay không. Người phụ nữ vô cùng chắc chắn rằng công việc của chồng cô, mà dường như chẳng ai biết hay quan tâm đến, tốt hơn rất nhiều so với công việc mà người bạn nổi tiếng của chồng cô ta có được. Nhưng có lẽ toàn bộ chuyện đó không có thực. Có lẽ tình yêu của cô dành cho anh ta đã dẫn dắt cô nàng. Ta không biết liệu những lá thư đó, khi được công bố, có thực sự dẫn đến chuyện gì không. Dĩ nhiên James cố gắng viết hai ba truyện cùng lúc. Đó là lí do tại sao ông không bao giờ đưa ra giải thích. Lời giải thích ắt sẽ làm câu chuyện trở nên nghèo nàn hơn. Ông bảo The Turn of the Screw chỉ là dạng mì ăn liền, đừng bận tâm về nó. Nhưng tôi không nghĩ điều đó là thật. Chẳng hạn, ông ta nói, À, nếu tôi đưa ra giải thích, rồi câu chuyện sẽ nghèo nàn hơn bởi những lời giải thích khác sẽ bị gạt bỏ. Tôi nghĩ ông ấy làm vậy là có chủ đích.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi đồng ý; người ta không nên biết.

BORGES

Người ta không nên biết, mà có lẽ bản thân ông ấy cũng không biết!

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có muốn tác động tương tự thế đối với độc giả của ông không?

BORGES

Ồ vâng. Dĩ nhiên là tôi muốn. Nhưng tôi nghĩ truyện ngắn của Henry James vượt xa tiểu thuyết của ông. Những điều quan trọng trong truyện của Henry James là những tình huống được sáng tạo nên, chứ không phải các nhân vật. The Sacred Fount ắt sẽ tốt hơn nhiều nếu bạn có thể phân biệt nhân vật này với nhân vật khác. Nhưng bạn phải lê lết khoảng ba trăm trang nhằm phát hiện ra tình nhân của quí cô này kia là ai, rồi cuối cùng bạn có thể đoán rằng chính anh chàng này chứ không phải anh chàng Tên-gì-gì-đó. Anh không thể tách bạch họ ra được; tất cả họ đều nói năng theo cùng một kiểu; không có nhân vật thực sự nào hết. Chỉ có người Mĩ dường như nổi bật lên. Nếu anh nghĩ đến Dickens, ờ, mặc dù các nhân vật dường như không nổi trội, nhưng họ vẫn quan trọng hơn nhiều so với cốt truyện.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông nói rằng truyện của chính ông có điểm nguồn nằm ở tình huống, chứ không phải nhân vật, đúng thế không?

BORGES

Nằm ở tình huống, quả đúng vậy. Ngoại trừ ý tưởng về tính can đảm, mà tôi rất thích. Tính can đảm, có lẽ thế, vì bản thân tôi không được can đảm cho lắm.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Phải chăng đó là lí do tại sao có nhiều dao, gươm và súng trong truyện của ông?

BORGES:

Ừ, có thể vậy. Ồ, nhưng có hai nguyên do: đầu tiên, là việc thấy được mấy thanh gươm ở nhà, có được là do ông tôi và ông cố tôi và mấy người nữa. Việc thấy được toàn bộ mấy thanh gươm đó. Rồi tôi được nuôi dạy ở Palermo; khi ấy toàn bộ nơi này là khu ổ chuột, và người ta bao giờ cũng nghĩ đến bản thân mình – tôi không nói rằng điều đó là sự thật nhưng nói rằng họ luôn nghĩ đến bản thân mình – như những người tốt đẹp hơn mấy kẻ sống ở phía bên kia thị trấn, như những người chiến đấu cừ hơn và đại loại thế. Dĩ nhiên, điều đó có lẽ là rác rưởi thôi. Tôi không nghĩ là họ đặc biệt can đảm vậy. Gọi một kẻ, hay nghĩ hắn, là tên hèn nhát – cùng lắm là điều đó; đó là cái thứ mà hắn ta không chịu được. Tôi thậm chí còn biết chuyện một người đàn ông đến từ phía nam thị trấn để gây sự với người nào đó vốn nổi danh là kẻ chơi dao ở phía bắc và bị giết vì cơn đau đớn của anh ta. Họ không có lí do thực sự để gây nhau: Họ chưa từng gặp nhau trước đó; không có vấn đề gì về tiền bạc hay đàn bà hay bất kì thứ gì đại loại thế. Tôi cho rằng đó là điều tương tự ở miền Tây nước Mĩ. Ở đây thì sự việc không được giải quyết bằng súng đạn, mà bằng dao.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Việc dùng dao đã đưa vụ việc trở lại về với dạng hành vi xưa cũ?

BORGES

Một dạng xưa cũ, đúng vậy. Hơn nữa đó còn là ý tưởng về sự dũng cảm mang tính cá nhân nhiều hơn. Bởi vì anh có thể là tay thiện xạ cừ và đặc biệt không can đảm. Nhưng nếu anh sắp sửa tham gia trận đánh cận chiến với người ta, và anh có dao… Tôi nhớ có lần tôi thấy một gã thách thức người khác đánh nhau với hắn, và người kia rút lui. Nhưng tôi nghĩ anh ta rút lui vì một mẹo lừa. Một tay thì già, ông ấy bảy mươi, tay kia là chàng trai trẻ và đầy sinh lực, anh ta ắt hẳn tầm hai mươi lăm đến ba mươi. Đoạn ông già, ông ấy xin anh thứ lỗi, ông ta quay trở lại với hai con dao găm, và có một con dài hơn con kia chừng một gang tay. Ông ấy bảo, “Đây, chọn vũ khí đi”. Do vậy ông ta cho người kia cơ hội chọn vũ khí dài hơn, và lợi thế hơn ông ta; nhưng đó cũng có nghĩa là ông ấy cảm thấy chắc chắn là bản thân có đủ khả năng giải quyết trở ngại đó. Người kia xin lỗi và rút lui, dĩ nhiên rồi. Tôi nhớ rằng một gã đàn ông dũng cảm, khi tôi còn là thanh niên ở mấy khu ổ chuột, ông ta bao giờ cũng mang theo một con dao gămngắn, và nó được đặt ở đây. Như thế này (Borges chỉ vào nách ông), do đó có thể lấy nó ra bất thình lình, và cái từ của khu ổ chuột dành cho con dao – hay một trong những từ của khu ổ chuột – à, đó là từ el fierro, nhưng dĩ nhiên từ đó không có nghĩa gì đặc biệt. Nhưng một trong những cái tên, và nó đã bị thất truyền – thật tiếc – là el vaivén, việc “đi đi lại lại”. Ở từ đi đi lại lại (làm cử chỉ) bạn sẽ thế ánh sáng loé lên của con dao, ánh sáng bất ngờ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nó giống bao súng của bọn cướp phải không?

BORGES

Chính xác, đúng rồi, giống bao súng – ở bên trái. Rồi người ta có thể lấy nó ra bất thình lình, và anh đạt được el vaivén. Nó được đánh vần như một từ và ai cũng biết nó có nghĩa con dao.El fierro là cái tên nghèo nàn vì gọi nó là miếng sắt hay miếng thép thì chẳng có nghĩa gì cả, trong khi el vaivén thì có.

SUSANA QUINTEROS (bước vào lần nữa)

Señor Campbell vẫn đang chờ.

BORGES

Vâng, vâng chúng tôi biết. Nhà Campbell đang tới!

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Hai nhà văn mà tôi muốn hỏi ông là Joyce và Eliot. Ông là một trong những độc giả đầu tiên của Joyce, và thậm chí ông còn dịch một phần tác phẩm Ulysses sang tiếng Tây-ban-nha phải không?

BORGES

Đúng thế, tôi e là mình đã đảm trách một bản dịch đầy lỗi của trang cuối tác phẩm Ulysses. Giờ thì nói về Eliot, đầu tiên tôi nghĩ ông ấy làm nhà phê bình tốt hơn là làm thi sĩ; giờ thì tôi nghĩ thỉnh thoảng ông ta cũng là thi sĩ tuyệt hảo đó chứ, nhưng với tư cách nhà phê bình tôi phát hiện rằng ông ta quá có khiếu để lúc nào cũng có thể vạch ra những khác biệt tinh hảo. Nếu anh lấy một nhà phê bình vĩ đại nào đó làm ví dụ, chẳng hạn Emerson hay Coleridge, anh sẽ cảm thấy ông ta đọc được nhà văn, và phê bình của ông xuất phát từ cảm nghiệm cá nhân của ông ấy đối với nhà văn, trong khi ở trường hợp Eliot anh sẽ luôn nghĩ – ít nhất là tôi luôn cảm thấy – rằng ông ta sẽ đồng ý với một giáo sư nào đó hay hơi bất đồng với giáo sư khác. Hệ quả là ông ta không sáng tạo. Ông ấy là người thông minh, người vạch ra những khác biệt tinh hảo, và tôi cho là ông ấy đúng; nhưng đồng thời, ta lấy một ví dụ có sẵn, sau khi đọc xong Coleridge bàn về Shakespeare, đặc biệt bàn về nhân vật Hamlet, một Hamlet mới được sáng tạo dành cho anh, hay sau khi đọc Emerson bàn về Montaigne hay bất kì ai có thể. Ở Eliot không có những hành động sáng tạo như vậy. Anh cảm thấy là ông ta đã đọc nhiều sách về chủ đề đó – mà ông ấy đồng ý hay không đồng ý – thỉnh thoảng đưa ra những nhận xét hơi cáu kỉnh, phải không nào?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vâng, rồi sau đó ông ta rút lại.

BORGES

Đúng, đúng, ông ấy rút lại sau đó. Dĩ nhiên ông ta rút lại sau đó những nhận xét bởi vì ban đầu ông ấy là cái mà ta có thể gọi “một thanh niên giận dữ”. Rốt cuộc, tôi cho rằng ông ta nghĩ đến bản thân như một tác giả kinh điển Anh ngữ, và khi đó ông phát hiện rằng mình phải lịch sự với mấy ông bạn kinh điển của mình thôi, để sau đó ông rút lại hầu hết mọi điều mình từng nói về Milton hay thậm chí những lời chống lại Shakespeare. Sau rốt,ông cảm thấy rằng bằng cách thức lí tưởng nào đó tất cả họ đều san sẻ cùng một nền học thuật.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tác phẩm của Eliot, thơ ông ấy, có tác động nào đến cách viết của bản thân ông không?

BORGES

Không, tôi không nghĩ vậy.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi sửng sốt bởi sự giống nhau quá rõ giữa The Waste Land và truyện “Kẻ bất tử” của ông.

BORGES

À, có thể có điều gì ở đó, nhưng trong vụ này tôi hoàn toàn không để ý đến nó bởi vì ông ta không phải một trong những thi sĩ tôi yêu thích. Tôi sẽ xếp hạng Yeats ở trên ông ta rất nhiều, nếu anh không phiền tôi nói thế, tôi nghĩ Frost là một thi sĩ ổn hơn Eliot. Ý tôi là, mộtthi sĩ ổn hơn. Nhưng tôi cho rằng Eliot là người thông minh hơn rất nhiều; tuy vậy, trí thông minh gần như chẳng có liên quan gì đến thi ca. Thi ca đâm chồi nảy lộc từ một thứ sâu xa hơn; nó nằm bên kia trí thông minh. Nó thậm chí không thể liên kết được với trí tuệ. Nó là một thứ tự thân; nó có bản tính tự thân. Không thể định nghĩa được. Tôi nhớ – dĩ nhiên hồi còn thanh niên – tôi thậm chí tức giận khi Eliot nói về Sandburg bằng kiểu khinh thường. Tôi nhớ ông ta nói rằng thể văn kinh điển thì tốt – tôi không trích dẫn lời ông ta mà chỉ trích ý – bởi nó cho phép ta đối phó với những nhà văn như ngài Carl Sandburg. Khi người ta gọi một thi sĩ là “ngài” [cười to] thì đó là từ thuộc về những cảm nghĩ ngạo mạn; nó có nghĩa ngài Gì-gì-đó đã tìm ra cách đi vào thi ca và không có quyền ở đó, một kẻ thực sự ngoài cuộc. Trong tiếng Tây-ban-nha nó còn tệ hơn bởi vì thỉnh thoảng khi ta nói đến một thi sĩ thì ta sẽ nói, “El Doctor So-and-so”. Khi ấy nó sẽ thủ tiêu ông ta, nó sẽ tẩy xoá ông ta.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy là ông thích Sandburg?

BORGES

Đúng, tôi thích ông ấy. Dĩ nhiên, tôi nghĩ Whitman quan trọng hơn Sandburg nhiều, nhưng khi anh đọc Whitman, thì anh nghĩ đến ông ta như một người của văn chương, có lẽ là một người của chữ nghĩa không-có-quá-nhiều-học-thức, người làm hết sức mình để viết bằng thứ tiếng địa phương, và là người dùng càng nhiều tiếng lóng càng tốt. Ở Sandburg, tiếng lóng dường như đến một cách tự nhiên. Giờ thì dĩ nhiên có hai Sandburg: Có một gã du côn; nhưng cũng có một Sandburg rất mực thanh nhã, đặc biệt khi ông ấy đề cập đến phong cảnh. Thỉnh thoảng khi ông ta mô tả sương mù, chẳng hạn thế, bạn sẽ được gợi đến một bức hoạ Trung-hoa. Trong khi ở những bài thơ khác của Sandburg bạn sẽ phần nào nghĩ về, ờ, bọn cướp, bọn lưu manh, loại người kiểu thế. Nhưng tôi cho rằng ông ta có thể là cả hai, và tôi nghĩ ông ấy cũng là người chân thành: khi ông cố hết sức để thành thi sĩ vùng Chicago và khi ông viết trong một tâm trạng tương đối khác. Một điều khác mà tôi thấy lạ lùng ở Sandburg là thế này, ở Whitman – nhưng dĩ nhiên Whitman là bậc cha anh của Sandburg – Whitman tràn đầy hi vọng, trong khi Sandburg viết như thể ông đang viết ở hai hay ba thế kỉ sắp tới. Khi ông viết về những lực lượng viễn chinh, hay khi ông viết về đế chế hay cuộc chiến hay các thứ khác, ông viết như thể toàn bộ mấy chuyện đó đã chết và đã qua rồi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy là có yếu tố huyễn tưởng trong tác phẩm ông ấy – là điều dẫn tôi tới việc hỏi ông về cái huyễn tưởng. Ông dùng từ này rất nhiều trong tác phẩm của mình, và tôi nhớ ông gọi Green Mansions, ví dụ thế, là một tiểu thuyết huyễn tưởng.

BORGES

À, nó là vậy mà.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy thì ông định nghĩa huyễn tưởng như thế nào?

BORGES

Tôi tự hỏi anh có thể định nghĩa được nó không. Tôi nghĩ nó phần nào là tính ý hướng trong một nhà văn. Tôi nhớ đến một nhận xét vô cùng sâu sắc của Joseph Conrad – ông ấy là một trong những tác gia ưa thích của tôi – tôi nghĩ nó nằm trong lời nói đầu cho cuốn gì đó tựa như The Dark Line, nhưng không phải thế…

NGƯỜI PHỎNG VẤN

The Shadow Line?

BORGES

The Shadow Line. Ở lời nói đầu ông nói rằng một số người nghĩ rằng câu chuyện đó là một câu chuyện huyễn tưởng bởi vì hồn ma của vị thuyền trưởng đã làm con tàu đứng lại. Ông ấy viết – và điều đó làm tôi sửng sốt bởi vì bản thân tôi cũng viết truyện huyễn tưởng mà – rằng cố tình viết một câu chuyện huyễn tưởng không phải là việc cảm nhận rằng toàn thể vũ trụ là huyễn tưởng và bí ẩn; cũng không phải chuyện nó thiếu đi tính khả giác đối với một người ngồi xuống và viết thứ gì đó huyễn tưởng một cách cố ý. Conrad nghĩ rằng khi ta viết, thậm chí theo lối hiện thực, về thế giới này, ta sẽ viết một câu chuyện huyễn tưởng bởi vì bản thân thế giới này vốn mang tính huyễn tưởng, khôn lường và bí ẩn.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có cùng niềm tin này phải không?

BORGES

Đúng vậy. Tôi phát hiện là ông ấy đúng. Tôi có nói chuyện với Bioy Casares, ông này cũng có viết truyện huyễn tưởng – những truyện rất rất ổn – và ông ấy nói, “Tôi nghĩ Conrad đúng. Thực vậy, không ai biết được liệu thế giới này là hiện thực hay huyễn tưởng, tức là, liệu thế giới này là một quá trình tự nhiên hay nó là một loại giấc mơ, một giấc mơ mà chúng ta có thể hoặc không thể san sẻ cùng kẻ khác”.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông thường cộng tác với Bioy Casares phải không?

BORGES

Đúng vậy, tôi luôn cộng tác với ông ấy. Mỗi tối tôi tới nhà ông ấy dùng bữa, và sau bữa tối chúng tôi ngồi xuống và viết.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông mô tả phương pháp cộng tác của các ông được không?

BORGES

À, nó khá quái gở. Khi chúng tôi cùng nhau viết, khi chúng tôi cộng tác, chúng tôi tự gọi mình là “H. Bustos Domecq”. Bustos là cụ tổ nhà tôi, và Domecq là cụ tổ nhà ông ấy. Giờ, điều quái gở là khi chúng tôi viết, và khi chúng tôi viết ra những thứ gần như là khôi hài – cho dù câu chuyện bi thảm, chúng vẫn được kể theo lối khôi hài, hoặc chúng được kể như thể người kể chuyện gần như không hiểu ông ta đang nói gì – khi chúng tôi viết cùng nhau, những gì xuất hiện của tác phẩm, nếu chúng tôi thành công, và thỉnh thoảng thì có đó – tại sao không? sau rốt, tôi sẽ nói ở thể số nhiều, phải không nào? – khi tác phẩm của chúng tôi thành công, khi đó những gì hiện ra là một thứ gì đó tương đối khác so với mấy thứ của Bioy Casares và mấy thứ của tôi, thậm chí câu chuyện đùa cũng khác. Do đó chúng tôi đã sáng tạo nên một loại người thứ ba giữa hai chúng tôi; vì lẽ nào đó mà chúng tôi sinh ra một người thứ ba hoàn toàn khác với chúng tôi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Một tác giả tưởng tượng?

BORGES

Đúng rồi, một tác giả tưởng tượng với những cái ông ấy thích, những cái ông ấy ghét, và một văn phong cá nhân với ý định chứa phong cách buồn cười; nhưng dù vậy, đó là văn phong của chính ông ấy, khác biệt hoàn toàn với loại văn phong tôi viết khi tôi cố gắng sáng tạo nên một nhân vật buồn cười. Tôi nghĩ đó là cách duy nhất của việc cộng tác. Nói chung, chúng tôi cùng nhau xem xét cốt chuyện trước khi đặt bút xuống trang giấy – đúng hơn là tôi nên nói về máy đánh chữ bởi ông ta có một cái máy đánh chữ. Trước khi chúng tôi bắt đầu viết, chúng tôi bàn luận cả câu chuyện; sau đó chúng tôi xem xét các chi tiết, thay đổi chúng, dĩ nhiên rồi: chúng tôi nghĩ đến một khởi đầu, và rồi chúng tôi nghĩ phần khởi đầu có thể là phần kết hoặc nó có thể gây ấn tượng hơn nếu ai đó không nói gì cả hoặc nói gì đó hoàn toàn nằm ngoài mục đích. Một khi câu chuyện được viết ra, nếu anh hỏi chúng tôi liệu tính từ này hoặc câu cụ thể này phát xuất từ Bioy hay từ tôi, thì chúng tôi chẳng thể nào biết được.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nó phát xuất từ người thứ ba.

BORGES

Đúng. Tôi nghĩ đó là cách duy nhất cho việc cộng tác bởi vì tôi đã thử cộng tác với những người khác. Đôi khi nó vận hành ổn thoả, nhưng đôi khi người ta cảm giác rằng người cộng tác là một dạng địch thủ. Hoặc, nếu không muốm nói – như trong trường hợp của Peyrou – chúng tôi bắt đầu cộng tác, nhưng ông ta rụt rè và là một dạng người rất nhã nhặn, rất lịch sự, và hệ quả là nếu ông ta nói bất kì thứ gì, và anh có bất kì phản đối nào, thì ông ấy sẽ cảm thấy tổn thương, và ông ấy sẽ rút lại ý kiến. Ông ta sẽ bảo, “Ồ vâng, tất nhiên, tất nhiên, vâng, tôi sai cả rồi. Đó là một lỗi ngớ ngẩn”. Hoặc nếu bạn đề xuất bất kì thứ gì, ông ấy sẽ bảo, “Ồ, ý đó thật tuyệt!” Giờ thì dạng sự việc kiểu đó không thể thực hiện được. Trong trường hợp tôi và Casares, chúng tôi không cảm giác như thể hai chúng tôi là địch thủ của nhau, hay thậm chí như thể chúng tôi là hai người đang chơi cờ. Không có trường hợp thắng thua gì hết. Những gì chúng tôi nghĩ đến là bản thân câu chuyện, là bản thân cái chất liệu.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi xin lỗi, tôi không biết rõ nhà văn thứ nhì mà ông nêu tên.

BORGES

Peyrou. Ông ta khởi đầu bằng cách bắt chước Chesterton và viết truyện ngắn, truyện trinh thám, không phải thứ vô giá trị, và thậm chí còn tiêu biểu cho phong cách Chesterton. Nhưng giờ đây ông ấy đã có được một loạt tiểu thuyết với mục đích phô bày cho thấy đất nước này trông ra sao suốt thời của Perón và sau khi Perón cao chạy xa bay. Tôi không quan tâm nhiều lắm cho thể loại tác phẩm đó. Tôi hiểu rằng tiểu thuyết của ông ấy rất ổn; nhưng, tôi nên nói thế, là từ quan điểm lịch sử, thậm chí từ quan điểm báo chí. Khi ông ấy bắt đầu viết truyện theo phong cách Chesterton, và sau đó ông viết một số truyện rất ổn – một trong số chúng làm tôi khóc, nhưng dĩ nhiên, có lẽ nó làm tôi khóc bởi vì ông ấy nói đến khu phố tôi được nuôi dạy, Palermo, và nói đến bọn lưu manh ngày ấy – một cuốn sách có nhan đề La noche repetida, với những truyện rất, rất ổn về bọn tội phạm, bọn lưu manh, bọn ăn cướp, loại như thế. Và tất cả thứ đó từ hồi rất lâu, ta hãy nói thế, ờ, hồi đầu thế kỉ. Giờ thì ông ấy đã bắt đầu loại tiểu thuyết mới này trong đó ông ta muốn phô bày ra cho thấy đất nước này trông ra sao.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Sắc màu địa phương, hầu như vậy?

BORGES

Sắc màu địa phương và nền chính trị địa phương. Khi đó các nhân vật của ông ta rất thích thú, ờ, về chuyện đút lót, cướp bóc, làm ra tiền, và cứ thế. Khi mà tôi ít lưu tâm hơn đến những đề tài đó, có lẽ là lỗi ở tôi, không phải ở ông ta, nếu tôi thích những thứ ban đầu của ông ấy hơn. Nhưng tôi lúc nào cũng nghĩ đến ông ta như là một nhà văn xuất sắc, một nhà văn quan trọng, và là ông bạn già của tôi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông nói rằng tác phẩm của chính ông đã chuyển từ biểu hiện ở thời kì ban đầu sang ám dụ ở thời kì sau.

BORGES

Vâng.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ý ông ám dụ là sao?

BORGES

Này nhé, ý tôi thế này: Khi tôi bắt đầu viết, tôi nghĩ mọi thứ nên được nhà văn định nghĩa. Chẳng hạn, nói “mặt trăng” bị cấm đoán hoàn toàn; người ta phải tìm ra một tính từ, một danh xưng cho mặt trăng. (Dĩ nhiên, tôi đang đơn giản hoá mọi sự. Tôi biết điều này bởi vì nhiều lần tôi đã viết ra “la luna”, nhưng đây là một dạng biểu tượng của những gì tôi đang làm.) Ờ, tôi từng nghĩ mọi thứ cần phải được định nghĩa và không nên dùng lối nói phổ biến. Tôi sẽ không bao giờ nói, “Người-này-người-kia đi vào và ngồi xuống,” bởi vì điều đó quá ư là đơn giản và quá ư dễ hiểu. Tôi từng nghĩ mình phải tìm ra cách ảo diệu nào đó để nói lên điều đó. Giờ thì tôi phát hiện rằng những thứ đó nhìn chung làm cho độc giả khó chịu. Nhưng tôi nghĩ toàn bộ gốc rễ của vấn đề nằm ở sự việc rằng lúc nhà văn còn trẻ anh ta sẽ cảm thấy phần nào đó điều mình sắp sửa nói khá là ngớ ngẩn hoặc hiển nhiên hoặc quá thường tình, thế là anh ta cố che đậy nó dưới lối văn vẻ kiểu baroque, dưới những từ ngữ lấy từ các nhà văn thế kỉ mười bảy; hoặc nếu không thì anh ta bắt đầu trở nên hiện đại, rồi anh ta làm ngược lại: Anh ta sẽ suốt ngày sáng chế ra các từ ngữ, hoặc ám chỉ đến các máy bay, tàu lửa, hoặc ám chỉ đến máy điện báo và điện thoại bởi vì anh ta đang cố hết sức mình để trở nên hiện đại. Rồi khi thời gian trôi đi, họ cảm thấy rằng những ý tưởng của mình, dù tốt dù xấu, phải được biểu lộ thẳng thừng ra, bởi vì nếu bạn có ý tưởng thì bạn phải cố gắng làm cho ý tưởng đó hay cảm giác đó hay tâm trạng đó đi vào trí óc độc giả. Nếu, đồng thời, bạn cố gắng trở thành, chẳng hạn, Sir Thomas Browne hoặc Ezra Pound, thì bạn không thể làm điều đó được. Do đó tôi nghĩ một nhà văn luôn khởi sự bằng cách trở nên quá phức tạp: Anh ta chơi nhiều trò cùng lúc. Anh ta muốn truyền tải một tâm trạng kì dị; đồng thời anh ta phải mang vẻ đương đại và nếu không đương đại thì anh ta sẽ là một kẻ phản động và một tay cổ điển. Nói về từ vựng, điều đầu tiên mà một nhà văn trẻ, ít nhất ở đất nước này, bắt đầu làm là chứng tỏ cho độc giả thấy mình sở hữu cả một cuốn từ điển, rằng anh ta biết tất những từ đồng nghĩa; do vậy chúng ta có, chẳng hạn, trên một dòng chữ, màu đỏ, rồi ta có màu đỏ tươi, rồi ta có những từ khác, gần như thế, cho cùng một màu: màu tía.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Thế là ông làm việc hướng đến một loại tản văn cổ điển?

BORGES

Đúng vậy, hiện tôi đang cố hết sức mình. Bất kì khi nào tôi tìm được một từ xa-xôi-hẻo-lánh, tức là, một từ có thể được dùng trong những tác phẩm kinh điển Tây-ban-nha hoặc một từ được dùng trong những khu ổ chuột ở Buenos Aires, ý tôi là một từ khác biệt với những từ còn lại, rồi tôi gạch bỏ nó, và tôi dùng một từ thông dụng. Tôi nhớ Stevenson viết rằng trên một trang giấy câu chữ rõ ràng thì tất thảy các từ ngữ nên trông cùng một kiểu. Nếu bạn viết ra một từ cục cằn hay một từ gây kinh ngạc hay một từ cổ xưa, thì qui luật đó bị phá vỡ; và điều quan trọng hơn hẳn là sự chú ý của độc giả sẽ bị từ đó làm cho xao nhãng. Ta cần đọc câu chữ đó thật mượt mà dẫu cho anh có đang viết siêu hình học hay triết học hay bất kì thứ gì.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Dr. Johnson đã từng nói điều tương tự thế.

BORGES

Vâng, ông ta hẳn là có nói vậy; trong bất kì trường hợp nào thì ông ấy hẳn đồng ý điều đó. Này nhé, tiếng Anh của bản thân ông ta khá là cồng kềnh, và điều đầu tiên anh cảm thấy là ông ta viết bằng thứ tiếng Anh cồng kềnh – rằng có quá sức nhiều từ ngữ Latin trong đó – nhưng nếu anh đọc lại những gì được viết ra, anh sẽ phát hiện đằng sau những cấu trúc phức tạp nơi cụm từ luôn có một ý nghĩa, nhìn chung thì đó là một ý nghĩa đáng lưu tâm và mới mẻ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Một ý nghĩa cá nhân?

BORGES

Đúng vậy, một ý nghĩa cá nhân. Do đó cho dù ông ấy viết theo văn phong Latin, tôi nghĩ ông ta là cây bút có chất Anh nhiều nhất. Tôi nghĩ đến ông ấy như là – đây là lời báng bổ, dĩ nhiên, nhưng tại sao không báng bổ trong khi chúng ta định làm vậy? – tôi nghĩ rằng Johnson là cây bút Anh ngữ xuất sắc hơn hẳn Shakespeare. Bởi vì nếu có một thứ điển hình của người Anh, thì đó là thói quen nói bớt nói giảm. Ờ, trong trường hợp Shakespeare thì không có lối nói bớt nói giảm nào. Ngược lại, ông ấy làm cho tình thế càng thêm bi thảm, như tôi nghĩ người Mĩ từng nói. Tôi nghĩ Johnson, người viết một dạng Anh ngữ theo kiểu Latin, và Wordsworth, người viết nhiều từ mang chất Saxon hơn, và còn có cây bút thứ ba mà tôi không thể nhớ tên – ờ – ta hãy nói Johnson, Wordsworth, và Kipling nữa, tôi nghĩa họ có chất Anh điển hình hơn cả Shakespeare. Tôi không biết tại sao, nhưng tôi lúc nào cũng nghĩ một thứ gì đó có chất Ý, thứ gì đó có chất Do-thái về Shakespeare, và có lẽ người Anh mến mộ ông ấy bởi vì chuyện đó, bởi vì khác họ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Và là lí do người Pháp ghét ông ta trong chừng mực có thể; bởi vì ông ta quá sức khoa trương.

BORGES

Ông ấy đã rất khoa trương. Tôi nhớ mình có xem một bộ phim vài ngày trước – phim không hay lắm – có tựa đề Darling. Có vài đoạn thơ của Shakespeare được trích dẫn trong đó. Giờ thì những đoạn thơ đó lúc nào cũng hay hơn khi được trích lại bởi vì ông định nghĩa nước Anh, và ông gọi nó, chẳng hạn, là “vườn địa đàng khác, cõi bán thiên đàng… Hòn đá quí giá này được đặt trên biển bạc” và cứ thế, và kết cuộc thì ông nói một thứ như, “địa hạt này, nước Anh này”. Giờ khi đưa đoạn trích đó vào, độc giả sẽ ngưng tại đó, nhưng trong văn bản tôi nghĩ những đoạn thơ cứ tiếp diễn để cho toàn bộ ý tưởng bị mất đi. Cái ý thực sự hẳn là ý tưởng về một người cố gắng định nghĩa nước Anh, yêu cô nàng rất nhiều và kết cuộc phát hiện ra điều duy nhất anh ta có thể làm là nói thẳng ra “England” – như thể anh nói “America” vậy. Nhưng nếu anh ta nói “địa hạt này, vùng đất này, nước Anh này,” và rồi tiếp tục “cõi bán thiên đàng này” và cứ thể, thì toàn bộ ý bị mất đi bởi vì England nên là từ cuối cùng. Ờ, tôi cho rằng Shakespeare luôn viết hối hả, như nhà viết kịch đã nói với Ben Jonson, và thế đó. Bạn không có thời gian cảm nhận rằng đó hẳn sẽ là từ cuối cùng, từ England, kết lại và che kín toàn bộ những từ khác, kiểu như, “À, tôi đang cố gắng đạt được thứ gì đó bất khả.” Nhưng ông ta tiếp tục với nó, với những ẩn dụ và những lời khoa trương của mình, bởi vì ông ấy khoa trương. Thậm chí trong một đoạn nổi tiếng như những lời cuối của Hamlet, tôi nghĩ thế: “The rest is silence” (Chỉ còn lại sự tĩnh mịch). Có điều gì đó bộ tịch ở câu này; nó có ý gây ấn tượng. Tôi không nghĩ có người sẽ nói điều gì như vậy.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ở bối cảnh vở kịch, dòng ưa thích của tôi trong Hamlet xuất hiện ngay sau cảnh cầu nguyện của Claudius khi Hamlet tiến vào thâm cung của bà mẹ và nói: “Now, Mother, what’s the matter?” (Giờ, Mẹ, có chuyện chi thế?)

BORGES

“What’s the matter?” là cái đối lập với “The rest is silence”. Ít nhất là với tôi, “The rest is silence” có vẻ giả dối. Người ta cảm giác Shakespeare đang nghĩ, “À, giờ thì Hoàng tử Hamlet xứ Đan-mạch đang chết dần: Anh ta phải nói điều gì đó gây ấn tượng.” Thế là anh ta chêm vào câu nói “The rest is silence”. Giờ thì câu đó có thể ấn tượng, nhưng nó không đúng! Ông ấy lúc đó vẫn cứ làm việc cật lực công việc thi sĩ của mình và không nghĩ đến nhân vật thực sự, nghĩ đến Hamlet người Đan-mạch.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Khi ông làm việc, loại độc giả nào ông hình dung ra để viết dành cho họ, nếu ông có hình dung? Ai sẽ là độc giả lí tưởng của ông?

BORGES

Có lẽ một vài người bạn thân quen của tôi. Không phải bản thân tôi bởi vì tôi không bao giờ đọc lại những thứ mình viết. Tôi quá sức e sợ phải có cảm giác xấu hổ về những gì mình đã viết.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có kì vọng nhiều người đọc tác phẩm của ông sẽ nắm được những ám dụ và tham chiếu trong đó?

BORGES

Không. Hầu hết những ám dụ và tham chiếu đó được đưa vào đơn thuần như một dạng câu chuyện đùa riêng tư.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Một câu chuyện đùa riêng tư?

