Browsing Category

Do Thái giáo

Do Thái giáo

Vì sao người Do Thái thông minh nhất thế giới?

Từ ngàn xưa, người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được.

Vì sao người Do Thái thông minh nhất thế giới?

Trong lịch sử, người Do Thái được biết đến là một sắc tộc tôn giáo có nguồn gốc từ Israel. Dù hiện nay người Do Thái sống rải rác tại nhiều quốc gia khác nhau, nhưng chỉ có Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái.

Dân số người gốc Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng gần 13,8 triệu người (khoảng hơn 0,19% dân số thế giới – số liệu năm 2013), tức là cứ khoảng 517 người thì có 1 người Do Thái. Thế nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy, có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài người chỉ do 0,19% dân số đảm nhiệm. Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, Otto Frisch… đều là người Do Thái.

Vậy tại sao các thế hệ người Do Thái lại có được trí tuệ như vậy (chỉ số IQ trung bình của người Do Thái là 110 so với chỉ số trung bình 100 của thế giới)? Trong cuốn “Bí mật người Do Thái dạy con làm giàu” có đưa ra lời giải thích cụ thể cho vấn đề này.

Vai trò của bà mẹ Do Thái

Bà mẹ Do Thái dạy con từ khi mang thai. Các bà mẹ thường nghe nhạc, chơi đàn, hát và… làm toán cho đến khi sinh con ra. Các thai phụ làm vậy vì tin rằng cách đó sẽ làm đứa bé sau này trở nên thông minh. Người mẹ chọn ăn hạnh nhân, chà là, uống dầu cá và ăn cá nhưng tránh ăn đầu cá vì tin rằng tất cả điều đó sẽ giúp cho con trở nên thông thái.

Từ lúc còn ẵm ngửa đứa bé, bà mẹ đã tạo cho con thói quen thích sách bằng cách dùng mẹo nhỏ vài giọt mật lên cuốn sách và cho bé liếm. Khi đó, trong nhận thức non nớt của đứa trẻ, sách là cái gì đó rất ngọt ngào, hấp dẫn.

Ủy ban công nghiệp thành phố New York (Mỹ) có cuộc điều tra nguồn nhân lực vào năm 1950 và nhận thấy có sự khác biệt lớn về việc đi làm công nhân giữa phụ nữ Ý với phụ nữ Do Thái. Phụ nữ Ý thường phải đi làm và còn bắt con nghỉ học để đi làm phụ cha mẹ, các bà mẹ Do Thái thì ngược lại. Dù kinh tế khó khăn, họ vẫn ở nhà để nuôi dạy con, dồn hết trách nhiệm kiếm sống cho chồng – người ban ngày đi làm nhưng tối về có nghĩa vụ học và dạy cho con học.

Nhờ sự chăm sóc, động viên của cha mẹ mà học sinh Do Thái nổi tiếng trong trường về thành tích học tập và tính chuyên cần, khác hẳn với học sinh nhiều dân tộc khác. Vào năm 1954, hệ thống trường công của thành phố New York thống kê được 28 học sinh có chỉ số IQ cực cao lên tới 170 điểm, thì trong đó 24 là học sinh Do Thái. Ngoài ra, những người này còn quan niệm điểm không quan trọng bằng cách học, mà đã học thì phải hỏi. Chính vì vậy, học sinh Do Thái được khuyến khích đặt thật nhiều câu hỏi cho giáo viên.

Cũng theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích bộ não và đó là lý do vì sao có rất nhiều thiên tài người Do Thái…

Hệ thống giáo dục phổ thông

Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em gồm kinh doanh, toán học, khoa học. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn súng, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác.

Ở trường trung học, học sinh sẽ giảm dần việc học khoa học mà sẽ học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào những kiểu bài tập thực tế như vậy. Dù một số dự án/bài tập có vẻ nực cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc đặc biệt nếu đó là những môn thuộc về vũ khí, y học, kỹ sư, ý tưởng sẽ được giới thiệu lên các viện khoa học hoặc trường đại học.

Khoa kinh doanh cũng được chú trọng ưu tiên. Trong năm cuối ở trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ hoàn thành nếu nhóm của họ (khoảng 10 người/nhóm) có thể tạo ra lợi nhuận 1 triệu USD. Đừng ngạc nhiên, đây là thực tế và đó là lý do vì sao một nửa hoạt động kinh doanh trên thế giới là của người Do Thái.

Xã hội Do Thái từ rất sớm đã coi trọng việc xóa mù chữ, sách và người có học thức

Dân tộc Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới – từ năm 64 đầu Công nguyên – mà nhà thờ quy định tất cả nam giới phải biết đọc viết và tính toán; sang thế kỷ thứ 2 thì bắt buộc mọi đàn ông phải có nghĩa vụ dạy con trai mình đọc, viết, tính toán. Như vậy họ đã thực hiện phổ cập giáo dục cho nam giới trước các dân tộc khác mười mấy thế kỷ.

Israel cũng là nước đứng đầu thế giới về dân số từ 14 tuổi đọc sách, đứng đầu về số đầu sách xuất bản theo đầu dân. Không một người Do Thái thành đạt nào lại không tranh thủ thời gian để đọc, để học, để làm giàu hiểu biết.

Như vậy, từ ngàn xưa người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được. Và đây nhân tố quan trọng giúp người Do Thái đạt được trí thông minh vượt bậc so với phần còn lại của thế giới.

Phương Linh (Tổng hợp)

Theo Trí Thức Trẻ

Do Thái giáo

Vì sao người Do Thái giỏi làm kinh tế?

 

Print Friendly

wedding_hats_2139761b

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Giỏi thực hành và giỏi cả lý thuyết kinh tế

Ai cũng biết người Do Thái từ xưa đến nay đều rất giỏi làm kinh tế. Nếu không thì họ không thể nào tồn tại nổi trong suốt 2.000 năm bị trục xuất ra khỏi tổ quốc mình, phải sống lưu vong khắp thế giới, phần lớn đi tới đâu cũng bị hắt hủi, xua đuổi thậm chí hãm hại, tàn sát, bị cấm sở hữu bất cứ tài sản cố định nào như nhà đất, tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, nguyên vật liệu …). Cho tới năm 1948 dân tộc lưu vong này mới được Liên Hợp Quốc chỉ định cho một “mảnh đất cắm dùi” rộng 20.770 km2 – tức nước Israel hiện nay, nơi tập trung khoảng 43% trong tổng số 13,9 triệu người Do Thái trên toàn thế giới.

Israel nghèo tài nguyên, thiếu cả nước ngọt, lại luôn luôn sống trong tình trạng bất ổn do bị các nước A Rập xung quanh đe dọa chiến tranh, nhưng người dân nước này đã vượt qua mọi khó khăn xây dựng được một nền kinh tế phát triển. GDP bình quân đầu người năm 2014 đạt 32.700 USD, cao thứ 50 trên thế giới, là nước có mức sống cao ở vùng Trung Đông và châu Á.[1] 

Cộng đồng Do Thái ở Mỹ có 5,7 triệu người, chiếm 40% tổng số người Do Thái trên toàn thế giới, là quần thể dân tộc thiểu số thành công nhất, có mức sống bình quân cao hơn mức trung bình của dân Mỹ. Dù chỉ chiếm khoảng 1,7~2,6% số dân nước Mỹ (số liệu 2012; tùy định nghĩa thế nào là người Do Thái) nhưng người Do Thái chiếm khoảng một nửa số doanh nhân giàu nhất Mỹ. Họ nắm giữ phần lớn nền kinh tế tài chính nước này, tới mức người Mỹ có câu nói “Tiền nước Mỹ nằm trong túi người Do Thái”. Nhờ thế trên vấn đề Trung Đông chính phủ Mỹ xưa nay luôn bênh vực và viện trợ Israel những khoản tiền khổng lồ.[2]

Trong 50 người giàu nhất thế giới hiện nay do tạp chí Forbes đưa ra (3/2015) có tới 10 người Do Thái.[3] Đó là :

  • Larry Ellison, tài sản 54,2 tỷ USD, nhà sáng lập và CEO Oracle Corp., giàu thứ 3 nước Mỹ
  • Michael Bloomberg, 35,5 tỷ USD
  • Mark Zuckerberg, 33,4 tỷ USD, tỷ phú trẻ nhất thế giới (sinh 1984)
  • Sheldon Adelson, 32,4 tỷ USD, vua casino
  • Sergey Brin và Larry Page (29,2 và 29,7 tỷ USD), đồng sáng lập Google
  • George Soros, 24,2 tỷ USD, nhà đầu tư và từ thiện
  • Carl Icahn, 23,5 tỷ USD, nhà đầu tư và từ thiện
  • Len Blavatnik, 20,2 tỷ USD, người giàu nhất nước Anh (sinh tại Liên Xô cũ),
  • Michael Dell, nhà sáng lập Dell Computer Founder.

Rất nhiều nhà lý thuyết kinh tế hàng đầu thế giới là người Do Thái, các lý thuyết họ xây dựng nên đã ảnh hưởng to lớn nếu không nói là quyết định tới tiến trình tiến hóa của nhân loại:

  • Karl Marx[4] người xây dựng học thuyết kinh tế chủ nghĩa cộng sản sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản, được gọi là một trong hai người Do Thái làm đảo lộn cả thế giới (người kia là Jesus Christ);
  • Trong tổng số 74 chủ nhân giải Nobel kinh tế thời gian 1969-2014, có 22 là người Do Thái, chiếm tỷ lệ gần 30%, dù người Do Thái chỉ chiếm 0,19 % số dân toàn cầu. Chẳng hạn Paul Samuelson (1970), Milton Friedman (1976) và Paul Krugman (2008)… là những tên tuổi quen thuộc trong giới kinh tế thế giới hiện nay, các lý thuyết của họ được cả thế giới thừa nhận và học tập, áp dụng…
  • Từ năm 1987 tới nay có ba người Do Thái kế tiếp nhau làm Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed, tức Ngân hàng Trung ương Mỹ), cơ quan nắm quyền sinh sát trong giới tài chính Mỹ và thống trị lĩnh vực tài chính tiền tệ toàn cầu. Đó là ông Alan Greenspan 19 năm liền (2/1987-2/2006) được 4 đời Tổng thống Mỹ tín nhiệm cử vào chức vụ này. Tiếp sau là ông Ben Bernanke (nhiệm kỳ 2/2006-2/2014) và bà Janet Yellen (từ 2/2014 tới nay).
  • Paul Wolfowitz cùng người tiền nhiệm James D. Wolfensohn, hai cựu chủ tịch Ngân hàng Thế giới, tổ chức tài chính có tác dụng rất lớn đối với các nước đang phát triển, đều là người Do Thái.

