Browsing Category

Việt Nam học

Đạo gia Literature 中文

《老子道德經 》 Laozi Dao De Jing

 

老子「中国经典动画」

TAO TE CHING – The Book Of The Way

The Tao Te Ching was written in China roughly 2,500 years ago at about the same time
when Buddha expounded the Dharma in India and Pythagoras taught in Greece. The Tao
Te Ching is probably the most influential Chinese book of all times. Its 81 chapters have
been translated into English more times than any other Chinese document.
The Tao Te Ching provides the basis for the philosophical school of Taoism, which is an
important pillar of Chinese thought. Taoism teaches that there is one undivided truth at
the root of all things. It literally means:
= tao (the way)
= te (strength/virtue)
= ching (scripture)
The verses of the Tao Te Ching are written in ancient Chinese, which is very different from
English. Abstraction and logic are not distinguishing marks of the ancient Chinese
language, hence, it is less rigid than English and there are very few formal or grammatical
structures. The classical Chinese word does not stand for a single concrete idea, but it
evokes associations of different ideas and things. Quite a few Chinese words can be used
as nouns, adjectives and verbs at the same time. Thus sentences composed of various
signs have a sort of suggestive power, evoking emotions, ideas and pictures.
It is almost impossible to render an ancient Chinese text properly in English without
losing some part. Different translations of the Tao Te Ching may appear as completely
different texts. In order to understand the original text fully it is helpful to read various
translations that consummate each other. The alternative is, of course, to learn Chinese.
This document uses the translation of Tolbert McCarroll.

Lịch sử tư tưởng phương Đông TUẦN 2 - 7: TƯ TƯỞNG TRUNG HOA CỔ ĐẠI Việt Nam học

BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC QUA CÁC THỜI KỲ

 BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC THỜI XUÂN THU
 Map China 092-TanThuyHoang
BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC THỜI CHIẾN QUỐC
De_stridande_staterna_animering
BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC QUA 4 THỜI THƯƠNG – CHU – TẦN – HÁN
 AncientChina
————————————————————————————-
BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC THỜI ĐỒ ĐÁ
china-neolithic-large
BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC THỜI HẠ
ningxia
BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC THỜI THƯƠNG
china-shang-large
BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC THỜI CHU
1806606_orig
BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC THỜI TẦN
 china-chin-large
BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC THỜI HÁN
china-han-large
BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC THỜI ĐƯỜNG
Map.TangDynasty
BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC THỜI TỐNG
map_both
BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC THỜI NGUYÊN
china-yuan-large
BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC THỜI MINH
ming-dynasty-map-small
BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC THỜI THANH
china-ching-large
Việt Nam học

Có hay không một chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam?

Trong lịch sử của Việt Nam từ trước đến giờ hầu như chẳng nghe nhắc đến cụm từ: “Chế độ chiếm hữu nô lệ”. Nhà sử học Trần Trọng Kim trong “Việt Nam sử lược” – Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 cũng chẳng đề cập gì về chế độ này trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc? Vì sao vậy? Có gì mâu thuẫn với quy luật của Chủ nghĩa Mác – Lênin về tuần tự 05 chế độ xã hội mà loài người phải trải qua? Vậy có hay không một chế độ Chiếm hữu nô lệ, hay nó tồn tại ở hình thức đặc biệt nào ở lịch sử Việt Nam, bài viết này bằng kiến thức thu nhặt được, cùng lí lẽ chủ quan cũng xin góp thêm đôi điều bàn bạc.

Như chúng ta biết khi nhắc đến chế độ Chiếm hữu nô lệ thì tất cả nghĩ ngay đó là hình thức nhà nước đầu tiên trong lịch sử nhân loại nói chung và của phương Tây nói riêng. Nếu như hiện nay người ta còn bàn cải ở phương Đông cổ đại đã từng trải qua phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ hay phương thức sản xuất châu Á, thì đã từ lâu, sự tồn tại của phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp và La Mã đều đã được các nhà sử học Mác xít thừa nhận và đưọc coi đó là những xã hội chiếm hữu nô lệ có tính chất diển hình.

Thế thì phương Đông, nơi cũng là cái nôi vĩ đại của nền văn minh nhân loại, cũng cùng nhân loại đi từ xuống phát điểm là chế độ Cộng sản nguyên thủy sao lại ít được nhắc đến và trong đó bản thân Việt Nam lại dường như càng không có. Có phải không nhắc đến là không tồn tại chế độ Chiếm hữu nô lệ trong lịch sử nước ta?

Thực ra chế độ Chiếm hữu nô lệ xuất hiện và tồn tại trong lịch sử của nhân loại, cả trong phương Đông lẫn phương Tây. Ngay từ khi chế độ Cộng sản nguyên thủy tan rã, xã hội xuất hiện đầu tiên ở phương Đông, các con sông châu Á như sông Nin – Ai Cập, sông Ấn, Hằng ở Ấn Độ; Hoàng Hà – Trung Quốc… vào thiên niên kỉ IV-III TCN. Vậy căn cứ đầu tiên có thể khẳng định hầu hết các quốc gia Đông phương đã sớm tồn tại chế độ Chiếm hữu nô lệ, và trong xu thế tất nhiên của lịch sử  ấy Việt Nam ta cũng phải mang  trong mình cái chung ấy. Vậy cái chung ấy được thể hiện qua lăng kính của lịch sử nước ta qua cái riêng nào – đấy là nhiệm vụ cần làm rõ, tìm hiểu.

Thực ra, theo ý kiến chủ quan của tôi, từ thuở xa xưa khi tổ tiên ta vừa bước ra từ thế giới dã man, mông muội thì hết thảy họ đã chạm tay vào nền văn minh, chế độ mới – chế độ Chiếm hữu nô lệ “nửa vời”. Cái chế độ chiếm hữu nô lệ này ở nước ta nó không rõ ràng, đậm nét, sâu sắc như ở các quốc gia Tây phương và tôi cho rằng Việt Nam nói riêng, phương Đông nói chung đã nuôi nó trong một chế độ cùng sinh ra cùng thời – Chế độ phong kiến. Tại sao có thể nói trong lịch sử Việt Nam vừa có lại vừa không có tồn tại chế độ Chiếm hữu nô lệ, đấy là căn cứ vào một số phân tích sao.

Trước hết có thể luận giải dựa vào chế độ gia đình – gia đình “phụ hệ” đề cao vai trò tuyệt đôí của người đàn ông và được xem “ông chủ nô nhỏ” trong gia đình “nô lệ nhỏ”. Chính vì tư tưởng ăn sâu hình thành vào gia đoạn cuối của chế độ công xã nên khi bước vào chế độ chiếm nô đấy là tư tưởng thường trực và chủ đạo, chẳng hạn “tam cương ngũ thường”, “tam tòng tứ đức” dành cho nữ giới thực hiện… Tất cả hình thành nên mầm móng mà tôi gọi là những “áp đặt, cưỡng bức” đầu tiên, cơ bản và sơ khai nhất của Chế độ chiếm hữu nô lệ.

Các quốc gia cổ đại phương Ðông đều có những đặc trưng chung của một xã hội chiếm hữu nô lệ, ví như việc phân chia xã hội thành hai giai cấp đối kháng: Giai cấp quý tộc, chủ nô thống trị và giai cấp nô lệ bị áp bức, bóc lột một cách tàn nhẫn và thô bạo nhất. Nhưng các quốc gia này cũng có nhiều đặc điểm riêng làm cho người ta có thể phân biệt chúng với các quốc gia chiếm hữu nô lệ phương Tây, tức Hy Lạp và La Mã cổ đại, mà những đặc điểm riêng biệt đó chủ yếu là như sau:

Các quốc gia cổ đại phương Ðông ra đời ở thời kỳ mà sức sản xuất xã hội đang còn ở trình độ thấp kém. Trình độ sản xuất thời ấy không cho phép các quốc gia đó phát triển chế độ chiếm hữu nô lệ một cách “thành thụ và điển hình”.

