Browsing Tag

F. Scott Fitzgerald

Nghiên cứu khoa học Văn học Nhật Bản

HARUKI MURAKAMI VÀ GATSBY VĨ ĐẠI

TS. PHAN THU VÂN

(Khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư Phạm TP.HCM)

Nguồn: Đại học Quốc gia TP.HCM, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa (Vietnamese and Japanese literature in the globalization context), NXB Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 12/2015, trang 736 – 752.

Tóm tắt:

Bài viết đặt một số sáng tác tiêu biểu của Haruki Murakami bên cạnh tác phẩm quan trọng nhất của F. Scott Fitzgerald – đồng thời cũng là tác phẩm được Murakami yêu thích và đề cao nhất – Gatsby vĩ đại, thông qua ba vấn đề chính: chủ đề tác phẩm, nhạc tính và tiết tấu trong tác phẩm, phương thức nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm, nhằm tìm hiểu những nét tương đồng giữa hai tác gia lớn của hai nền văn học Nhật Bản và Mỹ. Đây đồng thời cũng có thể xem là một ví dụ về toàn cầu hóa trong văn học Nhật Bản đương đại, kết hợp giữa sự học hỏi tiếp thu từ văn học nước ngoài với sự dung hòa bản sắc cá nhân của tác giả để tạo nên thành công trong sáng tác.

  1. DẪN NHẬP

Haruki Murakami là một trong những nhà văn Nhật Bản chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất từ văn học phương Tây, đồng thời cũng sáng tạo thành công nhất trên nền tảng tiếp nhận này. Trong số các nhà văn phương Tây, người có vị trí quan trọng nhất, in dấu trong hầu hết các tác phẩm của Murakami, đó là F. Scott Fitzgerald – đúng như Murakami đã từng viết: “Nếu tôi chưa từng đọc tác phẩm của Scott Fitzgerald, có lẽ toàn bộ tác phẩm của tôi cho đến hôm nay đã theo một phong cách khác.” (15: 18)

Trong phạm vi hạn hẹp của một bài viết nghiên cứu, chúng tôi muốn đặt một số sáng tác tiêu biểu của Murakami bên cạnh tác phẩm quan trọng nhất của Scott Fitzgerald – đồng thời cũng là tác phẩm được Murakami yêu thích và đề cao nhất – Gatsby vĩ đại, để tìm hiểu, trước hết là về sự đồng cảm và đồng điệu giữa hai nhà văn lớn của thế giới, sau là về sự tiếp nhận, kế thừa và sáng tạo của Murakami, nhằm góp phần đưa đến một cách nhìn khác cho việc nghiên cứu về Murakami tại Việt Nam.

  1. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

  1. Murakami với sự tiếp nhận và đề cao F. Scott Fitzgerald

Francis Scott Key Fitzgerald là nhà văn nổi tiếng nhất trên văn đàn Mỹ vào những năm 20 của thế kỷ XX. Bản thân thời đại ấy cũng được biết đến dưới một cái tên mà nhà văn đặt cho nó: “Thời đại nhạc Jazz”. Tác phẩm của Fitzgerald đưa đến cho độc giả cái nhìn chân thực và trọn vẹn nhất về tình hình xã hội nước Mỹ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Sau thế chiến hai, người ta một lần nữa lại tìm về với những tác phẩm của ông, để thấy sự khái quát sâu sắc và giá trị không thay đổi của nó.

Trong cuốn tự truyện Tôi nói gì khi nói về chạy bộ, Murakami cho biết ông đã bắt đầu dịch Fitzgerald từ rất sớm: “… tôi viết cuốn thứ hai là truyện vừa Pinball, 1973, và trong khi đang viết cuốn này tôi cũng viết một vài truyện ngắn và dịch một số truyện ngắn của F. Scott Fitzgerald” (11: 43 – 44). Trong số tác phẩm của Fitzgerald, Murakami đặc biệt chú ý đến Gatsby vĩ đại, nhiều lần ca ngợi đó là tác phẩm “dường như hoàn mỹ”, là “tác phẩm đáng đọc nhất thế giới”, và thể hiện mong muốn chuyển ngữ tác phẩm sang tiếng Nhật. Năm 2006, mong muốn của ông cuối cùng cũng thành hiện thực. Trong “Lời nói đầu” của dịch giả, Murakami thể hiện sự ngưỡng mộ và tinh thần học hỏi đối với tác phẩm kinh điển này của nền văn học Mỹ.

Thực ra, không phải chờ đến khi Murakami chọn dịch Gatsby vĩ đại, niềm yêu thích của ông mới được bộc lộ. Nhiều độc giả trẻ châu Á biết đến Gatsby vĩ đại nhờ chính tác phẩm làm mưa làm gió trên thế giới nhiều năm liền của Murakami, từng lập kỷ lục bán được bốn triệu bản trong năm đầu tiên tại Nhật – Rừng Na-uy.

Tuổi mười tám, cuốn sách yêu thích nhất của tôi là cuốn Nhân mã của John Updike, nhưng sau khi đã đọc nó một số lần, nó bắt đầu mất dần ánh hào quang ban đầu và phải nhường ngôi trên ấy cho cuốn Gatsby vĩ đại. Gatsby ở ngôi ấy một thời dài sau đó. Tôi thường rút nó ra khỏi giá sách mỗi lúc hứng chí và đọc một đoạn bất kì. Chưa bao giờ nó làm tôi thất vọng. Không có một trang buồn tẻ nào trong cuốn sách ấy. Tôi muốn nói cho mọi người biết rằng đó là một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời, nhưng xung quanh tôi chưa có ai đã từng đọc Gatsby vĩ đại, hoặc có ý muốn đọc nó. Mà giới thiệu và khuyến khích người khác đọc F. Scott Fitzgerald, mặc dù không phải là một hành vi phản động, thật sự là một việc không thể làm được hồi 1968.

Khi cuối cùng gặp được một người trong thế giới của tôi đã từng đọc Gatsby, chúng tôi lập tức thành bạn của nhau. Tên hắn là Nagasawa.

Người này nói hắn đã đọc Gatsby Vĩ đại ba lần”, hắn nói như thể độc thoại. “Hãy nghe đây, bất kỳ người bạn nào của Gatsby cũng là bạn của tôi.”

Và thế là chúng tôi thành bạn.” (5: 74)

Dịch giả Trịnh Lữ khi dịch tác phẩm này. đã viết thêm trong lời người dịch:

Nhân vật chính trong Rừng Na-uy tên là Toru Watanabe. Tôi đã thấy cái tên Toru và Watanabe này ở vài tác phẩm khác của Murakami. Tự nhiên tôi giật mình: Murakami tuổi Kỷ Sửu, mà trong tử vi Tây Phương thì tuổi Sửu là Taurus – vị thần bò dũng mãnh đầy nhục cảm trong thần thoại Hy Lạp mà tôi vẫn bắt gặp trong tranh vẽ của Picasso. Toru phải chăng là một biến âm dí dỏm của Taurus theo lối Murakami? (Rừng Na-uy dí dỏm lắm, bạn cứ đọc mà xem). Và Watanabe phải chăng là âm thanh vọng lại từ mấy từ tiếng Anh: “Want to be” – muốn được tồn tại, muốn sống, muốn thành được như thế? Có lẽ sự chân thực và tình yêu dũng mãnh của nhân vật Toru Watanabe đối với cả bản ngã và tha nhân trong Rừng Na-uy cũng chính là mơ ước của tác giả. Thế mới thật là tiểu thuyết! (5: 19)

Chúng tôi đồng tình với nhận định này của dịch giả Trịnh Lữ. Murakami thật sự là một trong những tác giả mà cuộc đời thật và tiểu thuyết có quá nhiều sự giao thoa. Cách ông chơi chữ với chính họ tên mình trong các tác phẩm không phải hiếm. Niềm yêu thích và cái nhìn của các nhân vật trong tác phẩm đối với âm nhạc, văn học, thể thao, xã hội… chịu ảnh hưởng sâu sắc từ chính tác giả, và cách ông nói về Gatsby vĩ đại luôn đặc biệt, xuyên suốt trong hầu hết các tác phẩm của mình.

Cậu với tớ là những con người đích thực duy nhất trong cái khu học xá này. Những thằng khác đều là đồ bỏ đi hết.”

Tôi thật sự choáng. “Sao cậu có thể nói như vậy được?”

Vì đó là sự thật. Tớ biết. Tớ có thể thấy rõ điều đó. Giống như chúng ta có dấu hiệu đặc biệt ở trên trán vậy. Và ngoài ra, cả hai ta đều đọc Gatsby vĩ đại.”” (5: 75)

Roland Kelts, tác giả cuốn Japanamerica: How Japanese Pop Culture has Invaded the US (Nước Mĩ của người Nhật: Làm thế nào mà nền văn hoá đại chúng của Nhật lại tràn vào nước Mĩ) khi viết về Murakami, đã từng nhận định nhà văn Nhật Bản này tin rằng F. Scott Fitzgerald là nguồn cảm hứng đứng sau toàn bộ tác phẩm của ông. Trả lời phỏng vấn của báo Yomiuri tháng 11/2006 khi mới dịch lại Gasby vĩ đại, Murakami cũng khẳng định Fitzgerald mãi mãi là một “chuẩn mực”, mặc dù nếu xét về mục tiêu, có lẽ mục tiêu vươn tới của ông là Dostoyevski, xây dựng một thế giới riêng, một vũ trụ hư cấu của riêng mình.

  1. Thế hệ mất mát và cảm thức con người đô thị

Điểm chung của những tác phẩm Murakami và F. Scott Fitzgerald là những bối cảnh thành thị, hơn nữa, lại là thành thị “đương đại”. Với Gatsby vĩ đại, “đương đại” chính là New York những năm đầu sau chiến tranh thế giới thứ nhất, cụ thể hơn nữa, là 1922. Những nam thanh nữ tú từ khắp mọi miền trên đất nước Mỹ đổ về New York để tìm kiếm một giấc mơ Mỹ, nhưng đa phần đều lạc lối và trở nên lạc lõng giữa chốn phồn hoa đô hội. Gatsby vĩ đại cho thấy cái nhìn hài hước, song cũng không kém phần sắc sảo lạnh lùng về kinh tế Mỹ, về thị trường chứng khoán, về tiệc tùng và những tay buôn rượu lậu, về những ám ảnh chiến tranh và thứ người ta có thể lợi dụng được để trục lợi từ chiến tranh, về sự xung đột giữa tầng lớp tự cho mình là quý tộc lâu đời với những anh nhà giàu mới nổi, về lớp vỏ hào nhoáng của những ông chủ tư bản và thế lực ngầm thật sự sau lưng họ. Và trên hết, chính là cái nhìn của tác giả về một thế hệ trẻ, vẫn còn đầy cả sức sống lẫn nhiệt huyết, nhưng đã sớm mất mát hoặc lệch lạc về tâm hồn. Họ cô đơn lạc lõng, nhưng mỗi ngày đều phải cố tập cho quen với cuộc sống trong ánh sáng vinh hoa hư ảo của chốn phồn hoa đô hội. Những đề tài của những năm 20 thế kỷ trước, thực chất chưa bao giờ mất đi vị thế của nó, vẫn tiếp tục là đề tài nóng bỏng mà con người quan tâm hơn hết trong thế kỷ này.

Là đại diện tiêu biểu cho thế hệ trưởng thành sau thế chiến thứ hai của Nhật Bản, Haruki Murakami đồng thời là chứng nhân cho sự phát triển vượt bậc về mặt kinh tế cũng như sự tha hóa thần tốc về lối sống, thậm chí nhân tính, của xã hội Nhật. Bằng ngòi bút của mình, ông kể lại câu chuyện về những kẻ thượng lưu nghiện ngập và bóng tối quyền lực ngầm đang che phủ thế giới (Cuộc săn cừu hoang), câu chuyện về một người đàn ông bỗng dưng bị mất liên kết với cuộc sống, buộc phải tìm về khách sạn Cá Heo là nơi duy nhất anh ta còn cảm nhận được đôi chút hơi ấm của ký ức và tồn tại, kiếm tìm tình yêu vô vọng với cô gái điếm cao cấp Kiki, để rồi cái anh ta nhìn thấy trước mắt là sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản hiện đại thể hiện qua việc thôn tính đất đai và bóp chết những doanh nghiệp vừa và nhỏ của những tập đoàn quốc tế, sự bất lực và lạc hậu của con người khi nghĩ rằng có thể chống lại xu hướng toàn cầu đang ngày một khốc liệt này (Nhảy, nhảy, nhảy). Murakami cũng dành nhiều trang nói về sự hưởng thụ của công dân thành thị. Cảnh trong chương 19 của Nhảy, nhảy, nhảy, khi chàng diễn viên Gotanda đưa “tôi” lên chiếc Mercedes tới quán rượu trên phố hẹp của khu Azabu, rồi đưa “tôi” về nhà để khoe sự choáng ngợp của lối sống độc thân phù hoa dễ dàng khiến độc giả liên tưởng đến những câu chuyện không dứt về bản thân của Gatsby từ lúc đón Nick trên chiếc xe lộng lẫy màu vàng, đến câu chuyện ở quán rượu tầng hầm nhiều quạt gió ở Phố 42, đến cảnh khoe nhà với Nick và Daisy.

Không gian thành phố trong tác phẩm của ông lúc nào cũng sôi động và nhiều bất ngờ, tiện nghi hoàn hảo, nhưng cô độc đến ám ảnh. Đó là không gian mà con người lúc nào cũng muốn chạy trốn hoặc chối bỏ: “Thành phố ban ngày bị chi phối bởi nỗi cô độc hằn sâu, ban đêm bị chi phối bởi lũ mèo to tướng. Nơi ấy có con sông nhỏ xinh đẹp chảy qua, có cây cầu đá cổ bắc ngang sông. Nhưng đó không phải là nơi chúng ta nên dừng chân” (14: 473). Hay nói như một nhân vật trong Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới : “Người dân thành phố này đã trả giá cho sự hoàn hảo đó bằng tâm hồn mình.” (3: 505)

Từ những năm 70 đến cuối những năm 80, Nhật Bản bắt đầu quá độ lên “xã hội hậu Công nghiệp”. Đây là giai đoạn phát sinh nhiều biến đổi trong ý thức thẩm mỹ văn học Nhật Bản. Chủ nghĩa Hậu hiện đại từng bước thâm nhập và tạo thành một trào lưu mới có ảnh hưởng sâu rộng. Những thanh niên Nhật Bản lớn lên và cảm thấy bản thân cuộc sống của mình trong xã hội đã là sự mơ hồ, chán nản, trống rỗng mà không hiểu rõ nguyên nhân, như Tengo của 1Q84: “Hễ cứ nhắm mắt lại là Tengo không còn tự tin về việc rốt cuộc mình đang ở trong thế giới nào.” (12: 462)

Những con người trẻ tuổi trong tác phẩm Murakami gắn chặt với đô thị và luôn trong cảm thức mất mát: “Tôi đã đánh mất quê hương, mất thời niên thiếu, mất vợ, trong ba tháng nữa tôi sẽ đánh mất những năm tháng tuổi đôi mươi của mình. Tôi không hình dung được tôi sẽ còn lại gì khi sáu mươi tuổi.” (3: 223) . Những nhân vật thường xuyên bị ám ảnh bởi thời gian, hay nói như Fitzgerald trong Gatsby vĩ đạichoáng váng trước “cú đấm” của tuổi tác: “Ba mươi tuổi – hứa hẹn một thập kỷ cô đơn” (2: 191). Họ chọn cách lãng quên hiện thực bằng rượu, bằng sex, bằng trốn tránh, bằng cái chết… Dù vậy, thế giới nội tâm của họ, bất chấp hiện thực nghiệt ngã, bao giờ cũng tươi mới, phong phú nhiều màu sắc, và đầy khát vọng. Murakami đã theo dõi rất sát sao những chuyển biến tâm lý tình cảm của tầng lớp thanh thiếu niên, ghi chép lại cuộc sống, cái chết, những giấc mơ của họ trên phông nền đô thị hiện đại và đương đại không ngừng biến đổi. Phương pháp sáng tác của văn học Hậu hiện đại giúp ông thể hiện được những điều phi thực tế nhất của thực tế, thiếu logic nhất của logic. Trí tưởng tượng của ông bay xa vô tận, nhưng điều mà ông phản ánh, cuối cùng vẫn là hiện thực.

Từ mất mát, dẫn đến sự tìm kiếm và nắm bắt ảo ảnh một cách vô vọng. Gatsby sở dĩ vĩ đại, vì ông là người nỗ lực tìm kiếm và nắm bắt ảo ảnh quyết liệt nhất trong lịch sử văn học. Ở điểm này, quan điểm của chúng tôi khác với Trịnh Lữ: “Gatsby chỉ là đại gia.” (2: 259) Gatsby thật sự vĩ đại, vì ông đại diện cho cả một thế hệ hoang đường, thậm chí toàn bộ nhân loại hoang đường, ra sức níu giữ những điều không thuộc về mình, chưa bao giờ thuộc về mình, bằng một niềm tin tha thiết chân thành như niềm tin tôn giáo. Chúng ta rồi sẽ luôn bắt đầu lại, và chúng ta rồi sẽ tiến xa hơn trên con đường nắm bắt ảo ảnh, chỉ để “rẽ sóng ngược dòng” (2: 252), làm trò cười cho lịch sử trên mọi chặng đường thời gian đã đi qua.

Nhân vật trong tác phẩm Murakami đều trong trạng thái tìm kiếm ấy, dù là tìm một con cừu, tìm một con mèo, tìm một chiếc bóng, tìm mẹ hay tìm vợ… thì cuộc kiếm tìm cũng luôn đầy ắp hoang đường và bất trắc, để cuối cùng, chỉ là tôi đang tìm chính tôi trên con đường gập ghềnh đơn côi của cuộc đời.

Mặc dù có rất nhiều tương đồng giữa Murakami và F. Scott Fitzgerald trong việc phản ánh đô thị và con người đô thị, chúng ta vẫn khó có thể thể khẳng định được những điều Murakami thể hiện trên trang sách là sự vay mượn, hay tiếp nhận. Cảm thức cô đơn và bất toàn trước một xã hội đang chuyển mình như vũ bão, vượt quá tầm kiểm soát của mỗi cá nhân… là sự đồng cảm của những con người hiện đại sống trong các đô thị và siêu đô thị.

Điểm thật sự tương đồng của hai tài năng này, vẫn còn đang đợi chúng ta ở phía trước.

  1. Sự giao thoa giữa tiểu thuyết và âm nhạc

Fitzgerald được coi như tác giả có giọng văn giàu nhạc tính, thanh nhã, hài hước và cao quý khó ai sánh kịp. Chính Murakami đã thể hiện sự ngưỡng mộ của ông đối với khả năng thiên phú của Fitzgerald:

Tôi rất chú tâm đến tiết tấu hành văn. Văn chương của F. Scott Fitzgerald có vận luật và mỹ cảm đặc biệt, khiến người ta liên tưởng đến những tác phẩm âm nhạc ưu tú. Ông dùng tiết tấu để chế ngự con chữ, rồi từ đó triển khai câu chuyện bằng một giọng điệu mạnh mẽ lôi cuốn, như những cành lá tua tủa đâm lên từ trong hạt đậu thần của chuyện cổ tích, vươn mãi tới trời xanh. Ngôn ngữ nối tiếp ngôn ngữ, sinh ra và trưởng thành, quyện lấy nhau, chuyển động mượt mà trong không gian, thật là một cảnh tượng đẹp đẽ. (…) Thật là một thiên tài trong lĩnh vực ngôn từ. Chuyển ngữ một tác phẩm văn chương như thế sang tiếng Nhật, quả là một công việc vô cùng khó khăn. (1:5)

Tác phẩm “ có lúc cần dùng tai để lắng nghe, có lúc cần phải đọc to lên để cảm nhận giai điệu” (1:5) này hẳn đã có sức lay động mạnh mẽ với một tâm hồn nhạy cảm với âm nhạc như tâm hồn Murakami. Trong bài viết Thông điệp Jazz (Jazz messenger) được đăng trên mục Sunday book review của tờ The New York Times ngày 8/7/2007, Murakami đã thổ lộ về tình yêu với jazz từ khi còn rất trẻ, cùng mối duyên kỳ ngộ giữa âm nhạc và văn học:

(…)Tôi tập đàn piano từ nhỏ, và tôi đã tiếp xúc với âm nhạc nhiều đến mức có thể tự sáng tác được một đoạn nhạc đơn giản, nhưng tôi không đủ kỹ thuật để trở thành một nhạc công chuyên nghiệp. Dù vậy, tôi thường cảm thấy có một giai điệu nào đó của riêng tôi, đang không ngừng bay lượn trong đầu. Tôi tự hỏi liệu có khả thi không, nếu tôi chuyển giai điệu âm nhạc này sang hình thái sáng tác văn học. Phong cách của tôi đã hình thành như thế đó.

Cho dù là trong âm nhạc hay tiểu thuyết, điều căn bản nhất vẫn là nhịp điệu. Phong cách của bạn cần có một nhịp điệu vững chắc, tự nhiên, và hay, nếu không sẽ chẳng ai muốn đọc mãi tác phẩm của bạn. Tôi học được tính quan trọng của tiết tấu từ âm nhạc – mà chủ yếu là từ jazz. Tiếp đến là giai điệu. Trong văn học, đó là để chỉ sự sắp xếp những con chữ phù hợp với nhịp điệu. Nếu những con chữ có thể phối hợp với nhịp điệu một cách trơn tru và đẹp đẽ, thì còn cầu mong gì hơn được. Tiếp nữa là sự hòa âm – những thanh âm của tinh thần nội tại đang trợ sức thêm cho ngôn từ. Rồi tới phần mà tôi thích nhất: sự ngẫu hứng trong diễn tấu. Thông qua những phương thức đặc biệt khác nhau, câu chuyện sẽ được tự do vươn từ trong ra ngoài. Toàn bộ những gì tôi phải làm chỉ là thả mình trôi theo cảm xúc. Cuối cùng cũng đến phần có thể coi là quan trọng nhất: cảm giác bay bổng sau khi hoàn thành tác phẩm, kết thúc phần trình diễn và cảm nhận được rằng mình đã thành công khi chạm đến một điểm hoàn toàn mới mẻ và đầy ý nghĩa. Nếu mọi việc đều trôi chảy, bạn có thể chia sẻ cảm xúc thăng hoa này với độc giả (hoặc khán thính giả). Đây là cao trào tuyệt diệu mà không con đường nào khác có thể dẫn bạn đi đến đó.

Về mặt cơ bản mà nói, dường như mọi điều tôi biết về sáng tác văn chương đều đến từ âm nhạc. Nói như vậy có vẻ hơi ngược đời, nhưng nếu tôi không say mê âm nhạc đến vậy, tôi rất có thể không bao giờ trở thành một tiểu thuyết gia. Cho đến bây giờ, đã gần 30 năm trôi qua, tôi vẫn tiếp tục học hỏi cách viết từ những bản nhạc hay. Phong cách của tôi chịu ảnh hưởng lớn bởi mô thức trùng lặp tự do của Charlie Parker, cũng như lối tản văn trôi chảy ưu nhã của F. Scott Fitzgerald. Tôi cũng vẫn sử dụng chất lượng âm nhạc không ngừng tự mình đổi mới trong những tác phẩm âm nhạc của Miles Davis để làm mô thức văn học cho mình. (16)

(– Phan Thu Vân dịch.)

Fitzgerald gọi thời đại mà ông sống, những năm hai mươi của thế kỷ hai mươi trong lòng nước Mỹ, là “thời đại nhạc Jazz”. Lúc bấy giờ, nhạc Jazz là thời thượng, cũng như uống rượu trong một xã hội cấm rượu là thời thượng, xe hơi đắt tiền là thời thượng, những “phụ nữ hiện đại” vượt ra khỏi vòng kiềm tỏa của lễ giáo là thời thượng. Trong Gatsby vĩ đại, hầu như không chương nào là không vẳng ra tiếng đàn hát, và ngôn ngữ quyện với tiết tấu để trở nên sống động hơn bao giờ hết.

Với Murakami, âm nhạc nói chung và Jazz nói riêng, lại mang một ý nghĩa khác. Năm mươi mốt bản nhạc, với sự mở đầu và kết thúc bằng Rừng Na-uy trong đám tang của Naoko. Không gian bập bềnh mơ mơ thực thực, những câu chuyện giữa tiếng saxophone tenor và nhóm tam tấu trong Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời. Shimamoto – san và Pretend của Nat King Cole…. Tất cả thể hiện ông là “đứa con của thập niên 60”, kinh điển và không nguôi tiếc nhớ.

Âm nhạc trong tác phẩm Murakami đồng thời cũng là tiết tấu và kết cấu. “Mô thức trùng lặp tự do của Charlie Parker” thể hiện qua cùng tác phẩm, hoặc qua những liên kết chéo giữa các tác phẩm khác nhau của ông. Giai điệu ngẫu hứng chúng ta từng được nghe khi Yuki dẫn “tôi” về Tsujido gặp bố và kể cho nhau nghe câu chuyện về Người Cừu (Nhảy, nhảy, nhảy), thực chất đã được lặp lại một cách có chủ đích hơn trong 1Q84, khi Fukaeri dẫn Tengo về Futamatao gặp thầy giáo. Cái giếng đâu đó nơi đồng cỏ trong Rừng Na-uy trở thành chiếc giếng cạn có thể trèo xuống đáy trong Biên niên ký chim vặn dây cót. Nỗi sợ hãi của “tôi” khi nghĩ rằng Yumiyoshi đã “biến mất trong một bức tường” (6: 539) của Nhảy, nhảy, nhảy trở thành sự thật trong Người tình Sputnik. Rồi thế giới tách ra, bên này và bên kia – “những thế giới song song” trong Kafka bên bờ biển1Q84

Tóm lại, có thể thấy sự giao thoa giữa tiểu thuyết và âm nhạc được thể hiện dưới những cung bậc khác nhau trong tác phẩm của hai nhà văn. Nhưng đó không phải sự học hỏi, mà đúng hơn, là sự đồng điệu giữa hai tâm hồn lớn, hai phong cách lớn.

  1. Nghệ thuật kể chuyện và thủ pháp nghệ thuật tượng trưng

Tiểu thuyết của Fitzgerald và Murakami đều hình thành dựa trên lời của tổ hợp những người kể chuyện. Mỗi người, với câu chuyện không ngừng đứt quãng của mình, tạo nên tiết tấu cũng như sức hấp dẫn trong câu chuyện. Trong tiểu thuyết Gatsby vĩ đại, Fitzgerald đã tạo ra tổ hợp kể chuyện gồm bốn người khác nhau, chúng tôi tạm gọi là nhân vật nam Hiện thực (Nick Carraway), nhân vật nam Phù phiếm (Jay Gatsby), nhân vật nữ Hiện thực (Jordan Baker) và nhân vật nữ Ảo mộng (Daisy Buchanan). Câu chuyện được phát triển từ cái nhìn của nhân vật nam Hiện thực đối với nhân vật nam Phù phiếm, xoay quanh tình yêu chủ đạo giữa nam Phù phiếm và nữ Ảo mộng, được trợ giúp thêm bởi cái nhìn và những câu chuyện mang tính “gossip” (chuyện phiếm/ câu chuyện về những lời đồn đại) của nữ Hiện thực.

Đến với Murakami, tổ hợp nhân vật kể chuyện yêu thích cũng thường là bốn, và những tính chất cũng hầu như được giữ nguyên, nên chúng tôi vẫn giữ tổ hợp tên tương tự. Tuy vậy, chức năng của các nhân vật này có sự điều chỉnh. Nhân vật nam Hiện thực trong tác phẩm là người dẫn truyện, đồng thời cũng là nhân vật chính, chứ không ở vị trí thứ hai như Nick Carraway trong Gatsby vĩ đại. Nhân vật nam Phù phiếm, trừ một số trường hợp đặc biệt – như trường hợp Ushikawa Toshiharu quản lý hội Chấn hưng Văn nghệ và học thuật Tân Nhật Bản , đại đa số đều theo đúng chuẩn mực Jay Gatsby: giàu có, hào nhoáng, thượng lưu, bí ẩn, sống – chìm đắm – và chết (theo nhiều nghĩa) trong sự hoang đường tột bực do chính mình tạo ra. Nhân vật nữ Hiện thực thường là người kể chuyện theo khuynh hướng hấp dẫn, nhưng nhỏ giọt hoặc đứt đoạn, những nàng Sheherazade. Nàng thường là người đồng hành. Nhân vật nữ Ảo mộng luôn là thứ “ánh sáng xanh” mong manh không ngừng chớp tắt trong cuộc đời các nhân vật nam chính. Họ được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, khi là mối liên kết, khi là giấc mơ, khi là ước mơ, khi là bóng ma trong quá khứ. Họ chưa chắc đã được yêu, nhưng luôn được kiếm tìm và nắm giữ một cách ám ảnh và dai dẳng, như thể nếu mất đi rồi, sự sống sẽ chẳng còn giá trị. Thế nhưng, các nàng đến rồi đi, vĩnh viễn mang theo hy vọng hão huyền về sự lấp đầy trống rỗng của tuổi trẻ phù du giữa những phức cảm trong đời sống đô thị không ngừng biến đổi.

Tổ hợp nhân vật kể chuyện trong tác phẩm Murakami:

Tác phẩm

Nam

Hiện thực

Nam

Phù phiếm

Nữ

Hiện thực

Nữ

Ảo mộng

Cuộc săn cừu hoang

Tôi

Chuột – Bạn thân

Cô gái nói chuyện về tiếng sóng

Cô gái làm người mẫu chụp ảnh tai

Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới

Tôi

Không

Cô thủ thư có nhiệm vụ bảo quản những giấc mơ

Không

Rừng Na-uy

Tôi – Toru Watanabe

Nagasawa – Bạn học khóa trên

Midori – Bạn học

Naoko – Người yêu của bạn thân

Nhảy, nhảy, nhảy

Tôi

Gotanda – Diễn viên

Yumiyoshi – Cô lễ tân đeo kính ở khách sạn Cá Heo

Kiki – Gái gọi cao cấp

Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời

Tôi – Hajime

Không

Yukiko – Người vợ

Shimamoto – san

Biên niên ký chim vặn dây cót

Tôi – Toru Odaka

Wataya Noboru – Anh vợ

Kasahara May – Cô gái hàng xóm

Kumiko – Người vợ

Người tình Sputnik

Tôi

Không

Miu – giám đốc công ty nhập khẩu rượu

Sumire – cô gái mộng tưởng trở thành nhà văn

Kafka bên bờ biển

1. Tôi – Kafka Tamura

2. Nakata – Ông lão tìm mèo

Johnnie Walker, kẻ bắt mèo

  1. Sakura – bạn đường

  2. Oshima – thủ thư của thư viện Tưởng niệm Komura (10: 204)

Miss Saeki – giám đốc Thư viện Tưởng niệm Komura

1Q84

Kawana Tengo – Người viết văn

Ushikawa Toshiharu – Quản lý hội Chấn hưng Văn nghệ và học thuật Tân Nhật Bản

Fukaeri – Tác giả Nhộng không khí

Aomame – Sát thủ

Tất nhiên, những mối quan hệ trong tiểu thuyết Murakami không chỉ đơn thuần phân chia rạch ròi như vậy, mà thường xuyên được kết hợp và “đánh rối”.. Với Phía nam biên giới, phía Tây mặt trời, sự giản hóa nhân vật được thực hiện, chỉ giữ lại tôi – nhân vật chính, nữ Hiện thực Yukiko và nữ Ảo mộng Shimamoto – san, nhằm tập trung nhiều hơn vào sự ám ảnh của mối quan hệ và sự trống rỗng của tâm hồn. Trong Người tình Sputnik , mối quan hệ hơi phức tạp hơn, vì nhân vật nữ chính yêu đồng tính, Sumire yêu Miu nhưng không được đáp lại, còn “tôi” yêu Sumire như một ảo mộng không bao giờ với tới, và yêu Miu như một sự cảm thông. Cũng có thể nói, Người tình Sputnik thể hiện cách nhân vật nữ Sumire là sự kết hợp khá trọn vẹn cả hai tuýp Hiện thực và Ảo mộng, trong cách nhìn của nhân vật “tôi”. Tương tự, 1Q84 cho thấy nhân vật nữ Hiện thực và Ảo mộng hòa làm một – Aomame vừa Hiện thực vừa Ảo mộng trong tâm tưởng Tengo, và nhà văn còn tiến thêm một bước, Tengo cũng trở thành một nhân vật nam vừa Hiện thực vừa Ảo mộng trước mắt Aomame.

Trong tất cả các tiểu thuyết của Murakami cho đến thời điểm này, có lẽ chỉ Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới là không có tổ hợp dẫn chuyện theo “bộ tứ” mà chúng ta vẫn biết. Một tiểu thuyết khác, Cuộc săn cừu hoang thể hiện mối quan hệ giữa tổ hợp kể chuyện này một cách lỏng lẻo và khác biệt nhất, nhưng dư vị bàng bạc quanh cách lý giải về nhân vật nữ Ảo mộng vẫn còn đó – cô ấy biến mất, và sức hút không còn: “Chỉ có điều cậu sẽ không tìm thấy gì hấp dẫn ở cô ta nữa. Buồn đấy, nhưng đúng vậy đó. (…) Nó đã biến mất. Đã tan biến. Bất cứ thứ gì cô ấy có trước đây, đều không còn nữa.” (3: 425). Còn hai tiểu thuyết thể hiện nghệ thuật kể chuyện thông qua tổ hợp 4 người tương đối rõ nét nhất, đồng thời mang nhiều dư vị Fitzgerald nhất, chính là Rừng Na-uyNhảy, nhảy, nhảy.

Bên cạnh tổ hợp nhân vật kể chuyện, điểm nhìn của nhân vật kể chuyện cũng là khía cạnh đáng chú ý trong tác phẩm. Điểm nhìn của người kể chuyện trong tiểu thuyết F. Scott Fitzgerald tương đối thuần nhất, nhưng ông đồng thời lại gần như là người đi tiên phong trong việc tách người kể chuyện ra làm hai: tôi và “tôi” đang được/ bị quan sát bởi chính tôi.

Tôi muốn chuồn ra ngoài tản bộ về phía Đông đến Công viên Trung tâm trong ráng chiều êm dịu, nhưng hễ định đứng lên đi là lại vướng vào một trận tranh cãi man dại nào đó và lại bị buộc chặt xuống ghế như có dây trói. Vậy mà, từ trên cao này, dãy cửa sổ vàng vọt kia của chúng tôi chắc cũng đang dự phần phô diễn những bí ẩn nhân sinh cho ai đó đang lơ đãng nhìn lên từ dưới những đường phố đang tối dần kia, và chính tôi cũng là người ấy, đang ngẩng nhìn và tự hỏi mình đang thấy những gì. Tôi đang vừa ở trong vừa ở ngoài, vừa bị mê hoặc vừa thấy kinh tởm bởi cái đa dạng khôn kiệt của cuộc đời. (2: 56 – 57 )

Đoạn văn này đã được thể hiện một cách xuất sắc bằng nghệ thuật thị giác trong bộ phim Gatsby vĩ đại (2013) của đạo diễn Baz Luhrmann. Những khung cửa sổ lần lượt hiện ra và được đặc tả trước mắt khán giả, mỗi khung cửa là một câu chuyện nhân sinh. Ta thấy cùng một lúc hai Nick Carraway (Tobey Maguire thủ vai), một với quần áo xộc xệch, bị níu kéo và chuốc rượu, chuếnh choáng trong hoan lạc giữa một khung cửa sổ; còn một trong trang phục chỉnh tề, đứng ở góc đường cách đó không xa, hướng đôi mắt kinh ngạc và quan ngại về phía chính mình.

Cái nhìn độc đáo về một nhân vật “vừa ở trong vừa ở ngoài” ấy được Murakami diễn tả một cách khốc liệt hơn trong Người tình Sputnik:

Đầu óc Miu trống rỗng. Mình đang ở đây, nhìn vào phòng mình bằng ống nhòm. Và trong căn phòng đó là mình. Miu chỉnh đi chỉnh lại ống nhòm, nhưng chị có nhìn bao nhiêu lần đi nữa thì trong phòng vẫn là chị. Mặc đúng bộ quần áo bây giờ chị đang mặc. Ferdinando ôm chị và bế lại giường. (…) Miu không tài nào rời mắt khỏi cảnh tượng lạ lùng này. Chị thấy phát ốm. Cổ họng khô rang đến không nuốt được. Chị có cảm giác như mình sắp nôn. Mọi thứ đã được cường điệu một cách kỳ cục, hăm dọa, giống như một bức tranh phúng dụ thời Trung cổ. Miu đã suy nghĩ như thế này: hai người kia cố tình cho mình thấy cảnh này. Họ biết mình đang quan sát. Nhưng chị vẫn không thể rời mắt được. Trống rỗng. (9: 207 – 208 )

Murakami cũng đã cho chúng ta nhìn thấy nhiều khung cửa sổ khác qua ống nhòm của Miu, trước khi hướng vào căn phòng của chính chị. Miu, giống như Nick Carraway, đã vừa ở trong vừa ở ngoài cuộc đời mình, vừa bị mê hoặc vừa thấy kinh tởm chính mình. Chỉ khác ở chỗ, điểm nhìn của Nick Carraway cho thấy sự tự phản tỉnh, còn điểm nhìn của Miu dẫn đến sự kinh hoàng của cái tôi khi phát hiện ra cái tôi khác, cái tôi “không cảm thấy bị ô uế”, bản năng và xa lạ quá sức tưởng tượng. Hai cái tôi không chấp nhận được nhau đã triệt tiêu nhau, và “Miu tan biến” sau một đêm. (9: 209 – 211)

Từ điểm nhìn “vừa ở trong vừa ở ngoài” này đã được sự sáng tạo của Murakami đẩy lên đến cực điểm qua cái nhìn về hai thế giới, song song giữa bên này và bên kia. Hai thế giới dính lấy nhau, níu kéo nhau, nuốt lấy nhau. Những con người nhìn thấy người khác, hoặc nhìn thấy chính mình đi vào một thế giới khác, hoàn toàn không thiếu trong tác phẩm của Murakami, mà đỉnh điểm là 1Q84, khi quỹ đạo sống của thế giới này tình cờ lạc hẳn vào thế giới kia. Đó là sự hợp nhất giữa “thành phố mèo” của Kawana Tengo và năm 1Q84 của Aomame. Thành phố có hai mặt trăng khiến người ta hoàn toàn lạc lối. Khát vọng của con người trong tác phẩm trở nên rất đơn giản: ở trong cùng một thế giới với người mình yêu, và thoát khỏi thế giới hai mặt trăng, về với thế giới bình thường. Khi Aomame lần đầu gặp lại Tengo sau hai mươi năm, nàng đã “vươn người ra phía trước, áp mặt lên ngực Tengo, tai nàng áp vào chỗ trái tim anh. Nàng lắng nghe suy nghĩ của anh. “Em muốn biết chuyện này,” Aomame nói, “Muốn biết rằng chúng ta đang ở cùng một thế giới, thấy cùng một sự vật.”” (14: 471)

Kết hợp chặt chẽ với nghệ thuật kể chuyện của Murakami, là thủ pháp nghệ thuật tượng trưng. Bản thân mối quan hệ của các nhân vật kể chuyện đã mang tính chất tượng trưng. Đồng thời, thủ pháp tượng trưng cũng được thể hiện qua nhiều chi tiết khác nhau trong tác phẩm, mà phần này, theo chúng tôi, thể hiện rõ nhất sự gần gũi và tiếp nối giữa Murakami và Fitzgerald.