Nhiều nhà giàu nổi tiếng thế giới từng tác động không nhỏ tới chính trị, kinh tế nước Mỹ và thế giới là người Do Thái. Đơn cử vài người:

  • Jacob Schiff (1847-1920), chủ nhà băng ở Đức, sau sang Mỹ định cư; năm 1904 do căm ghét chính quyền Sa Hoàng giết hại hàng trăm nghìn dân Do Thái ở Nga, ông đã cho chính phủ Nhật vay 200 triệu USD (một số tiền cực kỳ lớn hồi ấy) để xây dựng hải quân, nhờ đó Nhật thắng Nga trong trận hải chiến Nhật-Nga năm 1905. Nhớ ơn này, trong Thế chiến II phát xít Nhật đã không giết hại người Do Thái sống ở Trung Quốc, tuy đồng minh số một của Nhật là phát xít Đức có nhờ Nhật “làm hộ” chuyện ấy. Schiff là người nước ngoài đầu tiên được Nhật Hoàng Minh Trị tiếp kiến tại Hoàng cung Nhật.
  • George Soros, nổi tiếng về ý tưởng đầu tư và làm từ thiện quy mô lớn, từng làm chao đảo thị trường tài chính toàn cầu.
  • Michael Blooomberg, sáng lập và sở hữu 88% Bloomberg L.P., một công ty truyền thông về tin tức tài chính và dịch vụ thông tin. Blooomberg từng trúng cử liền 3 khóa thị trưởng thành phố New York (2002-2013) với mức lương tượng trưng mỗi năm 1 USD và là chủ kênh truyền hình Bloomberg nổi tiếng trong giới kinh tế thế giới.

Nguyên nhân sâu xa

Vì sao người Do Thái lại giỏi làm kinh tế, tài chính trên cả hai mặt lý thuyết và thực hành như vậy?

Lịch sử cho thấy yếu tố quyết định thành công của một dân tộc bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của họ.

Để tìm hiểu truyền thống văn hóa của dân tộc này có lẽ ta cần tìm hiểu các nguyên tắc chính của đạo Do Thái (Judaism), tôn giáo lâu đời nhất thế giới còn tồn tại tới ngày nay và là chất keo bền chắc gắn bó cộng đồng, khiến dân tộc này giữ gìn được nguyên vẹn nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa mặc dù phải sống phân tán, lưu vong và bị kỳ thị, xua đuổi, hãm hại, tàn sát dã man trong suốt 2.000 năm qua. Có thể nói, nếu không có chất keo ấy thì từ lâu dân tộc Do Thái đã bị tiêu diệt hoặc đồng hóa và biến mất khỏi lịch sử. Đạo Do Thái là tôn giáo duy nhất thành công trên cả hai mặt: giữ được sự tồn tại của dân tộc và hơn nữa đưa họ vươn lên hàng đầu thế giới trên hầu hết các lĩnh vực trí tuệ.

Muốn vậy, ta thử điểm qua vài nét về Kinh thánh của người Do Thái (Hebrew Bible) – hơn 10 thế kỷ sau kinh điển này được đạo Ki-tô lấy nguyên văn làm phần đầu Kinh Thánh của họ và gọi là Cựu Ước, nhằm phân biệt với Tân Ước do các nhà sáng lập Ki-tô giáo viết. Cũng cần xem xét một kinh điển nữa của đạo Do Thái là Kinh Talmud, quan trọng hơn cả Cựu Ước, có đưa ra nhiều nguyên tắc cụ thể cho tới nay vẫn còn giá trị về kinh doanh, buôn bán.

Trước hết người Do Thái có truyền thống coi kiến thức trí tuệ là thứ quý nhất của con người. Kinh Talmud viết: Tài sản có thể bị mất, chỉ có tri thức và trí tuệ thì mãi mãi không mất đi đâu được. Các ông bố bà mẹ Do Thái dạy con: Của cải, tiền bạc của chúng ta đều có thể bị kẻ khác tước đoạt nhưng kiến thức, trí tuệ trong đầu óc ta thì không ai có thể cướp nổi. Với phương châm đó, họ đặc biệt coi trọng việc giáo dục, dù khó khăn đến đâu cũng tìm cách cho con học hành. Ngoài ra họ chú trọng truyền cho nhau các kinh nghiệm làm ăn, không bao giờ giấu nghề. Người Do Thái có trình độ giáo dục tốt nhất trong các cộng đồng thiểu số ở Mỹ.

Thứ hai, đạo Do Thái đặc biệt coi trọng tài sản và tiền bạc. Đây là một điểm độc đáo khác hẳn quan điểm của đạo Ki-tô, đạo Phật, đạo Khổng, ta cần phân tích thêm.

Có lẽ sở hữu tài sản là một trong các vấn đề quan trọng nhất của đời sống loài người, là nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa con người với nhau và chiến tranh giữa các quốc gia. Hegel, đại diện nổi tiếng nhất của triết học cổ điển Đức từng nói: “Nhân quyền nói cho tới cùng là quyền về tài sản.” Rõ ràng, chỉ khi nào mọi người đều có tài sản, đều giàu có thì khi ấy mới có sự bình đẳng đích thực, toàn dân mới có nhân quyền. Một xã hội có phân hóa giàu nghèo thì chưa thể có bình đẳng thực sự. Đạo Do Thái rất chú trọng nguyên tắc làm cho mọi người cùng có tài sản, tiền bạc, cùng giàu có, tức cùng có nhân quyền và thực sự bình đẳng với nhau.

Triết gia Max Weber viết: “Đạo Ki-tô không làm tốt bằng đạo Do Thái, vì họ kết tội sự giàu có.” Quả vậy, Chúa Jesus từng nói: “Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Chúa” (Tân Ước, Mathew 19:24), ý nói ai giàu thì khó lên thiên đường, ai nghèo thì dễ lên thiên đường hơn – qua đó có thể suy ra đạo Ki-tô thân cận với người nghèo khổ, là tôn giáo của người nghèo. Khổng giáo và đạo Phật lại càng khinh thường tài sản, tiền bạc, coi nghèo là trong sạch, giàu là bẩn thỉu.

Ngược lại Cựu Ước ngay từ đầu đã viết: “Vàng ở xứ này rất quý” (Genesis 2:12). Ý tưởng quý vàng bạc, coi trọng tài sản vật chất đã ảnh hưởng lớn tới người Do Thái, họ đều muốn giàu có.

Khái niệm tài sản xuất hiện ngay từ cách đây hơn 3.000 năm khi vua Ai Cập bồi thường cho Abraham vị tổ phụ của bộ lạc Do Thái, khiến ông này “có rất nhiều súc vật, vàng bạc” (Genesis 13:2). Thượng Đế yêu cầu Abraham phải giàu để có cái mà thờ cúng Ngài.

Thượng Đế Jehovah cho rằng sự giàu có sẽ giúp chấm dứt nạn chém giết nhau. Khi Moses dẫn dân Do Thái đi khỏi Ai Cập cũng mang theo rất nhiều súc vật. Những người xuất thân gia đình giàu có hồi ấy như Jacob, Saul, David … đều được Cựu Ước ca ngợi là có nhiều phẩm chất tốt, lắm tài năng, lập được công trạng lớn cho cộng đồng dân tộc và đều trở thành lãnh đạo, vua chúa.

Ngược lại, văn hóa phương Đông thường ca ngợi phẩm chất của những người nghèo.

Trọng tiền bạc là đặc điểm nổi bật ở người Do Thái. Họ coi đó là phương tiện tốt nhất để bảo vệ mình và bảo vệ dân tộc họ. Quả vậy, không có tiền thì họ làm sao tồn tại nổi ở những quốc gia và địa phương họ sống nhờ ở đợ, nơi chính quyền và dân bản địa luôn chèn ép, gây khó khăn. Hoàn cảnh ấy khiến họ sáng tạo ra nhiều biện pháp làm giàu rất khôn ngoan. Thí dụ cửa hiệu cầm đồ và cho vay lãi là sáng tạo độc đáo của người Do Thái cổ đại – về sau gọi là hệ thống ngân hàng. Buôn bán cũng là một biện pháp tồn tại khi trong tay không có tài sản cố định nào.

Người ta nói dân Do Thái có hai bản năng: thứ nhất là bản năng kiếm tiền; thứ hai là bản năng làm cho tiền đẻ ra tiền – họ là cha đẻ của thuyết lưu thông tiền tệ ngày nay mà chúng ta đều áp dụng với quy mô lớn.

Tuy vậy, sự quá gắn bó với tiền bạc là một lý do khiến người Do Thái bị chê bai. Ai từng đọc tiểu thuyết Ai-van-hô (Ivanhoe) của Walter Scott chắc còn nhớ mãi hình ảnh ông lão Do Thái Isaac (I-sắc) đáng thương, bố của nàng Rebecca xinh đẹp và thánh thiện, lúc nào cũng khư khư giữ túi tiền và bị hiệp sĩ Đầu Bò nhạo báng khinh bỉ thậm tệ. Các vở kịch của Shakespear đưa ra nhiều hình ảnh khiến người ta có cảm giác người Do Thái bần tiện, ích kỷ, xảo trá. Tập quán cho vay lãi của người Do Thái bị nhiều nơi lên án. Hệ thống cửa hiệu của người Do Thái ở Đức là đối tượng bị bọn Quốc Xã Hitler đập phá đầu tiên hồi thập niên 1930. Người Đức có câu ngạn ngữ “Chẳng con dê nào không có râu, chẳng người Do Thái nào không có tiền để dành.”