Bên cạnh đó có thể căn cứ vào yếu tố lịch sử – chính trị. Từ năm 287 – 258 TCN  Việt Nam sử lược” – NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2005, xã hội Việt Nam đã có nhà nước – nhà nước Văn Lang đầu tiên, bắt đầu có sự phân chia giai cấp và tầng lớp nô lệ cũng ra đời từ đó với tên gọi là –“Trâu”, xã hội có sự phân hóa sơ khai song chưa sâu sắc. Trải qua theo chiều dài lịch sử từ quá trình lập quốc đến cuộc giữ nước từ 174 TCN khi Triệu Đà đánh tan Thục Phán An Dương Vương. Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc giặc Tàu đầu thế kỉ X (938) nền tự trị của quốc gia lại được mở ra và kéo dài qua hàng ngàn năm của chế độ phong kiến tập quyền muôn vàn thống khổ cho gây ra. Từ  sau thế kỉ X khi nền thịnh trị của tầng lớp bị trị. Từ thế kỉ X nền thái bình nước nhà ngày càng vững bền thì chính sách bóc lột của chế độ phong kiến càng rõ nét và lớn hơn bao giờ hết. Tổng kết giai đoạn từ  X – XV các sử gia nhận xét rằng tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng cao. Những năm đói kém “nhân dân nhiều người phải bán ruông đất và bán con gái, con trai làm nô tì”. Quý tộc và địa chủ ngày càng chiếm nhiều ruộng đất” (1) . Chỉ qua lời nhận xét ấy, ta có thể rút ra 2 vấn đề để khẳng định chế độ Chiếm hữu nô lệ vẫn tồn tại ở nước ta, vì về mặt kinh tế là sự bóc lột, vơ vét sức người sức của của giai cấp nông dân, giai cấp bị trị làm cho đời sống nhân dân cùng khổ làm nảy sinh mâu thuẫn kéo đến hàng loạt phong trào khởi nghĩa của kẻ bị bóc lột chống lại bọn bóc lột như: Hàng loạt khởi nghĩa của nông dân Đàng ngoài cho chính quyền Trịnh thối nát – Khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu, Khởi nghĩa Hoàng Công Chất, phong trào Tây Sơn (2); đầu thế kỉ XIX có khoảng 400 cuộc khởi nghĩa, thời Minh Mạng có tới 250 cuộc (3) … đã phản ánh rõ nét thực chất của xã hội phong kiến chẳng qua là cái vỏ bọc thay cho cách gọi tên với chế độ Chiếm hữu nô lệ. Thực chất mà nói, giữa hai chế độ này trong thể nhất  cũng chẳng khác nhau là mấy, vì sao? Tên gọi giai cấp chủ nô, nô lệ tương ứng xã hội phong kiến cũng cùng bản chất với địa chủ – quý tộc và nông dân tá điền. Cái tên gọi thực sự chỉ thể hiện được cái hiện tượng, vỏ bên ngoài nhưng suy xét cho đến cùng thì giữa hai chế độ này cùng một người mẹ sinh ra – mẹ của thống khổ, bóc lột mà thôi. Đôi khi cái tên gọi không đồng nhất vối cái bản chất của chế độ. Như vậy trên cơ sơ đầu tiên này chúng ta có thể khẳng định Việt Nam từng tồn tại Chiếm hữu nô lệ nhưng thông qua cái tên hoa mĩ và cái vỏ khác, cái vỏ của Chế độ phong kiến.

Nhưng, xin làm rõ thêm tại sao cụm từ “chiếm hữu nô lệ” lại không có trong lịch sử Việt Nam mặc dù nó từng tồn tại. Đấy bởi vì phạm vi, tính chất, mức độ thấp hay cao;  nổi bật hay chỉ là hiện tượng thoáng qua, đơn thuần tồn tại cách yếu đuối trong cách thể hiện. Chẳng hạn:

Dưới góc độ văn hóa, “người phương Đông sống trong văn hóa duy tình” đã hằn sâu trong tâm thức của họ do vậy cũng chỉ thị cho hành động, trong cách cư xử, đối đãi giữa các tầng lớp với nhau là không tàn bạo, gay gắt như phương Tây. Mặc dù ở chế độ tập quyền chuyên chế “vua là con trời, tối cao” “quân bức thần tử thần bất tử bất trung” nhưng ta vẫn thấy có chút gì nhân đạo, nhân ái của các vị minh quân, vẫn luôn hướng nghe cuộc sống, than vãn của quần chúng. Vua vi hành, vua trực tiếp xử kiện nếu có án oan, vua tham gia cày ruộng, vua thường xuyên đặt xá, miễn thuế… cho nhân dân, chăm lo nhân sinh … Điều đó giải thích tại sao trong lịch sử dân tộc có rất nhiều ông vua – đại diện cho giai cấp thống trị lại được muôn dân kính yêu: Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Lí Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Hàm Nghi, Duy Tân…. Ở một chừng mực nào đó dù có mâu thuẫn giai cấp, có bóc lột  song nó không tàn nhẫn, vô tâm  “cừu ăn thịt người” như chế đô Chiếm hữu nô lệ phương Tây.

Dười góc độ kinh tế. Sự chênh nhau trong phát triển kinh tế cũng ảnh hưởng đến bản chất của chế độ Chiếm hữu nô lệ. Nếu như các quốc gia cổ đại Phương Tây bước vào chế độ chiếm nô bằng bẳng nền kinh tê “công thương nghiệp cổ đại” phát triển với lò, xưởng thủ công, nhiều sản phẩm nổi tiếng, chất lượng cao: dầu oliu, lúa mạch, đồ da,…được giao thương nhiều nơi thì cư dân phương Tây  chỉ làm nông là chủ yếu “lấy nghề nông làm gốc”, dù phát triển đến đâu cũng chỉ nhằm mục đích duy nhất là hỗ trợ cho nghề nông. Chính vì trình độ kinh tế chênh nhau nảy sinh nhu cầu lực lượng người bị bắt buộc lao động cũng ờ mức khác nhau. Nếu ở Tây phuơng giai cấp chủ nô không những chiếm hữu mọi tư liệu sản xuất mà còn chiếm hữu cả bản thân người lao động sản xuất, giai cấp nô lệ thâm chí không có quyền được coi là một con người, hoàn toàn lệ thuộc chủ, lao động thật cực lực, vất vả là công cụ làm lợi cho chủ nô, ví dụ: Ở Hy lạp trong thời kỳ chiến tranh Ba Tư, con số nô lệ ở Ca-ran-tơ lên đến 46 vạn, ở E-gi-i-nơ lên đến 47 vạn, tức là tính theo dân số thì trung bình cứ 10 nô lệ mới có 1 người tự do – đây được xem là thứ hàng hóa đặc biệt thì tại phương Đông lại rất khác, nô lệ có nhưng chế độ ít tham gia vào các quá trình sản xuất ra của cải vật chất, chưa phải là lực lượng đông đảo nhất, chưa phải là lưc lượng duy trì toàn bô sự sống còn của xã hội mà có vai chủ yếu là tham gia xây dựng công trình kiến trúc, lăng điện thành trì, phục vụ tầng lớp quý tộc… và không phải là đối tượng bóc lột chủ yếu như ở phương Tây. Nhìn ở góc độ nào đó họ vẫn còn chút giá trị, họ vẫn có “lương” trong công việc phục vụ quý tộc dù ít, có thể hồi gia cùng gia  đình lúc tuổi già, sức yếu; vẫn có quyền có nhu cầu cơ bản nhất; có thể đươc trọng dụng như nô gia Yết Kiêu, Giã Tượng – hai tướng tài dưới trướng Hưng đạo Vương vậy… Chính vì lí do này mà tôi khẳng bản thân xã hội Việt Nam có sự đan xen tồn tại giữa hai chế độ “chiếm hữu nô lệ” và “xã hội phong kiến”  nhưng  nhìn bao quát cái thể hiện của Chiếm hữu nô lệ ở chừng mực còn mờ nhạt, hạn chế “chế độ chiếm hữu nô lệ chưa thành thụ và điển hình” như ở phương Tây.

Ngoài ra, tiếp cận ở góc độ tâm sinh lí cũng có thể giải thích vì sao hình thái Chiếm hữu nô lệ có tồn tại nhưng nó không có tên trong bề dày  lịch sử dân tộc. Đấy là, do sử dụng các sản phẩm chủ yếu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp trồng trọt nên con người “thuần tính” hơn. Các cư dân Việt có nguồn thức ăn chủ yếu từ thực vật: Rau quả, lúa gạo, khoai sắn…nên cũng phần nào tạo nên bản tính “người” hơn, sống và cư xử hòa nhã, có tình hơn so với người Tây phương họ “ăn thịt”, dùng “dao, thìa” lấy thức ăn phần nào nói lên bản chất “dữ tợn, tính con” của họ. Tiếp nhận từ góc độ này có thể lí giải vì sao con người Phương Đông phần nhiều thiên về nội tâm, nếu có “ bóc lột, thống trị” cũng không gay gắt, tàn bạo, dã man như người Tây phương. Chính vì thế khi chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời ở nước ta cũng bị “ru ngủ nhiều bằng sợi dây tình cảm”. Hơn nữa, do quan niệm của người phương Đông trong quan hệ giữa con người với trời, đất (Thiên – Địa – Nhân): “Người ta chỉ chịu làm cách mạng khi mà không còn cách nào khác sau khi đã cam chịu” khiến cho phần lớn các mâu thuẫn không trở nên quá gay gắt, không thể diều hòa.

Trên đây là những phân tích để đưa ra kết luận cuối cùng tìm lời đáp cho câu hỏi: “Có hay không chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam”. Qua đây có thể kết luận được rằng, theo quy luật chung của các nhà Mác xít thì nhân loại sẽ trải qua  5 hình thái xã hội nhưng mức thể hiện của mỗi chế đô là không giống nhau. Chế độ Chiếm hữu nô lệ theo tôi từng tồn tại ở Việt Nam nhưng xét vể bản chất, đặc trưng cũng như khả năng hợp “Thiên – địa – nhân – hòa” thì không cao, chưa phải đậm đặc nhất do vây nó phải “quá độ”  và sống len lỏi dựa vào “xã hội phong kiến” để tồn tại cho hợp với cái bổn phận được sinh ra từ lịch sử (Điều này tương tự như chúng ta tiến lên Chủ nghĩa xã hội nhưng ngay trong thời kì quá độ này ta vẫn chấp nhận bàn tay chi phối của Tư bản chủ nghĩa…). Lịch sử ta không ghi nhận chế độ Chiếm hữu nô lệ cũng có cái lí của bản thân nó và tôi nghĩ cái lí ấy chính từ những suy nghĩ trên vậy ./.