BORGES

Một câu chuyện đùa không san sẻ với người khác, ý tôi vậy, nếu họ san sẻ nó thì tốt quá; nhưng nếu không thì tôi cũng chẳng bận tâm làm chi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy thì đó là cách tiếp cận đối lập cho ám dụ, chẳng hạn, xuất phát từ Eliot trong The Waste Land.

BORGES

Tôi nghĩ Eliot và Joyce đều muốn độc giả của mình đâm lúng túng và do đó sẽ cảm được ý nghĩa của những điều họ đã viết.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Dường như ông đọc sách phi hư cấu hoặc sách về sự kiện nhiều bằng, nếu không muốn nói là hơn, sách văn chương và thi ca. Có thật vậy không? Chẳng hạn, rõ ràng ông thích đọc bách khoa thư.

BORGES

À, đúng đó. Tôi rất thích. Tôi nhớ có lần mình thường tới đây đọc sách. Tôi khi đó còn rất trẻ, và tôi quá nhút nhát nên không thể yêu cầu một quyển. Rồi tôi khá là, tôi không nói nghèo, nhưng tôi cũng chẳng giàu có gì vào lúc đó – thế là tôi thường đến đây mỗi tối và lấy ra một quyển Encyclopaedia Britannica [Bách khoa thư Britannica], phiên bản cũ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Phiên bản thứ mười một?

BORGES

Mười một hoặc mười hai bởi vì những phiên bản đó hơn hẳn mấy phiên bản mới. Chúng làm ra với ý để đọc. Giờ thì chúng đơn thuần là sách tham khảo. Trong khi ở phiên bản thứ mười một hay mười hai của Encyclopaedia Britannica, anh sẽ có những bài viết dài của Macaulay, của Coleridge; không, không phải của Coleridge, của…

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Của De Quincey?

BORGES

Vâng, của De Quincey, và nhiều người nữa. Thế là tôi thường lấy bất kì quyển nào trên kệ – không cần phải yêu cầu chúng: Chúng là sách tham khảo – và sau đó tôi mở quyển sách đến khi tìm được một bài làm tôi hứng thú nhất, chẳng hạn, viết về những người theo đạo Mormon hoặc về bất kì nhà văn đặc biệt nào. Tôi ngồi xuống và đọc nó bởi vì những bài viết đó thực sự là một chuyên khảo, thực sự là những cuốn sách hoặc những cuốn sách ngắn. Điều tương tự cũng xảy ra đối với những bộ bách khoa thư tiếng Đức – Brockhaus hoặc Meyers. Khi chúng tôi có bản mới, tôi nghĩ bản đó là cái họ gọi là The Baby Brockhaus, nhưng không phải. Người ta giải thích với tôi rằng bởi vì nhiều người sống trong những căn hộ nhỏ nên không có đủ chỗ chứa ba mươi quyển sách. Bách khoa thư đã chịu đựng quá nhiều; chúng đã bị dồn lại.

SUSANA QUINTEROS [chen vào]

Tôi xin lỗi. Está esperando el Señor Campbell. [Ông Campbell đang chờ ạ]

BORGES

À, vui lòng kêu ông ta chờ thêm chút nữa. Nhà Campbell đó cứ tới.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi có thể hỏi thêm vài câu nữa không?

BORGES

Vâng, xin cứ hỏi, dĩ nhiên rồi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Một số độc giả thấy truyện của ông giá lạnh, thiếu tình người, khá giống một số nhà văn Pháp mới nổi. Đó có phải ý định của ông?

BORGES

Không. (Buồn bã) Nếu chuyện đó xảy ra, đó đơn thuần là do sự vụng về. Bởi vì tôi đã cảm nhận chúng rất sâu sắc. Tôi đã cảm nhận chúng sâu sắc đến mức tôi đã kể chúng, ờ, bằng cách dùng nhiều biểu tượng kì lạ để người ta không thể phát hiện ra rằng chúng gần như chỉ mang tính tự truyện. Những câu chuyện đó là về bản thân tôi, về những trải nghiệm cá nhân tôi. Tôi cho rằng đó là tính rụt rè của người Anh, không phải sao?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy một cuốn giống tập sách nhỏ có nhan đề Everness hẳn sẽ là cuốn sách ổn dành cho những người đọc về tác phẩm của ông?

BORGES

Tôi nghĩ thế. Bên cạnh đó, quí bà viết nó là bạn thân của tôi. Tôi tìm thấy từ đó trong Roget’s Thesaurus. Sau đó tôi nghĩ từ này do Giám mục Wilkins sáng chế ra, người đã sáng chế một thứ ngôn ngữ nhân tạo.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có viết về điều đó.

BORGES

Đúng rồi, tôi đã viết về Wilkins. Nhưng ông ta cũng sáng chế một từ tuyệt diệu mà thật lạ lùng là chưa từng được các thi sĩ Anh ngữ dùng tới – một từ ghê hồn, thật sự, một từ rất tệ.Everness, dĩ nhiên, ổn hơn eternity, bởi vì eternity hiện giờ khá cũ mòn. Ever-r-ness thì ổn hơn hẳn từ Ewigkeit bên tiếng Đức, một từ tương tự. Nhưng ông ấy cũng tạo ra một từ đẹp, một từ mà tự thân nó là một bài thơ, tràn đầy sự vô vọng, buồn bã, và tuyệt vọng: từneverness. Một từ đẹp đẽ, không phải sao? Ông ấy đã sáng chế ra nó, và tôi không biết lí do tại sao các thi sĩ để nó nằm đó mà không bao giờ dùng.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông đã dùng nó phải không?

BORGES

Không, không, chưa bao giờ. Tôi đã dùng everness, nhưng neverness rất đẹp. Có điều gì đó vô vọng về nó, không phải sao? Và không có từ nào có cùng nghĩa với nó trong bất kì ngôn ngữ nào khác, hoặc cả trong tiếng Anh. Anh có thể nói impossibility, nhưng rất vô vị đối với neverness: tiếng Saxon kết thúc bằng –ness. Neverness. Keats dùng nothingness: “Till love and fame to nothingness do sink”; nhưng nothingness, theo tôi nghĩ, yếu hơn neverness. Trong tiếng Tây-ban-nha anh sẽ có từ nadería – nhiều từ tương tự – nhưng không có từ nào như từ neverness. Do đó nếu anh là thi sĩ, anh nên dùng từ đó. Thật tiếc là từ đó lại bị thất lạc trong những trang giấy từ điển. Tôi không nghĩ nó đã từng được dùng đến. Có lẽ nó được nhà thần học nào đó dùng; có thể vậy. Tôi cho rằng Jonathan Edwards hẳn sẽ thích thú dạng từ đó hoặc Sir Thomas Browne, có lẽ, và Shakespeare, dĩ nhiên, vì ông ta rất yêu thích từ ngữ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông phản ứng với tiếng Anh rất tốt, ông yêu nó rất nhiều, thế sao ông lại viết bằng tiếng Anh quá ít đến vậy?

BORGES

Tại sao à? Tại sao, tôi e sợ. Sợ hãi. Nhưng năm tới, có mấy bài giảng mà tôi sẽ đọc, tôi sẽ viết nó bằng tiếng Anh. Tôi đã viết thư cho Harvard rồi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Sang năm ông sẽ tới Harvard à?

BORGES

Đúng vậy. Tôi sẽ có những bài giảng về thi ca. Và do tôi nghĩ thi ca thuộc dạng gần như bất khả chuyển dịch, và do tôi nghĩ văn chương Anh ngữ – và cái đó gồm luôn cả Mĩ – thuộc dạng phong phú nhất trên thế giới, nên tôi sẽ lấy hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả ví dụ, từ thi ca Anh ngữ. Dĩ nhiên, do tôi có sở thích riêng mình, tôi sẽ cố gắng làm việc ở những thể thơ viết bằng Old English (tiếng Anh cổ), nhưng đó cũng là tiếng Anh! Thực ra, theo một số sinh viên của tôi, nó còn Anh ngữ hơn cả Anh ngữ của Chaucer!

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Trở về tác phẩm của ông trong một lúc: Tôi thường tự nhủ làm sao mà ông khởi sự sắp xếp các tác phẩm vào những tuyển tập đó. Hiển nhiên nguyên tắc không phải theo niên đại. Nó có cùng chủ đề chăng?

BORGES

Không, không phải dạng niên đại; nhưng thỉnh thoảng tôi phát hiện ra rằng tôi đã viết lại cùng một truyện ngụ ngôn hay một truyện nào đó đến hai lần, hoặc hai câu chuyện khác nhau cùng mang một ý nghĩa, và thế là tôi cố gắng đặt chúng cạnh nhau. Đó là nguyên tắc duy nhất. Bởi vì, chẳng hạn như, một khi tôi tình cờ viết một bài thơ, thì đó là bài thơ không hay lắm, và sau đó viết lại nó nhiều năm sau. Sau khi bài thơ được viết ra, một số người bạn bảo tôi: “À, đây là bài thơ giống hệt cái ông đã xuất bản năm năm trước.” Và tôi nói, “À, vậy thì nó đó!” Nhưng tôi chẳng có một tí khái niệm nào về nó. Sau rốt, tôi nghĩ rằng một thi sĩ có lẽ có năm hay sáu bài thơ để viết và không hơn được con số đó. Anh ta bắt tay vào thử viết lại chúng từ nhiều góc độ khác nhau và có lẽ với nhiều cốt chuyện khác nhau và ở những độ tuổi khác nhau và những nhân vật khác nhau, nhưng những bài thơ đó về mặt căn bản và xét về nội tại thì chúng tương tự nhau.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông đã viết nhiều bài điểm sách và nhiều bài đăng tập san.

BORGES

À, tôi phải làm chuyện đó.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có phải chọn những quyển mà ông muốn điểm không?

BORGES

Có, nhìn chung là tôi có chọn.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Do đó sự lựa chọn này bộc lộ sở thích riêng ông?

BORGES

Ờ vâng, vâng. Chẳng hạn, khi có người bảo tôi viết bài điểm sách cho một quyển “Lịch sử văn chương” nào đó, tôi phát hiện nhiều lỗi ngớ ngẩn và cẩu thả, và do tôi rất cảm phục tác giả ở vai trò thi sĩ, nên tôi bảo, “Không, tôi không muốn viết về cuốn đó, bởi vì nếu tôi viết về nó tôi sẽ chống lại nó.” Tôi không thích công kích người ta, đặc biệt lúc này – lúc tôi còn trẻ, thì có, tôi rất thích chuyện đó, nhưng khi thời gian qua đi, ta thấy điều đó chẳng tốt gì. Khi người ta viết ủng hộ hay chống lại bất kì ai, thì điều đó khó lòng mà giúp ích hoặc làm tổn thương họ. Tôi nghĩ rằng người ta có thể được giúp, ờ, người đó có thể được chấp nhận hoặc bị hạ gục bằng bản văn của chính họ, chứ không phải bằng những điều người ta nói về họ, do đó cho dù anh khoe khoang rất nhiều và người ta bảo anh là thiên tài – ờ, anh sẽ bị phát hiện thôi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có phương pháp đặc biệt nào để đặt tên cho các nhân vật?

BORGES

Tôi có hai phương pháp: Một là đưa vào tên của ông nội, ông ngoại, ông cố, cứ thế. Cho họ một dạng của, ờ, tôi sẽ không nói tính bất tử, nhưng đó là một phương pháp. Phương pháp kia là dùng những cái tên tự nhiên chợt hiện trong đầu tôi. Chẳng hạn, trong một truyện, một trong những nhân vật đến rồi đi có tên Yarmolinsky bởi vì cái tên này chợt hiện ra trong đầu – đó là một từ lạ, không phải sao? Rồi một nhân vật khác có tên Red Scharlach bởi vì Scharlach nghĩa là scarlet (màu tía) trong tiếng Đức, và hắn là kẻ sát nhân; hắn mang sắc đỏ theo hai lối; không phải sao? Red Scharlach: Red Scarlet.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Còn về công chúa với cái tên đẹp từng xuất hiện trong hai truyện của ông?

BORGES

Faucigny Lucinge? À, cô ấy là người bạn tuyệt vời của tôi. Đó là một quí cô Argentina. Cô ấy cưới một chàng hoàng tử Pháp, và do cái tên rất đẹp, như hầu hết các nhan đề tiếng Pháp, đặc biệt nếu anh cắt đi chữ Faucigny, như cô ấy đã làm. Cô ta gọi mình là La Princesse de Lucinge. Đó là một từ thật đẹp.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Còn về Tlön và Uqbar?

BORGES

Ờ, ừ, đó chỉ đơn thuần có ý tục tằn. Sou-q-b-a-r.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Không thể phát âm, trong chừng mực nào đó.

BORGES

Đúng vậy, gần như không thể phát âm, và rồi Tlönt-l- là cách kết hợp khá lạ, không phải sao? Rồi ö. Chữ Latin Orbis Tertius – ta có thể nói từ đó dễ dàng, không phải sao? Có lẽ trongTlön tôi nghĩ đến traum, từ tương đương với dream trong tiếng Anh. Nhưng rồi nó sẽ phải làTröme, nhưng Tröme có thể làm độc giả nghĩ đến tàu lửa: t-l- là sự kết hợp kì dị hơn. Tôi nghĩ tôi đã chế ra một từ dành cho những đối tượng tưởng tượng được gọi là hrön. Tuy thế khi tôi bắt đầu học Old English, tôi phát hiện rằng hran là một trong những từ dành cho cá voi. Có hai từ, wael và hran, thế nà hranrād là “whale road” (con đường cá voi), tức là muốn nói “biển cả” trong thi ca Old English.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy cái từ do ông sáng chế để mô tả một đối tượng được trí tưởng tượng gây ra cho thực tại, từ đó đã được sáng chế ra rồi và thực tế nó là một hran?

BORGES

Đúng, đúng, nó đến với tôi. Tôi muốn nghĩ rằng nó đến từ tổ tiên của tôi từ mười thế kỉ trước – đó là một lời giải thích có thể được, không phải sao?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Có phải ông nói rằng trong truyện của mình thì ông đã cố gắng lai truyện ngắn với tiểu luận?

BORGES

Đúng vậy – nhưng tôi làm thế có chủ đích. Người đầu tiên chỉ ra điều đó cho tôi là Casares. Ông ấy nói rằng tôi đã viết nhiều truyện ngắn thực sự thuộc dạng lưng chừng giữa tiểu luận và truyện.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Có phải điều đó phần nào bù đắp cho sự rụt rè của ông về việc viết thể văn kể chuyện?

BORGES

Vâng, có lẽ vậy. Đúng vậy; bởi vì ngày nay, hoặc ít nhất là hôm nay, tôi bắt đầu viết loạt truyện về bọn du đãng ở Buenos Aires: Đó là những câu chuyện cởi mở. Không có gì thuộc về luận ở chúng hoặc thậm chí không có gì thi ca. Chúng luôn bị nói giảm nói bớt đi. Chúng được kể lại từ những người cũng là những kẻ du đãng, và bạn khó lòng có thể hiểu chúng. Chúng có thể là bi kịch, nhưng họ không cảm nhận được bi kịch. Họ đơn thuần chỉ kể chuyện, và tôi cho rằng độc giả bị khiến phải cảm giác rằng câu chuyện sẽ đi sâu hơn bản thân câu chuyện. Không có gì được nói đến về những tình cảm nơi các nhân vật – tôi lấy điều đó từ saga [một dạng văn xuôi] bằng Old Norse (tiếng Đức cổ) – ý tưởng rằng ta nên biết nhân vật bằng ngôn từ của họ và bằng việc làm của họ, nhưng ta không nên đi vào hộp sọ của họ và nói những điều họ đang nghĩ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy là chúng thuộc dạng phi tâm lí học thay vì vô cảm?

BORGES

Đúng thế, nhưng có một dạng tâm lí ngầm ẩn đằng sau câu chuyện bởi vì, nếu không, nhân vật chỉ là những con búp-bê đơn thuần.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Còn về Cabala? Lần đầu tiên ông trở nên hứng thú với nó là lúc nào?

BORGES

Tôi nghĩ nó thông qua De Quincey, thông qua ý tưởng của ông ta cho rằng toàn bộ thế giới là tập hợp các biểu tượng, hoặc ý rằng mọi thứ đều mang ý nghĩa một thứ khác. Sau đó khi tôi sống ở Geneva, tôi có hai người bạn thân thiết, hai người bạn tuyệt vời – Maurice Abramowicz và Simon Jichlinski – tên họ cho anh biết dòng dõi xuất thân của họ: Họ là những người Do-thái ở Ba-lan. Tôi rất ngưỡng mộ Thuỵ-sĩ và bản thân đất nước đó, không đơn thuần về cảnh vật và các thị trấn; mà người Thuỵ-sĩ rất lạnh lùng; ta khó lòng có thể có một người bạn Thuỵ-sĩ bởi vì do họ phải sống nhờ vào người ngoại quốc, tôi cho rằng họ ghét người ngoại quốc. Điều đó cũng tương tự đối với những người Mexico. Họ chủ yếu sống nhờ vào người Mĩ, du khách Mĩ, và tôi không nghĩ có người thích trở thành chủ khách sạn cho dù không có gì đáng hổ thẹn về chuyện này cả. Nhưng nếu anh là chủ khách sạn, nếu anh phải tiếp đãi nhiều người đến từ nhiều nước khác, ờ, thì anh sẽ cảm thấy rằng họ khác với anh và về lâu về dài anh có thể ghét họ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Có phải ông đã cố làm cho những truyện của bản thân mang chất Cabala?

BORGES

Vâng, thỉnh thoảng tôi có cố gắng.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Dùng những diễn giải mang chất Cabala truyền thống?

BORGES

Không. Tôi đọc một cuốn sách nhan đề Major Trends in Jewish Mysticism.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Cuốn của Scholem?

BORGES

Vâng, của Scholem và cuốn khác của Trachtenberg bàn về những điều mê tín Do-thái. Rồi tôi đọc toàn bộ sách của đạo Cabala tìm thấy được và toàn bộ những bài viết trong mấy cuốn bách khoa thư và cứ thế. Nhưng tôi không có chút chất Do-thái nào. Có lẽ tôi có tổ tiên Do-thái, nhưng không thể biết được. Tên mẹ tôi là Acevedo: Acevedo có thể là tên dành cho người Do-thái ở Bồ-đào-nha, nhưng cũng có thể không phải. Giờ nếu anh được gọi là Abraham, tôi nghĩ không hề có chút nghi ngờ gì về nó, nhưng khi người Do-thái lấy tên Ý, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, thì không nhất định xảy ra chuyện nếu bạn có một trong những cái tên đó thì bạn xuất thân từ dòng dõi Do-thái. Từ acevedo dĩ nhiên có nghĩa là một loại cây; từ này không đặc biệt phải là Do-thái, mặc dù nhiều người Do-thái mang tên Acevedo. Tôi không thể biết được. Tôi ước gì mình có tổ tiên người Do-thái nào đó.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông từng viết rằng mọi người hoặc theo Platon hoặc theo Aristoteles.

BORGES

Tôi có nói đâu. Coleridge nói đó chứ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nhưng ông trích lại ông ấy.

BORGES

Đúng vậy, tôi trích lại ông ta.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Thế ông thuộc dạng nào?

BORGES

Tôi nghĩ mình theo Aristoteles, nhưng tôi mong muốn theo lối kia. Tôi nghĩ chính cái khuynh hướng Anh ngữ làm tôi nghĩ đến những điều và những người đặc thù là hiện thực thay vì những ý niệm tổng quát là hiện thực. Nhưng tôi e rằng giờ thì nhà Campbell đang tới.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Trước khi đi, ông có phiền nếu kí vào cuốn Labyrinths không?

BORGES

Tôi rất vui lòng. À vâng, tôi biết cuốn này. Có hình tôi – nhưng có phải thực sự tôi trông như vậy không? Tôi không thích bức hình đó. Tôi không quá u sầu phải không? Quá kiệt quệ phải không?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông không nghĩ nó trông có vẻ ưu tư?

BORGES

Có lẽ. Nhưng quá u tối? Quá nặng nề? Cái lông mày… ồ, ờ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có thích tác phẩm mình ở phiên bản này không?

BORGES

Một bản dịch tốt, không phải sao? Ngoại trừ có quá nhiều chữ Latin trong đó. Chẳng hạn, nếu tôi viết, giả dụ như, habitación oscura (tôi sẽ không viết thế, dĩ nhiên, mà là cuarto oscuro, nhưng cứ giả dụ như tôi viết vậy), rồi có sự cám dỗ để dịch habitación bằng habitation, một từ có âm gần với từ gốc. Nhưng từ mà tôi muốn là room [căn phòng]: Nó rõ ràng hơn, đơn giản hơn, ổn hơn. Anh biết đó, tiếng Anh là ngôn ngữ đẹp, nhưng những ngôn ngữ cổ xưa hơn thì càng đẹp hơn: Chúng có những nguyên âm. Nguyên âm trong tiếng Anh hiện đại đã mất đi giá trị của mình, sắc thái của mình. Hi vọng của tôi dành cho tiếng Anh – dành cho ngôn ngữ tiếng Anh – là tiếng Mĩ. Người Mĩ nói năng rõ ràng. Giờ đây khi tôi đi xem phim, tôi không thể thấy nhiều thứ, nhưng ở phim Mĩ, tôi hiểu mọi từ. Ở phim Anh tôi không thể hiểu tốt như thế. Anh có từng phát hiện ra như vậy không?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Thỉnh thoảng, đặc biệt ở mấy phim hài. Diễn viên Anh dường như nói quá nhanh.

BORGES

Chính xác! Chính xác. Quá nhanh mà quá ít nhấn mạnh. Họ làm mờ đi các từ ngữ, các âm thanh. Một vết mờ vụt nhanh qua. Không, người Mĩ phải cứu lấy ngôn ngữ này; và, anh có biết là tôi nghĩ chuyện tương tự cũng đúng với tiếng Tây-ban-nha? Tôi thích cách nói ở Nam Mĩ hơn. Tôi luôn như vậy. Tôi cho rằng anh ở Mĩ không đọc Ring Lardner hay Bret Harte nhiều nữa đúng không?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Cũng có người đọc, nhưng hầu hết ở trường cấp hai.

BORGES

Còn về O. Henry?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Cũng hầu hết trong trường học.

BORGES

Và tôi cho rằng ở đó hầu hết là vì kĩ thuật, cái kết bất ngờ. Tôi không thích thủ thuật đó, anh có không? Ồ, về lí thuyết thì ổn cả thôi; còn thực tế là chuyện khác. Anh có thể đọc chúng chỉ một lần nếu chỉ có sự bất ngờ. Anh nhớ những gì Pope nói: “nghệ thuật chìm lắng” (the art of sinking). Bây giờ ở loại truyện trinh thám, chuyện đó khác. Bất ngờ cũng ở đó, nhưng còn có các nhân vật; quang cảnh hay phong cảnh để thoả mãn chúng ta. Nhưng giờ tôi nhớ rằng nhà Campbell đang tới, nhà Campbell đang tới. Họ được cho là một bộ tộc tàn bạo. Họ đâu rồi?

* Toàn bộ phần thời gian thêm vào ở trên đều chỉ đến ấn phẩm dịch xuất bản ở Mĩ.

[1] Rosas, Juan Manuel de (1793-1877), nhà độc tài quân sự người Argentina.

[2] Đây có lẽ do nhớ sai: Truyện đó là “Pierre Menard, autor del Quijote”, xuất bản trong tập truyện Sur, số 56 (tháng Năm, 1939). Borges thực tế đã viết hai truyện trước truyện này – “The Approach to Al-Mu’tasim” (1938), bài phê bình về một cuốn sách không tồn tại (tương tự truyện “Pierre Menard”), và “Hombre de la esquina rosada”, truyện ngắn đầu tiên của ông, xuất bản lần đầu trong tập A Universal History of Iniquity năm 1935. Giải Prix Formentor, được đề cập sau đó trong bài phỏng vấn này, là dành cho tập truyện Ficciones của Borges, trong đó không có truyện “Hombre de la esquina rosada”.

[3] Callois là nhà xuất bản.

[4] Đó là năm 1936.

Duy Đoàn chuyển ngữ
Sài-gòn
20130718

Nguồn:

“Jorge Luis Borges, The Art of Fiction No. 39.” The Paris Review.http://www.theparisreview.org/interviews/4331/the-art-of-fiction-no-39-jorge-luis-borges

https://chiecnon.wordpress.com/2013/07/18/the-paris-review-nghe-thuat-hu-cau-so-39-jorge-luis-borges/

Literature Văn học Mỹ Latinh

Jorge Luis Borges – Khi một tác phẩm hư cấu trú ngụ trong một tác phẩm hư cấu khác

Jorge Luis Borges

Khi một tác phẩm hư cấu trú ngụ trong một tác phẩm hư cấu khác

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Esther Allen

Tôi có được sự nghi hoặc về vấn đề của sự bất tận là nhờ vào cái hộp thiếc lớn dùng chứa bánh qui, nó cũng là nguồn khởi điểm cho cái bí ẩn gây choáng váng trong suốt thời thơ ấu của tôi. Ở một mặt của cái vật thể lạ thường này là một khung cảnh Nhật-bản; tôi không nhớ là trẻ con hay các chiến binh tạo nên hình ảnh trong đó, nhưng tôi có nhớ ở ngay góc khung hình đó có một cái hộp bánh qui giống y như vậy cùng với một bức hình cũng y như thế trên cái hộp, rồi trong cái hộp đó lại chứa một bức hình như thế, và cứ thế (ít nhất thì nó cũng hàm ý như vậy) kéo đến bất tận… Mười bốn, mười lăm năm sau, khoảng năm 1921, tôi khám phá ra trong một tác phẩm của Russell có một ý tương tự vậy của Josiah Royce, người đặt ra giả định về một tấm bản đồ nước Anh được vẽ trên một phần lãnh thổ nước Anh; tấm bản đồ này – bởi vì nó rất chuẩn xác – ắt phải chứa đựng một tấm bản đồ về một tấm bản đồ khác, tấm bản đồ khác này tới phiên nó ắt phải chứa đựng một tấm bản đồ của một tấm bản đồ của một tấm bản đồ, và cứ thế đến bất tận… Trước đó, trong Viện bảo tàng Prado, tôi xem được bức tranh Las meninas nổi tiếng của Velázquez. Phần hậu cảnh bức tranh là chính Velázquez, đang thực hiện một bức chân dung kép vẽ vua Philip IV và phu nhân, hai người này không nằm trong khung tranh mà là hình ảnh phản chiếu trong gương. Trên ngực người hoạ sĩ có đeo cây thánh giá Santiago; người ta đồn rằng nhà vua đã vẽ cây thánh giá ở đó, do đó phong người hoạ sĩ làm phẩm cấp hiệp sĩ… Tôi nhớ là những người điều hành Viện bảo tàng Prado đã đặt một chiếc gương ở trước bức tranh nhằm kéo dài cảm giác khoái cảm này. 

Kĩ thuật tạo hình chèn một bức tranh vào trong một bức tranh khác nếu xét trong thế giới chữ nghĩa thì nó tương ứng với việc chen một tác phẩm hư cấu vào bên trong một tác phẩm hư cấu khác. Cervantes đã đưa vào một cuốn tiểu thuyết ngắn vào ngay bên trong tác phẩm Quixote; Lucius Apuleius nổi tiếng là đã chen truyện ngụ ngôn Cupid and Psyche (Thần tình yêu và tâm hồn) vào trong tác phẩm The Golden Ass. Phần thêm vào thuộc về một điều tự nhiên rõ ràng như thế thì cũng tầm thường như trong thực tế có một ai đó đọc lớn lên hoặc hát lên. Hai bình diện đó, thực tế và lí tưởng, không trộn lẫn vào nhau. Trái lại, Một ngàn lẻ một đêm đã nhân đôi và lại nhân đôi các phân nhánh của cùng một câu chuyện chủ đạo khiến câu chuyện rẽ sang nhiều câu chuyện ngoài luồng khiến người đọc choáng váng, nhưng nó không hề cố gắng chuyển đổi trạng thái những thực tại trong đó, và tác động (nên là một tác động theo chiều sâu) chỉ diễn ra ở bề mặt, giống như tấm thảm xứ Ba-tư. Câu chuyện mở màn cho một loạt câu chuyện theo sau là một câu chuyện nổi tiếng: nhà vua trong lúc tan nát cõi lòng đã thề rằng mỗi đêm ông ta sẽ cưới một trinh nữ, rồi người trinh nữ đó sẽ bị chém đầu khi bình minh ló dạng, và nàng Scheherazade, người đã đánh lạc hướng nhà vua bằng những câu chuyện kì diệu suốt một ngàn lẻ một đêm, với lòng can trường của mình cứ quanh đi quẩn lại trên đầu của hai người và nàng trao cho nhà vua đứa con trai của ông ta. Nhu cầu cần phải kết thúc một ngàn lẻ một phần đã buộc những người sao chép tác phẩm này đi đến chỗ tạo ra đủ dạng câu chuyện lạc đề. Không câu chuyện nào gây hoang mang bằng câu chuyện vào đêm thứ 602, như có một chút huyền ảo xen lẫn vào trong đêm. Vào đêm lạ lùng đó, nhà vua được nghe câu chuyện của chính bản thân mình từ đôi môi của hoàng hậu. Ông nghe phần khởi đầu câu chuyện, vốn bao gồm toàn bộ những câu chuyện khác, và – đáng sợ – là có cả chính câu chuyện đó nữa. Liệu người đọc có cảm giác được rõ ràng là có một lượng rất lớn các câu chuyện có thể tiếp tục kéo dài do có sự chen vào của câu chuyện kia, một mối hiểm hoạ kì lạ do câu chuyện xen vào kia gây nên? Liệu nàng hoàng hậu kia sẽ duy trì, và nhà vua bất động kia sẽ lắng nghe mãi mãi cái câu chuyện được thu gọn về một ngàn lẻ một đêm, giờ đây đang kéo dài bất tận và cứ đi theo vòng tròn… Trong Một ngàn lẻ một đêm, Scheherazade kể rất nhiều câu chuyện; một trong số những câu chuyện đó gần như chính là câu chuyện về Một ngàn lẻ một đêm.

Trong hồi thứ ba của Hamlet, Shakespeare cho dựng một sân khấu ở ngay trên sân khấu; thực tế là vở kịch diễn ra ở sân khấu phía trên đó – việc đầu độc một nhà vua – theo một cách nào đó phản chiếu vở kịch chính, và thực tế này đủ để gợi ra một khả năng về những chiều cuộn xoắn kéo dài bất tận. (Trong một bài viết năm 1840, De Quincey nhận định rằng phong cách vững chắc và mạnh bạo của vở kịch phụ đã khiến cho toàn bộ vở kịch có chứa vở kịch phụ đó trái lại có vẻ giống đời hơn. Tôi nói thêm vào là cái mục tiêu cốt yếu của nó là ngược lại: khiến cho thực tại trông có vẻ phi thực tế đối với chúng ta.)

Hamlet xuất hiện từ năm 1602. Cho đến cuối năm 1635, nhà văn trẻ Pierre Corneille đã sáng tác nên một vở hài kịch huyền ảo mang tên L’Illusion comique. Pridamant, cha của Clindor, đã đi khắp các quốc gia ở châu Âu để tìm kiếm con trai mình. Bằng sự tò mò nhiều hơn là lòng thành thật, ông ta viếng thăm hang động của “vị pháp sư đầy quyền năng” Alcandre. Vị pháp sư này bằng cách dùng ảo ảnh cho ông ta thấy cuộc đời đầy nguy nan của đứa con trai. Chúng ta thấy Clindor đâm vào địch thủ, tháo chạy khỏi vòng pháp luật, bị ám sát trong một khu vườn, rồi tán gẫu cùng bè bạn. Alcandre vén màng bí ẩn. Lúc giết kẻ địch của mình là lúc Clindor bắt đầu diễn, và cảnh khu vườn bê bết máu kia không thuộc về thực tại (“thực tại” trong tác phẩm hư cấu của Corneille), mà thuộc về một vở bi kịch. Chúng ta đang trong một rạp hát mà không hề biết. Một bài văn tán tụng khá bất ngờ dành cho kẻ nổi danh kia đã đưa tác phẩm đến hồi chung cuộc:

Même notre grand Roi, ce foudre de la guerre,

Dont le nom se fait craindre aux deux bouts de la terre,

Le front ceint de lauriers, daigne bien quelquefois

Prêter l’oeil et l’oeille au Théâtre Français.

[That thunderbolt of war  himself, our great King/Whose name sounds at earth’s end with fearsome ring/His forehead wreathed in laurels, sometimes deigns/To lend eye and ear to the French Theater’s refrains.]

Thật đau đớn khi lưu ý rằng Corneille đã nhét những vần thơ không mấy huyền ảo này vào miệng của một pháp sư.

Cuốn tiểu thuyết The Golem (1915) của Gustav Meyrink là câu chuyện về một giấc mơ; trong giấc mơ này có những giấc mơ khác; và trong những giấc mơ đó (tôi tin là) còn có những giấc mơ khác nữa.

Tôi đã liệt kê nhiều mê lộ bằng ngôn từ, nhưng không cái nào phức tạp bằng cuốn sách này của Flann O’Brien, cuốn At Swim-Two-Birds. Một sinh viên ở Dublin viết một cuốn tiểu thuyết về một người chủ quán rượu ở Dublin, người chủ này viết một cuốn tiểu thuyết về những người khách ruột của mình (trong số đó có chàng sinh viên nọ), những người khách này tới phiên họ cũng viết những cuốn tiểu thuyết trong đó người chủ quán rượu và chàng sinh viên cùng với các nhà văn viết tiểu thuyết khác là những nhân vật chính, và những cuốn tiểu thuyết này nói về những nhà tiểu thuyết khác. Cuốn sách chứa đựng những bản thảo khác nhau vô cùng về những con người có thật và tưởng tượng này, được chàng sinh viên chú giải rất nhiều. At Swim-Two-Birds không chỉ là một mê lộ: nó là phần thảo luận về nhiều cách tiếp nhận một cuốn tiểu thuyết Ireland và một kho những bài tập rèn luyện viết tản văn và thơ ca minh hoạ hoặc giễu nhại toàn bộ văn phong của Ireland. Ảnh hưởng đầy quyền uy của Joyce (cũng là một kiến trúc sư tạo nên các mê lộ; là một Proteus của văn chương) là điều không thể phủ nhận nhưng ảnh hưởng đó trong cuốn sách muôn mặt này không hề thiếu cân xứng.