Karl Marx xuất thân gia đình khá giả, vợ ông cũng là con nhà quý tộc, nhưng ông không coi trọng đồng tiền. Marx từng nói: Đồng tiền là con đĩ của loài người.[5] Trong bài viết “Về vấn đề Do Thái” công bố năm 1843, ông mạnh mẽ công kích dân tộc Do Thái: “Sự sùng bái cá nhân của người Do Thái là gì? Lừa đảo. Đức Chúa Trời của họ là gì? Tiền!”.[6] Ông cho rằng tiền bạc là vị thần gắn bó với người Do Thái; xóa bỏ chủ nghĩa tư bản sẽ kéo theo sự xóa bỏ chủ nghĩa Do Thái. Như vậy nghĩa là Marx đã thừa nhận người Do Thái tham dự sáng lập ra chủ nghĩa tư bản, một chế độ xã hội mới thay thế chế độ phong kiến và làm nên phần chủ yếu trong cộng đồng quốc tế hiện nay. Quả thật, người Do Thái có đóng góp rất lớn về lý thuyết và thực hành trong việc xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Kinh Talmud viết: Mọi người phải yêu Thượng Đế với toàn bộ trái tim, cuộc đời và của cải của mình; mỗi người đều phải quan tâm tới tài sản; không ai được phép dùng tài sản của mình để làm hại kẻ khác và không ai được trộm cắp tài sản người khác; tài sản của một người nhưng không phải chỉ là của người đó mà phải dùng nó để giúp kẻ khác … Có thể hiểu “Yêu Thượng Đế với toàn bộ tài sản của mình” nghĩa là phải sử dụng tài sản riêng của mình theo lệnh Thượng Đế, nghĩa là phải chia bớt cho người nghèo. Quy ước này đã đặt nền móng cho tư tưởng nhân ái, bình đẳng của văn minh phương Tây. Từ đó ta dễ hiểu vì sao cộng đồng Do Thái ở đâu cũng giúp đỡ nhau để tất cả cùng giàu lên, không có ai nghèo khổ.

Đạo Do Thái coi làm giàu là bổn phận nặng nề của con người; nói “nặng nề” vì người giàu có trách nhiệm to lớn đối với xã hội: họ không được bóc lột người nghèo mà phải chia một phần tài sản của mình để làm từ thiện. Những người Do Thái giàu có luôn sống rất giản dị, tiết kiệm và năng làm từ thiện. Soros từng góp 4 tỷ USD (trong tổng tài sản 7 tỷ khi ấy) cho công tác từ thiện. Không một nhà giàu Do Thái nào không có quỹ từ thiện của mình. Từ đây có thể hiểu được tại sao cộng đồng Do Thái lại cùng giàu có như thế.

Người Do Thái luôn nghĩ rằng Thượng Đế giao cho họ nghĩa vụ và quyền làm giàu. Đây là động lực chủ yếu khiến họ ở đâu cũng lo làm giàu, không bao giờ chịu nghèo khổ. Hai nghìn năm qua, dù sống lưu vong ăn nhờ ở đợ các quốc gia khác và ở đâu cũng bị cấm sở hữu mọi tài sản cố định nhưng dân tộc này vẫn nghĩ ra nhiều cách kinh doanh hữu hiệu bằng các dịch vụ như buôn bán, dành dụm tiền để cho vay lãi …

Muốn làm giàu, điều cơ bản là xã hội phải thừa nhận quyền tư hữu tài sản.

Kinh Talmud viết: Ai nói “Của tôi là của tôi, của anh là của anh” (mine is mine and yours is yours) thì là người bình thường (average); nói “Của tôi là của anh, của anh là của tôi” thì là kẻ ngu ngốc; nói “Của tôi là của anh và của anh là của anh” thì là ngoan đạo (godly); ai nói “Của anh là của tôi và của tôi là của tôi” là kẻ xấu (evil). Nghĩa là họ thừa nhận quyền tư hữu tài sản là chính đáng, không ai được xâm phạm tài sản của người khác.

Tuy thừa nhận quyền sở hữu tài sản và luật pháp bảo vệ quyền đó, nhưng đạo Do Thái không thừa nhận quyền sở hữu tài sản tuyệt đối và vô hạn, cho rằng tất cả của cải đều không thuộc về cá nhân mà thuộc về Thượng Đế, mọi người đều chỉ là kẻ quản lý hoặc kẻ được ủy thác của cải đó. Tài nguyên thiên nhiên do Thượng Đế tạo ra là để ban cho tất cả mọi người, không ai có quyền coi là của riêng mình. Đây là một quan niệm cực kỳ tiến bộ và có giá trị hiện thực cho tới ngày nay: tài nguyên thiên nhiên, sự giàu có của đất nước là tài sản của toàn dân, tuyệt đối không được coi là của một số nhóm lợi ích hoặc cá nhân.

Kinh Talmud viết nhiều quy tắc hữu dụng về kinh doanh. Chẳng hạn: – Vay một quả trứng, biến thành một trại ấp gà;  – Mất tiền chỉ là mất nửa đời người, mất lòng tin (tín dụng) là mất tất cả;  – Nghèo thì đáng sợ hơn 50 loại tai nạn;  – Giúp người thì sẽ làm tăng tài sản; ki bo chỉ làm nghèo đi;  – Chỉ lấy đi thứ gì đã trả đủ tiền cho người ta;  – Biết kiếm tiền thì phải biết tiêu tiền;  v.v…

So sánh Cựu Ước và Talmud với Tân Ước, có thể thấy đạo Do Thái là tôn giáo của người muốn làm giàu, còn đạo Ki-tô là tôn giáo của người nghèo. Khác biệt căn bản ấy là một trong các lý do khiến Giáo hội Ki-tô ngày xưa khinh ghét người Do Thái (hy vọng trong một dịp khác chúng tôi sẽ trình bày về vấn đề này).

Từ sự phân tích sơ qua về quan điểm đối với tài sản và tiền bạc nói trên, có thể thấy hệ thống tư tưởng của đạo Do Thái rất phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và chính vì thế nó tạo dựng nên truyền thống văn hóa bất hủ của dân tộc Do Thái – nền móng vững chắc làm cho dân tộc này dù phải sống lưu vong không tổ quốc hàng nghìn năm nhưng cuối cùng vẫn là dân tộc thành công nhất trên hầu hết các hoạt động của loài người.

Đồng thời các nguyên lý chính của đạo Do Thái đã tác động không nhỏ tới giáo lý đạo Ki-tô và đạo Islam; hai tôn giáo lớn này đều có nguồn gốc từ đạo Do Thái.

Cuối cùng, nhờ có những điểm độc đáo nói trên, văn minh Do Thái của phương Đông trong quá trình giao lưu kết hợp với văn minh Hy-lạp của phương Tây đã sinh ra một nền văn minh mới – văn minh Ki-tô giáo, cuối cùng trở thành nền văn minh phương Tây rực rỡ mấy nghìn năm nay. Có lẽ đây là thành tựu đáng kể nhất mà nền văn minh Hebrew đã đóng góp cho nhân loại. Điều đáng nói là, do các nguyên nhân lịch sử phức tạp, lâu nay người ta đã coi nhẹ nền văn minh ấy, và bây giờ đã đến lúc loài người nên xem lại quan điểm này./.

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.

Xem thêm: Giải mã sự thành công của Israel và người Do Thái

——————–

[1] Theo The CIA World Factbook.

[2] Tham khảo: http://www.wrmea.org/2013-october-november/congress-watch-a-conservative-estimate-of-total-u.s.-direct-aid-to-israel-more-than-$130-billion.html

[3] Theo http://www.timesofisrael.com/10-jews-in-forbes-top-50-billionaires/  March 3, 2015

[4] K. Marx là một trong hai lãnh tụ cộng sản người Do Thái phủ nhận nguồn gốc này của mình [người kia là Lev Davidovich Trotsky, tức Лев Давидович Троцький, 1879-1940, lãnh tụ Đảng Cộng sản Bôn-sê-vich Nga]. Cha và mẹ Marx đều là người Do Thái. Cha ông có nguồn gốc nhiều đời là giáo sĩ Do thái, về sau đã cải đạo sang Tin Lành vì nếu không sẽ không được hành nghề luật sư (ở nước Phổ).

[5] Theo http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/con-di-cua-nhan-loai-da-ngu-tri-trai-dat-ra-sao

[6] Theo http://nghiencuuquocte.net/2014/05/20/marx-chong-lai-chu-nghia-tu-ban-p1/

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/10/12/vi-sao-nguoi-do-thai-gioi-lam-kinh-te/#sthash.Qx5fzjiK.dpuf

Do Thái giáo

Do Thái Giáo

Do Thái giáo

Ðôi nét Do Thái giáo

Tiểu luận
Ðôi nét Do Thái giáo
I. Lịch sử /II. Ðức Mô-se /III. Triết học Do thái giáo

 

I. Lịch sử

Tôn giáo của người Do Thái, với tâm điểm là niềm tin vào Ðức Giêhôva, đấng Thượng đế độc nhất, đấng tạo hóa siêu việt, đấng đã giải phóng dân tộc Israel khỏi những năm tháng câu thúc ở tại Ai Cập, qua *Mô-se, mạc khải cho họ lề luật (Torah) của ngài và chọn họ làm ánh sáng cho loài người; Kinh Thánh Híp-ri là nguồn chủ yếu của Do Thái giáo.

Kế đó là tầm quan trọng của sách Talmud bao gồm Mishnah (lề luật hóaTorah truyền khẩu) và một sưu tập lời chú giải bao quát của các thầy giảng thời sơ khai. Các ý kiến đa dạng về sau và bộ luật tiêu chuẩn của lề luật và nghi lễ (Halakhah) Do Thái được làm ra vào cuối thời Trung Cổ, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tư tưởng và thực hành Do Thái giáo.

Tuy bị phân tán thành những cộng đoàn đa dạng, hết thảy người Do Thái đều xem mình là thành viên của một cộng đồng có những nguồn gốc ăn sâu từ thời các tổ phụ. Quá khứ ấy tiếp tục sống trong những nghi lễ của nó, đồng thời có sở thích đặc trưng là tuyên xưng niềm tin và thái độ bằng nghi lễ hơn là bằng những học thuyết trừu tượng.

Gia đình là đơn vị căn bản của nghi lễ Do Thái giáo, dù hội đường (synagogue) càng ngày càng đóng vai trò quan trọng. Ngày Sabbath, bắt đầu lúc mặt trời lặn chiều thứ Sáu và kết thúc lúc mặt trời lặn chiều thứ Bảy, là tâm điểm của việc giữ đạo. Hội đường là trung tâm thờ phượng và học hỏi của cộng đồng. Ðặc điểm chủ yếu của nó là cái “hòm” (ark) nhỏ, chứa đựng các cuộn sách viết tay bộ Ngũ Kinh (Pentateuch) gồm các sách Sáng thế, Xuất hành, Lê-vi, Dân số và Ðệ nhị luật.