Trong Gatsby vĩ đại, Nick lần đầu tiên nhìn thấy Gatsby là vào một đêm tháng đầu hạ, Gatsby đứng trên cỏ, “hai tay đút túi quần, nhìn bầu trời đầy sao như rắc bạc” (2:36), rồi “ông đưa thẳng cả cánh tay ra trước về phía mặt biển tối sẫm với một dáng điệu lạ lùng, và dù là từ xa như vậy, tôi vẫn dám thề là ông đang run rẩy. Bất giác tôi đưa mắt về phía biển – và không thể phân biệt được gì ngoài một điểm sáng duy nhất màu xanh lá cây, nhỏ xíu và rất xa, có thể là tận cuối bến thuyền” (2:37) . Điểm sáng đó là chiếc đèn thắp suốt đêm, treo ở bến thuyền nhà Daisy Buchanan. Nó được ví như “đốm sao ở ngay cạnh mặt trăng” (2: 133), tượng trưng cho tình yêu khắc khoải, bền bỉ, chưa bao giờ tắt của Gatsby, nhưng lại là tình yêu chông chênh giữa hai bờ thực – mộng. Rốt cuộc tình yêu đó thật sự là đốm sao ngay cạnh mặt trăng, hay chỉ là đốm sáng xanh ở một bến thuyền?

Gatsby dành cho Daisy sự tôn sùng tuyệt đối, “đã mơ thấy nó đến tận cùng, đã cắn răng chờ đợi, phải nói thế, với một mức độ căng thẳng không thể tưởng tượng nổi” (2: 131 – 132 ). Thế nhưng, khi đã có được cô rồi, ông lại “kinh ngạc ngẩn ngơ”, và Nick Carraway nhận định: “Chắc hẳn có những lúc ngay trong chiều hôm đó Daisy đã không đúng như ông vẫn mơ tưởng – không phải nó có lỗi gì, mà chỉ là vì ảo mộng của ông sinh động khủng khiếp quá. Nó vượt quá cả Daisy, vượt quá mọi thứ. Ông đã quăng mình vào nó với một say đắm đầy sáng tạo (…). Thật là không có lửa nào đủ nóng, cũng chẳng tươi mới nào đủ nồng so với những ám ảnh chứa chất trong lòng một kẻ nam nhi.” (2: 136 – 137)

Sáu mươi năm sau, độc giả yêu thích Fitzgerald gặp lại hình ảnh điểm sáng xanh le lói, với cùng ý nghĩa tượng trưng cho tình yêu xa xăm, vô vọng, đầy mộng ảo như thế, trong Rừng Na-uy.

Ở nơi con đường bắt đầu leo lên dốc ngoài bìa rừng, tôi ngồi nhìn về phía tòa nhà có căn hộ của Naoko. Có thể nhận ra phòng nàng dễ dàng. Chỉ việc tìm khuôn cửa sổ nào ở phía sau có ánh sáng nến khi tỏ khi mờ. Tôi nhìn vào điểm sáng đó thật lâu. Nó khiến tôi nghĩ đến cái gì đó giống như những mạch đập le lói cuối cùng của một đạo linh hồn đang hấp hối. Tôi muốn chụm tay che chắn những gì còn lại của đạo linh hồn ấy và giữ cho nó sống. Tôi nhìn nó khôn nguôi, cũng như Jay Gatsby đã từng nhìn cái chấm sáng nhỏ xíu ở bờ nước bên kia hết đêm này qua đêm khác. (220)

Điểm sáng” ấy chuyển biến thành “Đốm nắng” trong Kafka bên bờ biển, là một định nghĩa hoàn hảo và mông lung về một tình yêu kỳ lạ, cũng vừa khát khao vừa vô vọng trong tác phẩm: “Tôi không biết diễn tả thế nào, nhưng quả là nụ cười ấy tạo nên một cảm giác hoàn hảo, nó khiến tôi nghĩ đến một đốm nắng tươi, một đốm nắng đặc biệt chỉ có thể bắt gặp ở một nơi biệt lập. Ngôi nhà tôi ở Tokyo có một nơi như thế và từ nhỏ, tôi đã thích ngắm những đốm nắng như thế.” (10: 47)

Kafka Tamura yêu Miss Saeki ở độ tuổi ngũ tuần bằng tình yêu của đứa con trai dành cho người mẹ chưa bao giờ được gặp, đồng thời yêu hồn ma của Miss Saeki ở độ tuổi 15 bằng tình yêu mãnh liệt đầu đời của một thiếu niên. Cho dù ở trạng thái nào chăng nữa, tình yêu ấy cũng có đủ ba đặc tính của một đốm nắng: sống động, khó nắm bắt, và rồi sẽ tắt. Tương tự như “điểm sáng”, tình yêu của Toru dành cho Naoko là thật, nhưng nó đồng thời lại là ảo ảnh mơ hồ, là thứ chỉ chiêm ngưỡng được khi đang ở rất xa.

“… Vô thời hạn. Không có đảm bảo gì. Liệu cậu có làm được không? Cậu có yêu Naoko đến thế không? ”

Tôi cũng không biết nữa,” tôi thành thực nói, “Cũng như Naoko, tôi không biết rõ ý nghĩa của việc đem lòng yêu một ai đó, tuy cô ấy hiểu việc này có hơi khác một chút. Nhưng tôi thực lòng muốn làm hết sức mình. Tôi phải cố yêu, vì không cũng chẳng biết đi đâu về đâu nữa. Như chị đã nói, Naoko và tôi phải cứu lẫn nhau. Đó là cách duy nhất để cả hai cùng được giải cứu.” (224)

Toru yêu Naoko như yêu chính linh hồn mình, đó là tình yêu của hai con người lạc lõng, mất mát, “không biết mình đang ở đâu trong cái thế giới này” (5: 63), yêu nhau để cứu vớt lẫn nhau, đồng thời cũng là để cứu vớt bản thân. Tình yêu ấy, do vậy, mà gắn liền với mùa thu tàn, với màn đêm, với ánh trăng, với mộng mị, khó nắm bắt và không sao với tới được. Ngược lại, tình yêu với Midori là sự sống, là thực chất, là thân thể, là tồn tại. Lần đầu tiên gặp Toru, Midori mặc bộ áo váy mini bằng vải bông trắng, “căng tràn một sinh lực tươi mát”, trông “giống như một con thú nhỏ vừa nhảy póp một cái vào cuộc đời lúc xuân sang” (5: 111). Cô gái mang lại tình yêu có bếp lửa, có mùi trứng rán, mì ống, pho mát, bánh dâu… Tình yêu của một cô gái “không biết buồn”, “thấy đời chỉ là của nợ” và đang tìm kiếm tình yêu hoàn hảo trong một sự “ích kỷ hoàn hảo” (5: 155). Còn gì thật và sống động hơn thế?

Cuối truyện, trong cảm xúc mới mẻ nhận ra mình “còn sống” và “chỉ muốn nghĩ đến chuyện tiếp tục sống” (5: 528-529), Toru gọi cho Midori. Đến sự im lặng qua điện thoại của cô cũng là thứ gì đó sống, sẵn sàng sinh sôi nảy nở: “Midori đáp lại bằng một hồi im lặng dài, thật dài – cái im lặng của tất cả những làn mưa bụi trên khắp thế gian đang rơi xuống tất cả những sân cỏ mới xén trên khắp thế gian.” (5: 529) Cô là sự sống, hay chí ít cũng là thứ duy nhất có thể kết nối Toru Watanabe với sự sống, thế nên “Tôi gọi Midori, gọi mãi, từ giữa ổ lòng lặng ngắt của chốn vô định ấy.” (5: 529)

Nhân vật nữ Hiện thực – biểu trưng của sự sống – được lặp đi lặp lại trong các tác phẩm của Murakami. Trong Phía nam biên giới, phía Tây mặt trời, đó là người vợ nhạt nhòa thầm lặng, không thể địch nổi hình bóng Shimamoto – san quyến rũ mê đắm. Nhưng “Nếu bây giờ bỏ em, anh sẽ hoàn toàn lạc lối. Anh không muốn phải cô đơn.(…) Tôi cảm thấy sự ấm nóng của bàn tay cô trên ngực mình và nghĩ đến cái chết… Tuy nhiên, tôi ở đây vào phút này, tôi tồn tại. Và lòng bàn tay ấm nóng của Yukiko đang đặt trên ngực tôi cũng rất thực.” (7: 282)

Mối quan hệ này lại lặp lại lần nữa với “Tôi”, Yumiyoshi và Kiki trong Nhảy, nhảy, nhảy . “Tôi” đã điên cuồng tìm kiếm Kiki trong một thời gian dài – nàng thoắt ẩn thoắt hiện giữa những giấc mơ, giữa ký ức vụn vỡ, trong những lời kể và trên màn ảnh rộng của một bộ phim tẻ nhạt – để rồi cuối cùng nhận ra mình yêu Yumiyoshi: “Tôi đã đi một vòng. Cả một vòng lớn. Và tôi trở lại với sự thật là tôi cần em”. (6: 546)

Chặng đường kiếm tìm của những nhân vật Murakami luôn kết thúc bằng sự nhận ra chính mình và chấp nhận thực tại. Thứ tượng trưng cho thực tại, hiện thực, sự sống đối với Murakami, chính là hơi ấm rất thật của một cô gái: “Rồi tôi ôm cô, ghi nhớ kỹ hơi ấm của cô” (4: 579), cũng có thể là bàn tay nắm lấy bàn tay: “Nàng lặng lẽ vươn tay lên không trung. Tengo nắm lấy bàn tay đó. Hai người đứng sánh vai nhau, hòa làm một, im lặng ngước nhìn mặt trăng lơ lửng phía trên các tòa nhà. Dần dần, nó bị ánh sáng của vầng dương mới mọc chiếu vào, nhanh chóng mất đi hào quang đã có hồi đêm, cho đến khi chỉ còn lại một cái bóng xám mờ mờ in trên bầu trời rộng lớn.” (14: 498).

Bóng tối thường lặp đi lặp lại trong Gatsby vĩ đại là thứ bóng tối “mượt như nhung” (2: 30) với những “con mèo đang đi uốn lượn qua ánh trăng” (2:36), vuốt ve và đồng lõa với sự sa ngã của con người. Nhưng vầng trăng thì khác, nó soi rọi nỗi cô đơn lạc lõng bằng thứ ánh sáng diệu kỳ, khiến người ta chẳng trốn vào đâu được. “Vầng trăng tròn mỏng dính chiếu sáng vằng vặc trên tòa nhà của Gatsby, khiến cho đêm vẫn đẹp như trước, trong khi tiếng cười và âm thanh của khu vườn vẫn còn bừng sáng của ông đã lụi dần vào im lặng. Lúc bấy giờ, một trống rỗng bất thần bỗng như đang ào ra từ các cửa sổ và cửa ra vào cao rộng kia, phủ một vẻ vô cùng lẻ loi cô độc lên hình bóng của chủ nhà đang đứng trên thềm, một bàn tay đưa lên với điệu bộ tiễn biệt khách sáo.” (2: 83). Một đoạn văn đẹp đầy ám ảnh.

Thung lũng bụi xuất hiện trong Gatsby vĩ đại cũng là một biểu tượng. Biểu tượng của sự ảm đạm và khốn khó trong tâm hồn – nơi của những con người “xám ngoét những bụi”. Biểu tượng của sự sa ngã, khi thường mỗi lúc qua đây, Tom Buchanan đều xuống tàu để gặp cô nhân tình đã có chồng, có lúc kéo theo cả Nick Carraway. Biểu tượng của sự phán xét, với “hai con mắt của bác sĩ T.J. Eckleburg màu lam và khổng lồ – đồng tử cao hàng thước”, “chẳng ở trên một bộ mặt nào”, “cũng chẳng dựa trên một cái mũi nào” (2: 39). Đôi mắt ấy không ngừng dõi theo những con người đang phóng như bay về phía cái chết, trong bóng chiều chạng vạng.

Nếu biểu tượng mang ý nghĩa phức tạp nhất của Gatsby vĩ đại là thung lũng bụi, thì với Murakami, là hình ảnh cái giếng sâu. Phải chăng đó là sự kết hợp giữa “bóng tối” và “thung lũng”? Những câu chuyện chất chồng bóng tối của Murakami không chỉ tồn tại bóng tối thường nhật, mà còn là những độ sâu thăm thẳm. Bản thân sự sáng tạo của Murakami được ông ví với những mạch nước ngầm: “Tôi phải dùng đục mà đập đá và đào một cái hố sâu rồi mới định vị được nguồn sáng tạo. Để viết một cuốn tiểu thuyết, tôi phải ép mình làm việc quá sức về mặt thể chất và bỏ ra rất nhiều thời gian và công sức. Mỗi khi bắt đầu một cuốn tiểu thuyết mới, tôi phải khơi một cái hố sâu khác.” (11: 61)

Từ những hang tối dẫn tới nơi tận cùng thế giới (Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới) đến chiếc giếng đồng nằm “ngay nơi đồng cỏ kết thúc và rừng cây bắt đầu – một lỗ mở đen ngòm vào lòng đất, đường kính tới một thước, cỏ mọc che đầy” (5:28) (Rừng Na-uy), đến tầng 16 tối đen như mực làm người ta thót người kinh khiếp (Nhảy, nhảy, nhảy), đến cái giếng cạn hun hút mà khi ngồi trong đó có thể tưởng như mình không tồn tại (Biên niên ký chim vặn dây cót), đến thế giới đen tối bạo lực có hai mặt trăng (1Q84),… Bóng tối không ngừng đào những chiếc hố mới, dọc và ngang, càng lúc càng sâu hơn, bành trướng hơn, ám ảnh hơn trong tác phẩm của Murakami, như chính sự cô đơn, nỗi đau mất mát và lạc lối không ngừng nhân lên của con người hiện đại. Thứ duy nhất giải trừ được bóng tối, chính là ánh sáng. Ánh sáng đã trở lại trên bầu trời của 1Q84. Ánh sáng đến cùng sự tỉnh thức của nhân vật trong “một thế giới mới toanh” (10: 531) của Kafka bên bờ biển. Chúng ta cùng Murakami đi hết những chặng đường dài trong những hố sâu thăm thẳm nhấn chìm sự tồn tại của con người, để rồi cuối cùng được phơi mình trong ánh sáng: “Mắt tôi mở to như cái giếng cạn. Tôi ôm Yumiyoshi thật chặt, và tôi đã khóc. Tôi khóc tự bên trong. Tôi khóc cho tất cả những gì tôi đã đánh mất và những gì tôi sẽ mất. Yumiyoshi nhẹ nhàng như tiếng tích tắc của đồng hồ, hơi thở cô phả một đốm âm ấm, ẩm ướt trên tay tôi. Hiện thực. Cuối cùng bình minh cũng trườn lên thân thể chúng tôi. Tôi nhìn kim dây trên đồng hồ báo thức chạy vòng tròn theo thời gian thực. Dần dần, tiến về phía trước. Tôi biết mình sẽ ở lại.” (6:565)

Ngay cái kết vào một bình minh rạng rỡ sau rất nhiều đêm dài đầy bóng tối ấy cũng gợi nhắc mơ hồ đến cái kết bất hủ trong Gatsby vĩ đại: “Gatsby đã tin vào đốm sáng xanh ấy, vào cái tương lai mê đắm đến cực điểm đang rời xa trước mắt chúng ta năm này qua năm khác. Ừ thì nó đã tuột khỏi tay chúng ta, nhưng có làm sao đâu – ngày mai chúng ta sẽ lại chạy nhanh hơn, vươn tay ra xa hơn… Rồi một sáng đẹp trời… Chúng ta cứ thế dấn bước, những con thuyền rẽ sóng ngược dòng, không ngừng trôi về quá khứ.” (2: 252)

  1. KẾT LUẬN

F. Scott Fitzgerald hiển nhiên là một trong những tên tuổi đáng chú ý nhất của nền văn học Mỹ. Nhưng Haruki Murakami tiếp nhận phong cách sáng tác của ông không phải do ông là một tên tuổi lớn, mà do sự đồng cảm và đồng điệu giữa hai tâm hồn văn nhân. Murakami đã từng nhận định: “Về vấn đề tiểu thuyết của Fitzgerald ảnh hưởng đến tôi, câu trả lời của tôi là vừa có, mà lại vừa không có. Về mặt văn thể, đề tài, kết cấu tiểu thuyết và câu chuyện được kể, tôi cảm thấy dường như Fitzgerald không có ảnh hưởng nào đối với tôi. Nếu nói ông có ảnh hưởng đến tôi, thì có lẽ là một điều gì đó lớn lao hơn, mơ hồ hơn rất nhiều. Chúng ta có lẽ có thể nói rằng đó là thái độ tất yếu của con người khi đối diện với cái gọi là tiểu thuyết, và chúng tôi có lẽ đều ý thức được một điều rằng tiểu thuyết, cuối cùng cũng chính là cuộc đời…” (15: 18)

Bài viết này của chúng tôi cố gắng giải mã cái “lớn lao hơn, mơ hồ hơn rất nhiều” đó qua những chi tiết cụ thể, vì xét cho cùng, mọi tư tưởng dù vĩ đại đến đâu, rồi cũng phải được thể hiện qua ngôn từ và phương thức xây dựng ngôn từ. Chúng tôi cảm nhận được, một cách không hề gượng ép, rằng sức ảnh hưởng của F. Scott Fitzgerald trong tác phẩm của Murakami lớn lao, nhưng cũng cụ thể hơn ông hình dung rất nhiều. Mặc dù vậy, Murakami chắc chắn đã hoàn toàn “nội hóa” được sức mạnh ngoại lai ấy từ rất sớm, để tạo dựng được một phong cách cá nhân độc đáo và cuốn hút. Nói như niềm tin của Murakami, thì nguồn năng lượng của mỗi con người được hình thành trong thế giới toàn cầu hóa này có lẽ không bao giờ có thể hoàn toàn “thuần túy”, nhưng nó phải không ngừng được luyện tập để trở nên thẩm thấu nhuần nhuyễn hơn, dồi dào và kiên định hơn. Chúng ta vẫn có thể chờ đợi những tác phẩm xuất sắc hơn, mang phong cách Murakami nồng đượm hơn, còn đang ở phía trước.

Tư liệu tham khảo:

  1. [] ·司各特·菲茨杰拉德,了不起的盖茨比(村上春树导读),南海出版公司, 2012.

F. Scott Fitzgerald, The Great Gatsby (bản với lời giới thiệu của Haruki Murakami), Hải Nam xuất bản Công ty, 2010.

  1. F. Scott Fitzgerald, Trịnh Lữ dịch, Đại gia Gatsby, Nhã Nam – Hội xuất bản Hội nhà văn xuất bản, 2012.

  2. Haruki Murakami, Minh Hạnh dịch, Cuộc săn cừu hoang, Nhã Nam – Hội xuất bản Hội nhà văn xuất bản, 2011.

  3. Haruki Murakami, Lê Quang dịch, Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, Nhã Nam – Hội xuất bản Hội nhà văn xuất bản, 2010.

  4. Haruki Murakami, Trịnh Lữ dịch, Rừng Na-uy, Nhã Nam – Hội xuất bản Hội nhà văn xuất bản, 2008.

  5. Haruki Murakami, Trần Vân Anh dịch, Nhảy, nhảy, nhảy, Nhã Nam – Hội xuất bản Hội nhà văn xuất bản, 2011.

  6. Haruki Murakami, Cao Việt Dũng dịch, Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời, Nhã Nam – Hội xuất bản Hội nhà văn xuất bản, 2007.

  7. Haruki Murakami, Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Biên niên ký chim vặn dây cót, Nhã Nam – Hội xuất bản Hội nhà văn xuất bản, 2012.

  8. Haruki Murakami, Ngân Xuyên dịch, Người tình Sputnik, Nhã Nam – Hội xuất bản Hội nhà văn xuất bản, 2012.

  9. Haruki Murakami, Dương Tường dịch, Kafka bên bờ biển, Nhã Nam – Hội xuất bản Hội nhà văn xuất bản, 2007.

  10. Haruki Murakami, Thiên Nga dịch, Tôi nói gì khi nói về chạy bộ, Nhã Nam – Hội xuất bản Hội nhà văn xuất bản, 2011.

  11. Haruki Murakami, Lục Hương dịch, 1Q84, tập 1, Nhã Nam – Hội xuất bản Hội nhà văn xuất bản, 2012.

  12. Haruki Murakami, Lục Hương dịch, 1Q84, tập 2, Nhã Nam – Hội xuất bản Hội nhà văn xuất bản, 2012.

  13. Haruki Murakami, Lục Hương dịch, 1Q84, tập 3, Nhã Nam – Hội xuất bản Hội nhà văn xuất bản, 2013.

  14. 林少华《村上春树文集总序·村上春树的小说世界 及其艺术魅力》(2001,上海译文出版社)。

Lâm Thiếu Hoa, Murakami văn tập tổng tự – Murakami đích tiểu thuyết thế giới cập kỳ nghệ thuật mê lực, Thượng Hải dịch văn xuất bản xã, 2001.

  1. Murakami, Jazz Messenger,

http://www.nytimes.com/2007/07/08/books/review/Murakami-t.html?_r=0

(Truy cập lúc 7:26 PM, 2/11/2013)

Văn học Mỹ

TÓM LƯỢC VĂN HỌC HOA KỲ

Kathryn VanSpanckeren

(Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 5/2007)

1

Kathryn VanSpanckeren, Giáo sư tiếng Anh tại trường Đại học Tampa, đã giảng dạy về văn học Hoa Kỳ ở nhiều nơi trên thế giới, và từng là Giám đốc Chương trình Tập huấn Mùa hè do Quỹ Fulbright tài trợ dành cho các học giả quốc tế. Những tác phẩm đã xuất bản của bà bao gồm thơ ca và các nghiên cứu. Bà đã tốt nghiệp cử nhân ở Đại học California, Berkeley và nhận bằng Tiến sĩ của trường Đại học Harvard.

2

Mục lục

Nước Mỹ thời kỳ lập quốc và giai đoạn thuộc địa

Sự độc lập về văn học

Chủ nghĩa lãng mạn New England

Những tiểu thuyêt gia vĩ đại đầu tiên

Sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực

Chủ nghĩa hiện đại và những thử nghiệm

Sự phát triển của cá nhân

 

Chương 1

Nền tảng của văn học Mỹ đã được xây dựng từ những câu chuyện thần thoại, những truyền thuyết, những câu chuyện cổ tích và những bài ca trữ tình được truyền miệng từ các nền văn hóa của người da đỏ. Truyền thống truyền miệng của người Mỹ bản địa tương đối phong phú. Các câu chuyện của người da đỏ thường tỏ ra sùng kính thiên nhiên và coi
thiên nhiên như người mẹ vật chất lẫn tinh thần. Thiên nhiên là một thực giả J.L.G. Ferris, miêu tả nghi thể sống động và mang lại sức mạnh lễ cầu mùa màng bội thu. (ảnh tinh thần; các nhân vật chính trong tự nhiên có thể là loài vật hoặc cây cối, đôi khi là các vật tổ gắn liền với mỗi bộ lạc, mỗi tộc người hoặc mỗi cá nhân.

Sự đóng góp của người da đỏ bản địa đối với nước Mỹ lớn hơn chúng ta tưởng. Hàng trăm từ ngữ của người da đỏ hiện vẫn đang được sử dụng trong tiếng Anh Mỹ thông dụng. Ví dụ như “canoe”,, “tobacco”,, “potato”, “moccasin”, “moose”, “persimmon”, “raccoon”, “tomahawk”, và “totem” (xuồng, thuốc lá, khoai tây, giày da đanh, nai sừng tấm, quả hồng vàng, gấu trúc Mỹ, cái rìu và vật tổ). Các tác phẩm văn học đương đại của người Mỹ bản địa sẽ được nhắc tới trong chương 8 cũng bao gồm nhiều áng văn hay.

Tác phẩm văn học đầu tiên mang hơi hướng châu Âu xuất hiện trên đất Mỹ là một tác phẩm được viết bằng tiếng Scandinavi. Câu chuyện dân gian về các dòng họ lâu đời ở Na Uy đã mô tả những cuộc phưu lưu của Leif Eriksson và những người đàn ông Na Uy đến khai hoang tại một vài nơi thuộc bờ Đông Bắc nước Mỹ – có thể là ở Nova Scotia thuộc Canada- vào thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 11.

Tuy nhiên, tiếp xúc đầu tiên và liên tục giữa nước Mỹ với phần còn lại của thế giới chỉ được bắt đầu khi nhà thám hiểm tài ba người Italia, Christopher Columbus, tìm ra châu Mỹ dưới sự tài trợ của nữ hoàng Tây Ban Nha – Isabella. Nhật ký Columbus trong cuốn “Epistola” của ông – được in vào năm 1493 – đã mô tả lại cuộc hành trình đầy kịch tính này.

Những nỗ lực thực dân hóa đầu tiên của người Anh quả là một thảm họa. Khu thuộc địa đầu tiên được thành lập năm 1585 tại Roanoke, thuộc bờ Bắc Carolina và tất cả người đến khai hoang ở khu vực này đã biến mất. Khu kiều dân thứ hai tồn tại lâu hơn: Jamestown, được thành lập năm 1607. Khu kiều dân này đã chịu đựng cái đói, sự cai trị hung bạo và vô tổ chức. Tuy nhiên, nền văn học trong thời kỳ này đã mô tả nước Mỹ với nhiều màu sắc rực rỡ như là miền đất hứa hẹn sự giàu có với nhiều cơ hội. Các tác phẩm miêu tả thời kỳ thuộc địa đã trở thành những áng văn nổi tiểng trên thế giới.

Vào thế kỷ 17, những tên cướp biển, những kẻ phưu lưu và những nhà thám hiểm đã mở đường cho làn sóng thứ hai của những người khai phá lâu dài: họ đem theo vợ con, đồ dùng trong trang trại và công cụ lao động của những người thợ thủ công. Nền văn học mới xuất hiện trong thời kỳ khai hoang này được thể hiện qua những cuốn nhật ký, thư từ, nhật ký các cuộc hành trình, nhật ký hàng hải của những con tàu và các báo cáo gửi cho những người tài trợ cho các nhà thám hiểm. Vì rốt cuộc nước Anh đã có quyền sở hữu những thuộc địa ở Bắc Mỹ, nên hầu hết các tác phẩm nổi tiếng và những hợp tuyển các tác phẩm văn học thời kỳ thuộc địa đều được viết bằng tiếng Anh.

Dường như không có một khu kiều dân nào trong lịch sử thế giới lại tỏ ra có trí tuệ nhiều hơn những người Thanh giáo, hầu hết trong số họ có nguồn gốc từ nước Anh hoặc từ đất nước Hà Lan. Từ năm 1630 đến năm 1690, đã có nhiều trường đại học được thành lập ở miền Đông Bắc nước Mỹ – được biết đến với cái tên New England như ở nước Anh vậy. Những người Thanh giáo tự lập và thường là tự học muốn có kiến thức để hiểu được Chúa và thực hiện những điều răn dạy của Chúa khi họ xây dựng những khu kiều dân của mình tại New England.

Văn phong của người Thanh giáo tỏ ra vô cùng phong phú – từ những áng thơ trừu tượng rất phức tạp đến những dòng nhật ký bình dị, chất phác và những cuốn lịch sử tôn giáo có tính mô phạm cao. Dù ở phong cách và thể loại nào, chủ đề của các tác phẩm dường như không đổi. Cuộc sống được coi như một cuộc thử nghiệm, thất bại dẫn đến sự nguyền rủa vĩnh viễn và bị thiêu cháy dưới địa ngục còn thành công thì dẫn đến những niềm vui sướng nơi thiên đường. Thế giới này là một đấu trường bất biến giữa sức mạnh của Chúa và sức mạnh của Sa-tăng – một kẻ thù nguy hiểm với nhiều hình dạng cải trang.

Lâu nay, các học giả đã chỉ ra mối liên hệ giữa chủ nghĩa Thanh giáo và chủ nghĩa Tư bản: cả hai đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tham vọng, lao động chăm chỉ và nỗ lực hết mình để thành công. Mặc dù các cá nhân theo chủ nghĩa Thanh giáo – do những ràng buộc nghiêm khắc của các quy phạm thuộc thần học – có thể không biết họ có được “che chở” và được chọn để đi tới thiên đường hay không, nhưng những người Thanh giáo luôn có thiên hướng tin tưởng rằng những thành công nơi thế giới trần tục chính là dấu hiệu cho thấy họ sẽ được chọn. Sự giàu sang và địa vị xã hội không chỉ là quý giá đối với họ mà còn là sự bảo đảm để có được một sức mạnh tinh thần và hứa hẹn một cuộc sống bất tử.

Ngoài ra, quan điểm về địa vị xã hội cũng góp phần thúc đẩy sự thành công. Các tín đồ Thanh giáo tin rằng bằng cách thúc đẩy hơn nữa lợi ích của chính họ và sự hạnh phúc của cộng đồng, họ đã tiến gần hơn được với Chúa. Tác phẩm văn học vĩ đại nhất chứa đựng đức tín và quy tắc ứng xử của họ chính là Kinh thánh – đã được cho phép dịch ra tiếng Anh. Tính cổ xưa của Kinh thánh đã khiến nó trở nên đầy quyền lực trong con mắt của các tín đồ Thanh giáo.

Từ những năm 1600 đến những năm 1700, chủ nghĩa giáo điều tôn giáo từng bước suy thoái bất chấp những nỗ lực rời rạc và tàn nhẫn của các tín đồ Thanh giáo nhằm ngăn chặn làn sóng của chủ nghĩa khoan dung. Tư tưởng của chủ nghĩa khoan dung và tự do tôn giáo đã từng bước lớn mạnh tại các khu kiều dân Mỹ và lần đầu tiên được thành lập ở Rhode Island và Pennsylvania, quê hương của người Quaker. Những người Quaker bao dung và nhân ái – hay còn được gọi là những “Người bạn” – tin tưởng vào phần thánh thiện trong lương tâm mỗi người và coi đó là nguồn gốc của đạo đức và trật tự xã hội. Đức tin căn bản của người Quaker đối với tình yêu vạn vật và tình anh em khiến họ trở thành những người có tư tưởng dân chủ sâu sắc và phản đối quyền lực tôn giáo võ đoán. Bị xua đuổi bởi chính quyền bang Massachusetts – những người e sợ sự ảnh hưởng của họ – những người Quaker đã xây dựng một khu kiều dân rất thành công dưới thời William Penn năm 1681 ở Penn- sylvania.

 

Chương 2

Sự độc lập về văn học

Cuộc cách mạng Mỹ chống lại người Anh (1775-1783) là cuộc chiến tranh giải phóng hiện đại đầu tiên chống lại một cường quốc thực dân. Chiến thắng vang dội của cuộc đấu tranh giành độc lập đã cho thấy những tiên đoán về số mệnh làm nên những điều vĩ đại của nước Mỹ và người dân Mỹ. Chiến thắng quân sự đã thắp sáng niềm hy vọng về chủ nghĩa dân tộc và làm nảy sinh một nền văn học mới. Nếu không kể đến các bài viết về chính trị nổi bật thì chỉ có rất ít tác phẩm văn học đáng chú ý được viết trong hoặc ngay sau Cách mạng.

Người dân Mỹ đã đau xót nhận thấy sự phụ thuộc quá mức của văn học Mỹ vào các mô thức văn học kiểu Anh. Sự tìm kiếm nền văn học bản địa đã trở thành nỗi ám ảnh trên khắp đất nước. Sự giải phóng cho văn học Mỹ đã bị trì hoãn bởi mối liên hệ còn sót lại với nước Anh thể hiện qua sự bắt chước và mô phỏng thái quá những hình mẫu văn học cổ điển hoặc theo kiểu Anh quốc. Đồng thời, những khó khăn về kinh tế và điều kiện chính trị cũng đã làm cản trở công việc xuất bản.

James Fenimore Cooper, giống như Washing- ton Irving, là một trong những nhà văn lớn đầu tiên của nước Mỹ. Giống như các nhà văn lãng mạn khác thời kỳ này, ông đã gợi nên những tình cảm trong quá khứ (ở thời đại của ông, những vùng đất hoang vu của nước Mỹ được khai hóa và gắn liền với những kiều dân đến từ châu Âu). Trong tác phẩm của Cooper, người ta đã tìm thấy sức mạnh diệu kỳ của “thời đại vàng” và đau xót cho những mất mát của nó.

Trong khi Washington Irving và những nhà văn Mỹ khác trước và sau ông đã sục sạo khắp châu Âu để tìm kiếm các truyền thuyết, các tòa lâu đài và các tư tưởng vĩ đại thì Cooper lại giúp tạo ra một truyền thuyết riêng cho nước Mỹ: lịch sử châu Âu tại Mỹ đã được tái hiện qua tác phẩm Mùa thu ở khu vườn địa đàng. Tính tuần hoàn của tự nhiên chỉ được nhận thấy thấp thoáng từ chính hành vi phá hủy nó: những vùng đất hoang dã đã biến mất trong con mắt người Mỹ, biến mất ngay trước khi những người tiên phong đi tới, giống như một ảo giác vậy. Đây chính là nhân sinh quan theo kiểu bi kịch của Cooper đối với tình trạng bị tàn phá của các miền đất chưa được khai hóa – một vườn địa đàng mới lúc đầu đã thu hút các kiều dân.

Là con trai trong một gia đình Quaker, ông lớn lên tại một điền trang xa xôi hẻo lánh của người cha tại Hồ Otsego (hiện là thị trấn Coopers) nằm ở trung tâm bang New York. Mặc dù vùng đất này khá yên bình vào thời niên thiếu của Cooper song nó đã từng một lần là nơi diễn ra cuộc tàn sát người da đỏ. Từ bé Fenimore Cooper đã nhìn thấy những người dân ở vùng biên giới và những người da đỏ ở vùng hồ Hồ Otsego, sau này cậu thấy những kiều dân da trắng ngang nhiên xâm lấn đất đai của mình.

Natty Bumppo, nhân vật nổi tiếng trong các tác phẩm văn học của Cooper, là đại diện cho nhân sinh quan của ông – một người dân vùng biên giới và là một “nhà quý tộc bẩm sinh” theo chủ nghĩa Jefferson. Ngay từ năm 1823, trong tác phẩm Người tiên phong, Cooper đã bắt đầu tưởng tượng ra nhân vật Bumppo. Natty là người dân vùng biên giới được biết đến đầu tiên trong văn học Hoa Kỳ và là nguyên mẫu văn học đầu tiên của vô số các nhân vật cao bồi và các anh hùng tại những khu rừng hẻo lánh được hư cấu sau này. Nhân vật này là một người theo chủ nghĩa cá nhân lý tưởng – người luôn tốt đẹp hơn xã hội mà anh ta bảo vệ. Nghèo khổ và đơn độc nhưng lại vô cùng trong sáng, nhân vật này là chuẩn mực cho các giá trị đạo đức và là nguyên mẫu cho nhân vật Billy Bud của Herman Melville và nhân vật Huck Finn của Mark Twain sau này.

Dựa trên một phần cuộc sống đời thực của một người Mỹ khai hoang là Daniel Boone – một người Quaker giống như Cooper – Natty Bumppo, phiên mẫu của Boone, là một người đàn ông mang lại hòa bình và được một bộ lạc người da đỏ nuôi dưỡng. Cả Boone và nhân vật tưởng tượng Bumppo đều yêu thiên nhiên và tự do. Họ không ngừng hướng về phía Tây để thoát khỏi những kiều dân đang đến – những người mà chính họ đã chỉ đường cho tới vùng đất hoang dã này – và họ đã trở thành truyền thuyết từ chính cuộc đời của họ.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tuyển tập gồm 5 cuốn tiểu thuyết được biết đến dưới cái tên Truyền thuyết chiếc vớ da chính là cuộc đời của Natty Bumppo. Được coi là tuyển tập hay nhất của Cooper, 5 cuốn tiểu thuyết này là những áng văn xuôi mang đậm chất hùng ca với khung cảnh hùng tráng của lục địa Bắc Mỹ, các bộ lạc da đỏ là những diễn viên chính, các cuộc chiến tranh vĩ đại và dòng người di cư sang phía Tây là bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những cuốn tiểu thuyết này cho thấy cuộc sống nơi biên giới nước Mỹ trong những năm từ 1740 đến 1804. Tiểu thuyết của Cooper đã miêu tả một cách vô cùng sinh động những làn sóng kiều dân kế tiếp nhau tới khu vực biên giới: những vùng đất hoang vu là nơi sinh sống của người da đỏ; sự có mặt của những người da trắng đầu tiên – những trinh sát, những người lính, nhà buôn và những người dân vùng biên giới; sự xuất hiện của nghèo đói, của những gia đình kiều dân khốn khổ, và cuối cùng là sự có mặt của tầng lớp trung lưu bao gồm thẩm phán, bác sĩ và chủ ngân hàng. Mỗi đợt sóng ào đến lại xóa sạch những đợt sóng trước đó: người da trắng thế chỗ người da đỏ khiến những người này buộc phải rút về phía Tây; tầng lớp trung lưu xây dựng trường học, nhà thờ và nhà tù, thay thế cho tầng lớp thấp hơn bao gồm những tộc người biên giới theo chủ nghĩa cá nhân – những người buộc phải di chuyển xa hơn về phía Tây, đến lượt họ lại thay thế những người da đỏ đến trước đó. Coo- per đã miêu tả được tính vô tận và làn sóng không thể tránh khỏi của những kiều dân, đồng thời ông cũng nhìn nhận được cả những cái được và cái mất của những làn sóng di cư ấy.