NGUYỄN HỮU HOÀNG

(Phó chủ nhiệm Câu lạc bộ Lý luận trẻ
Học viện Hành chính cơ sở TP. Hồ Chí Minh)

——————————
(1) Sách Giáo khoa Lịch sử 10 (Nâng cao), Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008, trang 161.
(2) Sách Giáo khoa Lịch sử 10 (Nâng cao), Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008, trang 197.
(3) Sách Giáo khoa Lịch sử 10 (Nâng cao), Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008, trang 208.

http://hto.svhanhchinh.vn/2012/09/co-hay-khong-mot-che-do-chiem-huu-no-le-o-viet-nam.html

——————————

Ba thành tựu rực rỡ của nước Âu Lạc

Nhiều vấn đề của nước Âu Lạc cho đến nay đã được làm sáng tỏ ít nhiều, nhưng vẫn chưa đầy đủ về lịch sử – kinh tế – xã hội của quốc gia cổ đại từ hơn 2.200 năm trước. Để làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh của nước Âu Lạc, cần nêu lên một số thành tựu rực rỡ của quốc gia cổ xưa này.

Công nghệ luyện đúc đồng phát đạt

Nền văn hóa khảo cổ học Đông Sơn phân bố khắp lãnh thổ miền Bắc nước ta kéo dài từ suốt thiên niên kỷ thứ nhất TCN đến các năm SCN, mà tiêu chí là công nghệ luyện đúc đồng đạt đến trình độ điêu luyện

Các trung tâm lớn của văn minh Đông Sơn có nhiều, nhưng những địa danh liên quan đến Thục Phán – Âu Lạc lại nổi trội hơn hết, đó là Đào Thịnh – Yên Bái với sưu tập hiện vật đồ đồng đa dạng, trong đó có thạp đồng Đào Thịnh và nhiều trống đồng Đông Sơn. Đó là Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc, lại là địa danh văn minh Đông Sơn xuất sắc vùng hạ lưu sông Hồng phía dưới Việt Trì.

aulac12

Ở Cổ Loa có nhiều trống đồng Đông Sơn thuộc trống loại I Hêgơ, có hàng vạn mũi tên đồng. Cũng tại khu vực Cổ Loa tìm thấy nhiều lưỡi cày đồng. Có lẽ chưa có một địa danh văn minh Đông Sơn nào lại quy tụ nhiều loại hiện vật có giá trị tiêu biểu như ở Cổ Loa.

Chinh phục đồng bằng sông Hồng

Việc dời đô về Cổ Loa, bỏ qua Việt Trì – Phú Thọ thời Hùng Vương chứng tỏ rằng, cư dân Việt cổ của nước Âu Lạc đã chinh phục được đồng bằng sông Hồng. Điều lý thú là hàng loạt lưỡi cày đồng tìm thấy ở Cổ Loa, chứng tỏ rằng lúc đó nghề nông làm lúa nước bằng cày (có thể do người kéo hay súc vật kéo) đã phát triển.

Cây lúa hạt thóc là lương thực chủ đạo của cư dân Âu Lạc, những ruộng lúa ven châu thổ sông Hồng đã chín vàng vào mùa khô là điều chắc chắn. Thời Âu Lạc của An Dương Vương đã khác thời Văn Lang của Hùng Vương về lương thực là rõ ràng. Bởi vì thời Hùng Vương đồng ruộng vùng trung du, những đồng bằng hẹp ven sông, lợi dụng thủy triều lên xuống để làm ruộng…

Tất nhiên, kết quả là có hạn. Đến thời An Dương Vương, ruộng đất được cày xới, nghề nông dùng cày hiệu quả hàng chục lần hơn nghề nông dùng cuốc thời Hùng Vương, là một tiến bộ vượt bậc. Với nông nghiệp dùng cày, kinh tế thời Âu Lạc đã đạt đến trình độ cao. Đó là thành tựu rực rỡ của Âu Lạc.

Phát triển đô thị cổ

Với thành Cổ Loa, lâu nay giới nghiên cứu nói nhiều đến ý nghĩa quân sự của tòa thành này. Nhưng điều mà ít người nói đến Cổ Loa là ở vị thế đô thị cổ của nó.

Có thể là trung tâm hành chính không phải là đô thị cổ và trung tâm quân sự chưa phải là đô thị cổ. Nhưng Cổ Loa là đô thị cổ đích thực, bởi trình độ kinh tế thời Âu Lạc đã được thể hiện ở Cổ Loa, từ làng mạc vươn tới đô hội, nơi có tất cả mọi ngành nghề, quay về hướng nam, nơi có đồng bằng màu mỡ, có nhiều con sông nối với Cổ Loa, sông Hồng, sông Cầu…

sodo

Ba hạng mục thành tựu rực rỡ của Âu Lạc như vẫn còn đó trong những gì mà người Việt cổ lưu lại cho con cháu, từ truyền thuyết – di tích – hiện vật đến tâm tưởng của mọi thế hệ con cháu của Âu Lạc.

 http://www.hoangthanhthanglong.vn/blog/ba-thanh-tuu-ruc-ro-cua-nuoc-au-lac/538
Đạo gia Film studies Kim Ki Duk

Đạo diễn Kim Ki Duk: “Thế giới chúng ta đang sống là thực hay mơ?”

Đạo diễn Kim Ki Duk: “Thế giới chúng ta đang sống là thực hay mơ?”

Kim Ki Duk (Kim Cơ Đức, sinh năm 1960) là đạo diễn Hàn Quốc nổi tiếng không xuất thân từ một trường đào tạo điện ảnh chính quy, với phong cách độc đáo mang lại bản sắc riêng không chỉ trong điện ảnh Hàn Quốc, mà cả thế giới. Phim của ông xoáy sâu vào tâm lý con người, đôi khi vượt quá sự cảm nhận thông thường. Nó cho thấy một cách nhìn, một thế giới quan khác lạ của Kim Ki Duk.

Ông làm phim đầu tay vào năm 1996, Crocodile, kể về một người đàn ông chuyên thu thập xác những người tự sát. Những bộ phim của Kim Ki Duk về đề tài phụ nữ luôn bị lên án mạnh mẽ.

Năm 2000 bộ phim The Isle miêu tả về cuộc sống, tình cảm của những cô gái điếm đã đoạt giải Quạ vàng của Liên hoan phim viễn tưởng quốc tế của Bỉ, giải Netpac cho Phim đáng chú ý nhất Liên hoan phim Venezia.

Đạo diễn Kim Ki Duk: “Thế giới chúng ta đang sống là thực hay mơ?”

Phim Bad guy

Phim Address Unknown (2001) đoạt giải Đại Linh của điện ảnh Hàn Quốc cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất và nhận đề cử Sư tử vàng Liên hoan phim quốc tế Venice; phim Bad guy (2001) đoạt giải Đại Chung cho Nữ diễn mới xuất sắc nhất, giải Orient Express tại Liên hoan phim quốc tế Catalonia của Tây Ban Nha và nhận đề cử Gấu Vàng Liên hoan phim quốc tế Berlin; phimThe Coast Guard (2002) đoạt giải FIPRESCI, giải Netpac tại Liên hoan phim quốc tế Karlovy Vary, giải Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất cho Jang Dong Gun tại Liên hoan phim Châu Á – Thái Bình Dương; phim Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring (2003) đoạt giải C.I.C.A.E., Don Quixote và giải thưởng của Ban giám khảo trẻ tại Liên hoan phim quốc tế Locarno, giải thưởng Khán giả bình chọn của Liên hoan phim quốc tế San Sebastian, giải Đại Chung phim xuất sắc nhất 2004; phim Samaritan Girl (2004) đoạt giải Gấu Bạc cho Đạo diễn xuất sắc nhất Liên hoan phim quốc tế Berlin; phim 3-Iron(2004) đoạt giải Golden Spike tại Liên hoan phim quốc tế Valladolid, giải FIPRESCI, giải Sư tử vàng nhỏ, giải thưởng danh dự SIGNIS, giải Đạo diễn đặc biệt tại Liên hoan phim Venice….

Hyong Shin Kim & Carl Wakamoto thực hiện phỏng vấn

Câu chuyện trong bộ phim 3-Iron (Nhà rỗng) được chia thành 3 phần. Có thể nhận thấy rõ hơn kiểu chia thành nhiều phần trong các phim gần đây của ông,Samaritan Girl và Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi lại Xuân – vì những tựa đề ẩn trong những bộ phim này?

Với tôi, mỗi cảnh quay chiếc ghe đánh cá trong The Isle (Đảo) giống như một phần vậy. Phần đầu của bộ phim này nói về những ngôi nhà trống và được chủ nhân của chính chúng tìm ra. Phần thứ hai là tiếp diễn chứ không phải khám phá, bằng cảnh huấn luyện trong nhà tù, và phần cuối cũng không phải là sự khám phá mặc dù có nhiều người xuất hiện. Bằng cách này, tôi chia hình ảnh phim thành 3 cấp độ. Đây là quá trình thuyết phục dần dần khán giả. Chia nó thành 3 phần là cần thiết vì mỗi yếu tố sẽ dẫn dắt khán giả bằng cách giúp họ nghĩ “à, cái này có thể xảy ra lắm chứ”. Thông qua những mẩu chuyện và bộ phim này, tôi muốn chỉ ra rằng ranh giới giữa thực tại và tưởng tượng là rất mơ hồ.

Ông có từng nghĩ đến việc sử dụng tựa đề trong bộ phim 3-Iron?

Không, tôi không nghĩ đến điều đó. Nếu tôi dùng tựa đề, có thể phần đầu là “ những ngôi nhà rỗng”, phần sau “làm ma” và phần thứ ba là “hồn ma”. Nhưng tôi không nghĩ điều đó là cần thiết.