Arthur Schopenhauer viết rằng mơ và tỉnh thức là những trang giấy trong cùng một cuốn sách, và đọc những trang này theo thứ tự chính là sống, còn lướt nhanh qua chúng theo ngẫu nhiên, tức là mơ. Những bức tranh trong những bức tranh và những cuốn sách phân nhánh thành những cuốn sách khác giúp chúng ta cảm thức được cái nhất thể này.

[1939]

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20120424

Nguồn:

Borges, Jorge Luis. “When Fiction Lives in Fiction.” Jorge Luis Borges: Selected Non-Fictions. Ed. Eliot Weinberger. New York: Penguin, 1999.

https://chiecnon.wordpress.com/2012/04/24/jorge-luis-borges-khi-mot-tac-pham-hu-cau-tru-ngu-trong-mot-tac-pham-hu-cau-khac/

Literature Văn học Mỹ Latinh

Jorge Luis Borges – Thư viện Babel

Jorge Luis Borges

Thư viện Babel

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Andrew Hurley

Bằng hình thức nghệ thuật này, bạn có thể chiêm nghiệm về biến thể của 23 kí tự…
Anatomy of Melancholy, Pt. 2, Sec II, Mem. IV

Cõi vũ trụ (cái mà người khác gọi là Thư viện) bao gồm một lượng vô hạn định, và có lẽ là bất tận các gian phòng hình lục giác. Ở trung tâm của mỗi gian phòng là một ống thông hơi, bao quanh bởi thanh rào ở tầm thấp. Từ bất kì hình lục giác nào người ta có thể thấy tầng trên và tầng dưới – cái này tiếp theo sau cái nọ, đến vô tận. Sự sắp đặt các gian phòng luôn là như nhau: Hai mươi kệ sách, năm cái mỗi bên, phủ đầy bốn trong số sáu cạnh của hình lục giác; chiều cao các kệ sách, từ sàn nhà đến trần nhà, khó có thể nào hơn chiều cao của một người thủ thư bình thường. Một trong số hai cạnh tự do của hình lục giác mở ra một cái dạng như một hành lang hẹp, cái hành lang này đến phiên nó mở vào một gian phòng khác, tương tự như cái đầu tiên – thực tế là tất cả các gian phòng đều tương tự nhau. Về phía trái hay phải của hành lang là hai cái hốc nhỏ. Một dành cho việc ngủ, ở tư thế thẳng đứng; cái kia, dành cho việc thoả mãn những nhu cầu thể chất của người ta. Cũng thông qua vùng không gian, có một cái cầu thang xoắn ốc đi ngang qua, những cầu thang này xoắn xuýt lên phía trên và xuống phía dưới tiến vào một điểm xa xăm. Trong hành lang có một cái gương, nó sẽ nhân đôi một cách chân thật các hình trạng. Con người thường suy ra từ chiếc gương này rằng Thư viện không phải vô hạn – nếu nó vô hạn, thì cần gì phải có sự sao chép tạo ảo ảnh? Tôi thích mơ ước đến chuyện các bề mặt bóng loáng kia tượng trưng và hứa hẹn cho cái vô hạn… Ánh sáng được mang đến từ những quả cầu mang tên “bóng đèn”. Có hai trong số những bóng đèn ở mỗi gian phòng lục giác, được lắp chéo nhau. Ánh sáng phát ra từ các bóng đèn này không đủ, và không ngừng toả ra.

Như toàn bộ mọi người của Thư viện, vào những ngày trai trẻ của mình tôi cũng đi chu du đây đó; tôi làm một chuyến đi nhằm truy tìm một cuốn sách, có lẽ là một cuốn danh bạ về những danh bạ. Giờ đây thì đôi mắt của tôi khó có thể nhận ra được những gì mình đã viết, tôi đang sẵn sàng chết, cách cái gian phòng nơi tôi sinh ra chừng vài dặm. Khi tôi chết đi, những đôi tay từ bi sẽ ném tôi qua thanh rào; phần mộ của tôi sẽ là bầu không khí huyền bí, cơ thể của tôi sẽ chìm trôi xuống suốt quãng thời gian dài, và sẽ thối rữa và hoà tan vào gió được sinh ra bởi cú ngã của tôi, chuyện này cũng sẽ kéo dài vô hạn. Tôi tuyên bố rằng Thư viện là vô tận. Những người duy tâm biện luận rằng những căn phòng lục giác là hình dạng cần thiết cho một vùng không gian tuyệt đối vẹn toàn, hay ít nhất là cho cảm thức về không gian của chúng ta. Họ biện luận rằng căn phòng hình tam giác hay ngũ giác thì bất khả hình dung. (Phái huyền học cho rằng những sự hưng phấn tột đỉnh đó hé lộ cho họ biết về một căn phòng hình tròn chứa đựng vô số những cuốn sách hình tròn với cái gáy kéo dài liên tục đi trọn vẹn vòng quanh các bức tường. Nhưng lời chứng nhận của họ thì khả nghi, lời nói của họ thì mập mờ. Cuốn sách tuần hoàn đó chính là Chúa trời.) Chỉ lúc ấy thôi cũng đủ để tôi lặp lại câu châm ngôn cổ điển này: Thư viện là một quả cầu mà vị trí trung tâm đích xác của nó là bất kì hình lục giác nào và các đường tròn của nó là thứ không thể vươn tới được.

Ở mỗi bức tường của mỗi phòng lục giác kê năm cái kệ sách; mỗi kệ sách chứa ba mươi hai cuốn sách có khổ tương tự nhau; mỗi cuốn sách chứa trong đó bốn trăm mười trang; mỗi trang, bốn mươi dòng; mỗi dòng; khoảng tám kí tự màu đen. Cũng có những kí tự nằm trên bìa trước của mỗi cuốn sách; những kí tự này không chỉ ra cũng như không cho biết những trang bên trong nói gì. Tôi nhận thức được rằng việc thiếu sự tương ứng đó đã từng tạo ra cảm giác bí ẩn đối với con người. Trước khi tóm tắt giải pháp cho bí ẩn này (mà việc khám phá ra nó, mặc dù có những hệ luỵ bi thương, nhưng có lẽ là sự kiện quan trọng nhất trong toàn bộ lịch sử), tôi muốn hồi tưởng lại một số tiên đề.

Đầu tiên: Thư viện hiện hữu ab aeternitate [từ thuở vô định]. Chân lí đó, mà hệ quả của nó chính là tương lai vĩnh hằng của nhân gian, không một đầu óc duy lí nào có thể nghi ngờ. Con người, một thủ thư bất toàn, có thể là sản phẩm của một sự may rủi hoặc là của một hoá công có tà tâm; vũ trụ, với những món đồ đạc tao nhã – những kệ sách, những cuốn sách huyền bí, những cầu thang không hề dứt dành cho du khách, và những phòng vệ sinh cho người thủ thư – chỉ có thể là tạo tác thủ công của một vị thần. Để nắm được cái khoảng cách ngăn giữa loài người và thần linh, ta chỉ phải so sánh những biểu tượng thô thiển run rẩy này mà bàn tay lỗi lầm của tôi đã viết tháo trên bìa của một cuốn sách bằng những kí tự nền tảng ở trong sách – gọn gàng, mỏng manh, đen thẳm, và có tính đối xứng không thể bắt chước được.

Thứ nhì: Có hai mươi lăm kí hiệu chính tả [1]. Khám phá này cho phép nhân loại, vào ba trăm năm trước, trình bày rõ ràng một lí thuyết tổng quát về Thư viện và từ đó giải quyết thoả mãn được câu đố mà không sự phỏng đoán nào có thể giải ra – cái bản chất vô hình dạng và hỗn độn của hầu hết mọi cuốn sách. Một cuốn sách, mà cha tôi đã từng một lần thấy trong một phòng lục giác ở vòng 15-94, bao gồm các kí tự M C V được lặp lại một cách ngang ngạnh từ dòng đầu tiên đến dòng cuối cùng. Một cuốn khác (được tra cứu rất nhiều trong khu vực này) chỉ là một mê cung của những kí tự mà trang kế cuối của nó chứa đựng cụm O Time thy pyramids. Điều sắp nói đây ai cũng biết: Đối với mọi dòng chữ có lí hay mọi lời phát biểu thẳng thắn thì có cả hàng dặm những âm thanh chói tai vô nghĩa, những câu nói buồn cười , và những câu rời rạc. (Tôi biết đến một trong số những khu vực bán khai có những người thủ thư từ chối “tập tục vô dụng và mê tín” trong việc cố gắng tìm ra ý nghĩa trong những cuốn sách, đánh đồng việc tìm kiếm thế này với nỗ lực đi tìm ý nghĩa của những giấc mơ hay những đường nét hỗn loạn trong lòng bàn tay một kẻ nào đó… Họ sẽ thừa nhận rằng những tay phát minh ra chữ viết đã bắt chước hai mươi lăm kí hiệu tự nhiên đó, nhưng tiếp tục khẳng định rằng việc thực hiện đó là do ngẫu nhiên, trùng họp thôi, và rằng những cuốn sách tự chúng chẳng có ý nghĩa gì cả. Luận điểm đó, như ta sẽ thấy, không hoàn toàn sai lầm.)

Trong nhiều năm, người ta tin rằng những cuốn sách khó hiểu này thuộc về thời cổ đại hoặc bằng những ngôn ngữ ở những vùng xa xôi hẻo lánh. Đúng là hầu hết người cổ đại, những thủ thư đầu tiên, đã tạo ra một ngôn ngữ khá khác biệt với thứ ngôn ngữ mà chúng ta nói ngày nay; đúng là ở một vài dặm về hướng bên phải, ngôn ngữ của ta biến thành phương ngữ và ở chín mươi tầng phía trên thì nó trở thành ngôn ngữ không thể hiểu nổi. Toàn bộ điều đó, tôi lặp lại, là thật – nhưng bốn trăm mười trang của những kí tự M C V bất biến thì không thể thuộc về bất kì ngôn ngữ nào, cho dù có là một phương ngữ hay một ngôn ngữ cổ xưa. Một số người có ý rằng mỗi kí tự ảnh hưởng đến kí tự tiếp theo, rằng giá trị của M C V ở trang 71, dòng 3 không phải là giá trị của chính dãy đó ở một dòng khác trong một trang khác, nhưng cái luận thuyết mơ hồ kia không gặp được bất kì sự đồng tình nào. Những người khác đề cập khả năng của một loại mật mã; sự phỏng đoán đó được chấp nhận khắp nơi, mặc dù không theo cái ý nghĩa do những người khởi tạo đã hình thành nên.

Khoảng năm trăm năm về trước, vị lãnh đạo của một trong những phòng lục giác phía trên [2] đã vô tình gặp một cuốn sách cũng rối rắm như bao cuốn khác, nhưng trong đó gần như có hai trang với những dòng chữ y như nhau. Ông ta đưa phát hiện đó của mình cho một nhà giải mã đang chu du và người này bảo ông ta rằng những dòng đó được viết bằng tiếng Bồ-đào-nha; những người khác thì nói nó là tiếng Yiddish. Trong vòng một thế kỉ, các chuyên gia đã xác định được ngôn ngữ đó: một thứ phương ngữ của Lithuania trộn với Samoyedic thuộc ngôn ngữ Guaraní, với những biến thể từ tiếng Ả-rập cổ. Nội dung bên trong cũng được người ta xác định: những nguyên lí cơ bản của phân tích tổ hợp, được minh hoạ với những ví dụ về những biến thiên được lặp lại vô tận. Những ví dụ đó cho phép người thủ thư thiên tài khám phá ra được quy luật cơ bản của Thư viện. Vị triết gia này nhận thấy rằng toàn bộ những cuốn sách, cho dù chúng có thể khác nhau thế nào đi nữa thì cũng chứa đựng những thành tố tương tự nhau: khoảng trắng, dấu chấm, dấu phẩy, và hai mươi hai kí tự trong bảng chữ cái. Ông cũng đưa ra một sự việc mà toàn bộ những kẻ du hành từ nào giờ đều xác nhận: Trong toàn bộ Thư viện, không có hai cuốn sách tương tự nào với nhau. Từ những giả thuyết không thể bàn cãi này, người thủ thư suy diễn ra rằng Thư viện là “toàn vẹn” – hoàn hảo, đầy đủ, và nguyên vẹn – và suy diễn rằng những kệ sách chứa đựng toàn bộ những tổ hợp khả dĩ của hai mươi hai biểu tượng dùng làm chính tả kia (một con số không phải bất tận cho dù nó lớn không thể tưởng nổi) – tức là, mọi thứ đều có thể được diễn trình ra, bằng mọi ngôn ngữ. Toàn bộ – lịch sử chi tiết của tương lai, nhưng hồi kí của các tổng thiên thần, cái danh mục chân thật của Thư viện, hàng ngàn và hàng ngàn những danh mục sai lệch, bằng chứng về sự sai lệch của những danh mục sai lệch này, bằng chứng về sự sai lệch của danh mục đúng đắn, sách phúc âm của phái ngộ giáo của Basilides, phần nhận xét về sách phúc âm đó, phần nhận xét về nhận xét của sách phúc âm đó, câu chuyện thật về cái chết của bạn, phần dịch thuật của mọi cuốn sách sang mọi ngôn ngữ, phần thêm vào của mọi cuốn sách vào tất cả các cuốn sách, bản khảo luận mà Bede có lẽ viết (nhưng không viết) dựa trên huyền thoại về dân tộc Saxon, những cuốn sách bị thất lạc của Tacitus.

Khi mọi người được thông báo rằng Thư viện chứa tất cả các sách, phản ứng đầu tiên là một niềm vui vô bờ bến. Mọi người tự mình cảm thấy rằng họ là chủ nhân sở hữu của một kho báu còn nguyên vẹn và bí ẩn. Không có một vấn đề cá nhân nào, không có vấn đề của thế gian, mà giải pháp mang tính hùng biện của nó vốn không tồn tại ở một chỗ nào đó trong một gian phòng lục giác nào đó. Cõi vũ trụ đã được thanh minh; cõi vũ trụ bất chợt trở nên đồng dạng với những kích thước vô hạn của niềm hi vọng. Vào thời điểm đó người ta nói nhiều về những cuốn Lời xác minh – là những cuốn sách của lời cáo lỗi và những điều tiên tri vốn sẽ luôn luôn xác minh cho những hành động của mọi con người trong cõi vũ trụ và giữ điều thần bí kì ảo dành cho tương lai của con người. Hàng ngàn những con người tham lam đã bỏ những gian phòng lục giác ngọt ngào của họ và hối hả đi xuống, đi lên cầu thang, được thúc đẩy bởi một sự khao khát hão huyền để tìm ra được Lời xác minh cho riêng họ. Những kẻ hành hương này cãi nhau trong những lối đi hẹp, thốt ra những lời tục tĩu ngu dốt, bóp cổ lẫn nhau trên những bậc thang thần thánh, ném những bản sách giả xuống dưới những ống thông hơi, chính họ bị kéo lê tới cái chết của mình bởi những con người đến từ những vùng đất xa xôi. Số khác thì phát điên… Những cuốn Lời xác minh thực là tồn tại (tôi đã từng thấy hai cuốn trong số chúng, bàn về những con người trong tương lai, những con người có lẽ không phải là sản phẩm tưởng tượng), nhưng những người đang truy tìm chúng không nhớ rằng cơ hội của việc tìm kiếm cuốn Lời xác minh dành cho riêng anh ta, hay là một phiên bản dối trá nào đó, được coi như là con số không

Vào cùng thời kì đó, cũng có hi vọng rằng những bí ẩn nền tảng của nhân loại – nguồn gốc của Thư viện và của thời gian – có thể sẽ được hé lộ. Trong toàn bộ những khả dĩ thì những bí ẩn quan trọng đó thật sự có thể được giải thích bằng ngôn từ; nếu ngôn ngữ của các vị triết gia không đủ, thì Thư viện muôn hình ắt hẳn sẽ tạo ra một thứ ngôn ngữ phi thường mà người ta cần đến, cùng với những từ ngữ và ngữ pháp của ngôn ngữ đó. Trong suốt bốn thế kỉ, con người đã lùng sục những gian phòng lục giác… Có những kẻ tìm kiếm chính thức, “những kẻ dò hỏi”. Tôi đã từng thấy họ làm nhiệm vụ của mình: họ đến một gian phòng nào đó, người mệt lả đi, họ nói về cái cầu thang mà gần như giết chết họ – vì thiếu đi một vài bậc thang – họ nói với người thủ thư về những gian phòng và những cái cầu thang, và đôi lúc, họ lấy cuốn sách gần nhất, lướt nhanh các trang sách, đi tìm những ngôn từ ô nhục và hèn hạ. Rõ ràng là không ai mong đợi sẽ khám phá ra bất kì điều gì.

Theo lẽ tự nhiên thì tinh thần lạc quan thái quá được tiếp theo sau bởi sự suy sụp tinh thần quá mức. Điều chắc chắn rằng một kệ sách nào đó tại một gian phòng lục giác nào đó có chứa những cuốn sách giá trị, tuy vậy những cuốn sách quí giá đó mãi mãi nằm ngoài tầm với, và gần như là không thể kham nổi. Một nhóm người báng bổ thần linh đề nghị rằng việc tìm kiếm bị gián đoạn  và rằng  những cuốn sách chuẩn mực đã được tạo ra, nhờ vào một dịp may bất ngờ không thể tưởng được. Những người có thẩm quyền bị buộc phải ban hành những điều lệnh nghiêm khắc. Nhóm người kia biến mất, nhưng vào thời thơ ấu của mình thì tôi đã từng thấy một ông già trong suốt quãng thời gian dài giấu trong nhà vệ sinh những chiếc đĩa tròn kim loại và một chiếc hũ xí ngầu đang bị cấm, bắt chước một cách thiếu sức sống cái vô trật tự của thần linh.

Những người khác, tiếp tục giải quyết việc tìm kiếm theo cách ngược lại, thì nghĩ rằng điều đầu tiên phải làm là loại trừ đi toàn bộ những cuốn sách vô giá trị. Họ sẽ xộc vào những gian phòng lục giác, đưa ra những chứng nhận mà không phải lúc nào cũng sai, lật nhanh các trang sách một cách ghê tởm và kết tội toàn bộ những dãy tường đầy sách. Cơn thịnh nộ vô hại đầy kham khổ đã làm cho hàng triệu quyển sách mất đi một cách vô nghĩa. Tên của họ ngày nay bị người ta ghét vô cùng, nhưng những ai đau buồn về “những báu vật” bị tiêu huỷ trong cơn hoảng loạn đó đã bỏ sót hai sự kiện vốn được thừa nhận rộng rãi: Một, rằng Thư viện rộng mênh mông đến nỗi bất kì sự cắt giảm nào thực hiện bởi bàn tay con người ắt hẳn đều ở mức cực nhỏ. Và điều hai, rằng mỗi cuốn sách là độc nhất và không thể thay thế, nhưng (bởi vì Thư viện là toàn vẹn) luôn có hàng trăm ngàn những bản sao chưa hoàn hảo – những cuốn khác biệt không hơn một kí tự, hay một dấu phẩy. Mặc cho ý kiến chung thế nào, tôi dám đoan chắc rằng hậu quả từ những tổn thất do người Thanh giáo gây nên đã được thổi phồng bởi nỗi khiếp sợ được tạo ra bởi cũng những kẻ cuồng tín kia. Họ bị thúc đẩy bởi sự sốt sắng hướng về thần thánh, để vươn tới được – một ngày nào đó, nhờ nỗ lực không ngừng – những cuốn sách của Gian phòng Đỏ thẫm – những cuốn nhỏ hơn những cuốn sách tự nhiên, những cuốn với quyền năng tối thượng, được minh hoạ tranh ảnh, và đầy ma lực.

Chúng tôi cũng có biết về một sự mê tín khác từ thời kì đó: niềm tin về cái có tên gọi là Người-của-Sách. Trên một kệ sách nào đó ở một gian phòng nào đó, người ta lí giải rằng phải tồn tại một cuốn sách làm công thức và là một cuốn tập hợp toàn bộ những cuốn khác, và một người thủ thư nào đó ắt hẳn đã xem xét cuốn sách đó; người thủ thư này có vai trò tương tự như chúa trời. Trong ngôn ngữ của khu vực này vẫn còn có những dấu vết của nhóm người tôn thờ người thủ thư của thời xa vắng. Nhiều người đã thực hiện việc tìm kiếm Ngài. Trong suốt hàng trăm năm qua, con người khai thông mọi con đường khả dĩ – và mọi con đường đều vô ích. Làm thế nào mà người ta sẽ định ra được vị trí của gian phòng bí mật được tôn thờ mà Ngài trú ẩn? Ai đó đưa ra ý tìm kiếm bằng cách hồi qui lại: Để xác định vị trí cuốn sách A, đầu tiên tham khảo cuốn B vốn sẽ cho biết cuốn A có thể được tìm thấy ở nơi đâu; để xác định vị trí cuốn B, đầu tiên tham khảo cuốn C, và cứ thế, cho đến vô tận… Trong những việc mạo hiểm như thế này tôi đã hoang phí và tiêu tốn những năm tháng đời mình. Tôi không thể nghĩ là không thể xảy ra chuyện có một cuốn sách toàn vẹn [3] như thế ở trên một cái kệ nào đó trong cõi vũ trụ. Tôi cầu nguyện đến những vị chúa trời bí ẩn mà một người nào đó – thậm chí chỉ một người đơn lẻ, trong hàng chục thế kỉ trước – đã nghiên cứu và đọc cuốn sách đó. Nếu danh dự và sự thông tuệ và niềm vui của việc đọc như thế không phải là của chính tôi, thì cứ để chúng dành cho những người khác. Cứ để thiên đàng tồn tại, dù cho có để chỗ của chính tôi ở địa ngục. Hãy để tôi bị tra tấn và bị đánh đập và bị tiêu huỷ đi, nhưng hãy để ở kia một khoảnh khắc, một sinh vật, mà tại đó Thư viện rộng lớn của các người có thể tìm thấy cách chứng tỏ tính đúng đắn của nó.

Những kẻ nghịch đạo thì cho rằng qui luật trong Thư viện không phải là “điều có ý nghĩa”, mà là “điều vô nghĩa” và rằng “tính duy lí” (thậm chí cả sự khiêm nhường, tính mạch lạc thuần tuý) gần như là một ngoại lệ huyền diệu. Tôi biết họ nói đến “một Thư viện sôi nổi, có những cuốn sách ngẫu nhiên thường xuyên đe doạ sẽ biến hoá thành những cuốn khác, để chúng khẳng định mọi thứ, phủ nhận mọi điều, làm mọi người lúng túng, kinh ngạc và làm mọi thứ rối rắm lên, như một vị thần điên cuồng và ảo mộng nào đó.” Những ngôn từ đó, không chỉ tuyên bố mà còn minh hoạ cho sự vô trật tự, chứng tỏ, như ai cũng thấy, sở thích tởm lợm và sự ngu dốt cùng cực của những kẻ nghịch đạo. Vì trong khi Thư viện chứa toàn bộ những cấu trúc ngôn từ, toàn bộ các biến thể đuợc hình thành từ hai mươi lăm biểu tượng dùng làm chính tả, nó bao hàm không phải chỉ một phần vô nghĩa tuyệt đối nằm đơn lẻ. Sẽ là vô ích khi nhận thấy rằng cuốn sách tinh tế nhất trong tất cả các gian phòng lục giác do chính tôi điều hành có nhan đề Combed Thunder, trong khi cuốn khác có tựa là The Plaster Cramp, và cuốn khác là Axaxaxas mlö. Những cụm từ đó, đầu tiên rõ ràng là không liền lạc nhau, không nghi ngờ gì nữa rằng chúng nhạy cảm với “cách đọc” theo lối mật mã hay theo lối trùng ngôn; cách đọc đó, cách biện minh cho trật tự và sự tồn tại của những ngôn từ kia, bản thân nó là ngôn từ và, theo giả thuyết, đã được chứa ở đâu đó trong Thư viện rồi. Không có sự kết hợp các kí tự nào mà người ta có thể tạo ra – dhcmrlchtdj, ví dụ vậy – những kí tự như thế thì Thư viện thần thánh không tiên tri được và những kí tự như thế trong một hay nhiều hơn những ngôn ngữ bí mật của nó không che giấu được một ý nghĩa tệ hại. Không một âm tiết nào người ta có thể phát ngôn ra mà không bị lấp đầy bởi tính mềm yếu và nỗi kinh hoàng, và âm tiết đó, bằng một trong những ngôn ngữ kia, không phải là cái tên gọi quyền năng của chúa trời. Phát ngôn chính là rơi vào sự trùng ngôn. Lá thư dông dài, vô dụng này đã tồn tại ở một trong ba mươi quyển của năm kệ sách tại một trong vô số những gian phòng lục giác – lời phản bác của nó cũng tồn tại kiểu y như vậy. (Một lượng n các ngôn ngữ khả dĩ vận dụng cùng một kho ngữ vựng; theo một số ngôn ngữ trong số chúng, thì biểu tượng “thư viện” sở hữu một định nghĩa đúng “một hệ thống các gian phòng lục giác có tính vĩnh hằng, tồn tại muôn nơi,” trong khi một thư viện – một vật – là một ổ bánh mì hay một kim tự tháp hay một thứ gì đó khác, và sáu từ ngữ vốn để định nghĩa thư viện bản thân chúng cũng có những định nghĩa khác. Bạn là người đọc tôi – bạn có chắc là bạn hiểu ngôn ngữ của tôi?)

Cách hình thành ngôn từ có phương pháp làm tôi xao lãng khỏi hoàn cảnh thực tại của nhân loại. Điều chắc chắn rằng mọi thứ đều được viết ra cả rồi đã phủ nhận chúng tôi hoặc khiến chúng tôi thành những bóng ma. Tôi biết những khu vực ở đó những thanh niên nằm phủ phục trước sách vở và giống như những kẻ hoang dã họ hôn lên những trang sách, mặc dù họ không thể đọc được một kí tự nào. Những nạn dịch, những xung đột dị giáo, những chuyến hành hương vốn không thể tránh khỏi việc bị suy đồi trở thành những vụ cướp bóc, đã làm tổn hại đến dân số. Tôi tin tôi đã đề cập đến những vụ tự tử, vốn càng lúc càng thường xuyên xảy ra hơn theo năm tháng. Tôi có lẽ bị cái tuổi già và nỗi sợ của chính mình làm mê muội đi, nhưng tôi ngờ rằng chủng người – những chủng loài duy nhất – đang đứng mấp mé sự tuyệt chủng, tuy vậy với Thư viện – được khai minh, đơn độc, bất tận, bất động tuyệt đối, được trang bị bởi những cuốn sách quí giá, vô nghĩa, liêm khiết, và bí ẩn – sẽ tồn tại tiếp được.

Tôi vừa mới viết ra từ “bất tận”. Tôi đã không bao gồm tính từ đó chỉ vì thói quen hùng biện; tôi nói rõ rằng thật không phải là vô lí khi nghĩ rằng thế giới là bất tận. Những ai tin nó có những giới hạn sẽ lí thuyết hoá rằng ở một nơi hay ở những nơi xa xôi nào đó những hành lang và những cầu thang và những gian phòng lục giác có thể kết thúc mà không ai có thể hiểu được – vốn là điều lố bịch. Và dù vậy những ai hình dung ra thế giới như là bất tận thì lại quên rằng số lượng sách khả dĩ không ở mức như vậy. Tôi sẽ đủ can đảm để đề nghị giải pháp này cho vấn đề cổ xưa: Thư viện là vô hạn nhưng có chu kì. Nếu một kẻ lữ hành bất diệt nên làm chuyến hành trình theo bất kì hướng nào, anh ta sẽ tìm thấy sau những thế kỉ dài đăng đẵng rằng những quyển sách như nhau được lặp lại theo cùng một sự vô trật tự – mà sẽ trở thành trật tự: đấng Trật tự. Nỗi cô đơn của tôi được an ủi nhờ vào niềm hi vọng tao nhã kia. [4]

Mar del Plata, 1941

Chú thích: (của dịch giả tiếng Anh và của tác giả)

[1] Bản thảo nguyên gốc không có những con số lẫn những chữ cái viết hoa; dấu câu chỉ giới hạn ở dấu phẩy và dấu chấm. Hai dấu này, với khoảng trắng, và với hai mươi hai chữ cái làm thành hai mươi lăm biểu tượng vừa đủ mà người tác giả vô danh của chúng ta đang đề cập tới [Ghi chú của dịch giả tiếng Anh]

[2] Vào thời xưa, có một người đàn ông cho mỗi ba gian phòng lục giác. Tự tử và bệnh phổi đã tàn phá tỉ lệ này. Một kí ức đau buồn không thể cất thành lời: Tôi thỉnh thoảng đi du hành suốt mấy đêm, dọc theo các hành lang và những cầu thang bóng lưỡng, mà không gặp phải một người thủ thư nào. [Nguyên chú của tác giả]

[3] Tôi lặp lại: Để một cuốn sách tồn tại, thì nó cần phải là một cuốn sách có thể có được. Chỉ mỗi sự bất khả bị loại trừ ra. Ví dụ, không một cuốn sách nào cũng là một cầu thang, mặc dù không nghi ngờ được những cuốn sách bàn luận và phủ nhận và chứng minh sự khả dĩ đó, và những cuốn khác có cấu trúc tương ứng với cấu trúc của một chiếc cầu thang.

[4] Letizia Alvarez xứ Toledo nhận thấy rằng Thư viện rộng lớn kia là thứ vô dụng; nói một cách khắt khe, toàn bộ những thứ cần thiết là một quyển đơn lẻ, với kích cỡ thông thường, được in theo cỡ chữ chín hoặc mười, quyển sách này sẽ bao gồm một lượng vô tận những trang giấy mỏng manh vô tận. (Vào đầu thế kỉ 19, Cavalieri nói rõ rằng mọi cơ thể cứng cáp là sự chồng chất của một lượng vô tận các mặt phẳng.) Việc dùng cuốn sổ tay bọc lụa sẽ không dễ dàng: mỗi trang giấy hiển hiện rõ ràng sẽ mở ra những trang tương tự khác; trang chính giữa vốn không thể hình dung ra sẽ không có chiều ngược lại.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn.
Có tham khảo thêm bản Anh ngữ của James E. Irby.
20111114.

Nguồn:

Borges, Jorge Luis. “The Library of Babel.” Jorge Luis Borges: Collected Fictions. Trans. Andrew Hurley. New York: Penguin, 1999.

https://chiecnon.wordpress.com/2011/11/14/jorge-luis-borges-thu-vien-babel/

Literature Văn học Mỹ Latinh

Jorge Luis Borges – Aleph

(K.H. dịch từ bản Anh ngữ “The Aleph” của Norman Thomas di Giovanni)

Hỡi Thượng đế! Ta có thể bị giới hạn trong một cái vỏ hạt, mà vẫn coi mình như vì Vua của Khoảng không vô tận…
HAMLET, II, 2

Nhưng họ sẽ dạy ta rằng Vĩnh hằng là trạng thái Tĩnh tại của Hiện thời, một Nunc-stans (theo cách gọi của các Học trường); điều mà họ cũng như bất kì ai khác đều không hiểu, không hơn việc họ có thể là một Hic-stans cho cái Vô tận kì vĩ của Trú xứ.
LEVIATHAN, IV, 46

Buổi sáng tháng Hai đổ lửa Beatriz Viterbo qua đời sau khi vật lộn với cơn bi thống không một khắc khoan nhượng cho sự tự thương hại hay sợ hãi, tôi để ý thấy những tấm bảng trên vỉa hè quanh quảng trường Constitution đang quảng bá vài nhãn hiệu thuốc lá mới khác của Mĩ. Sự thật khiến tôi đau lòng, tôi nhận ra vũ trụ thênh thang và không ngừng rộng mở đã trôi tuột khỏi cô ấy, và sự thay đổi mong manh này là khởi đầu của một chuỗi vô tận. Vũ trụ có thể thay đổi nhưng mình thì không, tôi thầm nghĩ trong thoáng hư ảo ưu sầu. Tôi cảm nhận được điều đó mỗi khi lòng tận tuỵ vô ích của mình gây muộn phiền cho cô; giờ cô đã chết, tôi có thể dâng trọn cả bản thân mình cho kí ức về cô, tuy vô vọng nhưng cũng không bẽ bàng. Tôi còn nhớ ngày thứ ba mươi của tháng Tư là sinh nhật cô; hôm ấy việc ghé thăm nhà cô trên phố Garay và gửi lời thăm hỏi đến cha cô và Carlos Argentino Daneri, anh họ của cô, xem ra là một hành động không thể trách cứ và có lẽ cũng là điều không thể tránh khỏi của phép lịch sự. Một lần nữa tôi lại có thể được chờ đợi trong ánh sáng chập choạng của căn phòng nhỏ ngổn ngang những bản vẽ, một lần nữa tôi lại có thể chú tâm vào những chi tiết trong nhiều tấm ảnh của cô: Beatriz Viterbo sơ lược và trong đủ sắc thái; Beatriz đeo một chiếc mặt nạ, trong lễ hội Carnival năm 1921; Beatriz trong Giáo đoàn đầu tiên của mình; Beatriz trong ngày cưới của cô với Roberto Alessandri; Beatriz sau khi li hôn không lâu, trong một bữa tiệc trưa tại Turf Club; Beatriz tại một khu nghỉ dưỡng ven biển ở Quilmes cùng với Delia San Marco Porcel và Carlos Argentino; Beatriz với chú chó Bắc-kinh được Villegas Haedo tặng; Beatriz, nhìn thẳng và chếch ba phần tư, đang mỉm cười, một tay đặt lên cằm… Tôi có thể không bị buộc phải biện bạch cho sự hiện diện của mình như ngày xưa bằng việc khiêm tốn gửi tặng những cuốn sách – những cuốn sách với những trang mà rốt cuộc tôi đã tìm cách loại bỏ từ sớm, cũng như không hề phát hiện ra rằng, mấy tháng sau đó, chúng vẫn cứ chỏng chơ chưa từng được lật mở.