Thầy giảng (hay giáo sĩ, rabbi) chủ yếu là thầy giáo và là người hướng dẫn tâm linh. Quanh năm là chu kỳ lễ hội và chay tịnh. Lễ hội đầu tiên là Ngày đầu năm (Rosh Hashanah); ngày thiêng liêng nhất trong năm là Ngày Ðền tội (Yom Kippur). Các lễ hội hằng năm khác gồm lễ Lều (Hanukkah) và lễ hội Vượt qua (Pesach) cử hành trong gia đình.

Do Thái giáo thời hiện đại cắm rễ trong Do Thái giáo có tính thầy giảng và có sự khác biệt trong phát triển mang tính lịch sử. Ngày nay, hầu hết người Do Thái là hậu duệ của Ashkenazim hoặc Sephardim và mỗi nhánh có những đặc trưng văn hóa khác nhau.

Cũng có vài chi nhánh tôn giáo của Do Thái giáo. Do Thái giáo chính thống(Orthodox) tìm cách bảo tồn Do Thái giáo cổ truyền. Do Thái giáo Cải cách(Reform) thể hiện nỗ lực thông giải Do Thái giáo dưới ánh sáng của học vấn và tri thức hiện đại – xa thêm nữa, có tiến trình của Do Thái giáo Cấp tiến (Liberal). Do Thái giáo Bảo thủ (Conservative) nỗ lực làm dịu phái chính thống bằng cách nhấn mạnh các thành tố lịch sử tích cực của truyền thống Do Thái.

Thành kiến bài Do Thái và các giai đoạn bách hại là đặc điểm của văn hóa Kitô giáo tại châu Âu và gia tăng theo với sự phất lên của chủ nghĩa dân tộc châu Âu, cực điểm của nó là Cuộc Ðại tàn sát người Do Thái(Holocaust) của Ðức Quốc xã. Tác động của nó thật vô lượng, thúc bách Phong trào phục quốc Do Thái (Zionist movement) phải tạo lập một quê hương Do Thái và là mấu chốt cho mọi quan hệ giữa những người Do Thái và không Do Thái hôm nay. Giờ đây, có hơn 14 triệu người Do Thái.

 

II. Ðức Moses (k. tk 13 tr.C.N)

Thường đọc là Mô-se, người ban hành luật lệ Do Thái. Có lẽ ông chào đời tại Ai Cập. Moses là vị tiên tri đầu tiên trong các tiên tri Do Thái, và là thủ lãnh vào thế kỷ 13 trước C.N.đã dẫn dắt dân Israel thoát khỏi cảnh câu thúc tại Ai Cập, đi tới mấp mé vùng đất Canaan. Chuyện kể trong Kinh Thánh là nguồn thông tin về cuộc đời của Moses. Lúc mới sinh ra từ một phụ nữ Do Thái, ông được ơn thiêng liêng che chở để sống sót, làm con nuôi của một công chúa và được giáo dưỡng như một hoàng tử trong hoàng cung Ai Cập. Sau đó, vì bênh vực đồng bào mà ông phải bỏ hoàng cung, trốn tránh ra vùng hoang mạc làm người chăn cừu.

Theo sách Xuất hành 2-3, Moses nghe lời kêu gọi của Thiên Chúa từ một bụi gai đang bốc cháy, để lãnh đạo dân ngài đứng lên đòi hồi hương, ra khỏi Ai Cập và băng ngang sa mạc. Thượng đế công bố Lề luật qua của miệng Moses, không chỉ Mười giới răn và các bộ luật hình sự mà còn toàn bộ qui định về nghi lễ thờ phượng. Lúc ông đã già, khi dân Do Thái tớiJordan, sẵn sàng để vào Ðất hứa, Thượng đế cho ông lên núi cao đứng ngắm toàn cảnh đất ấy, nhưng không được vào; ông qua đời và được chôn cất tại Moab.

Mọi chi tiết về cuộc sống và công nghiệp của Moses được kể lại trong các sách Xuất hành, Lê-vi, Dân số và Ðệ nhị luật mà từ ba ngàn năm trước, đã xem ông là người biên soạn; ông cũng được qui cho là tác giả của sáchSáng thế. Do đó, năm cuốn ấy được gọi là Ngũ kinh của Moses. Lề luật mà ông công bố ấy được gọi là luật Moses, nền móng của Do Thái giáo mấy ngàn năm nay. Nhiều nhà phê bình hiện đại phủ định thẩm quyền tác giả của Moses trên Ngũ kinh.

 

III. Do Thái triết học

Giống với Kitô giáo và Hồi giáo, Do Thái giáo thể hiện một tổng hợp kết cấu giữa thuyết độc thần có tính Kinh thánh và tư tưởng triết học Hi Lạp.

Dù trong Kinh Thánh Híp-ri không có chỗ nào trình bày một triết học có tính hệ thống nhưng nó rất phong phú với những phản ánh về siêu hình học, vật lý học và đạo đức học. Những đề cập sớm sủa nhất của Hi Lạp về người Do Thái là mô tả họ như một nòi giống của các triết gia.  Người Do Thái đáp ứng biệt nhãn ấy bằng cách viết lại Kinh Thánh bằng ngôn ngữ của tư tưởng Hi Lạp.

Về sau, các nhà tư tưởng Do Thái phản ứng trước sự phất lên của triết học Hồi giáo bằng cách viết (bằng tiếng A Rập) về mối quan hệ giữa tri thức lý tính và truyền thống đặt trên sự mạc khải. Các tác giả Do Thái viết bằng tiếng A Rập ở Tây Ban Nha như Avicebron (k.1020-k.1070) và Mimonaides (1138-1204) gây được ảnh hưởng không chỉ lên các nhóm Do Thái giáo và Hồi giáo mà còn lên nền triết học kinh viện Kitô giáo qua những bản dịch bằng tiếng La-tin.

Tới thế kỷ 17, tâm điểm sức hút của tư tưởng Do Thái di chuyển sang Tây Âu Kitô giáo và sau Thời Khai sáng thế kỷ 18 cùng với cuộc giải phóng chính trị sau đó trong khi nó vẫn còn bị chiếm lĩnh bởi các vấn đề xưa cũ liên quan tới mối quan hệ giữa mặc khải và lý trí. Có một đường thẳng dẫn từ các tác giả thời Trung cổ viết bằng tiếng A Rập tới *Spinoza và triết gia kiêm học giả Kinh Thánh Ðức Mose Mendelssohn (1729-1786) và qua tới triết gia Ðức *Hermann Cohen (1842-1918), người thành lập học thuyết tân Kant (neo-Kantianism), kẻ phát triển một tổng hợp có tính căn nguyên của Do Thái giáo với chủ nghĩa duy tâm.

Các nhà tư tưởng Do Thái có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20 là triết gia Do Thái-Ba Lan-Ðức Leo Baeck (1873-1956) và triết gia Do Thái-Áo Martin Buber (1878-1965) và nhà thần học Do Thái-Ðức Franz Rosenzweig (1886-1929), cả ba đều là đồ đệ của Cohen. Ngày nay, bên ngoài triết học có tính tôn giáo, thật khó phân biệt sự đóng góp chuyên biệt mang tính Do Thái trong tình trạng các triết gia Do Thái đang chia sẻ những tiền giả định và các phương pháp của triết học hiện đại trên một qui môn lớn./.

 

 

Nguyễn Ước

http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=10012

Do Thái giáo Hồi giáo

Do Thái: hành trình của một dân tộc -2

Tiểu luận
Do Thái: hành trình của một dân tộc -2
 PHẦN 1
2. Vùng tản mác

Thời lệ thuộc Ai Cập, Syria rồi La Mã và các thế kỷ trước và sau Công nguyên, rất đông người Do Thái di dân và sống tản mác tại các thành phố Hi La vùng quanh Địa trung hải. Các cộng đoàn đông đảo nhâát của họ ở Alexandria, Corinth, Ephesus, Antioch, Thessaloniki, Damascus, Philippi, Cyprus, Cyrene, v.v. Những nơi sống đông dân Do Thái nhất là Babylon và Syria, cách riêng tại Antioch và Damascus, với khoảng từ 10.000 tới 18.000 người Do Thái bị tàn sát sau cuộc nổi loạn ở Jerusalem. Tại Ai Cập có khoảng một triệu người Do Thái. Tại thành phố hải cảngAlexandria, họ chiếm một phần tám dân số

Thuở đó, số người Do Thái sống tản mác ở hải ngoại còn đông hơn ở chính quốc. Hằng năm, vào các dịp hành hương cố quốc, đặc biệt vào dịp lễ Ngũ tuần, lễ Vượt qua, Thành thánh và Đền thánh Jerusalem tấp nập người Do Thái tứ xứ kéo về. Họ là nguồn tài chính lớn nhất của Jerusalem vì rất hào phóng khi cúng tế và hằng năm mỗi người nam Do Thái dù đang ở xứ nào, cũng phải đóng cho Đền thờ một nửa đồng sekel bạc. Theo Phúc âm Luca, một người Cyrene khi về hành hương đã bị lính La Mã bắt vác cây xà ngang thập tự cho Đức Giêsu Kitô.

Tại Alexandria, vào khoảng thế kỷ 2-3 tr.CN, 72 học giả Do Thái đã hoàn thành cuốn Kinh thánh bằng tiếng Hi Lạp, gọi là bản Bảy mươi (Septuagint). Về sau, trong triết học, nổi bật khuôn mặt của triết gia Philo (20 trCN-50 sCN).

3. Tản mác hai ngàn năm

Đây là cuộc tản mác lớn nhất, đi khắùp thế giới và thê thảm nhất. Không kể số người sống ở ngoài Palestine, khi Jerusalem bị san bằng, theo sử gia Flavius Josephus (37-k.100 s.CN), họ có khoảng 1.100.000 người trong đó có 97.000 người bị bán làm nô lệ. Cho đến nay, người Do Thái trên khắp thế giới có khoảng 16 triệu người, sống ở hơn 50 quốc gia, trong đó Israel chiếm khoảng hơn 6 triệu người. Thật không dễ trong chốc lát trình bày hết những nét chính của cuộc tản mác đại trà suốt 2.000 năm lịch sử này, được gọi là thời Talmud này, nhưng chúng tôi cố gắng đưa ra một số nét chính. Nói chung, đây là hai ngàn năm bị trục xuất rồi lang thang vô tổ quốc khắp thế giới, nên kinh Torah, lề luật được triển khai thêm trong sách Talmud, phong tục tập quán cùng ký ức dân tộc trong văn học dân gian trở thành phương cách quan trọng để lưu giữ bản sắc Do Thái của mình.