Giống như Rudyard Kipling, E.M. Forster, Herman Melville và các nhà quan sát nhạy cảm khác của các nền văn hóa rất khác nhau nhưng vẫn tương tác lẫn nhau, Cooper là một nhà văn hóa theo thuyết tương đối. Ông hiểu rằng không nền văn hóa nào có vị thế độc tôn trong những vấn đề đạo đức hay cái đẹp.

 

Chương 3

Chủ nghĩa lãng mạn New England

Phong trào lãng mạn bắt nguồn từ nước Đức nhưng đã nhanh chóng lan rộng và ảnh hưởng tới nước Mỹ vào khoảng năm 1820. Các tư tưởng lãng mạn xoay quanh linh hồn con người và những vẻ đẹp vĩ đại của tự nhiên, đồng thời đề cập đến tầm quan trọng của linh hồn và trí tuệ của mỗi cá nhân. Chủ nghĩa lãng mạn nhấn mạnh tầm quan trọng của nghệ thuật tự biểu cảm của cá nhân và xã hội.

Sự phát triển cá nhân trở thành chủ đề chính và sự tự ý thức về bản thân là phương thức cơ bản. Theo lý thuyết của chủ nghĩa lãng mạn, nếu bản ngã và tự nhiên hòa làm một thì ý thức về bản thân không phải là sự ích kỷ mà là cách thức mở rộng tri thức đối với vũ trụ. Nếu cái tôi của một người là cái tôi có nhân tính thì cá nhân đó có trách nhiệm đạo đức là cải tạo xã hội, xóa bỏ bất công và làm dịu đi những nỗi thống khổ của con người. Tư tưởng về cái tôi – vốn bị những thế hệ trước coi là bản ngã ích kỷ – đã được định nghĩa lại. Các từ ghép mới mang ý nghĩa tích cực đã được sử dụng như: “khả năng tự nhận thức”, “khả năng tự biểu đạt” và “lòng tự tin”.

Vì chỉ có một nên cái tôi chủ quan trở nên vô cùng quan trọng dưới góc nhìn tâm lý học. Nhiều kỹ thuật và hiệu ứng nghệ thuật đã được xây dựng để khơi gợi xúc cảm tâm lý của các cá nhân. Nghệ thuật tượng hình – một hiệu ứng thẩm mỹ mô tả các khung cảnh hùng vĩ (ví dụ như quang cảnh nhìn từ một đỉnh núi) – đã có tác dụng tạo ra những cảm xúc về nỗi kinh sợ, sự tôn kính, sự bao la và sức mạnh trong nhận thức của con người.

Chủ nghĩa lãng mạn đã được khẳng định và được dành riêng cho hầu hết các nhà thơ và các nhà văn tiểu luận sáng tạo Mỹ. Các đỉnh núi hùng vĩ, các sa mạc mênh mông và các vùng đất nhiệt đới của nước Mỹ đã được mô tả trong các áng văn thơ của họ. Tư tưởng lãng mạn dường như đặc biệt thích hợp với nền dân chủ kiểu Mỹ: nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa cá nhân, khẳng định giá trị của những con người bình dị và cổ vũ cho trí tưởng tượng đầy sáng tạo nhằm biểu đạt các giá trị đạo đức và thẩm mỹ.

Thuyết tiên nghiệm

Phong trào Tiên nghiệm – đại diện bởi nhà văn tiểu luận Waldo Em- erson và Henry David Thoreau, là một phản ứng chống lại Chủ nghĩa Duy lý thế kỷ 18 và được coi là có mối liên hệ gần gũi với phong trào Lãng mạn. Phong trào này gắn liền với Concord, Massa- chusetts, một thị trấn gần Boston, nơi Emerson, Thoreau, và một nhóm các nhà văn khác đã sống.

Nhìn chung, Chủ nghĩa Tiên nghiệm là một triết lý sống tự do, yêu thích tự nhiên hơn là các cấu trúc tôn giáo theo nghi thức, đề cao nhận thức của mỗi cá nhân hơn là những giáo lý cứng nhắc, coi trọng bản năng của con người hơn là các quy ước xã hội. Những người theo chủ nghĩa Lãng mạn tiên nghiệm ở nước Mỹ đã thúc đẩy hơn nữa chủ nghĩa cá nhân cấp tiến và đẩy chủ nghĩa cá nhân đến mức cực đoan. Các nhà văn Mỹ – lúc đó hoặc sau này – đều tự coi mình là những nhà thám hiểm đơn độc nằm bên ngoài xã hội và các quy ước của nó. Nhân vật anh hùng Mỹ – giống như Thuyền trưởng Ahab của Herman Melville hay Huck Finn của Mark Twain – đều tự mình đối mặt với hiểm nguy, thậm chí đối mặt với cái chết trong hành trình tự khám phá mang tính siêu việt của họ. Đối với các nhà văn lãng mạn Mỹ, không có gì là định sẵn. Văn học và quy ước xã hội, nếu không có ích thì sẽ trở thành nguy hiểm. Luôn có một sức ép dữ dội thôi thúc họ tìm ra một hình thức, nội dung và cảm xúc văn học có tính xác thực cao.

Ralph Waldo Emerson, một gương mặt xuất chúng vào thời đại của ông, là một người có tư tưởng về sứ mệnh tôn giáo. Mặc dù nhiều người buộc tội ông đã phá vỡ các giáo lý của đạo Cơ đốc song ông đã giải thích rằng đối với ông “để trở thành một mục sư tốt thì phải rời bỏ nhà thờ”. Bài diễn văn mà ông đã trình bày năm 1838 tại Thánh đường Trường Thần học Harvard đã khiến ông không được chào đón tại Harvard trong 30 năm. Trong bài diễn văn này, Emerson đã cáo buộc nhà thờ quá ủng hộ tín điều và bóp nghẹt linh hồn con người.

Ralph Waldo Emerson

Emerson luôn kiên định với lời kêu gọi của mình về sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân kiểu Mỹ lấy nguồn cảm hứng từ tự nhiên. Trong cuốn Tự nhiên (1836), ấn phẩm đầu tiên của ông, đoạn mở đầu được viết như sau:

Thời đại của chúng ta là nhìn nhận lại quá khứ. Quá khứ xây nên lăng mộ của những người cha. Nó viết nên tiểu sử, lịch sử và những lời chỉ trích. Các thế hệ đi trước đã trông thấy Chúa và thiên nhiên đối mặt với nhau; chúng ta (chỉ đơn thuần là) thông qua con mắt của họ. Tại sao chúng ta lại không được phép trực tiếp quan sát mối liên hệ giữa loài người với vũ trụ? Tại sao chúng ta không được phép có thi ca nhìn thấu tâm hồn con người thay vì truyền thống, và tại sao chúng ta không được có một tôn giáo soi rạng chính chúng ta thay vì lịch sử của những thế hệ trước. Cứ mỗi mùa trong tự nhiên với những dòng chảy cuộc sống xung quanh ta và xuyên qua ta lại mời mọc ta bởi sức mạnh của nó, thúc đẩy ta hành động hòa hợp với tự nhiên, vậy thì tại sao chúng ta lại cứ phải mò mẫm trong những đống xương tàn của quá khứ…?

Nhiều tư tưởng tôn giáo của ông bắt nguồn từ những tác phẩm mà ông đã đọc về Đạo Hinđu, Khổng giáo và đạo Xufi Hồi giáo.

Henry David Thoreau sinh ra và cư trú ở Concord. Xuất thân từ một gia đình nghèo, giống như Emerson nhưng ông đã từng học tập ở trường Đại học Harvard. Kiệt tác của ông, Walden, hay Cuộc sống trong rừng (1854), là thành quả của 2 năm, 2 tháng và 2 ngày (từ 1845 đến 1847) sống trong một căn nhà gỗ nhỏ được ông xây dựng ở Walden Pond, gần Concord. Bản trường ca thơ mộng này của ông đã giúp người đọc chiêm nghiệm cuộc sống và thúc đẩy họ sống hết mình cho cuộc sống.

Tác phẩm “Chống lại pháp luật” của Thoreau cùng với lý thuyết của nó về sự kháng cự tiêu cực dựa trên sự cần thiết về đạo đức đối với mỗi cá nhân chính nghĩa – những người cần đứng lên phản kháng lại những bộ luật bất công. Tư tưởng này của ông chính là nguồn cảm hứng Henry David Thoreau cho phong trào giành độc lập của thủ lĩnh người Ấn độ Mahatma Gandhi và của cuộc đấu tranh do Martin Luther King lãnh đạo đòi quyền dân sự cho những người Mỹ da đen vào thế kỷ 20.

Sinh ra ở Long Island, bang New York, Walt Whitman đã từng là thợ mộc bán thời gian và là một người con ưu tú của dân tộc – người đã có những tác phẩm thành công rực rỡ, đầy chất sáng tạo và phản ánh linh hồn của nền dân chủ Hoa Kỳ. Cuộc đời của Whitman là một tấm gương về tự học hỏi, từ năm 11 tuổi ông đã rời trường học để đi làm, vì vậy, ông không được hưởng những tinh hoa của nền giáo dục truyền thống khiến cho hầu hết các tác giả người Mỹ đều mô phỏng văn phong kiểu Anh. Trong cuốn Lá Cỏ (1855) của ông – một tác phẩm được ông sáng tác dựa trên chính cuộc đời mình – có “Bài ca của tôi” – một bài thơ được coi là ấn tượng nhất đã từng được viết bởi một tác giả là người Mỹ.

Tính sáng tạo, không theo vần điệu, hình thức tự do của thơ ca cùng với thái độ cởi mở đối với đời sống tình dục, xúc cảm mạnh mẽ đối với nền dân chủ và tư tưởng lãng mạn cực đoan được hòa trộn làm một và người đọc lập tức đã bị cuốn theo dòng chảy thi ca thực sự theo lối Mỹ.

Walt Whitman (1819-1892)

Emily Dickinson được coi là chiếc cầu nối giữa thời đại của bà với những xúc cảm văn học của thế kỷ 20. Là một người theo chủ nghĩa cá nhân cực đoan, bà sinh ra và sống cuộc đời mình ở Amherst – một ngôi làng nhỏ thuộc bang Massa- chusetts. Bà không kết hôn và đã sống một cuộc đời kỳ lạ với một nội tâm mãnh liệt, nhiều biến cố mặc dù nếu chỉ quan sát bên ngoài thì dường như cuộc sống của bà vô cùng bình lặng. Bà yêu thiên nhiên và tìm thấy cảm hứng sâu sắc từ những cánh chim, những con vật, cỏ cây và

Emily Dickinson (1830-1886) những thời khắc giao mùa của vùng nông thôn New England.

Dickinson đã sống ẩn dật phần cuối của cuộc đời mình để nuôi dưỡng tâm hồn vô cùng nhạy cảm của bà và dành thời gian để sáng tác.

Văn phong ngắn gọn, xúc tích và giàu hình tượng của bà có tính hiện đại và sáng tạo hơn phong cách của Whitman. Bà thường đề cập đến những cảm xúc khiếp sợ về sự tồn tại của các sinh linh. Những vần thơ trong sáng, chải chuốt, đầy hình tượng của bà được phát hiện vào những năm 1950 và được coi là một trong những vần thơ lôi cuốn và có sức hấp dẫn lớn nhất trong lịch sử văn học Hoa Kỳ.

 

Chương 4

Những tiểu thuyêt gia vĩ đại đầu tiên

Walt Whitman, Herman Melville, Emily Dickinson – cũng như các tác giả đương thời khác, Nathaniel Hawthorne và Edgar Allen Poe – đại diện cho thế hệ các nhà văn, nhà thơ lớn đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ. Đối với các nhà văn hư cấu, nhân sinh quan theo chủ nghĩa lãng mạn được bộc lộc qua một thể thức văn học được Haw- thorrne gọi là “tiểu thuyết hư cấu” – một hình thức văn học có tính biểu trưng, gây xúc động mạnh và cường điệu của loại hình tiểu thuyết. Theo cách định nghĩa của Hawthorrne, tiểu thuyết hư cấu không phải là những câu chuyện tình yêu mà là những cuốn tiểu thuyết thực sự, trong đó sử dụng những thuật ngữ đặc biệt để truyền tải những cảm xúc phức tạp và tinh tế.

Thay vì mô tả một cách thận trọng những nhân vật có thực thông qua hàng loạt các chi tiết như hầu hết các tác giả người Anh và các nhà viết tiểu thuyết ở châu Âu, Hawthorne, Melville và Poe đã tạo ra những nhân vật anh hùng không có thật trong cuộc sống và mang đậm chất hoang đường. Nhân vật chính trong tiểu thuyết hư cấu Mỹ là những cá nhân ma quái hoặc bị bệnh tâm thần. Arthur Dimmesdale hay Hester Prynne trong cuốn Chữ A màu đỏ của Hawthorne, Ahab trong cuốn Moby-Dick của Melville và nhiều nhân vật cô độc và bị ám ảnh khác trong các tác phẩm của Poe đều là những vai chính đơn độc chống lại định mệnh đen tối không thể nhận biết – một định mệnh được hình thành một cách hoàn toàn bí ẩn bên ngoài cá nhân vô thức của họ. Cốt truyện có tính biểu trưng được giấu trong những hành động của linh hồn đau khổ. Một lý do khiến cho loại tiểu thuyết hư cấu này thường khai thác những ngóc ngách sâu kín trong tâm hồn nhân vật là do vào thời kỳ này, tại nước Mỹ, sự chia sẻ cộng đồng vẫn còn đang thiếu vắng. Các nhà văn tiểu thuyết của nước Anh – Jane Austen, Charles Dickens (một nhà văn rất nổi tiếng), Anthony Trollope, George Eliot, William Thackeray – đều sống trong một xã hội phức tạp, được kết nối tốt và mang đậm tính truyền thống. Họ chia sẻ với độc giả của họ – một thái độ cho thấy tư tưởng hư cấu hiện thực của những nhà văn này.

Các nhà văn Mỹ phải đối mặt với lịch sử của cuộc đấu tranh cách mạng, với những vùng đất bao la chưa được khai phá và một xã hội dân chủ hay thay đổi và gần như không bị phân tầng. Nhiều cuốn tiểu thuyết Anh mô tả những con người nghèo khổ đã leo lên được các bậc thang kinh tế xã hội cao hơn do có được một cuộc hôn nhân tốt hoặc do phát hiện ra quá khứ quý tộc bị che giấu của mình. Nhưng cốt truyện kiểu này đã không hấp dẫn được cấu trúc xã hội quý tộc kiểu Anh. Ngược lại, chính cấu trúc xã hội này tạo nên cốt truyện. Sự vươn lên của các nhân vật chính trong truyện làm thỏa mãn khao khát của phần lớn độc giả thuộc tầng lớp trung lưu thời bấy giờ ở nước Anh.

Ngược lại, các nhà viết tiểu thuyết Mỹ phải tin tưởng vào chính họ. Nước Mỹ là một quốc gia có đường biên giới luôn thay đổi và không thể định nghĩa do những người di cư nói hàng chục ngôn ngữ khác nhau với những phong cách sống thô sơ và hoàn toàn mới lạ. Vì thế, nhân vật chính trong một cuốn tiểu thuyết Mỹ thường có khả năng một mình sống giữa một bộ lạc ăn thịt người như trong cuốn Typee của Melville, hay một mình khai phá vùng đất hoang như Leatherstocking của James Fenimore Cooper, hoặc có khả năng nhìn thấy hồn ma hiện lên từ những nấm mồ như những nhân vật ẩn dật của Poe, và gặp gỡ ma qủy đi dạo trong rừng như nhân vật Young Goodman Brown của Hawthorne. Hầu như tất cả các nhân vật chính trong loại hình tiểu thuyết này đều là những người “cô đơn”. Một người Mỹ dân chủ phải tự phát hiện ra bản ngã của mình. Các nhà viết tiểu thuyết nổi tiếng của nước Mỹ đã phát minh ra những thể thức mới cho loại hình văn học này: ví dụ như cuốn Moby-Dick – một tác phẩm đặc trưng của Melville và Chuyện kể của Arthur Gordon Pym – một tác phẩm với cốt truyện và văn phong kỳ ảo của Poe.

Herman Melville (1819-1891) là hậu duệ của một gia đình giàu có và cổ xưa bất ngờ lâm vào cảnh nghèo nàn bởi cái chết của người cha. Mặc dù được dạy dỗ một cách nghiêm khắc, bất chấp truyền thống gia đình và lao động vất vả, Melville đã không đặt chân đến trường đại học. Vào năm 19 tuổi, ông bắt đầu đi biển. Tình yêu của ông đối với cuộc sống người thủy thủ đã được nuôi lớn một cách hoàn toàn tự nhiên và nằm ngoài kinh nghiệm của bản thân. Hầu hết các cuốn tiểu thuyết của ông đều được viết trong những chuyến đi dài. Tác phẩm đầu tay – Typee – được xây dựng dựa trên khoảng thời gian ông sống với những người Taipis ở quần đảo Marquesas thuộc Nam Thái Bình Dương.

Moby-Dick; hay Cá voi, kiệt tác của Melville, là một bản hùng ca về con tàu săn bắt cá voi Pequod và vị thuyền trưởng của nó, Ahab, người có nỗi ám ảnh phải săn đuổi cá voi trắng, Moby-Dick, khiến con tàu bị phá hủy và các thủy thủ phải đối mặt với cái chết. Tác phẩm này là một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu hiện thực, chứa đựng và truyền tải những suy ngẫm về cuộc sống của con người.

Qua cuốn sách này, nghề săn bắt cá voi dường như là một phép ẩn dụ lớn về quá trình đi tìm tri thức. Cuộc rượt đuổi của Ahab vừa can đảm lại vừa bi kịch. Bất chấp chủ nghĩa anh hùng của mình, Ahab vẫn phải chịu một kết thúc bi thảm và có thể còn tiếp tục bị nguyền rủa sau cái chết. Thiên nhiên tuy rất đẹp nhưng cũng chứa đựng hiểm nguy và cái chết. Trong tác phẩm Moby-Dick, Melville đã thách thức quan điểm lạc quan của Emerson cho rằng con người có thể thấu hiểu tự nhiên. Moby-Dick – chú cá voi trắng to lớn – là sự tồn tại khó hiểu và kỳ vĩ chế ngự toàn bộ cuốn tiểu thuyết, và chính điều đó đã ám ảnh Ahab. Thực tế về cá voi và nghề săn bắt cá voi không thể giải thích được hành vi của Moby-Dick; trái lại, chính thực tế lại có vẻ như bị tan biến trong các biểu tượng. Đằng sau những thực tế mà Melville thu lượm được là một nhân sinh quan thần bí – nhưng dù nhân sinh quan này tốt hay xấu, có tính nhân văn hay không có tính nhân văn thì cũng không thể giải thích được.

Ahab đã khăng khăng tưởng tượng ra một thế giới anh hùng, tuyệt đối và vĩnh cửu. Ông đã dại dột đòi hỏi một sự kết thúc rõ ràng, một câu trả lời chính xác. Nhưng cuốn tiểu thuyết đã chỉ ra rằng không có kết thúc nào cả, không có câu trả lời cuối cùng nào cả, ngoại trừ cái chết. Tác phẩm này của Melville đã gây được tiếng vang rộng khắp trong làng văn học Mỹ. Nhân vật Ahab được đặt tên theo tên một ông vua trong kinh thánh, một người mong muốn cái tuyệt đối. Giống như Oedipus trong tác phẩm của Sophocles, người đã phải trả giá đắt do nhận thức không đúng đắn, Ahab đã thực sự mù quáng trước khi tự đẩy mình vào chỗ chết.

Con tàu Pequod của Ahab được đặt tên theo một bộ lạc người Mỹ bản địa đã tuyệt chủng ở New England. Vì thế, chỉ riêng cái tên này đã khiến độc giả linh cảm trước về việc con tàu sẽ bị phá hủy. Nghề săn bắt cá voi trên thực tế là một ngành công nghiệp quan trọng, đặc biệt là ở New England: nó cung cấp tinh dầu cá voi như một nguồn năng lượng, đặc biệt dành cho việc đốt cháy các ngọn đèn. Vì vậy, trong văn học, cá voi được ví như “nguồn sáng lan tỏa” trong vũ trụ. Cuốn sách này đã gây tiếng vang lớn xét về mặt lịch sử. Nghề săn bắt cá voi vốn đã có tính bành trướng chủ nghĩa và có quan hệ mật thiết với ý tưởng lịch sử về “số phận chủ nghĩa bành trướng” của dân tộc Mỹ, từ đó đòi hỏi người dân Mỹ phải dong buồm vòng quanh thế giới để tìm kiếm cá voi (trên thực tế, bang Hawaii thuộc Mỹ ngày nay trước kia đã được sử dụng để tiếp nhiên liệu cho các con tàu đánh bắt cá voi của Mỹ). Các thủy thủ của tàu Pequod đại diện cho các sắc tộc và các tôn giáo khác nhau, thể hiện ý tưởng về một nước Mỹ thống nhất, đa sắc tộc, đa tôn giáo và là điểm đến của các dòng người nhập cư. Cuối cùng, Ahab tiêu biểu cho một phiên bản bi kịch của chủ nghĩa cá nhân dân chủ kiểu Mỹ. Ông khẳng định nhân phẩm cá nhân mình và dám đối chọi với những sức mạnh bên ngoài không thể chế ngự từ vũ trụ.

 

Chương 5
Sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực

Cuộc Nội chiến Mỹ (1861-1865) nổ ra giữa miền Bắc công nghiệp với miền Nam nông nghiệp chiếm hữu nô lệ là một bước ngoặt lớn trong lịch sử Hoa Kỳ. Trước chiến tranh, các nhà duy tâm đã đấu tranh bênh vực nhân quyền, đặc biệt là việc xóa bỏ chế độ chiếm hữu nô lệ. Sau chiến tranh, người Mỹ đã đạt được những tiến bộ lớn trong lĩnh vực này và chế độ nô lệ đã hoàn toàn bị xóa bỏ. Thời kỳ sau Nội chiến trở thành kỷ nguyên của các triệu phú là các nhà sản xuất và các nhà đầu cơ, khi thuyết tiến hóa về sự thích nghi của loài của Darwin bắt đầu được áp dụng phổ biến trong xã hội và dường như những ông chủ tư bản sẵn sàng thực hiện nhiều hành vi vô đạo đức để đạt được mục đích kinh doanh.

Hoạt động kinh doanh buôn bán đã bùng nổ sau chiến tranh. Hệ thống đường sắt liên lục địa được khánh thành năm 1869 và kỹ thuật điện tín truyền tin xuyên lục địa bắt đầu hoạt động năm 1861 đã giúp cho ngành công nghiệp tiếp cận dễ dàng các nguồn nguyên vật liệu, các thị trường và thúc đẩy hoạt động giao tiếp. Dòng người nhập cư vào Hoa Kỳ vẫn tiếp tục tăng lên, cung cấp một nguồn lao động rẻ dường như vô hạn. Hơn 23 triệu người ngoại quốc – đầu tiên là những người Đức, người Scăngđinavi và người Ai -len, sau đó là người Trung Âu và Nam Âu – đã di cư tới nước Mỹ trong giai đoạn từ 1860 đến 1910. Trong năm 1860, hầu hết người Mỹ đều sinh sống tại các trang trại hoặc các ngôi làng nhỏ; nhưng đến năm 1919, một nửa dân số Mỹ đã sinh sống tập trung ở 12 thành phố lớn.

Những vấn đề nảy sinh trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã bắt đầu xuất hiện: nghèo đói, thiếu thốn nhà cửa, điều kiện vệ sinh không đảm bảo, tiền lương thấp (hay còn được gọi là “mức lương trả cho nô lệ”), điều kiện làm việc khó khăn và những ràng buộc lao động chưa phù hợp. Các công đoàn lớn mạnh và bắt đầu đấu tranh thông qua việc giúp cho người lao động trên khắp đất nước nhận thức được hoàn cảnh lao động khốn cùng của họ. Các chủ trang trại cũng đấu tranh chống lại “lợi tức tư bản” của miền Đông. Từ 1860 đến 1914, nước Mỹ đã chuyển đổi từ một thuộc địa cũ nông nghiệp nhỏ bé thành một quốc gia công nghiệp, hiện đại và rộng lớn. Từ một con nợ năm 1860, đến năm 1914, nước Mỹ đã trở thành quốc gia thịnh vượng nhất và kể từ Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, nước Mỹ đã trở thành một cường quốc thế giới.

Nền công nghiệp hóa lớn mạnh đã gây ra các ảnh hưởng của nó. Hai nhà viết tiểu thuyết Mỹ vĩ đại nhất thời kỳ này là Mark Twain và Henry James có các cách phản ứng khác nhau trước bối cảnh này. Twain đã đưa miền Nam và miền Tây – vốn được ông coi là trái tim của vùng nông thôn và vùng biên giới nước Mỹ – vào các tác phẩm hư cấu của mình; James thì lại hướng về châu Âu để tiến lại gần hơn bản chất của những người Mỹ mới theo chủ nghĩa thế giới.

Samuel Clemens (1835-1910), nổi tiếng hơn dưới bút danh Mark Twain, lớn lên bên bờ sông Mississippi tại một thị trấn biên giới Hannibal, thuộc bang Missouri. Chính Ernest Hemingway đã tuyên bố rằng tất cả nền văn học Mỹ đã được phác họa từ một tác phẩm vĩ đại của Twain – cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Vào đầu thế kỷ 19, các nhà văn Mỹ có xu hướng sáng tác theo lối văn phong đa cảm, hoa mỹ và phô trương – một phần là họ muốn chứng minh rằng họ có
thể viết giống như người Anh. Văn phong của Twain dựa trên phong cách hiện thực, thông dụng và sôi nổi theo kiểu Mỹ, giúp cho các nhà văn Mỹ bắt đầu ý thức được và đánh giá cao tiếng nói dân tộc của họ. Twain là tác giả lớn đầu tiên khai phá những nét đặc trưng của chính bản thân nước Mỹ, ông cũng là người đầu tiên sử dụng lối nói lái hài hước và có những tư tưởng đả phá tín ngưỡng lỗi thời trong các tác phẩm của mình.

Đối với Twain và các nhà văn Mỹ khác ở thế kỷ 19, chủ nghĩa hiện thực không chỉ là một kỹ thuật văn học: nó còn là cách để nói lên sự thật và làm tiêu tan những quy ước đã lỗi thời. Vì thế, nó thực sự tự do và có thể tạo ra xung đột với xã hội. Ví dụ được biết đến nhiều nhất chính là tác phẩm về Huck Finn – một chàng trai nghèo quyết định đi theo tiếng gọi lương tâm và giúp người nô lệ Negro vươn tới tự do, ngay cả khi Huck biết rằng anh có thể bị trừng phạt vì đã vi phạm luật pháp.

Kiệt tác này của Twain được xuất bản năm 1884 và đã được ông sáng tác tại ngôi làng St. Petersburg bên bờ sông Mississippi. Là con trai của một kẻ nghiện rượu, Huck được một gia đình đáng kính nhận làm con nuôi khi cha của cậu đe dọa giết chết cậu bé trong cơn say. Bị đe dọa, Huck đã chạy trốn cùng với một người nô lệ tên là Jim – một người đang bị cô chủ của mình là cô Watson dọa bán cho một chủ nô lệ thô lỗ ở miền Nam. Huck và Jim đã trôi nổi trên một chiếc bè xuôi theo dòng sông Mississippi huyền bí, nhưng chiếc bè đã bị đánh chìm bởi một chiếc tàu thủy chạy bằng hơi nước. Hai cậu bé đã bị lạc nhau rồi sau đó lại tìm thấy nhau. Chúng đã trải qua nhiều cuộc phiêu lưu nguy hiểm và vui nhộn bên bờ hồ lớn, qua đó chỉ ra tính đa dạng, sự khoan dung và những điều bất công tàn ác trong xã hội. Kết thúc câu chuyện, cô Watson trả tự do cho Jim và một gia đình đáng kính đã nhận nuôi và chăm sóc cho cậu bé Huck. Nhưng Huck lớn lên và đã không chịu chấp nhận xã hội văn minh. Cậu lại lập kế hoạch để đi tới miền đất mới – miền đất của những người da đỏ.

Đoạn kết của câu chuyện đã cho độc giả thấy một phiên bản mới về “sự thuần khiết” cổ điển theo kiểu Mỹ: một con đường rộng mở dẫn đến những vùng đất nguyên sơ, tránh xa khỏi những ảnh hưởng đạo đức thối nát của “nền văn minh”. Tiểu thuyết của James Fenimore Cooper, những bài thơ ca tụng con đường khai phá của Walt Whitman, tác phẩm Chú Gấu của William Faulkner và cuốn Trên đường của Jack Kerouac là những ví dụ văn học điển hình khác thể hiện nhân sinh quan này.

Trong một tác phẩm của mình, Henry James đã viết rằng nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật văn học “tạo ra cuộc sống, tạo ra những điều kỳ thú và tạo ra ý nghĩa”. Văn chương của James là một trong những áng văn chân thực, phức tạp và tinh tế nhất của thời đại. Trong các tác phẩm của mình, ông thường nhấn mạnh chủ nghĩa quốc tế – bộc lộ mối quan hệ phức tạp giữa những người Mỹ bản địa và những người châu Âu theo chủ nghĩa thế giới.

Henry James (1843-1916)

Người viết tiểu sử của James – Leon Edel – đã gọi thời kỳ sáng tác đầu tiên của ông là “thời kỳ chủ nghĩa quốc tế”, thể hiện qua các tác phẩm như Người Mỹ (1877), Daisy Miller (1879), và kiệt tác Bức chân dung của người đàn bà (1881). Trong cuốn Người Mỹ, Christopher Newman, một triệu phú công nghiệp chất phác nhưng thông minh và thực tế đã tới châu Âu để tìm vợ. Khi gia đình của cô dâu từ chối anh vì anh không có nguồn gốc quý tộc, anh đã từng có cơ hội để trả thù họ nhưng anh đã không làm thế – điều này thể hiện sự ưu tú về phẩm chất đạo đức của một người Mỹ không xuất thân từ tầng lớp quý tộc.

Giai đoạn sáng tác thứ hai của James là giai đoạn thử nghiệm. Ông khai thác những chủ điểm mới – phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ và cải cách xã hội trong tác phẩm Người Boston (1886), hay những mưu đồ chính trị trong tác phẩm Công chúa Casamassima (1885). Trong giai đoạn sáng tác thứ ba và cũng là giai đoạn quan trọng nhất, James quay lại với các chủ đề quốc tế, nhưng văn phong của ông đã trở nên sâu sắc hơn và mang màu sắc tâm lý hơn. Những tác phẩm hay nhất và đồ sộ nhất như Đôi cánh của chim bồ câu (1902), Ngài đại sứ (1903) (được James đánh giá là tiểu thuyết hay nhất của mình) và Cái bát vàng (1904) đều được viết vào giai đoạn này. Nếu như chủ đề chính trong tiểu thuyết của Twain là những điều khác biệt hài hước giữa kỳ vọng và thực tế thì mối quan tâm không dứt của James chính là tri giác sáng suốt. Trong các tác phẩm của James, chỉ có khả năng tự nhận thức và tri giác sáng suốt mới là nền tảng cho tri thức uyên thâm và sự hy sinh quên mình cho tình yêu.

 

Chương 6
Chủ nghĩa hiện đại và những thử nghiệm

Nhiều nhà sử học đã đánh giá thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới là thời kỳ lịch sử đau buồn đối với nước Mỹ, dù thực tế là khoảng thời gian mà nước Mỹ trực tiếp tham gia vào cuộc chiến là rất ngắn ngủi (1917-1918) và số thương vong mà nước Mỹ phải gánh chịu ít hơn rất nhiều so với những tổn thất của các đồng minh và kẻ thù của Mỹ ở châu Âu. Bị sốc về mặt tâm lý và nhân sinh quan thay đổi, những người lính Mỹ trở về quê hương nhưng không bao giờ lấy lại được sự trong sáng thuần khiết của họ. Những người lính từ các vùng nông thôn Mỹ khó có thể dễ dàng trở lại cội rễ của mình. Sau khi đã đi tới nhiều nơi trên thế giới, nhiều người trong số họ bỗng khao khát cuộc sống hiện đại nơi thị thành.

Trong giai đoạn sau chiến tranh, hoạt động kinh doanh nở rộ và sự làm ăn phát đạt đã nhấn chìm những giấc mơ hoang dã của họ. Lần đầu tiên, nhiều người Mỹ tìm cách có được bằng cấp cao hơn – trong những năm 1920, số lượng trường đại học tăng lên gấp đôi. Với tầng lớp trung lưu giàu có, người Mỹ bắt đầu trở thành những người có thu nhập bình quân cao nhất thế giới trong thời kỳ này.

Người Mỹ vào “những năm 20 sôi nổi” bắt đầu yêu thích các hình thức giải trí hiện đại. Hầu như ai cũng tới rạp chiếu phim một lần mỗi tuần. Mặc dù có Luật cấm nấu và bán rượu trên toàn quốc, được ban hành thông qua Điều bổ sung sửa đổi thứ 18 của Hiến pháp Hoa Kỳ và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1919, song các quán rượu và những hộp đêm phi pháp vẫn được mở ra nhanh chóng, cùng với nhạc Jazz, các kiểu váy áo và những điệu nhảy táo bạo. Đi khiêu vũ, đi xem phim, đi du lịch bằng xe ô tô và các thiết bị vô tuyến đã trở thành niềm đam mê trên toàn nước Mỹ. Đặc biệt là phụ nữ Mỹ đã cảm thấy được giải phóng. Họ cắt tóc ngắn, mặc váy ngắn và hân hoan đón nhận quyền được bỏ phiếu thông qua Điều bổ sung sửa đổi thứ 19 của Hiến pháp vào năm 1920. Họ có thể bày tỏ một cách táo bạo những suy nghĩ của mình và giữ những vị trí quan trọng trong xã hội.

Bất chấp cuộc sống mới thịnh vượng này, những thanh niên miền Tây đang trải qua sự chuyển đổi văn hóa mạnh mẽ lại muốn nổi loạn về mặt trí tuệ. Họ trở nên giận giữ và vỡ mộng với cuộc chiến đẫm máu và bất mãn với thế hệ đàn anh mà họ cho là phải chịu trách nhiệm. Mỉa mai thay, điều kiện kinh tế khó khăn sau chiến tranh ở châu Âu đã cho phép người Mỹ – với những đồng đô-la của họ – như các nhà văn F. Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway, Gertrude Stein và Ezra Pound – sống được ở nước ngoài chỉ với một số tiền ít ỏi, được chứng kiến sự vỡ mộng sau chiến tranh, cũng như những nhà trí thức châu Âu khác thời kỳ đó, đặc biệt là những người theo chủ nghĩa Frớt và một nhóm ít người theo chủ nghĩa Mác.

Nhiều cuốn tiểu thuyết, nhất là cuốn Mặt trời vẫn mọc của Hemingway (1926) và cuốn Bên này thiên đường của Fitzgerald (1920), đã mô tả rẩt rõ sự hoang phí và cơn ảo mộng của cái mà nhà văn Mỹ lưu vong Gertrude Stein đã gọi là “thế hệ đã mất”. Trong bản trường ca của T.S. Eliot “Vùng đất bỏ hoang” (1922), nền văn minh phương Tây đã được hình tượng hóa bởi một sa mạc lạnh lẽo đang trong lúc tuyệt vọng chờ mưa (sự hồi sinh của những linh hồn).

Chủ nghĩa hiện đại

Làn sóng văn hóa lớn của chủ nghĩa hiện đại đã nổi lên ở châu Âu và nhanh chóng lan rộng tới nước Mỹ vào những năm đầu thế kỷ 20, biểu thị cảm xúc về cuộc sống hiện đại thông qua nghệ thuật như hình bóng từ quá khứ. Vì máy móc hiện đại đã làm thay đổi vận tốc, khí hậu và muôn mặt của cuộc sống đời thường trong những năm đầu thế kỷ 20 nên nhiều nghệ sĩ và nhà văn, với các cấp độ thành công khác nhau, đã tái hiện lại những thể thức nghệ thuật truyền thống và thử tìm ra những thể thức nghệ thuật mới – một thành tựu thẩm mỹ mà người ta gọi là “thời đại của máy móc”.

Thomas Stearns Eliot – T.S. Eliot (1888-1965) là nhà văn được hưởng những điều kiện giáo dục tốt nhất trong số bất kỳ nhà văn lớn nào của Mỹ thuộc thế hệ ông. Ông đã từng học tập ở Đại học Harvard, Đại học Sor- bonne, và Đại học Oxford. Ông nghiên cứu tiếng Phạn và triết học phương đông – là những tri thức ảnh hưởng lớn tới thơ ca của ông. Giống như bạn của mình, nhà thơ Ezra Pound, ông tới nước Anh từ rất sớm và đã trở thành một gương mặt sáng giá trong làng văn học nước này. Là một trong những nhà thơ đáng kính trọng nhất thời kỳ đó, quan điểm ủng hộ chủ nghĩa tân thời của ông được thể hiện qua những vần thơ trừu tượng và đã gây ra những ảnh hưởng mang tính cách mạng.