Beatriz Viterbo qua đời năm 1929. Từ đó tới nay, tôi chưa để bất cứ ngày thứ ba mươi của tháng Tư nào trôi qua mà không viếng thăm nhà cô. Tôi thường có mặt đúng bảy giờ mười lăm phút và lưu lại đó khoảng hai mươi phút. Mỗi năm, tôi đến trễ hơn một chút và lưu lại lâu hơn một chút. Năm 1933, một trận mưa như trút đã trở thành đồng minh của tôi, họ buộc phải mời tôi ở lại dùng bữa tối. Rất tự nhiên, tôi đã tranh thủ được tiền lệ may mắn ấy. Năm 1934, tôi ghé thăm, vừa hơn tám giờ, với một trong những cái bánh Santa Fe rắc đường cỡ lớn, và như một lẽ tự nhiên tôi đã ở lại ăn tối. Cứ như vậy, qua những dịp kỉ niệm ảo não và gợi tình phù phiếm này, tôi dần lấy được lòng tin của Carlos Argentino Daneri.

Beatriz cao, yếu ớt, hơi khòm; dáng đi của cô (như một nghịch lí) mang vẻ gì đó duyên dáng vụng về, một dấu hiệu của nỗi thấp thỏm. Carlos Argentino sắc diện hồng hào, dư cân, tóc xám, nét mặt sáng. Anh giữ ghế thứ yếu trong một thư viện không thể đọc được nằm ngoài rìa phía nam Buenos Aires. Anh độc đoán nhưng cũng không mấy ấn tượng. Chỉ tới gần đây, anh mới tận dụng được những buổi tối và các kì nghỉ của mình để ở lại nhà. Giữa khoảng giao của hai thế hệ, chữ “S” tiếng Ý và phong vị Ý vẫn sống trong anh. Hoạt động thần kinh của anh vẫn diễn tiến, thâm cảm, xa xăm, và – tất cả trong tất cả – vô nghĩa. Anh chìm đắm trong những điều tương đồng vô vị và đắn đo tầm thường. Anh (cũng như Beatriz) sở hữu đôi bàn tay rộng, đẹp, đường nét tinh tế. Dường như anh từng bị ám ảnh bởi Paul Fort trong vài tháng – vì những bản ballad của ông ta thì ít mà phần nhiều là vì ý tưởng về một đỉnh cao danh vọng. “Ông ấy là Hoàng tử của các thi sĩ,” Daneri cứ lặp đi lặp lại một cách mê muội. “Anh có thể đắc ý coi thường – nhưng không, ngay cả mũi nhọn thâm độc nhất của anh cũng không thể làm xây xước được ông ta.”

Ngày thứ ba mươi của tháng Tư, năm 1941, cùng với cái bánh rắc đường, tôi tự ban cho mình thêm một chai cognac Argentina. Carlos Argentino cũng nhấm thử, rồi tấm tắc rằng nó “thú vị”, và sau vài ngụm, bắt đầu sa vào một bài tán tụng của con người hiện đại.

“Tôi nhìn thấy ông ấy,” anh nói với vẻ thích chí kì quái, “trong điện thờ nội tâm ông, như thể trong toà tháp lâu đài ông, được trang bị điện thoại, máy điện tín, máy thu âm, máy bộ đàm, màn ảnh, máy chiếu, sách thuật ngữ, lịch trình, sổ tay, bản tin…”

Anh phụ chú thêm rằng với một người được trang bị đầy đủ thì chuyến du hành thực tế trở nên vô ích. Thế kỉ hai mươi của chúng ta đã lộn ngược câu chuyện về Mohammed và ngọn núi; ngày nay, ngọn núi đã hoá thành Mohammed thời hiện đại.

Những ý tưởng của anh có vẻ ngô nghê đối với tôi, quá sáo rỗng và khoa trương, đó là những ý tưởng mà có lần tôi đã liên kết với văn chương và thắc mắc vì sao anh không viết chúng ra. Như đã đoán trước, anh đáp rằng mình đã hoàn thành việc đó – rằng những ý tưởng này, và một số khác ít ấn tượng hơn, đã tìm được chỗ đứng của chúng trong phần Proem, hoặc Augural Canto, hoặc, đơn giản hơn, trong phần Prologue Canto của bài thơ mà anh đã sáng tác suốt nhiều năm trời, đơn độc, không công khai, không phô phang ầm ĩ, chỉ được nuôi dưỡng bởi hai chất liệu song sinh phổ quát là công việc và sự cô đơn. Trước hết, anh nói, anh mở cửa xả cơn lũ tuổi thơ mình; sau đó, cầm công cụ lên, anh đãi lọc chúng. Bài thơ được đặt tên là Trái đất; nó gồm một bản mô tả chi tiết hành tinh này, và, đương nhiên, không hề thiếu những điều sai lạc sinh động cùng những khẩu ngữ trơ tráo.

Tôi yêu cầu anh đọc lên một đoạn, chỉ một đoạn ngắn thôi. Anh mở ngăn kéo bàn viết, lôi ra một xấp giấy dày – những tờ của một tập lớn chưa in có đầu đề là tên thư viện Juan Crisostomo Lafinur – và, bằng giọng ngân nga thoả mãn, anh ngâm:

Mắt tôi, như người Hi-lạp, đã biết đến những thành đô và danh tiếng con người,
Những công trình, những ngày sáng tan vào màu hổ phách;
Tôi không tráo chân lí cũng không giả danh xưng –
Chuyến ra khơi tôi trải… autour de ma chambre (quanh căn hầm mình).

“Ở bất kì góc độ nào, quả thực là một khổ thơ thú vị tuyệt vời,” anh nói, gần như phán. “Dòng đầu đã dành được lời khen của một vị giáo sư, nhà hàn lâm, và là một người Hellen – chưa kể đó còn là một học giả tiềm năng, một nhân tố đáng kể của công chúng. Dòng thứ hai tuôn trào từ Homer tới Hesiod (sự tôn vinh hào phóng, ngay từ khi bắt đầu, dành cho vị tổ phụ của thơ ca mô phạm), không quên làm trẻ hoá một tiến trình có gốc rễ quay về lại Thánh-kinh – liệt kê, tổng hoà, kết tụ. Dòng thứ ba – baroque? suy đồi? hay một ví dụ của sự sùng bái hình thức thuần tuý? – gồm hai nửa dòng thơ cân bằng. Dòng thứ tư, song ngữ chân thực, đoan chắc cho tôi sự trở lại dạt dào mọi cảm xúc tâm hồn với những phúc lạc của niềm vui tuyệt đối. Nói cho công bằng, tôi nên đề cập tới nhịp điệu tiểu thuyết ở dòng thứ hai và thứ tư, và về sự uyên bác đã cho phép tôi – không một dấu hiệu thông thái rởm nào! – đưa vào bốn dòng trên ba ngụ ý thâm sâu bao trùm ba mươi thế kỉ gói gọn trong văn chương – đầu tiên là Odyssey, thứ hai là Tác phẩm và Ngày, và thứ ba là khúc bagatelle bất diệt truyền lại cho chúng ta qua ngòi bút vui nhộn của một người vùng Savoy, Xavier de Maistre. Một lần nữa tôi nhận ra rằng nghệ thuật hiện đại đòi hỏi phải có chất nhựa thơm của tiếng cười, khúc scherzo. Hiển nhiên, Goldoni nắm giữ sân khấu!”

Anh còn đọc thêm cho tôi nhiều khổ thơ khác, mỗi khổ đều khiến anh ưng ý và khơi mở được những bài diễn giải dài dòng của mình. Chúng không có gì đáng chú ý. Thậm chí tôi còn không rõ chúng có tệ hơn khổ đầu hay không. Sự chuyên tâm, nhẫn nại, và ngẫu nhiên đã vận vào trong lối viết; tuy vậy, tôi nhận thấy công trình thực sự của Daneri không nằm trong thi ca mà là ở phát kiến của anh về những nguyên do vì sao thi ca xứng đáng được ca tụng. Đương nhiên, giai đoạn hai của sự nỗ lực đã làm thay đổi lối viết trong mắt anh, chứ không phải trong nhãn quan người khác. Cách diễn giải của Daneri là quá lố, nhưng cái tiếng ong ong chết người trong đầu óc qui củ của anh có xu hướng xoa dịu và giảm nhẹ sự quá lố ấy.*

(* Trong hồi ức của tôi cũng có vài dòng mỉa mai trong đó anh công kích những thi sĩ tồi một cách không thương tiếc. Sau khi buộc tội họ đã khoác lên những bài thơ một thứ giáp trụ của học thức, tiếng đập vô ích của những đôi cánh vô dụng, anh đúc kết bằng câu này:
Nhưng họ quên mất, than ôi, chân lí đầu tiên – CÁI ĐẸP!
Chỉ nỗi sợ phải sáng tạo ra một đạo quân thù địch không nguôi đầy quyền năng mới ngăn được anh (anh đã nói với tôi như vậy) khỏi nỗi sợ hãi khi công bố bài thơ này.)

Chỉ duy nhất một lần trong đời tôi có cơ hội đào sâu mười lăm ngàn câu thơ viết theo thể alexandrine trong Poly-Olbion, một thiên sử thi trắc địa trong đó Michael Drayton đã dày công biên khảo về hệ thực vật, hệ động vật, thuỷ văn học, sơn văn học, lịch sử quân sự và tu viện của Anh-quốc. Tuy vậy, tôi dám chắc rằng tác phẩm tuy hạn chế nhưng đồ sộ này vẫn đỡ nhàm chán hơn cái công trình tương tự của Carlos Argentino. Daneri có ý định đưa vào bài thơ toàn bộ diện mạo hành tinh này, và, vào năm 1941, anh đã cử người đến nhiều vùng đất ở bang Queensland, cách dòng chảy chính con sông Ob khoảng một dặm, đến một mỏ khai thác khí gas ở phía bắc Veracruz, đến những cửa tiệm nhộn nhịp nhất Buenos Aires khu giáo phận Conception, đến biệt thự của Mariana Cambaceres de Alvear trong địa hạt Belgrano khu vực thủ đô Argentina, và đến khu nhà tắm kiểu Thổ-nhĩ-kì cách công viên thuỷ sinh Brighton danh tiếng không xa. Anh đọc cho tôi những đoạn dài đứt hơi trong phần nói về nước Úc, rồi dừng tại một chỗ để tán dương một từ do chính anh đúc ra, cái màu “trắng xanh”, mà anh cảm thấy “thực sự gợi nhắc về bầu trời, một yếu tố tối quan trọng của quang cảnh đại lục Dưới Sâu”. Nhưng những vần thơ sáu âm tiết uể oải thiếu sinh khí này lại vắng luôn cả sự kích thích quen thuộc của cái gọi là Augural Canto. Tới gần nửa đêm, tôi bỏ ra về.

Qua hai Chủ nhật sau, Daneri gọi điện cho tôi – có lẽ đó là lần đầu tiên trong đời anh. Anh gợi ý rằng chúng tôi sẽ gặp nhau vào lúc bốn giờ để “uống cocktail ở phòng bar bên cạnh, nơi Zunino và Zungri cấp tiến – hai vị chủ khu nhà tôi đang ở, hẳn anh còn nhớ – đón tiếp công chúng. Đó là nơi anh sẽ thực sự muốn tìm hiểu.”

Dù muốn từ chối hơn nhận lời, tôi vẫn đồng ý. Ở đó khó mà tìm được một bàn. “Phòng bar”, hiện đại một cách tàn nhẫn, chỉ kém xấu xí hơn tôi hình dung một chút; tại mấy bàn gần đó, những vị khách phấn khích đang trò chuyện không kịp thở về các khoản mà Zunino và Zungri đã đổ vào đồ đạc tư trang mà không một giây đắn đo về giá cả. Carlos Argentino làm bộ ngạc nhiên về những thứ khác hoặc về cách bố trí ánh sáng (tôi cảm thấy đó là điều anh quen thuộc), rồi nói với tôi bằng giọng pha chút mỉa mai, “Bất đắc dĩ, anh sẽ phải thừa nhận một thực tế rằng những cơ ngơi giúp họ giữ vững được vị thế của mình hãy còn xa vời lắm trong ánh mắt công chúng.”

Rồi anh đọc lại cho tôi bốn hay năm đoạn khác trong bài thơ. Anh đã chỉnh sửa chúng theo nguyên tắc phô bày đến từng chữ yêu dấu của mình: từ “xanh” ban đầu đã khá ổn, nhưng giờ anh lại đắm chìm vào “thiên thanh”, “da trời”, và “xanh thẫm”. Chữ “màu sữa” đối với anh quá đơn giản; theo chiều hướng lột tả say sưa một lán trại nơi lông cừu được gột sạch, anh chọn những từ như “trắng sữa”, “đục sữa”, và thậm chí tạo ra luôn một từ mới – “ngà sữa”. Sau đó, anh thẳng thừng lên án chứng điên hiện đại của chúng ta là đặt lời đề tựa cho những cuốn sách, “một mưu đồ đã được Hoàng tử xứ Wits dựng lên để tỏ ý khinh miệt trong lời mở đầu thanh tao choQuixote”. Tuy nhiên, anh thừa nhận rằng với đoạn đầu trong tác phẩm mới của mình thì một lời đề tựa gây được sự chú ý có thể sẽ minh chứng cho giá trị của tác phẩm – “sự tấn phong được đóng triện bởi một bàn tay văn chương danh giá”. Anh nói tiếp rằng mình đang cân nhắc việc công bố những đoạn canto đầu tiên của bài thơ. Sau đó tôi bắt đầu hiểu ra mục đích của cú điện thoại không mong đợi kia; Daneri sẽ yêu cầu tôi đóng góp một lời đề tựa cho cái mớ hỗn tạp rởm đời của anh. Nỗi sợ của tôi trở nên vô căn cứ; Carlos Argentino vừa cảm phục vừa ganh tị cho rằng chắc chắn mình không quá sai lầm khi dùng chữ “thuần nhất” để đánh giá uy danh lẫy lừng của Alvaro Melian Lafinur, con người của những con chữ, anh nhấn mạnh, người sẽ rất vinh hạnh tốc kí vài từ mở màn đầy quyến rủ cho bài thơ. Để tránh bị ô danh và trục trặc, anh khuyến cáo tôi nên làm người phát ngôn cho hai trong số những phẩm tính không thể bàn cãi của tập thơ – tính hoàn hảo và tính khoa học – “trong khu vườn rộng lớn của những ẩn dụ, của những phép tu từ diễn ngôn, của nhã tính, không có chỗ cho bất kì một chi tiết nào không nghiêm cẩn đề cao sự thật dù là nhỏ nhất”. Anh nói thêm rằng Beatriz cũng đã từng rất thân với Alvaro.

Tôi đồng ý – đồng ý một cách hào phóng – và trình bày rằng vì uy tín tôi sẽ không bắt chuyện với Alvaro suốt ngày sau đó, thứ Hai, và sẽ chờ đến thứ Năm, khi tất cả mọi người cùng ăn tối thân mật theo thông lệ của những cuộc gặp câu lạc bộ Các nhà văn. (Không có bữa ăn tối nào được tổ chức, nhưng đây là một sự sắp đặt để những cuộc gặp chắc chắn diễn ra vào các ngày thứ Năm, thời điểm Carlos Argentino Daneri có thể kiểm tra lại những bài viết hàng ngày, và củng cố thêm chút thực tế vào lời hứa của tôi.) Tôi nói, nửa tiên liệu nửa thận trọng, rằng trước khi bắt tay viết lời đề tựa tôi cần phải phác thảo sơ kế hoạch cho việc này. Sau đó chúng tôi chào tạm biệt nhau.

Về phần Bernardo de Irigoyen, tôi đã xem lại một cách công bằng nhất có thể các phương án cho mình. Đó là: a) trò chuyện với Alvaro, nói với anh rằng người anh họ của Beatriz (lời giãi bày êm dịu cho phép tôi nhắc tên cô) vừa pha chế ra một bài thơ dường như phác thảo được tới vô tận những tạp âm và hỗn độn khả hữu; b) không nói bất kì một lời nào với Alvaro. Tôi đã đoán được rằng sự lười nhác của mình sẽ chọn phương án b.

Nhưng điều đầu tiên trong buổi sáng thứ Sáu là tôi bắt đầu lo lắng về cái điện thoại. Điều này làm tổn thương tôi vì cái thiết bị đó từng phát ra giọng nói bất khả vãn hồi của Beatriz, giờ đây đã chìm sâu, như đã biến thành món đồ chứa đơn thuần cho sự vô nghĩa và có lẽ cả sự phản kháng giận dữ của một Carlos Argentino Daneri đầy giả trá. May mắn thay, không có chuyện gì xảy ra – ngoại trừ cảm giác khó chịu âm ỉ do con người ấy gây nên, kẻ đã yêu cầu tôi thực hiện giúp hắn một sứ mệnh tao nhã rồi sau đó bỏ mặc tôi.

Dần dà, cái điện thoại đã trở nên bớt đáng sợ, nhưng vào một ngày trước khi kết thúc tháng Mười, nó đã reng, Carlos Argentino đang ở đầu dây bên kia. Anh quá bối rối, đến mức ban đầu tôi đã không nhận ra đó là giọng anh. Đau đớn và giận dữ, anh lắp ba lắp bắp rằng hai gã bất kham Zunino và Zungri, với lí do muốn mở rộng “phòng bar” đã trở nên chật chội của họ, sẽ lấy lại ngôi nhà mà anh đang sống, và dỡ bỏ nó.

“Nhà của tôi, ngôi nhà của tổ tiên tôi, ngôi nhà lưu cữu già nua trên phố Garay của tôi!” anh cứ lặp đi lặp lại, tựa hồ quên mất nỗi thống khổ đang hoà trong tiếng nhạc từng lời anh thốt ra.

Không quá khó để cùng anh san sẻ niềm đau. Sau tuổi ngũ tuần, mọi sự đổi thay trở thành một thứ biểu tượng đáng căm ghét về sự thoảng qua của thời gian. Hơn nữa, sự việc lại liên quan đến ngôi nhà mà với tôi nó luôn đại diện cho Beatriz. Tôi cố gắng bày tỏ nỗi luyến tiếc tế vi này, nhưng dường như Daneri không nghe thấy. Anh nói rằng nếu Zunino và Zungri cứ kiên quyết xúc tiến hành động gây thương tổn này, thì tiến sĩ Zunni, luật sư của anh, sẽ ipso facto (đương nhiên) gửi đơn kiện và buộc họ phải đền bù mười lăm ngàn dollar phí tổn bồi thường thiệt hại.

Tên tuổi Zunni gây ấn tượng cho tôi; dù không khôn khéo như Caseros và Tacuari, nhưng bản tính cương nghị cũng đã giúp ông nổi danh như một người già giặn đáng tin cậy. Tôi thắc mắc không biết anh đã thuê Zunni chưa. Daneri nói sẽ gọi điện cho ông ấy vào đầu buổi trưa. Anh do dự, sau đó bằng giọng đều đều vô cảm, chúng tôi giãi bày tâm sự, anh nói rằng để hoàn tất bài thơ, anh không thể rời khỏi ngôi nhà được vì dưới tầng hầm có một Aleph. Anh giải thích rằng Aleph là một trong những điểm chứa đựng mọi điểm khác trong không gian.

“Nó nằm trong tầng hầm bên dưới phòng ăn tối,” anh nói tiếp, quá lo lắng tới mức quên cả thói khoa trương. “Nó là của tôi – của tôi. Tôi khám phá ra nó từ khi còn là một cậu bé, chỉ một mình tôi. Cầu thang dẫn xuống tầng hầm rất dốc nên cô cậu tôi cấm tôi trèo xuống, nhưng tôi từng nghe ai đó nói rằng dưới đó là cả một thế giới. Sau này tôi mới biết thứ họ muốn nói là một trái địa cầu cổ lỗ, nhưng lúc đó tôi lại cho rằng họ đang ám chỉ chính cái thế giới này. Ngày nọ nhân lúc không có ai ở nhà, tôi bí mật leo xuống, nhưng bị trượt té. Khi mở mắt, tôi nhìn thấy Aleph.”

“Aleph?” Tôi lặp lại.

“Đúng, nơi duy nhất trên trái đất có thể nhìn thấy được mọi nơi từ mọi góc độ, mỗi góc độ đều rõ ràng, không có bất kì một sự mơ hồ hay trộn lẫn nào. Tôi giữ kín chuyện này và quay lại đó bất cứ khi nào có cơ hội. Vì hãy còn là một đứa bé nên tôi không biết rằng đặc quyền này được ban tặng để sau này mình có thể làm thơ. Zunino và Zungri sẽ không thể tước đoạt những gì của tôi – không, và ngàn lần không! Với đầy đủ cơ sở pháp lí trong tay, tiến sĩ Zunni sẽ chứng minh rằng Aleph của tôi là không thể sang nhượng.”

Tôi thử dùng lí lẽ với anh. “Nhưng chẳng phải tầng hầm rất tối sao?” Tôi nói.

“Chân lí không thể nào thẩm nhập vào một cái đầu đóng chặt. Nếu mọi nơi trong vũ trụ đều nằm trong Aleph, thì mọi vì sao, mọi ánh đèn, mọi nguồn sáng cũng đều nằm trong đó.”

“Anh hãy đợi ở đó. Để tôi chạy tới xem nó ra sao.”

Tôi gác máy trước khi anh kịp ngăn cản. Tri kiến đầy đủ về một chân lí thỉnh thoảng cho phép ta nhìn thấy sáng tỏ cùng một lúc mọi thứ trước đây từng bị nghi ngờ. Điều này khiến tôi kinh ngạc không chút hồ nghi vì tới thời điểm đó tôi mới nhận ra Carlos Argentino là một kẻ điên, cũng như tất cả những người trong dòng họ Viterbo, cho đến khi người ta chợt nhận ra sự thật. Beatriz (như tôi thường tự nhủ) là một phụ nữ, một đứa trẻ, có năng lực thấu thị thần bí, nhưng mơ màng, xao lãng, khinh bạc, và một chút tàn nghiệt bên trong, có lẽ chúng khơi gợi một lời giải đoán mang tính bệnh lí. Chứng điên của Carlos Argentino khoả lấp tôi trong niềm hân hoan hằn học. Tận cùng sâu thẳm, chúng tôi ghê tởm nhau.

Trên phố Garay, cô giúp việc bảo tôi vui lòng đợi. Chủ cô, như thường lệ, đang ở dưới tầng hầm rửa ảnh. Trên cỗ dương cầm bị bỏ phế, cạnh cái lọ hoa lớn rỗng không, là tấm ảnh lớn Beatriz đang mỉm cười (phi thời hơn là thuộc về quá vãng), với màu sắc cầu kì. Không ai nhìn thấy chúng tôi; trong nỗi bồi hồi xúc động, tôi tiến lại gần bức chân dung và nói, “Beatriz, Beatriz Elena, Beatriz Elena Viterbo, Beatriz yêu dấu, Beatriz đã vĩnh viễn ra đi, anh đây, Borges đây.”

Mấy giây sau, Carlos bước vào. Anh nói bằng giọng lãnh đạm. Tôi biết trong đầu anh hiện giờ không có gì khác ngoài chuyện mất Aleph.

“Một li cognac-tinh-thần trước đã,” anh nói, “sau đó anh sẽ trèo xuống tầng hầm. Tôi cảnh báo trước, rằng anh sẽ phải nằm ngửa, người duỗi thẳng. Bóng tối hoàn toàn, bất động hoàn toàn, và chắc chắn phải điều tiết mắt. Từ trên sàn, đôi mắt anh phải tập trung nhìn vào bậc thang thứ mười chín. Khi rời đi, tôi sẽ hạ cửa sập xuống và rồi sau đó chỉ còn lại mình anh. Anh không được hoảng sợ các loài gặm nhấm – tôi biết anh sẽ làm được. Trong vòng một tới hai phút, anh sẽ nhìn thấy Aleph – thế giới vi mô của các nhà luyện đan và các đạo sĩ Kabbalah, người bạn lẫy lừng chân chính của chúng ta, cái multum in parvo (vô vàn trong nhỏ xíu)!

Khi vào đến phòng ăn tối, anh nói thêm, “Nếu anh không thấy nó, thì tất nhiên là do anh thiếu năng lực cảm thụ những gì tôi từng nhìn thấy. Bây giờ anh xuống đi. Trong thời khắc ngắn ngủi anh có thể lảm nhảm với mọi ảnh tượng về Beatriz.”

Mệt mỏi với những lời loạn óc của anh ta, tôi nhanh chóng rảo bước. Tầng hầm, tất nhiên rộng hơn các bậc thang đi xuống, tựa như một hố sâu. Mắt tôi lần dò trong bóng tối, tìm kiếm vô vọng trái địa cầu mà Carlos Argentino đã nói. Vài thứ gì như chai lọ rỗng và mấy cái bao vải bạt vứt bừa bộn trong một góc. Carlos cầm một cái bao lên, gấp làm đôi, giữ cố định một điểm, anh căng nó ra.

“Để gối đầu,” anh nói, “hơi xác xơ một chút, nhưng chỉ cần độn cao thêm nửa inch nữa thì anh sẽ chẳng nhìn thấy gì đâu, và kia kìa, đó là chỗ anh sẽ nằm, trong cảm giác ngượng ngùng và lố bịch. Được rồi, bây giờ hãy duỗi thẳng toàn thân ra và đếm từ dưới lên tới bậc thang thứ mười chín.”

Tôi thực hiện đầy đủ các yêu cầu vô lí của anh, sau cùng anh rời đi. Cánh cửa sập được đóng lại một cách cẩn thận. Bóng tối bao trùm hầu như tuyệt đối, mặc dù sau đó tôi phát hiện thấy có một khe nứt nhỏ. Lần đầu tiên tôi ý thức được mối nguy hiểm đang xảy đến: tôi để mình bị nhốt trong một tầng hầm bởi một gã mất trí, sau khi đã nốc cạn một ngụm thuốc độc! Tôi nhận ra bên dưới vẻ tự đắc ra mặt của Carlos là nỗi kinh sợ sâu thẳm chứ không như những gì mình vẫn thường thấy. Để giữ bí mật về chứng điên, để tránh bị người ta phát hiện ra mình điên, Carlos phải thủ tiêu tôi. Tôi cảm nhận được một cú sốc hoảng loạn, và cố ghìm chặt nó bằng tư thế khó chịu này chứ không để bị tê liệt. Tôi nhắm mắt lại – rồi mở mắt. Và tôi nhìn thấy Aleph.

Tôi đã kể đến phần cốt tuỷ không thể diễn tả được của câu truyện. Và đây cũng là lúc bắt đầu nỗi tuyệt vọng của một kẻ viết lách. Mọi ngôn ngữ là một tập hợp các biểu tượng được sử dụng bởi những người có cùng quá khứ. Tuy nhiên, nếu vậy thì liệu tôi có thể chuyển dịch thành lời một Aleph vô hạn mà não trạng lúng túng này khó lòng dung chứa hay không? Những nhà thần bí, đối mặt với cùng một vấn đề, lui về trong các biểu tượng: để biểu trưng cho thượng đế, người Ba-tư nhắc đến một con chim bằng cách nào đó cũng là mọi loài chim; Alanus de Insulis, nhắc đến một khối cầu có tâm nằm ở mọi nơi và chu vi không giới hạn ở bất cứ nơi nào; Ezekiel, nhắc đến một thiên thần tứ diện có thể di chuyển đồng thời ở cả hướng đông và tây, bắc và nam. (Thật không vô nghĩa khi hình dung lại những mối tương quan kì lạ này; chúng mang một số nét có liên hệ với Aleph.) Có lẽ các thần linh đã ban cho tôi một ẩn dụ tương đồng, nhưng sau đó cơ duyên này đã bị uế tạp bởi văn chương, bởi hư cấu. Thật ra, điều tôi muốn thực hiện là bất khả, với bất kì một danh sách của một chuỗi vô tận nào bị kết tội phải trở nên cực nhỏ. Trong khoảnh khắc khổng lồ đơn độc ấy tôi nhìn thấy hàng triệu tấn tuồng đủ cả say mê và khủng khiếp; không gì trong chúng khiến tôi kinh ngạc bằng một thực tế rằng tất cả đều cùng trú ngụ tại một điểm trong không gian mà không hề chồng chập hay hoà lẫn vào nhau. Những gì mắt tôi nhìn thấy là đồng thời, nhưng những gì tôi đang viết ra lúc này sẽ theo một trình tự, vì ngôn ngữ thì liên tiến. Dù sao đi nữa tôi cũng sẽ cố góp nhặt lại tất cả những gì có thể.

Phía sau bậc thang, hướng về bên phải, tôi nhìn thấy một khối cầu óng ánh hầu như sáng loà khôn tả. Ban đầu tôi nghĩ rằng nó đang xoay; sau đó tôi nhận ra chuyển động này thực chất là một ảo ảnh được tạo ra do sự xoay tròn của thế giới mà nó bao trùm. Đường kính của Aleph có lẽ nhỏ hơn một inch, nhưng tất cả không gian đều nằm trong đó, thực tồn và không bị cắt xén. Từng mặt (hãy tạm gọi là mặt phản chiếu) là những mặt vô hạn khi tôi có thể nhìn nó tách bạch từ mọi góc độ trong vũ trụ. Tôi nhìn thấy biển đang dâng trào; tôi nhìn thấy trời rạng và ánh hoàng hôn; tôi nhìn thấy vô số châu Mĩ; tôi nhìn thấy một mạng nhện lấp lánh ánh bạc ở trung tâm một kim tự tháp đen; tôi nhìn thấy một mê cung đã vỡ tan từng mảnh (đó chính là Luân-đôn); tôi nhìn thấy, rất sát, những cặp mắt trường cửu đang theo dõi chính chúng qua tôi như qua một tấm gương; tôi nhìn thấy mọi tấm gương trên trái đất và không một tấm nào phản chiếu tôi; tôi nhìn thấy ở sân sau phố Soler cùng một loại gạch lát mà ba mươi năm trước tôi từng nhìn thấy trước cửa một ngôi nhà ở Fray Bentos; tôi nhìn thấy cơ man nào là nho, tuyết, thuốc lá, vỉa kim loại, hơi nước; tôi nhìn thấy những sa mạc vồng lên trên xích đạo và từng hạt cát của chúng; tôi nhìn thấy một người phụ nữ ở Inverness, người tôi sẽ mãi mãi không quên; tôi nhìn thấy mái tóc rối, dáng cao cao của nàng, tôi nhìn thấy khối ung thư trong bầu ngực nàng; tôi nhìn thấy một vũng bùn đã cạn khô trên vỉa hè, nơi trước đây hẳn đã từng mọc lên một thân cây; tôi nhìn thấy một ngôi nhà nghỉ mát ở Adrogue và bản sao Anh ngữ đầu tiên cuốn Pliny – của Philemon Holland – và cùng một lúc nhìn thấy từng chữ trên từng trang sách (như một cậu bé, tôi thường lấy làm lạ rằng vì sao bầy chữ trong một cuốn sách đóng lại không bò ra và biến mất trong đêm); tôi nhìn thấy ánh tà dương ở Queretaro dường như để phản chiếu sắc màu một đoá hồng ở Bengal; tôi nhìn thấy phòng ngủ quạnh vắng của mình; tôi nhìn thấy một trái địa cầu đặt giữa hai tấm gương đang nhân nó lên vô tận trong một nhà kho ở Alkmaar; tôi nhìn thấy những con ngựa bờm bay dập dờn trên bãi biển Caspi trong buổi sáng tinh mơ; tôi nhìn thấy kết cấu xương tinh xảo của một bàn tay; tôi nhìn thấy những người sống sót trong một cuộc chiến đang gửi đi những tấm bưu ảnh; tôi nhìn thấy một cỗ bài Tây-ban-nha bên trong một cái tủ trưng bày ở Mirzapur; tôi nhìn thấy những cái bóng dương xỉ nghiêng nghiêng trên sàn một ngôi nhà kính; tôi nhìn thấy những con hổ, những piston, bò bison, những đợt thuỷ triều, và những đạo quân; tôi nhìn thấy mọi loài kiến trên hành tinh; tôi nhìn thấy một cái kế thiên của người Ba-tư; tôi nhìn thấy trong ngăn kéo một cái bàn viết là những lá thư mà Beatriz đã viết (và nét chữ viết tay khiến tôi rùng mình) cho Carlos Argentino, dâm tục, tỉ mẩn, và không thể tin nổi; tôi nhìn thấy một đài tưởng niệm mà mình từng tôn thờ trong nghĩa trang Chacarita; tôi nhìn thấy đám bụi và xương mục ruỗng từng một thời là Beatriz Viterbo; tôi nhìn thấy vòng tuần hoàn dòng máu thẫm của chính mình; tôi nhìn thấy sự kết hợp của tình yêu và sự vơi dịu của cái chết; tôi nhìn thấy Aleph từ mọi nơi và mọi góc độ, và trong Aleph tôi nhìn thấy trái đất và trong trái đất là Aleph và trong Aleph là trái đất; tôi nhìn thấy khuôn mặt và ruột gan của chính mình; tôi nhìn thấy khuôn mặt bạn; và tôi thấy choáng váng, nước mắt trào rơi, vì mắt tôi đã nhìn thấy bí mật ấy cùng một đối tượng được phỏng đoán mang cái tên rất thông tục với toàn thể loài người nhưng chưa một ai từng nhìn thấy được – vũ trụ không thể nghĩ bàn.

Tôi kinh ngạc khôn xiết, xúc động vô biên.