Cảnh nhà tù nơi Tae-suk “tập luyện làm ma” thật là đẹp. Mục đích chính của ông trong cảnh này là gì?

Đạo diễn Kim Ki Duk: “Thế giới chúng ta đang sống là thực hay mơ?”

Đạo diễn Kim Ki Duk

Tôi muốn hình dung thấy qua phim ảnh, liệu một người có khả năng giấu mình sau lưng người khác được hay không. Và nếu đúng là có thể, người đó có thể vào một ngôi nhà mà những người khác đang ở. Trước khi Tae-suk nhận ra khả năng đó, anh ta phải lẻn vào những ngôi nhà trống để không bị người ta phát giác. Nhưng sau đó trong phần còn lại của bộ phim, Tae-suk viếng những ngôi nhà khác, hết nhà này đến nhà kia một cách thứ tự thậm chí cả khi có người trong nhà, và anh có thể tránh bị dòm thấy. Bởi vì anh ta đoan chắc là anh ta vô hình trước mắt mọi người trong nhà, và anh ta có thể đến ngôi nhà của Sun-hwa vào hồi kết. Cảnh trong tù là cần thiết và quan trọng như một mốc chuyển tiếp đến cảnh ngôi nhà của Sun-hwa ở hồi kết.

Tôi có một số câu hỏi về hành động của Sun-hwa. Đầu tiên, lý do để chặn cú đánh golf của Tae-suk là gì?

Đó là bạo lực. Vì Sun-hwa chặn anh ta lại, anh ta thay đổi góc độ và dẫn đến chuyện một người bị thương. Nếu Sun-hwa không chặn anh ta thì ắt chuyện đã không xảy ra. Nhưng vì hành động của Sun-hwa, thay đổi hướng đánh mà dẫn đến chuyện này. Thật khôi hài. Những ngẫu nhiên có thể phá ngang mọi ý định. Đó là cuộc sống thôi, dù ý định có hay ho gì chăng nữa.

Sao cô ấy lại đem khảm bức hình của mình?

Cô ấy muốn thoát khỏi quá khứ. Cô ấy muốn tự thay đổi hình ảnh của chính mình.

Cô ấy đã làm vỡ cái cân/mức cân bằng mà Tae-suk sửa lại lúc trước?

Cô ấy nghĩ rằng tình trạng vượt khỏi tầm kiểm soát sẽ tốt hơn. Vì khi ngoài kiểm soát, mức cân bằng sau đó có thể là con số 0. Mặc dù chúng ta cố gắng nhận biết cái ý nghĩa, nhưng nghĩa này có thể không còn quan trọng khi thời gian đã trôi qua. Sun-hwa có lẽ nhận ra điều đó, vì thế trọng lượng chẳng còn quan trọng với cô nữa. Do đó, trọng lượng của 2 người có thể sẽ chỉ là con số 0.

Với tôi, tăng thêm sức tưởng tượng của cô ấy là một cố gắng.

Có thể giải thích theo cách đó. Ý nghĩa có thể rất khác nhau với mỗi khán giả tùy thuộc vào thế giới quan của chính bản thân họ.

Lần đầu khi xem bộ phim này, tôi nghĩ có lẽ đó là sự tưởng tượng của Sun-hwa. Nếu đúng thế, có 3 cách suy diễn khác nhau có thể chấp nhận được. Có thể từ lúc bắt đầu cho đến kết thúc phim là sự tưởng tượng của cô, hay là tưởng tượng sau chuyến viếng thăm đầu tiên của Tae-suk tới thăm nhà cô, hoặc sau cái cảnh sở cảnh sát.

Mỗi cách diễn dịch của người xem đều có thể đúng. Nhưng với tôi, cũng có thể là sự tưởng tượng của Tae-suk. Sự tưởng tượng xuất hiện từ ý nghĩ cầu mong người ta sẽ ở trong những ngôi nhà trống.

Tôi tò mò về ý nghĩa những vật thể trong bộ phim này. Bộ phim bắt đầu với cảnh quay một bức tượng người phụ nữ (được thấy qua những cú đập bóng golf). Một bức tượng sư tử cũng được quay trong cảnh ngôi vườn nơi chồng Sun-hwa đang tập golf. Thêm nữa, những bức tượng đó cũng có trên sàn khi Sun-hwa và chồng đang ngồi trên trường kỷ trong phòng khách.

Những bức tượng điêu khắc có sẵn trong ngôi nhà nơi chúng tôi quay phim.

Không có ý nghĩa gì đặc biệt sao?

Không hẳn. Tôi chọn những vật thể mà tôi muốn quay giữa những thứ có sẵn trong các ngôi nhà, chỗ chúng tôi chọn quay phim. Ngôi nhà rất sang trọng và giàu có, và có những bức điêu khắc cẩm thạch. Tôi thấy chúng rất đẹp, hợp với khung cảnh và làm cho ngôi nhà trở nên quý phái hơn.

Tôi có cảm tưởng bức tượng người phụ nữ là hình ảnh của Sun-hwa.

Tùy người xem thôi. Ngay cả khi nó mang hình ảnh đó, tôi chỉ quay nó như thế thôi.

Tôi không muốn đi quá sâu vào chi tiết vì có người chưa được xem bộ phim, nhưng kết thúc phim ám chỉ một “chỗ sống chung kì dị”. Những ngôi nhà, gia đình và việc kết hôn có ý nghĩa gì với ông?

Chúng dường như tạo ra một cái khung lớn cho sự giao tiếp. Tôi nghĩ sống trong một gia đình là quá trình thực hiện những cuộc kiểm nghiệm cơ bản với tư cách một con người; đối xử với nhau như thế nào, làm thế nào, duy trì mối quan hệ trong một thời gian rất dài như thế, và làm thế nào hiểu được cấu trúc một gia đình mới khi xuất hiện thêm một đứa bé… cuộc kiểm nghiệm dựa trên mong muốn một cấu trúc bền vững chứ không hẳn là tái tạo lại cấu trúc. Tôi nghĩ gia đình kiểm tra được khả năng điều đó xảy ra như thế nào.

Thế thì, kết thúc phim có thể là một dạng khởi đầu mới hơn là một sự tái cấu trúc.

Có thể. Nhưng tôi không hoàn toàn đảm bảo nếu kết thúc là hạnh phúc hay bất hạnh. Từ quan điểm người chồng, đó là bất hạnh, và với những người muốn cái kết cục như thế, kết thúc có thể là hạnh phúc. Do đó, những cảnh vậy đôi khi có thể nghĩ theo cách nào đó tùy ý thôi.

Một số cảnh trong phim 3-Iron gợi cho tôi nhớ đến các bộ phim trước kia của ông (cảnh dòng sông Hàn bẩn thỉu trong The Crocodile (Cá sấu), ngôi nhà nổi trên nước trong 2 phim The Isle (Đảo) và Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi lại Xuân – cảnh chủ đạo, tên của Sun-hwa trong Bad Guy (Thằng tồi), v.v…). Bộ phim này có liên hệ nào với những bộ phim trước vậy?

Có vài cảnh tương tự vì tôi tạo ra chúng. Tôi nghĩ những điều tương tự đó là một dạng phong cách – phong cách xuất hiện thường xuyên trong phim của tôi. Trong Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi lại Xuân có thể có những cảnh ấn tượng và đặc biệt, và cũng tương tự như phim Bad Guy và các phim khác. Cũng như trong 3-Iron, có những cảnh tôi muốn diễn tả ý mình một cách sáng tạo hơn, theo cách riêng của tôi. Tôi nghĩ những cảnh tương tự như thế xuất phát từ phong cách mà tôi dùng làm phim.

Ông muốn gởi gắm điều gì thông qua bộ phim?

À, có thể là những lời nói ở cuối phim: “ Rất khó nói rằng thế giới chúng ta đang sống là thực hay chỉ là mơ”. Như trong phòng này, ngay bây giờ. Cuộc sống của chúng ta mơ hồ về những gì là đúng và những gì là sai. Thật ra, không có ranh giới rõ rệch giữa hai điều này, và đó chính là cách chúng ta sống. Những gì tôi muốn gởi gắm, là tình trạng lẫn lộn giữa việc tôi làm điều đúng hay điều gì đó sai vào một lúc nào đó.

Một khuynh hướng tranh luận trong những bài phê bình gần đây về các bộ phim của ông ở Hàn Quốc là liệu Kim Ki Duk có thay đổi hay không. Ông có nghĩ rằng phim ông sẽ thay đổi, hay ông nghĩ điều thay đổi là những bài phê bình chỉ trích ông?

Tôi nghĩ tranh luận là công việc của các nhà phê bình và giới báo chí. Theo ý tôi, những bài viết này theo cái lý luận là họ cần phát biểu ý kiến về điều này điều kia và gì gì sao đó, đó là công việc của họ và là tác phẩm của họ. Mặc dù tôi rất ít khi đọc các bài báo ấy, điều quan trọng là suy nghĩ của họ. Thậm chí tôi không biết liệu tôi có thay đổi hay không. Dù sao, cũng chẳng quan trọng. Với tôi chẳng cần phải rõ ràng là cái gì thay đổi hay tôi thay đổi.

Xin Ông nói đôi điều về bản thân và những bộ phim của ông trước khi chúng ta kết thúc cuộc phỏng vấn tại đây. Đối với ông làm phim là gì?