Trong “Bản tình ca của J. Alfred Prufrock” (1915), nhà trí thức già Prufrock đã nghĩ rằng ông ta có thể đo lường cuộc sống của mình trong chiếc muỗng cà phê – hình ảnh chiếc muỗng cà phê thể hiện sự tồn tại buồn tẻ và quãng đời nghiện ngập. Đoạn mở đầu trong tác phẩm “Prufrock” của Eliot đã đưa người đọc tới một hẻm phố lòe loẹt, giống như cuộc sống hiện đại không đưa ra được câu trả lời thích đáng nào cho những câu hỏi về cuộc sống:

Hãy đi nào, bạn và tôi
Khi bóng đêm bao trùm bầu trời
Như người bệnh đang ngủ mê trên bàn

Những hình ảnh tương tự cũng tràn ngập trong tác phẩm “Vùng đất bị bỏ hoang” (1922), khiến tác phẩm “Địa ngục” của Dante trở nên nổi danh và gợi nhớ tới những đường phố đông người của Luân-đôn vào khoảng thời gian xảy ra cuộc Chiến tranh Thế giới Thứ nhất:

Dưới màn sương mù màu nâu của buổi ban mai mùa đông Đám đông nối đuôi nhau qua cây cầu Luân-đôn, rất đông người Tôi đã không nghĩ rằng cái chết lại có thể hủy diệt nhiều sinh linh đến vậy … (1, 60-63)

Robert Lee Frost (1874-1963) sinh ở California nhưng lớn lên trong một trang trại miền đông bắc Hoa Kỳ cho đến lúc lên 10. Giống như Eliot và Pound, ông tới nước Anh vì bị thu hút bởi những trào lưu thơ ca mới ở đây. Ông đã viết về cuộc sống trang trại truyền thống ở New England (thuộc miền đông bắc Hoa Kỳ), gợi nên nỗi lòng hoài cổ với những con đường xưa. Chủ đề trong thơ của ông là vũ trụ – những lần hái táo, những bức tường đá, những cái hàng rào và những con đường thôn quê. Mặc dù cách tiếp cận vấn đề của ông rất sáng sủa và rõ ràng song dường như hơi đơn giản. Tuy nhiên nhiều bài thơ của ông cũng có ý nghĩa sâu sa. Ví dụ như một buổi tối yên tĩnh có tuyết rơi với nhịp điệu buồn tẻ làm người đọc liên tưởng tới sự giá buốt buồn thảm của cái chết. Trong bài thơ “Dừng chân trong rừng vào một buổi tối đầy tuyết” (1923) ông viết:

Tôi nghĩ là tôi biết cánh rừng này thuộc về ai

Ngôi nhà của người ấy ở trong khu làng này

Người ấy sẽ không thấy tôi dừng chân ở đây

Để ngắm nhìn những hàng cây phủ đầy tuyết

Mặc dù văn xuôi Mỹ giai đoạn giữa hai cuộc chiến vẫn có thể thức và tư tưởng mang tính thử nghiệm, song các nhà văn Mỹ ngày càng thiên về xu hướng hiện thực hóa giống như các nhà văn Anh. Tầm quan trọng của việc phải đối mặt với sự thật đã trở thành chủ điểm chính trong những năm 1920 và 1930: các nhà văn như F. Scott Fitzgerald và nhà biên kịch Eugene O’Neill một lần nữa đã vẽ nên số phận bi kịch của những người sống phù du trong những giấc mơ hời hợt.

Cuộc sống của Francis Scott Key Fitzgerald giống như một câu chuyện cổ tích. Trong Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, Fitzgerald đã gia nhập quân đội Hoa Kỳ và đã đem lòng yêu một cô gái xinh đẹp và giàu có, Zelda Sayre, sống gần Mont- gomery, bang Alabama nơi anh đóng quân. Sau khi rời quân ngũ khi chiến tranh kết thúc, chàng trai này đã tìm kiếm người yêu của mình ở Thành phố New York City với ý định sẽ cưới cô làm vợ.

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của anh, Bờ bên này của Thiên đường (1920) đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất và họ đã cưới nhau vào năm 24 tuổi. Đôi vợ chồng trẻ đã không trụ vững được trước những cám dỗ của thành công và tên tuổi, họ đã phung phí tiền bạc của mình để rồi phải rời nước Mỹ năm 1924 và di cư đến nước Pháp để sống cuộc sống tằn tiệm hơn. Họ đã trở về Mỹ 7 năm sau đó. Zelda bị mắc chứng bệnh tâm thần và phải được đưa vào sống tại một trại từ thiện; bản thân Fitzgerald thì nghiện rượu và chết trẻ khi đang là một nhà viết kịch bản phim.

Chỗ đứng của Fitzgerald trong làng văn học Mỹ được khẳng định qua cuốn tiểu thuyết Gatsby vĩ đại (1925) của ông – một cuốn sách đã thành công rực rỡ, một câu chuyện có cấu trúc vô cùng chặt chẽ về giấc mơ Mỹ của một người đàn ông tự do. Vai chính trong truyện, nhân vật Jay Gatsby huyền bí đã phát hiện ra cái giá quá đắt phải trả cho thành công trong tình yêu và trong những khát vọng cá nhân. Hơn hết thảy mọi nhà văn Mỹ khác, Fitzgerald đã làm toát lên vẻ đẹp dữ dội và lộng lẫy của cuộc sống những năm 1920.

Ít có nhà văn nào lại có cuộc sống phong phú như Ernest Hemingway. Các cuốn tiểu thuyết phiêu lưu của ông là kết quả của những công việc mà ông đã trải qua. Giống như Fitzgerald, Dreiser và nhiều người viết tiểu thuyết nổi tiếng khác của thế kỷ 20, Hemingway đến từ miền Trung Tây của nước Mỹ. Ông đã từng là lính tình nguyện tại một đơn vị xe cứu thương ở Pháp trong Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, nhưng ông đã bị thương và phải nằm trong bệnh viện trong sáu tháng. Sau chiến tranh, với cương vị là một phóng viên chiến tranh tác nghiệp ở Paris, ông đã gặp những nhà văn Mỹ lưu vong Sherwood Anderson, Ezra Pound, F. Scott Fitzgerald và Gertrude Stein. Đặc biệt là Stein đã có ảnh hưởng lớn tới văn phong bình dị của ông.

Ernest Hemingway (1899-1961)

Sau cuốn tiểu thuyết Mặt trời vẫn mọc (1926) làm nên danh tiếng của ông, ông tiếp tục làm nhà báo trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha, trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai và trong cuộc chiến ở Trung quốc vào những năm 1940. Trong một chuyến đi săn dài ngày ở châu Phi, ông đã bị thương trong một tai nạn máy bay; trước đó, ông đã từng đi săn và câu cá – những hoạt động được tái hiện sau này trong những tác phẩm hay nhất của ông. Ông già và biển cả (1952), một cuốn tiểu thuyết ngắn đầy chất thơ về một ông lão đánh cá nghèo khổ bắt được một chú cá to từ đại dương bao la, nhưng rồi con cá đó lại bị cá mập ăn thịt, đã được trao giải Pulitzer năm 1953; một năm sau đó, ông đã nhận được giải Nobel văn học. Buồn chán vì một gia đình không êm ấm, bệnh tật và ý nghĩ là mình đã mất tài năng sáng tác, Hemingway đã tự sát vào năm 1961. Hemingway có thể được coi là nhà viết tiểu thuyết Mỹ được biết đến nhiều nhất. Sự đồng cảm của ông trong văn chương hoàn toàn phi chính trị, thấm đẫm chất nhân văn và chính vì thế nên ông được biết đến trên toàn thế giới.

Giống như Fitzgerald, Hemingway đã trở thành phát ngôn viên của thế hệ mình. Nhưng thay vì vẽ nên vòng hào quang tai họa như Fitzgerald đã làm – người chưa bao giờ chiến đấu trong cuộc Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, Hemingway đã viết về chiến tranh, về cái chết và về “thế hệ đã mất” của những người sống sót bất cần đạo lý. Các nhân vật của ông không phải là những kẻ mơ mộng mà là những dũng sĩ đấu bò tót, những người lính và những vận động viên điền kinh. Nếu là những nhân vật trí thức, thì họ đều bị tổn thương sâu sắc và vỡ mộng. Văn phong của ông là lối văn rõ ràng, mạch lạc, không có chỗ cho những ngôn từ thừa thãi. Ông thường sử dụng lối nói tắt: Trong tác phẩm Giã từ vũ khí (1929), nhân vật chính đã nói “Tôi không hề sợ hãi. Đó chỉ là một trò bịp bợm bẩn thỉu”. Một lần, ông đã ví lối viết của mình với những tảng băng trôi: “Trong lối viết văn của tôi, chỉ có một phần tám là ngôn từ, bảy phần tám còn lại là chìm dưới nước và độc giả phải tự tìm hiểu ẩn ý của những ngôn từ đó”.

Sinh ra trong một gia đình lâu đời ở miền Nam, William Harrison Faulkner đã lớn lên ở Oxford, bang Mississippi, nơi ông sống phần lớn cuộc đời mình. Faulkner đã tái hiện lịch sử của miền đất này và của nhiều sắc tộc mà ông đã cùng chung sống. Là một nhà văn đầy sáng tạo, Faulkner tỏ ra rất điêu luyện trong lối văn tường thuật, với nhiều góc nhìn, nhiều quan điểm và nhiều tiếng nói khác nhau (trong đó có cả những người vô gia cư, các em nhỏ và những người mù chữ). Văn phong của ông phong phú và hoa mỹ, được xây dựng trên những câu văn rất dài.

William Faulkner (1897-1962)

Những cuốn tiểu thuyết hay nhất của Faulkner bao gồm Âm thanh và cơn thịnh nộ (1929) và Khi tôi hấp hối (1930) – hai tác phẩm hiện đại đại diện cho nhân sinh quan và tiếng nói của những gia đình miền nam nước Mỹ đang quằn quại dưới nỗi đau mất người thân; Ánh sáng tháng Tám (1932) – tác phẩm viết về những mối quan hệ phức tạp và dữ dội giữa một người phụ nữ da trắng và một người đàn ông da đen; và Absalom, Absalom! (1936) – có thể coi là tác phẩm hay nhất của ông, kể về con đường thăng tiến của một chủ vườn và sự xuống dốc bi thảm của ông ta.

Sân khấu kịch của thế kỷ 20

Sân khấu kịch của Mỹ cũng theo mô-típ sân khấu kịch của Anh và châu Âu cho đến tận thế kỷ 20. Trước thế kỷ 20, các vở kịch trên sân khấu Mỹ chưa từng thử tìm tòi bất cứ một sáng tạo thẩm mĩ nào trong lĩnh vực nghệ thuật này.

Eugene O’Neill là một gương mặt vĩ đại của sân khấu kịch Mỹ. Nhiều vở kịch của ông là sự kết hợp giữa nguyên tắc kịch truyền thống với một cách nhìn mới và sự sâu sắc trong cách thể hiện tình cảm. Những vở kịch đầu tiên của O’Neill quan tâm tới tầng lớp lao động và người nghèo trong xã hội; các tác phẩm sau này khám phá lĩnh vực chủ thể, và nhấn mạnh trường phái Freud và sự đau khổ của ông khi chịu đựng sự mất mát người thân là bố, mẹ và anh em ruột thịt.

Eugene O’Neill (1888-1953)

Vở kịch Khát vọng dưới bóng cây du (1924) của ông tái dựng lại câu chuyện về những đam mê thầm kín trong một gia đình. Những vở kịch sau đó của ông là những kiệt tác bao gồm Sự xuất hiện của người bán nước đá (1946), tác phẩm đầu tiên về chủ đề cái chết, và Hành trình từ ngày vào đêm (1956) – một vở bi kịch tự sự có tác động mạnh và sâu sắc tập trung vào chính gia đình ông và những băng hoại về thể chất và tâm lý của những người trong gia đình, diễn ra trong suốt một đêm dài.

 

Chương 7

Sự phát triển của cá nhân

Cuộc Đại suy thoái của những năm 1930 đã làm kiệt quệ nền kinh tế Mỹ cho đến Chiến tranh Thế giới Thứ hai mới phục hồi. Hoa Kỳ trở thành một nhân vật chính trên sân khấu chính trị thế giới, và những người Mỹ thời kỳ sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai lần đầu tiên được hưởng sự phồn thịnh của chủ nghĩa cá nhân chủ nghĩa và tự do cá nhân.

Giáo dục đại học được phát triển và truyền hình ngày càng phổ biến trên khắp nước Mỹ sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai khiến mọi người dân bình thường đều có thể tự cập nhật thông tin và trở nên hiểu biết hơn. Hàng hóa tiện ích tràn ngập và khả năng dễ dàng sở hữu những căn nhà đẹp ở ngoại ô khiến những gia đình thuộc tầng lớp trung lưu ngày càng tự chủ hơn. Học thuyết tâm lý của Freud được quảng bá rộng rãi và nhấn mạnh vào nguồn gốc và tầm quan trọng của tư duy cá nhân. Những “viên thuốc’ tránh thai giải phóng phụ nữ khỏi sự phụ thuộc vào những nguyên tắc sinh lý truyền thống. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, đa số mọi người dân bình thường đều có một cuộc sống sung túc và tự tin về giá trị cá nhân của bản thân họ.

Sự thăng hoa của chủ nghĩa cá nhân đại chúng – cũng như là các quyền dân sự và các phong trào chống chiến tranh của thập kỷ 1960 – đã tạo thêm sức mạnh cho những tầng lớp không có tiếng nói trước đây. Các nhà văn khẳng định được bản chất bên trong sâu xa của họ, cũng như là kinh nghiệm cá nhân và tầm quan trọng của kinh nghiệm cá nhân ẩn chứa trong tầm quan trọng của cả nhóm xã hội gắn liền với cá nhân mỗi người. Người đồng tính, người theo chủ nghĩa nam nữ bình quyền và những người sống ngoài lề xã hội khác cũng lên tiếng kể về những câu chuyện của họ. Các nhà văn Mỹ gốc Phi hoặc theo đạo Do Thái nhận thấy rằng họ có các độc giả ở khắp mọi nơi để thể hiện chủ đề phong phú của họ về giấc mơ, hoặc cơn ác mộng Mỹ. Các nhà văn theo đạo Tin Lành, như là John Cheever và John Updike, đã bàn về tác động của nền văn hóa thời hậu chiến đối với cuộc đời của những người như họ. Một số nhà văn hiện đại và đương đại vẫn tìm được chỗ đứng trong phong cách truyền thống hơn, như là chủ nghĩa hiện thực. Một số người có thể được coi như là những người theo chủ nghĩa cổ điển, những người khác thì đang trong quá trình thử nghiệm, có lối hành văn chịu ảnh hưởng bởi hiện tượng phù du của nền văn hóa đại chúng, hoặc bởi những học thuyết xã hội chủ nghĩa hoặc chủ nghĩa hiện sinh. Nhiều người dễ dàng họp lại thành một nhóm xã hội theo chủng tộc hoặc theo tôn giáo. Tuy nhiên, hầu hết các nhà văn hiện đại đều khẳng định một giá trị đồng nhất mang tính cá nhân trong văn học.

Sylvia Plath điển hình cho một người có một cuộc sống hướng ngoại, giành được học bổng theo học tại trường cao đẳng Smith, tốt nghiệp hạng nhất trong lớp, và giành được học bổng Fulbright đi du học tại Đại học Cambridge ở Anh. Tại đây bà gặp người chồng đầy uy tín sau này là nhà thơ Ted Hughes, sinh được hai người con và định cư tại một căn nhà ở vùng quê nước Anh.

Với sự thành công tưởng như chỉ có trong những câu chuyện cổ tích, nổi cộm lên những vấn đề tâm lý đầy day dứt chưa được giải quyết trong cuốn tiểu thuyết đắt khách nhất của bà là Tiếng chuông ngân (1963). Trong đó có một số vấn đề thuộc về cá nhân, còn những vấn đề khác nảy sinh từ cảm nhận của bà về những thái độ hà khắc đối với phụ nữ trong thập kỷ 1950. Trong đó, có nhiều niềm tin và sự chia sẻ của phụ nữ – đối với việc phụ nữ không được phép tỏ ra giận dữ hoặc say mê theo đuổi sự nghiệp, mà chỉ nên hoàn thành tốt bổn phận chăm lo cho chồng và con mà thôi. Những phụ nữ rất thành công trong sự nghiệp như Plath cảm thấy rằng họ đang sống giữa một sự giằng co. Câu chuyện cuộc đời của Plath bị vỡ vụn khi bà và chồng là Hughes ly thân và bà nhận nuôi hai con nhỏ trong một căn hộ ở Luân-đôn suốt một mùa đông lạnh giá. Ốm đau, cô đơn và tuyệt vọng, Plath đã chạy đua với thời gian để hoàn thành một chuỗi các bài thơ tuyệt hay trước khi bà tự tử bằng khí ga trong bếp. Những bài thơ này được tổng hợp lại trong tập thơ có tiêu đề Ariel (1965), hai năm sau cái chết của bà. Nhà thơ Robert Lowell, người viết lời giới thiệu cho tập thơ, đã nhấn mạnh vào sự thành công nhanh chóng trong sự nghiệp thơ ca của bà kể từ khi bà tham gia lớp học làm thơ của ông vào năm 1958.

Sylvia Plath (1932-1963)

Sự nghiệp thơ văn của bà trong giai đoạn đầu rất tinh tế và theo truyền thống, nhưng các bài thơ bà sáng tác sau này thể hiện nỗi tuyệt vọng cùng cực và tiếng khóc thống khổ của người theo chủ nghĩa nam nữ bình quyền thời khởi thủy. Trong tác phẩm “Ứng cử viên” (1966), Plath bộc lộ sự trống rỗng trong vai trò một người vợ bình thường (người mà giá trị bị giảm xuống chỉ còn như một vật vô tri vô giác là “nó”):

Như một con búp bê sống, ở chỗ nào bạn cũng nhìn thấy.

Nó có thể khâu vá, nấu nướng.

Nó có thể nói chuyện, nói chuyện và nói chuyện.

Những bài thơ “đánh nhịp” (beat) bắt đầu xuất hiện vào những năm 1950. Từ “đánh nhịp” thông thường sử dụng trong nhạc, như trong nhạc Jazz có nghĩa là nhịp đầu trong một khổ nhạc, hoặc phúc lành hoặc chúc phúc trong kinh thánh; và “nhừ tử” – sự mệt mỏi hoặc đau đớn. Phong cách Nhịp điệu (hay còn gọi là hippi) được truyền cảm hứng từ lối sống lang thang, tôn giáo phương Đông và dòng nhạc Jazz. Những đặc điểm này đều được khắc họa trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Jack Kerouac Trên đường, là một tác phẩm gây chấn động khi được xuất bản lần đầu tiên năm l957. Dựa trên một chuyến đi qua khắp các miền quê bằng xe hơi năm 1947, cuốn tiểu thuyết được hoàn thành trong vòng ba tuần miệt mài viết trên vỏn vẹn một cuộn giấy theo phong cách mà Ker- ouac gọi là “văn xuôi ngẫu hứng nhạc pop”. Phong cách ứng tác tự nhiên, các nhân vật hippi huyền bí, sự chống lại quyền lực và qui ước truyền thống thổi bùng lên ngọn lửa sáng tạo bên trong các độc giả trẻ tuổi và đánh dấu sự khởi đầu bánh xe tự do đi ngược dòng văn hóa truyền thống của những năm 1960.

Phần lớn những người viết thể loại thơ Beat là từ vùng ven biển miền Đông nước Mỹ di cư tới San Francisco, đã giành được sự thừa nhận ban đầu tại bang California. Nhân vật kiệt xuất Allen Ginsberg (1926-1997) trở thành người phát ngôn chính của nhóm này. Được sinh ra từ người bố là một nhà thơ và người mẹ lập dị theo Chủ nghĩa Cộng sản, Ginsberg đã theo học tại Đại học Columbia, nơi ông nhanh chóng kết thân với những sinh viên cùng khóa khác là Kerouac (1922-1969) và William Burroughs (1914-1997), là tác giả của những cuốn tiểu thuyết bạo lực và rùng rợn nhất về thế giới ngầm của dân nghiện heroin, trong đó có cuốn Bữa tiệc trưa trần trụi (1959). Họ là ba nhân vật hạt nhân của phong trào thơ Beat.

Thơ Beat là lối thơ miệng, lặp đi lặp lại và rất hiệu quả trong các buổi đọc tập thể, phần lớn là do nó được phát triển từ các buổi đọc thơ tại các câu lạc bộ “của thế giới ngầm”. Một số người có thể đúng khi cho rằng đây là ông tổ của nhạc Rap, dòng nhạc thịnh hành trong những năm 1990. Thơ Beat là một hình thức văn chương phản đối giới cầm quyền mạnh nhất tại Hoa Kỳ, nhưng đằng sau những từ ngữ giật gân đó lại ẩn chứa một tình yêu đất nước. Giọng thơ là tiếng khóc đau đớn và cơn thịnh nộ trước những điều mà các nhà thơ cho là sự mất mát trước sự vô can của nước Mỹ và sự lãng phí bi thảm về các nguồn nhân lực và vật lực của nước này.

Những bài thơ như Tiếng hú (1956) của Allen Ginbeng đã cải cách thơ ca truyền thống:

Tôi chứng kiến những trí óc tuyệt vời nhất trong thế hệ chúng tôi đã bị hủy hoại

bởi sự điên rồ, trần truồng cho tới chết,

kéo lê thân xác họ qua những khu phố của người da đen vào lúc bình minh để tìm kiếm cách hả giận,

những kẻ hippi có đầu óc thiên thần đang hừng hực liên kết giữa thiên đường cổ điển và sự năng động sáng tựa sao trong khuôn khổ của bóng đêm…

Tennessee Williams, người vùng Mississippi, là một trong những nhà văn khá phức tạp trên văn đàn nước Mỹ vào giữa thế kỷ 20. Tác phẩm của ông tập trung vào những xúc cảm xáo trộn trong đời sống gia đình – hầu hết là các gia đình ở miền Nam. Ông nổi tiếng về những câu nói lặp đi lặp lại như thần chú, một cách diễn đạt đầy chất thơ của miền Nam, về những bối cảnh Gothic kỳ lạ, và những khám phá về những xúc cảm của con người theo thuyết Freud. Là một trong những nhà văn Mỹ đầu tiên công khai sống như một người đồng tính luyến ái, Williams giải thích rằng niềm khát khao mãnh liệt của các nhân vật bị đọa đầy của ông diễn đạt sự cô đơn của họ. Những nhân vật của ông sống và chịu đau khổ một cách thảm hại.

Williams viết hơn 20 vở kịch dài, nhiều vở mang tính chất tiểu sử tự thuật. Ông đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp tương đối sớm – vào thập niên 40 – với The Glass Menagerie (Bầy thú thủy tinh – 1944) và A Streetcar Named Desire (Chuyến tàu mang tên dục vọng – 1947). Không một tác phẩm nào trong suốt hơn hai thập kỷ sau đó đạt được mức độ thành công và phong phú như hai vở kịch này.

Sinh ở Mississippi trong một gia đình nông dân khá giả sau này chuyển lên sống ở miền Bắc, Eu- dora Welty được hai tiểu thuyết gia Robert Penn Warren và Katherine Anne Porter dẫn dắt vào nghề. Thật ra, Porter đã viết lời giới thiệu cho tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của Welty, A Cur- tain of Green (Rèm cửa xanh lá cây – 1941). Welty dựa theo khuôn mẫu của Porter để viết các tác phẩm của mình, nhưng nữ văn sĩ trẻ này quan tâm hơn đến những điều khôi hài và lập dị. Cũng như với Flannery O’Connor sau này, các nhân vật trung tâm của bà thường bất thường, quái dị hay là những trường hợp ngoại lệ.

Eudora Welty (1909-2001)

Mặc dù tác phẩm của bà có nhiều yếu tố bạo lực, trí thông minh của Welty về bản chất mang tính nhân bản và lạc quan. Những tập truyện của bà bao gồm The Wide Net (Mạng rộng – 1943), The Golden Apples (Những trái táo bằng vàng – 1949), The Bride of the Innisfallen (Cô dâu của Innisfallen – 1955), và Moon Lake (Hồ Trăng – 1980). Welty cũng viết những cuốn tiểu thuyết như Delta Wedding (Đám cưới Delta – 1946), kể chuyện một gia đình ở một trang trại trong thời hiện đại và The Optimist’s Daughter (Con gái người lạc quan – 1972).

Ralph Ellison, một người miền Trung Tây, sinh ở Oklahoma, học ở Học viện Tuskegee ở miền Nam Hoa Kỳ. Ông có một trong những sự nghiệp kỳ lạ nhất trong văn học Mỹ – chỉ với một cuốn sách duy nhất, ông đã có chỗ đứng trên văn đàn.

Ralph Ellison (1914-1994)

Cuốn tiểu thuyết Invisible Man (Người vô hình) (1952) là câu chuyện về cuộc sống của một người da đen cố gắng sinh tồn ở dưới mặt đất trong một cái hang được chiếu sáng bởi ánh điện ăn cắp của một công ty dịch vụ công cộng. Cuốn sách kể lại chuỗi sự kiện quái dị và những giấc mộng đẹp bị tan vỡ của anh ta. Khi anh nhận được suất học bổng ở một trường đại học dành cho người da đen, anh đã bị những người da trắng sỉ nhục; khi anh vào đại học, anh chứng kiến thầy hiệu trưởng khinh bỉ bác bỏ những vấn đề bức xúc của người Mỹ da đen. Cuộc sống cũng thối rữa bên ngoài trường đại học. Ví dụ, ngay cả tôn giáo cũng không phải là một sự an ủi: Một giáo sĩ giảng đạo thực ra lại là một tên tội phạm. Cuốn tiểu thuyết lên án xã hội đã hoàn toàn không trao cho các công dân – da đen cũng như da trắng – những lý tưởng cao đẹp để vươn tới và những thể chế khả dĩ có thể biến chúng thành hiện thực. Cuốn tiểu thuyết chứa đựng nội dung sâu sắc về vấn đề chủng tộc bởi lẽ “người vô hình” ấy trở nên trong suốt không phải do bản thân anh ta mà do những người khác, mù lòa vì định kiến, đã không thể nhìn thấy anh ta, như là một con người đang tồn tại với đúng bản chất của mình.

Sinh ra ở Canada và lớn lên ở Chicago, Saul Bel- low là người gốc Nga-Do Thái. Ông theo học nhân chủng học và xã hội học ở trường đại học, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến lối viết văn của ông cho đến tận ngày nay. Ông đã biểu lộ lòng biết ơn sâu xa với Theodore Dreiser, một tiểu thuyết gia theo trường phái hiện thực vì đã chia sẻ những kinh nghiệm trải nghiệm và sự dấn thân đầy xúc cảm của ông đối với thể loại này. Được đánh giá rất cao, ông nhận giải Nobel văn học vào năm 1976.

Saul Bellow (1915-2005)

Những cuốn tiểu thuyết hiện sinh đầu tiên có phần u ám của Saul Bellow bao gồm Dangling Man (Người chờ đợi – 1944), một nghiên cứu theo trường phái Kafka về một người chờ đợi được tuyển mộ đi lính và The Victim (Nạn nhân – 1974), về quan hệ giữa người Do Thái và người không theo đạo Do Thái. Vào thập niên 50, quan điểm của ông trở nên hài hước hơn: Ông sử dụng một loạt những câu chuyện tự sự sinh động và mạo hiểm sử dụng đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất trong The Adventures of Augie March (Những cuộc phiêu lưu của Augie March – 1953) – khai thác nhân vật là một thương nhân sống ở thành phố giống như Huck Finn, sau này trở thành một trùm buôn lậu ở châu Âu – và trong tác phẩm Hender- son the Rain King (Vua mưa Henderson – 1959), một kiệt tác tiểu thuyết nửa nghiêm trang nửa khôi hài về một nhà triệu phú trung niên đã phiêu lưu tới châu Phi chỉ để thỏa mãn những tham vọng của mình. Những tác phẩm sau này của Bellow bao gồm Herzog (1964), kể về cuộc đời đầy rắc rối của một giáo sư thần kinh người Anh chỉ chuyên tâm vào ý tưởng về cái tôi lãng mạn; Mr Sammler’s Planet (Hành tinh của ông Sammler – 1970); Humboldt’s Gift (Món quà của Humboldt – 1975); và cuốn tự truyện The Dean’s Decem- ber (Tháng 12 trong đời ông hiệu trưởng- 1982).

Cuốn Seize the Day (Chớp lấy thời cơ – 1956) của Bellow là một tiểu thuyết kiệt tác với cốt truyện tập trung vào nhân vật chính là một thương gia thất cơ lỡ vận, Tommy Wilhelm, người trở nên bất lực hoàn toàn khi bị gặm nhấm bởi cảm giác thiếu thốn – thất bại trong quan hệ với những người phụ nữ trong đời, thất bại trong công việc, máy móc hỏng và thị trường kinh doanh hàng hóa, nơi ông mất hết tiền bạc. Wilhelm là một ví dụ về một gã khờ khạo, vụng về luôn thất bại trong truyện dân gian Do Thái – một người luôn luôn gặp những điều xui xẻo.

John Cheever (1915-2005) thường được gọi là một “tiểu thuyết gia đa phong cách”. Ông cũng nổi tiếng bởi những truyện ngắn tao nhã và đầy ngụ ý, khai thác tường tận thế giới kinh doanh qua những ảnh hưởng của nó đối với các nhà kinh doanh, vợ con và bạn bè họ.

Sự khát khao dường như là vô vọng nhưng chứa đựng sự diễu cợt trong phiền muộn và chưa bao giờ dập tắt vì sự đam mê hay thế lực siêu hình núp dưới bóng các nhân vật vô hình trong những câu chuyện ngắn tinh tế đầy sức lôi cuốn theo trường phái Chekhovian của Cheever, được sưu tập trong các tác phẩm The Way Somw People Live (Lối sống của một người -1943), The Housebreaker of Shady Hill (Kẻ đột nhập ở Shady Hill -1958), Some People, Places, and Things That Will Not Appear in My next Novel (Những con người, địa danh và sự vật sẽ không xuất hiện trong tiểu thuyết sắp tới của tôi -1961), The Brigadier and the Golf Widow (Thiếu tướng và người quả phụ chơi golf -1964), và The World of Apple (Thế giới của những trái táo – 1973). Tựa đề truyện bộc lộ đặc trưng lãnh đạm, đùa cợt, thiếu nghiêm túc và ngụ ý sâu xa về chủ đề sáng tác của ông.

Cheever cũng xuất bản một số tiểu thuyết – The Wapshot Scandal (Vụ tai tiếng của gia đình Wapshot – 1964), Bullet Park (Công viên hình viên đạn – 1969), và Falconer (Người luyện chim ưng, 1977) – cuốn tiểu thuyết sau cùng là một cuốn tự sự.

Cũng như Cheever, John Updike được xem là nhà văn đa phong cách với những bức tranh về cuộc sống đô thị, chủ đề xoay quanh cuộc sống gia đình, phản ánh tâm trạng chán chường, tiếc nuối và đặc biệt là những địa danh được nêu trong tiểu thuyết của ông thường là ở vùng Bờ Đông của Hoa Kỳ, bang Massachusetts và Penn- sylvania.

John Updike (1932- )

Updike được biết đến nhiều nhất bởi bốn tập tiểu thuyết của ông về Anh chàng thỏ đế, miêu tả về cuộc đời của một anh chàng – Harry Angstrom”thỏ đế” – với những thăng trầm trong cuộc sống qua suốt bốn thập kỷ phát triển của lịch sử chính trị và xã hội Mỹ. Thỏ ơi, chạy đi (1960) là một tấm gương phản chiếu thập kỷ 1950, với nhân vật Angstrom trong vai một anh chồng trẻ bất mãn, sống không có mục đích. Phong độ thỏ đế (1971) – nhấn mạnh vào phong trào đi ngược trào lưu văn hóa của thập kỉ 1960 – miêu tả một Angstrom với cuộc sống vẫn không có mục đích hoặc mục tiêu rõ ràng và vô vị không lối thoát. Trong tập Thỏ ơi giàu rồi (1981), Harry đã trở thành một doanh nhân giàu có trong thập kỉ 1970, khi mà cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã tới hồi kết thúc. Tập cuối cùng, Thỏ ơi hãy an nghỉ (1990), lướt nhanh qua sự nhượng bộ của Ang- strom với cuộc đời, trước khi ông chết vì một cơn đau tim, trong bối cảnh của những năm 1980.

Updike có một văn phong xuất chúng so với các nhà văn thời nay, và những tác phẩm truyện ngắn của ông là những minh chứng sắc sảo về tầm vóc và sự lỗi lạc trong văn phong của ông.

Norman Mailer đã tự chứng tỏ bản thân là một tiểu thuyết gia nổi tiếng nhất trong thập kỉ l960 và l970. Là người đồng sáng lập ra tuần báo phản đối giới cầm quyền Tiếng nói dân làng của Thành phố New York, Mailer công khai về bản thân và quan điểm chính trị của mình. Với khát vọng theo đuổi một phong cách mạnh mẽ, trải nghiệm, và một cá tính gây ấn tượng sâu sắc với công chúng, Mailer đi theo truyền thống của Ernest Hemingway. Để chiếm ưu thế trong các phóng sự về vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy, những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh ở Việt Nam, phong trào giải phóng người da đen, và phong trào của phụ nữ, ông đã xây dựng nên nhân vật nam đại trượng phu, tân tiến và theo chủ nghĩa hiện sinh (trong tác phẩm Chính trị giới tính, Kate Millett đã nhận định Mailer là một nguyên mẫu nam nhân vật theo chủ nghĩa sô-vanh). Một Mailer đầy tham vọng đã liên tiếp kết hôn sáu lần và đã từng tranh chức thị trưởng New York.

Từ những tác phẩm mang phong cách báo chí mới như là Miami và cuộc bao vây thành Chicago (1968), một bài báo phân tích về những thỏa thuận ngầm trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ năm 1968 và một phóng sự điều tra hết sức hấp dẫn của ông về vụ hành quyết một tên tử tù bị kết tội sát nhân trong Bài ca của tên đao phủ (1979), Mailer chuyển sang viết những cuốn tiểu thuyết đầy tham vọng và không hoàn mỹ như là Những buổi chiều xưa (1983) lấy bối cảnh ở Ai Cập cổ đại và cuốn Hồn ma Harlot (1992) về những vấn đề xoay quanh Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ.

Nữ văn sĩ người Mỹ gốc Phi Toni Morrison (1931- ) sinh ra ở bang Ohio trong một gia đình có tín ngưỡng. Bà theo học Đại học Howard ở thủ đô Washington, là biên tập viên cao cấp của
một nhà xuất bản lớn ở Washington và là giáo sư

Norman Mailer (1923- ) nổi tiếng tại nhiều trường đại học.

Tiểu thuyết viễn tưởng có nội dung đan xen phong phú của Morrison làm cho bà nổi tiếng khắp thế giới. Trong những cuốn tiểu thuyết phóng khoáng và cuốn hút của mình, bà đã xử lý những tính cách phức tạp của người da đen theo một phong cách rất phổ biến. Trong tác phẩm đầu tay của bà là Mắt biếc (1970), một cô gái da đen trẻ giàu nghị lực đã kể lại câu chuyện về Pecola Breedlove, người đã bị điên bởi ông bố bạo hành. Pecola tin rằng đôi mắt đen của cô đã biến thành màu xanh da trời một cách kỳ diệu và khiến cô trở nên dễ thương hơn. Morrison có nói rằng bà đã tạo nên một cảm nhận văn học của riêng bà với tư cách là một nhà văn qua cuốn tiểu thuyết này: “Tôi là Pecola, là Claudia, là tất cả mọi người”.

Tác phẩm Sula (1973) miêu tả tình bạn khăng khít của hai người phụ nữ. Morrison khắc họa chân dung những phụ nữ Mỹ gốc Phi thông qua những nhân vật đặc biệt, đầy cá tính, chứ không phải là những nhân vật kiểu mẫu. Tác phẩm Bài ca của Solomon (1977) của Morrison đã giành được nhiều giải thưởng. Tác phẩm mô tả một người đàn ông da đen tên là Milkman Dead và những mối quan hệ phức tạp của anh ta với gia đình và cộng đồng. Tác phẩm Người yêu dấu (1987) là một câu chuyện về nỗi thống khổ của một phụ nữ đã giết chết các con đẻ của mình còn hơn là để chúng sống cuộc đời của những nô lệ. Tác phẩm áp dụng những kỹ xảo huyền ảo của chủ nghĩa hiện thực kỳ diệu để xây dựng lên một nhân vật thần bí, Người yêu dấu, cô con gái đã quay trở lại sống với người mẹ đã cắt cổ mình. Tác phẩm Nhạc Jazz (1992), lấy bối cảnh của những năm 1920 tại Harlem, là một câu chuyện về tình yêu và kẻ sát nhân. Năm 1993, Morrison đoạt giải Nobel về văn chương.

Văn học đương đại

Cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỉ 21, sự thay đổi nhanh chóng về địa lý và xã hội trên toàn thế giới, sự ra đời của Internet, vấn đề nhập cư và toàn cầu hóa chỉ làm mạnh thêm tiếng nói chủ quan trong bối cảnh tách bạch về văn hóa. Một số nhà văn

đương đại phản ảnh biến cố này bằng giọng văn trầm tĩnh và dễ tiếp nhận hơn. Đối với các tác giả văn xuôi, đưa ra những nhận định về địa lý theo khu vực chứ không phải là theo quốc gia.

Một trong những nhà thơ đương đại ấn tượng nhất là Louise Glück (1943- ). Sinh ra ở thành phố New York, Glück, người giành giải thưởng thơ ca Mỹ năm 2003-2004, lớn lên với nỗi ám ảnh không nguôi về tội lỗi dẫn tới cái chết của người chị gái. Bà học cùng trường cao đẳng Sarah Lawrence và đại học Co- lumbia với các nhà thơi Leonie Adams và Stanley Kunitz. Phần lớn các bài thơ của bà nói về những mất mát đau thương. Mỗi tác phẩm của Glück là một trải nghiệm mới, khiến cho người ta khó mà tóm tắt được sự nghiệp của bà.