Sách Talmud Palestine

Đền thánh Jerusalem bị người La Mã san bằng, kéo theo sự sụp đổ của giới tư tế Saduccee và biến tu viện Qu’ram của người Essene thành nơi hoang phế, nhưng đặc biệt, biến cố ấy làm nổi bật vai trò của hội đường và người Pharisee trong sinh mệnh của Do Thái giáo từ đó cho tới ngày nay.  Thoạt đầu, tại Jerusalem, người Do Thái bị cấm rao giảng và thực hành phụng vu, đặc biệt không được giữ ngày Sabbath. Trung tâm tín ngưỡng từ Jerusalem chuyển lên Galilee phương bắc. Tại đây, uy tín của các thầy cả, các nhà thông thái tăng cao, trở nên tâm linh hơn, bác học hơn, và họ thật sự là những nhà lãnh đạo tinh thần cùng là đối tượng cho dân tộc ngưỡng vọng.

Kinh Torah suốt ngàn năm qua được giảng dạy với những bài bình giải, những ý kiến và các thí dụ minh hoạ truyền miệng. Thế nên công việc trước mắt, trong thời buổi trầm luận, là phải ghi những thuyết giảng đó thành văn. Thành quả sưu tập những gì liên quan tới các đề mục vừa kể, đặt nặng phần bình giải lề luật, làm thành Mishnah. Tiếp đến là những minh họa, dụ ngôn, chuyện kể, v.v. làm thành Gemara. Cả hai bộ phận đó hợp lại thành sách Talmud Jerusalem, hay đúng hơn, sách Talmud Palestine. Bên cạnh đó, còn phần văn học dân gian được gom chung với cái tên midrash, trong đó có những mẫu chuyện, lời bàn nhằm triển khai hay bổ sung những chỗ chưa được nói rõ hay triển khai trong kinh Torah.

Sách Talmud Babylonia

Cuộc khởi nghĩa của Bar Kokba (132-135) thất bại đưa tới thiệt hại nghiêm trọng và khôn lường cho người Do Thái ở Palestine. Cùng bị xử tử với thủ lãnh Bar Kokba là nhiều nhà thông thái, trong đó có Đại thầy cả Akiba ben Yosef (Rabbi Akiva), người được xem là kẻ đứng đầu các nhà thông thái và có công đầu trong việc chuẩn bị tập đại thành bản sách Talmud Palestine.

Khoảng nửa triệu người Do Thái bị giết. Dân số người Do Thái ởJudea giảm hẳn. Người Do Thái bị trục xuất khỏi đất quê hương mình, bị bắt đem bán làm nô lệ khắp đế quốc La Mã. Jerusalem bị đổi tên thành Aetolia Capiotina, một thành phố hoàn toàn ngoại đạo và thuộc điạ trực tiếp của La Mã. Chỉ có người Kitô giáo còn lai vãng, người Do Thái giáo nào héo lánh tới mà bị bắt được, sẽ chịu xử tử.

Một số học giả Do Thái chạy sang Babylon, cùng làm việc với các học giả ở đó trong thời buổi đồng bào họ càng ngày càng sống tản mác và áp lực của Kitô giáo trong vùng đất Đế quốc La Mã mỗi lúc một tăng mạnh. Sang thế kỷ thứ 5 sau CN, bộ sách Talmud Babylonia ra đời với hơn 2 triệu chữ, trở thành sách kinh điển, được mến chuộng và thông dụng hơn bản Talmud Palestine. Nó cũng gồm hai phần: Mishnah và Gemara, bên cạnh đó là phần văn học dân gian midrash.

Bản Talmud Babylonia mang tính cách văn học tổng thể gồm các bình giải về luật lệ, thần học, khoa học, văn học dân gian và các ngành tri thức khác. Chính nó, trong bàn tay các thầy cả và luân lưu trong các cộng đoàn Do Thái, cùng với kinh Torah nơi hội đường, là chủ lực duy trì Do Thái giáo và là nguyên tắc hướng dẫn người Do Thái để sống, phương tiện để họ vững tin, chi phối sự hiệp nhất, tính cố kết và đàn hồi suốt 15 thế kỷ trước mặt.

Hồi giáo và Giáo hoàng La Mã

Truyền bá từ những thập niên đầu của thế kỷ 7, đạo Islam độc thần hàm chứa những yếu tố tương tự với Do Thái giáo như cuộc sáng thế, các tổ phụ từ Abraham (Ibrahim) tới David (Dâwid), Solomon (Suleyman) và các luật về chay tịnh, cầu nguyện, hành hương, v.v.

Ban đầu, Ngôn sứ Muhammad (k.570-632) muốn thu phục người Do Thái, rồi sau khi bị họ từ khước, ông muốn xúc tiến việc tiêu diệt và đuổi họ ra khỏi Ai Cập. Thế nhưng những thủ lãnh Hồi giáo tại các nước Hồi giáo là Sultan (vua Hồi) hay Caliph kế thừa ông xem luật ấy của Muhammad chỉ có tính danh nghĩa; họ đặt người Do Thái làm công dân loại hai, và tận dụng khả năng ngôn ngữ, tài chánh cùng y thuật của những người lưu vong này.

Tại các thành thị Hồi giáo, người Do Thái giáo sống trong những khu phố biệt lập nhưng không bị cô lập, kể cả tại Morocco dù có tường cao vây quanh. Ngay cả khi người Hồi giáo xâm chiếm châu Âu vào thế kỷ 7, cai trị Tây Ban Nha thì tình trạng của người Do Thái ở đó được cải thiện hẳn. Dưới sự cai trị của người Hồi giáo tại Tây Ban Nha, kéo dài cho tới thế kỷ 11, người Do Thái có được một Thời đại Hoàng kim (Golden Age) về văn hóa tại Tây Ban Nha, Morocco và các xứ sở khác ở Trung Đông. Người Do Thái giáo, người Kitô giáo và người Hồi giáo sống bình đẳng với nhau. Các học giả Do Thái và A Rập chia sẻ tình yêu toán học, y dược, văn chương, triết học Aristotle. Thời kỳ này kết tinh thành các nhà đại tư tưởng như Judah Halevi (c.1075-1141), Shlomo ben Yitschak (1040-1105), Mose Maimonides (1138-1204), v.v. Mãi tới thời hiện đại, người Do Thái mới tìm lại được không khí này.

Giáo hoàng La Mã tuy không lên án các chính sách bách hại người Do Thái nhưng ban đầu tương đối có thái độ khoan nhượng với họ, dung chứa họ, không dùng vũ lực với họ. Khi chạy trốn các cuộc thảm sát, họ thường tìm về nước Ý, và dĩ nhiên ở đó họ cũng bị giới cai trị thế tục phân biệt đối xử. Giáo hoàng làm đủ mọi cách bất bạo động để ngăn chận ảnh hưởng của Do Thái giáo lên những vùng dân cư hoặc tư tưởng Kitô giáo, dứt phép thông công những ai có quan hệ với Do Thái giáo, cấm người Do Thái giảng dạy, tịch thu kinh sách và thúc đẩy cải giáo, v.v. Tuy thế, tại Rome, người Do Thái không bị tàn sát hoặc trục xuất. Và hiện thời vẫn còn cộng đồng Do Thái liên tục sinh hoạt suốt 2.000 năm nay.

Tại các nước châu Âu

Khởi thủy, người Do Thái có mặt khắp nơi tại các thành phố lớn của Đế quốc La Mã. Về sau, tại các nước châu Âu, chữ dùng chính xác cho chính sách đương thời của nhà cầm quyền đối với người Do Thái là bách hại, nghĩa là nếu cần thì tàn sát. Trong bối cảnh văn hóa thời đó, người Kitô giáo nói chung xem Do Thái là một dân tộc bị nguyền rủa vì tội giết Đức Giêsu Kitô, thuộc loại người đáng nghi ngờ, và duy trì nhiều thành kiến xấu về họ, thí dụ cho rằng vào dịp lễ Vượt qua, người Do Thái thường làm bánh không men bằng máu của người Kitô giáo và Hồi giáo, v.v.  Người Do Thái có mặt tại Tây Ban Nha từ đầu thế kỷ 4 và sau đó là tới các vùng đất sông Rhine.

Trong chỉ dụ của các hoàng đế Kitô giáo đầu tiên, hình ảnh của Do Thái giáo bị thay đổi từ tôn giáo đáng chú ý và hợp pháp rõ ràng, sang tới giáo phái bất chính, và rồi những cuộc tụ tập báng bổ, pháp thuật. Giữ cho người Do Thái ở vị trí thấp kém, còn hơn công dân loại hai, nhà cầm quyền ngăn chận sự xâm nhập của Do Thái giáo bằng cách không cho tín đồ của nó tham gia chính quyền, cô lập các quan hệ xã hội của họ. Vào thế kỷ 5, Hoàng đế La Mã Theodosius ra chiếu chỉ cấm người Do Thái không được làm chủ nô lệ, không được xây hội đường, không được làm viên chức và không được kết hôn với người không phải Do Thái. Giai đoạn ngược đãi trầm trọng trọng này chấm dứt năm 681 khi các đạo binh Hồi giáo có mặt ở châu Âu.

Sau Thời đại Hoàng kim, khi châu Âu thành Kitô giáo và A rập thành Hồi giáo, người Do Thái không chỉ bị xem là “người ngoại cuộc” mà còn là người ngoại cuộc theo một tôn giáo khác. Số phận của họ biến đổi theo thái độ của các vua chúa vốn nắm sinh mạng của thần dân trong tay. Suốt nhiều thế kỷ, người Do Thái không có sức mạnh chính trị, kinh tế tôn giáo nào, và phải sống bằng tháo vát cùng tư duy nhạy bén của mình.