Mặc dù ngày nay có vô số thể loại phim, phim của tôi không thuộc loại hành động, bi kịch, hay thậm chí là phim nghệ thuật. Một người không mang một diện mạo duy nhất mà có một vẻ ngoài đa dạng. Tôi luôn quan tâm đến những diện mạo khác nhau của một con người. Giống như bóc một củ hành vậy, làm phim đối với tôi là một quá trình khám phá từng tầng từng lớp của từng người một. Tôi hi vọng khán giả thích suy nghĩ “đúng rồi, điều đó có thể xảy ra lắm” khi xem phim của tôi.

Đạo diễn Kim Ki Duk: “Thế giới chúng ta đang sống là thực hay mơ?”

Phim 3.Iron

Sự thật về Kim Ki Duk

Nhà làm phim nổi tiếng đáng ghê tởm và gây nhiều hiểu lầm nhất của xứ Hàn có lẽ đang trong thời kỳ sung sức nhất. Giá mà bây giờ thế giới này thôi quấy nhiễu ông. APA bám sát từng bước đi của con người có motip [trong phim] quán xuyến từ cái lưỡi câu cá cho đến các câu lạc bộ chơi golf.

Kim Ki Duk bắt đầu sự nghiệp như là một họa sĩ, và sau đó trở thành nhà viết kịch bản phim nhận được nhiều giải thưởng, nhưng ông nổi tiếng nhất với tư cách là đạo diễn phim độc lập hàng đầu của Hàn Quốc. Ông lớn lên ở một làng quê nhỏ, và khi ông 9 tuổi gia đinh chuyển đến Seoul. Ông phải sớm nghỉ học, và làm việc trong nhà máy trước khi gia nhập hải quân, được đào tạo trở thành nhà truyền giáo, và sau đó đến Paris để vẽ tranh. Những tác phẩm đầy tính chất trải nghiệm của ông khám phá mặt đáy tối tăm của xã hội Hàn Quốc, đặc biệt tập trung vào mối quan hệ phức hợp giữa tình dục, bạo hành và quyền lực. Các tác phẩm của ông thường xuyên gây nên nhiều tranh cãi kích động và cũng nhận được không ít lời ngợi ca thán phục, và luôn luôn có tác động mạnh mẽ rõ rệt, căng thẳng và xáo động khác thường. Mặc dù được tiếp thu rất ít nền giáo dục ở trường cũng như không hề qua bất cứ khoá đào tạo đạo diễn nào, ông đã vươn lên trở thành một trong những đạo diễn quan trọng nhất ở Đông Á, giành được vô số giải thưởng cho tác phẩm của mình. Việc Kim tập trung vào những chủ đề đầy tính khiêu khích và phong cách độc nhất vô nhị đã làm ông trở nên xa cách với khán giả Hàn Quốc đương thời, nhưng lại biến ông thành đứa con cưng tại các đại nhạc hội, đặc biệt ở châu Âu. Đồng thời với những xáo động, sống sượng và đậm tính bản năng, các bộ phim của ông cũng được sản xuất bằng cảm thức phi thường về tính chất đặc biệt ở các chủ đề phim. – Jennifer Flinn

Các bộ phim của Kim Ki Duk, có căn cứ vào nghĩa trong tiếng Hàn:

Breath (Thở; 2007)
Time (Thời nay; 2006)
The Bow (Cánh cung; 2005)
3-Iron (Nhà rỗng; 2004)
Samaritan Girl (Nữ thánh Samarita; 2003)
Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring (Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi lại Xuân; 2003)
The Coast Guard (Hải ngạn tuyến; 2002)
Bad Guy (Thằng tồi; 2001)
Address Unknown (Địa chỉ không thừa nhận; 2001)
Real Fiction (Hiện trạng; 2000)
The Isle (Đảo; 2000)
Birdcage Inn (Đại hồng môn; 1998)
Wildlife Reservation Zone (Khu bảo tồn động vật hoang dã; 1996)
The Crocodile (Cá sấu;1996)

Theo TGDA

Đạo gia Film studies Kim Ki Duk

Bin-jip (3-Iron) (2004) – Kim Ki Duk

3-Iron (2004) – Hoang mang cuộc đời


Phim ảnh về cơ bản cũng là phản chiếu tâm hồn con người, có khi là sự sôi nổi, hào hứng, có khi là sự lắng đọng, suy tư. 3-Iron là một trong những phim của Kim Ki Duk và hầu hết những phim của đạo diễn này đều cần người xem lắng tâm hồn mình lại để hiểu được một phần rất nhỏ thông điệp trong phim, thậm chí mỗi lần xem lại ngẫm ra được những điều hay. 

3-Iron là một bức tranh sáng tối thể hiện một cách mập mờ cuộc sống hoang mang vô định của một kiểu người, những cá biệt lạc lõng giữa cuộc đời ô trọc. Ở bất cứ xã hội nào, trong quá trình vận động và phát triển luôn có những con người đứng tách biệt, không tham gia vào guồng máy. Có thể họ thù hận, có thể họ chán nản, có thể họ thờ ơ, có thể họ mệt mỏi … dù vì lý do gì thì họ vẫn chọn kiểu sống nhờ nhờ, như những con sứa trong suốt, mờ ảo trôi lãng đãng trong đại dương bao la. Đối với họ, quá khứ không có, tương lai không cần suy nghĩ và hiện tại chỉ là chốn tạm mờ ảo như sương như khói.


Một cuộc đời hoang mang

Nhân vật chính trong phim của Kim Ki Duk luôn là một cá biệt độc đáo, u tối và phảng phất đâu đó mặt trái, sự tiêu cực của xã hội. Một chàng trai khỏe mạnh, trong độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời nhưng không hề có ý muốn sống một cuộc sống như những người bình thường. Chọn một cách sống phù du, sống tạm trong những ngôi nhà của người khác. Mỗi ngôi nhà tượng trưng cho một cuột đời và cuộc đời ngắn ngủi này kết thúc sau một đêm.

Chúng ta không biết vì sao nhân vật chính lại chọn kiểu sống như vậy, nhưng thực tế là anh đã chọn kiểu sống “mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”. Mỗi ngày anh lại hòa vào một cuộc đời khác nhau, diễn cái vai trong thế giới tự quy của bản thân mình. Khi ta cái gì cũng chọn cũng có nghĩa là ta không chọn cái gì cả. Kiểu sống của nhân vật chính là biểu hiện cho sự hoang mang, không xác định được phương hướng, không biết bắt đầu từ đâu và nên kết thúc như thế nào.

Tuy nhiên, mỗi “cuộc đời” của anh đều được anh thực hiện theo những trình tự nhất định và những thói quen nhất định, thói quen dọn dẹp và sửa chữa. Việc dọn dẹp và sửa chữa không chỉ đơn thuần là công việc ưa thích mà nó là sự phản ánh những mong muốn sâu kín, muốn dọn dẹp và sửa chữa lại cuộc đời mình. Những công việc lặp đi lặp lại mà không nhằm phục vụ cho mục đích gì thường là do những vết hằn trong tâm hồn gây ra.

Một cuộc tình vô vọng

Một nhân vật chính khác cũng có một cuộc đời hoang mang như chàng trai kia, một người vợ sống trong một ngôi nhà to lớn và đó cũng là cuộc đời tăm tối không lối thoát. Không như chàng trai là chọn kiểu mỗi ngày một cuộc đời, cô gái lại chọn kiểu cuộc đời ngày nào cũng như ngày nào. Và họ có điểm chung là chẳng có mong muốn gì cho tương lai của mình. Và nếu đã có điểm chung thì chắc chắn một lúc nào đó họ sẽ gặp nhau.

Cuộc tình trong phim không phải là cuộc tình đẹp nhưng nó lại hợp lý, mỗi bên đều tìm thấy thứ để an ủi cho trái tim mình. Dù là sự kết hợp này không phải là hoàn hảo, thậm chí còn mang màu sắc đáng thương nhưng nó vẫn có một giá trị, một ý nghĩa nào đó, để bổ sung, sửa lỗi cho những khiếm khuyết trong linh hồn đang dày vò chẳng hạn.

Họ đến với nhau và bắt đầu một cuộc sống vô định nhưng mang màu sắc mới. Tuy nhiên, màu sắc mới này vẫn không thể thay đổi được toàn cảnh gam màu u tối trước đây của họ. Một mối quan hệ không có gì đảm bảo và bắt nguồn từ những khiếm khuyết thì đều dẫn đến kết cục không mong đợi. Nhưng điều mà ta nhận thấy ở cuộc tình này dù là nó vô vọng nhưng không thiếu niềm tin, tin vào cái gì thì không biết nhưng họ vẫn tin, để có thể tiếp tục cuộc sống bên nhau. “Hôm nay ta cứ vui biết đâu ngày mai vẫn thế”.

Những hình ảnh ẩn dụ

Trong phim nào của Kim cũng có đầy các hình ảnh ẩn dụ, trong phim này cũng thế. Hình ảnh cả nhà kia đi du lịch về, đứa con cầm cây súng do chàng trai đã làm lại bắn vào người mẹ, mang ý nghĩa về tác hại của hành động là không thể lường trước được, có khi mục đích là vô hại nhưng hậu quả gây ra thì chính người tạo ra nó cũng không để ý đến. Và kiểu ẩn dụ này còn lặp lại một lần nữa với hậu quả gây ra khi đánh quả bóng golf.