“Cảm giác khá quay cuồng, đúng không, sau khi thám thính quá lâu nơi mình chẳng hề có phận sự?” một giọng nói vui tính đáng ghét cất lên. “Dù có vắt cả bộ óc ra đi nữa, trong vòng một trăm năm tới anh cũng không thể báo đáp được cho tôi sự khai thị này. Địa ngục của một đài quan sát, phải không, Borges?”

Chân của Carlos Argentino đã đặt lên bậc thang cao nhất. Trong ánh sáng bất chợt lờ mờ, tôi xoay xở đứng lên và thảng thốt, “Địa ngục của một… – đúng, địa ngục của một…”

Vấn đề phi thực của giọng nói khiến tôi ngạc nhiên. Trong tâm trạng lo lắng, Carlos Argentino nói tiếp.

“Anh nhìn được hết mọi thứ không – thực sự rõ ràng, có màu sắc chứ?”

Ngay thời điểm đó tôi chợt tìm ra được cách trả đũa. Thân mật, thẳng thắn lấy làm tiếc cho anh, cuồng trí, lãng tránh, tôi cảm ơn Carlos Argentino vì sự hiếu khách của tầng hầm nhà anh và hối thúc anh phải phá dỡ toàn bộ để tránh xa cái đô thị độc hại không tha cho một ai này – tin tôi đi, tôi nói với anh, không tha cho bất kì ai! Lặng lẽ và cương quyết, tôi từ chối bàn về Aleph. Lúc từ biệt, tôi còn ôm chặt anh và lặp đi lặp lại rằng quê nhà, bầu khí trong lành và tĩnh lặng là những phương thuốc thực sự tuyệt vời.

Rời khỏi con phố, đi xuống cầu thang bên trong nhà ga Constitution, trên tàu điện ngầm, mỗi khuôn mặt dường như đều thân thuộc đối với tôi. Tôi lo sợ sẽ không điều gì khác trên đời có thể khiến tôi kinh ngạc như vậy một lần nữa; tôi e rằng mình sẽ không bao giờ thoát khỏi những điều đã nhìn thấy một lần nữa. May mắn thay, sau mấy đêm liền mất ngủ, một lần nữa tôi lại chìm trong sự lãng quên.

Tái bút đầu tiên của tháng Ba, 1943 – Khoảng nửa năm sau vụ phá dỡ một ngôi nhà trên phố Garay, nhà xuất bản Procrustes & Co. đã không trì hoãn việc công bố bài thơ dài đáng kể của Daneri, bằng cách trích đăng một phần “những đoạn nói về Argentina” trong bài thơ. Thật thừa thãi khi cứ lặp đi lặp lại những sự kiện đã xảy ra. Carlos Argentino Daneri đoạt giải nhì Văn chương Quốc gia.* (* “Tôi đã nhận được lời chúc mừng đau khổ của anh,” anh ta viết cho tôi. “Anh phẫn nộ, anh bạn đáng thương của tôi, và đố kị, nhưng anh phải thú nhận – thậm chí điều đó có làm anh nấc nghẹn đi nữa! – rằng lần này tôi đã trang hoàng cho mũ miện của mình những chiếc lông chim đỏ rực; cho khăn xếp trùm đầu của mình những viên hồng ngọc vương giả nhất) Giải nhất được trao cho tiến sĩ Aita; giải ba thuộc về tiến sĩ Mario Bonfanti. Thật không thể tin nổi, cuốn Những lá bài của tay bạc bịp của tôi lại không được bất kì một phiếu bình chọn nào. Một lần nữa sự tẻ nhạt và tị hiềm lại lên ngôi! Giờ đây tôi thỉnh thoảng mới có dịp gặp lại Daneri; có tin phong thanh rằng tuyển tập trích đoạn thứ hai của bài thơ sắp được xuất bản. Ngòi bút tài tình của anh (đã không còn bị quấy phá bởi Aleph) hiện đang lên nhiệm vụ viết một thiên sử thi về vị anh hùng dân tộc của chúng tôi, tướng San Martin.

Tôi muốn bổ sung thêm hai điều cuối cùng đã quan sát thấy: một, về bản chất của Aleph; điều còn lại, về tên gọi của nó. Như đã biết, Aleph là mẫu tự đầu tiên trong bảng chữ cái Hebrew. Việc sử dụng nó để gọi tên khối cầu kì lạ trong câu truyện của tôi có thể không do trùng hợp ngẫu nhiên. Trong giáo phái Kabbalah, chữ cái đó đại diện cho En Soph (Vô tận), cho thượng đế thuần tuý và vô hạn; nó cũng được cho là có hình dạng của một người đang đồng thời chỉ tay lên trời và xuống đất, để nói rằng thế giới dưới thấp là ảnh tượng và là tấm gương soi của thế giới cao hơn; đối vớiMengenlehre của Cantor, nó là biểu tượng của những con số siêu hạn, mà bất kì phần nào cũng vĩ đại như toàn thể. Tôi thật lòng muốn biết vì sao Carlos Argentino lại chọn chữ đó hoặc anh đã đọc được nó từ đâu – từ một điểm khác nơi mọi điểm tụ về – từ một trong vô số văn bản mà Aleph trong tầng hầm ấy đã phơi mở cho anh. Kì thực, tôi tin rằng Aleph ở phố Garay là một Aleph giả.

Đây là những lí do của tôi. Khoảng năm 1867, tướng Burton chỉ huy một chốt quân sự của Hội đồng Anh đồn trú tại Brazil. Vào tháng Bảy, 1942, Pedro Henríquez Ureña tình cờ bắt gặp một văn bản viết tay của Burton trong một thư viện ở Santos, về việc giao dịch một tấm gương mà thế giới phương Đông cho là của Iskander Zu al-Karnayn, hoặc Alexander Bicornis xứ Macedonia. Trong những tinh thể của nó, cả thế giới được phản chiếu. Burton cũng đề cập đến những vật thể tương tự khác – cái chén bảy phần của Kai Kosru; tấm gương mà Tariq ibn-Ziyad tìm thấy trong một toà tháp (Ngàn lẻ một đêm, 272); tấm gương mà Lucian xứ Samosata dùng để nghiên cứu mặt trăng (Chân sử, I, 26); ngọn giáo tựa gương được cho là của thần Jupiter trong cuốn sách đầu taySatyricon của Capella; tấm gương vạn năng của Merlin, vật “tròn và lõm và… tựa như một thế giới của hồi chuông báo tử” (Queene thần tiên, III, 2, 19) – kèm theo những lời lẽ kì dị này: “Nhưng những vật nói trên (bên cạnh các khuyết điểm không tồn tại) đều chỉ là những công cụ quang học. Các tín đồ tụ về đền thờ của Amr ở Cairo đều quen thuộc với một sự thật rằng cả hoàn vũ đang trú ngụ trong lòng một trong những cột trụ bao quanh điện thờ trung tâm… Tất nhiên không ai có thể nhìn thấy nó, nhưng những người áp tai mình lên mặt đất đều nói rằng sau một lúc họ cảm thấu được tiếng ngâm nga hoạt náo của nó… Đền thờ có niên đại từ thế kỉ mười bảy; những cột trụ trước đây thuộc về những đền thờ của các tông giáo khác xuất hiện trước đạo Hồi, kể từ đó, như ibn-Khaldun đã viết: ‘Trong những xứ sở được người du mục gây dựng, thì sự hỗ trợ của ngoại bang là yếu tố cần thiết trong mọi công việc liên quan đến các công trình xây dựng.’ ”

Liệu Aleph này có tồn tại trong lòng một tảng đá hay không? Có phải tôi đã nhìn thấy nó ở đó trong tầng hầm khi tôi nhìn thấy được mọi thứ, mà giờ đây tôi đã lãng quên rồi không? Đầu óc chúng ta rỗng xốp để mặc cho sự quên lãng thấm qua; chính tôi vẫn còn đang tiều tuỵ và lạc lõng, trong sự mỏi mòn của năm tháng, trong khuôn mặt Beatriz hư hao.


(Dịch xong ngày 09 tháng 01 năm 2013)

Nguồn:
Borges, Jorge Luis. “The Aleph.” The art of the tale: An International Anthology of Short Stories, Penguin Books, 1987.
(hoặc: http://www.phinnweb.org/links/literature/borges/aleph.html)

https://chiecnon.wordpress.com/2013/01/09/jorge-luis-borges-aleph/

Literature Văn học Mỹ Latinh

Jorge Luis Borges – Bức tường thành và sách

Jorge Luis Borges

Bức tường thành và sách

Duy Doan dịch từ bản tiếng Anh của Eliot Weinberger

Một vài ngày trước, tôi đọc được rằng người đàn ông ra lệnh cho việc xây dựng Bức tường thành Trung-hoa dài gần như bất tận chính là vị Hoàng-đế đầu tiên, Thuỷ Hoàng-đế, cũng ông này ra chiếu chỉ đốt toàn bộ sách vở được viết trước thời của ông ta. Hai nhiệm vụ to lớn này – năm sáu trăm lí (league) [1] tường đá để ngăn chặn bọn rợ, và việc huỷ bỏ lịch sử, tức là quá khứ, một cách triệt để – là công việc của cùng một người, và, ở một ý nghĩa nào đó, thì đó là đặc tính của ông ta, và không thể cắt nghĩa được là chuyện đó đã thoả mãn tôi cùng lúc với việc làm tôi phiền muộn. Để tìm ra nguyên do cho cảm xúc đó chính là mục đích của bài viết này.

Về mặt lịch sử, chẳng có gì bí ẩn về hai phương thức này. Vào cùng thời những cuộc chiến tranh của Hannibal, Thuỷ Hoàng-đế, vị vua nhà Tần, đã chinh phục cả sáu vương quốc và đặt dấu chấm hết cho thể chế phong kiến; ông ta xây bức tường thành bởi vì tường chính là sự phòng vệ; ông ta đốt sách bởi vì các đối thủ của ông ta có thể viện dẫn sách vở để ca ngợi các tiên đế. Đốt sách và dựng thành là những công việc thường thấy của các ông hoàng; chuyện vô song duy nhất về Thuỷ Hoàng-đế là cái mức độ mà ông ta tiến hành. Ít nhất thì đó là ý kiến của các nhà nghiên cứu Trung-hoa, nhưng tôi tin rằng cả hai hành động kia là một cái gì đó còn hơn cả sự phóng đại và cường điệu của những tâm tính tầm thường. Xây rào quanh một khu đất trồng trái cây hoặc một khu vườn là điều bình thường, nhưng cả một vương quốc là một chuyện khác. Đó cũng không phải là vấn đề nhỏ khi bắt buộc cả một dân tộc có truyền thống thuộc hàng bậc nhất phải từ bỏ kí ức của dĩ vãng, cho dù là thần thoại hay có thực. Niêu đại của Trung-hoa đã được ba ngàn năm (và trong đó bao gồm các vị như Hoàng Đế và Trang tử và Khổng tử và Lão tử) khi Thuỷ Hoàng-đế ra lệnh rằng lịch sử sẽ bắt đầu từ thời ông ta.

Thuỷ Hoàng-đế đã trục xuất mẹ ông ta vì tội truỵ lạc; những người theo truyền thống thì nhìn nhận hành vi cứng rắn này là hành động bất hiếu.Có lẽ Thuỷ Hoàng-đế muốn xoá bỏ những cuốn sách chuẩn mực vì những cuốn sách đó công kích ông ta; Thuỷ Hoàng-đế có lẽ muốn bỏ đi toàn bộ quá khứ để bỏ đi một kí ức đơn lẻ: nỗi nhục nhã của mẹ ông ta. (Không khác mấy một vị vua nọ, ở Judea, người đã giết toàn bộ trẻ con chỉ đế giết một đứa trẻ.) Phỏng đoán này khá vững, nhưng điều đó không cho chúng ta biết gì về bức tường thành, một mặt khác của một huyền thoại. Thuỷ Hoàng-đế, theo như các nhà sử học, đã cấm tiệt việc nhắc đến cái chết, và tìm kiếm thuốc tiên giúp trường sinh bất tử và tự giam mình trong một cung điện bóng bẩy với số phòng tương đương với số ngày trong một năm; những sự kiện này gợi ý rằng bức tường trong không gian và ngọn lửa để đốt sách trong thời gian chính là những rào cản huyền ảo dùng để ngăn chặn cái chết. Tất cả mọi thứ đều muốn tiếp tục tồn tại trong thực thể của chính nó, Baruch Spinoza [3] viết như vậy; có lẽ vị hoàng đế và các thầy pháp của ông ta tin rằng sự bất tử là lẽ tự nhiên và cho rằng sự thối rữa không thể thâm nhập được vào một quả cầu đóng kín. Có lẽ hoàng đế muốn tái tạo lại quá trình khởi đầu của thời gian và tự gọi mình là Thuỷ (đầu tiên) để thực sự là người đầu tiên, và gọi mình là Hoàng-đế để một cách nào đó như là Hoàng Đế, vị vua huyền thoại đã sáng chế ra chữ viết và la bàn. Cũng chính Hoàng Đế là người, theo như cuốn Book of Rites, gán mọi sự vật bằng cái tên thực của chúng; tương tự vậy, Thuỷ Hoàng-đế đã nói một cách khoe khoang, mà những bản khắc chữ hiện vẫn còn tồn tại, rằng mọi vật dưới thời cai trị của ông ta đều có tên gọi phù hợp với chúng. Ông ta mơ mộng về việc thiết lập một vương triều bất tử; ra chiếu chỉ rằng những người kế vị ông ta sẽ được gọi là Nhị Hoàng-đế, Tam Hoàng-đế, Tứ Hoàng-đế, và cứ thế đến bất tận… Tôi đã nói về một dự định huyền ảo; điều đó cũng có thể được cho rằng việc xây bức tường thành và việc đốt sách vở không phải là những hành động xảy ra cùng một lúc. Do vậy (tuỳ vào thứ tự mà ta chọn) chúng ta sẽ có hình ảnh một vị vua bắt đầu bằng việc phá huỷ và rồi tự bảo quản chính mình; hoặc hình ảnh một vị vua vỡ mộng đã cho phá huỷ những gì mà ông ta từng bảo vệ. Cả hai điều phỏng đoán đó đều kịch tính; nhưng theo như tôi biết thì chúng thiếu đi những nền tảng lịch sử. Herbert Allen Giles [4] cho biết rằng bất kì ai giấu sách vở đều bị in thanh sắt nóng lên người và bị xử phải làm việc cho đến chết ở bức tường thành dài vô hạn kia. Điều này ủng hộ, hoặc cho phép có một diễn giải khác. Có lẽ bức tường thành là một ẩn dụ; có lẽ Thuỷ Hoàng-đế trừng phạt những ai tôn sùng quá khứ phải làm một việc to lớn như chính cái quá khứ, một việc ngu ngốc và vô dụng. Có lẽ bức tường thành là một thách thức và Thuỷ Hoàng-đế nghĩ rằng, “Loài người yêu quá khứ và chống lại tình yêu đó là điều mà ta cũng như những kẻ đao phủ của ta không thể làm, nhưng một ngày kia sẽ xuất hiện một người đàn ông cũng cảm thấy như ta, và ông ta sẽ phá huỷ bức tường thành của ta, như ta đã tiêu huỷ các sách vở, và ông ta sẽ xoá kí ức của ta và trở thành cái bóng, hình ảnh phản chiếu của ta và sẽ không biết được điều ấy.” Có lẽ Thuỷ Hoàng-đế rào vương quốc của ông ta lại bằng tường thành vì ông ta biết được rằng vương quốc này rất mỏng manh, và tiêu huỷ đi sách vở vì ông ta biết chúng là những cuốn sách thiêng liêng, nhưng cuốn sách dùng để dạy những gì mà toàn thể vũ trụ này chỉ bảo hoặc để dạy dỗ cái lương tâm của từng con người. Có lẽ việc đốt các thư viện sách vở và việc xây tường thành là hai hành động, bằng một cách bí ẩn nào đó, tự xoá bỏ lẫn nhau.

Một bức tường thành kiên định, ở thời điểm này và ở toàn bộ mọi thời điểm, chiếu cả một hệ thống hình bóng của nó lên những vùng đất mà tôi sẽ không bao giờ thấy được, nó chính là hình bóng của Caesar, người đã nói rằng những quốc gia đáng tôn kính nhất phải thiêu đốt đi cái quá khứ của chính mình; cái ý tưởng đó là cái làm chúng ta rời khá xa những phỏng đoán trong tầm cho phép. (Tính chất của nó có thể nằm trong sự tương phản giữa xây dựng và phá huỷ, trên một phương diện rộng.) Tổng quát hoá lại, chúng ta có thể suy ra được rằng tất cả các hình thức đều có tính chất ở ngay bên trong nó và không phải nằm bên trong một “nội dung” theo kiểu giả thiết. Điều đó xác nhận lí thuyết của Benedetto Croce [5]; vào năm 1877, Pater [6] đã cho rằng mọi hình thức nghệ thuật đều cố đạt được sự tuơng đồng với âm nhạc, vốn chỉ có hình thức chứ không còn gì khác. Âm nhạc, những trạng thái hạnh phúc, thần thoại, những gương mặt sẽ phai tàn đi theo thời gian, theo những buổi chạng vạng, và những nơi chốn cụ thể, tất cả muốn nói cho chúng ta nghe về một điều gì đó, hoặc đã nói cho chúng ta một điều gì đó mà chúng ta lẽ ra không nên đánh mất, hoặc chuẩn bị nói cho chúng ta biết về điều gì đó; điều sắp đến đó của một sự thiên khải mà vẫn chưa lộ ra có lẽ là một sự việc mang tính mĩ học.

[1950]

Dịch tại Sài-gòn.
20101205.



Chú thích của người dịch:

[1] League: đơn vị đo lường, 1 league bằng khoảng 3 dặm hoặc 4 cây số.

[2] Hannibal (247 -183 BC): một vị tướng người Carthage (một thành phố cổ xưa, nằm ở vị trí hiện giờ là nước Tunisia), một trong những nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại của thời cổ xưa, người đã thống lĩnh Carthage trong cuộc chiến chống lại Rome tại cuộc chiến Punic lần hai (218-201 BC)

[3] Baruch Spinoza (1632-1677): triết gia người Hà-lan gốc Do-thái.

[4] Herbert Allen Giles (1845-1935): học giả người Anh chuyên về ngôn ngữ và văn hoá Trung-hoa.

[5] Benedetto Croce (1866-1952): nhà sử học, nhà nhân văn và là nhà triết học nổi tiếng người Ý vào nửa đầu thế kỉ 20.

[6] Walter Pater (1839-1894): nhà phê bình, nhà tiểu luận và nhà nhân văn người Anh, là người công khai ủng hộ cho quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” vốn là tuyên ngôn cốt yếu cho phong trào Chủ nghĩa Duy mĩ (Aestheticism) tại châu Âu vào cuối thế kỉ 19.


Nguồn:

 

Borges, Jorge Luis. “The Wall and the Books.” Jorge Luis Borges: Selected Non-fictions. Trans. Eliot Weinberger. New York: Penguin, 1999.

https://chiecnon.wordpress.com/2010/12/05/jorge-luis-borges-buc-tuong-thanh-va-sach/

Literature Văn học Mỹ Latinh

Jorge Luis Borges – Những cuộc đối thoại giữa tu sĩ khổ hạnh và nhà vua

 

Jorge Luis Borges

Những cuộc đối thoại giữa tu sĩ khổ hạnh và nhà vua

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Eliot Weinberger

 

Vua thì sung túc, tu sĩ khổ hạnh là hư không hoặc muốn trở thành hư không, thế là người đời thích hình dung nên cuộc đối thoại giữa hai nguyên mẫu này. Đây là một vài ví dụ, từ Đông sang Tây:

Từ Diogenes Laërtius mà truyền thống xưa nay cho rằng Darius đã mời triết gia Heraclitus tới cung điện. Heraclitus từ chối bằng những lời này: “Heraclitus cư dân thành Ephesus gửi tới Vua Darius, con trai của Hystapes: lời chào thân ái! Toàn thể loài người giờ đây bị cách li ra khỏi chân lí và tìm kiếm hư vinh. Về phần mình, tôi đã tháo chạy ra khỏi sự hư ảo ở chốn lâu đài và sẽ không tới Ba-tư, tự hài lòng về tính tầm thường nơi tôi, mà bản thân thấy thế cũng đủ rồi.”

Lá thư này – vốn đáng ngờ do cách biệt tám thế kỉ giữa sử gia và triết gia – thoạt nhìn không có gì khác hơn tính độc lập hay tư tưởng yếm thế của Heraclitus; niềm khoái cảm phẫn uất của việc hắt hủi lời mời từ nhà vua, hơn nữa là của một vị vua ngoại quốc. Nhưng bên dưới bề mặt tầm thường đó bắt gặp được sự đối lập mơ hồ giữa hai biểu tượng, một nét huyền ảo trong đó con số không, vị tu sĩ khổ hạnh, ở chừng mực nào đó có thể tương đương hoặc vượt trội cả vị vua vô hạn. 

Câu chuyện nằm trong quyển thứ chín bộ sách Cuộc đời của các triết gia (Lives of the Philosophers) của Diogenes Laërtius. Quyển thứ sáu có phiên bản khác, không rõ nguồn lấy từ đâu, với nhân vật chính là Alexander và Diogenes phái Cynic. Alexander đến Corinth trong lúc dẫn quân đi chiến đấu chống lại Ba-tư, và mọi người đều ra đón chào ông ta.

Diogenes không chịu ra khỏi nhà, và sáng nọ Alexander tìm đến ông, lúc đó ông đang sưởi nắng. “Hãy yêu cầu ta bất kì thứ gì nhà ngươi thích,” Alexander bảo thế, và Diogenes lúc ấy nằm dưới đất, đã yêu cầu vị vua nhích ra một tí, để không chặn ánh nắng chiếu vào. Giai thoại này (được Plutarch lặp lại) đặt hai kẻ đối thoại ở vị trí đối lập nhau; có gợi ý về sự liên hệ họ hàng ở những giai thoại khác. Alexander nói với cận thần là nếu không trở thành Alexander thì ông muốn trở thành Diogenes; và ngày nọ một người chết ở Babylonia, còn người kia chết ở Corinth.

Phiên bản thứ ba của cuộc đối thoại bất diệt này là câu chuyện dài nhất: nó chiếm tới hai tập trong bộ Thánh điển của phương Đông (Sacred Books of the East) do Max Müller biên tập tại Oxford. Nó nằm trong cuốn Milinda Pañha (The Questions of Milinda), cuốn tiểu thuyết với dụng ý truyền tải học thuyết, được sáng tác ở miền bắc Ấn-độ vào thời kì đầu của kỉ nguyên chúng ta. Bản gốc tiếng Phạn đã thất lạc, và Rhys Davis dịch từ tiếng Pali sang tiếng Anh. Milinda, cái tên này được cách phát âm Đông phương làm cho dịu dàng hẳn, chính là Menander, vị vua Hi-lạp của Bactriana, sau khi Alexander xứ Macedonia chết được một trăm năm thì ông này đã mang quân đến tận cửa sông Indus. Theo Plutarch, ông là người cai trị khôn ngoan, và khi chết thì tro tàn của ông được rải đi khắp các thành phố trong vương quốc[1]. Các di chỉ quyền lực ông có được, những kệ tiền đúc mà giờ đây chứa hơn hai mươi loại tiền xu bằng vàng và bằng đồng. Trên một số đồng xu là hình ảnh một người thanh niên, mấy đồng khác thì có hình ảnh một ông già, và ta có thể suy ra thời gian ông trị vì kéo dài rất nhiều năm. Dòng chữ khắc ghi “Menander vị vua công bằng”, và ở mặt trước của đồng xu người ta tìm thấy hình ảnh một Minerva, một con ngựa, một cái đầu bò, một con cá heo, một con lợn lòi, một con voi, một cành cọ, một cái bánh xe. Ba hình tượng sau cùng có lẽ thuộc về đạo Phật.

Trong cuốn Milinda Pañha ta đọc thấy rằng cũng như con sông Ganges sâu thẳm tìm đến đại dương sâu thẳm hơn, thì vua Milinda tìm đến Nāgasena, người nắm giữ ngọn đuốc chân lí. Năm trăm lính Hi-lạp bảo vệ nhà vua, và nhờ vẻ an nhiên tựa sư tử (“a guisa di leon quando si posa”) của Nāgasena mà nhà vua nhận ra được ông trong đám đông tu sĩ khổ hạnh. Nhà vua hỏi danh tính ông. Nāgasena đáp lại danh tính chỉ là những qui tắc, không định nghĩa được các đối tượng vĩnh cửu. Ông giải thích, cũng như cỗ xe ngựa của nhà vua không phải là bánh xe cũng không phải khung xe, không phải trục xe, càng xe cũng không phải ách xe, do đó con người không phải là vật chất, hình thức, tri giác, ý tưởng, bản năng hoặc ý thức. Con người không phải là sự kết hợp của các phần đó lại và cũng không thể tồn tại mà thiếu chúng được… rồi ông so sánh với ngọn lửa trong cây đèn thắp sáng hàng đêm, ngọn lửa ấy tồn tại lẫn ngừng tồn tại. Ông nói đến đầu thai, đến đức tin, đến nghiệp và niết-bàn, và sau hai ngày luận đàm, hoặc có thể gọi là vấn đáp, thì ông đã cải đạo được nhà vua, lúc này đây khoác lên mình bộ hoàng y của thầy tu. Đây là cốt chuyện tổng quát của Milinda Pañha, trong đó Albrecht Weber chú ý đến việc cố tình bắt chước theo kiểu Platon, luận thuyết này bị Winternitz bác bỏ khi ông này nhận xét phương thức đối thoại kiểu này thuộc về truyền thống trong văn tự Ấn-độ, và trong cuốn Milinda Pañha không có một chút vết tích gì thuộc nền văn hoá Hi-lạp cổ (Hellenic).

Ăn vận như một tu sĩ khổ hạnh, nhà vua trở thành một trong số họ, và vị vua này gợi nhớ đến một vị vua khác ở thời kì còn dùng tiếng Phạn, cũng bỏ cung điện đi khất thực ngoài phố và nói những lời làm người ta choáng váng: “Kể từ bây giờ ta không có vương quốc nào hết hoặc là ta có một vương quốc bất tận; kể từ bây giờ thân xác ta không thuộc về ta hoặc là cả nhân gian này đều thuộc về ta.”

Năm trăm năm trôi qua, và loài người tạo ra một phiên bản đối thoại bất diệt khác, lần này không ở Ấn-độ mà ở Trung-quốc [3]. Hoàng đế vương triều nhà Hán mơ thấy một người thân bằng vàng ròng bay vào phòng mình, và quần thần của ông cho rằng đó chỉ có thể là Phật, vốn là người đã tu hành đắc đạo bên Thiên-trúc. Một vị hoàng đế triều đại nhà Lương đã bảo vệ kẻ dã man đó và đức tin của mình, lập ra đền miếu và các tu viện. Giáo sĩ Bà-la-môn Bồ-đề-đạt-ma, tổ thứ hai mươi tám của Phật giáo Ấn-độ, trước đó đã tới cung vua ở Nam-kinh (họ bảo là sau ba năm thong dong đi bộ), ở phía nam Trung-quốc. Vị hoàng đế liệt kê toàn bộ các công trình linh thiêng thực hiện được. Bồ-đề-đạt-ma lắng nghe chăm chú, rồi bảo nhà vua rằng toàn bộ các tu viện, đền miếu và bản sao của thánh điển là những thứ thuộc về thế giới hình tướng bên ngoài, vốn là một giấc mộng dài, do vậy không có nghĩa lí gì cả. Ông nói, các việc làm tốt có thể dẫn tới đền đáp tốt đẹp, nhưng không bao giờ dẫn tới niết-bàn, là nơi tuyệt đối không tồn tại ý chí, cũng như không hề tồn tại hậu quả của hành vi ta thực hiện. Không tồn tại học thuyết linh thiêng nào cả, bởi vì trong cõi nhân gian hão huyền không có gì linh thiêng hoặc nền tảng. Vạn pháp và vạn vật đều vô thường, và chúng ta không thể bảo rằng chúng tồn tại hay không tồn tại.

Vị hoàng đế sau đó cất tiếng hỏi người có lối nói như thế là ai, và Bồ-đề-đạt-ma vẫn trung thành với thuyết hư vô, đã đáp lại:

“Ta cũng không biết mình là ai.”

Những lời đó vang vọng trong kí ức dân tộc Trung-hoa suốt một thời gian dài. Ra đời giữa thế kỉ mười tám, cuốn tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng có đoạn văn kì dị thế này:

Anh mơ rồi lại thức. Anh thấy mình trong ngôi miếu đổ. Bên cạnh ngôi miếu có gã ăn mày vận tấm áo như đạo sĩ. Vị đạo sĩ này chân đi khập khiễng và đang bắt rận. Tương Liên lên tiếng hỏi ông là ai và nơi đây là đâu. Đạo sĩ trả lời:

“Ta không biết mình là ai, và cũng không biết đây là đâu. Ta chỉ biết đường đi hãy còn dài lắm.”

Tương Liên ngộ ra. Anh dùng kiếm cắt phăng đi mái tóc rồi theo vị đạo sĩ lạ mặt ấy.

Trong mấy câu chuyện tôi vừa đề cập đến, vị tu sĩ khổ hạnh và nhà vua biểu trưng cho cái hư không và sự sung túc, con số không và vô cực. Những biểu trưng cực độ hơn nữa về sự tương phản này bao gồm thần linh và người chết, và sự hợp nhất giữa hai hình tượng đó ắt sẽ hữu hiệu hơn: thần linh là kẻ chết. Adonis bị con lợn lòi của nữ thần mặt trăng gây thương tích, Osiris bị Set ném vào dòng nước sông Nile, Tammuz bị lôi tới một vùng đất mà không thể quay trở về, tất cả đều là những ví dụ nổi tiếng về sự hợp nhất này. Không kém phần thấm thía là câu chuyện này, kể về sự cáo chung khiêm nhường của một vị thần:

Ở cung điện của Olaf Tryggvason, người trước đây ở Anh đã bị cải đạo theo đức tin Kitô, đêm nọ có một ông già xuất hiện, khoác trên người miếng vải choàng tối tăm và vành mũ che ngang mắt. Nhà vua hỏi ông có biết làm gì không, người đàn ông lạ mặt đáp ông biết chơi hạc cầm và biết kể chuyện. Ông hát vài điệu cổ xưa, kể về Gudrun và Gunnar, rồi nói đến sự ra đời của Odin. Ông nói có ba nữ thần Định mệnh xuất hiện, hai người đầu hứa hẹn nhiều điều hạnh phúc, nhưng người thứ ba, trong cơn thịnh nộ, nói rằng, “Ngươi sẽ không sống lâu hơn ngọn nến đang cháy bên cạnh”. Cha mẹ ông ta dập tắt nến đi để Odin không chết theo nó. Olaf Tryggvason không tin câu chuyện; người đàn ông lạ mặt, vẫn khẳng định đó là sự thật, lấy ra ngọn nến và thắp nó lên. Khi người ta quan sát ngọn nến cháy lên thì ông bảo đã trễ rồi và mình phải rời khỏi đây. Khi ngọn nến cháy hết, người ta kéo nhau đi tìm người đàn ông kia. Cách tư thất của nhà vua vài bước chân, Odin nằm chết tại đó.

Ngoài chuyện chứa đựng ít nhiều những phẩm tính cao quí, thì những văn bản đó, vốn rải rác theo thời gian và không gian, đã đề xuất tính khả dĩ về một dạng hình thái học (theo từ của Goethe) hoặc về hệ thống kiến thức các thể nền tảng trong văn chương. Ở những trang viết như thế này, đôi khi tôi suy đoán rằng toàn thể các ẩn dụ chỉ là những biến thể từ một số ít các nguyên mẫu mà thôi; có lẽ định đề này cũng thích hợp với cả truyện ngụ ngôn.

[1953]

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20121106

 

Nguồn:

Borges, Jorge Luis. “The Dialogues of Ascetic and King.” Jorge Luis Borges: Selected Non-Fictions. Eliot Weinberger chủ biên. New York: Penguin, 1999.

https://chiecnon.wordpress.com/2012/11/06/jorge-luis-borges-nhung-cuoc-doi-thoai-giua-tu-si-kho-hanh-va-nha-vua/

Literature Văn học Mỹ Latinh

Jorge Luis Borges và cảm hứng sáng tác từ Bờ bến khác của thực tại

 

                              (Lê Ngọc Phương, Tạp chí ĐH Sài Gòn, niên giám 2012)

Jorge Luis Borge chắc chắn không phải là một tên tuổi xa lạ đối với giới nghiên cứu văn học thế kỷ XX. Oxford book of Latin American short stories (Sách Oxford về Truyện ngắn châu Mỹ Latinh) cho rằng: “Gabriel Garcia Marquez cùng với Jorge Luis Borges là hai nhà văn Mỹ Latinh nổi tiếng nhất tính đến hiện nay” [1].  Cùng quan điểm này, Scott Simpkins trong công trình nghiên cứu về chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo đã đánh giá: “Jorge Luis Borges và Gabriel Garcia Marquez là hai nhà văn đã có công đưa chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo đi xa hơn bằng cách thử nghiệm những điều kiện của chính cái huyền ảo nguyên bản trong sáng tác của họ” [2]. Theo Scott Simpkins, nếu Alejo Carpentier là người lập thuyết tiêu biểu cho trào lưu Hiện thực huyền ảo thì Jorge Luis Borges và Gabriel Garcia Marquez chính là người đưa trào lưu văn học huyền ảo đến với thế giới, bằng những sáng tác của mình.