Sang tới thời Trung Cổ, với các cuộc Thập tự viễn chinh của người Kitô giáo nhằm đánh chiếm Jerusalem, trong khi người Do Thái ở quê nhà tiếp tay phòng thủ Palestine thì người Do Thái ở châu Âu lại bị tàn sát để tạo khí thế xuất quân hay báo thù rửa hận. Năm 1290, Anh trục xuất 16 ngàn người Do Thái. Pháp năm 1306, trục xuất mười vạn người. Đặc biệt tới cuối thế kỷ 15, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trục xuất khoảng 20 vạn người. Đối tượng của các vụ trục xuất thường là tín đồ Do Thái giáo không chịu cải sang Kitô giáo. Tại Bồ Đào Nha kể từ năm 1497, trẻ em Do Thái bị buộc phải ở lại khiến nhiều bậc cha mẹ cũng phải cải giáo để được sống với con. Nhiều nơi, trẻ em Do Thái bị bắt cóc để chịu phép thanh tẩy làm người Kitô giáo. Đợt bách hại này nằm trong chiến dịch khủng bố của Toà án Dị giáo vốn bắt đầu tung hoành từ năm 1478, có nơi xem một số người Do Thái là phù thủy, pháp sư. Tại Đức cũng có bách hại nhưng ít hơn.

Giã từ các nước Tây Âu, người Do Thái một số chạy về phương Đông, một số chạy sang Ý và nhất là chạy tới Đông Âu, đặc biệt Ba Lan. Một số chạy sang lập các cộng đồng ở Pháp, vì dưới thời Napoléon, tình hình khá hơn. Thực tế, khi người Do Thái bị Tây Ban Nha và Bồ đào Nha trục xuất trong các năm 1492-1496, trong số các nước châu Âu chỉ có Hà Lan mở cửa đón nhận và cấp cho họ đầy đủ quyền công dân. Quốc gia này có một mạng lưới thương mại lớn rộng với nhiều tàu buôn và thủy thủ đi khắp thế giới. Một số người Do Thái cũng trở thành thương gia, một số làm các ngành nghề mới phát minh như thợ khóa, kính đeo mắt, ống nhòm, v.v.

Bên cạnh đó, còn có các cộng đồng Do Thái mới lập ở Anh, Đức và vùng Moravia, nơi có cộng đồng Do Thái vốn đông đúc sẵn ở Nga, và Ukraine, Lithuania, Hungary, Nam Tư, Tiệp Khắc, Roumania, v.v. Chỉ riêng tại Ba Lan năm 1764, số người Do Thái đã lên tới con số 750.000 người, đủ để khởi động Phong trào Hasid của Đại tôn sư Baal Shem Tov (1698-1760) rồi lan khắp Đông Âu. Tại Nga vào giữa thế kỷ 19, số người Do Thái lên tới 2 triệu.

Suốt nhiều thế kỷ, nhiều xứ sở không cho người Do Thái làm chủ đất đai hoặc có ruộng nương vì họ bị xem là “người ngoại cuộc”. Họ cũng bị cấm vào đại học, vì thế phải tìm đủ cách để kiếm sống. Một số trở thành thợ may, thợ đóng giày, thợ kim hoàn, v.v. Triết gia Spinoza sống bằng nghề mài tròng kính. Người không làm thợ thì đi buôn và trở thành thương gia. Các ngành nghề nói chung đều lưu động. Một số làm chủ tiệm trong khi những người khác mang hàng hóa và tiền bạc đi từ thành phố này tới thành phố khác, chỉ biết trông cậy vào trí khôn để tự bảo vệ.

Do đó, không lạ khi thấy người Do Thái có mặt rất sớm trong các phong trào di dân đi châu Mỹ, từ năm 1654 để tránh Tòa án Dị giáo ở Bồ Đào Nha. Tất cả di dân Do Thái chia thành năm đợt, đầu tiên là tới New York, thành phố bấy giờ là thuộc địa của Hà Lan. Năm 1881, vì Nga ban hành luật chống Do Thái nền từ nằm đó tới năm 1928 người Do Thái ở Nga ồ ạt di dân sang Mỹ là 1.749.000 người. Hiện nay, dân số Do Thái tại Hoa Kỳ khoảng 6 triệu người, và thành phố New York có đông dân Do Thái nhất.

Khu biệt cư ghetto

Phong trào Phục hưng tại châu Âu khiến người ta nghi ngờ nó chịu ảnh hưởng của Do Thái giáo. Giáo hoàng Paul IV (1476-1555-1559) ra chỉ dụ Cum nimis absuundum năm 1555, thành lập Khu biệt cư ghetto ở La Mã, người Do Thái muốn đi ra ngoài biệt cư phải đeo thẻ màu vàng. Kiểu mẫu này lấy từ ghetto Venice và về sau lan khắp châu Âu và Trung Đông.

Ghetto nói chung là một khu vực dành cho người Do Thái sống biệt lập với nhau, có vòng rào bao quanh. Ban đêm, khóa mọi cổng, ban ngày, người Do Thái ra ngoài phải đeo thẻ màu vàng, nhiều nơi, thẻ có hình Ngôi sao David. Trong ghetto, dân chúng cử lên hội đồng quản trị mà các quyết định của hội đồng đều qua tay xét duyệt của thầy cả.

Dựa vào luật lệ Do Thái giáo, có tòa án gồm thẩm phán là thầy cả và các kỳ mục. Ghetto tự thu lấy thuế, lo cho trường học và trả lương cho thầy cả, các viên chức y tế, giáo dục, các quĩ xã hội, v.v. Và nếu cần, các chức việc hội đường như ông từ, người xướng kinh, người giết mỗ súc vật đúng luật kosher. Ghetto còn cử người có quan hệ với chính quyền địa phương. Dân sống trong ghetto thường nghèo túng vì bị hạn chế việc đi lại, mua bán, sinh kế, v.v.

Ghetto Do Thái xuất hiện vì người Do Thái bị xem là người lạ trong các xứ sở Kitô giáo hay Hồi giáo. Các cổng của ghetto khép chặt vào những đợt có đụng độ sắc tộc hay khủng bố người Do Thái, xảy ra bắt cóc trẻ con Do Thái hay vào các ngày lễ lớn của Do Thái như lễ Vượt qua, Ngũ tuần, v.v.

Hai con dê và một cuốn sách

Thuở còn Đền thờ Jerusalem, vào ngày thứ mười của tháng thứ nhất đầu năm lịch Do Thái, trong nghi thức ngày Đền tội (Yom Kippur) khi Thượng tế bắt thăm chọn lấy hai con dê, một con tế thần và một con gánh tội, có lẽ ông không ngờ tới một ngày nào đó, dân Do Thái hậu duệ của ông sẽ bị trong một lúc mang lấy thân phận của cả hai con dê ấy.

Tiền tài, quyền lực và danh vọng là những giá trị trần thế. Nếu sử dụng khôn ngoan, chúng sẽ là phương tiện hữu ích để phục vụ con người. Nếu bị xem là cứu cánh, chúng trở thành phương tiện tuyệt vời để phục vụ tà thần, mà tiêu biểu là con bò vàng nghi ngút khói hương dưới chân núi Sinai hơn 3.300 năm trước, một hình ảnh ô uế của ngẫu tượng được người Israel cùng tư tế Aaron, em ruột của Moses bái lạy, trong tâm trạng dao động. Vào bất cứ thời nào, cũng có những kẻ mưu đồ vị kỷ nhân danh chính trị hay tôn giáo để phục vụ sự dữ của mình nằm trong cái ác muôn đời. Tiêu biểu hơn cả là những cá nhân hay tập đoàn độc tài chuyên chế thường củng cố quyền lực của mình bằng hai chân, một chân dân túy chủ nghĩa và một chân dân tộc chủ nghĩa, hay độc tôn tôn giáo. Cả hai thứ chủ nghĩa đó tạo ra những cơn si dại đồng bóng của quần chúng, đưa tới hoang tưởng và bài xích mang tính hủy diệt dân tộc khác hay tôn giáo khác.

Người Do Thái là một sắc dân tha hương, với lối sinh hoạt tôn giáo nghiêm ngặt và lối sống cá biệt cộng thêm với sức sống những cá nhân có dân tộc nhưng mất chính quyền và lãnh thổ. Vì thế, khi là thiểu số trong cộng đồng của một dân tộc khác, họ dễ bị các thủ lãnh giả mạo của tôn giáo hay chính trị dùng làm con dê cúng tế thần linh ngẫu tượng của cơ chế. Và đồng thời dùng họ làm con dê gánh tội để đổ lên mình nó những bất lực và xấu xa của cấp lãnh đạo nhằm xoa dịu quần chúng.

Những cuộc bách hại người Do Thái không chỉ xuất hiện trong bối cảnh cổ đại và trung cổ mà ngay trong thời hiện đại. Năm 1903, tại Nga xuất hiện cuốn The Protocols of the (Learned) Elders of Zion, nói về những âm mưu nham hiểm của các Trưởng lão Do Thái nhằm khống chế thế giới. Tuy cuốn sách được phóng tác từ chất liệu ăn cắp của các tác phẩm trào phúng chính trị trước đó, nhưng chẳng may có nhiều người tin rằng các âm mưu ghê tởm ấy có thật.

Sau đó cuốn sách được dịch sang tiếng Anh, và đặc biệt tiếng Đức. Rồi nó rơi vào tay Đảng Quốc xã Đức trong bối cảnh kinh tế khủng hoảng thập niên 30 của thế kỷ 20. Lập tức, qua bàn tay xảo quyệt của những kẻ tà đạo, cuốn sách trở thành chứng cớ để phát động một phong trào bài Do Thái, đặc biệt nhắm vào những đối tượng đang hoạt động trong lãnh vực tài chánh và thương mại, và giới trưởng lão học giả ở châu Âu.

Dĩ nhiên, những khổ nạn tàn mạt của người Do Thái vào nửa đầu thế kỷ 20 không chỉ do bởi một cuốn sách, nhưng Protocols of (Learned) Elders of Zion cho thấy ảnh hưởng sách báo độc hại của những cây bút bất lương, sự dễ tin của quần chúng và lòng dạ hiểm ác của những thủ lãnh giả mạo, nghĩa là cho thấy sức mạnh của cái ác, của quỉ dữ cùng đường biến thiên của nó. Và hiện nay, trên khắp thế giới, vẫn có vô số sách báo, nhiều trang web thuộc loại hư ngụy và độc dữ như thế, chống lại những nỗ lực của con người trong công cuộc hiệp nhất loài người, vượt qua những dị biệt tôn giáo, chủng tộc và dân tộc.