Hình ảnh sửa lại cái cân để bước lên cân như thể hiện sự tìm kiếm con người thực của mình, đích xác là ở đâu, có tồn tại hay không. Hình ảnh cô gái dùng kéo cắt bức tranh và dán nó lại theo kiểu rất hỗn loạn nhưng lại có mục đích như thể hiện sự gay gắt và mong muốn sắp sếp lại các chi tiết cho phù hợp với cuộc sống của mình và bức tranh cũng thể hiện sự vỡ rách và chắp vá trong tâm hồn cô.

Một hình ảnh ẩn dụ xuyên suốt bộ phim là hình ảnh chàng trai cầm gậy đánh gôn đánh vào quả banh được cột chặt quanh thân cây, khi đánh nó cứ xoay vòng vòng thể hiện sự bế tắc trong cuộc đời của chàng trai, dù vùng vẫy cỡ nào cũng không thoát được mà cứ xoay vòng vòng lặp lại như thế. Hay là hình ảnh chàng trai trong trại giam cứ tìm cách trốn người giám thị, thể hiện sự mong mỏi thoát khỏi ánh mắt của người đời, sống một cuộc sống mà không ai có thể nhìn thấy mình, như người vô hình. Và còn nhiều hình ảnh ẩn dụ khác trong phim.

Một cái kết mơ màng

Với những phim như thế này, không thể nào có được một cái kết đóng và hợp lý mà thay vào đó là một cái kết gợi mở. Một cái kết vừa thực vừa mơ, có thể nó xảy ra hoặc có thể nó không xảy ra mà chỉ phản chiếu ước muốn của 2 nhân vật chính. Và ngay cả khi nó thực sự kết thúc như thế thì đó vẫn phảng phất sự hoang mang dù là lần tái hợp này có được những “nền tảng” tốt hơn. Một cái kết không khẳng định điều gì và nó cứ mơ màng trôi đi như thế, mặc cho ta phải suy nghĩ, suy đoán.

Không như những phim khác của Kim Ki Duk thường mang màu sắc dữ dội, gai góc, phim này ít có những vấn đề gây sốc mà nó như một góc nhìn bi thương về những con người lạc lõng không phương hướng và cách mà họ giải quyết vấn đề của mình trong tuyệt vọng. Có những lúc ta như lặng người đi để theo dõi câu chuyện không hồi hết của các nhân vật trong phim và có đôi khi ta tự hỏi, có nên chọn cuộc sống như thế không?

anbui@hdvietnam.com
http://hdvietnam.vnhide.net/diendan/107-binh-luan-tu-do/883773-3-iron-2004-hoang-mang-cuoc.html
Film studies Lịch sử tư tưởng phương Đông Nho gia Văn học Trung Quốc

Khổng Tử – Confucius (2010) – by Hu Mei

Confucius (2010 film)

From Wikipedia, the free encyclopedia
Confucius
Confucius film post.jpg
Traditional 孔子
Simplified 孔子
Mandarin Kǒng Zǐ
Cantonese Hung2 Zi2
Directed by Hu Mei
Produced by Han Sanping
Rachel Liu
John Shum
Written by Chan Khan
He Yanjiang
Jiang Qitao
Hu Mei
Starring Chow Yun-fat
Zhou Xun
Chen Jianbin
Ren Quan
Lu Yi
Yao Lu
Music by Zhao Jiping
Cinematography Peter Pau
Edited by Zhan Haihong
Production
company
Dadi Century (Beijing)
China Film Group
Distributed by China Film Group
Release dates
  • 28 January 2010
Running time
115 minutes
Country China
Language Mandarin
Box office US$18.6 million

Confucius (Chinese: 孔子) is a 2010 Chinese biographical drama film written and directed by Hu Mei, starring Chow Yun-fat as the titular Chinese philosopher. The film was produced by P.H. Yu, Han Sanping, Rachel Liu and John Shum.

Production on the film began in March 2009 with shooting on location in China’s Hebei province and in Hengdian World Studios in Zhejiang.

The film was scheduled to screen later in 2009 to commemorate the 60th anniversary of the founding of the People’s Republic of China, as well as the 2,560th birthday of Confucius himself. However, the release date was later moved to January 2010.

confucius-poster-61188Confuciusconfucius-2010-1

1366660584_6_full

vlcsnap37092

 

Lịch sử tư tưởng phương Đông TUẦN 1: PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY Việt Nam học

TÀI LIỆU MÔN LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG

A. TÀI LIỆU BẮT BUỘC:

  1. Luận ngữ 
  2. Lão Tử – Đạo Đức kinh
  3. Trang Tử – Nam Hoa kinh 
  4. MAHABHARATA Sử Thi Ấn Độ
  5. Kinh Torah
  6. Kinh Koran

Các sách trên đều có nhiều bản dịch khác nhau, sinh viên tìm được bản nào có thể dùng bản đó.

B. TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Trần Đình Hượu, Các bài giảng về tư tưởng Phương Đông (Lại Nguyên Ân biên soạn), Nxb ĐHQG , HN. 2001
  2. Lịch sử triết học Phương Đông, Nxb Chính trị Quốc gia . HN, 1998
  3. N . Konrat, Phương Đông và Phương Tây, những vấn đề triết học, lịch sử , văn học , Nxb Giáo dục . HN, 1997
  4. Edward .W. Said, Đông phương học, Nxb Chính trị Quốc gia .HN , 1998
  5. Will Durant, Lịch sử văn minh Ấn Độ, Trung tâm TT . ĐHSP , Tp HCM . 1989
  6. Will Durant, Lịch sử văn minh Trung Quốc, Trung tâm TT . ĐHSP , Tp HCM . 1989
  7. Will Durant, Di sản phương Đông, Công ty sách Thời đại và Nhà xuất bản Hồng Đức, 2014
  8. Lê Xuân Khoa, Nhập môn triết học Ấn Độ cổ đại, Trung tâm học liệu Bộ GD, Sài gòn , 1972
  9. Cao Xuân Huy, Tư tưởng Phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb Văn học . HN,
    1995
  10. Trần Trọng Kim, Đại cương triết học Trung Quốc, Nxb Tp HCM , 1972
  11. Doãn Chính ( chủ biên ), Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại,  Nxb CTQG. HN, 1998
  12. Doãn Chính ( chủ biên ), Giải thích các danh từ triết học sử Trung Quốc, Nxb GD.Tp HCM.1994
  13. Nguyễn Hiến Lê, Bài học Israel, Nxb Văn hóa, 1994
  14. Nguyễn Hiến Lê, Bán đảo Ả Rập, Nxb Văn hóa, 1994
  15. Phan Thu Hiền, Sử thi Ấn Độ tập 1, Nxb Giáo Dục, 1999
  16. Lê Phụng Hoàng (chủ biên), Lịch sử văn minh Thế giới, Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh, 1998
  17. Lê Phụng Hoàng (chủ biên), Lịch sử văn minh Thế giới, Nxb Giáo dục, 1999, 2000
  18. Nguyễn Thị ThưNguyễn Hồng Bích, Nguyễn Văn Sơn, Lịch sử  Trung Cận Đông, Nxb Giáo dục, 2000
  19. Paul Theroux, Phương Đông lướt ngoài cửa sổ (Dịch giả: Trần Xuân Thủy), Công ty phát hành: Nhã Nam, Nhà xuất bản: NXB Thế Giới, 2012
  20. Paramanhasa Yogananda, Tự truyện của một Yogi (Dịch giả: Thiên Nga), Công ty phát hành: Nhã Nam, Nhà xuất bản: NXB Lao Động, 07- 2014
  21. Baird T. Spalding, Hành Trình Về Phương Đông, Nxb Văn hóa Thông tin, 2015
  22. Bá Dương, NGƯỜI TRUNG QUỐC XẤU XÍ (Người dịch : Nguyễn Hồi Thủ)
Lịch sử tư tưởng phương Đông TUẦN 1: PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY Việt Nam học

Thoát Á luận – Fukuzawa Yukichi

Thoát Á luận – Fukuzawa Yukichi

Bản dịch Thoát Á Luận (toàn văn) mà chúng tôi sử dụng dưới đây là bản dịch của dịch giả Hải Âu và Kuriki Seiichi.Để giúp bạn đọc của Học Thế Nào hiểu rõ hơn về tác phẩm ngắn và quan trọng này, cũng như hiểu rõ hơn về tác giả, chúng tôi cũng đăng bài viết ngắn được viết riêng cho Học Thế Nào của dịch giả Hải Âu.
I. Một vài nét khái quát hoạt động của trí thức Nhật Bản giữa thế kỷ 19 – Minh Lục Xã và phong trào khai sáng ở Nhật Bản

Hải Âu

Tinh thần Đông Kinh Nghĩa Thục mà các tiền bối của chúng ta đưa vào Việt Nam chính là từ Fukuzawa và các cộng sự từ Đại học Keio Tokyo (Tokyo Keio Gijyuku Daigaku = Đông Kinh Khánh Ứng Nghĩa Thục Đại Học). Đây chính là tinh thần khai sáng, truyền bá văn minh, được bao gồm trong các tác phẩm của Fukuzawa:

Khuyến học

Văn Minh Khái Lược Chi Luận

Dân gian kinh tế luận

Thông tục dân quyền luận

Sự ra đời của Meirokusha (Minh Lục Xã, hội những người khai sáng/trí thức Nhật sáu năm kể từ năm Minh Trị thứ nhất 1868, tức là hội được thành lập năm 1874). Mục đích chính của hội Meirokusha là truyền bá văn minh và khai sáng, giới thiệu nền văn minh phương tây vào Nhật Bản từ những người trí thức Nhật đã từng đi nước ngoài hoặc du học nước ngoài. Hội có trên 10 thành viên sáng lập. Sau khi hội được thành lập đã tổ chức những cuộc họp và những buổi hội thảo, kết quả là nội dung cuộc họp và thảo luận được ghi lại thành tuyển tập Tạp chí Meiroku (Meiroku Zasshi). Tạp chí Meirokusha ra đời và tồn tại trong thời gian 2 năm và sau đó bị đóng cửa bởi Quy định xuất bản và Luật phỉ báng của Nhật năm 1875 (Press Ordinance and the Libel Law in 1875). Tuy nhiên sau khi tạp chí ngưng xuất bản, hội Meirokusha còn hoạt động cho đến năm 1900. Vai trò củaMeirokusha có thể đi xa hơn nếu Nhật Bản có luật báo chí cởi mở hơn và tạp chí Meiroku Zasshi có thể tồn tại lâu hơn.