So với tác phẩm của hậu duệ G. G. Marquez, truyện ngắn của J. L. Borges ngay từ sớm giống như một trò chơi tư tưởng – thách thức, dị thường và khó đọc. Truyện ngắn là nơi Borges thể nghiệm những ý tưởng và triết lý độc đáo về cái huyền ảo. Khác với tính chất huyền ảo kiểu “magic” (pha chút huyễn hoặc, ma thuật, tâm linh của nền văn hóa bản địa) thấm trên tác phẩm của G. G. Marquez, truyện ngắn của J. L. Borges vốn thể hiện phong cách huyền ảo “fantasy”: một sự tưởng tượng phóng túng, siêu hình và siêu tưởng, một cảm hứng bắt nguồn từ “bờ khác của thực tại” – bờ bến của giấc mơ, của huyền thoại, vô thức, của những ký hiệu triết học…

  1. Jorge Luis Borges: “Tôi tin vào cảm hứng”

Cảm hứng hay thi hứng thường được ví như cuộc tao phùng giữa nội tâm với ngoại cảnh. Cuộc gặp gỡ này khiến nhà văn cảm thấy giao động và choáng ngợp bởi một tình cảm cuồng nhiệt, một thứ cảm giác huyền bí choàng lấy tâm hồn. Cảm hứng đến từ sự kích thích bên ngoài, nhưng cảm hứng còn là sự nung nấu, sự ám ảnh sâu xa, sự chuẩn bị từ lâu trong lòng nhà văn. Như F. G. Lorca từng nói, cảm hứng thực ra là một trạng thái trầm tư mặc tưởng, một sự nghiền ngẫm, một sự chờ đợi dài lâu. Ẩn đằng sau cảm hứng sáng tác là cả hệ tư tưởng và phong cách viết của nhà văn.

Borges từng viết về chính mình:

“Tôi thường xuyên canh tác trên một loại văn học ma quái. Dù cho trong những truyện ngắn vốn được làm bằng những chuẩn mực của trò chơi của chủ nghĩa Hiện thực thì những vụ việc vẫn là ma quái: sự thật không như thế… Đặc tính ma quái ấy không có nghĩa là tuỳ tiện, không một thứ văn học nào là tuỳ tiện cả” [3].

Borges cũng nói thêm rằng: Mỗi truyện trong số những truyện ngắn ấy đáp ứng những tâm trạng, những đam mê, hay những kinh nghiệm tôi có cho dù sau đó chúng là tuyệt vời [4].

Cũng vì thế, Borges tin vào cảm hứng, tin rằng những cuốn sách được viết từ cảm hứng thường trực và dai dẳng, dường như đối lập và bất chấp ý chí của ông…

Octavio Paz, một trong những nhà văn viết về Borges tinh tế nhất, trong bài luận nổi tiếng: Cây cung, mũi tên và điểm đích đã dẫn lại lời nhận xét của Alfonso Reyes – nhà văn bậc thầy của Mexico. Reyes vẫn luôn thán phục trước “một trí tuệ lạ lùng, một niềm hạnh phúc ngoại cỡ” của người đồng hương Jorge Luis Borges. Octavio Paz còn bổ sung thêm nhận định của Reyes, Paz viết: “Đồng thời, ông (Jorge Luis Borges – LNP ghi chú) còn là một đầu óc thông tuệ đến lạ kì đã gắn kết với tính huyền ảo của một nhà thơ bị cám dỗ bởi cái bờ khác của thực tại: nhờ vậy, ông chỉ có thể cười mỉm trước những công trình hư ảo của lý trí” [5].

Hình ảnh “bờ khác của thực tại” mà Octavio Paz đã dùng nhằm ẩn dụ cho sáng tạo độc sáng của Borges về một thực tại khác, không phải thực tại ta có thể nhìn thấy, sờ chạm và nắm bắt mỗi ngày. Thực chất đó là một thế giới, một hành tinh mơ tưởng của Borges. Như chính Borges từng nói ông luôn bị cám dỗ bởi những gì “ma quái”, “huyền thoại”, bởi những mơ mộng siêu hình và trò chơi tư tưởng. Chìa khóa cho toàn bộ sáng tác của Borges, theo Octavio Paz, nằm ở hai điều: sự thông tuệ và tính ảo huyền. Vì thế, truyện ngắn Borges luôn thiếu vắng cuộc sống đời thực, thiếu vắng chủ đề tình yêu, thiếu vắng những sự kiện chính trị xã hội (một cách trực tiếp), thiếu vắng cả những vấn đề đạo đức thường tình. Sáng tác của ông thường là con người cô độc, mộng mị và suy tưởng trước vũ trụ và trước chính mình. Hệ đề tài của Borges chung qui đều dẫn đến hai trục: bản thể huyễn hoặc của cá nhân và bản thể siêu hình của vũ trụ. Trí tưởng tượng phong phú của Borges luôn bị quyến rũ bởi một thế giới khác thường, chen lẫn giữa thực và ảo, từ đó cuốn ông đi đến chỗ thử nghiệm liên tục các mô hình huyền ảo trong văn chương. Toàn bộ sự độc đáo và hiện đại của tác phẩm Borges được xây dựng từ một thực tại siêu hình gắn trong chiều sâu của sự tồn tại và nhân tính. Xuất phát từ cảm hứng này, Borges đã vượt ra khỏi bến bờ của hiện thực, sáng tạo nên một thế giới khác của riêng ông.

Nhìn trên nghệ thuật tự sự, điều mang lại yếu tố huyền ảo cho tác phẩm Borges là sự mơ hồ của cốt truyện, sự nhập nhòa của không – thời gian. Sự việc và nhân vật thì rất đỗi bình thường và đầy tính “người”. Thế nhưng, toàn bộ truyện ngắn lại tiệm cận đến bờ huyền ảo bởi sự mập mờ, đa nghĩa của tình tiết truyện, bởi những đề tài luôn giữ một khoảng cách đối với hiện thực, luôn trộn lẫn giấc mơ, truyền thuyết và đời thực. Kết cấu mở đầu và mở cuối của truyện ngắn càng làm tính huyền ảo lan xa và để lại sự lấp lửng, mơ hồ. Tính ảo huyền của tác phẩm Borges được tạo bởi một “điểm nhìn đảo lộn mọi điểm nhìn truyền thống” [6], xoá mờ tất cả ranh giới, cuốn người đọc vào mê cung.

Tính ảo huyền này khiến “Borges giữ một vị trí duy nhất trong văn chương thế kỉ XX” [7].

Nhắc đến chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh, người ta không thể không nhắc đến Jorge Luis Borges. Ông là người tiên khu cho chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo, như từ rất sớm ông đã khẳng định: “Thiết nghĩ rằng huyền thoại không kém phần thực so với điều chúng ta nhìn thấy trong thực tại. Huyền thoại là một ngụ ngôn mà chúng ta đọc bằng một hình thức cụ thể với sự sùng kính rõ ràng, huyền thoại là cần thiết…” [8].

Coi trọng huyền thoại, Borges đã mở màn cho dòng văn chương đậm chất huyền ảo của Mỹ Latinh.

Văn chương từ cuối thế kỉ XIX kéo dài sang đầu thế kỉ XX vẫn luôn nhấn mạnh “cái thực” trong lúc qui chiếu liên tục với hiện thực đời sống. Coi trọng tính hiện thực của những sự kiện đời sống, người ta đồng thời xem nhẹ tính không thực của tưởng tượng. Đến Jorge Luis Borges, ông chống lại quan niệm này trong văn học. Borges cho rằng chủ nghĩa hiện thực nghiêm khắc giúp người đọc “quên đi đặc trưng kĩ thuật ngôn từ của tác phẩm”, chỉ nhớ đến sự thực đời sống được đưa vào. Ngay cả nhà văn vĩ đại nhất cũng có khuynh hướng đè nặng tác phẩm của mình với những mô tả không cần thiết hay những trang bị về tâm lý. Sự chi li, chi tiết đó nhằm cố gắng đạt đến tính hiện thực.

Nghi ngờ sự thực như là một giả tưởng, Borges cũng như những nhà văn châu Âu, đặc biệt là A. Robbe-Grillet sớm đặt lại vị trí của tính hiện thực và tính hư cấu tưởng tượng. “A. Robbe-Grillet tin rằng: Sức mạnh của tưởng tượng có thể tạo ra một cái gì lạ lùng, thật hơn cả thực tế, và có thể khiến cho hư cấu trở thành hiện thực. Cái ảo không còn là cái mà vì nó, tồn tại bị vượt qua, cái ảo báo trước, chờ đợi và kêu gọi hiện thực, giống như một kiểu tương lai của hiện thực… Vì thế, tưởng tượng đối với Robbe-Grillet, sẽ là hiện thực, sẽ là cái mà ta có thể dùng để kiểm tra thực tế” [9].

Thuộc về những người tiên phong cho nền văn học mới, Borges ủng hộ nồng nhiệt thời đại của hư cấu. Lạ mắt hơn, Borges bày tỏ sự-không-thực ấy ngay ở tựa đề tác phẩm. Tập truyện mang tên Ficciones (Hư cấu) của ông là cách đi ngược lại với tên tác phẩm thông thường. Trong khi các nhà văn nhấn mạnh sự chân thực của tác phẩm mình thì Borges nhấn mạnh tính hư cấu. Hư cấu là xảo thuật. Hư cấu là tưởng tượng.

Borges xây dựng hạt nhân huyền ảo từ huyền thoại về lửa, về phù thuỷ, từ truyền thuyết những mê lộ, những tấm gương, những giấc mơ… Con người hiện lên với tất cả sự mong manh, mơ hồ và sự phi lý của thân phận người. Chất huyền ảo của Borges còn lồng qua những cuộc du hành không khởi đầu, không kết thúc trong mê lộ, trong những chiếc gương, trong sự tuần hoàn vô tận… Vì thế, sự “ma quái” của Borges không giống với cổ tích và truyện thần diệu, sự “ma quái” của Borges càng không giống với J. Cortazar và G. Marquez, nó gần với huyền ảo siêu hình, như chính Borges đã phát biểu: “Siêu hình là một nhánh của văn học huyễn tưởng”.

Không thú vị với văn chương đạo đức, Borges càng không đam mê văn chương chính trị. Khác với ba nhà văn Mỹ Latinh đồng thời: A. Asturias, A. Carpentier, Juan Rulffo, tác phẩm Borges rất ít màu sắc chính trị. Ông không muốn thỏa hiệp quan niệm của ông với bất cứ thông điệp, ý tưởng nào. Borges chỉ hứng thú với các huyền thoại, với sự kì bí của vũ trụ, những cuộc suy tư và đối thoại tư tưởng. Thế giới huyền ảo của ông trao đổi thường xuyên với triết học Berkeley, Hume, Bergson, Schopenhauer và Nietzche… Từ đó những vấn đề sinh tồn của cuộc sống thường nhật được lồng trong ảo giác mông lung, phát lộ nên câu hỏi về bản thể tồn tại của cá nhân trong vũ trụ.

Xét trên tổng thể, toàn bộ tác phẩm của Borges chỉ xoay quanh trục chính: Ta với chính Ta, Ta với cái Ta khác, và Ta với vũ trụ. Cả ba mối liên hệ này đều dẫn đến con đường mong manh của bản thể, sự hoài nghi của tri thức. Điều gì là cái có thực? Đâu là thực tại đích thực? Hay tất cả thực tại cũng chỉ là giả định, chỉ là sự nhìn thấy/ sự mơ tưởng từ một cá nhân nào đó?

Đặt cái giả bên cạnh cái chân, cái huyền ảo bên cạnh sự thực, Borges muốn nói điều gì? Một sự thực đích thực, hay không có sự thực nào cả? Một sự hiểu biết hay thực ra sự che giấu cái hoang mang?

Cảm hứng về sự vô tận, tính hư trống vô định này tạo nên chất huyền ảo. Borges vẫn thường nói: ông không lựa chọn điều này. Chúng tự ám ảnh và tự tìm đến Borges. Phải chăng, như Claudio Magris đã gọi Borges là “nhà huyền học cho dẫu niềm thần khải của ông không đến” [10]?

  1. Cảm hứng trước bản thể huyễn hoặc của cá nhân

“Con người còn giá trị hơn cả vũ trụ”

(Charles Werner)

Jorge Luis Borges thường dành một cảm hứng thường xuyên cho vấn đề về bản ngã. Bằng toàn bộ tác phẩm của mình, Borges làm sống lại một bản ngã đầy mãnh liệt, sự chuyển động bên trong đầy phức tạp và mong manh. Thơ ca, truyện ngắn, tiểu luận của Borges đều cùng một hệ đề tài lớn này.

Borges từng viết trong Thơ về những ân sủng

“Vào lúc lang thang trên những hành tinh tĩnh lặng

Với nỗi sợ mơ hồ ta cảm thấy

Rằng ta là kẻ khác, kẻ đã chết, sẽ bước

Những bước chân này trong chính ngày hôm nay”

(Thơ về những ân sủng)

“Ta là kẻ chẳng là ai, là kẻ không một thanh gươm

trong trận mạc. Ta là tiếng vọng, là lãng quên, là hư vô”

                                                                                                (Là)

Ám ảnh về cái Ta đã khiến văn chương Borges bao phủ sự mơ hồ, sự hoài nghi về thân phận người. Cái Ta đối diện với nỗi cô độc hoàn hảo, không thể sẻ chia. Cái Ta gấp khúc trong những cơn mơ vô tận. Cái Ta bối rối hoang mang trong mê lộ. Cái Ta lưu lạc trong thời gian, không gian vô hình, vĩnh cửu. Cái Ta không rõ ràng và đơn nhất. Cái Ta hoá thân thành người khác, biến thành số nhiều, có khi hắn chỉ độc một chiếc bóng. Đề tài về bản ngã hiện diện hầu hết ở các tác phẩm của Borges. Đề tài này chiếm vị trí trung tâm, hoặc ít nhất thì ở mọi sáng tác, nó luôn được ẩn hiện hoặc lồng trong những đề tài khác.

Truyện ngắn của Borges lấy cảm hứng từ cuộc tồn sinh phức hợp và đa tiết điệu. Ở đó, con người là “bản ngã hoán vị” mà bên trong tái hợp những đam mê và những tư tưởng. Đời sống tâm linh luôn chờ đợi sự phóng vọt, luôn tái sinh và đổi mới. Các tác phẩm xuất sắc của Borges như: Phương Nam, Văn tự của Thượng đế, Người bất tử… đều được bẩy lên từ cảm hứng về bản thể này.

Liên quan đến bản thể Ta, Borges cũng thường viết về sự phân thân, tách rời nhân cách. Thế nhưng, cảm hứng này không nhằm mang đến sự hồi hộp, rùng rợn như văn chương kì ảo thế kỉ XIX. Không giống với sự phân thân trong truyện ngắn của Maupassant và A. E. Poe, truyện ngắn Borges hoài nghi và u buồn đượm nhẹ trước bản thể con người. Chẳng hạn, Phương Nam là một truyện ngắn đẹp như thơ của Borges, kể về người đàn ông tên Juan Dahlmann, một thư kí của thư viện thành phố, với niềm tin gia đình đang chờ đợi mình, anh đã sửa soạn về phương Nam thăm quê hương. Thế nhưng, buổi chiều hôm ấy trong lúc vội vã leo xuống cầu thang trong bóng tối, một vật đập vào trán anh khiến anh bị thương. Điều bí ẩn đã bắt đầu ló dạng. “Trong đêm đó, cơn sốt đã vắt kiệt sức Dahlmann”. Anh được mời thầy thuốc chữa bệnh nhưng không thuyên giảm. Anh được đưa đến bệnh viện bằng xe cấp cứu. Người ta lột hết áo xống, cạo đầu, ghì chặt anh vào giường bằng những tấm kim loại và rọi ánh sáng vào mắt… “Dahlmann thầm oán hận, oán hận bản thể con người mình, những đòi hỏi của thân xác, tình trạng bị làm nhục của mình”. Anh ta được bác sĩ phẫu thuật thông báo anh ta suýt chết vì bệnh nhiễm khuẩn máu và sắp phục hồi. Dahlmann lại thấy mình được đưa về điền trang ở phương Nam của mình, trên một chiếc xe cấp cứu.

Ở nhà ga đợi tàu hoả, anh ta uống một tách cafe, rồi anh ta lên tàu, trong khi tàu chạy, anh bắt đầu đọc cuốn Nghìn lẻ một đêm. Đầu óc Dahlmann chập chờn qua những suy nghĩ, qua những cơn mơ. Con tàu đột nhiên dừng lại giữa đồng không mông quạnh và Dahlmann nhận ra đây không phải là nơi mình muốn đến nhưng vẫn “chấp nhận đi bộ như một cú mạo hiểm nho nhỏ”. Dahlmann ở lại một cửa hàng cơm và tại đây điều kì lạ lại xảy ra. Dahlmann đột nhiên cảm thấy bị ném bởi những viên bi bằng bánh mì. Một người thổ dân chửi bới và sỉ nhục anh, mời anh vào một cuộc đấu tay đôi. Dahlmann được một ông già ném cho một con dao và anh ta bắt đầu vào cuộc. Truyện ngắn kết thúc bằng chi tiết: “Dahlmann đâm mạnh con dao, mà có lẽ anh sẽ chẳng biết điều khiển nó, rồi anh đi thẳng ra cánh đồng bao la” [11].

Có thể nhận thấy câu chuyện bao phủ bởi những tình tiết lập lờ và mơ hồ. Vết thương gây cơn sốt của Dahlmann là thực hay giả? Anh ta trở về điền trang thật hay đây chỉ là giấc mơ được giải phóng khỏi viện điều dưỡng? Và người đàn ông chủ quán là người quen gần điền trang, hay là người của viện điều dưỡng? Tại sao Dahlmann có cảm giác mơ hồ về người này? Và câu hỏi quan trọng nhất: vì sao Dahlmann bị thách đấu và kết cuộc của anh ta là gì?

Tình tiết mập mờ, nhiều khoảng trống và kết thúc bị bỏ lửng. Phương Nam là một truyện ngắn gọn gàng và bi đát. Những sự việc diễn ra bị lu mờ khó hiểu trước nội tâm phức tạp và dịch chuyển liên tục của Dahlmann. Câu chuyện trở về phương Nam có thể là thực, nhưng hoàn toàn có thể là cơn mơ, cơn váng vất của Dahlmann. Anh ta có thể đã nằm mơ thấy cuộc trở về trước ngày gặp nạn hay vào đúng những ngày anh bị giam cầm ở khu điều dưỡng. Dahlmann thấy mình một lúc là hai con người: “Một người đang đi theo ngày thu và theo địa lý của Tổ quốc, còn người kia giam mình trong viện điều dưỡng, phục tùng sự chăm sóc đúng phương pháp” [12]. Một cái tôi đang ở trong thực tại, một cái tôi đang du hành ở tận quá khứ hoặc tương lai. Kết thúc anh ta có thể chết trong cuộc đấu tay đôi nhưng kết thúc cũng có thể là sự tỉnh dậy từ một giấc mơ trưa nào đó.

Cái huyền ảo trên sáng tác của Borges thường xuất phát từ cái Ta đa bội và phức tạp, từ đó lan toả lên toàn câu chuyện. Borges thường xuyên viết về nỗi cô đơn, sự lưu lạc của con người giữa thế giới không có trung tâm. Tất cả các tác phẩm đều qui về đầu mối này. Borges nghiêng về chủ nghĩa hoài nghi của Hume, cho rằng muôn vàn chướng ngại ngăn chặn con người tìm đến chân lý về thực tại tối hậu. Vì thế mọi tri thức của con người liên quan đến thực tại thường sai lệch và thiếu sót. Tác phẩm của Borges giống một thế giới bấp bênh huyễn hoặc. Tác phẩm của ông cũng là một cuộc chơi. Trong đó con người gia nhập nhưng không thể hiểu qui luật của cuộc chơi đó. Họ bị cuốn vào vòng xoáy của việc tìm kiếm chính mình. Mọi nổ lực tìm kiếm dường như là bất khả. Cái bí ẩn vẫn chập chờn phía trước.

Jorge Luis Borges cũng là người trở về với tư tưởng Đông phương xưa cổ. Trên tác phẩm ông người ta sự tỉnh thức. Borges khơi sự suy tư bên trong, sự tỉnh giấc bên trong. Câu hỏi lớn về tinh thần con người khiến Borges đứng giữa hai nền văn minh phương Đông và phương Tây.

Hệ đề tài của Borges dường như là các đề tài về “tôi” (Les themes du “je”) mượn từ ý tưởng phân loại của T. Todorov. Quả thực, truyện ngắn của Borges thường xuyên triển khai ý tưởng về sự lặp lại của cá thể – cái Tôi của con người, những mô hình, sự nhân đôi đến vô tận của những giấc mơ, trò chơi hư ảo, nỗi bối rối bản thể bị gấp khúc, tăng theo cấp số nhân… Truyện ngắn của Borges hướng vào bản ngã bên trong, biểu hiện kín đáo qua những đề tài như: những giấc mơ, mê lộ, tấm gương, những con hổ…

Sử dụng linh hoạt phương thức huyền thoại hóa, Borges đi từ những huyền thoại kinh điển đến huyền thoại bản địa. Có thể thấy những cổ mẫu trong tác phẩm ông: Vua Minos và mê lộ, Persee và tấm gương, kẻ phù thủy và điềm báo, thần Lửa và giấc mơ, hoàng đế phương Đông và kẻ tử tù… Yêu mến những huyền thoại kinh điển phương Đông lẫn phương Tây, Borges tái tạo lại cảm thức và sự suy tư về bản thể con người.

  1. Cảm hứng trước bản thể siêu hình của vũ trụ

Sau câu hỏi Ta là ai?, truyện ngắn của Borges đặt lại vấn đề Vũ trụ là gì? Với Borges, bản thể vũ trụ không chỉ nằm ở hiện tượng và vật chất tồn tại xung quanh. Nó vượt quá thế giới có thể nhìn thấy được. Nó thuộc về bản chất kinh nghiệm và tương đồng với đời sống tâm linh.

Borges đã xây dựng tác phẩm mình hầu hết từ ý tưởng này: Thế giới đối với ông là một thư viện khổng lồ. Một thư viện có trật tự nhưng người ta không bao giờ tìm thấy nguyên tắc sắp xếp và giới hạn của nó. Thế giới là một cuốn sách được lật giở vô tận. Thế giới cũng là một cuộc sổ số – một trò chơi may rủi. Thế giới đó được nhân lên vô hạn và liên tục biến đổi. Con người chỉ có thể thừa nhận sự “bất khả tri” trước thế giới.

Những truyện ngắn như Tlon, Uqbar, Orbis Tertius, Bản thông báo của Brodie, Cuộc xổ số ở Babylon, Môn phái Phượng hoàng… đều được xây dựng nên một thế giới vĩ mô độc đáo. Nếu Utopia là mảnh đất không tưởng của Thomas Moore thì Tlon là một hành tinh không tưởng của riêng Borges. Sự kì dị của Tlon là ở chỗ nó được tạo ra từ những nhà duy tâm. “Các dân tộc thuộc hành tinh này duy tâm một cách bẩm sinh”, “Tlon không có khoa học, và cả luận lý cũng không có nốt. Các nhà triết học ở Tlon không đi tìm sự thật, hay sự sáng tỏ mà họ đi tìm sự ngạc nhiên” [13]. Yếu tính của Tlon nằm ở điều này: sự vật được phóng chiếu ra từ tâm, chỉ có nội tâm con người là tồn tại và đi ngược lại hoàn toàn sự ràng buộc của luận lý.

Sáng tạo ra hành tinh kì dị này, Borges không nhằm trực tiếp đề đạc về trật tự xã hội và quyền sống cho con người. Có chăng, người đọc nối tiếp dụng ý từ sự tưởng tượng của Borges.

Cuộc xổ số ở Babylon, Môn phái Phượng hoàng là một vũ trụ khác được mã hóa bằng biểu tượng. Con người tham dự vào một thế giới phi lý, trong đó vận mệnh của họ nằm trong sự may rủi, và nằm trong tay một công ty có “quyền lực vô hạn và sức mạnh vô hình”. Truyện ngắn Bản thông báo của Brodie lại kể về bộ tộc man mọi, ăn lông ở lỗ với những tập tục kì quái. Truyện ngắn Người bất tử chính là ấn tượng khủng khiếp về cái không thể kết thúc, cái luôn được tái diễn trong mơ hồ. Bất tử giúp thoả mãn khao khát vĩnh hằng hay đó chính là một cơn ác mộng?

Đọc tác phẩm Borges, đúng như Andre Maurois nhận định, đôi khi người ta không còn cảm thấy sự tỉnh táo của mình, hệt như “Alice lạc vào xứ sở thần tiên”. Borges có lẽ là người thích thú sự giao lưu giữa những điều tưởng tượng với những điều có thực. Ông là một trí tưởng tượng đầy trí tuệ, một trí tưởng tượng được biểu trưng hoá ở dạng cấp cao.

Tư tưởng và lối viết kì lạ này rất dễ đẩy Borges vào tình huống mất an toàn. Rất nhiều độc giả bình dân khó có thể chạm tới đến lối viết kén người tiếp nhận của ông. So với những nhà văn Argentina khác như Cortaraz, Manuel Puig, tác phẩm của Borges thực sự khó phổ biến rộng rãi trong công chúng, mặc dù ông được đọc nhiều nhất trong tầng lớp trí thức và giới chuyên môn. Borges là “nhà văn được các nhà văn ngưỡng mộ”, trong lúc đó quảng đại lại bối rối và giữ thái độ “kính nhi viễn chi”.

Edwin Williamson đã nhận xét về Borges một cách thuyết phục: “Trong truyện hư cấu của Borges những mâu thuẫn luôn luôn tự vận động thành những sự thống nhất chỉ để giải quyết những mâu thuẫn lớn hơn, và tiếp tục như vậy cho đến vô tận. Bởi vì ông chấp nhận quá trình này, nên ông là con người hiện đại của thế giới…” [14].

Borges dành sự quan tâm đến cốt lõi của tinh thần nhân loại: vấn đề cá nhân và mô hình vũ trụ, hơn là vấn đề địa phương và châu lục Mỹ Latinh. Chính vì vậy, Borges được đánh giá như là một nhà văn thuộc về nền văn hoá quốc tế rộng lớn. Dầu vậy, cũng cần nhìn nhận thêm rằng, điều này không đồng nghĩa với việc Borges không có tính dân tộc và không có tính hiện thực. Một số tác phẩm của Borges dành cho những cánh đồng, những gaucho, những kẻ lục lâm hoang dã, những mâu thuẫn và những cuộc tranh chấp tay đôi. Chỉ có điều, đối tượng của Borges không phải là những tầng lớp, giai cấp xã hội mang một lý lịch cụ thể. Đối tượng của ông chỉ là một mảnh người, một kẻ bị lạc giữa Buenos Aires, lạc giữa quê hương của mình.

Có thể nói, cảm hứng về “bờ bến khác của thực tại” chính là niềm đam mê, sự thích thú của Borges trước những chủ đề huyền ảo, siêu hình, siêu tưởng. Trí tuệ uyên thâm, đặc biệt là những kiến thức triết học đã hòa quyện cùng khả năng hư cấu độc đáo ở Borges. May mắn là trí tưởng tượng ngoại cỡ này khi kết hợp cùng triết lý siêu hình đã không đẩy nhà văn đến chỗ khô cứng hay rối rắm. Như người làm xiếc trên dây, Borges vẫn giữ được cấu trúc hài hoà trong khi hàm chứa rất nhiều bí ẩn. “Lối viết của Borges đầy những ẩn dụ và khả năng gợi dẫn” – một lối viết đa nghĩa, giễu cợt, hài hước nhưng lại toát lên chiều sâu của triết học. Sức mạnh văn chương của Borges nằm ở lối viết nhẹ và nhạt mà Italo Calvino chọn phân tích trong Sáu điểm ghi nhớ cho thiên niên kỉ mới[15]. Đó là một thủ pháp đặc biệt để Borges xây dựng nên thế giới huyền ảo của riêng mình.

Tạm kết

Gánh vác sứ mệnh của một người dẫn dắt văn chương đến với châu lục, Jorge Luis Borges đã cống hiến cả cuộc đời cho nghiên cứu và sáng tác. Không gia đình và không con cái. Kỳ lạ hơn, Borges là nhà văn bị mù hoàn toàn vào năm 56 tuổi. Borges đã dần chấp nhận được rằng mù loà là số phận của dòng họ ông, của chính ông. Đau khổ và tận cùng bất hạnh, nhưng mù lòa đã khiến Borges nhìn thấy thế giới bằng một “con mắt khác”, một “con mắt bên trong” có thể phát hiện thế giới qua những chiều kích huyền diệu. Hiện thực mà người mù nhìn thấy là hiện thực của giấc mơ, hiện thực của những “bến bờ khác”. Tác phẩm của Borges quả thực là vắng mặt cái thực tại, vắng mặt không gian, thời gian thực tồn.

Truyện ngắn là nơi Borges thể hiện khả năng tưởng tượng như một nhà văn, và suy tưởng như một nhà hiền triết. Nhà văn mù loà khải thị những miền bí ẩn của nhân sinh, Jorge Luis Borges được gọi là Homere của thế kỉ XX.

LNP

________________

 

(*) Chữ mượn của Octavio Paz, trong bài viết “Cây cung, mũi tên và điểm đích”, trích từ Những bậc thầy văn chương, NXB Hà Nội, 2002

[1] Echevarria Roberto Gonzalez (1999), The Oxford book of Latin American short stories (Sách Oxford về Truyện ngắn Mỹ Latinh), NXB Đại học Oxford, 1999, trang 383

[2] Lois Parkinson Zamora, Wendy B. Faris (1995) sưu tầm và xuất bản, Magical realism: theory, history, community.

Nguồn: http://books.google.com.vn/books?id=Zzs_cLhfd9wC&dq=Magical+realism+of+Latin+American&source=gbs_navlinks_s, trang 145

[3] Jorge Louis Borges (2001), Jorge Louis Borges tuyển tập, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Đà Nẵng, 2001, trang 25

[4] Jorge Louis Borges (2001), Jorge Louis Borges tuyển tập, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Đà Nẵng, 2001, trang 25

[5] Octavio Paz (2002), “Cây cung mũi tên và điểm đíchNhững bậc thầy văn chương, NXB Hà Nội, 2002, trang 970

[6] Octavio Paz (2002), “Cây cung mũi tên và điểm đíchNhững bậc thầy văn chương, NXB Hà Nội, 2002, trang 972

[7] Octavio Paz (2002), “Cây cung mũi tên và điểm đíchNhững bậc thầy văn chương, NXB Hà Nội, 2002, trang 972

[8] Jorge Louis Borges (2001), Jorge Louis Borges tuyển tập, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Đà Nẵng, 2001, trang 25

[9] Nguyễn Thị Từ Huy (2009), Sự thực và diễn giải, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, trang 155

[10] Claudio Magris (2006), Không tưởng và thức tỉnh, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, trang 47

[11] Jorge Louis Borges (2001), Jorge Louis Borges tuyển tập, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Đà Nẵng, 2001, trang 89

[12] Jorge Louis Borges (2001), Jorge Louis Borges tuyển tập, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Đà Nẵng, 2001, trang 90

[13] Jorge Louis Borges (2001), Jorge Louis Borges tuyển tập, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Đà Nẵng, 2001, trang 185

[14] Nhiều tác giả (1999), Văn học Mỹ Latin, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện thông tin khoa học xã hội Hà Nội, trang 56

[15] Calvino Italo, (2007), “Những bài giảng Mỹ – Sáu điểm ghi nhớ cho thiên niên kỉ tới”, Cao Việt Dũng dịch và giới thiệu, Tạp chí Văn học nước ngoài, số1, Hội Nhà văn Việt Nam.

http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3955%3Ajorge-luis-borges-va-cm-hng-sang-tac-t-b-bn-khac-ca-thc-ti&catid=64%3Avn-hc-nc-ngoai-va-vn-hc-so-sanh&Itemid=108&lang=vi

Đạo gia Literature Văn học Mỹ Latinh Văn học Trung Quốc

Mộng – Trang Tử và Borges

Giấc mơ của bướm Trang Tử và Borges

Giữa Trang Tử ở Trung Quốc và Borges ở Argentina là hai mươi ba thế kỷ. Trang Tử sinh vào khoảng năm 369 trước Công nguyên. Borges sinh năm 1899.

Nhật Chiêu –

Bút pháp biến ảo của Nam Hoa Kinh đã đưa Trang Tử vào ngôi vị đệ nhất tài tử trong văn học sử Trung Quốc.

Bút pháp kỳ ảo của Jorge Luis Borges đưa tác giả vào ngôi vị nhà tiên tri của văn học Mỹ Latinh.

Văn chương của họ giống như những cánh bướm, thoắt ẩn thoắt hiện. Tôi thích mang Trang Tử và Borges bên mình khi lang thang trong một sớm mai đầy nắng, cùng đọc họ một lúc, trộn lẫn những trang cổ xưa và những trang hậu hiện đại, trộn lẫn Nam Hoa Kinh và Ficciones (Hư ảo), hai cuộc phiêu lãng văn chương kỳ thú nhất. Nghĩa là nghe họ nói chuyện, chơi đùa và mộng.

Mộng, đó là cuộc chơi lớn nhất của con người. Những kỳ thư tuyệt tác của Đông phương đều kể về mộng.

Như Hồng lâu mộng ở Trung Quốc.

Như Mộng phù kiều (chương cuối Truyện Genji) ở Nhật Bản.

Như Cửu vân mộng ở Triều Tiên.

Như Truyện Kiều ở Việt Nam.

Như Yogavasistha ở Ấn Độ (với 55 truyện kể về mộng).

……..

Nói về mộng trong những kiệt tác ấy lại là một câu chuyện khác mà tôi đã có dịp trình bày trong một bài nói chuyện về mộng.

Bước vào Nam Hoa Kinh là nghe Trang Tử nói về mộng. Đó là về cánh bướm, đầu lâu, chim bằng, cái bóng, ốc sên…

Bước vào Ficciones là theo Borges dấn mình vào mê cung của mộng. Đó là phế tích vòng tròn, phượng hoàng, tháp Babel, hiệp sĩ Quixote…

Mộng, đó cũng chính là bản thân Trang Tử, bản thân Borges, bản thân bất kỳ ai.

Trang Tử và Borges là hiền triết. Nhưng họ không triết lý. Sự hiền minh của họ bay giữa những câu chuyện đùa, những cuộc chơi và mộng.