Holocaust 1939-1945

Holocaust phát xuất từ một từ ngữ Hebrew là Shoah, nghĩa là thảm họa mang tính chất hủy diệt; nói chung, và nó được dùng riêng cho cuộc Đại tàn sát người Do Thái vào nửa đầu thập niên 40 của thế kỷ vừa qua tại châu Âu. Cho đến nay, rõ ràng chánh phạm là Adolf Hitler với guồng máy Nazi Đức Quốc xã, những kẻ đã xem Holocaust là “Giải pháp sau cùng cho người Do Thái.” Tuy thế, nhiều học giả đề nghị mở rông đối tượng của Holocaust vì trong tổng số 11 triệu nạn nhân của nó, người Do Thái chiếm khoảng 5.9T, số còn lại là các tù binh Liên Sô (2-3T), các sắc tộc thiểu số Ba Lan 1.8T, và số còn lại là người các nước khác, kể cả người Đức, thuộc diện tàn tật, đồng tính, tín đồ Nhân chứng Jehovah và các thành phần đối lập chính trị,

Nạn nhân chủ yếu là người Do Thái với một âm mưu có hệ thống và thực hiện có kế hoạch của Đức Quốc xã nhằm diệt chủng Do Thái, sau khi đã biến họ vừa làm nguyên cớ biện minh vừa làm con dê chịu tôi cho những sai lầm trong các sách lược xã hội, kinh tế và nhất là quân sự của Adolf Hitler và tập đoàn. Nó đi đúng với sách vở chính trị học, trong khi các thủ lãnh dân chủ cần nêu cao lý tưởng để phục vụ thì ngược lại, các nhà cai trị độc tài cần vẽ vời kẻ thù để trấn áp. Từ giữa thập niên 1930, âm mưu diệt chủng Do Thái ấy được tiến hành theo hai giai đoạn: lập cơ sở pháp chế bằng những đạo luật tách người Do Thái ra khỏi xã hội dân sự, và tiếp đó, đưa họ vào cái chết bằng nhiều hình thức, trong đó kinh khiếp nhất là các trại tập trung có phòng hơi ngạt và lò thiêu.

Địa bàn tàn phá của Holocaust không chỉ ở nước Đức mà còn tại các xứ sở bị quân Đức chiếm đóng như Ba Lan, Hà Lan, Luxembourg, Bỉ, Pháp, Nam Tư, Hungary, Romani, Bulgary, Phần Lan. Hãy lấy Ba Lan làm hình ảnh tiêu biểu. Trước hết, Đức Quốc xã lập Warsaw Ghetto, cô lập khoảng 380.000 người Do Thái, sau đó di chuyển họ đi nơi khác. Tại những xứ sở khác, ban đầu người Do Thái ra đường phải mang huy hiệu có hình Ngôi sao David, kế đó, bị phân tán gia đình theo nam nữ và bị vận chuyển bằng phương tiện cơ giới, thường là các toa tàu chở súc vật, xuyên quốc gia để tới các trại tập trung. Và vào những tháng đầu năm 1945, khi các đạo binh Nga băng qua Ba Lan, càng ngày càng tiến gần tới mục tiêu Bá Linh, thì tốc độ tàn sát tù nhân càng lúc càng nhanh khủng khiếp.

Ngày nay, người ta dễ tìm thấy tài liệu về các khổ nạn tại hơn 15 trại tập trung của Đức Quốc xã cùng những hồi ký về cuộc sống lẫn trốn bên ngoài nó như của Anne Frank, chờ chết bên trong nó như của Elie Wiesel và vô số tác giả khác. Chỉ xin nêu ra ở đây một ít con số. Tổng số người chết: 11T. Số người Do Thái 5.9 T (Ghi nhận cụ thể và chưa đầy đủ: chết trong các ghetto và nhà tù 800.000 người; bị các đội hành quyết bắn ngoài trời 1.400.000 người; trong các trại tập trung 2.900.000). Tổng số người chết trong ba trại có số lượng cao nhất là Auschwitz 1.400.000 người; Belzec 600.000 người và Chemno 600.000 người.

Liệu loại tội ác diệt chủng như thế có thể tái diễn dưới hình thức khác không? Không biết. Vì bao lâu con người chưa tích cực pháp chế hóa các giá trị đạo đức, chưa xiển dương cao độ cái thiện của mình để chế ngự cái ác trong mỗi người hoặc chủ động được đường tiến hóa của dân tộc, thì vẫn chưa biết điều gì sẽ xảy tới cho mình và cho người khác, cho dân tộc và cho loài người.

 

Con đường phục quốc của người Do Thái

Những khổ nạn của người Do Thái vừa được đề cập sơ lược ở trên không còn là vấn đề tranh luận. Các công trình nghiên cứu khoa học của các học giả và các sử gia cùng hồi ký của các nhà văn và tiếng nói của những nạn nhân sống sót đã làm chúng ngày càng hiện nguyên hình với đầy đủ vẻ kinh tởm và tàn mạt ngoài sức tưởng tượng. Ngày nay, cái tên Đảng Tân Quốc xã (Neo-Nazi) và những lời phủ nhận Holocaust trở thành ngọn roi quất vào lương tâm loài người và là sự sỉ nhục con người ở mức cao nhất.

Thảm trạng của Holocaust cũng âm vang trong tiếng nói đầy ân hận sâu xa của Giáo hội Công giáo La Mã. Ngày 16 tháng Ba năm 1998, Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhân danh toàn thể cộng đồng Công giáo La Mã đưa ra lời xin lỗi vì trong Thế chiến Hai, Giáo hội đã không phát biểu công khai chống lại cuộc Đại tàn sát Holocaust của Đức Quốc xã; trong thư xin lỗi ấy, Giáo hoàng còn nói Holocaust vẫn mãi mãi là vết nhơ nhuốc không tẩy xóa được trong thế kỷ 20. Hai năm sau, ngày 12 tháng Ba năm 2000, cũng chính Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đưa ra lời xin lỗi rộng rãi về những tội lỗi mà Giáo hội Công giáo đã phạm suốt các thời đại trong đó có những hành động chống lại người Do Thái.

Trước đó 140 năm, đã có những tiếng nói vận động phục quốc và phác họa hình ảnh một nước Israel. Năm 1862. Moses Hess (1812-1875), một người cộng sự với Karl Marx (mà thân phụ, Henrich Marx, là một luật sư Do Thái cải giáo sang Tin lành), viết cuốn Rome and Jesusalem, The Last National Question (La Mã và Jerusalem, vấn đề cuối cùng mang tính dân tộc) nhằm kêu gọi người Do Thái thành lập một nước xã hội chủ nghĩa lại Palestine như một phương cách giải quyết vấn đề Do Thái. Năm 1882, sau những đợt đụng độ đẫm máu giữa thủy thủ Hi Lạp và thanh thiếu niên Do Thái tại hải cảng ở Odessa (Ukraine), Bác sĩ Judah Leib Pinsker (1821-1891) đã viết trong một tờ kêu gọi ủng hộ công cuộc phục quốc, trong đó ông phân tích khuynh hướng của người châu Âu xem người Do Thái là người lạ, và ông cay đắng nhận xét rằng:

“Vì người Do Thái không có nơi đâu là nhà, không có nơi đâu là quê mẹ, nên ở khắp nơi hắn vẫn là người lạ. Tới độ bản thân hắn và tổ tiên hắn dù được sinh ra trong một xứ sở cũng chẳng mảy may biến đổi được thực tế đó… …đối với sự sống, người Do Thái là xác chết, đối với nơi chôn nhau cắt rốn hắn là người nước ngoài, đối với quê nhà cố định hắn là kẻ rày đây mai đó, đối với quyền sở hữu hắn là gã hành khất, đối với người nghèo hắn là kẻ bóc lột và tên triệu phú, đối với người yêu nước hắn là kẻ không có xứ sở, và đối với tất cả, hắn là kẻ kình địch bị căm ghét.”

Từ năm 1882, người Do Thái đã bắt đầu háo hức di cư vềPalestine, trong đó có 45.000 người từ Nga. Họ thành lập một số địa điểm định cư canh tác nông nghiệp với sự giúp đỡ tài chính của những người hảo tâm ở Tây Âu. Sang tới thập niên 1890, Theodor Herzl (1860-1904), một ký giả Áo-Hung vận động cho mạnh mẽ cho việc phục quốc và là cha đẻ của phong trào chính trị phục quốc Do Thái hiện đại (Zionism). Đệ nhất Nghị hội Phục quốc (First Zionist Congress) họp tại Basel, Thụy Sĩ năm 1897 thành lập Tổ chức Phục quốc Thế giới (World Zionist Organization).

Thế nhưng thời đó, không phải mọi người Do Thái đều đồng ý với giải pháp Phục quốc Do Thái. Một số người Do Thái Chính thống đánh giá nỗ lực của Phong trào Zion là hấp tấp nông nổi, như một hành động vi phạm lề luật của Thượng đế. Nhiều người Do Thái Cải cách chống đối Phong trào Zion, xem nó là hành động đi ngược lại trào lưu lịch sử trong một thế giới đang hướng tới hoà bình và tình huynh đệ. Một số người cho rằng phong trào mang tính dân tộc chủ nghĩa ấy đối nghịch với khái niệm cho rằng Do Thái giáo chỉ là một tôn giáo.

Thế rồi vụ Holocaust xảy ra, giải quyết mọi tranh luận và hoá giải các quan điểm đối nghịch. Hai ngàn năm trôi dạt với cao điểm là cuộc Đại tàn sát Holocaust, dân tộc tự hào mình được Thượng đế chọn và có sự hiệp thông riêng tư với Thượng đế đó, cuối cùng thấy mình là đoàn người tả tơi sống sót trước sân lò sát sinh của đủ thứ đồ tể. Chọn lựa tốt nhất là xây dựng cho mình một quê hương, để vừa có đất sống, vừa có chỗ hướng về và biến thành hiện thực câu chúc nhau hằng năm trong bữa ăn seder mừng lễ Vượt qua: Sang năm ta về Jerusalem!