Lời phát biểu cho sự ra đời tạp chí “Meiroku Zasshi” của nhóm Meirokusha “Chúng ta những người cùng chí hướng tập trung lại trong thời gian gần đây thi thoảng thảo luận lý do và thi thoảng thuyết trình về tin tức ngoại quốc. Một mặt chúng ta đang mài rũa  trí tuệ học vấn mặt khác chúng ta đang rèn luyện trí óc. Việc ghi lại những thảo luận này được gộp lại thành một tuyển tập (tạp chí) chúng ta sẽ in ra và phân phát cho những người có cùng quan tâm. Chúng ta sẽ thấy hạnh phúc nếu như tuyển tập tạp chí dù nhỏ bé này góp phần đẩy mạnh được sự khai sáng trong nhân dân chúng ta.”

Càng tìm hiểu về Nhật Bản càng thấy sự khác biệt rất lớn giữa trí thức Nhật và trí thức Việt Nam. Những vấn đề mà trí thức Nhật Bản trao đổi thời gian đầu thời kỳ Meiji được tóm tắt trong 43 số của Tạp chí Meiroku (Meiroku Zasshi) – Tạp chí khai sáng Nhật Bản. Tôi cho rằng sự phát triển Nhật Bản là sự đồng thuận của chính phủ Nhật Bản và trí thức Nhật Bản.

So với nước ta, chúng ta mất/thiếu sự đồng thuận giữa quan chức chính phủ và trí thức cho nên mấy ngàn năm nay chưa có được sự phát triển vượt trội so với các nước trong khu vực, chiến tranh liên miên chống ngoại xâm, nội chuyến liên miên… rồi từ sau 1975 cho đến tận bây giờ lòng người Việt Nam còn ly tán, chưa có được cuộc hòa giải dân tộc, cho nên Việt Nam khó có thể phát triển mạnh trở thành con rồng Châu Á được. Việt Nam chỉ cần làm sao đuổi kịp và vượt một số nước như Thái Lan, Malaysia, Indonesia và China đã là một kỳ tích.

Những nét đại cương chính trong sự phát triển của Nhật Bản thế kỷ 19: tiếp thu làn sóng văn minh và khai sáng phương tây, thay đổi tư duy từ đóng cửa sang mở cửa đất nước, cải cách giáo dục, tiếp thu khoa học kỹ thuật phương tây, cải cách chính trị và hệ thống luật pháp, phát triển hải quân và kinh tế biển, tăng cường vai trò phát triển kinh tế tư nhân và vai trò của phụ nữ. Vai trò của trí thức Nhật Bản và giai cấp lãnh đạo đồng hành với nhau.

Sự tiếp thu văn minh phương tây và làn sóng khai sáng của trí thức Nhật trong thế kỷ 19 được Fukuzawa Yukichi thể hiện qua tác phẩm “Khái quát lý thuyết văn minh” của mình là tri thức quan trọng hơn đạo đức, đạo đức công (tinh thần vì quốc gia) quan trọng hơn đạo đức riêng, tri thức công (dân trí, thước đo mặt bằng tri thức của quốc gia tức là của nhiều người trong một nước) quan trọng hơn tri thức riêng (tri thức của cá nhân dù có cao siêu nhưng thiếu sức mạnh cho sự phát triển quốc gia). Nghĩa là sự phát triển của đất nước được dựa trên tinh thần đại đoàn kết, tập thể vì lợi ích quốc gia, trong việc tiếp thu văn minh, khai sáng và truyền bá văn minh trong dân chúng của cả trí thức và lãnh đạo, có thể ví như tinh thần “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại lên hòn núi cao” trong mọi lĩnh vực.

Những gì về văn minh phương tây mà Fukuzawa Yukichi nhận được từ những người Âu Mỹ thể hiện trong nhận xét của ông (1875) khi so sánh với những gì của Nhật có:

“Sau khi Perry  đến và chính quyền Tokugawa ký hiệp định với các cường quốc người ta quan sát sự sắp xếp của chính phủ và nhận thấy lần đầu tiên sự sắp xếp đó mới ngu xuẩn và yếu kém nhường nào. Cũng khi tiếp xúc với người nước ngoài, lắng nghe họ nói, đọc các sách phương Tây và dịch sách mới thấy kiến thức rộng mênh mông nhường nào, lúc đó người ta [người Nhật] mới nhận thấy rằng ngay cả chính phủ “ma quỷ hay thánh thần” gì nữa cũng có thể bị sụp đổ bởi nỗ lực của loài người. Có lẽ đó là lúc mà người điếc và người mù mới vểnh tai và mắt lên để có thể nghe và nhận thấy những âm thanh và màu sắc… Cuộc tiếp xúc với người phương Tây lần đầu tiên trong lịch sử [Nhật Bản], và đó là những gì ví như người Nhật bước ra từ trong sự câm lặng tăm tối của đêm đen sâu thẳm vào một trạng thái vui mừng reo hò dưới ánh sáng chói lòa của một ngày đẹp trời. Những gì mà họ [người Nhật] nhìn thấy hoàn toàn khác lạ và không giống với những gì trong tiềm thức của họ [người Nhật].” (Theo bản dịch của Albert M. Craig, Civilization and Enlightenment – The Early Thought of Fukuzawa Yukichi).

 

II. Thoát Á Luận

Fukuzawa Yukichi

Đường giao thông trên thế giới là phương tiện để làn gió của văn minh phương Tây thổi vào phương Đông. Khắp mọi nơi, không có cỏ cây nào có thể ngăn được làn gió văn minh này. Thử nghĩ mà xem, những người phương Tây từ thời cổ kim đến nay đều có cùng dòng dõi giống nhau và họ không khác nhau nhiều lắm. Nếu ngày xưa họ chậm chạp thì ngày nay họ di chuyển hoạt bát và nhanh chóng hơn chính là vì họ lợi dụng được thế mạnh của phương tiện giao thông đó mà thôi. Đối với chúng ta, những người sống ở phương Đông, trừ khi chúng ta có quyết tâm vững chắc muốn chống lại xu thế văn minh phương Tây thì chúng ta mới có thể chống đỡ được, còn nếu không tốt nhất là chúng ta hãy cùng chia sẻ chung số mệnh với nền văn minh ấy. Nếu chúng ta quan sát kĩ lưỡng tình hình thế giới hiện nay, chúng ta sẽ nhận thấy được rằng chúng ta không thể nào chống lại được sự tấn công dữ dội của nền văn minh ấy. Vậy tại sao chúng ta không cùng nhau bơi nổi trên biển văn minh ấy, cùng nhau tạo ra một làn sóng văn minh ấy, cùng nhau nỗ lực xây dựng và hưởng lạc những thành quả của nền văn minh ấy?

Làn gió văn minh như là sự lan truyền của dịch bệnh sởi. Hiện giờ dịch bệnh sởi khởi phát từ vùng miền tây ở Nagasaki đang lan truyền về phía đông tới vùng Tokyô nhờ tiết trời ấm áp của mùa xuân. Thời điểm này chúng ta sợ sự lan truyền của dịch bệnh này thì phải tìm phương thuốc, nhưng liệu có phương thuốc nào có thể ngăn chặn sự lây lan này không? Tôi có thể chứng minh rằng chúng ta không có một phương thuốc nào ngăn chặn được dịch bệnh cả. Cho dù chúng ta có ngăn chặn được dịch bệnh có thể lây lan này thì hậu quả là con người chúng ta sẽ chỉ có hư hỏng mà thôi. Trong nền văn minh ấy có cả lợi lẫn hại song song, nhưng lợi luôn nhiều hơn hại, sức mạnh của những điều lợi đó không gì có thể ngăn cản được. Đó chính là điểm mà tôi muốn nói rằng chúng ta không nên tìm cách ngăn cản lại sự lan truyền của nền văn minh ấy. Là những người trí thức, chúng ta hãy góp sức giúp cho sự lan truyền của làn sóng văn minh đó tới toàn dân trong nước để họ thấy được và làm quen với nền văn minh ấy càng sớm càng tốt. Làm được như vậy chính là sự nghiệp của những người trí thức.