Trong bài thơ không thể quên của Glück là Hoa Iris dại (1992), nhiều loại hoa khác nhau đã nói lên những đoạn độc thoại ngắn ngủi. Tiêu đề của tập thơ, một sự khám phá về sự hồi sinh, có thể được coi như là lời đề cho toàn bộ sự nghiệp thơ ca của Glück. Hoa iris (hoa ngũ sắc) dại, là một loại hoa màu xanh biếc nở rực rỡ từ những nụ hoa ngủ yên trong suốt cả mùa đông, nói: “Thật là kinh khủng khi sống sót / trong trạng thái hoàn toàn tỉnh táo / nhưng bị vùi sâu trong lòng đất tối tăm”.

Từ trong tâm điểm của cuộc đời tôi xuất hiện một đài phun nước lớn, xanh thẳm in bóng trong làn nước biển xanh lơ

Billy Collins (1941- )

Thơ ca của Billy Collins tươi trẻ và hưng phấn. Collins sử dụng ngôn ngữ hàng ngày để ghi lại vô số những chi tiết của cuộc sống đời thường, tự do đan xen giữa những sự kiện nhàm chán (ăn uống, làm việc nhà, viết lách) có liên quan tới văn hóa. Sự độc đáo và hài hước của ông đã mang lại cho ông một số lượng độc giả lớn. Mặc dù một số người chê bai rằng Collins quá thoải mái, những chuyến phiêu lưu đầy bất ngờ của ông vào thế giới tưởng tượng lại chứa đựng những bí ẩn lớn lao.

Các tác phẩm của Collins hoàn toàn theo chủ nghĩa siêu thực. Những bài thơ hay nhất của ông nhanh chóng đẩy trí tưởng tượng lên những nấc thang của những tình huống ngày càng siêu thực hơn, để rồi kết thúc bằng một trạng thái cảm xúc, một tâm trạng mà bất cứ ai cũng có thể cảm thấy rất thư thái. Tuyển tập những bài thơ ngắn “Cái chết,” trong Đi thuyền một mình trong căn phòng: Tuyển tập những bài thơ mới chọn lọc (2001), cho thấy những cảm nhận của Collins về những chuyến bay đầy phiêu lưu mạo hiểm kết thúc bằng sự hạ cánh cánh nhẹ nhàng, như là chim bay về tổ nghỉ ngơi.

Thần chết luôn coi rẻ chúng ta,

trong khi chúng ta đang đi giầy và làm bánh sandwich, Họ đang dõi theo qua đáy những con thuyền thiên đường bằng thủy tinh

Trong khi họ đang nhẹ nhàng lướt vào cõi vĩnh hằng.

Nhà văn mang phong cách nổi bật nhất, Annie Proulx (1935- ) đã viết lên những câu chuyện về những người dân bắc New England nổi loạn trong tác phẩm Tiếng hát từ trái tim (1988). Tiểu thuyết nổi tiếng nhất của bà, Tin tức Hàng hải (1993), lấy bối cảnh ở vùng cực bắc ở Newfoundland, Canada. Proulx cũng đã từng sống nhiều năm ở miền tây, và một trong những truyện ngắn của bà đã được chuyển thể thành phim năm 2006: “Ngọn núi nguy hiểm”.

Richard Ford (1944- ) được sinh ra ở Mississippi và bắt đầu viết văn theo phong cách của W. Faulknerian, nhưng lại nổi tiếng nhất bởi cuốn tiểu thuyết tinh tế trong bối cảnh ở New Jersey, Phóng viên thể thao(1986), và tác phẩm tiếp theo đó là Ngày độc lập (l995). Tác phẩm sau kể về Frank Bascombe, một dân chài mộng mơ và hay thoái thác trách nhiệm đã đánh mất tất cả những gì có ý nghĩa trong cuộc đời mình – đó là cậu con trai, giấc mơ viết tiểu thuyết, hôn nhân hạnh phúc, người thân, bạn bè và công việc. Bascombe là một người nhạy cảm và thông minh – ông nói rằng những sự lựa chọn của ông là để “xóa tan đi lòng hối hận muộn màng” – và sự trống rỗng trong con người ông, cùng với những siêu thị ẩn danh và những dự án nhà ở mới toanh mà ông đã trải qua không ngơi nghỉ, là một minh chứng thầm lặng cho quan điểm của Ford về tình trạng bất ổn của một đất nước.

Miền bắc California là cái nôi của những nhà văn Mỹ gốc Á giàu truyền thống, với chủ đề đặc trưng về gia đình, vai trò của giới tính và sự bất đồng giữa các thế hệ cũng như sự tìm kiếm gốc gác. Một nhà văn Mỹ gốc Á sinh ra tại California như vậy là tiểu thuyết gia Amy Tan (1952- ), tác giả của cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất có tựa đề Phúc Lạc Hội sau này được chuyển thể thành bộ phim ăn khách nhất năm 1993. Câu chuyện có nội dung xuyên suốt qua các chương phác họa số phận của bốn cặp mẹ và con gái. Các tiểu thuyết của Tan là nhịp cầu nối Trung Quốc cổ đại với Hoa Kỳ hiện đại qua các tác phẩm Trăm niềm ẩn thức (1995), kể về cặp chị em cùng cha khác mẹ, và Con gái thầy lang (2001), kể về sự chăm sóc của người con gái đối với mẹ của mình.

Là dân da đỏ sống ở Spokane (bang Washington) và Coeur d’Alene (bang Idaho), Sherman Alexie là tiểu thuyết gia người Mỹ bản địa trẻ nhất nổi danh trên toàn quốc. Alexie đã mô tả một loạt các câu chuyện hài hước và lý trí về đời sống của người da đỏ pha trộn giữa văn hóa truyền thống và văn hóa bình dân. Những tập truyện của ông bao gồm Bảo tồn điệu Blues (1995) và Viên kiểm lâm đơn độc và Tonto Fistfight trên thiên đường (1993), đã được chuyển thể thành phim rất thành công nói về cuộc sống trên vùng đất dành riêng cho những thổ dân da đỏ có tựa đề Những làn khói (1998), do chính Alexie viết kịch bản. Tuyển tập truyện gần đây nhất của Alexie là Người thổ dân kiên cường nhất trên thế giới (2000).

http://photos.state.gov/libraries/vietnam/8616/ebook/LiteratureInBrief.pdf

Văn học & Điện ảnh Văn học Mỹ

“The Great Gatsby” by F. Scott Fitzgerald Audiobook

The Great Gatsby Audiobook Chapter 1

The Great Gatsby Audiobook Chapter 2

The Great Gatsby Audiobook Chapter 3

The Great Gatsby Audiobook Chapter 4

The Great Gatsby Audiobook Chapter 5

The Great Gatsby Audiobook Chapter 6

The Great Gatsby Audiobook Chapter 7

The Great Gatsby Audiobook Chapter 8

The Great Gatsby Audiobook Chapter 9 

Like Pale Gold – The Great Gatsby Part I: Crash Course English Literature

Was Gatsby Great? The Great Gatsby Part 2: Crash Course English Literature

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 6: Trào lưu hiện đại và thể nghiệm thời kỳ 1914-1945

 

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Nhiều sử gia nêu rõ đặc điểm của nước Mỹ trong khoảng thời gian giữa hai thế chiến như là một sự khủng hoảng tâm lý, mặc dù thời gian Mỹ dính líu trực tiếp đến chiến tranh tương đối ngắn (1917 – 1918) và thiệt hại của nó ít hơn nhiều so với những đồng minh châu Âu và những kẻ thù của nó. John Dos Passos đã diễn tả cái ảo tưởng tan vỡ của Mỹ sau chiến tranh trong cuốn tiểu thuyết Three Soldiers (Ba người lính – 1921), trong đó ông cho rằng nền văn minh là một “công trình khổng lồ của sự giả dối và chiến tranh, thay vì là đống tro tàn của nó, lại là sự diễn đạt sau cùng và đầy đủ nhất của cái gọi là văn minh”. Bị chấn động và đã vĩnh viễn thay đổi, người lính Mỹ trở về nhà nhưng không bao giờ lấy lại được sự ngây thơ trong sáng của mình.

Cả những người lính ra đi từ những miền quê của nước Mỹ cũng không dễ dàng trở về với cái trước đây đã là cội rễ trong cuộc sống của họ. Sau khi bôn ba khắp thế giới, nhiều người trong số họ giờ đây ước ao có được một cuộc sống tiện nghi hiện đại nơi thị thành. Những máy móc mới dùng trong nông nghiệp như máy trồng lúa, máy gặt, và máy bó đã giảm thiểu đáng kể nhu cầu về lao động nông nghiệp, tuy vậy dù sản phẩm gia tăng, nông dân vẫn nghèo. Giá nông sản, cũng như lương công nhân, tùy thuộc vào sức mạnh thị trường tự 150 151 do chịu ảnh hưởng nặng nề của các tập đoàn kinh doanh: trợ cấp của chính phủ cho nông dân và những nghiệp đoàn công nhân thực sự chưa được thiết lập. “Công việc chủ yếu của người dân Mỹ là kinh doanh”, tổng thống Calvin Coolidge tuyên bố vào năm 1925, và hầu hết mọi người đã đồng ý với ông.

Trong thời kỳ “bùng nổ lớn” sau chiến tranh, thương mại nở rộ, các nhà đầu tư gặt hái những thành công và tiền bạc còn vượt xa giấc mơ hoang đường nhất của họ. Lần đầu tiên, nhiều người dân Mỹ đăng ký học đại học, vào những năm 20, sinh viên đại học tăng gấp dôi. Tầng lớp trung lưu phát đạt; người dân Mỹ bắt đầu được hưởng lợi tức trung bình quốc gia cao nhất thế giới vào thời kỳ đó. Và nhiều người đã mua cho được vật tượng trưng cho địa vị xã hội cao nhất: chiếc xe hơi. Ngôi nhà của các gia đình Mỹ bậc trung điển hình ở thành phố đã sáng ánh điện và họ huênh hoang về chiếc radio đã nối nhà mình với thế giới bên ngoài. Ngoài ra, họ còn có thể có một cái điện thoại, một máy ảnh, một máy đánh chữ, hay một cái máy may. Giống như nhân vật thương gia trong cuốn Babbitt (1922) của Sinclair Lewis, các công dân Mỹ tán thưởng những cái máy này bởi vì chúng tân tiến và bởi vì hầu hết chúng là phát minh của người Mỹ và được sản xuất ở Mỹ.

Người dân Mỹ của “thập niên 20 sôi nổi” say mê các phương tiện giải trí hiện đại. Hầu như tất cả mọi người đều đi xem phim mỗi tuần một lần. Mặc dù có luật cấm sản xuất, vận chuyển và bán rượu được ban hành qua tu chính án thứ 18 – có hiệu lực vào đầu năm 1919, các quán rượu lậu và hộp đêm nơi trình diễn nhạc Jazz, bán cocktail, trình diễn các mốt quần áo táo bạo và những vũ điệu bốc lửa vẫn mọc lên như nấm. Xem phim, lái xe du ngoạn, khiêu vũ và máy thu thanh là những say mê điên cuồng của cả nước. Đặc biệt phụ nữ ở Mỹ cảm thấy được tự do. Nhiều người đã rời trang trại, làng quê làm nhiệm vụ cho tiền tuyến ở những thành phố lớn ở Mỹ trong Thế chiến I và đã lột xác hoàn toàn. Họ cắt tóc ngắn, mặc váy ngắn “phất phơ”, và hân hoan được quyền bỏ phiếu nhờ vào tu chính Hiến pháp thứ 19 được thông qua vào năm 1920. Họ mạnh dạn phát biểu những gì mình nghĩ và tham gia những công việc chung của xã hội.

Trong khi đó, thế hệ trẻ phương Tây thì nổi loạn, giận dữ và vỡ mộng với cuộc chiến tàn khốc, với thế hệ đi trước có trách nhiệm trong cuộc chiến tranh này, và với những điều kiện kinh tế khó khăn sau chiến tranh mà oái ăm thay lại cho phép người dân Mỹ với một ít đô la – như các nhà văn F. Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway, Gertrude Stein, và Ezra Pound sống ở nước ngoài một cách phong lưu, vương giả. Những trào lưu tri thức, đặc biệt là phân tâm học của Freud và ở một chừng mực ít hơn chủ nghĩa Mác (giống như thuyết tiến hóa thời kỳ đầu của Darwin), hướng tới một thế giới quan “vô thần” đã góp phần vào cuộc lật đổ những giá trị truyền thống. Người Mỹ ở hải ngoại tiếp thu những quan điểm này, đem chúng về Mỹ, nơi chôn rau cắt rốn của họ, kích thích trí tưởng tượng của các nhà văn và nghệ sĩ trẻ. Chẳng hạn William Faulkner, một tiểu thuyết gia Mỹ thế kỷ 20 đã sử dụng những yếu tố phân tâm học của Freud trong tất cả những tác phẩm của mình, cũng như hầu hết những nhà văn Mỹ nghiêm túc sau Thế chiến thứ I. Mặc dù có một vẻ bên ngoài sôi động, hiện đại và một cuộc sống vật chất dồi dào chưa từng có, giới trẻ Mỹ thập niên 20 vẫn thuộc về một “thế hệ lạc lõng” như Gertrude Stein – một người chuyên viết chân dung văn học – đã đặt tên. Thiếu một cơ cấu truyền thống, bền vững về giá trị làm người, người ta đánh mất luôn cái ý thức về bản thân. Một chỗ dựa của tổ ấm gia đình; một môi trường xã hội thân thuộc, ổn định; thiên nhiên và cái nhịp điệu vĩnh cửu của nó đã hướng dẫn việc gieo trồng và gặt hái trong các nông trại; ý thức yêu nước được bồi dưỡng thường xuyên; những giá trị 152 153 đạo đức được nhấn mạnh bởi niềm tin tôn giáo và sự chiêm nghiệm cá nhân -tất cả những điều đó dường như đã bị Chiến tranh thế giới thứ I và hậu quả của nó làm băng hoại.

Nhiều cuốn tiểu thuyết, đáng chú ý là The Sun Also Rises (Rồi mặt trời cũng mọc – 1925) của Hemingway và This Side of Paradise (Phía bên này thiên đường – 1920) của Fitzgerald vẽ ra sự phí phạm và những ảo mộng tan tành của thế hệ lạc lõng. Trong bài thơ dài gây nhiều ảnh hưởng của T. S. Eliot, The Waste Land (Cõi hoang tàn – 1922), một sa mạc trơ trụi cầu mưa trong tuyệt vọng (sự phục sinh tâm linh) là biểu tượng của nền văn minh phương Tây.

Cuộc khủng hoảng thế giới vào thập niên 30 đã tác động đến hầu hết dân chúng Mỹ. Công nhân mất việc làm, nhà máy đóng cửa, doanh nghiệp và ngân hàng vỡ nợ; nhà nông không thể gặt hái, vận chuyển, hay bán được nông sản, đã không thể trả nợ và đành để mất trang trại của mình. Hạn hán ở miền Trung Tây biến “vựa lúa” này của nước Mỹ thành một vùng sa mạc khổng lồ. Nhiều nông dân bỏ xứ đến California kiếm việc, như John Steinbeck mô tả một cách sống động trong The Grapes of Wrath (Chùm nho uất hận – 1939). Ở đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế, một phần ba người Mỹ bị mất việc. Cơm bố thí, những khu ổ chuột và những đoàn quân tìm việc – những người thất nghiệp đi lậu theo những chuyến tàu chở hàng để kiếm việc làm – trở thành một mảng trong đời sống đất nước. Nhiều người cho rằng cuộc khủng hoảng là sự trừng phạt cho tội sùng bái vật chất thái quá và lối sống buông thả. Họ tin rằng những cơn bão làm đen tối bầu trời miền Trung Tây tạo nên ngày phán xét trong Cựu ước: “Những cơn xoáy lốc giữa ban ngày và bóng đêm bao phủ giữa ban trưa”.

 Cuộc đại khủng hoảng làm đảo điên cả thế giới. Nước Mỹ đã rao truyền một kiểu Kinh thánh kinh doanh vào thập niên 20. Giờ đây nhiều người Mỹ ủng hộ một vai trò tích cực hơn của chính phủ thể hiện trong chương trình Biện pháp mới của Tổng thống Franklin Roosevelt. Tiền của liên bang tạo nên công việc ở các công trình công cộng, việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và điện khí hóa nông thôn. Nghệ sĩ và trí thức được trả lương để sáng tác những bích họa, và những cẩm nang cho các bang. Những biện pháp này đã có hiệu quả, nhưng chỉ có sự gia tăng đều đặn các ngành công nghiệp của Chiến tranh Thế giới Thứ hai mới làm sống lại sự thịnh vượng. Sau khi Nhật tấn công Mỹ ở Trân Châu cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, những xưởng đóng tàu và nhà máy trước đó đã phải đóng cửa lại sống dậy nhộn nhịp sản xuất hàng loạt tàu chiến, máy bay, xe Jeep và quân trang, quân dụng. Sản xuất và thử nghiệm phục vụ chiến tranh dẫn đến những kỹ thuật mới, gồm cả bom nguyên tử. Chứng kiến vụ thử nổ bom nguyên tử đầu tiên, Ropert Oppenheimer, người lãnh đạo nhóm các nhà khoa học nguyên tử quốc tế trích dẫn một bài thơ tiếng Hindi một cách đầy tiên tri: “Tôi đang biến thành Tử thần, kẻ đập tan tành thế giới”.

TRÀO LƯU HIỆN ĐẠI

Làn sóng văn hóa lớn của trào lưu Hiện đại diễn đạt ý thức về cuộc sống hiện đại qua các loại hình nghệ thuật như là một sự đoạn tuyệt dứt khoát với quá khứ cũng như là với các truyền thống cổ điển của nền văn minh phương Tây, đã từ từ trỗi dậy ở châu Âu và Mỹ vào những năm đầu của thế kỷ 20. Cuộc sống hiện đại hình như khác biệt một cách cơ bản với lối sống truyền thống – khoa học hơn, tốc độ hơn, kỹ thuật hơn và máy móc hơn. Chủ nghĩa hiện đại bao gồm luôn cả những thay đổi này.

Trong văn học, Gertrude Stein (1874 – 1946) đã phát triển một sự tương đồng với nghệ thuật hiện đại. Là một cư dân 154 155 Paris và một nhà sưu tập nghệ thuật (bà và người em trai Leo đã mua các tác phẩm của Paul Cézanne, Paul Gauguin, Pierre August Renoir, Pablo Picasso, và nhiều họa sĩ khác), Stein đã từng giải thích rằng bà và Picasso đang làm một công việc giống nhau, ông ta trong lĩnh vực hội họa và bà trong văn học. Sử dụng từ vựng cụ thể, đơn giản thay thế, bà phát triển một loại thơ văn xuôi thử nghiệm, trừu tượng. Tính chất trẻ thơ trong từ vựng đơn giản của Stein gợi nhớ những màu nguyên, tươi sáng trong hội họa hiện đại, còn sự lặp lại của bà âm vang những hình thể được lặp đi, lặp lại của những bố cục tạo hình trừu tượng. Bằng cách bố trí sai ngữ pháp và dấu chấm câu, bà đạt được những ý nghĩa “trừu tượng” mới như trong tập thơ gây nhiều ảnh hưởng của bà là Tender Buttons (Những chiếc cúc áo dịu dàng – 1914), nhìn sự vật từ các góc độ khác nhau, như trong một bức tranh lập thể:

Một cái bàn một cái bàn không phải của tôi
trìu mến nó nghĩa là tất cả sự đều đặn
Nó giống như một sự đổi thay. Một cái bàn.
có ý nghĩa nhiều hơn một cái ly
hơn cả một tấm gương soi cao vòi vọi

Ý nghĩa, trong tác phẩm của Stein, thường lệ thuộc vào kỹ thuật, cũng như chủ đề thì ít quan trọng hơn cái hình thức trong nghệ thuật tạo hình trừu tượng. Chủ đề và kỹ thuật trở nên không thể tách rời nhau trong nghệ thuật tạo hình lẫn văn học thời đó. Luận điểm cho rằng hình thức như là một cái gì tương đương với nội dung là một hòn đá tảng đặt nền móng cho văn học và nghệ thuật sau Thế chiến II, được kết tinh trong chính thời kỳ này.

Sự cải tiến kỹ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp và cơ giới đã khơi gợi cảm hứng cho sự quan tâm mới đến kỹ thuật trong nhiều ngành nghệ thuật. Một thí dụ: Ánh sáng và đặc biệt là ánh sáng điện đã lôi cuốn nhiều nghệ sĩ và nhà văn hiện đại.

Bích chương quảng cáo thời kỳ này tràn ngập những hình ảnh về các ngôi nhà chọc trời rực rỡ ánh đèn và những chùm tia sáng chiếu ra từ đèn xe ô tô, rạp chiếu bóng, và những tháp canh để rọi sáng một không gian tối tăm bị cấm đoán bên ngoài, ám chỉ sự ngu dốt và truyền thống lỗi thời.

Nhiếp ảnh bắt đầu có được vị trí của một ngành nghệ thuật đi liền với những phát triển khoa học mới nhất. Nhiếp ảnh gia Alfred Stieglitz mở một phòng triển lãm ở New York. Và khoảng trước 1908 ông trưng bày các tác phẩm châu Âu mới nhất, bao gồm tranh của Picasso và những người bạn châu Âu khác của Gertrude Stein. Phòng triển lãm của Stieglitz tác động đến nhiều nhà văn và nghệ sĩ trong đó có William Carlos Williams, một trong những nhà thơ Mỹ nổi tiếng của thế kỷ 20. Williams đã tiếp nhận và phát triển độ trong sáng của nghệ thuật nhiếp ảnh trong hình tượng. Châm ngôn nghệ thuật của ông là “không có tư tưởng trừ phi là trong sự vật”.

Tầm nhìn và quan điểm cũng đã trở thành một khía cạnh thiết yếu của tiểu thuyết theo trào lưu hiện đại. Không còn phù hợp nữa cái lối kể thẳng tuột một câu chuyện dùng nhân vật ngôi thứ ba (hoặc tệ hơn) người kể chuyện can thiệp một cách vô nghĩa lý vào mọi chuyện. Cách kể chuyện trở nên cũng quan trọng như chính câu chuyện vậy.

Henry James, William Faulkner và nhiều nhà văn Mỹ khác thử nghiệm những quan điểm hư cấu (nhiều người vẫn còn đang làm như vậy). James thường hạn chế thông tin trong cuốn tiểu thuyết vào những gì mà một nhân vật riêng lẻ có lẽ đã biết. Cuốn tiểu thuyết The Sound and the Fury(Âm thanh và cuồng nộ – 1929) của Faulkner phân chia câu chuyện thành 4 156 157 phần, mỗi phần đưa ra cái nhìn của một nhân vật khác nhau (trong đó có một cậu bé tâm thần chậm phát triển).

Để phân tích tiểu thuyết và thơ ca trào lưu hiện đại, một trường phái “phê bình mới” xuất hiện ở Mỹ. Với cách sử dụng ngôn ngữ phê bình mới, các nhà phê bình này săn lùng “sự chứng ngộ” (một khoảnh khắc trong đó một nhân vật đột nhiên ngộ ra chân lý siêu phàm của một tình huống, “sự chứng ngộ” (epiphany) là một từ xuất phát từ sự xuất hiện của một vị thánh trước mắt những kẻ phàm trần); họ “nghiên cứu” và “làm sáng tỏ” một tác phẩm, hi vọng “soi sáng “ nó qua khả năng “thấu thị” của họ.

THƠ CA THỜI KỲ 1914 – 1945 NHỮNG THỂ NGHIỆM HÌNH THỨC

Ezra Pound 
(1885 – 1972)

Ezra Pound là một trong những nhà thơ Mỹ có nhiều ảnh hưởng nhất trong thế kỷ này. Từ năm 1908 đến 1920, ông sống ở London, giao du với nhiều văn sĩ, trong đó có William Butler Yeats – nhà thơ Anh nổi tiếng mà ông từng làm thư ký và T. S. Eliot, tác giả của cuốn The Waste Land mà ông biên tập và hiệu đính một cách nghiêm túc. Ông là cầu nối giữa nước Mỹ và nước Anh với tư cách là một chủ bút cộng tác cho tờ tạp chí Poetry quan trọng ở Chicago của Harriet Monroe. Ông cũng là con chim đầu đàn của một trường phái mới trong thơ ca được biết đến dưới tên gọi Chủ nghĩa hình tượng ủng hộ một lối biểu đạt rõ ràng, sinh động có tính hình tượng cao. Sau Chủ nghĩa hình tượng, ông là người đi đầu ở nhiều lối tiếp cận thơ ca khác nhau. Cuối cùng ông sang Ý sống, rồi bị mắc kẹt dưới chế độ Phát xít Ý.

Pound phát triển lý luận về chủ nghĩa hình tượng trong thư từ, tiểu luận, và trong một tuyển tập. Trong lá thơ gửi cho Monroe vào năm 1915, ông tranh luận cho một trường phái thơ có âm hưởng hiện đại, giàu chất tạo hình, tránh “rập khuôn và sáo ngữ” (1913). Trong “A Few Don’ts of an Imagiste” (Một số điều không nên làm đối với một tác giả theo chủ nghĩa hình tượng – 1913), ông định nghĩa “hình tượng” như một cái gì đó diễn đạt sự phức hợp tri thức và xúc cảm trong một khoảnh khắc thời gian. Tuyển tập năm 1914 tựa đề Des Imagistes (Các nhà thơ theo trường phái Hình tượng) của Pound về 10 nhà thơ đã giới thiệu những ví dụ về thơ hình tượng của những nhà thơ nổi tiếng như William Carlos Williams, H. D. (Hilda Doolittle) và Amy Lowell.

Mối quan tâm và tầm hiểu biết của Pound hết sức rộng lớn, bao quát nhiều lĩnh vực. Các tác phẩm phóng tác, các bản dịch xuất sắc của ông dù đôi chỗ còn sai sót, đã giới thiệu tiềm năng văn học mới từ các nền văn hóa cho các nhà văn trẻ. Tác phẩm mà ông dành trọn đời mình để viết và xuất bản cho đến tận ngày chết là The Cantos (Những bài ca). Cuốn sách có những đoạn xuất sắc, nhưng những điển tích văn chương và nghệ thuật của nhiều thời kỳ và nhiều nền văn hóa đã khiến tác phẩm trở nên rối rắm, khó hiểu. Thơ của Pound nổi tiếng về những hình tượng sống động rõ ràng, có tính chất tạo hình cao, tiết tấu mới mẻ, và những dòng thơ bất thường, thông minh và mạnh mẽ, chẳng hạn như câu sau đây trong bài “Canto LXXXI”, “Con kiến là một quái vật nhân mã đầu trong thế giới rồng của nó”, hoặc trong những bài thơ lấy cảm hứng từ thơ haiku, Nhật Bản, như là “In a Station of the Metro” (Ở một ga điện ngầm – 1916):

Sự xuất hiện những khuôn mặt này trong đám đông;
Tựa những cánh hoa trên một cành cây đen, ẩm ướt.

T.S. Eliot
(1888 -1965)

Thomas Stearn Eliot sinh ở St. Louis bang Missouri trong một gia đình danh gia vọng tộc ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ. Ông được hưởng một nền giáo dục tốt nhất so với bất cứ nhà văn lớn nào cùng thời. Ông học ở Đại học Harvard, Sorbonne và trường Merton của Đại học Oxford. Ông còn học tiếng Phạn và triết học phương Đông, một hệ tư tưởng ảnh hưởng nhiều đến thơ ông. Giống như Pound, một người bạn của mình, ông đến London rất sớm và trở thành chủ soái của Tao đàn văn chương ở đây. Ông là một trong những nhà thơ được trọng vọng nhất lúc sinh thời. Thơ ông hiện đại, có vẻ như phi lý và trừu tượng, thực sự là một dòng thơ dấn thân, lật đổ mọi khuôn vàng thước ngọc và có tác động cách mạng trong thơ ca. Ông cũng viết tiểu luận và kịch gây nhiều ảnh hưởng. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của các truyền thống xã hội và văn học đối với nhà thơ hiện đại.

Với tư cách là một nhà phê bình, Eliot nổi tiếng với công thức của ông về “mối liên hệ khách quan” mà ông đã mô tả trong cuốn The Sacred Wood (Rừng thiêng) như là một phương tiện diễn đạt cảm xúc thông qua “một tập hợp các sự vật, một tình huống và một chuỗi các sự kiện”, có thể trở thành công thức cho cảm xúc đặc biệt đó. Những bài thơ như “The Love Song of J. Alfred Prufrock” (Bản tình ca của J. Anfred Prufrock – 1915), thể hiện cách tiếp cận này. Lúc Prufrock già nua, vô dụng, ông cho rằng ông đã “đong lượng cuộc đời mình bằng những chiếc muỗng café”. Vậy đấy, người ta có thể dùng muỗng café để phản ánh sự tồn tại hẩm hiu, ảm đạm về một đời người lãng phí như thế đấy.

Trong đoạn mở đầu nổi tiếng của bài thơ “Prufrock”, Eliot đưa độc giả vào các lối ngõ hào nhoáng, cũng giống như cuộc sống hiện đại, không có câu trả lời cho những vấn đề mà chính cuộc đời đặt ra.

Nào chúng ta đi, anh và tôi.
Khi bóng chiều lan tỏa khắp bầu trời
Như một bệnh nhân bị gây mê trên bàn mổ,
Nào chúng ta đi, qua những con đường gần như hoang vắng,
Những nơi ẩn cư lặng lẽ
Của những đêm không ngủ trôi qua trong những khách sạn rẻ tiền
chỉ trọ một đêm
Và những quán ăn đầy mùn cưa với những vỏ sò;
Những con đường chạy như một cuộc tranh luận dài buồn tẻ
Có ý định xảo quyệt
Đưa anh đến một vấn đề nan giải
Ồ, đừng hỏi, “Cái gì đấy?”
Nào chúng ta hãy đi thăm!

Những hình tượng tương tự như vậy cũng tràn ngập trong The Waste Land (Cõi hoang tàn[1] – 1922) vọng lại cái âm hưởng địa ngục của Dante ám chỉ những con đường đông đúc của London trong khoảng thời gian Thế chiến I:

Thành phố không có thật,
Dưới màn sương nâu một bình minh mùa đông
Đám đông tràn qua cầu London, sao nhiều thế
Tôi đã không nghĩ rằng cái chết đã tàn hủy nhiều
đến thế…
(I, 60-63)

Cái nhìn của The Waste Land thực chất có tính cách tiên tri và tầm bao quát khắp thế giới:

Những rạn nứt những cải tổ và bùng nổ
trong không gian tím nhạt
Đổ sụp những tháp cao
Ở Jerusalem, Athens và Alexandria
Vienna, London.
Đâu có thật
(V, 373 -377)

Những bài thơ quan trọng khác của Eliot gồm có “Gerontion” (Cảnh già – 1920), dùng hình ảnh một ông lão làm biểu tượng cho sự cằn cỗi, già nua của xã hội châu Âu. “The Hollow Men” (Những con người rỗng – 1925) là một bài ca truy điệu hết sức cảm động về cái chết tinh thần của nhân loại đương thời. Ash-Wednesday (Ngày thứ tư lễ tro – 1930) thể hiện tư tưởng của ông dứt khoát hướng về Giáo hội Anh giáo để tìm ý nghĩa trong cuộc sống con người. Và Four Quartets (Bốn tứ tấu khúc – 1943) là một suy ngẫm thử nghiệm phức tạp và chủ quan cao độ về những chủ đề muôn thuở như thời gian, bản chất của cái tôi và nhận thức tâm linh. Thơ của ông, đặc biệt là những tác phẩm táo bạo, cách tân thời kỳ đầu đã ảnh hưởng đến nhiều thế hệ sau đó.

Robert Frost
(1874 -1963)

Robert Lee Frost sinh ở California nhưng lớn lên ở một trang trại vùng Đông Bắc Hoa Kỳ cho đến năm 10 tuổi. Cũng như Eliot và Pound, ông sang Anh, bị lôi cuốn bởi các phong trào mới mẻ trong làng thơ ở đó. Là một nhà thơ đọc thơ trước công chúng có tài năng bẩm sinh, ông gặt hái nhiều thành công qua những chuyến đi của mình. Ông đã đọc một bài thơ độc đáo trong lễ nhậm chức của Tổng thống Kennedy vào năm 1961 góp phần làm bùng lên sự quan tâm đến thi ca trong cả nước. Sự nổi danh của ông cũng dễ giải thích, ông viết về đời sống trang trại truyền thống, khêu gợi hoài niệm về những gì đã qua. Thơ của ông quan tâm đến mọi tạo vật trong đời sống –hái táo, những bức tường đá, hàng rào, những con đường quê. Thi pháp của Frost trong sáng và biểu cảm: ông hiếm khi dùng những ám chỉ bóng gió rởm đời hay sự tỉnh lược. Thơ ca có vần điệu của ông cũng là một yếu tố lôi cuốn được độc giả đại chúng.

Tác phẩm của Frost thường có vẻ bề ngoài rất đơn giản. Nhiều bài thơ gợi lên ý nghĩa sâu xa. Ví dụ, bằng một sự phối hợp vần gần như thôi miên trong mô tả về một chiều tối đầy tuyết rơi, yên tĩnh, Frost đã gợi nên bước đi hoàn toàn không phải là không được chờ đợi của cái chết. Đây là một đoạn trong “Stopping by Woods on a Snowy Evening” (Dừng chân bên cánh rừng một chiều tuyết rơi – 1923):

Cánh rừng này của ai mà ta nghĩ rằng mình đã biết.
Dù cho nhà của ông ta ở giữa làng;
Ông sẽ chẳng thấy ta nghỉ lại nơi đây
Để nhìn cánh rừng ông tuyết phủ đầy
Con ngựa nhỏ của ta chắc nghĩ rằng ta thật lạ
Dừng chân nơi đây không thấy bóng một ngôi nhà
Giữa cánh rừng và mặt hồ băng giá
Vào một buổi chiều đen tối nhất trong năm.
Nó rung những cái chuông trong bộ yên cương
Như muốn hỏi xem có sự bất thường
Chỉ có một âm thanh nhẹ lướt
Của ngọn gió chiều và những đóa tuyết rơi
Cánh rừng sao mà đáng yêu, thẳm sâu dần sẫm lại
Nhưng ta còn nhiều lời hứa phải giữ mãi
Còn nhiều dặm đường phải đi, trước khi ta ngủ lại
Còn nhiều dặm đường phải đi, trước khi ta ngủ lại.

Wallace Stevens
(1879 -1955)

Sinh ra ở Pennsylvania, Wallace Stevens được đào tạo ở Đại học Harvard và trường Luật, Đại học New York. Ông hành nghề luật sư ở New York từ năm 1904 đến 1916, cũng là khoảng thời gian ông tham gia các hoạt động nghệ thuật và thi ca ở đó. Khi dời đến Hartford bang Connecticut, để làm một nhà điều hành bảo hiểm ở đây vào năm 1916, ông lại tiếp tục làm thơ. Cuộc đời của ông quả là khác thường vì sự phân thân của nó: Đồng sự của ông trong công ty bảo hiểm không hề biết ông là một nhà thơ lớn. Trong đời sống riêng tư, ông tiếp tục phát triển những tư tưởng cực kỳ phức tạp về một trật tự thẩm mỹ, một công việc ông đã tiến hành suốt cuộc đời được thể hiện trong những cuốn sách được đặt tên một cách thích hợp nhưHarmonium (Đàn đạp hơi, ấn bản năm 1931 được bổ sung thêm), Ideas of Order (Ý tưởng của trật tự – 1935), và Parts of a World (Các phần của thế giới – 1942). Những bài thơ hay nhất của ông là “Sunday Morning” (Sáng chủ nhật), “Peter Quince at the Clavier” (Peter Quince[2] bên phím đàn), “The Emperor of Icecream” (Hoàng đế kem), “Thirteen Ways of Looking at a Blackbird” (Mười ba cách ngắm nhìn một con chim đen) và “The Idea of Order at Key West” (Ý tưởng về trật tự ở Key West[3]).

Thơ của Stevens đào sâu những chủ đề của trí tưởng tượng, sự cần thiết của hình thức thẩm mỹ và niềm tin rằng trật tự của nghệ thuật tương hợp với một trật tự trong tự nhiên. Từ ngữ của ông phong phú và đa dạng: bút pháp của ông vẽ được những cảnh sắc nhiệt đới rực rỡ trăm hoa khoe sắc nhưng cũng tạo ra được những hình trang trí nhỏ khô khan, khôi hài và mai mỉa.

Một số bài thơ của ông sử dụng văn hóa dân gian, trong khi những bài thơ khác chế giễu giới quý phái hoặc bay thẳng lên thiên đường trí thức. Ông nổi tiếng bởi lối chơi chữ vui nhộn của mình. “Rồi, với âm thanh như của cái trống lục lạc, đám dân Byzantine tùy tùng của cô xuất hiện”.

Thơ của Stevens dồi dào những chiêm nghiệm nội tâm, sâu sắc một cách đáng kinh ngạc. Đôi lúc ông còn trêu đùa độc giả, như trong “Disillusionment of Ten O’Clock” (Vỡ mộng lúc 10 giờ – 1931):

Những ngôi nhà ma ám
Bởi những chiếc áo ngủ trắng
Không có cái nào màu xanh lá cây
Hay màu tím với những vòng tròn xanh
Hay màu xanh với những vòng tròn vàng
Hay màu vàng với những vòng tròn xanh da trời
Chúng chẳng xa lạ gì
Với những chiếc vớ ren
Những dây lưng tua rủ
Người ta sẽ không
Mơ về những con khỉ chó và đóa hoa nhạn lai hồng
Chỉ có đây kia một thủy thủ già
Say xỉn và ngủ vùi trong khoang hành lý
Bắt những con cọp to
Trong tiết trời rực đỏ

Bài thơ này có vẻ như than phiền về những cuộc đời quá trần tục thiếu hẳn tính bay bổng tưởng tượng (những chiếc áo ngủ trắng trơn), nhưng lại khơi dậy những hình ảnh sinh động trong đầu độc giả. Cuối cùng anh chàng thủy thủ say, chẳng biết gì đến phép tắc lại “bắt được những con hổ” – ít nhất thì cũng trong giấc mơ của anh. Bài thơ cho thấy óc tưởng tượng của con người – của độc giả hay thủy thủ – sẽ luôn tìm được một lối đi đầy sáng tạo.