Trong cuốn sách trác tuyệt về Trang Chu mang tên Cánh bướm làm bạn (The butterfly as companion), giáo sư Ngô Quang Minh nói với người đọc Trang:

“Dù sao đi nữa bạn ơi, xem như bạn hạnh phúc rồi. Bạn có thể hân hoan mà bay theo cánh bướm, phấp phới giữa mơ và thực mà không cần chối bỏ cảnh giới nào. Bạn sẽ phấp phới cùng cánh bướm kia giữa Trung Hoa cổ đại và Tây phương hiện đại. Bạn sẽ sống tràn đầy và say mê” [1].

Và trong bản dịch Ficciones (Hư ảo), John Sturrock tóm gọn linh hồn của tác phẩm Borges như thế này:

“Ông dấn mình vào cuộc chơi đùa hơn là triết lý cùng ta” [2].

Chơi đùa, ấy là phấp phới giữa mơ và thực, là biết tự cười, tự giễu nhại mình. Ai trong hàng ngũ triết gia tự đặt ra ngụ ngôn để tự đùa cợt mình như Trang Tử?

Trang Chu không thích trang nghiêm trịnh trọng.

Hãy đọc kỹ lại ngụ ngôn lừng danh về bướm của ông; một bài thơ kỳ tuyệt:

Tích giả
Trang Chu mộng vi hồ điệp
Hủ hủ nhiên hồ điệp dã
Tự du thích chí dư
Bất tri Chu chi mộng vi hồ điệp dư
Hồ điệp chi mộng vi Chu dư
Chu dữ hồ điệp tắc tất hữu phận hĩ
Thử chi vị vật hoá.
(Tề vật luận)

Xin được dịch lại như sau:

Có một lần kia
Trang Chu mộng thấy mình là bướm
Thế là phấp phới bay, bướm mà
Tự mình thích chí lắm!
Không còn biết gì Chu
Bỗng nhiên rồi thức giấc
Thì lạ lùng chưa, lại là Chu
Không biết giấc mơ Chu đã làm ra bướm
Hay giấc mơ bướm đã làm ra Chu?
Chu và bướm ắt phải khác phận
Đấy gọi là vật hóa [3]

Bài thơ này có đến hai giấc mộng:

Trang Chu – Bướm – Trang Chu.

Bướm – Trang Chu – Bướm.

Và một cái tự cười lạ thường: Ngay cả khi tỉnh mộng, Trang Tử cũng không rõ mình là Chu hay bướm.

Nhưng giấc mơ ấy chỉ là một biểu tượng. Chu và bướm tuy khác phận, ta và vật tuy khác phận nhưng làm gì có cái khác tuyệt đối. Hãy nhìn cánh bướm đang bay – có Trang Chu trong đó.

Trang Chu hóa làm bướm trong mộng. Ai biết đâu tiền thân Trang Chu hay hậu thân Trang Chu không phải là bướm?

Một buổi sáng, khi vừa thức dậy, Trang Chu bỗng thấy mình hóa thành một con bướm – Đó có thể là một câu chuyện theo lối Kafka. Đâu là mộng và đâu là thực?

Đâu không có hiện tượng vật hóa, hiện tượng biến đổi của sự vật (“things changing” theo cách dịch của Ngô Quang Minh và “the transformation of things” theo Phùng Hữu Lan).

Bình chú cuối chương Tề vật luận, Phùng Hữu Lan cho rằng:

“Vật hóa minh xác rằng sự khác biệt giữa những sự vật không phải là tuyệt đối” [4]

Và cũng có thể hiểu rằng vật hóa nói lên bản chất mộng ảo của sự vật; bản chất mà Shakespeare đã nêu lên trong vở Bão tố (The Tempest):

Ta và giấc mộng
Làm bằng chất liệu như nhau,
Và cuộc đời ta nhỏ bé
Hoàn tất bằng một giấc ngủ thôi.

(We are such stuff
As dreams are made on,
And our little life
Is rounded with a sleep)

Vậy thì Trang Tử, giấc mơ và con bướm làm bằng chất liệu như nhau. Đấy chính là Tề vật luận vậy.

Chất liệu mộng ảo ấy thể hiện trong truyện Phế tích vòng tròn của Borges ở tập Ficciones như sau:

Có một phế tích vòng tròn vốn xưa là một ngôi đền bị lửa hủy hoại, giờ đây hầu như chôn lấp trong rừng. Một người lạ từ phương Nam đến và “ông biết rằng bổn phận cấp thiết của ông là mộng”.

Ông muốn mơ ra một đứa con trai. Hằng đêm ông mơ và từ từ sáng tạo nên một đứa con trai trưởng thành từ chất liệu của mộng ảo.

Cuối cùng đứa con trai cũng thành hình. Ông hôn nó lần đầu và bảo nó đi đến một ngôi đền khác cách nhiều dặm đường rừng. Sợ nó biết rằng nó chỉ là ảo ảnh, ông đã hủy đi ký ức về việc thành người của nó.

Đứa con trai đi đến ngôi đền phương bắc, chẳng bao lâu được biết như là người có phép lạ, đi vào lửa mà không cháy. Tin tức này làm cho ông, người phù thủy già lo âu. Chỉ có Lửa là kẻ độc nhất biết ảo ảnh. Lửa không thể thiêu cháy được ảo ảnh. Đứa con trai sẽ ra sao nếu như nó biết được mình chẳng qua chỉ là mảnh vụn phóng chiếu từ giấc mơ của người khác.

Sau đó, một trận hạn hán dài đã gây nên cháy rừng và lửa tấn công nốt vào phế tích vòng tròn.

Người phù thủy già định chạy xuống nước. Nhưng rồi ông quyết định chấp nhận cái chết, đi thẳng vào lửa. Nhưng sao lửa không thiêu cháy da thịt ông mà chỉ nhẹ nhàng mơn trớn?

Và câu chuyện kết thúc: “Với cảm giác lắng dịu, nhục nhã và cả kinh hoàng, ông hiểu rằng ông cũng chỉ là một ảo ảnh mà ai khác đã mơ ra” [5]

Trang Chu tự hỏi: Hồ điệp chi mộng vi Chu dư? (Giấc mơ của bướm đã làm ra Chu ư?)

Người phù thủy già cũng gần như tự hỏi: giấc mơ của ai khác đã làm ra ta?

Nhưng Borges viết: “Ông hiểu rằng ông cũng chỉ là một ảo ảnh”. Vậy thì chỉ có ảo ảnh. Vị trí của người phù thủy là vị trí của cái ảo, của giấc mơ.

Trong khi đó, Trang Chu nói: “Bất tri” (Không biết giấc mơ Chu đã làm ra bướm…). Vậy thì vị trí của Trang Chu hay con bướm là không hẳn ảo ảnh cũng không hẳn thực mà là phấp phới giữa ảo và thực.

Có nghĩa là Trang Tử không chấp nhận vào một bên ảo hay một bên thực. Ông chơi đùa với cả giấc mơ và hiện thực. Chính vì thế mà Ngô Quang Minh nói rằng Trang Tử có “vị trí của không vị trí” (a position no position):

“ Như vậy, vị trí của Trang Tử là một vị trí của không vị trí, vượt qua vị trí những người khác bằng cách tiêu dao nhàn tản giữa họ” [6].

Trong đoản văn Borges và tôi, Borges cũng nói đến cái không biết, cái bất tri, cái vị trí của không vị trí, tất nhiên là theo phong cách của riêng ông; và đó cũng là trò chơi, là tự cười:

“Về Borges, tôi nhận ra các tin tức từ bưu điện và tôi nhìn thấy mặt ông trong một bộ ba các bậc thầy hay trong một cuốn từ điển danh nhân. Tôi thích thú những chiếc đồng hồ cát, các tấm bản đồ, việc in tipô thế kỷ XVIII, môn từ nguyên học, vị cà phê và văn xuôi Stevenson; kẻ kia cũng chia sẻ những sở thích đó nhưng bằng một phương thức ồn ào mà biến chúng thành những phẩm chất của một nghệ sĩ. Sẽ là cường điệu việc khẳng định quan hệ chúng tôi là thù nghịch; tôi sống và tôi để mình sống, để cho Borges có thể dệt nên văn chương của mình và văn chương ấy sẽ phán xử tôi… Nhưng tôi nhận ra mình trong những cuốn sách của ông ít hơn so với những sách khác hoặc trong tiếng gảy trau chuốt của một cây ghita. Từ mấy năm nay tôi muốn tự giải thoát khỏi ông và tôi đã đi từ những huyền thoại đến những trò chơi bằng thời gian và bằng điều vô tận, nhưng những trò chơi ấy đều là của Borges bây giờ. Và tôi cần phải nghĩ ra các trò chơi khác. Như thế cuộc đời tôi là một cuộc chạy trốn và tôi đã mất tất và tất cả là của sự lãng quên hoặc của kẻ khác.

Tôi không biết ai trong số hai người viết trang này” [7].

Chừng như tác giả mỉa mai: Borges đang viết hay là cái tôi đằng sau Borges đang viết.

Tương tự như thế có thể hỏi: Trang Tử đang kể chuyện hay cái đang mơ của Trang Tử đang kể?

Borges rất quan tâm đến câu chuyện giấc mơ về bướm của Trang Chu. Trong tiểu luận sắc sảo Sự phản chứng mới của thời gian, Borges ca ngợi mỗi khoảng khắc hiện tiền mà ta sống và mơ mộng. Khoảng khắc mà ông chọn để dẫn chứng là giấc mộng Trang Chu:

“Tôi phủ nhận sự tồn tại của chỉ một thời gian, thứ thời gian trong đó tất cả mọi sự kiện đều được sắp xếp theo thứ tự… trong một số lớn các trường hợp, tôi phủ nhận cái nối tiếp; trong một số lớn các trường hợp tôi phủ nhận cái đồng thời” [8].

Borges muốn nói rằng không có không gian tuyệt đối cũng như không có thời gian tuyệt đối. Không có cái tuyệt đối trong trò chơi của vũ trụ. Cũng như đối với Trang Chu, vũ trụ là trò chơi vật hóa.

Borges tiếp tục: “Mỗi khoảng khắc của chúng ta sống là tồn tại thực sự, chứ không phải là tập hợp tương tự của nó… thời gian cũng sẽ không tồn tại ở bên ngoài mỗi khoảng khắc hiện tại. Chúng ta hãy chọn một khoảng khắc đơn giản nhất; ví dụ, khoảng khắc của giấc mơ của Trang Chu… Trang Chu mơ thấy mình là một con bướm. Nếu không gian và cái tôi đã bị xóa bỏ thì làm sao chúng ta có thể gắn liền những khoảnh khắc ấy với khoảng khắc của việc tỉnh dậy với thời đại Trung Hoa” [9].

Sự khác biệt của sự vật, sự khác biệt của những khoảng khắc không phải là tuyệt đối. Dù vậy, Trang Chu vẫn là Trang Chu, Bướm vẫn là Bướm. Không có tuyệt đối nối tiếp, cũng không có tuyệt đối đồng thời.

Đó là chỗ Borges gặp Trang Chu trong tinh thần Tề vật luận.

Cũng là tinh thần Hữu thời (Uji) của thiền sư Dôgen (Đạo Nguyên) ở Nhật thế kỷ XIII. Thiền sư nói:

“Bởi vì đi qua là một phẩm tính của thời gian, thời gian quá khứ và hiện tại không chất đống, không tập hợp theo một dãy – tuy nhiên Thanh Nguyên là thời gian, Bách Trượng cũng là thời gian, Mã Tổ và Thạch Đầu cũng là thời gian. Bởi vì mình và người khác là thời gian, tu hành và chứng ngộ là thời gian. Đi vào trong bùn, đi vào trong nước cũng là thời gian” [10].

Trang Chu đi vào trong mộng, hóa bướm. Đó là khoảng khắc của riêng ông nhưng đồng thời cũng chạm vào khoảng khắc mộng ảo của chúng ta. Chính vì thế mà Bashô mới nhập vào hồm bướm của Trang Chu trong bài haiku kỳ ảo:

Em là bướm ư
Ta là giấc mộng
Trong hồn Trang Chu.
(Kimi ya chô
ware ya sôshi ga
yume gokoro)

Và Borges mới dẫn dắt chúng ta lang thang qua mê cung của những giấc mộng.

Vật hóa chính là Ảo hóa (Maya).

Khi nói rằng bản chất của thế gian là mộng ảo, điều đó không có nghĩa là không có thế gian. Hình ảnh cánh bướm của Trang Tử bay lượn giữa hai bờ mơ – thực cho thấy rằng vũ trụ là một trò chơi (Li La).

Thế cho nên, Trang Tử và Borges tha hồ chơi đùa với Không gian và Thời gian.

Chơi đùa và làm bạn với cánh bướm lãng du của những khoảnh khắc mộng ảo vô thường.

Chơi đùa?

Khi biết mình lạc lối trong mê cung của Thời gian, con người biến cuộc đi lạc của mình thành chơi đùa. Và từ đó, con người tự làm ra thời gian. Tư tưởng Borges dường như theo sát Thiền sư Dôgen mà ta đã trích dẫn bên trên khi Borges nói rằng: “Thời gian là thứ vật chất tôi làm ra. Thời gian là một dòng sông cuốn tôi theo nhưng tôi là dòng sông ấy, là một ngọn lửa thiêu rụi tôi nhưng tôi là ngọn lửa ấy” [11].

Với Dôgen, Hữu là Thời (U là Ji), tất cả cái đang hiện hữu là thời gian [12].

Những tác phẩm của Borges “có một đề tài duy nhất, đó là thời gian… và cả những ý muốn vô ích nhằm xóa bỏ thời gian” [13].

Do đó, Borges là giấc mộng, là dòng sông, là ngọn lửa, là tất cả cái đang hiện hữu trong khi vẫn liên tục là Borges. Octavio Paz đã diễn tả điều đó như thế này: “Ông đi tìm tư tưởng và bắt gặp thực tại của một Borges vốn liên tục tự tách mình trong các lần hiện diện. Borges luôn là Borges khác được bóc ra trong những Borges khác cho đến vô tận” [14].

Như khi ta bóc vỏ hành. Từng lớp vỏ của củ hành sẽ rời ra cho đến khi không còn gì. Từng lớp vỏ ấy là mộng tưởng.

Trang Chu thức dậy, bóc mình ra khỏi bướm hay bóc bướm ra khỏi mình thì cũng vậy. Trang Chu và Borges bóc từng cái bóng của mình, ném đi trong gió loạn.

Thiên Tề vật luận kể rằng:

“Cái bóng của cái bóng hỏi cái bóng:

– Lúc nãy anh đi, bây giờ anh ngừng. Lúc nãy anh ngồi, bây giờ anh đứng. Tại sao anh không có thái độ độc lập vậy?

Cái bóng đáp:

– Tôi sở dĩ như vậy là vì tùy thuộc một cái gì. Cái gì đó lại tùy thuộc một cái gì khác. Tôi tùy thuộc một cái gì thì cũng như con rắn tùy thuộc vảy của nó, con ve tùy thuộc cánh của nó. Làm sao tôi hiểu được cái gì làm cho tôi lúc thì thế này, lúc thì thế khác” [15].

“Cái bóng của cái bóng” (Võng lưỡng, Penumbra) là mộng của mộng, ký hiệu của ký hiệu. Là mộng, huyễn, bào, ảnh.

Vũ trụ có bao nhiêu cái bóng? Mỗi người có bao nhiêu cái bóng? Bông hồng có bao nhiêu cái bóng? Và cánh bướm…?

Cái bóng này tùy thuộc cái bóng kia. Thế giới là trò chơi của tương dữ (hsiang yu) và tương đãi (hsiang tai).

Đó cũng là trò chơi của mộng và thực.

Thế giới của Trang Tử cũng chỉ là những ẩn dụ, chỉ là những cái mà ông gọi là ngụ ngôn, trùng ngôn hay chi ngôn.

Đó chỉ là lời. Và Trang Tử chỉ ao ước được trò chuyện cùng “người biết quên lời” (vong ngôn chi nhân).

Trung Quốc của Trang Chu, Châu Mỹ của Borges chỉ là những cái tên khác nhau được xây dựng bằng ngôn từ, bằng giấc mộng. Và khi chúng ta đi vào đấy, chúng ta lại bắt gặp mình. Octavio Paz lại nhận định về cái thế giới ma ảo của Borges như sau:

“Hầu như toàn bộ tác phẩm của Borges… giả định sự không hiện tồn của châu Mỹ. Cái thành phố Buenos Aires của Borges là hết sức không hiện thực, như những thành Ninive của ông. Những thành phố ấy chỉ là những ẩn dụ, là những giấc mộng. Là những tam đoạn thức. Ai nói ra cái ẩn dụ ấy? Giấc mơ khác vốn được gọi là Borges. Thế còn giấc mơ kia? Giấc mơ khác đấy! Từ trong ngọn nguồn, ai đó mơ; nếu người đó tỉnh dậy thì thực tại được mơ thấy kia sẽ tiêu tan ngay. Dưới bản án tử hình chúng ta bị phán quyết phải mơ thấy một Buenos Aires vốn là nơi một Borges mơ. Tác phẩm của nhà thơ này không chỉ đòi hỏi sự không hiện tồn của châu Mỹ mà còn đòi hỏi cả tính không thể tránh được của sự sáng tạo của ông” [16].

Tương tự thế, chúng ta mơ thấy cánh bướm mà Trang Chu mơ.

© eVăn 2004

________________

Chú thích:

[1] Kuang–ming Wu, The Butterfly as Companion, State University of New York press, 1990, Trang 5: “In any case, dear reader, count yourself fortunate. You can enjoy and follow a butterfly fluttering back and forth either, dream and reality without denying either. You will flutter with it between ancient China and the modern West. You will live vigorously and zestfully”.

[2] Jorge Luis Borges, Ficciones, lời giới thiệu của John Sturrock, Everyman’slibrary, New York, 1996, trang XXIV: “He was committed to play rather than to philosophy…”

[3] Dựa vào bản dịch chữ Hán và Anh dịch trong sách đã dẫn ở chú thích 1 đầu tiên.

[4] Fung Yu-lan, A Taoist classic Chang–Tzu, Foreign languages Press, Beijing, 1989, tr.55 : “The transformation of things” proves that the differences among things are not absolute.”

[5] Bản Anh dịch The Circular Ruins trong tập Ficciones, sách đã dẫn ở chú thích 2, trang 44 : “With relief, with humiliation, with terror, He understood that He also was an illusion, that someone else was dreaming him.”

[6] Sách đã dẫn ở chú thích đầu tiên, tr.7.

[7] Jorge Luis Borges tuyển tập, Nguyễn Trung Đức tuyển dịch, NXB Đà Nẵng, 2001, trang 300 và 301.

[8][9] Nguyễn Trung Đức dịch, sách đã dẫn ở chú thích 7, trang 168, 469, 479 và 481.

[10] Thiền sư Đạo Nguyên, Chánh pháp nhãn tạng (Shôbôgenzô), Nguyễn An Cư dịch, Thiện Tri Thức, 2003, trang 157.

[11] Theo Octavio Paz, Thơ văn và Tiểu luận, Nguyễn Trung Đức tuyển dịch, NXB Đà Nẵng, 1998, tr.360.

[12] Tlđd, tr. 361.

[13] Tlđd, tr. 349.

[14] Xem Dôgen, Moon in a Dewdrop, Kazuaki tuyển, Element Books, 1985, tr. 76
và Chánh pháp nhãn tạng, Thiện Trí Đức, Nguyễn An Cư dịch, tr. 154.

[15] Trang Tử, Nguyễn Hiến Lê dịch, NXB Văn hóa, 1994, tr. 174.

[16] Octavio Paz, Tlđd, tr. 145.

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/giac-mo-cua-buom-trang-tu-va-borges-1974170.html

Literature Văn học Việt Nam 中文

从越南俗文学文献看敦煌文学研究和文体研究的前景

王小盾

内容提要 越南所存的五千多种汉喃文古籍,是有待中国学术界去认识和利用的宝贵文献。本文着重介绍了其中俗文学古籍及其在内容、性质上与敦煌文献的同一性,进而讨论了敦煌文学研究和中国文学文体理论的发展前景。本文认为,越南古籍反映了作家文学、民众文学两个文学世界的对立和沟通。它所具备的多种艺术手段交互为用的特点,折射了中国古代俗文学的生存方式。其中普遍存在的杂抄现象、兼类现象和文体游移,说明俗文学文体的存在是超越书面文本的存在。文学史上的文体包括本原的文体、转述的文体、记录的文体三个层面。前者对后者的决定作用,造成了丰富多样的文体相关,造成了从转述者角度命名文体的习惯,也造成了作为表现手段的文体派生作为篇章体制的文体的现象。本文主张依讲唱手段或传播方式来区分文体,通过对作品艺术手法组合方式的系统考察,来解决文体确认问题。

关键词 越南文献 敦煌俗文学 文体

一、越南的汉喃文古籍

 

越南是浸染汉文化最深的一个国家。越南的拉丁文字出现于17世纪中叶,到20世纪40年代才成为法定文字。汉字作为主流文字的历史,在越南长达两千年。从公元8世纪开始,越南就实行了以推行汉文化为实质的科举制度。此后经李朝的复兴、黎朝和阮朝的极盛,这种制度持续实行到1919年。也就是说,科举史在越南比在中国本土还要绵长。以上情况促使大批汉文古籍流传到越南。这些典籍既是越南古代文学和古代历史学的主要载体,也是传播于  越南的中国文化的主要载体。

随着汉语文的流传,越南人创造了一种利用汉字的表义表音功能来拼写越南口语的新文字,俗称“字喃”或“喃字”。喃字据说创始于东汉末年的交州太守士燮,此后经过了用汉字来拼音,记写人名、地名、草木名、禽兽名的阶段,以及系统制作喃字以表意的阶段。后一阶段开始于13世纪,以陈朝刑部尚书阮诠的《祭鳄鱼文》(1282年)和黎朝初年(1428年)的《国音诗集》为标志。18世纪以后,喃字文学因通俗文艺的发展而蔚为大国。

古代越南人在按中国习惯撰作图书的同时,也按中国的目录学传统编制了一批目录。这样的目录有《黎朝通史·艺文志》(1759年)、《历朝宪章类志·文籍志》(1821年)等二十多种。其中《聚奎书院总目册》反映了明命时代(1820—1840年)聚奎书院的藏书情况:四部图书共有近四千种,包括经部图书776种、史部图书712种、子部图书1 081种、集部图书1 089种。越南气候炎热潮湿,木版和纸制品都不容易保存,故到20世纪,公私所藏古籍在数量上增长不多。据1951年的统计资料,当时设于河内的法国远东博物学院图书馆所藏汉喃文古籍共三千五百种,另外藏有两万五千件碑文拓片和两千四百种玉谱、神敕、地簿、社志。据1977年成书的《汉喃书目》,当时藏于河内国家图书馆的汉喃古籍共有5 555种。到1993年,以越、法两种文字印行的《越南汉喃遗产目录》(Catalogue des Livres en Hannom)著录了越南古籍5 038种、16 164册,其中中国书重抄重印本1 641册、越南人所著汉文书10 135册、喃文书1 373册;其余为杂用汉喃两种文字的图书。这些数字,反映了主要两宗越南汉喃文古籍——藏于河内汉喃研究院、巴黎远东博物学院两院图书馆并予编号的越南汉喃文古籍的概况。

最近几年,我两次前往河内,在越南学者以及何仟年、朱旭强等中国青年的帮助下,对以上几种书目做过仔细核实和修订,按四部分类法编成《越南汉喃文献目录提要》(下文简称《提要》)一书。此书著录汉喃文古籍5 027种,其中文学资料分布在经部诗类、史部传记类、地理名胜类和集部各类,约近两千种,在越南现存古籍中占有百分之四十的比重。

 

二、汉喃古籍中的俗文学文献

 

越南古籍的结构和风格,大致相当于中国古代地方图书馆的藏书。其特点是富于应用成分和地方特色。在越南的集部书中也包含了大量俗文学文献。其中最重要的是以下几个类别:

(一)俗赋

在越南,赋是一种富于应用性的文体,按其所使用的文字可分两类:汉文赋集41种,多是举业所用之书;其中喃文赋集11种,多是讲唱所用之书。后者即所谓“俗赋”。

越南俗赋有三个特点:其一,赋文多为叙事之体,多用汉代的历史事件为题材。例如《韩王孙赋》之韩信、《张留侯赋》之张良,均为楚汉战争时的人物。这些赋作且往往署有作者姓名,表明俗赋是一种具有中国渊源、有越南文化人参预的越南俗文学体裁。其二,赋文风格谐谑,文体或骈或散,或有韵或不韵,形式自由,富讲唱色彩,风格接近敦煌俗赋。其中《生农熟农问答辞》用谐谑手法讽刺世情,在抄本中分两栏书写,上栏为汉文,下栏为其七七六八体喃译。说明这种通俗喃赋乃由汉文赋转变而来。其三,这些作品往往与其它俗文学作品合订,表明俗赋是在口头流传的作品。用喃文书写,这正是越南俗赋流传于口头的证据。

在越南俗赋中,有一种讲述刘平、杨礼科场情谊的汉文赋,今存印本、抄本共十种,其中八本与俗赋、喃诗传或喃歌合订。在流传过程中,此《刘平赋》亦曾由汉文俗赋移植为韵文小说(如六八体喃诗传《刘平杨礼事迹演音》)、戏剧(如戏《刘平演歌》)和曲艺(如嘲戏《刘平》)。这些迹象进一步证明:越南俗赋是来自中国的俗文学品种 [1],同它性质最相近的文艺体裁是喃诗传、戏和喃歌。由于前一种关系(渊源关系),它在越南有多种“演音”(译为口语文本)的形式;由于后一种关系(共生关系),它首先移植为喃诗传和戏,并因欣赏习惯的关联而与作为通俗歌曲的喃歌合抄为一书。

(二)六八体喃歌

六八体指的是以六言八言相间为主要句式的韵文体裁,包括“六八六八”、“七七六八”两种类型。此体大多用喃文,故又称“国音诗”。但其格律接受汉语近体诗的影响,将平、玄、问、跌、锐、重等六声分为平仄两类,以两字为一音节作平仄声的更换,因此是一种艺术文体。关于其缘起,《琵琶国音新传》序有云:“我国国音诗始于陈朝韩诠,继乃变七七为六八,而传体兴焉。”(乔莹懋1891年序)“北人以文字求声音,文字便成腔调;南人以声音求文字,声音别具体裁。”(失名1901年序)可见六八体产生在陈朝以后,通过“以声音求文字”的方式形成,贴近口语和口头传播方式,是在汉语七言诗影响之下产生的越南民族诗歌的体裁。

由于六八体同喃文的关联,在越南四部古籍中都有六八体形式的作品。这些作品表现了鲜明的通俗性和叙事性。例如子部使用六八体数量最多,尤多见于医药歌诀、劝善文、祭祀仪式上的赞文和嘲文。劝善文的功能和降笔文(以神灵的名义劝善)一致,赞文和嘲文则是讲唱文,这说明六八体是一种宜于唱诵的文体。

但从狭义文学的角度看,作为俗文学作品的六八体文献仍然集中见于集部。其中一种主要体裁便是富于抒情色彩的六八体喃歌。这种喃歌书共约30种,其中有用于男女对唱的情歌歌本,有以相思、旅愁、旷女、王昭君为题材的抒情诗,还有若干种以流行汉文诗篇为对象的喃译作品(包括白居易诗的喃译本《琵琶行演音歌》、《长恨歌演音新传》)。这些作品被很多书籍附载,说明六八体喃歌是一种为群众喜闻乐见的通俗说唱形式。

(三)陶娘歌

陶娘歌又称“歌筹”,是一种由艺妓表演的曲艺形式。其特点是一人主唱而以带琴、拍板、小鼓伴奏,往往使用“汉越语”来歌唱唐宋诗赋。因其主唱者称“陶娘”或“桃娘”,故名“陶娘歌”;因传统的点歌、评歌方式是投签方式,故又名“歌筹”。许多迹象表明,歌筹是有中国渊源的。唐代饮妓歌唱小曲,即往往以筹箸为点歌记令的工具。[2]陶娘唱唐宋诗赋时所用的“汉越语”,其传入越南的时间大体上在中唐前后。[3]关于筹歌、妓歌的唐五代资料,亦指示了“歌筹”等名称的唐代来源。

现存关于歌筹的典籍,在汉喃研究院有37种。诸书均以喃文为主体,而间用汉文。其内容,主要是记录歌筹的歌调和曲辞,例如常见曲辞有《前后赤壁》、《长恨歌》、《刘阮入天台》、《滕王阁序》、《琵琶行》、《织锦回文》、《红红雪雪》、《进酒曲》(李白《将进酒》)等。此外,诸书叙述了演奏鼓、琴、板的方法,解释了关于歌唱的理论和制度名物,并记录了歌曲的工尺谱。

作为具俗文学性质的典籍,歌筹之书有两个特点:一是书中往往杂抄喃文赋、六八体喃歌等其它体裁的俗文学作品,二是出现了一批文人的歌筹辞集。后者表明陶娘歌造成了一种新的文人拟作风尚。

(四)小说

在越南古籍中,小说是比重甚大的部类,《提要》共著录140种图书。但这只是一个狭义的统计。若把“小说”定义为有情节、有人物、有虚构成分的叙事作品,那么,史部传记类的106种神灵传记,以及人物传记中的大部分(约一百种),也可合理地归入小说范畴。

关于越南古代小说的数量、范围、类别及其渊源,《〈越南汉文小说丛刊〉和与之相关的文献学问题》一文[4]曾做详细论述。此文把越南古代小说分为笔记、传奇、诗传、章回小说等四类,认为它们在小说发展史上的位置分别对应于中国汉以来的笔记小说、六朝以来的传奇小说、宋以来的市人小说、明清时代的章回小说。其中诗传是依越南本土叙事传统而建立的文体,同宋以来的市人小说—样,源于以人物事迹为主题的讲唱艺术。其它三类则明显具有中国渊源。例如笔记小说(富于记实特点的短篇故事)中较为典型的作品《公余捷记》,录80则故事而分为叹怪、名儒、世家、名臣等12目,明显接受了中国笔记体文学的影响。[5]又如传奇小说(富于虚构成分的中短篇故事,区别于“诗传”的特点是以事件而非人物为中心)存书四十多种,其中喃文书(13种)多为汉文故事的喃译,汉文书(36种)则可分为神灵故事、怪异故事两种类型。神灵故事以《越甸幽灵集》、《岭南摭怪》为代表,内容为祠庙所供奉的历史人物和传说人物的传记;怪异故事以《传奇漫录》、《传奇新谱》为代表,大致是在《剪灯新话》等中国小说影响下产生的作品。

越南小说中文化内涵较为复杂的体裁是章回小说和诗传。章回小说(以章回划分段落的白话小说)存书近二十种。其中汉文书皆为长篇历史小说,内容反映自公元1400年以来的史实,次第相接,由作家撰作;喃文书皆诗传体,分别以猪状元、琼状元、董天王、碧沟坊名士等为主人公,表现方法接近于越南本土的事迹传。二者反映了书面文学与口头文学的二分。前者(汉文章回小说)皆是知识分子的作品,往往使用“且看下回分解”(而非“且听下回分解”)一类同阅读相联系的语言,有强烈的纪实性质,所依据的是中国章回小说、越南历史散文这两种书面文学的传统。[6]后者(喃文章回小说)则是越南本土的口头文学传统的反映。这一点亦可由喃文小说《桃花梦记》见出。按《桃花梦记》由《会真记元生小传》、《桃花梦兰娘小传》及其喃译诗传三书合成,题材脱胎于唐传奇元稹《会真记》,略云元净与歌伎玉兰结为连理,一日,兰娘梦见自己是翠翘后身,元生是金重转世,因情债未还,此生得以团圆十五年云云。这里的转世还债的细节便是按越南民众的审美心理增加的[7]。此书目录记喃诗传共二十回,今一本残存八回,六八体;另一本仅载《会真记元生小传》、《桃花梦兰娘小传》,无喃诗:可见章回体喃诗传较其传奇故事后起。也就是说,章回体喃诗传是越南的一种口头文学样式。当越南作家按本土讲唱传统对来自中国的传奇、章回小说进行加工之时,便形成了这一体裁。

诗传则是富有越南本土特色的叙事文体。它往往以一个人物、一个时代为叙述的单元,故也称作“事迹”。其形式多为越南本土体裁六八体,喃文,故就其主体又可称为“喃诗传”。现存喃诗传主要有两种类型:其一讲述男女之情缘,其二讲述英雄之生平。它们分别反映了诗传本土传统的二分,即联系于娱乐性讲唱的情缘故事传统和联系于仪式性讲唱的英雄故事传统。例如《梦贤传》讲述有情人终成眷属的故事,于传文中穿插喃文六八体“曲弹浪”和“诗浪”,便表明了情缘题材的喃诗传同越南民间讲唱的联系。而《提要》史部传记类则著录了大批人物传记和神传记。它们往往以“传”或“事迹传”为名,往往采用六八体诗传的形式,表明仪式讲唱和神话说唱亦是越南小说的古老的本土来源。

尽管如此,在喃诗传中依然可以看到中国文学的影响。事实表明,群众所喜闻乐见的诗传题材,常常来自中国的戏剧或小说,例如昭君贡胡、刘阮入天台、蔡邕与赵五娘、西游、再生缘等,其作品不下二十种。此外一个典型是关于梅良玉、胡杏元爱情故事的喃诗传,作品包括:(一)《二度梅演歌》,间用汉喃两种文字,每段喃诗前略抄汉文“原诗”,进而以“演音”方式演绎其内容; (二)《二度梅精选》,共十三回,其回目有如中国小说,云“第一回,梅公改任历城县,唐帝征拜谏议郎”云云; (三)《润正忠孝节义二度梅传》,每页印为上、中、下三栏,上栏汉文,以七言诗与散文相间的方式,概括叙述各回的故事内容,中栏、下栏喃文,分别为《二度梅演歌》的六言句和八言句。这些情况说明:喃诗传是以汉文小说为祖本的。中国的戏剧小说曾在越南民众中流传,并在流传过程中孕育了喃诗传这一形式。从接受者一面看,喃诗传反映了越南民众对中国故事题材的选择,故上述故事多是“情缘”故事;从传送者一面看,喃诗传反映了多种艺术形式的综合,故喃诗传的“诗浪”、段落分割等等可以看做中国小说文体的遗痕。