Nền văn minh phương Tây đang xâm nhập vào Nhật Bản và có thể tính bắt đầu từ chính sách mở cửa của nước nhà vào thời Gia Vĩnh (Kaei, 1848-1854). Người dân trong nước bắt đầu biết đến những giá trị hữu ích của nền văn minh ấy, và đang dần dần tích cực hướng tới tiếp nhận nền văn minh ấy. Nhưng con đường tiến bộ tiếp cận nền văn minh đang bị cản trở bởi chính phủ già nua lỗi thời. Cho nên đó là vấn đề không thể giải quyết được. Nếu chúng ta duy trì chính phủ hiện nay thì nền văn minh chắc chắn không thể xâm nhập vào được. Đó là vì nền văn minh hiện đại không thể song song tồn tại được cùng với những truyền thống Nhật Bản. Nếu chúng ta tìm cách thoát ra khỏi những truyền thống cũ kĩ đó thì đồng nghĩa với việc phải hủy bỏ chính phủ đương thời đi. Thế thì đương nhiên nếu chúng ta ngăn cản lại nền văn minh đang xâm nhập vào Nhật Bản thì chúng ta không thể giữ gìn được nền độc lập của chúng ta. Dù thế nào đi chăng nữa thì sự náo động mãnh liệt của nền văn minh thế giới không cho phép vùng Đảo Đông Á cứ tiếp tục ngủ trong sự cô độc nữa.

Trong thời điểm hiện nay, những sĩ phu Nhật Bản chúng ta hãy dựa trên cơ sở đại nghĩa “coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ”, thêm nữa chúng ta có cơ may được dựa trên thánh chỉ tôn nghiêm của Thiên Hoàng, nhất định chúng ta phải từ bỏ chính phủ cũ, thành lập chính phủ mới, không phân biệt quan lại triều đình và thần dân, toàn dân trong nước tiếp thu nền văn minh hiện đại phương Tây. Nếu chúng ta làm được như vậy, chúng ta không những có thể thoát ra khỏi sự trì trệ lạc hậu cũ kĩ của nước Nhật Bản mà còn có thể đặt lại được một trật tự mới trên toàn Châu Á. Chủ trương của tôi chỉ gói gọn trong hai chữ “Thoát Á”.

Nước Nhật Bản chúng ta nằm tại miền cực đông Châu Á, giá như chúng ta có tinh thần dân tộc thoát ra khỏi những thói quen cổ hủ của Châu Á mà tiếp cận tới nền văn minh phương Tây thì chúng ta đã có thể hoà nhập với nền văn minh phương Tây rồi. Tuy nhiên, thật không may cho Nhật Bản chúng ta, bên cạnh nước chúng ta có hai nước láng giềng, một nước gọi là Chi Na (Trung Quốc), một nước gọi là Triều Tiên. Cả hai dân tộc của hai nước này giống như dân tộc Nhật Bản chúng ta đều được nuôi dưỡng theo phong tục tập quán, tinh thần và nền giáo dục chính trị kiểu Châu Á cổ lai hi. Tuy nhiên, có lẽ do nhân chủng khác nhau, hoặc do quá trình di truyền khác nhau, hoặc do nền giáo dục khác nhau nên có sự khác biệt đáng kể giữa ba dân tộc. Dân tộc Trung Quốc và Triều Tiên giống nhau nhiều hơn và không có nhiều điểm giống với dân tộc Nhật Bản. Cả hai dân tộc này đều không biết đường lối phát triển quốc gia tự lập.

Ngày nay trong thời đại phương tiện giao thông tiện lợi, cả hai dân tộc không thể không nhìn thấy được sự hiện hữu của nền văn minh phương Tây. Nhưng họ lại cho rằng những điều mắt thấy tai nghe về nền văn minh phương Tây như vậy cũng không làm họ động tâm động não. Suốt hàng nghìn năm họ không hề thay đổi và vẫn quyến luyến với những phong tục tập quán cũ kĩ bảo thủ. Giữa thời buổi văn minh mới mẻ và đầy khí thế ngày nay mà khi bàn luận về giáo dục thì họ thường lên tiếng giữ gìn nền giáo dục Nho học (Hán học), bàn về giáo lý của trường học thì họ chỉ trích dẫn những lời giáo huấn “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí”, và chỉ phô trương coi trọng hình thức bên ngoài giả tạo, thực chất họ coi thường chân lí và nguyên tắc, còn đạo đức thì hung hăng tàn bạo và vô liêm xỉ không lời nào tả xiết, đã vậy họ lại còn kiêu căng tự phụ.

Theo đánh giá của tôi, trong tình hình lan truyền mạnh mẽ của nền văn minh phương Tây sang phương Đông như hiện nay, hai nước ấy không thể giữ gìn được nền độc lập. Nếu trong hai nước ấy, xuất hiện những nhân tài kiệt xuất mở đầu bằng công cuộc khai quốc, tiến hành cuộc đại cải cách chính phủ của họ theo quy mô như phong trào Duy Tân (Minh Trị Duy Tân) của chúng ta, rồi cải cách chính trị, đặc biệt là tiến hành các hoạt động đổi mới nhân tâm và cách suy nghĩ thì may ra họ mới giữ vững được nền độc lập, còn nếu không làm được như vậy thì chắc chắn chỉ trong vòng vài năm tới hai nước sẽ mất, đất đai của các hai nước ấy sẽ bị phân chia thành thuộc địa của các nước văn minh khác trên thế giới. Vậy lý do tại sao? Đơn giản thôi, vì tại thời điểm mà sự lan truyền của nền văn minh và phong trào khai sáng (bunmei kaika) giống như sự lan truyền bệnh sởi, hai nước Trung Quốc và Triều Tiên đã chống lại quy luật lan truyền tự nhiên ấy của nền văn minh. Họ quyết liệt tìm cách chống lại sự lan truyền nền văn minh ấy ví như họ tự đóng chặt cửa sống trong phòng khép kín không có không khí lưu thông thì sẽ bị chết ngạt.

Tục ngữ có câu “môi hở răng lạnh”, nghĩa là các nước láng giềng không thể tách rời được nhau và giúp đỡ lẫn nhau, nhưng hai nước Trung Quốc và Triều Tiên trong thời điểm hiện nay không đóng vai trò giúp đỡ một chút nào cho nước Nhật chúng ta cả. Dưới nhãn quan của người phương Tây văn minh, họ nhìn vào những gì có ở hai nước Trung Quốc và Triều Tiên thì sẽ đánh giá nước Nhật chúng ta cũng giống hai nước ấy, có nghĩa là họ đánh giá ba nước Trung Hàn Nhật giống nhau vì ba nước cùng chung biên giới. Lấy ví dụ, chính phủ Trung Quốc và Triều Tiên chuyên chế cổ phong và không có hệ thống pháp luật nên người phương Tây cũng nghĩ rằng Nhật Bản chúng ta cũng là một nước chuyên chế và không có luật pháp. Các sĩ phu hai nước Trung Quốc và Triều Tiên mê tín hủ lậu không biết đến khoa học là gì thì học giả phương Tây nghĩ Nhật Bản chúng ta cũng chỉ là một nước âm dương ngũ hành. Nếu người Trung Quốc hèn hạ không biết xấu hổ thì nghĩa hiệp của người Nhật cũng bị hiểu nhầm. Nếu ở Triều Tiên có hình phạt thảm khốc thì người Nhật cũng bị người phương Tây coi là không có lòng nhân ái.

Chúng ta có thể nêu ra biết bao nhiêu ví dụ cũng không hết được. Lấy những ví dụ này, tôi ví trường hợp nước Nhật Bản bên cạnh các nước Trung Quốc và Triều Tiên không khác gì trường hợp trong một làng có một người sống bên cạnh toàn những người ngu đần, vô trật tự, hung bạo và nhẫn tâm thì dù người đó có là người đúng đắn lương thiện đến đâu đi chăng nữa cũng bị nhiều người khác cho rằng là “cá mè một lứa”, cũng chẳng khác gì những người hàng xóm. Khi những vụ việc rắc rối này sinh sôi nảy nở có thể gây ảnh hưởng trở ngại lớn tới con đường ngoại giao của chúng ta. Thực tế này là một đại bất hạnh cho nước Nhật Bản!

Vì vậy, nhằm thực hiện sách lược của chúng ta thì chúng ta không còn thời gian chờ đợi sự khai sáng (enlightenmentbunmei kaika) của các nước láng giềng Châu Á để cùng nhau phát triển được mà tốt hơn hết chúng ta hãy tách ra khỏi hàng ngũ các nước Châu Á, đuổi kịp và đứng vào hàng ngũ các nước văn minh phương Tây. Chúng ta không có tình cảm đối xử đặc biệt gì với hai nước láng giềng Trung Quốc và Triều Tiên cả, chúng ta hãy đối xử với hai nước như thái độ của người phương Tây đối xử. Tục ngữ có câu “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, nghĩa là nếu chúng ta chơi với những người bạn xấu, thì chúng ta cũng trở thành người xấu. Đơn giản là chúng ta đoạn tuyệt kết giao với những người bạn xấu ở Châu Á!

(Bản dịch sửa xong ngày 04/10/2005)

 

Tài liệu tham khảo:

Bản tiếng Nhật: http://www.chukai.ne.jp/~masago/datuaron.html

Bản tiếng Nhật của Đại học Keio:http://www.jca.apc.org/kyoukasyo_saiban/datua2.html

Bản dịch tiếng Anh: David Lu, ed., Japan: A Documentary History (Amonk, New York: M.E. Sharpe, 1997), pp.351-353.http://www2.chass.ncsu.edu/ambaras/hi233/Readings/Fukuzawa1885.htm

Nguồn:

http://hocthenao.vn/2013/10/25/thoat-a-luan-fukuzawa-yukichi-hai-au-va-kuriki-seiichi-dich/