William Carlos Williams
(1883 – 1963)

William Carlos Williams là một bác sĩ nhi khoa hành nghề trong suốt cuộc đời. Ông giúp hơn 2000 đứa trẻ chào đời và làm thơ trên giấy kê đơn thuốc. Williams là bạn học của nhà thơ Ezra Pound và Hilda Doolittle, và những bài thơ đầu tay của ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Hình tượng. Sau này ông tiếp tục đi đầu trong việc sử dụng ngôn ngữ nói trong thi ca. Khả năng thẩm âm tuyệt vời của ông đối với nhịp điệu tự nhiên của tiếng Anh – Mỹ đã giúp thơ ca Mỹ thoát khỏi nhịp iambic[4] thống trị thơ ca tiếng Anh kể từ thời Phục hưng. Sự cảm thông của ông đối với người lao động bình thường, trẻ con và những chuyện đời thường trong những khung cảnh đô thị hiện đại khiến cho thơ của ông đặc biệt lôi cuốn và dễ cảm thụ. Bài thơ The Red Wheelbarrow (Chiếc xe đẩy màu đỏ 1923), giống như một bức tranh tĩnh vật Hà Lan, tìm thấy sự thú vị và vẻ đẹp trong những đồ vật bình dị hàng ngày:

Quá nhiều phụ thuộc
vào
chiếc xe đẩy
màu đỏ
phủ một lớp nước
mưa
bên cạnh con gà
trắng

Williams phát triển phong cách thơ tự nhiên, nhẹ nhàng như hơi thở. Dưới ngòi bút của ông, thơ ca không trở thành một tác phẩm nghệ thuật toàn bích như trong thơ Stevens, hay cẩn thận tái tạo lại những biến cố theo phong cách Wordsworth như trong thơ Frost. Đối với ông, mỗi bài thơ sẽ nắm bắt một khoảnh khắc trong đời như một tấm hình chụp ngẫu hứng – một khái niệm ông có từ những nhiếp ảnh gia và họa sĩ ông đã gặp ở những phòng tranh như của Stieglitz ở New York. Cũng như tác phẩm nhiếp ảnh, những bài thơ của ông thường gợi ý tới những khả năng và sự quyến rũ tiềm ẩn của cuộc sống, như trong bài “The Young Housewife” (Bà nội trợ trẻ – 1917).

Mười giờ sáng, người vợ trẻ đi qua lại trong
tấm áo ngày thường sau bức vách gỗ
trong ngôi nhà của đấng phu quân
Tôi lướt qua trong chiếc xe hơi, nghe lòng cô đơn lạ.
Rồi nàng ta ra phố
gọi một anh bán kem, một người bán cá
lại đứng chờ
Rụt rè, không áo nịt, tay cố giữ những lọn tóc rối bay
và tôi ngầm so nàng
với một chiếc lá rơi.
Xe tôi lao đi không tiếng động làm vỡ
một chiếc lá khô khi tôi cúi chào
nàng và lướt đi
với một nụ cười.

Ông cho rằng thơ mình hết sức “khách quan” nhằm đề cao tầm quan trọng của những vật thể sinh động, cụ thể. Thơ ông thành công trong nắm bắt và thể hiện những sự kiện gây xúc cảm, tác động tức thời và tạo ảnh hưởng đến phong cách “Beat” vào đầu thập niên 50.

Cũng như Eliot và Pound, Williams cũng thử viết sử thi, nhưng trong lúc sử thi của họ sử dụng nhuần nhuyễn các điển tích hướng đến một số ít độc giả có học vấn cao, thì Williams lại ưa viết cho độc giả phổ thông hơn. Dù từng học tập ở nước ngoài, ông đã quyết định sống ở Mỹ. Thiên sử thi Paterson (5 tập, 1946 – 1958) ca ngợi thành phố quê hương Paterson, bang New Jersey của ông, được xem như tiểu sử tự thuật của “bác sĩ Parteson”. Trong tác phẩm, Williams xếp đặt cạnh nhau những đoạn tình ca, văn xuôi, thư từ, tiểu sử tự thuật, những bài báo và những sự kiện lịch sử. Lối trình bày với nhiều khoảng trống để giấy trắng, gợi nên chủ đề về con đường rộng mở của văn học Mỹ và một ý niệm về những viễn cảnh mới mở rộng ngay cả với những người nghèo đi dạo chơi trong công viên vào ngày chủ nhật.

Cũng như nhân vật hóa thân của Whitman trong Leaves of Grass, bác sĩ Paterson cảm thấy hoàn toàn thoải mái giữa những người lao động:

·        mùa xuân muộn
một chiều chủ nhật!
theo lối mòn đến bờ vách đá
chính anh ta giữa những người xa lạ
·        dẫm lên đây cũng những tảng đá này
và trên đó, họ trượt chân khi bước
168 169
những con chó của họ đuổi theo!
cười la, gọi nhau í ới
Chờ tôi với!
(II, i, 14 – 23)

VĂN HỌC GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI

Robinson Jeffers
(1887 – 1962)

Phần lớn các nhà thơ Mỹ vào loại tầm cỡ và có nhãn quan thiên tài đều xuất hiện vào những năm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, trong số họ có các nhà thơ từ vùng Bờ Tây, phụ nữ, và người Mỹ Da đen. Giống như nhà văn John Steinbeck, Robinson Jeffers sống ở California và viết về những người Tây Ban Nha làm thuê trong các trang trại, dân Da đỏ và những truyền thống pha trộn của họ và về vẻ đẹp mê hoặc của vùng đất này. Học hỏi từ những tác phẩm cổ điển và đọc nhiều về Freud, ông đã khai thác và tái tạo những chủ đề dựa trên bi kịch cổ đại Hy Lạp lấy bối cảnh là phong cảnh hoang sơ vùng duyên hải. Ông rất nổi tiếng với những bi kịch tự sự như Tamar (1924), Roan Stallion (1925), The Tower Beyond Tragedy (Tháp vượt ngoài bi kịch – 1924) – một sự tái tạo vở bi kịch Agamemnon[5] của Aeschylus – và Medea[6] (1946), dựa vào bi kịch của Euripides.

Edward Estlin Cummings 
(1894 – 1962) 

Edward Estlin Cummings, thường được biết đến dưới tên e. e. cummings – người đã viết những vần thơ lôi cuốn, mới mẻ hết sức nổi bật bởi tính hài hước, sự duyên dáng, niềm hân hoan đối với tình yêu, sự lãng mạn đa tình, và sự thể nghiệm với cách chấm câu và kiểu cách tạo hình trên trang giấy. Cũng là một họa sĩ, ông là nhà thơ Mỹ đầu tiên nhận ra rằng thơ ca chủ yếu là một nghệ thuật để nhìn bằng mắt chứ không phải thứ để đọc bằng miệng. Những bài thơ của ông sử dụng nhiều khoảng trống và cách xuống dòng bất thường, cũng như việc bỏ hết những chữ viết hoa.

Cũng như Williams, Cummings cũng dùng ngôn ngữ nói, hình tượng sắc sảo mạnh bạo, và kho ngôn từ của nền văn hóa bình dân. Và cũng như Williams, ông có một cách trình bày sáng tạo, tự do. Bài thơ “in Just” của ông (1920) mời gọi độc giả điền vào nó những ý tưởng bị rơi mất:

mùa xuân khi thế giới ngập bùn –
ngọt ngào người bán bóng bay bé nhỏ
chân khập khiễng
huýt sáo xa và nhỏ
rồi bọn trẻ con chạy đến
[7]
chơi trò bắn bi và bắt cướp
và thế là
xuân đến

Hart Crane
(1899 -1932)

Hart Crane là một nhà thơ trẻ bị dày vò đau khổ đến mức phải tự tử vào tuổi 33 bằng cách nhảy xuống biển. Ông để lại những bài thơ xuất sắc trong đó có một sử thi The Bridge (Cây cầu – 1930), lấy cảm hứng từ cây cầu Brooklyn, trong đó ông cố gắng một cách đầy tham vọng để điểm lại toàn bộ nền văn hóa Mỹ và viết lại về nó bằng những lời lẽ xác tín. Phong cách quyến rũ, đầy nhiệt tình của ông đạt hiệu quả cao nhất trong những bài thơ ngắn như là “Voyages” (Những chuyến du hành – 1923, 1926) và “At Melville’s Tomb” (Bên ngôi mộ của Melville – 1926), mà những câu kết trong bài thơ cũng là một câu thích hợp khắc ghi trên chính bia mộ của Crane:

bài ai điếu không đánh thức được người
thủy thủ
Bóng mát hoang đường này chỉ biển khơi giữ được

Marianna Moore
(1887 -1972)

Marianna Moore từng viết rằng thơ ca là “những khu vườn tưởng tượng trong đó có những con ếch thật”. Những bài thơ của bà là một cách để bà đàm đạo, nhưng lại khéo léo và tinh tế trong cách gieo vần, cực kỳ chính xác trong mô tả và trong việc tái hiện các sự kiện khoa học và lịch sử. Được mệnh danh là “nhà thơ của nhà thơ”, bà ảnh hưởng đến các nhà thơ đi sau, trong đó có người bạn trẻ của bà là Elizabeth Bishop.

Langston Hughes
(1902 -1967)

Một trong nhiều nhà thơ tài năng của trường phái Phục hưng Harlem vào thập kỷ 20 -cùng với James Weldon Johnson, Claude McKay, Countee Cullen và những người khác – là Langston Hughes. Ông đưa vào thơ mình nhịp điệu nhạc Jazz của người Mỹ Da đen và là một trong những tác gia Da đen đầu tiên sống khá giả nhờ viết lách. Thơ của ông là sự kết hợp tuyệt vời giữa nhạc Blue, thánh ca, ngôn ngữ trò chuyện và truyền thống dân gian.

Là một nhà hoạt động văn hóa có nhiều ảnh hưởng, Hughes xuất bản nhiều tuyển tập của các tác giả Da đen và khởi xướng các nhóm kịch nghệ Da đen ở Los Angeles và Chicago cũng như ở New York. Ông cũng viết nhiều bài báo có tác động sâu sắc, sáng tạo ra nhân vật Jesse B. Semple (“đơn giản”) để bày tỏ những luận điểm phê phán xã hội. Một trong những bài thơ đáng yêu nhất của ông, bài “The Negro Speaks of Rivers” (Người Da đen nói chuyện với các dòng sông – 1921, 1925) là một trường ca lớn, cuộn chảy trong lòng nó di sản châu Phi và của toàn nhân loại. Bài thơ ngụ ý rằng như những con sông lớn trên thế giới, nền văn hóa Phi châu sẽ tồn tại và ngày càng sâu thẳm:

Tôi biết những dòng sông:
Tôi biết những dòng sông cổ xưa như trái đất và
già hơn dòng máu của nhân gian trong
huyết quản con người

Tâm hồn tôi trở nên sâu thẳm như những dòng sông
Tôi tắm trong dòng sông Euphrates trong bình minh son trẻ
Và dựng lều tôi gần dòng Congo
rồi nó ru tôi vào giấc ngủ
Tôi nhìn xuống dòng sông Nile và
dựng lên những Kim tự tháp trên chính dòng sông
Tôi đã nghe tiếng hát con sông Mississippi
Khi Abe Lincoln xuôi dòng xuống New Orleans,
và tôi thấy lòng sông bùn lầy
trở nên vàng óng ả bởi hoàng hôn.

Tôi biết những dòng sông
Những dòng sông cổ xưa và mờ tối
Tâm hồn tôi bỗng trở nên sâu thẳm như những dòng sông

VĂN XUÔI 1914 – 1945 CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC MỸ

Mặc dầu văn xuôi Mỹ giữa hai cuộc đại chiến trải qua nhiều cuộc thử nghiệm với quan điểm và hình thức mới, nhìn toàn cục, người Mỹ có xu hướng viết văn bằng một cái nhìn hiện thực hơn các nhà văn châu Âu. Tiểu thuyết gia Ernest Hemingway viết về chiến tranh, săn bắn, và những theo đuổi khác nhau của giới mày râu với một văn phong trong sáng gần như giản đơn. William Faulkner lấy bối cảnh của vùng Mississippi nóng bỏng và cát bụi để đào sâu các vấn đề của nhiều thế hệ và nhiều nền văn hóa trong những cuốn tiểu thuyết miền Nam đầy sức mạnh của ông, và Sinclair Lewis miêu tả cuộc sống trưởng giả với sự trong sáng mỉa mai.

Tầm quan trọng của việc đối mặt với thực tế trở thành một chủ đề nổi bật vào những thập kỷ 20 và 30. Những nhà văn như Scott Fitzgerald và nhà viết kịch Eugene O’Neil mô tả trở đi trở lại cái bi kịch chờ đợi những ai sống với những giấc mơ hời hợt, nông cạn.

F. Scott Fitzgerald
(1896 – 1940)

Cuộc đời của Francis Scott Key Fitzgerald giống như một câu chuyện cổ tích. Trong thời gian thế chiến thứ I, ông gia nhập bộ binh Hoa Kỳ và say mê một cô gái vừa đẹp, vừa giàu có tên là Zenda Sayre, sống gần Montgomery, Alabama, nơi ông đóng quân. Một thời gian sau Zelda hủy bỏ việc đính hôn vì ông nghèo. Sau chiến tranh ông giải ngũ và đến New York tìm kiếm cơ may ở nghiệp văn chương để có thể cưới người trong mộng.

Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông This Side of Paradise (Phía bên này Thiên đàng 1920), gây được tiếng vang, bán rất chạy và ở vào tuổi 24 họ lấy nhau. Cả hai người đều không có khả năng chịu đựng được những sức ép của sự thành công và danh tiếng. Họ thi nhau ném tiền qua cửa sổ. Rồi họ sang Pháp năm 1924 để tiết kiệm chi tiêu và bảy năm sau trở về Mỹ. Thần kinh Zelda trở nên bất ổn và phải nhập viện điều trị; bản thân Fitzgerald trở thành một kẻ nát rượu và chết trẻ trong khi đang viết kịch bản phim.

Fitzgerald có được vị trí vững vàng trong văn đàn Mỹ chủ yếu nhờ vào cuốn tiểu thuyết The Great Gatsby (Gatsby vĩ đại – 1925), một câu chuyện được viết bằng một ngòi bút trác tuyệt với cấu trúc chặt chẽ về giấc mơ Mỹ của một người muốn đạt đến thành công bằng chính sức mình. Nhân vật chính, Jay Gatsby bí ẩn, đã nhận ra cái giá đắt kinh khủng của thành công hiểu theo nghĩa thành đạt cá nhân và tình yêu. Các tác phẩm thuộc vào loại hay khác bao gồm Tender Is the Night (Đêm dịu dàng – 1934), về một nhà phân tâm học trẻ bị đày đọa trong cuộc sống vợ chồng với một người đàn bà tính khí thất thường, và một vài truyện ngắn trong tuyển tập Flappers and Philosophers (Những cô gái tân tiến và các nhà triết học – 1920), Tales of the Jazz Age (Truyện kể về thời đại nhạc Jazz – 1922) và All the Sad Young Men (Tất cả những chàng trai sầu thảm – 1926). Hơn bất kỳ một nhà văn nào khác, Fitzgerald nắm bắt được cuộc sống vô vọng, bất định của thập niên 20. Cuốn tiểu thuyết The Side of Paradise của ông báo hiệu tiếng nói của giới trẻ hiện đại Mỹ. Cuốn tiểu thuyết thứ hai của ông The Beautiful and Damned (Người đẹp và kẻ đọa đầy – 1922), tiếp tục khám phá sự ngông cuồng tự hủy hoại mình của con người trong thời đại ông.

Những phẩm chất đặc biệt của Fitzgerald bao gồm một phong cách chói sáng hoàn toàn thích hợp với chủ đề của ông về sự hào nhoáng cám dỗ. Một đoạn nổi tiếng từ The Great Gastby đã tóm tắt một cách tài tình một khoảng thời gian dài:

“Nhạc vọng lại từ ngôi nhà của người hàng xóm trong suốt những đêm hè. Trong những khu vườn xanh tốt của ông, những người đàn ông và các cô gái đến và đi như đàn mối giữa tiếng thầm thì, rồi rượu sâm banh và những ngôi sao”.

Ernest Hemingway
(1899 -1961)

Ít có nhà văn nào sống cuộc đời sống động, thú vị và nhiều mặt như Ernest Hemingway, một người mà sự nghiệp cứ như thoát thai từ một trong những cuốn tiểu thuyết phiêu lưu của mình. Cũng như Fitzgerald, Dreiser và nhiều tiểu thuyết gia tài năng khác của thế kỷ 20, Hemingway xuất thân vùng Trung Tây Hoa Kỳ. Sinh ở Illinois, Hemingway trải qua thời thơ ấu tươi vui với những chuyến đi săn và câu cá trong những kỳ nghỉ hè ở Michigan. Ông tình nguyện vào một đơn vị cứu thương ở Pháp trong Thế chiến I, rồi bị thương và phải điều trị sáu tháng. Sau chiến tranh ông làm phóng viên thời chiến thường trú ở Paris. Ở đây ông đã gặp nhiều nhà văn Mỹ xa xứ như Sherwood Anderson, Ezra Pound, F. Scott Fitzgerald, và Gertrude Stein. Đặc biệt, Stein đã ảnh hưởng lớn đến phong cách viết văn giản dị của ông.

Sau cuốn The Sun Also Rises (1926) mang lại thành công vang dội, ông viết bài tường thuật về cuộc nội chiến Tây Ban Nha, Chiến tranh thế giới thứ II, và chiến sự ở Trung Quốc vào thập niên 40. Trong một cuộc đi săn ở một hoang mạc châu Phi, chiếc máy bay của ông bị tai nạn và ông bị thương nặng. Tuy thế, ông vẫn ham thích săn bắn và câu cá thể thao, những hoạt động tạo nguồn cảm hứng cho những tác phẩm xuất sắc của ông. The Old Man and The Sea (Ông già và biển cả – 1952), một cuốn tiểu thuyết ngắn, thi vị về một ông lão đánh cá nghèo, dũng cảm bắt được một con cá khổng lồ rồi nó bị đàn cá mập rỉa sạch thịt, đã mang lại cho ông giải thưởng Pulitzer vào năm 1953; năm sau ông nhận được giải Nobel. Bệnh tật, nền tảng gia đình chông chênh và cái ý nghĩ ám ảnh rằng ông đã mất hết khả năng sáng tạo, khiến ông mất tinh thần. Hemingway đã dùng súng tự sát năm 1961.

Có lẽ Hemingway là nhà văn Mỹ nổi tiếng nhất của thế kỷ này. Những tình cảm của ông về căn bản, là rất nhân bản và phi chính trị, và với ý nghĩa này, ông thuộc về nhân loại. Văn phong cực kỳ đơn giản làm cho những cuốn tiểu thuyết của ông trở nên dễ cảm thụ dù chúng thường được đặt trong những khung cảnh xa lạ với độc giả Mỹ. Là một người tin vào “sự tôn thờ kinh nghiệm”, Hemingway thường để cho nhân vật của mình vướng vào những tình huống nguy hiểm để bộc lộ bản chất bên trong của họ; trong những tác phẩm sau này của ông, mối hiểm nguy đôi lúc cũng là một cơ hội để khẳng định tính cách nam nhi của nhân vật.

Cũng như Fitzgerald, Hemingway trở thành người phát ngôn cho thế hệ mình. Nhưng thay vì vẽ ra sự cám dỗ chết người như Scott Fitzgerald, người chưa từng tham gia Thế chiến I đã làm, Hemingway viết về chiến tranh, cái chết, và về cái “thế hệ lạc lõng” của lớp người sống sót bi quan, yếm thế sau chiến tranh. Nhân vật của ông không phải là những người mơ mộng mà là những tay đấu bò can trường, những người lính và vận động viên. Nếu là trí thức, họ thường mang những vết thương chí mạng và không còn ảo tưởng gì cả.

Điểm đặc trưng trong cá tính sáng tạo của ông là một văn phong trong sáng, không có lấy một từ thừa. Ông thường sử dụng cách nói giảm nhẹ. Trong A Farewell to Arms (Giã từ vũ khí – 1929), nhân vật nữ chết lúc sinh con đã nói “Em chả sợ chút nào. Nó chỉ là trò đùa đê tiện”. Ông đã từng so sánh những gì mình viết với những tảng băng trôi: “Có đến bảy phần tám của nó ở dưới nước để một phần có thể phô bày”. Đôi tai tinh tường với ngôn ngữ đời thường và sự mô tả chính xác của Hemingway bộc lộ trong những truyện ngắn đặc sắc của ông, chẳng hạn “The Snows of Kilimanjaro” (Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro) và “The Short Happy Life of Francis Macomber” (Hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber”. Thật ra, các ý kiến phê bình thường xem những truyện ngắn của ông ngang hàng hoặc cao hơn những cuốn tiểu thuyết của ông. Những cuốn tiểu thuyết hay nhất của ông gồm The Sun Also Rises, về cuộc sống suy đồi của những người lưu vong sau Thế chiến I; A Farewell to Arms, về một chuyện tình bi đát của một người lính Mỹ và một nữ y tá người Anh trong chiến tranh; For Whom the Bell Tolls (Chuông nguyện hồn ai – 1940) trong bối cảnh cuộc nội chiến Tây Ban Nha và The Old Man and The Sea.

William Faulkner
(1897 – 1962)

Sinh ra trong một gia đình miền Nam lâu đời, William Harrison Faulkner lớn lên ở Oxford bang Mississippi, nơi ông sống hầu như suốt cả cuộc đời. Faulkner đã tạo nên một vùng đất hoàn toàn hư cấu, quận Yoknapatawpha, được nhắc đến trong nhiều tiểu thuyết, cùng với nhiều dòng họ, có những quan hệ đan xen kéo dài nhiều thế hệ. Quận Yoknapatawpha, với thủ phủ “Jefferson”, lấy khuôn mẫu của Oxford bang Mississippi và vùng phụ cận của nó. Faulkner tái tạo lịch sử của vùng đất và nhiều chủng tộc – người Da đỏ, người Mỹ Da đen, người Mỹ gốc Âu và những người pha trộn nhiều dòng máu khác sống trên vùng đất ấy. Là một nhà văn cách tân táo bạo, Faulkner thử nghiệm một trình tự kể chuyện với những quan điểm và giọng điệu khác nhau (bao gồm cả những người ngoài lề xã hội, trẻ con và những người thất học) một cách xuất sắc và một phong cách baroque đạt trình độ nghệ thuật cao và phong phú, xây dựng trên những câu rất dài đầy những thành phần phụ phức tạp.

Những cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của Faulkner bao gồm The Sound and the Fury (Âm thanh và cuồng nộ – 1929) và As I Lay Dying (Khi tôi hấp hối – 1930), hai tác phẩm thuộc trào lưu hiện đại thể nghiệm quan điểm và tiếng nói điều tra về những gia đình miền Nam sống dưới sức ép của việc mất đi một thành viên trong gia đình; Light in August (Ánh sáng tháng Tám – 1932), viết về những quan hệ phức tạp và tàn bạo giữa một người đàn bà Da trắng và một người đàn ông Da đen; và Absalom, Absalom! (1936), có lẽ là cuốn sách hay nhất của ông, viết về sự vươn lên của một người chủ trang trại mang ý hướng tự lập và sự sụp đổ bi đát của anh bởi thành kiến chủng tộc và đổ vỡ trong tình yêu.

Hầu hết các tiểu thuyết này xây dựng những nhân vật khác nhau để kể lại từng phần của câu chuyện và chứng minh ý nghĩa hiện diện thế nào trong cách kể chuyện cũng như trong đề tài sử dụng. Việc đưa ra những quan điểm khác nhau làm cho tác phẩm Faulkner mang tính tự tham chiếu, hay “tự chiêm nghiệm” hơn là của Hemingway và Fitzgerald. Mỗi cuốn tiểu thuyết của ông phản ánh lên chính nó, trong khi đồng thời mở ra một câu chuyện khác với mối quan tâm rộng lớn khái quát hơn. Những đề tài chính của Faulkner là truyền thống miền Nam, gia đình, cộng đồng, đất đai, lịch sử và quá khứ, chủng tộc và những đam mê tham vọng và tình yêu. Ông cũng sáng tạo ba tiểu thuyết tập trung vào sự vươn lên của một dòng họ đang suy sụp, dòng họ Snopes: The Hamlet (Xóm quê – 1940), The Town(Thị trấn – 1957), và The Mansion (Ngôi nhà – 1959).

TIỂU THUYẾT NHẬN THỨC XÃ HỘI

Kể từ thập niên 90 của thế kỷ 19, một dòng ý thức phản kháng xã hội đã âm thầm luân lưu trong nền văn học Mỹ, khi thì trào lên trong chủ nghĩa Tự nhiên với Stephen Crane và Theodofe Dreiser và trong những thông điệp rõ ràng của những nhà văn thuộc trường phái “khuấy bùn” chuyên phanh phui những vụ bê bối. Sau này, nổi lên những nhà văn dấn thân vào các vấn nạn xã hội bao gồm: Sinclair Lewis, John Steinbeck, John Dos Passos, Richard Wright và nhà viết kịch Clifford Odets. Họ gắn liền với thập niên 30 trong mối quan tâm đến phúc lợi của người dân bình thường và chú ý đến những nhóm người cụ thể: những người có nghề chuyên môn, như trong cuốn tiểu thuyết dựa theo nguyên mẫu Arrowsmith (Về cuộc đời bác sĩ Arrowsmith) hay Babbitt (một thương nhân địa phương) của Sinclair Lewis, về các gia đình, như trong The Grapes of Wrath của Steinbeck; hoặc quần chúng đô thị, như Dos Passos đã đạt được qua 11 nhân vật chính trong tiểu thuyết bộ ba U.S.A. (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) của ông.

Sinclair Lewis
(1885 – 1951)

Harry Sinclair Lewis sinh ra ở Sauk Centre, bang Minnesota, tốt nghiệp Đại học Yale. Ông dùng thời gian không phải tới lớp để làm việc ở một tổ chức xã hội, Helicon Home Colony, do nhà văn chuyên phanh phui những chuyện bê bối Upton Sinclair tài trợ. Cuốn Main Street (Phố chính 1920) của Lewis châm biếm cuộc sống tỉnh lẻ đơn điệu, đạo đức giả ở thảo nguyên Gopher, bang Minnesota. Ngòi bút bén nhọn trong mổ xẻ về đời sống thị dân ở Mỹ và sự phê phán chủ nghĩa vật chất, sự hẹp hòi, đạo đức giả kiểu Mỹ của ông mang lại danh tiếng cho ông cả trong nước và trên trường quốc tế. Vào năm 1926, ông được trao tặng nhưng lại từ chối giải Pulitzer cho cuốnArrowsmith (1925), một cuốn tiểu thuyết khắc họa những nỗ lực của một bác sĩ để giữ được lương tâm thầy thuốc giữa kỷ nguyên của lòng tham và sự băng hoại. Năm 1930, ông là người Mỹ đầu tiên đoạt giải Nobel văn học.

Trong những tác phẩm quan trọng khác của Lewis còn có Babbitt (1922). George Babbitt là một thương nhân bình thường sống và làm việc ở Zenith, một thị trấn bình thường ở Mỹ. Babbitt đạo đức, giàu nghị lực và là người tin tưởng rằng công việc kinh doanh là một phương cách khoa học mới của cuộc sống hiện đại. Trở nên bất ổn, ông ta tìm kiếm thành đạt nhưng rồi vỡ mộng bởi mối tình với một người đàn bà bohêmian, sau cũng trở về với vợ, và chấp nhận số phận. Cuốn tiểu thuyết này đã thêm một từ mới vào tiếng Anh-Mỹ – “Babbittry” có nghĩa là những kiểu cách trưởng giả, tự mãn, hẹp hòi. Cuốn Elmer Gantry (1927) mô tả tôn giáo theo phái thức tỉnh niềm tin ở Mỹ (Revivalism), còn cuốn Cass Timberlane (1945) đi sâu phân tích những căng thẳng phát sinh trong cuộc hôn nhân giữa một quan tòa già nua và người vợ trẻ.

John Dos Passos
(1896 – 1970)

Cũng như Sinclair Lewis, John Dos Passos bắt đầu là một nhà hoạt động cánh tả cấp tiến rồi chuyển sang cánh hữu khi về già. Dos Passos viết văn theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tác phẩm hay nhất của ông đạt được tính khách quan một cách khoa học và gần như có hiệu quả tư liệu. Dos Passos triển khai một kỹ thuật cắt dán thử nghiệm cho tác phẩm kiệt xuất U.S.A (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) của mình, bao gồm The 42nd Parallel (Vĩ tuyến 42 – 1930), 1919 (Năm 1919 – 1932), và The Big Money(Đại tài phiệt – 1936). Tuyển tập này bao quát lịch sử xã hội của Hoa Kỳ từ 1900 đến 1930 và phơi bày sự xuống cấp đạo đức của xã hội Mỹ bởi chủ nghĩa vật chất qua những trang đời các nhân vật.

Những kỹ thuật mới của Dos Passos gồm nhũng đoạn “phim thời sự” lấy từ những tiêu đề báo chí đương thời, những bài hát ưa thích, và những mẫu quảng cáo, cũng như “những tiểu sử” giới thiệu ngắn gọn cuộc đời của những nhân vật VIP đương thời, chẳng hạn như nhà phát minh Thomas Edison, nhà hoạt động công đoàn Eugene Debs, ngôi sao màn bạc Rudolph Valentino, nhà tài phiệt J. P Morgan, và nhà xã hội học Thorstein Veblen. Cả những đoạn phim thời sự lẫn tiểu sử đều mang lại cho tiểu thuyết của Dos Passos một giá trị tư liệu; kỹ thuật thứ ba của ông, “con mắt ống kính”, bao gồm những bài thơ văn xuôi có ý thức tạo ra một phản ứng chủ quan đối với những biến cố được mô tả trong cuốn sách.

John Steinbeck
(1902 – 1968)

Cũng như Sinclair Lewis, ngày nay John Steinbeck được giới phê bình nước ngoài đánh giá cao hơn là ở trong nước chủ yếu do ông đã nhận giải Nobel văn học năm 1963 và cùng với nó là danh tiếng trên trường quốc tế. Trong cả hai trường hợp, Ủy ban Nobel đã chọn lựa những nhà văn Mỹ tự do, nổi bật vì những phê phán xã hội của họ.

Steinbeck, người California, tái hiện thung lũng Salinas, gần San Francisco trong nhiều tác phẩm của mình. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là cuốn tiểu thuyết đoạt giải Pulitzer The Grapes of Wrath (1939), dõi theo những công việc nhọc nhằn của một gia đình nghèo ở Oklahoma bị mất hết ruộng đất trong cuộc khủng hoảng kinh tế và phải đến California kiếm việc. Những người trong gia đình chịu đựng những điều kiện sống áp bức theo kiểu phong kiến của những chủ đất giàu có. Những tác phẩm khác cũng lấy bối cảnh ở California gồm Tortilla Flat (1935), Of Mice and Man (Của chuột và người – 1937), Cannery Row (Dãy đồ hộp – 1945), và East of Eden (Phía Đông vườn địa đàng – 1952).

Steinbeck kết hợp chủ nghĩa Hiện thực với chủ nghĩa Lãng mạn mang tính cách nguyên sơ để tìm kiếm đức hạnh ở những nông dân nghèo bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Tiểu thuyết của ông minh chứng cho các khía cạnh dễ bị tổn thương của những con người đó, họ có thể bị nhổ tận gốc bởi những cơn hạn hán và là những người đầu tiên phải chịu đựng đau khổ trong những giai đoạn bất ổn chính trị và khủng hoảng kinh tế.

PHONG TRÀO PHỤC HƯNG HARLEM

Trong suốt thập niên 20 hưng thịnh của thế kỷ này, Harlem, cộng đồng Da đen tọa lạc ngoại vi thành phố New York, tràn đầy một không khí đam mê và sáng tạo. Nhạc Jazz của người Mỹ Da đen tràn ngập và thành công khắp đất nước, những nhạc công và những nhà soạn nhạc Jazz như Duke Ellington trở thành những ngôi sao được hâm mộ không chỉ ở Mỹ mà trên toàn thế giới. Bessie Smith và những ca sĩ nhạc Blues khác trình bày những lời ca chân thành, đa cảm, mộc mạc với nhiều xúc cảm. Thánh ca của người Mỹ Da đen được tán thưởng một cách rộng rãi như là một loại âm nhạc tôn giáo hay tuyệt vời và độc đáo vô song. Ethel Waters, nữ diễn viên Da đen chiếm lĩnh trên sân khấu Broadway rồi những điệu múa và nghệ thuật Mỹ Da đen nở rộ cùng âm nhạc và kịch nghệ.

Trong vườn tài năng muôn màu muôn vẻ ở Harlem, nhiều nhãn quan nghệ thuật cùng nhau tồn tại. Cuốn tiểu thuyết đầy sức lay động viết năm 1926 về Harlem của Carl Van Vechten mở ra cánh cửa sự thật về cuộc sống phức tạp, vừa ngọt ngào vừa cay đắng của người Mỹ Da đen trong cuộc đối đầu với những khó khăn về sự bất bình đẳng kinh tế và xã hội.

Thi sĩ Countee Cullen (1903 – 1946), một người Harlem đã có một cuộc hôn nhân ngắn ngủi với con gái của W. E. Du Bois đã sáng tác những bài thơ có vần rất tài tình, theo những hình thức khả dĩ rất được người Da trắng ngưỡng mộ. Ông tin tưởng rằng một nhà thơ không nên để cho màu da ấn định các chủ đề và phong cách của một bài thơ. Còn ở thái cực phía bên kia là những người Mỹ gốc Phi châu đã chối bỏ nước Mỹ, ủng hộ phong trào “Trở về cội nguồn châu Phi” của Marcus Garvey. Đâu đó ở giữa hai khuynh hướng này là tác phẩm của Jean Toomer.

Jean Toomer
(1899 – 1967)

Giống như Cullen, nhà văn viết tiểu thuyết và nhà thơ Mỹ gốc Phi châu – Toomer tin tưởng và xây dựng một tính cách Mỹ vượt qua cái ngưỡng chủng tộc. Có lẽ vì lý do này, ông sử dụng những truyền thống thi ca có vần điệu và không tìm kiếm những hình thức “Da đen” mới cho thơ mình. Tuy nhiên, tác phẩm quan trọng Cane (Lau sậy – 1923) của ông đầy tham vọng và rất đổi mới. Như Paterson của Williams, Cane kết hợp những bài thơ, những đoạn văn xuôi ngắn, những câu chuyện và những ghi chép có tính cách tiểu sử tự thuật. Trong đó, một người Mỹ Da đen đấu tranh để khám phá bản thân mình trong giới hạn và vượt ra ngoài những cộng đồng Da đen ở vùng quê Georgia, Washington D.C., và Chicago bang Illinois với tư cách là một thầy giáo Da đen ở miền Nam. Trong Cane, những người dân Da đen quê mùa ở Georgia của Toomer có tâm hồn rất nghệ sĩ:

Giọng hát họ cất lên… những cây thông là những cây đàn ghita,
Tiếng đàn bập bùng, những chiếc lá thông rơi như những làn mưa…
Giọng hát họ cất lên… dàn đồng ca của lau sậy
Đang hát một bài kinh chiều mừng đón các vì sao…
(I, 21 – 24)

Cane là hình ảnh tương phản với nhịp sống nhanh của người Mỹ Da đen ở thành phố Washington:

Tiền đốt cháy túi, túi đau,
Mặc áo lụa, những tay buôn rượu lậu
Phình to, những chiếc Cadillac kêu vù vù,
Rít lên, rít lên lao tới dòng xe
(II, 1 – 4)

 

Richard Wright
(1908 – 1960) 

Richard Wright sinh ra trong một gia đình nghèo làm lĩnh canh ở Mississippi bị cha bỏ rơi lúc lên năm. Wright là tiểu thuyết gia Mỹ gốc Phi đầu tiên được đông đảo bạn đọc đón nhận, mặc dầu ông chưa học hết lớp 9. Thời thơ ấu gian khổ khắc nghiệt của ông được mô tả trong một trong những cuốn tự truyện hay nhất của ông, cuốn Black Boy (Cậu bé Da đen – 1945). Sau này ông nói rằng ý thức về nỗi đau xót của tuổi thơ bị tước đoạt, do sự kỳ thị chủng tộc, lớn đến nỗi chỉ có đọc sách mới giúp cho ông sống được.

Sự phê phán xã hội và chủ nghĩa hiện thực của Sherwood Anderson, Theodore Dreiser, và Sinclair Lewis đã khơi nguồn hứng khởi sáng tạo đặc biệt cho Wright. Trong suốt thập niên 30, ông tham gia Đảng Cộng sản; vào thập niên 1940, ông sang Pháp, có mối quan hệ với Gertrude Stein và Jean Paul Sartre rồi trở thành một người chống cộng. Lối viết bộc trực của ông mở đường cho những tiểu thuyết gia Mỹ Da đen đi sau.

Tác phẩm của ông gồm Uncle Tom’s Children (Con cháu của chú Tom – 1938), một tập truyện ngắn và một cuốn tiểu thuyết nhan đề Native Son(Con của đất Mẹ – 1940) mạnh mẽ có phần tàn nhẫn, trong đó Bigger Thomas, một thanh niên Da đen thất học, lỡ tay giết chết con gái của ông chủ Da trắng của mình, rồi tàn nhẫn đốt xác để phi tang và giết luôn cô bạn gái Da đen của mình vì sợ cô ta sẽ tố cáo hắn. Mặc dầu nhiều người Mỹ Da đen phê phán Wright vì đã xây dựng một nhân vật Da đen là một kẻ giết người ghê tởm như vậy, tiểu thuyết của Wright góp một tiếng nói cần thiết dù chậm trễ về tệ phân biệt chủng tộc đã là chủ đề của quá nhiều cuộc tranh luận ở Hoa Kỳ.