(五)嘲歌和戏

嘲歌和戏分别是越南的曲艺品种和戏剧品种。嘲歌采用富于民间特色的表演唱方式。所唱往往有角色、有情节,故又称“嘲戏”或“ ”;所唱若无角色和情节,则称“嘲歌”或“嘲文”。嘲文同时是民间宗教——母教的歌唱文体。

同嘲歌相比,戏有更明显的汉文化成分。其一,尽管它使用越南本土的表演方式,但其题材往往来自中国。其二,大批戏作品以“演歌”、“演传”为名,例如《刘平演歌》、《三国演歌》、《西游记演传》、《唐征西演传》等。如果说越南古籍中的“演”意味着语文上的翻译(“演音”)或体裁上的改编(“演歌”和“演传”),那么,戏便是在《说唐》、《三国演义》、《西游记》等汉文小说广泛流行的背景下形成的。

 

三、结合越南俗文学文献研究敦煌文学的前景

 

综上所述,越南汉喃文古籍是内容和意义都很特殊的文献。它具有强烈的通俗化色彩,并以广泛使用俗文学手段为特色,这样便形成了一种特殊的典籍结构。如果说文学典籍在越南汉喃文古籍中占有五分之二的比重,那么乐观地看,俗文学文献在文学典籍中达到了五分之二的比重。若从功能角度(用于娱情)定义文学,则越南俗文学文献约为四百种;若从文体角度(使用美文)定义文学,则越南俗文学文献可达七百种。这种结构与风格,非常接近20世纪初发现的敦煌写本文献。

越南汉喃文古籍同敦煌写本文献的相似,可以归结为两者在文化上的同一性。例如,越南古籍往往杂抄成书,在传播方式上和敦煌文献一致;越南古籍中容纳了大批社会经济档案和大批中国文学史上已失落的品种和作品,在内容特点上和敦煌文献一致;俗文学作品的作者大都是思想和修养都迥异于传统作家的下层文化人,这种文化性格也和敦煌文献一致。这些情况提醒我们注意同民俗社会相对应的那个书籍世界。越南文献和敦煌文献既然同属于这个世界,那么,理应把它们同时纳入研究者的视野。兹举四例加以讨论。

(一)俗赋研究

敦煌俗赋是在现存典籍中几乎被湮没的文体。狭义的“俗赋”指用俗语作成的故事体赋文;广义的俗赋则指所有具故事性、趣味性、知识性因而适合于向大众口诵的作品。后者实际上包括敦煌所发现的各种唐五代赋文,因为这些赋文都具有某种表演艺术特点——例如以人物问答为作品主体、使用讲唱套语、采用俚言俗语等。俗赋代表了一种同传统赋文相区别的文体。如何认识这些作品?其渊源如何?这是敦煌文学研究者讨论已久的问题。

越南文献为解决上述问题提供了重要佐证。因为无论从题材角度看,还是从表现方法角度看,越南俗赋都表现了同敦煌俗赋的血缘联系。越南俗赋讲述孔子以及张良、韩信、萧何、王陵等楚汉战争时期的人物故事,敦煌俗赋亦喜用晏子、渔夫和汉武帝时的题材。这表明俗赋一体的流行可以追溯到汉代。越南赋的雅、俗之分表现为汉文赋与喃文赋之分,其实质是书面文学与口头文学这两种文学传统之分。这又提示我们:《汉书·艺文志》所谓“不歌而诵谓之赋”,是完全适用于俗赋的一个定义。无论是越南俗赋,还是敦煌俗赋,都可以看做“保存了古老的韵诵传统的讲唱艺术体裁”[8]。从汉代开始兴盛的文人赋,其实是从这一传统中逸出的分支。

在敦煌写本中有一种《汉将王陵变》,讲述楚汉之战时王陵之母劝子效忠汉王刘邦的故事。它的体裁(韵散结合)和题记(“从此一铺,便是变初”,“有人读讽者,请莫怪也了”)表明,其唱诵方式接近于俗赋——既有大段的“读讽”,亦有局部情况下的演唱。因此,即使从表演角度看,敦煌《王陵变》和越南《王陵赋》亦可作比较研究。按越南《王陵赋》为喃文赋,今存印本一种,共470字,其起首129字可逐字对译如下:

南天月月(意为时光流逝),月光燎燎。东南海黥布叩头,西北林豺狼蜷脚。王圣基立成栋梁,村民家夜不闭户。士勤谨传授圣贤,民人人担云锄风。

话说缘起:

汉王陵实为忠臣,逢天时汉楚争雄。陵决意一心事汉,时项羽雷霆振汉。取陵母置于军中,王陵母意志坚决。告其子善事汉王,破秦灭楚,助汉王成就帝业。母兮何智,子兮何忠,留一门千古美名。

这里的叙述方式颇不同于《王陵变》:《王陵变》是对故事的叙述和描写,《王陵赋》则是对故事的歌咏与评论。但《王陵赋》末尾“天子万年”的套语却表明,其讲唱特性是不容否定的。这意味着什么呢?意味着《王陵赋》只是一篇完整的讲唱作品的一部分,另一部分是王陵故事本身;意味着讲经文与押座文的搭配关系也出现在变文、俗赋等体裁之中,《王陵变》和《王陵赋》很可能是同一场讲唱的两段底本。

有一个事实可以证明这一推测:敦煌变文的散说部分大量夹杂了赋体或骈体,以至在研究者中产生了变文起源于赋文之说和故事赋为变文支流之说。[9]另外,在中国古代,像这样的多种文体结合为用的情况是并不稀见的。中古时期曾流行过两种类似现象:一是同一主题内容既以赋、又用诗来表述。例如曹丕既写了《寡妇赋》,又写了《寡妇诗》;西晋张华既撰有《感婚赋》,又撰有《感婚诗》。二是同一主题既写为韵文文体,又写为非韵文文体。例如西晋张敏以《神女传》、《神女赋》重复叙述了弦超与成公智琼的仙凡恋爱故事,东晋曹毗撰有《神女杜兰香传》和多篇《杜兰香歌诗》,陶渊明则同时写作了《桃花源记》和《桃花源诗》。这其实是古代讲唱艺术兼说兼唱之习惯的反映。显而易见,这一现象也会出现在敦煌俗文学文本当中。鉴于敦煌俗赋同表演艺术之间的紧密联系,鉴于敦煌文学作品往往用作某一讲唱活动的片段(例如《子灵赋》是“用于某一说唱节目开篇和终场时的诵辞或唱辞”[10]),鉴于敦煌俗文学的许多文本在越南俗文学文献中得到了保存(详下文)——可以推测,越南《王陵赋》与敦煌《王陵变》很可能是彼此关联、彼此补充的两个文本。也就是说,二者是敦煌文学不同文体搭配现象[11]的一个特殊表现。

(二)曲子辞研究

曲子辞是按隋唐燕乐曲调谱写的歌辞,在敦煌写本中大约有一千首的规模。因其有调名、有固定辞式,文学研究者关注它,视之为词的前身;又因其配合曲子歌唱,音乐研究者关注它,将它用做唐传古乐谱研究、中国音乐史研究的对比资料。但是,曲子的生存环境如何?其音乐形态如何?这也是有待深入研究的问题。

越南的陶娘歌为解决上述问题展现了光明的前景。这种用汉越语演唱唐宋诗赋的曲艺品种,实际上是唐宋曲子音乐的活化石。因此,近年来激烈争论的敦煌乐谱、舞谱之形态的问题,以及其曲、辞之关系的问题,有希望从中找到答案。陶娘歌中的若干曲调是通过“采诗入唱”的方式形成的,这种“诗”和“曲”的关系也类似于唐代声诗(以声被诗之辞)与曲子(因声度词之曲)的关系,可资说明敦煌曲子辞若干曲调的来源。在越南,陶娘歌因其历史的久远,也因其同教坊的联系[12],已成为雅俗共赏的精致艺术,造就了大量文人作品;由此不难理解敦煌曲同唐宋之际文人词的关系。另外,如果把中国古代音乐文化史划为三个阶段——依靠宫廷礼仪而生存的雅乐、依靠地主庄园经济而生存的歌妓音乐、依靠市民经济而生存的戏曲音乐——那么,在这个三段结构中,越南陶娘歌和敦煌曲子辞属于同一个音乐文化阶段。通过陶娘歌,可以深入地理解敦煌曲子辞的生存环境及其表演和传承的方式。

(三)《孔子项橐相问书》研究

《孔子项橐相问书》是流传甚广的俗文学作品,在敦煌至少有17种写本(包括3种藏文写本)。其故事可以追溯到秦汉典籍所记“项橐生七岁而为孔子师”的传说和“两小儿辩日”的传说。据研究,在唐以前,它是作为民间故事流传的;到初唐,它定型为一篇论议的文本或俗赋的文本。

《孔子项橐相问书》渊源如何?流传情况如何?这是为历来研究者所关注的问题,也是现在有条件做深入探讨的问题。因为在越南古籍中,至少保存了三篇孔子、项橐相问的故事![13]各本的篇幅、内容均与敦煌本相近;但从叙述次序和文字内容看,越南本却更接近藏文本和明代的《小儿论》。例如越南本“三窗六牖,不如一户之光;众星朗朗,不如孤月独明;父母之恩,奚可失也”云云,不见于敦煌本,而见于藏文本和《小儿论》。而若比较一下各本的内容顺序[14],则可知敦煌本的结构颇不同于其它各本。

这些异同,说明孔子项橐故事在唐五代已经定型,且大略有北方、南方两个同源异流的传播系统。如果说敦煌本是北方系统的代表,那么,越南本、藏文本和明代《小儿论》便具有更亲密的血缘关系,同属于《孔子项橐相问书》的南方系统。有学者提出:《小儿论》结尾小儿问天地一段,“既不见于(敦煌本)《孔子项托相问书》,也不见于古藏文本之中,当是另有来源”。[15]这一问题正好可以用两个传承系统之说来解答,因为同《小儿论》一样,在越南的三种传本中均有以下一段:

又问曰:“天上零零有几星?”孔子曰:“适来问地,何必谈天。”小儿曰:“地下碌碌有几屋?”孔子曰:“且论眼前之事,何必谈天说地。”小儿曰:“若论眼前之事,眉毛中有几枝?”孔子笑而不答,顾谓弟子曰:“后生可畏,焉知来者之不如今也。”于是登车而去。

这进一步证明越南本和明代《小儿论》具有相同的来源。考虑到越南俗文学曾接受明代俗文学的深刻影响,上述相同也可以理解为同一时期的中越俗文学的关联。因此,各本之附载的内容差异,既可以看做传承的地域系统的差异,也可以看做不同时期《孔子项相问书》在功能上的差异:敦煌本与讲唱体的孔子欲杀项诗合抄,有明显的讲唱功能;越南本与格言体的孔子观金人之铭合抄[16],有明显的蒙学功能。下文将要说到,这种格言体的蒙学书籍在越南汉喃文献中构成一个规模颇大的类别,实际上昭示了《孔子项橐相问书》的生存环境。总之,利用越南文本,可以更充分地阐明《孔子项橐相问书》等敦煌作品的性质和传承。

(四)《太公家教》研究

《太公家教》是敦煌写本中最多见的一种文献,至少占有35个卷号。它由规劝少年子弟遵循社会伦理的诗书经史俗谚之语组成,多为四言体,包括“孝子事亲”、“弟子事师”、“教子之法”、“立身之本”等门类。写本题记表明,它是从唐宣宗大中四年(850年)到北宋初年最流行的一种童蒙读本[17]

无独有偶,在越南也流传过这种《太公家教》。1998年,我在河内搜集到抄写于启定元年(1916年)的一件残本。它有16页篇幅,采用汉字正文和喃字小注相间的体式。前半部残,末尾题“太公卷之毕,启定元年陆月初贰日”。尽管正文之中只有“良田万(敦煌本作‘千’)顷,不如薄艺(敦煌本作‘技’)随身”等少量语句与敦煌本《太公家教》相同,但二者的文体、内容、性质却无疑是一致的。

值得注意的是:类似的童蒙读本在敦煌还有很多[18]。它们大致反映了各种读本的时代和流传规模,也反映了《太公家教》的文化背景。同样,在越南也有数十种格言体的童蒙读本,构成了越南《太公家教》的文化背景。这就是说,在敦煌写本文献和越南汉文古籍之间,存在相类似的文化结构和社会功能。

幸运的是,尽管敦煌文献封存于宋初,敦煌本《太公家教》的流传线索因此隐晦不明,但我们却可以在各种典籍记载中看到越南本《太公家教》的渊源。按唐宋许多典籍提到过作为俗文学作品的《太公家教》,《南村辍耕录》把《太公家教》记为金院本的名目,明《雍熙乐府》则有唱词“抵多少迟逢了《太公家教》”。这说明《太公家教》自唐以来流传有绪,在民间的影响一直不曾衰落。又据明代典籍《殊域周咨录》卷六,在当时,越南亦已传入“《太公家教》、《明心宝鉴》、《剪灯新、余话》等书”。可见敦煌《太公家教》和越南《太公家教》事实上代表了一段文化传播史的两个端点;其间异同,正好为俗文学传播研究提供了难得的标本。

 

四、关于中国文学的文体研究

 

比较是认识事物的基本方法。确认事物的本质,最简捷的办法是把这一事物同最相似的或最接近的事物加以比较,或者把它同构成对立关系的另一事物——它投射在另一个文化层面上的映象——加以比较。后一种比较就像是为对象提供了背影。它可以使对象整体地呈现出来,有助于更准确、更全面地认识对象事物。

对于作为传统学术对象的经典文化来说,敦煌文献具有背影的意义——它代表了同经典文化相对的一个文化世界。20世纪敦煌学因此有力地推动了典籍与民间遗存的比较研究,在冲击中国古代史、古代文学、古代语言、古代艺术、民族史等众多学科的同时,也造成了这些学科向现代学术的转型。现在,保存在越南的汉喃文文献,为新世纪中国学术提供了又一个背影!它对于中国学术的冲击,将不仅积极地作用于文、史、哲等传统学科,而且将具体地作用于敦煌学研究。

越南汉喃文献作为背影的意义,在于它能够对敦煌事物以及中国古代种种文化事项加以衬托、比较、补充,使之成为可做立体考察的事物。例如在《孔子项橐相问书》、《太公家教》等作品中,可以看到以中原、敦煌、河内为传播结点的文化过程。越南俗文学的五大品种——俗赋、小说、陶娘歌、喃歌、嘲歌和戏——可以看做中国汉以来的俗赋、六朝以来的小说、唐以来的曲子、宋以来的说唱、元以来的戏曲在越南的回声。总之,过去孤立存在的事物,现在因获得旁证而成为具有历史重复性的事物。这使我们有条件去重新讨论关于中国文学的一些理论问题,比如文体问题。

第一个问题是怎样理解敦煌文学的生存状态与其文体表现的关系。越南文献中各种俗文学作品不分体裁杂抄为一集的普遍现象,提醒我们正视敦煌文学中的类似特点。我们现在知道,多种文体彼此渗透、多种艺术手段交互为用,这其实是俗文学的基本特点。这种情况表明,在篇章体制上彼此不同的许多作品,可以在功能上具有同一性;因为多种文体的作品杂抄在一起,一般来说,缘于这些作品在同样一个场合得到使用(表演)。这就是说,在篇章体制上彼此不同的许多作品,可以共有同一种生存环境;反过来说,同一种生存状态,可以有不同的篇章体制的表现。从现象上解释这种情况,可以说,作为口语文学和群众文学的俗文学,因为其接受对象和传播场所的特性,它的文体表现是不同于作家文学的。早在战国秦汉之际,许多同俗文学相联系的作品就综合应用了代言、对话、辩难、谐等手法,例如《神女赋》、《登徒子好色赋》、《神乌傅》通过几个人物的对话展开叙述,东方朔《答客难》、扬雄《解嘲》、班固《答宾戏》采用“设客难己”的手法,《文心雕龙》认为荀卿的《蚕赋》和宋玉的《登徒子好色赋》滥觞了谐一体。《汉书·艺文志·诗赋略》杂赋所著录的《客主赋》、《隐书》各十八篇,通常被看做这几种通俗体裁的代表。通过这种综合运用代言、对话、辩难、谐等手法以加强故事性和趣味性的文体,可以想象当时的民间讲说体韵文的基本面貌。但从理论上解释这种情况,则应当说,我们现在的文体观念,是依据作家文学而建立起来的,它并不完全适用于俗文学研究。两者之间的矛盾不容忽视:如果说文体是文学作品某种本质的表现,那么它应当和作品的生存状态一致;现在的情况是恰好不一致,这就说明,我们应当建立能够揭露俗文学作品之本质的文体观念。

由此引出第二个问题:文体辨认的标准。重视文体辨认是中国古来的传统。按一般看法,文体指的是作品的篇章体制,亦即作品的文字表现形式。从《尚书》时代的典、谟、训、诰、誓、命六体理论看,最早的文体之分缘于不同仪式所要求的不同语言方式之分。为了有区别地掌握这些方式,在写作时实现不同的文辞功能,古人提出了大量关于辨体的理论。显而易见,这些理论是从篇章体制角度来分析书面文学的理论,如上文所说,它们未必适用于通俗文学。怎样解决这个问题呢?考虑到文体是作品生存方式的反映,通过传播而固定下来,那么,合理的办法是依据传播方式来作文体辨认;考虑到“客主”、“论议”、“谐”首先是表现手法的名称,其次才是文体的名称,而在口头文学中,只有从表现手法角度才能作体裁类型的划分,那么,可行的路线是联系艺术表现手法来认识俗文学中的文体。从古代文体的发生过程看,上述两条是能够成立的。一方面,古人本是从传播方式角度来建立文体认识的。例如在命名书面文体的时候,古人使用了“铭”(铸于铜器)、“箴”(书于竹简)、“碑”(凿于方石)、“碣”(刻于圆石)等词语。另一方面,书面文体总是反映口语文体。例如周代铭文和《周易》、《尚书》、《老子》等先秦散文多用偶句和韵语,而偶句、韵语等修辞手法是因口头传述的需要而产生的。又如赋、碑、诔等书面文体一直使用类同讲唱文的韵散相间的结构,从碑、诔等铭刻文体的发展史看,它们原以韵文铭辞为主体,后来随着作家文学的发展,其中无韵的序引由附庸而蔚为大国[19]。这说明其文体源于口语文学。正是从上述认识出发, 1994年我在《中国社会科学》上撰文提出了依传播方式来区分敦煌文学之文体的意见,认为按照唐代流行的八种讲唱伎艺(俗讲、转变、说话、唱词文、韵诵、论难、曲子、吟诗),可以把敦煌文学分为讲经文、变文、话本、词文、俗赋、论议、曲子辞、诗歌等八体。这篇文章的积极意义在于,使文体概念成为可用于揭露事物本质的概念。

但是,上述意见并没有完全解决问题。它留下了两个缺陷:其一,在它的分类系统中,未包括表奏、愿文等纯书面的文体;其二,对敦煌文学或俗文学中普遍存在的杂抄现象和兼类现象(一篇作品兼具几类体裁的特征),它没有做出解释。这两种情况,特别是后一种情况,意味着我们要重新思考“文体”这一概念的定义。

后一种情况是这样的:在敦煌文学或者说俗文学作品中,体裁往往是不确定的。其中一种表现是“兼类”(作品身分容易变化),例如讲经文往往改编为变文,诗歌往往配入曲子演唱,押座文既见于讲经文也见于变文,曲子辞在用于说唱故事之时转变为词文,作为变文特征的配图讲唱亦见于话本[20]。另一种表现是“游移”(文体名不确定),例如赋文《书》以“书”为篇题,讲经文《双恩记》名为“记”,《燕子赋》自称“开元歌”,《高兴歌》又题《酒赋》,《渔父歌》与《沧浪赋》连用为赋文之名。类似的情况还有:话本《叶净能诗》、《黄仕强传》被称作“诗”和“传”,变文《前汉刘家太子变》、词文《季布骂阵》因内容采自野史轶闻而分别题为“传”和“传文”。这些曾被视为偶然的现象,由于越南俗文学文献的旁证,现在可以肯定是俗文学中的普遍和必然了。因此,敦煌文学中的文体,不能简单理解为篇章体制,而应理解为在某种社会功能影响下形成的艺术手法的组合类型;敦煌文学研究中的文体辨认问题,不只是一个简单的定名问题,而是对作品的艺术手法组合方式进行系统考察的问题。1979年,潘重规提出一个“变文外衣”理论,认为《大唐慈恩寺三藏法师传》中的“报恩经变”实即《报恩经》讲经文,内容与敦煌本《双恩记》相同,因而判断“变文是一时代文体的通俗名称”,“讲经文、因缘、缘起、词文、诗、赋、传、记等等不过是他的外衣”。[21]尽管这一意见中的“变文”概念过于宽泛,但它提醒我们,在敦煌文学中,文体名称和文体本身并不完全对应。造成这种情况的原因是:文体名是按书面文学的习惯建立的,而俗文学文体的存在却是超越文本的存在。

由以上事实,可以引出第三个问题:文体的不同层面——表演层面、转述层面和文字记录层面——的关系问题。这一问题是同雅俗之分的相对性相联系的。在越南,有大批文人学士参预了通俗文学的创作。这一事实可以颠覆三种习惯观念:一是按作者身分来区分作家文学与通俗文学的观念(事实上,作家也可以创作俗文学作品);二是在作品分类时严判雅俗的观念(事实上,雅文可以俗用,俗文可以雅用);三是把讲唱艺术与其文本直接等同的观念(事实上,表演的文体不等于记录的文体)。也就是说,越南文人同通俗文学活动广泛结合的事实,说明作家文学与通俗文学的区分不取决于作者身分,不取决于文体,而取决于文学的功能。换言之,凡服务于市民群体、诉诸其日常语言的文学,尽管来源不同,但它们都属于通俗文学。面对雅俗之分,任何具体作品都没有恒定的位置。相反,因时间推移而实现的雅俗转化倒是常见的情况。[22]在越南,白居易《琵琶行》、李白《将进酒》等作品因民众用喃文演唱而进入歌筹艺术,就是古雅成为俗物的例子。这类例证也大量见于敦煌文学。例如在敦煌民众中流行的文人诗,既然它们和“王梵志”等人所作的白话诗一起传播,那么也应归入俗文学范畴。从这一角度去看俗赋概念,可以知道:正因为它代表了一种功能系统,而非篇章体制,所以它能够成立。从这一角度去看文体,又可以知道:俗文学的文本是对表演状态的记录,两者不能等同;由于记录者身分不同,故表演层面上的同一种文体,在文字记录层面可以演成几种不同的文体。这种“文体多层面”论,对于中国古代文体之形成的问题、作家文体与俗文学文体之两分的问题,都是富于解释力的。历史资料表明,作家文体之形成往往经历了把表演层面的形式因素转化为文字形式的过程,例如先是记录或应用口头文学,然后因记录方式或应用方式的特殊性造成某种独立,最终依据这种特殊方式造就文体。综合各种资料,可以建立这样一个认识:所谓文体,事实上是三样东西的累积:第一是本来的文体(表演者的文体),第二是转述的文体(整理者的文体),第三是记录的文体(模仿者的文体)。以下举出两个例证,来说明这个文体三段论。

第一个例子是赋体的形成。《诗六义原始》一文曾经论证:周代大师所教的“六诗”,乃是对官府所采集的民歌进行传述的六种方式。“风”指方言诵,即原样传述;“赋”指雅言诵,即用流通语进行转述;“比”是赓歌,即按同一曲调唱和;“兴”是相和歌,即用不同的曲调唱和;“雅”是弦歌,配乐之歌;“颂”是舞歌,有舞容之歌。这就是说,“赋”是在对民间歌曲进行转述时形成的文体名称,它既代表了本来的文体(表演者的文体),又代表了转述的文体(整理者的文体)。第二种意义上的“赋”曾得到广泛应用,即在周代用于诸侯国之间的聘问歌咏。春秋以后,天下分裂,列国纷争,聘问歌咏不再流行,掌握诗赋之法的士子沦为布衣,“赋”于是成为抒发失志之郁闷的文体。到楚汉之际,一批文人模仿此体,把它变成“假象尽辞,敷陈其志”(《文章流别论》语)、“铺来文,体物写志”(《文心雕龙》语)的书面文学,赋体才完成了它的形成史。《汉书·艺文志·诗赋略》说:“春秋之后,周道坏,聘问歌咏不行于列国,学诗之士逸在布衣,而贤人失志之赋作矣。”又说:“其后宋玉、唐勒,汉兴枚乘、司马相如,下及扬子云,竞为侈丽闳衍之词,没其风谕之义。”便说明赋体是经由以下路线形成的:

民歌或乐歌(表演的文体)→用风、赋、比、兴、雅、颂等六种方式传述→采其中的赋诵法(言语的文体)用于聘问→赋诵法独立而成为文体→口诵的文体进而成为自治的文体(文字的文体)[23]

第二个例子是词体的形成。《隋唐五代燕乐杂言歌辞研究》、《唐代酒令艺术》二书曾经讨论词体形成的问题,认为词是在新俗乐兴起以后,经长期发展而形成的一种文体。它主要经历了四个阶段,即作为“胡夷里巷之曲”的民间辞阶段、作为教坊曲的乐工辞阶段、作为酒令曲的饮妓辞阶段、作为“律词”的文人辞阶段。由于每一阶段的文化因素都在后起阶段得到一定程度的保留,因此,词体事实上反映了一种文化积累,亦即在民间辞阶段获得歌调,在乐工辞阶段获得依调撰词的曲体规范,在饮妓辞阶段增加众多的改令令格,这些令格在五代以后的文人辞阶段转变成由词谱所规定的种种格律。从文体形成的角度看,以上历程也可以概括为:

胡夷里巷之曲和教坊曲(表演的文体)→应令而作的酒筵著辞(言语的文体)→按调谱创作的“律词”(文字的文体)[24]

这里同样有本原的、转述的、模仿的三种文体。“词”的起源之所以成为争讼不息的一个学术难题,正因为人们是在不同的涵义上理解词体的:或从本原的角度把它理解为隋唐燕乐曲子辞,或从转述的角度把它理解为中晚唐文人的“依曲拍为句”,或从模仿的角度把它理解为长短句辞。

从以上几个例证看,“文体”本质上是转述者对对象的把握方式,例如说赋体形成于周代的聘问歌咏、词体形成于依酒令曲调作辞。由此可以知道,古人在文体命名上的游移即缘于这种把握方式的游移。从文学角度看——从作为语言文字之规范的文体角度看——篇章体制是文体的表现形式,它是从作为表现手段的文体当中派生出来的。扬雄所谓“诗人之赋”和“辞人之赋”,乃反映了后两种赋体——口诵之赋和文辞之赋——的分流。《汉志》把赋分为四类,从“杂赋”之书多以艺术手法为书名的情况看,当时的文体分类已兼用了表现手段、篇章体制这两个层面的标准。换言之,汉代人所认识到的“杂赋”和“诗人之赋”、“辞人之赋”的分别,其本质是三种文体的关联和对立。前面说到,无论在中国还是在越南,都有用不同文体来表述同一主题和题材的文学风尚;在越南,它还表现为用汉文、喃文两类文学形式来重述同一主题和题材。这实际上是文体多层面关系的反映,说明从发生学角度看,不同文体间的作品同构现象源于记录与被记录的关联,或者说源于因不同传播方式形成的文体相关。这种文体相关现象大量见于敦煌资料。在经变画(例如《维摩诘经变》[25])和讲经文之间,在曲子辞(例如孟姜女曲子)和词文之间,在变文(例如《舜子变》[26])和俗赋之间,都可以见到这种同构现象。前文说到《王陵赋》和《王陵变》之间的文体相关。现在我们知道,这是一种拥有深厚的历史渊源的现象,其实质是不同传播方式的相关。相关的文体,往往是对某种共同对象的转述,它们通过这个共同对象暗示了某种本原文体的存在。

结合中国文学的生存状态,我们还可以说:中国文学原是在不同的文化圈中存活的,因此,它的文体表现为几个层面上的叠置:在文字层面上展开的是作家文体,在口语层面上展开的是俗文学文体。由于记录手段的缘故,我们可以直接接触历史上的作家文学及其文体,但对于历史上的俗文学及其文体,却只能间接接触。这样就造成了依文字形式来确认文体的习惯。然而在事实上,原始意义上的文体却是因口语方式而形成的。因为上古时代的中国人是用口语来交流的,文字只用于记录保存,而文学在本质上就是一种艺术化的交流手段或交流方式。所以在中国历史上,“文学”概念表现出渐次扩大的过程:先是以艺术化口语(韵文)为文学,后来才出现了书面文学;至于以无韵散句为特征的应用文,则在更晚的时候才进入文学范围。[27]有鉴于此,我们应当依据文体展开的方式来辨认文体。具体来说,依传播方式或讲唱手段来区分生存在民众文化世界、在口语层面展开的文体,依记录方式及其功能来区分生存在经典文化世界、在文字层面展开的文体。

 

注释:

[1]越南俗赋以中国历史故事为题材,采用与敦煌赋相近的体裁,又明显呈现了从汉文赋向喃文赋过渡的趋向,据此可以肯定它的中国渊源。《刘平赋》的题材亦见于唐代笔记小说,例如《唐摭言》卷八记有“为乡人轻视而得者”、“以贤妻激劝而得者”等科举故事。

[2]参见王昆吾《唐代酒令艺术》第一章第一节“筹令”(上海知识出版社,1995年)。

[3]参见王力《汉越语研究》,《龙虫并雕斋文集》第二册,中华书局,1982年,第770页。

[4]王小盾:《〈越南汉文小说丛刊〉和与之相关的文献学问题》,台北中研院《中国文哲研究所集刊》第1期, 2001年3月。

[5]《公余捷记》流传很广,颇多仿效之作,如汉文书《公余捷记摘录》、喃文书《传公余捷记》等。它们证明整个笔记类目都是在中国文学的影响下产生的。

[6]参见李福清《〈皇黎一统志〉与远东章回小说传统》,《汉文古小说论衡》,江苏古籍出版社, 1992年第324页。

[7]阮朝传奇小说《玉身幻化》亦用转世之说。其书略云太平省琼瑰县书生王氏于游学途中邂逅古螺人女子,两人情投意合,约定终身,后知王氏前身是仲始,古螺女子是媚娘转世云云。《越南汉文小说丛刊》第一辑收录。

[8]王小盾:《敦煌文学与唐代讲唱艺术》,《中国社会科学》1994年第3期。

[9]参见张鸿勋《敦煌话本词文俗赋导论》(台北新文丰出版公司, 1993年)第226—231页。

[10]参见《敦煌文学与唐代讲唱艺术》。

[11]例如敦煌讲经文往往省略经文、说解文,而详录歌赞之辞,说明现存讲经文仅为俗讲之歌赞部分,须搭配于另一文体而用于讲唱;又如敦煌词文《秋吟》提及“芭词”、“赞叹”、“偈子”等多种文体形式,而其内容又与敦煌歌辞《三冬雪》、《千门化》一致,两者“很可能本是一组相联贯的讲唱辞”。参见王小盾《佛教呗赞音乐与敦煌讲唱辞中“平”“侧”“断”诸音曲符号》,《中国诗学》第一辑,南京大学出版社, 1989年。

[12]参见越南古籍《考教坊式》。此书记录对陶娘进行典试的评价体式,由礼部教坊司撰写,其典试方式是以得筹多寡而确定评分高低。可见歌筹是一种教坊艺术,其名来自教坊。

[13]整理本见王小盾、何仟年《越南本〈孔子项橐问答书〉谫论》,《21世纪敦煌学国际学术研讨会论文集》,巴蜀书社, 2002年。

[14]见下表:

[15]张鸿勋:《〈孔子项托相问书〉故事传承研究》,《敦煌学辑刊》1986年第1期。

[16]铭文由关于“慎言”的格言组成,云“戒之哉,无多言,多言必败;无多事,多事多患”云云,原出《孔子家语·观周》。

[17]参见高国藩《敦煌写本〈太公家教〉初探》,《敦煌学辑刊》1984年第1辑、汪泛舟《〈太公家教〉考》,《敦煌研究》1986年第1期。

[18]参见周丕显《敦煌童蒙、家训写本之考察》,《敦煌文献研究》,甘肃文化出版社, 1995年。

[19]参见朱晓海《论〈神乌傅〉及其相关问题》,台湾《清华学报》新28卷第2期, 1998年。

[20]话本《伍子胥》中有“楚王出敕,遂捉子胥处,若为敕曰”这种配图讲唱的口吻。

[21]潘重规:《敦煌变文新论》,《幼狮学刊》49卷第1期。

[22]参见王小盾《“雅”和中国文学的雅正理论》,《中国诗学》第3辑,南京大学出版社, 1995年。

[23]参见王小盾《诗六义原始》,《中国早期艺术与宗教》,东方出版中心, 1998年;简宗梧《从专业赋家的兴衰看汉赋特性与演化》,《汉赋史论》,台北东大图书公司, 1993年。

[24]王昆吾:《隋唐五代燕乐杂言歌辞研究》,中华书局, 1996年;《唐代酒令艺术》。

[25]参见王小盾《从莫高窟61窟〈维摩诘经变〉看经变画和讲经文的体制》,《从敦煌学到域外汉文学》,商务印书馆, 2003年。

[26]《舜子变》基本上由六言韵语组成,通常认为它采用了故事赋体。

[27]其中一个表现是:古人的文学观中总是有强调韵文或美文的倾向,例如先秦讲究“文”“语”之分,汉以来讲究“文”“笔”之分。参见刘师培《文章源始》、《中国中古文学史讲义·文学辨体》,《刘师培中古文学论集》,中国社会科学出版社, 1997年;王小盾《中国韵文的传播方式及其体制变迁》,《中国社会科学》1996年第1期。

 

[作者简介] 王小盾, 1951年生,清华大学中文系教授,北京 100084

http://www.literature.org.cn/Article.aspx?id=49563