Zora Neale Hurston
(1903 – 1960)

Sinh ra trong thành phố nhỏ Eatonville bang Florida, Zora Neale Hurston được đánh giá là một trong những lá cờ đầu của thời kỳ Phục hưng Harlem. Bà đến New York lần đầu khi mới 16 tuổi – với tư cách là thành viên của đoàn kịch nói lưu động. Là người kể chuyện tài năng trác tuyệt có khả năng hớp hồn khán thính giả, bà theo học Đại học Barnard, và được thụ giáo với nhà nhân chủng học Franz Boaz và đi đến chỗ nắm vững bộ môn dân tộc học, hứa hẹn một triển vọng khoa học. Boaz khuyến khích bà sưu tập văn hóa dân gian từ vùng quê Florida của bà. Nhà folklore học nổi tiếng Alan Lomax gọi cuốn Mules and Men (Lừa và người – 1935) của bà là cuốn sách được viết một cách điêu luyện, chân thành và dấn thân nhất trong lĩnh vực folklore.

Hurston cũng có một thời gian sống ở Haiti, học pháp thuật và sưu tầm văn hóa dân gian vùng Caribbe, những điều này được đưa vào tuyển tập Tell My Horse (Bảo con ngựa của tôi – 1938). Việc nắm vững một cách tự nhiên tiếng Anh thông dụng đưa bà đến với truyền thống lớn lao của Mark Twain. Lối viết của bà tỏa sáng với một ngôn ngữ đầy màu sắc trong những câu chuyện khôi hài – hay bi thảm – lấy từ văn hóa truyền miệng của người Mỹ Da đen.

Hurston là nhà văn gây ấn tượng sâu sắc. Tác phẩm quan trọng nhất của bà, Their Eyes Were Watching God (Đôi mắt họ ngước lên thành kính Chúa – 1937), là một bức tranh mới mẻ, cảm động về sự trưởng thành và về niềm hạnh phúc lại trở về với một người phụ nữ đẹp mang trong mình hai dòng máu đen trắng khi cô trải qua 3 cuộc hôn nhân. Cuốn tiểu thuyết khơi dậy một cách sống động cuộc sống của người lao động Mỹ – Phi châu trên vùng đất hoang sơ miền Nam. Là cánh chim báo tin của phong trào phụ nữ, Hurston gợi cảm hứng và gây ảnh hưởng đến những nhà văn đương đại như Alice Walker và Toni Morrison qua những cuốn tiểu thuyết mang tính tự thuật của bà như Dust Tracks on a Road (Dấu bụi trên đường – 1942).

TRÀO LƯU VĂN HỌC FUGITIVES VÀ NHÓM PHÊ BÌNH MỚI

Từ sau cuộc Nội chiến đến thế kỷ 20, miền Nam nước Mỹ vẫn còn là một miền đất lạc hậu về chính trị, kinh tế cùng với nạn kỳ thị chủng tộc và tệ mê tín dị đoan, nhưng đồng thời lại là vùng đất có một nền văn hóa dân gian phong phú và một ý thức mạnh mẽ về lòng tự hào và truyền thống nhất. Nó đã mang tiếng một cách hơi bất công là một vùng đất khô cằn, thấp kém về văn hóa, mang phong cách tỉnh lẻ và ngu dốt.

Oái ăm thay, trào lưu văn học địa phương quan trọng nhất của thế kỷ 20 chính là trào lưu Fugutives – có nghĩa là hoạt động của những kẻ Đào tẩu – do nhà lý luận kiêm phê bình và đồng thời là thi sĩ John Crowe Ransom, nhà thơ Allen Tate và nhà văn viết tiểu luận, tiểu thuyết và làm thơ Robert Penn Warren lãnh đạo. Trường phái văn học miền Nam này chối bỏ những giá trị thương mại đô thị của “miền Bắc” mà họ cảm thấy đang bành trướng khắp nước Mỹ. Fugitives kêu gọi trở về với đất đai và với những truyền thống Mỹ chỉ có thể tìm thấy ở miền Nam. Trào lưu này lấy tên từ một tạp chí văn học, The Fugitive, xuất bản từ 1922 đến 1925 của Đại học Vanderbilt, ở Nashville bang Tennessee, với sự hợp tác của Ransom, Tate, và Warren. Ba nhà văn chủ yếu của trào lưu Fugitive cũng kết hợp với nhóm Phê bình mới đề xuất một lối tiếp cận văn học qua cách đọc kỹ lưỡng, sự chú ý đến cách viết đúng quy phạm (về hình ảnh, ẩn dụ, vận luật, âm thanh và biểu tượng) và những ý nghĩa hàm ẩn của chúng. Ransom, lý thuyết gia hàng đầu của phong trào Phục hưng miền Nam giữa hai thế chiến, xuất bản một cuốn sách mang tên The New Criticism (Chủ nghĩa phê bình mới – 1941) bàn về phương pháp này, đưa ra một cách tiếp cận khác cho những phương pháp phê bình ngoài văn học trước đây vốn dựa trên các yếu tố lịch sử và tiểu sử tác giả. Trào lưu phê bình Mới trở thành phương pháp phê bình thống trị trong những thập niên 40 và 50 ở Mỹ bởi vì nó tỏ ra rất thích hợp với những nhà văn theo trào lưu Hiện đại như là Eliot và có thể tiếp thu lý thuyết của Freud (đặc biệt những phạm trù cấu trúc của nó như là vô thức, bản ngã và siêu ngã) và các phương pháp dựa trên những kiểu mẫu huyền thoại.

KỊCH NÓI MỸ THẾ KỶ 20

Kịch nói Mỹ mô phỏng sân khấu Anh và châu Âu mãi cho đến tận thế kỷ 20. Thông thường những vở từ nước Anh hay được dịch từ những ngôn ngữ châu Âu chiếm lĩnh mùa biểu diễn. Một đạo luật chưa hoàn chỉnh về bản quyền đã không thể bảo vệ và nâng đỡ những nhà viết kịch Mỹ hoạt động cho một nền nghệ thuật sân khấu đích thực. Các nam nữ 196 197 nghệ sĩ trong “hệ thống các ngôi sao” cũng vậy, họ được hâm mộ tán thưởng hơn là chính nội dung các vở kịch. Dân Mỹ đổ xô đi xem những diễn viên Cựu lục địa lưu diễn ở Mỹ. Thêm vào đó, những vở kịch nước ngoài, cũng như rượu ngoại, luôn được đánh giá cao hơn hẳn những vở kịch nội địa.

Suốt thế kỷ 19, những vở kịch ướt át, ủy mị với những nhân vật dân chủ mẫu mực và sự tương phản rõ rệt giữa cái tốt và cái xấu đã thành phổ biến. Những vở kịch về những vấn đề xã hội như chế độ nô lệ cũng lôi kéo được phần lớn khán giả; đôi lúc cũng có những vở kịch được chuyển thể từ tiểu thuyết như Uncle Tom’s Cabin. Cuối thế kỷ 19, những vở kịch nghiêm túc mới cố gắng đạt được sự đổi mới về mặt nghệ thuật. Tuy nhiên, văn hóa đại chúng đã có những tiến triển quan trọng, đặc biệt kịch vaudeville (thể loại sân khấu tạp kỹ bình dân gồm hài kịch ngắn, hề, nhạc và những thứ tương tự). Sân khấu tạp kỹ, dựa trên âm nhạc và văn hóa dân gian Mỹ Da đen, do những diễn viên Da trắng hóa trang “mặt đen” trình diễn cũng phát triển những hình thức và cách thể hiện rất sáng tạo.

Eugene O’Neill
(1888 – 1953)

Eugene O’Neill là đỉnh cao của kịch nói Mỹ. Rất nhiều vở kịch của ông kết hợp sáng tạo kỹ thuật lớn lao cùng với một cái nhìn tươi sáng và một cảm xúc sâu lắng. Những vở kịch đầu tay của O’Neill quan tâm đến tầng lớp lao động và người nghèo khổ; những tác phẩm về sau tập trung khám phá những lĩnh vực chủ quan, như những nỗi ám ảnh và tính dục. Đó cũng chính là những vở kịch ghi lại dấu ấn của việc O’Neill chịu ảnh hưởng sâu sắc của Freud và những cố gắng đau thương khắc khoải của ông trong việc chấp nhận cái chết của cha, mẹ và anh trai. Vở kịch Desire Under the Elms(Khao khát dưới rặng cây du – 1924) đã tái hiện niềm đam mê thầm kín trong một gia đình. Vở The Great God Brown (Vị thần tối linh thiêng Brown – 1926) bóc trần thế giới tiềm thức của một thương gia giàu có. Còn vởStrange Interlude (Quãng lặng kỳ lạ – 1928) – đoạt giải Pulitzer -thì lần theo dấu vết những cuộc tình rối rắm của một người đàn bà. Những vở kịch có sức tác động sâu xa này thể hiện những tính cách cá nhân khác nhau quay về với những xúc cảm nguyên sơ hoặc sự bấn loạn bởi tác động của các xung đột căng thẳng.

O’Neill tiếp tục khai thác các áp lực mang tính phân tâm học của tình yêu và sự thống trị trong các gia đình trong một vở kịch bộ ba cùng mang tênMourning Becomes Electra (Khóc thương vốn bản tính nàng Electra – 1931) dựa trên vở bi kịch bộ ba cổ điển Oedipus của Sophocles[8]. Những tác phẩm cuối đời của ông bao gồm những vở được dư luận công nhận là kiệt tác The Iceman Cometh (Người bán kem đã tới – 1946), một tác phẩm kiệt xuất với đề tài về cái chết, Long Day’s Journey Into Night (Cuộc hành trình trọn ngày dài để đi vào bóng đêm – 1956) – một tiểu sử tự thuật đầy sức mạnh bao quát nhiều vấn đề đầy kịch tính lấy chính những thành viên trong gia đình ông làm nhân vật và sự hủy hoại của họ về mặt tâm lý và thể xác làm trọng tâm; tất cả điều đó chỉ xảy ra trong vòng một đêm. Tác phẩm này là một phần của một chuỗi các vở kịch O’Neill sáng tác trong giai đoạn cuối đời cho đến khi ông chết.

O’Neill đã định nghĩa lại nghệ thuật sân khấu bằng cách dẹp bỏ sự phân chia theo truyền thống thành màn, cảnh (Strange Interlude có 9 màn, còn Mourning Becomes Electra phải mất 9 giờ để diễn); sử dụng mặt nạ như trong những vở kịch ở châu Á và Hy Lạp cổ đại; đưa vào kịch những đoạn thơ theo kiểu Shakespeare, dàn đồng ca Hy Lạp; và tạo ra những hiệu quả đặc biệt qua ánh sáng và âm thanh. Ông được mọi người công nhận là tác giả viết kịch hàng đầu của Hoa Kỳ. Vào năm 1936, ông được nhận giải Nobel văn học và cũng là nhà soạn kịch Hoa Kỳ đầu tiên nhận được vinh dự này.

Thorton Wilder
(1897 – 1975)

Thorton Wilder nổi tiếng vì những vở kịch Our Town (Thị trấn của chúng tôi – 1938) và The Skin of Our Teeth (1942), và vì cuốn tiểu thuyết The Bridge of San Luis Rey (Cây cầu ở San Luis Rey – 1927) của ông.

Vở Our Town chuyển tải những giá trị Mỹ tích cực. Nó chứa đựng mọi yếu tố tình cảm và hoài niệm về một thị trấn nhỏ miền quê theo truyền thống mẫu mực, các bậc cha mẹ đôn hậu và những đứa con ngỗ nghịch, cùng những cặp tình nhân son trẻ. Vẫn có đây đó những yếu tố cách tân như những hồn ma, giọng nói từ phía khán giả, những chuyển đổi thời gian táo bạo khiến cho vở kịch lôi cuốn hơn. Thực ra, đây là một vở kịch về cuộc sống và cái chết, trong đó những người chết được tái sinh, ít nhất thì cũng trong chốc lát.

Clifford Odets
(1906 – 1963)

Clifford Odets, một bậc thầy về kịch xã hội, là người Do Thái di cư từ Đông Âu. Lớn lên ở New York, ông trở thành một trong những thành viên đầu tiên của nhóm kịch the Group Theatre do Harold Churman, Lee Strasberg và Cheryl Crawford điều hành, chỉ dàn dựng những vở kịch trong nước. Vở kịch nổi tiếng nhất của Odets là Waiting for Lefty (Đợi chờ người cánh tả – 1935), vở kịch thể nghiệm một màn này ủng hộ một cách nhiệt tình chủ nghĩa nghiệp đoàn lao động.

Vở Awake and Sing! (Hãy thức dậy và ca hát!) của ông, một khúc ca hoài niệm về gia đình là một vở kịch thành công vang dội, tiếp theo là vở Golden Boy (Cậu bé vàng), câu chuyện một thanh niên di cư gốc Ý tự hủy hoại tài năng âm nhạc của mình (anh là một nhạc sĩ vĩ cầm) bị tiền bạc cám dỗ rồi trở thành một võ sĩ quyền Anh và rồi bị thương ở tay. Cũng như The Great Gatsby của Fitzgerald và An American Tragedy của Dreiser, vở kịch là hồi chuông cảnh tỉnh những tham vọng vô độ và chủ nghĩa vật chất.


[1] Theo các nhà nghiên cứu, tựa đề và tư tưởng của bài thơ ngụ ý đến nền văn minh hiện đại và bài thơ đã nắm bắt một cách chính xác thực trạng nền văn minh và xã hội Phương Tây sau chiến tranh thế giới thứ 1. Chiến tranh, được giả thiết là để cứu vãn châu Âu lại là một cái gì có sức tàn phá và hủy diệt nhất trong lịch sử, vậy thì sau nó loại văn minh nào diễn ra trên thế giới? Đó là vấn đề được đặt ra trong bài thơ. The Waste Land chứa đựng nhiều những cách tân táo bạo và nó đánh dấu một sự thay đổi lớn lao trong nghệ thuật thi ca của nhân loại.

[2] Leter Quince là người dàn cảnh cho các nghệ sĩ mộc mạc trong vở hài kịch Giấc mộng đêm hè của Shakespear, một cái tên gợi lên hình ảnh về những niềm vui và sự thơ ngây nơi thôn dã.

[3] Key West: tên một thành phố trung tâm của quận Monroe, tây nam bang Florida.

[4]

[5] Agamennon: trong thần thoại Hy Lạp là vị vua của Argos, có vợ là Clytemnestra. Sau khi Paris con trai vua Priam của thành Troy bắt người đẹp Helen, Agamemnon đã đứng lên kêu gọi hoàng tử của đất nước khởi chiến chống lại thành Troy. Aeschylus đã dựa vào truyền thuyết để viết kịch Agamemnon.

[6] Medea: một phụ nữ quyến rũ đã giúp Jason chiếm được bộ lông cừu vàng của cha nàng, vua Aeetes ở Colchis. Vở bi kịch Medea của Euripides viết về giai đoạn sau, khi Jason phản bội Medea yêu công chúa con vua Creon. Medea đã giết vua Creon, kẻ tình địch và hai con trai để trả thù Jason.

[7] Nguyên văn câu này là and eddieandbill come eddieandbill là tên của hai đứa trẻ Eddie và Bill được ghép lại, chúng tôi tạm dịch là bọn trẻ con.

[8] Electra: trong thần thoại Hi Lạp là con gái của Agamemnon và Clytemnestra đã cứu thoát người em trai khi cha nàng bị giết. Khi người em trở về nàng cũng giúp em giết mẹ và người tình của bà. Trong vở kịch bộ ba của O’Neil nhân vật chính cũng hành động tương tự Electra, chỉ có khác là người em trai sau đó tự sát.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_vi.html

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 5: Sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực thời kỳ 1860-1914

 

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Cuộc Nội chiến Hoa Kỳ (1861 – 1865) giữa miền Bắc công nghiệp và miền Nam nông nghiệp chiếm hữu nô lệ là một bước ngoặt lịch sử Mỹ. Sau chiến tranh, sự lạc quan ngây thơ của một quốc gia dân chủ non trẻ nhường bước cho một thời kỳ kiệt quệ. Chủ nghĩa lý tưởng Mỹ vẫn tồn tại nhưng đã rẽ sang một hướng khác. Trước cuộc Nội chiến, những người theo lý tưởng chủ nghĩa đã giành vòng nguyệt quế về nhân quyền, đặc biệt là việc bãi bỏ chế độ nô lệ. Sau chiến tranh, người Mỹ lại càng lý tưởng hóa về sự tiến bộ và con người tự lập. Đây là kỷ nguyên của những nhà sản xuất và đầu cơ triệu phú, khi mà thuyết tiến hóa của Darwin và “quy luật về sự đấu tranh sinh tồn” của ông dường như là sự phê chuẩn cho những biện pháp đôi khi trái với luân thường đạo lý của các ông trùm kinh doanh.

Thương mại bùng nổ sau chiến tranh. Ngành công nghiệp phục vụ chiến tranh đã đẩy nền công nghiệp ở phương Bắc đi lên và mang đến cho nó uy tín và quyền lực chính trị. Nó cũng mang lại cho những người lãnh đạo công nghiệp kinh nghiệm quý giá trong quản lý con người và máy móc. Những nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ – sắt, than đá, dầu lửa, vàng và bạc – của đất Mỹ mang lợi nhuận đến cho các ngành kinh doanh. Hệ thống xe lửa liên lục địa mới, khánh thành năm 1869, và hệ thống điện tín xuyên lục địa bắt đầu hoạt động năm 1861, cung cấp cho nền công nghiệp nguyên vật liệu thị trường và thông tin. Dòng người nhập cư chảy vào liên tục cũng mang lại nguồn cung ứng lao động rẻ mạt có vẻ như vô tận. Hơn 23 triệu người nước ngoài – người Đức, người Scandinavia và người Ireland trong những năm đầu, và rồi sau đó người Trung Âu và Nam Âu liên tục đổ vào nước Mỹ khoảng giữa 1860 và 1910. Những công nhân hợp đồng người Hoa, Nhật và Philippines cũng được các chủ đồn điền ở Hawaii, các công ty xe lửa, và các tập đoàn kinh doanh khác của Mỹ ở vùng bờ biển phía tây nhập cư vào Mỹ.

Vào năm 1860, hầu hết dân Mỹ sống trong những trang trại hay trong những làng nhỏ, nhưng khoảng trước 1919 nửa dân số tập trung vào khoảng 12 đô thị. Những vấn đề của việc đô thị hóa và công nghiệp hóa xuất hiện: nghèo đói và nhà ở quá chật chội, điều kiện sống kém vệ sinh, lương thấp (được gọi là “nô lệ ăn lương”), điều kiện làm việc khó khăn và những kềm hãm không phù hợp với hoạt động kinh doanh. Những nghiệp đoàn lao động phát triển và các cuộc đình công làm cả nước nhận thức được tình cảnh khốn khó của người lao động. Nông dân cũng tham gia đấu tranh chống lại “những tập đoàn tài chính” của miền Đông, những kẻ được gọi là những ông vua ăn cướp như J.P Morgan và John D. Rockefeller. Những ngân hàng ở miền Đông của họ kiểm soát chặt chẽ những tài sản thế chấp và tín dụng thiết yếu cho sự phát triển và nền nông nghiệp ở miền Tây, trong khi các công ty xe lửa tính giá vận chuyển nông sản ra thành phố rất cao. Nông dân dần dần trở thành một đối tượng lố bịch, bị chế giễu như là một anh chàng “quỷnh”, một anh nhà quê thô kệch. Người Mỹ lý tưởng của thời kỳ sau Nội chiến chính là những nhà triệu phú. Nếu vào năm 1860, có không đến 100 người là triệu phú; thì vào khoảng 1875, đã có hơn 1.000 người.

Từ năm 1860 đến 1914, Hoa Kỳ đã biến đổi từ một cựu thuộc địa nông nghiệp, non trẻ, nhỏ bé trở thành một đất nước công nghiệp, hiện đại, khổng lồ. Từ một đất nước vay nợ vào năm 1860, vào khoảng trước năm 1914 nó trở thành một quốc gia giàu có nhất thế giới, với một số dân tăng hơn gấp đôi, từ 31 triệu trong năm 1860 đến 76 triệu trong năm 1900. Trước Thế chiến thứ I, Hoa Kỳ đã trở thành một cường quốc chính trên thế giới.

Khi nền công nghiệp hóa phát triển, sự tha hóa bắt đầu. Những cuốn tiểu thuyết đặc trưng Mỹ của thời Kỳ đó là: Maggie – A Girl of the Streets(Maggie, cô gái điếm) của Stephen Crane, Martin Eden của Jack London và sau này An American Tragedy (Một bi kịch Mỹ) của Theodore Dreiser – đã đặc tả những tổn thất của nền kinh tế và sự tha hóa của mỗi cá nhân yếu ớt và dễ bị tổn thương. Những kẻ sống sót, như Huck Finn của Twain, Humphrey Vanderveyden trong The Sea-Wolf (Hải tặc sói biển) của London và dì Carrie cơ hội chủ nghĩa của Dreiser, chịu đựng được khó khăn nhờ sức mạnh bên trong như lòng tốt, sự linh hoạt mềm dẻo và trên hết là tính cách cá nhân.

Samuel Clemens (Mark Twain)
(1835 – 1910) 

Samuel Clemens nổi tiếng với bút danh Mark Twain, lớn lên ở thị trấn biên giới Hannibal bên sông Mississippi bang Missouri. Câu nói nổi tiếng của Ernest Hemingway: tất cả nền văn học Mỹ xuất phát từ một cuốn sách vĩ đại, cuốn Adventures of Huckleberry Finn (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) của Twain, cho thấy vị trí cao vời vợi của nhà văn này trong truyền thống văn học. Đầu thế kỷ 19, nhiều nhà văn Mỹ có khuynh hướng quá hoa Mỹ, quá duy cảm, hoặc quá khoa trương – một phần vì họ vẫn nỗ lực chứng tỏ mình cũng có thể viết sang trọng như người Anh. Phong cách của Twain, trái lại dựa trên tiếng Mỹ bình dân, sống động, khỏe khoắn đã làm cho các nhà văn Mỹ có một cái nhìn mới, một sự trân trọng đối với tiếng nói dân tộc. Twain là nhà văn vĩ đại đầu tiên xuất thân từ vùng đất nội địa nước Mỹ và ông nắm bắt được thứ tiếng lóng khôi hài, độc đáo và tinh thần giải thiêng của xứ sở này([1]).

Đối với Twain và những tác giả Mỹ khác cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa hiện thực không thuần túy chỉ là một kỹ thuật văn học: nó là một cách nói lên sự thật và làm nổ tung những quy ước sáo mòn. Vì vậy nó tự do một cách sâu sắc và tiềm tàng sức mạnh phản kháng xã hội. Ví dụ nổi tiếng nhất là Huck Finn, một cậu bé nghèo quyết định đi theo tiếng nói của lương tâm và giúp đỡ một người nô lệ Da đen bỏ trốn tìm tự do, mặc dù Huck nghĩ rằng việc này có nghĩa là anh ta sẽ bị đày xuống địa ngục vì đã phá bỏ luật lệ.

Kiệt tác này của Twain, xuất hiện vào năm 1884, lấy bối cảnh ngôi làng St.Peterburg bên dòng sông Missippi. Huck là con trai của một gã lông bông nát rượu. Khi cậu vừa được một gia đình khả kính nhận làm con nuôi, thì cha cậu trong một cơn say điên loạn đã đe dọa giết cậu. Sợ mất mạng, Huck bỏ trốn, dựng lên cái chết giả của mình. Trên đường trốn chạy Huck gặp một kẻ bị ruồng bỏ, một nô lệ tên Jim. Chủ của anh, cô Watson đang nghĩ cách bán anh cho một vùng nô lệ khắc nghiệt hơn ở vùng hạ lưu sông Mississippi ở sâu dưới miền Nam. Huck và Jim trôi nổi trên một cái bè xuôi dòng Mississippi hùng vĩ, rồi bị một con tàu chạy bằng hơi nước nhận chìm, lạc mất nhau và về sau gặp lại nhau. Họ trải qua những cuộc phiêu lưu trên bộ đầy bất trắc, tức cười, phản ánh tính nhiều mặt, lòng quảng đại, và đôi lúc sự phi lý tàn ác của xã hội. Cuối cùng, người ta khám phá ra rằng chính cô Watson đã trả tự do cho Jim và một gia đình đáng kính muốn đùm bọc cho chú bé Huck hoang dã. Nhưng Huck trở nên bực mình với Xã hội văn minh và dự định trốn thoát đến lãnh địa của người Da đỏ. Đoạn kết mang đến cho độc giả phiên bản trái ngược với huyền thoại cổ điển về thành công của nước Mỹ: đó là con đường rộng mở dẫn đến miền đất hoang dã chưa bị xâm phạm, cách xa những ảnh hưởng suy đồi đạo đức của cái gọi là “văn minh”. Tiểu thuyết của James Fenimore Cooper, những bài tụng ca về con đường rộng mở của Walt Whiman, The Bear (Con gấu) của William Faulkmer; và On the Road (Trên đường) của Jack Kerouac là những ví dụ văn học khác.

Huckleberry Finn mang lại nguồn cảm hứng cho vô số những lý giải văn chương. Rõ ràng cuốn tiểu thuyết là một câu chuyện về cái chết, sự tái sinh và sự khởi đầu. Người nô lệ bỏ trốn – Jim, trở thành một người cha tinh thần đối với Huck. Khi quyết định cứu Jim, Huck, về mặt đạo đức, đã vượt ra khỏi những ràng buộc của xã hội chiếm hữu nô lệ. Chính những cuộc phiêu lưu của Jim đã dẫn dắt Huck làm cho anh thấu hiểu sự phức tạp của bản chất con người và cho anh lòng can đảm.

Cuốn tiểu thuyết cũng kịch hóa lý tưởng của Twain về một cộng đồng hòa hợp “Cái anh muốn, hơn tất cả mọi thứ trên đời lúc ở trên bè là làm cho mọi người hài lòng, cảm thấy mình đúng đắn và tử tế với người khác”. Cũng như con tàu Pequod của Melville, cái bè đã bị chìm, cùng với nó là cái xã hội đặc biệt ấy. Cái thế giới đơn giản, trong lành trên chiếc bè cuối cùng cũng bị nhận chìm bởi sự tiến bộ – con tàu chạy bằng hơi nước – nhưng hình ảnh huyền diệu của con sông vẫn còn ở lại, cũng mênh mông và thay đổi như chính cuộc đời.

Cái quan hệ không bền vững giữa thực tế và ảo tưởng là chủ đề mang tính cách Twain, là cái điều cơ bản lớn lao trong óc khôi hài của ông. Hình ảnh con sông hùng vĩ nhưng đầy cạm bẫy, luôn luôn thay đổi cũng là nét chính trong bức tranh phong cảnh giàu tưởng tượng của ông. Trong Life of the Mississippi (cuộc sống trên dòng sông Mississippi) Twain nhớ lại lúc ông được huấn luyện làm hoa tiêu trên tàu hơi nước, ông đã viết: “Giờ tôi đi làm để nắm được địa thế của con sông. Tôi cố chú tâm và cố gắng điều khiển những gì luôn trôi nổi, khó nắm bắt và đấy là những điều chính yếu”.

Ý thức đạo đức của Twain với tư cách là một nhà văn là âm vang của cái trách nhiệm hoa tiêu của ông lái con tàu đến nơi an toàn. Bút hiệu của Samuel Clemens, “Mark Twain”, là cụm từ mà các thủy thủ trên sông Mississippi dùng để chỉ 2 122 123 sải nước (3,6 mét) là độ sâu cần thiết cho tàu đi an toàn. Mục đích nghiêm túc của Twain, kết hợp với văn óc trào lộng của một thiên tài hiếm có, giữ cho các tác phẩm của ông còn nguyên vẻ tươi trẻ và hấp dẫn.

VĂN HỌC HIỆN THỰC VÀ TRÀO PHÚNG VÙNG BIÊN THÙY

Hai trào lưu văn học chủ yếu ở Mỹ thế kỷ 19 hòa quyện trong Mark Twain đó là trào lưu khôi hài vùng biên cương và văn học mang màu sắc địa phương, hay “văn học địa phương”. Những dòng văn học có quan hệ với nhau này được bắt đầu vào những năm của thế kỷ trước – nhưng đã có mầm mống sớm hơn từ những truyền thồng văn chương truyền miệng của địa phương. Trong những ngôi làng tồi tàn ở biên giới, trên những chiếc tàu chạy đường sông, trong những lều trại ở vùng mỏ và quanh đống lửa trại của những chàng chăn bò cách biệt với những thú vui đô thị, nghệ thuật kể chuyện này bắt rễ và đơm hoa rực rỡ. Sự cường điệu, những truyện tiếu lâm, những lời khoác lác không thể tin được và những nhân vật lao động ngộ nghĩnh đem lại sức sống cho văn học vùng biên giới. Những hình thức trào phúng này được tìm thấy ở nhiều vùng biên thùy (bây giờ là vùng Nam nội địa và hạ Trung Tây), vùng mỏ biên giới và vùng bờ biển Thái Bình Dương. Mỗi vùng có riêng những nhân vật đặc biệt, thú vị và nhiều câu chuyện được góp nhặt về họ: Mike Fink, một người ưa lý sự trên những con tàu xuôi ngược dòng Mississippi; Casey Jones, kỹ sư xe lửa quả cảm; John Henry, người Mỹ Phi châu – một tay lái vững vàng như thép; Paul Bunyan, người thợ xẻ khổng lồ mà tên tuổi được quảng cáo khắp nơi; những người miền Tây như Kit Carson, một chiến binh người Da đỏ, và Davy Crocket, người hướng đạo. Những chiến công phi thường của họ được cường điệu và làm phong phú thêm những khúc ballad, trên các trang báo và tạp chí. Đôi lúc, như với Kit Carson và DaVy Crockett, những câu chuyện này được kết nối lại với nhau thành sách.

Twain, Faulkner, và nhiều nhà văn khác, đặc biệt là người miền Nam đều chịu ơn sâu sắc những cây viết hài thời trước Nội chiến ở vùng biên thùy như Johson Hooper, George Washington Harris, Augustus Longstreet, Thomas Bangs Thorpe và Joseph Baldwin. Từ những nhà văn này và dân cư vùng biên giới rộ lên một sự sinh sôi nảy nở nhanh chóng những từ đặc Mỹ vừa mới, vừa ngộ nghĩnh: “absquatulate” (ra đi), “Flabbergasted” (kỳ lạ), “rampagious” (bất trị, tàn bạo). Những người khoác lác ở địa phương, hay là “những kẻ ầm ĩ có đuôi kêu”, kẻ một mực khẳng định rằng mình là nửa ngựa, nửa cá sấu, tất cả là để nhấn mạnh cái nguồn lực vô hạn của vùng biên giới. Họ lấy thêm sức mạnh từ những hiểm họa của thiên nhiên có thể làm cho người yếu bóng vía kinh sợ. “Tôi là một cơn lốc thực sự, một người khoác lác nói, cứng rắn như gỗ hồ đào và dai như gió Tây Bắc. Tôi có cú đấm thôi sơn và quét một cú có thể bạt đi một đám đông để lại một khoảng trống một hecta”.

CÁC NHÀ VĂN THUỘC TRÀO LƯU VĂN HỌC ĐỊA PHƯƠNG

Cũng như văn học trào phúng phổ biến ở vùng biên cương, dòng văn học mang màu sắc của từng miền cũng có những gốc rễ xa xưa nhưng chỉ cho ra đời những tác phẩm hay nhất một thời gian dài sau Nội chiến. Hiển nhiên, nhiều tác giả thời tiền chiến, từ Henry David Thoreau và Nathaniel Hawthorne cho đến John Greenleaf Whittier và James Russell Lowell, vẽ nên những bức chân dung nổi bật về nhiều vùng đất đặc biệt của Mỹ. Nhưng điều phân biệt các nhà văn địa phương với các bật tiền bối là sự tự ý thức và mối quan tâm đặc biệt đến việc thể hiện một nơi chốn nào đó với sự tả chân đầy ắp các sự kiện một cách chuẩn xác của họ.

Bret Harte (1836 – 1902) được mọi người nhớ đến như là tác giả của nhiều chuyện phiêu lưu như “The Luck of Roaring camp” (Vận may của một trại náo nhiệt) và “The Outcasts of Poker Flat (Những kẻ bị ruồng bỏ), lấy bối cảnh dọc theo vùng biên giới khai mỏ phía Tây. Là một nhà văn thành công vang dội đầu tiên của trường phái văn học mang sắc thái địa phương, Harte trong một thời gian ngắn có lẽ là tác giả nổi tiếng nhất ở Mỹ – sức hấp dẫn của những áng văn lãng mạn của miền Tây đầy tiếng súng của ông là thế. Là một nhà văn hiện thực đích thực, ông là một trong những người đầu tiên đưa những con người dưới đáy xã hội – những gã đánh bạc gian manh, những ả điếm diêm dúa, và những tên cướp thô lỗ – vào trong tác phẩm văn học nghiêm túc. Ông làm điều này rất thành công (giống như Charles Dickens ở Anh, người cũng rất mực ngưỡng mộ tác phẩm của Harte) bằng cách chứng minh rằng rốt cuộc trong số những con người có vẻ như cặn bã này cũng có những tấm lòng vàng.

Nhiều nhà văn nữ được độc giả nhớ đến vì những bức tranh mô tả vùng New England hết sức tinh tế của họ: Mary Wilkins Freeman (1852 – 1930), Harriet Beecher Stowe (1811 – 1896) và đặc biệt Sarah Orne Jewett (1849 – 1909). Sự độc đáo quan sát tinh tế và chuẩn xác về con người và cảnh vật vùng Maine và văn phòng trực cảm của Jeweett được thể hiện đậm nét trong truyện “The White Heron” (Con diệc trắng) trong tuyển tập Country of the Poited Firs (Quê hương những ngọn thông cao) (1896). Các tác phẩm đậm nét địa phương của Harriet Beecher Stowe đặc biệt là The Pearl of Orrs Island (Viên ngọc của đảo Orr – 1862) khắc họa những làng đánh cá bình dị ở Maine, đã có ảnh hưởng lớn đến Jewett. Những nhà văn nữ thế kỷ 19 đã tạo nên một thế giới riêng của họ với những ảnh hưởng và nâng đỡ về mặt đạo lý như có thể thấy trong những lá thư của họ. Phụ nữ trở thành giới độc giả chủ yếu của tiểu thuyết và nhiều phụ nữ còn viết những cuốn truyện, những bài thơ và những truyện cười rất nổi tiếng.

Mọi vùng trong đất nước tự ca ngợi chính mình trong các sáng tác văn học mang màu sắc địa phương. Một số tác phẩm thuộc loại này còn có cả nội dung phản kháng, chống đối mang tính xã hội, đặc biệt vào gần cuối thế kỷ khi mà sự bất bình đẳng xã hội và khó khăn về kinh tế trở thành vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Nạn phân biệt chủng tộc và bất bình đẳng giữa nam-nữ xuất hiện trong tác phẩm của các tác giả miền Nam như George Washington Cable (1844 – 1925) và Katee Chopin (1851 – 1904). Các tác phẩm đầy sức mạnh tố cáo của họ lấy bối cảnh ở Cajun (bang Lousiana thuộc địa của Pháp) đã bứt phá vượt lên trên dòng văn học mang sắc thái địa phương. Cuốn tiểu thuyết The Grandissimes (1880) của Cable bàn đến nạn phân biệt chủng tộc với một nghệ thuật tuyệt vời; cũng như tiểu thuyết táo bạo The Awakening (Bừng tỉnh – 1899) của Kate Chopin, về một phụ nữ với một nỗ lực định mệnh quyết tìm kiếm cho được bản thân mình qua nỗi đam mê, tác phẩm này đã đi trước thời đại. Trong The Awakening, một người đàn bà trẻ có một người chồng thành đạt, hết mực chiều chuộng vợ và những đứa con dễ thương đã từ bỏ gia đình, tiền bạc, địa vị xã hội, và cuối cùng chính cuộc đời mình để theo đuổi sự nhận chân về bản thân. Những cảnh tượng đầy chất thơ và hết sức gợi cảm về biển và chim chóc (bị nhốt trong lồng hay được tự do) và nhạc tính đã tạo cho cuốn tiểu thuyết ngắn này một sự phức tạp và mức độ sâu sắc không ngờ.

Thường đi đôi với The Awakening là câu chuyện thú vị “The Yellow Wallpaper” (Giấy dán tường màu vàng – 1892) của Charlotte Perkins Gilman (1860 – 1935). Cả hai tác phẩm đều bị lãng quên một thời gian dài, chỉ được các nhà phê bình văn học ủng hộ quyền phụ nữ khám phá ra vào cuối thế kỷ 20. Trong câu chuyện của Gilman, một bác sĩ ra vẻ khiêm nhường đã làm cho vợ mình phát điên vì nhốt bà vào trong căn phòng để “chữa” cho bà khỏi bệnh suy nhược thần kinh. Người vợ bị giam cầm này phản chiếu cuộc đời tù tội của mình lên tấm giấy dán tường; trong hình trang trí của nó, bà nhìn thấy những người phụ nữ bị giam cầm đang bò lê la sau những song sắt.

VĂN HỌC HIỆN THỰC VÙNG TRUNG TÂY

Trong nhiều năm làm chủ bút tạp chí Atlantic Monthly, William Dean Howells (1837 1920) đã xuất bản các tác phẩm mang phong cách hiện thực địa phương của Bret Harte, Mark Twain, George Washington Cable và những người khác. Ông còn là nhà văn hàng đầu của chủ nghĩa hiện thực và các tiểu thuyết của ông như A Modern Instance (Một trường hợp thời nay – 1882), The Rise of Silas Lapham (Sự thành công của Silas Lapham – 1885) và A Hazard of New Fotunes (Hiểm họa của vận hội mới – 1890), đan kết một cách cẩn thận những hiện trạng xã hội với cảm xúc của lớp người Mỹ trung lưu bình thường.

Lấy tình yêu, tham vọng, chủ nghĩa lý tưởng và sự cám dỗ những động lực cho các nhân vật của mình, Howells nhận thức một cách sắc sảo về sự băng hoại đạo đức của những nhà tài phiệt kinh doanh trong thời đại hoàng kim của thập niên 70, cuốn The Rise of Silas Lapham của HoWell dùng một tựa đề mỉa mai để xoáy sâu vào điểm này. Silas Lapham làm giàu bằng cách lừa lọc một người bạn kinh doanh già và hành động vô đạo đức của ông đã xáo trộn gia đình ông một cách sâu sắc, mặc dầu trong nhiều năm ông không nhận thức được hành động xấu xa của mình. Cuối cùng Lapham chuộc lại lỗi lầm bằng giải pháp hợp đạo lý, thà chịu phá sản hơn là thành đạt vô đạo. Silas Lapham cũng giống như Huckleberry Finn, là một câu chuyện về sự thất bại: công việc kinh doanh của Silas Lapham sụp đổ là sự lên ngôi về mặt đạo đức của ông. Vào giai đoạn cuối đời, Howells cũng như Twain, ngày càng trở nên tích cực hoạt động cho những lý tưởng chính trị, bảo vệ quyền của những người tổ chức nghiệp đoàn lao động và lên án chủ nghĩa thực dân của Mỹ ở Philippines.

CÁC NHÀ VĂN THEO QUAN ĐIỂM THẾ GIỚI CHỦ NGHĨA

Henry James
(1843 – 1916)

Henry James từng viết rằng nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật văn chương, “tạo ra cuộc sống, tạo ra mối quan tâm, tạo ra sự quan trọng”. Tiểu thuyết và sự nghiệp phê bình của James là những tác phẩm khó nhất, phức tạp nhất và tỉnh táo nhất trong thời kỳ đó. Cùng với Mark Twain, James thường được xếp vào hàng ngũ những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất của Mỹ vào nửa sau thế kỷ 19.

James nổi tiếng về “đề tài quốc tế” của mình – đó là mối quan hệ phức tạp giữa những người Mỹ ngây thơ và những người châu Âu có tư tưởng quốc tế. Những cuốn sách mà tác giả viết tiểu sử của ông là Leon Edel cho rằng thuộc vào giai đoạn đầu tiên, hay “giai đoạn quốc tế” của James bao gồm những tác phẩm Transatlantic Sketches (Những phác thảo xuyên Đại Tây Dương) gồm Những bài du ký (1875), The American (Người Mỹ) (1877),Daisy Miller (1879) và một kiệt tác, cuốn The Portrait of a Lady (Chân dung một mệnh phụ) (1881). Trong cuốn The American chẳng hạn, Christopher Neuman, một kỹ nghệ gia triệu phú tự lập thân, ngây thơ nhưng thông minh và lý tưởng, đi châu Âu tìm kiếm một ý trung nhân. Khi gia đình cô cự tuyệt vì ông thiếu một nguồn gốc quý tộc, ông lại có cơ hội để rửa hận cho mình khi quyết định không trả thù, ông đã chứng tỏ được sự hơn hẳn về mặt đạo đức của mình.

Thời kỳ sáng tác thứ hai của James là thời kỳ thử nghiệm. Ông khai thác những đề tài mới mẻ – phong trào nữ quyền và cải cách xã hội trong The Bostonians (Người Boston – 1886) và mưu đồ chính trị trong The Princess Casamassima (Công chúa Casamassima – 1886). Ông cũng cố gắng viết cho sân khấu, nhưng thất bại. Vở kịch Guy Domville (1895) bị la ó phản đối ngay đêm công diễn đầu tiên.

Vào giai đoạn thứ ba, hay “giai đoạn chủ yếu” của ông, James trở lại những đề tài quốc tế, nhưng xử lý chúng với sự nghiên cứu tâm lý sâu sắc và tính nghệ thuật được nâng cao. Cuốn The Wings of the Dove (Đôi cánh chim câu – 1902) rất phức tạp và hầu như huyền bí, The Ambassador (Ngài đại sứ – 1903) (mà James cho là cuốn tiểu thuyết hay nhất của mình) và The Golden Bow (Cái tô bằng vàng – 1904) ghi dấu giai đoạn quan trọng này. Nếu chủ đề chính của Twain là các hiện tượng cuộc sống và thế giới hiện thực, thì điều quan tâm thường xuyên của James là tri giác. Với James, chỉ có sự tự nhận thức về mình và tri giác rõ ràng về người khác mới mang lại sự khôn ngoan và một tình yêu vị tha. Trong khi James phát triển luận điểm này, tiểu thuyết của ông càng mang đậm tính chất tâm lý hơn và ít quan tâm đến những sự cố bên ngoài hơn. Trong tác phẩm sau này của James, những sự kiện quan trọng nhất đều mang tính cách tâm lý – thường là những khoảnh khắc giác ngộ thực sự cho phép những nhân vật thấy được sự mê lầm trước đây của mình. Ví dụ, trong The Ambassador, ông Lambert Strether đã luống tuổi nhưng sống rất lý tưởng khám phá một quan hệ yêu đương bí mật và cũng đồng thời phát hiện ra sự phức tạp mới mẻ trong đời sống nội tâm của mình. Sự cứng rắn, cương trực và đạo đức của ông trở nên người hơn và rộng lớn hơn khi ông thấy mình có khả năng chấp nhận những người đã sa ngã, phạm tội.

Edith Wharton
(1862 – 1937) 

Cũng như James, Edith Wharton có một quãng đời lớn lên ở châu Âu và cuối cùng chọn nó làm chốn dung thân. Bà xuất thân từ một gia đình giàu có, danh giá trong xã hội New York và tận mắt nhìn thấy sự suy vong của tầng lớp xã hội văn minh này. Cùng lọt vào tầm mắt của bà là sự phất lên của những gia đình kinh doanh, trưởng giả vừa học đòi vừa thô bạo. Sự chuyển đổi xã hội này là bối cảnh trong nhiều cuốn tiểu thuyết của bà.

Cũng như James, Wharton nêu ra những tương phản giữa người Mỹ và người Âu. Điều cốt lõi trong mối quan tâm của bà là cái hố sâu ngăn cách giữa thực trạng xã hội và bản ngã bên trong của mỗi người. Thường thì một nhân vật nhạy cảm thấy mình bị mắc kẹt giữa những con người vô cảm hoặc là các thế lực xã hội. Bản thân Edith Wharton đã trải qua kinh nghiệm về cái bẫy đó khi còn là một nhà văn trẻ. Bà đã phải chịu đựng một sự suy sụp tinh thần kéo dài phần nào bởi sự giằng co giữa vai trò làm nhà văn và làm vợ của bà. Những cuốn tiểu thuyết hay nhất của Wharton có The House of Mirth (Ngôi nhà của niềm vui – 1905), The Custom of the Country(Tập tục địa phương – 1913), Summer (Mùa hè – 1917), The Age of Innocence (Thời thơ ngây – 1920), và cuốn tiểu thuyết ngắn được trau chuốt tuyệt vời Ethan Frome (1911).

VĂN HỌC TỰ NHIÊN VÀ HIỆN THỰC TRẦN TRỤI

Sự mổ xẻ những động cơ ám muội về tiền bạc và tính dục trong sáng tác của Wharton và James đã nối kết họ với những tác giả mà xét bề ngoài hình như hoàn toàn khác biệt: Stephen Crane, Jack London, Frank Norris, Theodore Dreiser và Upton Sinclair. Giống như những nhà văn có quan điểm thế giới chủ nghĩa, nhưng với độ xác thực cao hơn, những nhà văn tự nhiên chủ nghĩa này đã sử dụng cơ sở hiện thực để liên hệ giữa cá nhân với xã hội. Họ thường vạch ra những vấn đề xã hội và chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết Darwin và lý thuyết triết học có liên quan của chủ nghĩa định mệnh, xem cá nhân như những con cờ của những thế lực kinh tế – xã hội vượt ra ngoài tầm kiểm soát của họ.

Chủ nghĩa tự nhiên thực chất là biểu hiện văn học của thuyết định mệnh. Kết hợp với sự mô tả chân thực, lạnh lùng cuộc sống của tầng lớp hạ lưu, thuyết định mệnh chối bỏ tôn giáo như là một sức mạnh thúc đẩy trên thế giới và thay vào đó quan niệm thế giới như là một cỗ máy. Các nhà tư tưởng Ánh sáng thế kỷ 18 cũng tưởng tượng thế giới là một cỗ máy, nhưng là một cỗ máy hoàn hảo, do Thượng đế tạo nên và dẫn đường đến sự tiến bộ và sự cải thiện nhân bản. Các nhà văn tự nhiên chủ nghĩa trái lại cho rằng thế giới là một cỗ máy mù quáng, chẳng có gì là thiêng liêng và vượt ra ngoài sự kiểm soát.

Nhà sử học Mỹ thế kỷ 19 Henry Adams xây dựng nên một lý thuyết chi tiết về lịch sử có liên hệ đến ý tưởng một cỗ máy phát điện, hay sức mạnh máy móc và một sự chuyển hóa năng lượng hoặc sự suy sụp của sức mạnh này. Adams không nhìn thấy những tiến bộ xã hội, ông chỉ nhìn thấy sự đi xuống không thể tránh khỏi của xã hội loài người.

Stephen Crane, con trai của một mục sư, trình bày sự đánh mất Thượng đế một cách cô đọng nhất:

Một người nói với vũ trụ:
“Thưa ngài, tôi tồn tại!”
“Tuy nhiên”, vũ trụ đáp lời
“Sự kiện đã không tạo nên trong ta
Một ý thức bổn phận”.

Giống như chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa Tự nhiên xuất hiện đầu tiên ở châu Âu. Nó thường được xem là xuất phát từ những tác phẩm của Honoré de Balzac vào thập niên 40 và được nhìn nhận như là một trào lưu văn học Pháp gắn liền với tên tuổi Gustave Flaubert, Edmond và Jules Goncourt, Émile Zola và Guy de Maupassant. Nó mạnh dạn phơi trần mặt trái bị che khuất của xã hội và những đề tài như ly dị, tình dục, ngoại tình, khốn cùng và tội ác.

Chủ nghĩa Tự nhiên nở rộ khi người Mỹ bắt đầu công cuộc đô thị hóa và nhận thức được tầm quan trọng của các thế lực kinh tế và xã hội rộng lớn. Vào trước 1890, các cửa ngõ biên giới được công bố chính thức đóng cửa. Hầu hết người Mỹ sống ở các thành phố, và việc kinh doanh có vai trò thống trị ngay cả ở những vùng thôn quê xa xôi, hẻo lánh.

Stephen Crane
(1817 -1900) 

Stephen Crane sinh ở Jersey. Tổ tiên của ông có lẽ là một trong những chiến sĩ của cuộc chiến tranh Cách mạng, những mục sư, những cảnh sát trưởng, những quan tòa, và nông dân đã sống trước đó một thế kỷ. Lập nghiệp là một phóng viên, ông cũng viết tiểu thuyết, tiểu luận, thơ và kịch. Crane nhìn cuộc đời ở dạng thô thiển trần trụi nhất, ở trong những khu nhà ổ chuột về trên chiến trường. Những truyện ngắn của ông – đặc biệt “The Open Boat” (Con thuyền), “The Blue Hotel” (Khách sạn màu xanh da trời) và “The Bride Comes to Yellow Sky” (Cô dâu đến Yellow Sky[2]) – là những ví dụ cho thể loại đó. Cuốn tiểu thuyết không thể nào quên về Nội chiến,The Red Badge of Courage (huy hiệu đỏ anh dũng) được nhiệt liệt hoan nghênh khi xuất bản năm 1895, nhưng ông không có được thời gian để tắm mình trong vinh quang trước khi chết ở tuổi 29, vì quá khinh suất trong việc giữ gìn sức khỏe. Ông hầu như bị lãng quên suốt trong hai thập niên đầu của thế kỷ 20, nhưng lại được dựng tượng qua một tiểu sử ngợi ca do Thomes Beer viết năm 1923. Kể từ đó, ông càng ngày càng trở nên nổi tiếng như là một người bênh vực quyền lợi quần chúng, một nhà văn hiện thực và tượng trưng chủ nghĩa.

Tác phẩm Maggie – A Girl of the Streets (Maggie – Cô gái điếm – 1893) của Crane là một trong những tác phẩm hay nhất nếu không phải là sớm nhất của chủ nghĩa tự nhiên Mỹ. Đây là câu chuyện đau lòng về một cô gái trẻ đã nghèo lại nhạy cảm, xuất thân từ một gia đình mạt hạng, bố mẹ rượu chè, vô học, hoàn toàn ruồng bỏ cô. Yêu và nóng lòng muốn trốn thoát không khí địa ngục gia đình, cô đã bị một gã đàn ông trẻ dụ dỗ về sống với mình, sau đó chẳng bao lâu gã lại bỏ rơi cô. Khi mà ngay cả người mẹ tự cho mình là đứng đắn cũng chối bỏ cô, thì Maggie chỉ còn cách trở thành một cô gái đứng đường để nuôi thân, nhưng chẳng bao lâu cô tự tử vì tuyệt vọng. Đề tài và chất liệu hoàn toàn trần tục kết hợp với văn phong khoa học, khách quan, không răn dạy đạo đức, đã đánh dấu Maggie là một tác phẩm tự nhiên chủ nghĩa.

Jack London
(1876 – 1916) 

Từ công nhân nghèo, tự học ở California, nhà văn của chủ nghĩa tự nhiên Jack London đã có một cú nhảy ngoạn mục từ cảnh cơ hàn bước lên đài danh vọng bởi tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của mình, The Son of the Wolf (Đứa con của Sói – 1904), phần lớn bối cảnh là ở vùng Klondike ở Alaska và Yukon ở Canada. Những cuốn sách bán chạy khác của ông gồmThe Call of the Wild (Tiếng gọi nơi hoang dã – 1903) và The Sea-Wolf (Hải tặc sói biển – 1904), khiến ông trở thành nhà văn được trả nhuận bút cao nhất ở Hoa Kỳ vào thời đó.

Cuốn tiểu thuyết mang tính cách tự thuật Martin Eden (1909) miêu tả những căng thẳng nội tại của “giấc mơ Mỹ” mà bản thân London đã trải qua khi ông như một vì sao từ nghèo khổ tối tăm bay đến chỗ giàu sang và danh tiếng. Eden, một thủy thủ nghèo mạt rệp, không được học hành nhưng thông minh và ham hiểu biết, quyết tâm trở thành nhà văn. Cuối cùng tác phẩm của anh làm cho anh trở nên giàu có và nổi tiếng, nhưng cũng chính lúc đó Eden nhận ra rằng người con gái mà anh yêu chỉ quan tâm đến tiền bạc và danh tiếng của anh mà thôi. Sự vỡ mộng trong tình yêu vì người trong mộng của mình hoàn toàn không có khả năng yêu thương đã làm cho anh mất luôn lòng tin vào phẩm giá con người. Anh cũng là nạn nhân của sự tha hóa giai cấp, vì anh không còn thuộc về tầng lớp lao động nữa, trong khi anh chối bỏ những giá trị vật chất của tầng lớp quý tộc mà vì nó anh đã phải lao động và nỗ lực vượt bực. Trên chuyến tàu đến Nam Thái Bình Dương anh đã nhảy xuống biển tự tử. Cũng như nhiều cuốn tiểu thuyết hay nhất thời đó, Martin Eden là câu chuyện về sự thất bại. Nó là mẫu mực cho cuốn The Great Gatsby (Gatsby vĩ đại) của F. Scott Fitzgerald khi nó bộc lộ sự tuyệt vọng của con người giữa vinh hoa phú quý.

Theodore Dreiser 
(1871 – 1945) 

Năm 1925, tác phẩm An American Tragedy (Một bi kịch Mỹ) của Theodore Dreiser ra đời, cũng giống như Martin Eden của London, khám phá những hiểm họa của giấc mơ Mỹ. Câu chuyện tái hiện đến từng chi tiết nhỏ về cuộc đời của Clyde Griffiths, một cậu bé kém ý chí và có chút ít ý thức. Cậu lớn lên trong một gia đình nghèo khó, đi lang thang hành nghề thuyết giáo. Cậu bé sớm nuôi mơ ước được giàu sang và được một người phụ nữ đẹp yêu. Rồi anh ta được một người bác giàu có nhận vào làm trong nhà máy của ông. Khi người bạn gái Roberta của anh có thai, cô yêu cầu anh ta phải cưới. Trong khi đó, Clyde lại đem lòng yêu một cô gái thuộc xã hội thượng lưu là đại diện cho sự thành công, tiền tài và địa vị xã hội. Clyde cẩn thận vạch kế hoạch dìm Roberta chết trong một chuyến đi chơi thuyền, nhưng vào giây phút cuối cùng anh lại đổi ý; tuy nhiên cô vẫn ngẫu nhiên té xuống nước. Clyde vốn bơi giỏi đã không cứu cô, và cô chết đuối. Khi Clyde bị ra hầu tòa, Dreiser kể lại câu chuyện theo chiều ngược lại, đã khôn khéo sử dụng những vị trí thuận lợi của luật sư công tố và luật sư bào chữa để phân tích từng bước đi và động lực dẫn Clyde, một thanh niên tính tình vốn dịu dàng, rất mộ đạo và có quan hệ gia đình tốt đẹp, đến chỗ phạm tội giết người.

Mặc dầu không có được phong cách tinh tế nhưng Dreiser trong An American Tragedy lại chứng tỏ là ngòi bút bậc thầy. Những chi tiết chính xác của tác phẩm đã tạo được một cảm nhận mãnh liệt về một tấn bi kịch không thể nào tránh khỏi. Cuốn tiểu thuyết là một bức tranh cay độc làm tổn thương huyền thoại về sự thành công dễ dàng ở Mỹ, và nó cũng là một câu chuyện phổ biến về những áp lực của công cuộc đô thị hóa, hiện đại hóa, và sự tha hóa. Nó cũng nói lên nhiều khía cạnh về những tưởng tượng lãng mạn và nguy hiểm của những kẻ bị tước đoạt.

An American Tragedy phản ánh sự bất mãn, lòng ghen tị, và sự thất vọng làm dân nghèo và tầng lớp lao động phải đau khổ trong sự cạnh tranh gay gắt của xã hội Mỹ, nơi mà sự thành công vừa là động lực vừa là nỗi ám ảnh. Khi sức mạnh của ngành công nghiệp Mỹ trỗi dậy, cuộc sống hào nhoáng của lớp người giàu có xuất hiện hàng ngày trên báo ảnh và tạp chí là một sự tương phản rất rõ nét với cuộc sống ảm đạm buồn tẻ của đa số nông dân và tầng lớp công nhân ở đô thị. Truyền thông đại chúng đã thổi phồng lên những ước ao đổi đời và những ham muốn phi lý. Những vấn đề như thế là hết sức bình thường với những đất nước đang hiện đại hóa, tạo đất sống cho trào lưu báo chí có xu hướng khuấy bùn đó là một loại phóng sự điều tra phanh phui có chiều sâu, cung cấp tư liệu về những vấn đề xã hội và tạo ra sự thúc đẩy quan trọng cho việc cải tạo xã hội.

Truyền thống vững mạnh của báo chí điều tra Mỹ bắt nguồn từ giai đoạn này. Trong suốt thời gian ấy, tờ tạp chí tầm cỡ quốc gia như là McClures Collier’s đã xuất bản cuốn History of the Standard Oil Company[3] (Lịch sử của công ty dầu mỏ Standard Oil – 1904) của Ida M. Tarbell, The Shame of the Cities (Nỗi ô nhục của các đô thị – 1904) của Lincoln Steffens, và các vụ phanh phui đầy tai tiếng khác. Những cuốn tiểu thuyết bới móc sử dụng những kỹ thuật báo chí độc đáo để khắc họa những điều kiện sống khắc nghiệt và sự áp bức. Cuốn The Octopus (Bạch tuộc – 1901) của Frank Norris theo phái Dân túy đã phanh phui những vụ bê bối của những công Ty hỏa xa lớn, trong lúc đó cuốn The Jungle (Rừng rậm – 1908) của Upton Sinclair theo phái xã hội đã phơi bày sự dơ dáy bẩn thỉu của công nghệ làm thịt hộp ở Chicago. Cuốn The Iron Heel (Gót sắt – 1908) với cái nhìn bi quan của Jack London thì đi trước cuốn năm 1984 của George Orwell trong việc tiên đoán một cuộc chiến giai cấp và việc đảo chính cướp chính quyền.

Một phản ứng có tính nghệ thuật hơn là các chân dung hiện thực hay nhóm chân dung những nhân vật bình thường và những thất vọng trong cuộc sống nội tâm. Tuyển tập truyện ngắn Main-Travelled Roads (Những nẻo đường chính – 1891) của tác giả được William Dean Howell bảo trợ, Hamlin Garland (1860 – 1940) là phòng tranh trưng bày chân dung của những người bình thường. Nó khắc họa những bức tranh đáng kinh ngạc về sự khốn cùng của nông dân miền Trung Tây đòi cải cách nông nghiệp. Tựa cuốn sách ám chỉ về nhiều con đường chạy về hướng Tây mà những người khẩn hoang nhọc nhằn đã đi theo và những con đường chính đầy bụi bặm ở các làng định cư của họ.

Gần gũi với Main-Travelled Roads của Garland là Winesburg, Ohio (Thành phố Winesburg, bang Ohio) của Sherwood Anderson (1876 – 1941) được bắt đầu 1916. Đây là tuyển tập truyện ngắn rời rạc về các cư dân của một thành phố hư cấu Winesburg qua cái nhìn của một phóng viên trẻ thơ ngây George Willard, người cuối cùng cũng ra đi tìm kiếm cơ may của mình ở đô thị. Giống như Main-Travelled Roads và những tác phẩm theo trường phái tự nhiên khác của thời kỳ này, Winesburg, Ohio nhấn mạnh đời sống nghèo khổ âm thầm, sự cô đơn và tuyệt vọng của các thành phố nhỏ ở Mỹ.

“TRƯỜNG PHÁI CHICAGO” TRONG THI CA

Ba nhà thơ miền Trung Tây lớn lên ở bang Illinois và chia sẻ mối quan tâm của miền Trung Tây với quần chúng là Carl Sandburg, Vachel Lindsay và Edgar Lee Masters. Thơ của họ thường quan tâm đến những cá nhân của bóng tối, họ phát triển những kỹ thuật mang yếu tố hiện thực, những diễn tả đầy kịch tính, giúp họ thu hút được đông đảo độc giả hơn. Họ là một phần của văn học miền Trung Tây, hay trường phái Chicago nổi lên trước Thế chiến thứ nhất thách thức định chế văn học ở bờ Đông. Sự “Phục hưng của Chicago” là một bước ngoặt của nền văn hóa Mỹ: nó chứng minh rằng văn hóa của vùng đất này đã trưởng thành.

Edgar Lee Masters
(1868 – 1950)

Trước thềm của thế kỷ 20, Chicago đã trở thành một đô thị lớn, quê hương của nền kiến trúc cách tân và những bộ sưu tập nghệ thuật tầm vóc thế giới. Chicago cũng là nơi ra đời của tờ Poetry của Harriet Monnoe, một tạp chí văn học quan trọng nhất thời đó.

Trong số những nhà thơ đương đại đáng chú ý mà tạp chí này đã giới thiệu, có Edgar Lee Masters, tác giả tập thơ dấn thân Spoon River Anthology(Tuyển tập Spoon River – 1915). Tập thơ nổi bật với ngôn ngữ hàng ngày “chẳng thơ một chút nào” hết sức mới mẻ, một sự bộc bạch thẳng thắn về tính dục, cái nhìn phê phán về cuộc sống làng quê, và những miêu tả cường điệu về đời sống nội tâm của những con người chẳng có gì nổi bật.

Spoon River Anthology là tuyển tập những chân dung được trình bày như những đoạn bi ký viết bằng ngôn ngữ thông thường tóm lược cuộc đời của những người dân quê như thể bằng lời lẽ của chính họ. Nó vẽ ra toàn cảnh của một làng quê qua cái nghĩa trang của nó: 250 người chôn ở đấy đã lên tiếng bộc bạch những bí mật sâu kín nhất của họ. Nhiều người có quan hệ mật thiết với nhau; thành viên của 20 gia đình nói về những thất bại và giấc mơ của họ bằng những bài tự sự theo thể thơ-tự-do hiện đại một cách đáng ngạc nhiên.

Carl Sandburg
(1878 – 1967)

Một người bạn của ông đã nói: “Cố viết ngắn gọn về Carl Sandburg cũng giống như cố gắng chụp hình hẻm núi Grand Canyon([4]) bằng một tấm hình đen trắng”. Là nhà thơ, nhà sử học, nhà văn viết tiểu sử, tiểu thuyết, sáng tác nhạc và viết tiểu luận – Sandburg – con trai của một người thợ rèn đường sắt xứng đáng với tất cả những danh hiệu đó và còn hơn thế nữa. Sống bằng nghề viết báo, ông viết tiểu sử đồ sộ về Abraham Lincoln – một trong những tác phẩm kinh điển về thể loại này của thế kỷ 20.

Đối với nhiều người, Sandburg là một Walt White hiện đại. Ông viết những vần thơ yêu nước và những bài thơ đầy cảm xúc về đời sống đô thị, những giai điệu đơn giản trẻ thơ và những khúc ballad. Ông đi khắp nơi ngâm thơ và ghi âm thơ của mình bằng một giọng ngâm có âm điệu du dương, ngọt ngào, thực sự là một cách hát. Tự bản chất ông hoàn toàn khiêm tốn, dù cho tiếng tăm lừng lẫy cả nước. Điều ông mong muốn trong cuộc sống như một lần ông nói là “được thoát khỏi giam cầm… được ăn đều đặn… được in ra những gì tôi viết… một tình yêu nơi quê nhà và chút ít âu yếm trìu mến nơi đây và xa kia trong toàn cảnh nước Mỹ… (và) được ca hát mỗi ngày”.

Bài thơ “Chicago” (1914) là một ví dụ tuyệt vời cho những chủ đề trên và cho phong cách Whitman của ông:

Gã bán thịt heo cho toàn thế giới,
Người làm dụng cụ, kẻ chất đống lúa mì,
Người rong chơi với những đường xe lửa và
Người chuyển hàng của đất nước;
Như bão tố, ồn ào, đầy sức mạnh
Thành phố của những đôi vai vững vàng.

 

Vachel Lindsay
(1879 – 1931)

Vachel Lindsay là một mục sư theo phái Dân túy ở một thị trấn nhỏ miền Trung Tây và là người sáng tạo ra loại thơ có nhịp điệu mạnh mẽ làm ra để đọc lớn trước đám đông. Sáng tác của ông là một sự kết hợp kỳ ảo với một mặt là những hình thức thơ ca bình dân, hay dân gian, chẳng hạn như những bài hát phúc âm Thiên Chúa giáo và ca nhạc tạp kỹ và mặt khác là thi pháp tiên tiến của các trào lưu hiện đại. Là một nhà thơ đọc trước công chúng cực kỳ nổi tiếng thời đó, những cách đọc của Lindsay là tiền thân những cách đọc thơ của nhóm “Beat” thời sau thế chiến II có đệm nhạc Jazz.

Để phổ biến thơ cho công chúng, Lindsay phát triển cái mà ông gọi là một “loại ca nhạc tạp kỹ cao cấp”, dùng âm nhạc và các tiết tấu mạnh. Là người phân biệt chủng tộc dựa vào tiêu chuẩn hiện nay, bài thơ nổi tiếng của ông “The congo” (1914) ca ngợi lịch sử của những người Phi châu bằng cách pha trộn nhạc Jazz, thơ, âm nhạc và ca từ. Ông đồng thời làm cho những nhân vật lỗi lạc trong lịch sử nước Mỹ chẳng hạn như Abraham Lincoln (trong bài “Abraham Lincoln Walks at Midnight” Abraham Lincoln đi dạo giữa đêm khuya và John Chapman (“Johnny Appleseed” – Johnny hạt táo) trở nên bất tử bởi nghệ thuật pha trộn giữa hiện thực và huyền thoại.

Edwin Arlington Robinson
(1869 – 1935)

Edwin Arlington Robinson là nhà thơ Mỹ xuất sắc nhất vào cuối thế kỷ 19. Giống như Edgar Lee Masters, ông nổi tiếng vì những phát hiện về nét khôi hài, tính cách thiếu hoàn hảo của những con người bình thường. Nhưng không giống Masters, Robinson dùng âm luật truyền thống. Thị trấn Tilbury do ông tưởng tượng ra cũng giống như Spoon River của Masters chứa đựng bao cuộc sống mòn trong tuyệt vọng âm thầm. Một số những bài thơ tự sự nổi tiếng của Robinson là “Luke Havergal” (1896), về một tình nhân bị bỏ rơi, “Miniver Cheevy” (1910), hình ảnh một con người mộng mơ lãng mạn; và “Richard Cory” (1896), một chân dung ảm đạm về một con người giàu có đã tự kết liễu đời mình:

Mỗi khi Richard Cory đi ra phố,
chúng tôi tụ trên vỉa hè đứng nhìn ông:
Ông là một quý ông lịch duyệt
Ân cần, đẹp tươi; thon thả, uy nghiêm.

Và ông luôn ăn mặc thật chỉnh tề, nhã nhặn
Ông luôn nhân từ khi trò chuyện cùng ai
Ông vẫn thường đỏ mặt lên khi nói,
“Chào ông” và trông ông rạng rỡ mỗi bước đi.

Ông giàu có – vâng, còn giàu hơn cả một ông vua –
Ông được dạy dỗ để phong nhã trong từng cử chỉ:
Cuối cùng, chúng tôi nghĩ rằng ông là tất cả những gì Khiến chúng tôi ao ước được là ông.

Vì thế chúng tôi tiếp tục làm việc, và đợi chờ may mắn
Và qua ngày không có thịt ăn, và nguyền rủa bánh mì
Còn Richard Cory, một đêm hè êm vắng,
Đã về nhà và bắn một viên đạn vào đầu ông.

 

“Richard Cory” chiếm được một chỗ đứng bên cạnh Martin EdenAn American Tragedy, và The Great Gatsby như một lời cảnh tỉnh đầy sức mạnh chống lại huyền thoại về sự thành công được thổi phồng lên biến thành bệnh dịch hành người dân Mỹ trong thời đại của những nhà triệu phú.

HAI TIỂU THUYẾT GIA MANG SẮC THÁI ĐỊA PHƯƠNG

Hai nữ tiểu thuyết gia Ellen Glasgow (1873 -1945) và Willa Cather (1873 – 1947) chuyên khám phá về thế giới phụ nữ, và đặt họ vào trong những khung cảnh địa phương được xây dựng với một vẻ rực rỡ, huy hoàng. Thực ra, không ai trong hai người tuyên bố những vấn đề đặc biệt về phụ nữ. Trong các tác phẩm đầu tay của nhân vật chính là nam, và chỉ khi họ đã tạo được sự tự tin và một độ chín trong nghệ thuật, họ mới quay sang mô tả đời sống của phụ nữ. Glasgow và Cather chỉ có thể được xem là “các nhà văn nữ” theo nghĩa mô tả, vì tác phẩm của họ không thể phân loại được.

Glasgow người vùng Richmond bang Virginia, thủ phụ cũ của phe miền Nam thời Nội chiến. Các tiểu thuyết hiện thực của bà phản ánh sự biến đổi của miền Nam từ một nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp. Các tác phẩm có giá trị như Virginia (1912) xoay quanh những kinh nghiệm của người miền Nam, trong lúc những tác phẩm sau này như Barren Groand(Đất bạc màu (1925) – được công nhận là tác phẩm hay nhất của bà – kịch hóa cuộc đời những phụ nữ tài hoa cố gắng vượt qua những lề thói truyền thống bó hẹp của miền Nam, khuôn định thiên chức nội trợ, trách nhiệm gia đình và sự phụ thuộc của phụ nữ.

Cather, một người Virginia khác, lớn lên trên thảo nguyên Nebradka giữa những người di dân khẩn hoang – sau này làm cho họ sống mãi trong cuốnO Pionners! (Ôi! Những người khai hoang – 1913), My Antonia (Antonia của tôi – 1918), và câu chuyện nổi tiếng của bà Neighbour Rosicky (Người hàng xóm Rosicky – 1928). Trong cuộc đời, bà trở nên ngày càng xa lạ với chủ nghĩa vật chất của cuộc sống hiện đại và viết về những ảo mộng khác nhau ở Tây Nam nước Mỹ và trong quá khứ. Cuốn Death Comes for the Archbishop (cái chết của ngài giám mục – 1927) dựng lại tinh thần lý tưởng của hai tu sĩ thế kỷ 16 lập nên Giáo hội Công giáo ở sa mạc New – Mexico. Tác phẩm của Cather tưởng niệm những khía cạnh quan trọng của kinh nghiệm Mỹ bên ngoài dòng văn học chính thống – như việc khai khẩn, sự thành lập tôn giáo, và cuộc sống độc lập của phụ nữ.

SỰ VƯƠN LÊN CỦA NỀN VĂN HỌC MỸ DA ĐEN

Thành tựu văn học của người Mỹ Da đen là một trong những bước phát triển văn học nổi bật nhất sau Nội chiến. Các dòng văn học Mỹ da đen đã bắt rễ trong các tác phẩm của Booker T. Washington, W.E.B. Du Bois, James Weldon Johson, Charles Waddell Chesnutt, Paul Laurence Dunbar và những người khác, đáng chú ý nhất là thể loại tiểu sử tự thuật, văn học phản kháng, những bài thuyết giảng, thơ và âm nhạc.

Booker T. Washington
(1856 – 1915)

Booker T. Washington, nhà giáo dục và người lãnh đạo Da đen nổi bật nhất vào thời đó. Ông sinh ra và lớn lên trong thân phận nô lệ ở quận Franklin – bang Virginia, cha là người Da trắng chủ nô, mẹ là nữ nô lệ Da đen. Tiểu sử tự thuật đơn giản, rất hay của ông Up From Slavery (Đứng lên từ cuộc đời nô lệ – 1901), kể lại cuộc đấu tranh thắng lợi của ông trong việc tu dưỡng bản thân. Ông trở nên nổi tiếng bởi những nỗ lực trong việc cải thiện cuộc sống của những người Mỹ Da đen; chính sách hòa giải với người Da trắng của ông – một nỗ lực giúp đỡ những người Mỹ Da đen mới được giải phóng hòa nhập vào dòng chảy chung của xã hội Mỹ – được vạch ra trong diễn văn nổi tiếng của ông nhan đề “Atlanta Exposition Address” (1895).

W.E.B. Du Bois
(1868 – 1963) 

Sinh ở New England và được đào tạo ở Đại học Harvard và Đại học Berlin (Đức), W. E. B. Du Bois là tác giả của bài viết “Of Mr Booker T. Washington and Others” (Về ông Booker T. Washington và nhữngh người khác), một tiểu luận về sau được tập hợp trong cuốn sách nổi tiếng của ông The Souls of Black Folk (Tâm hồn người Da đen – 1903). Du Bois cẩn thận chứng minh rằng dù cho Washington có nhiều thành tích, ông thật sự đã chấp nhận sự kỳ thị chủng tộc – sự đối xử bất bình đẳng và phân biệt đối với người Mỹ Da đen – và sự kỳ thị ấy tất yếu sẽ dẫn đến địa vị thấp kém của người Da đen, đặc biệt là trong giáo dục. Du Bois, một sáng lập viên của Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu (NAACP), cũng viết những lời đánh giá nhạy bén, sắc sảo về truyền thống và văn hóa của người Mỹ gốc Phi; tác phẩm của ông giúp những người trí thức Da đen khai thác nền văn học và âm nhạc dân gian phong phú của dân tộc mình.

James Weldon Johnson
(1871 – 1938)

Cũng như Du Bois, nhà thơ James Weldon Johnson tìm cảm hứng trong những bài dân ca của người Mỹ Da đen. Bài thơ “O Black and Unknown Bards” (Ôi, những nhà thơ Da đen vô danh! – 1917) của ông có đoạn

Trái tim người nô lệ nào trào tuôn bao giai điệu
Như trong bài “Lẻn bước đến bên Chúa” một khúc nhạc dịu êm
Linh hồn anh chắc tự do bay lượn hằng đêm,
Dầu quanh đôi tay anh xích xiềng xiết chặt.

Mang trong mình dòng máu pha trộn giữa Da đen và Da trắng, Johnson đã tìm hiểu vấn đề phức tạp của chủng tộc trong cuốn tiểu thuyếtAutobiography of an Ex-Colored (Tiểu sử tự thuật của một người lai – 1912) viết về một người pha trộn hai dòng máu đã “vượt qua” định kiến (hay là được chấp nhận) làm người Da trắng. Cuốn sách chuyển tải một cách có hiệu quả sự quan tâm của người Mỹ Da đen với những vấn đề nguồn gốc lai lịch ở Mỹ.

Charles Waddell Chesnutt 
(1858 – 1932)

Charles Waddell Chesnutt, tác giả của hai tuyển tập truyện ngắn, The Conjure Woman (Nữ pháp sư – 1899), The Wife of His Youth (Người vợ thời son trẻ – 1899) tiểu thuyết The Marrow Of Trandittion (Cốt lõi của truyền thống – 1901), và một cuốn tiểu sử về Frederick Douglass, đi trước thời đại. Truyện ngắn của ông dựa trên các đề tài về chủng tộc, nhưng tránh né những kết cục có thể đoán trước được và những tình cảm chung chung, nhân vật của ông là những cá nhân rõ rệt với những thái độ phức tạp về mọi việc, bao gồm cả vấn đề chủng tộc. Chesnutt thường mô tả sức mạnh của cộng đồng Da đen và khẳng định những giá trị đạo đức và sự đoàn kết chủng tộc.


[1] Tinh thần chống sùng bái thánh tượng nổi lên đầu tiên ở châu Âu thể hiện đậm nét trong văn học trào phúng dân gian.

[2] Yellow Sky: tên một thị trấn trong truyện ngắn nổi tiếng này.

[3] Standard Oil Company: một công ty dầu lửa hàng đầu của Mỹ. Tên viết tắt của nó là S.O và đọc là ESSO.

[4] Grand Canyon: một thung lũng rộng mênh mông bị sông Colorado cắt ngang ở vùng cao nguyên thuộc Tây Bắc Arizona. Hẻm núi ngoạn mục đẹp như một tác phẩm điêu khắc này có chiều rộng từ 0,2 đến 29km và trải dài từ cửa sông Paria gần địa phận phía Bắc của Arizona đến vách núi Grand Wash gần Nevada, tức là vào khoảng 446 km.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_v.html