Sau bao nhiêu gian nan, nước Israel được thành lập vào ngày 14 tháng Năm 1948, trên vùng đất Palestine với diện tích 20 ngàn cây số vuông (bằng 1/16 diện tích nước Việt Nam). Dân số tính tới tháng Năm năm 2010 là 7.602.400 người, trong đó người Do Thái chiếm 6.051.000 người. Số còn lại gồm người Hồi giáo, Kitô giáo, Samaria và Duze. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Hebrew, và lịch sử kinh thánh được dạy cho trẻ em như là câu chuyện trường thiên của dân tộc.

 

Ai là người Do Thái?

Đó là một câu hỏi xót xa và rất khó trả lời cho một dân tộc sống chung với hàng chục dân tộc khác suốt hai ngàn năm nay. Với hơn 10 triệu người Do Thái đang sống bên ngoài lãnh thổ Israel, thì cuộc sống chung đó có vẻ kéo dài tới vô tận vì con người thời nay ngày càng mang tính hoàn cầu. Ngày nay câu hỏi thực tế nhất là người Do Thái ấy xuất thân từ cộng đồng nước nào. Người Do Thái hôm nay không còn thuần chủng. Hậu quả chung đụng qua cả trăm thế hệ làm người Do Thái nói chung tương tự với kiểu mẫu thể lý của dân chúng bản địa.

Người Khương ở Hoa Bắc và người gốc Do Thái ở Hồ Nam trông giống với Hán tộc. Người Do Thái ở Ethiopia trông giống với ngườiEthiopia không phải Do Thái, có màu da đen và một số đặc điểm của người Caucase cùng người vùng Thượng Sahara. Người Do Thái giáoYemen và người Hồi giáo Yemen chẳng khác gì nhau, đều có nước da sậm màu ô-liu, vóc người nhỏ, đầu hơi dài. Chủng tộc duy nhất mà người Do Thái ít bị đồng hóa là Bắc Âu bản địa. Thí dụ so với ngươi Do Thái Đức, thì người Đức không Do Thái nước da tương đối sáng hơn, mắt xanh, đầu dài và cao hơn. Đó chỉ mới vài thí dụ trong số hàng chục loại người Do Thái sống với các dân tộc bản địa khác.

Tới đầu thế kỷ 20, người Do Thái sống ở Đông và Tây Âu cùngNam và Bắc Mỹ được gọi là người Do Thái Ashkenazi. Trước đó, từ sau năm 1492, người Do Thái rời Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha tới sống trong thế giới A Rập – trải rộng từ Bắùc Phi ra khắp Trung Đông tới Ấn Độ – được gọi là người Do Thái Sephardic. Tuy nhiên, tại nhiều nước ở Trung Đông, gồm có Yemen, Iraq, Iran và Ethiopia, người Do Thái được gọi với tên khác. Tại Iraq và Iran, họ được gọi là người Do Thái Babylon. Người Do Thái ở phương Đông được gọi là Edor HaMizrakh.

Ngày nay, danh xưng Sepharnic trở thành tiếng chỉ chung những người Do Thái không phải là Ashkenazi. Vì tình trạng đa nguyên của người Do Thái nên họ có các phong tục, truyền thống, tên họ, y phục, thức ăn và văn hóa dân gian (kể cả truyện dân gian) khác nhau trong nhiều khía cạnh. May mắn là những dị biệt văn hóa ấy được vượt qua nhờ các giá trị và các chủ đề mang tính Do Thái nhất định.

Khi nước Israel thành lập năm 1948, ban đầu có một số người tinh nguyện trở về từ Mỹ và Canada. Rồi tới lượt các nạn nhân Holocaust sống sót ở châu Âu. Kế đó, lũ lượt người Do Thái sống tại các nước A Rập; nhiều người rời nơi mình từng sinh sống suốt 2.000 năm nay. Ngày nay, cả hai nền văn hoá của người Do Thái Ashkenazi và người Do Thái Sephanic cùng nhau hình thành bản sắc của nước Israel.

Và như thế, để giải quyết câu hỏi “Ai là người Do Thái”, người ta cho rằng người Do Thái bao gồm ba nhóm. Thứ nhất những người sinh ra trong gia đình Do Thái dù họ theo hoặc không theo Do Thái giáo. Thứ hai, những kẻ có bối cảnh tổ tiên hoặc có dòng dõi Do Thái dù không nghiêm nhặt về mẫu hệ như được qui định theo Lề luật. Thứ ba, những kẻ có bối cảnh tổ tiên hay dòng họ tuy không là Do Thái nhưng đã cải sang Do Thái giáo và nay họ đang là tín đồ của đạo đó, thí dụ trường hợp trước đây của Đại đế Herod.

 

Sống với thế giới ngày nay

Cuộc tiến hóa đang chuyển biến chóng mặt, từ khoa học tới văn hóa. Để chứng minh mình là người Do Thái, một cầu thủ da đen trong đội tuyển Brasil không cần ôm theo chồng gia phả, mà chỉ rút từ ngực áo ra bản xét nghiệm gen di truyền. Cũng thế, hàm râu rậm rạp không còn được xem như có sức sống nội tâm phong phú và ân sủng dồi dào của Thượng đế. Con người thời nay hiện đại hóa và toàn cầu hóa, và đối với họ, có lẽ như một truyện dân gian trong sách này: Lề luật không ở trên trời. Ấy là chưa kể những kẻ nhiệt thành của phong trào hậu hiện đại, chuyên tìm cách bóc vỏ hoặc gây nhiễu các đại tự sự, tiểu tự sự của các nền văn hoá và tín ngưỡng, chính trị, v.v.

Cuộc sống hiệp nhất và hợp thành một thể thống nhất của Do Thái giáo dưới quyền dẫn đạo của thầy cả hầu như đã thất lạc đâu đó trong thời hiện đại. Tự do của con người hôm nay mang lại sự chấp nhận thực trạng dị biệt và đa nguyên chủ nghĩa. Không còn tình trạng hết thảy tín hữu Do Thái giáo cất lên tiếng nói đồng nhất về thẩm quyền ràng buộc của kinh Torah. Tuy tín hữu theo khuynh hướng chính thống vẫn quả quyết rằng ý chí của Thượng đế hiện thể trong kinh Torah và sách Talmud, nhưng giờ đây họ thấy rằng sự hiện thể đó phải được thông giải một cách có thẩm quyền bởi các nhóm thầy cả cá biệt theo từng thế hệ.

Thế nhưng một số người Do Thái khác vẫn khẳng định rằng Kinh thánh từ những khởi hứng thiêng liêng của nó, vẫn là lời giải đáp đầy nhân tính cho sự có mặt của một Thượng đế đang chỉ huy mọi biến cố. Cũng có nhiều người Do Thái không xem mình là người tôn giáo, không thuộc về một hội đường nào tuy vẫn tự hào về di sản của dân tộc. Họ ca ngợi các chiều kích luân lý và văn hóa của Do Thái giáo và bày tỏ niềm hi vọng rằng con cháu họ vẫn tự hào về dân tộc Do Thái cùng các giá trị và lịch sử của nó.

 

Thầy cả thời đại đại mới

Còn hơn tình trạng phân rẽ giới Pharisee hai ngàn năm trước thành hai trường phái của hai Đại thầy cả Shammai và Hillel, Do Thái giáo ngày nay mang những khuynh hướng khác nhau trong thông giải kinh sách và thực hành thường nhật. Ta có Do Thái giáo ở Bắc Mỹ thực tiễn và năng động, bên cạnh Do Thái giáo Bắc Âu uyển chuyển và phóng khoáng, nằm kề với Do Thái giáo Đông Âu và Nga vẫn đậm màu bảo thủ, ảnh hưởng lên các cộng đồng di dân của họ ở Mỹ và Canada.

Tình trạng dị biệt đó sẽ còn kéo dài vì như đã thấy, tín đồ Do Thái giáo không có cơ chế trung ương tập quyền như Công giáo La Mã hay Chính thống giáo. Ta có Do Thái giáo phái Hasid với những sinh hoạt bình dân, rộn ràng nhưng vẫn đượm không khí thần bí. Do Thái giáo Cải cách muốn tái phát biểu đức tin vào thuở bình minh của thời đại ngôn sứ với lời hứa “sự sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc” của con người thời đại. Phong trào Do Thái giáo Bảo thủ khẳng định rằng biến đổi của sự tuân giữ lễ nghi Do Thái giáo phải tăng trưởng trong quan hệ hữu cơ với trải nghiệm cuộc sống của tín hữu. Các thầy cả của phái này vẫn duy trì chiếc khăn phủ đầu khi cầu nguyện và khẳng định tầm quan trọng của luật chay tịnh.  Khuynh hướng Do Thái giáo Chính thống vẫn nhất quyết giữ vững ngày Sabbath và việc phân chia riêng rẽ chỗ ngồi của nam và nữ trong hội đường.

Sự khác biệt của cả ba khuynh hướng đó tiếp tục đưa tới các quan điểm khác biệt về thẩm quyền của thầy cả. Người Chính thống và người Bảo thủ quả quyết rằng chỉ có hàng ngũ thầy cả được cơ chế hóa mới có thẩm quyền thông giải kinh Torah. Ngược là, người Cải cách cho rằng thầy cả đóng vai trò người hướng dẫn hơn là thẩm quyền tối hậu.

Thêm nữa, sự lớn mạnh của phong trào nữ quyền trên khắp thế giới cũng tác động sâu xa lên Do Thái giáo. Rất đông nữ tín đồ nhấn mạnh rằng văn bản Kinh thánh cũng như lề luật và các kinh nguyện phụng vụ đã quá chú trọng tới nam giới, để cho nữ giới hầu như đứng bên lề hoặc chỉ là đối tượng phụ. Tình trạng bất bình đẳng đó phải được chấm dứt trong một thế giới mà nữ giới không còn bị thẩm định giá trị dựa trên khả năng sinh sản hay đảm đang nội trợ như thuở xưa, và nam giới không là kẻ duy nhất bôn ba ngoài xã hội.

Nhiều phụ nữ Do Thái đòi phải thông giải lại giao ước của Thượng đế dành cho loài người, cả nam lẫn nữ, bổ túc cho những bình giải trong Talmud và văn học dân gian midrash, cũng như tìm cách ghi lại các thông điệp trong Kinh thánh một cách phi giới tính, thí dụ tại sao Thượng đế chỉ luôn luôn mang hình ảnh đàn ông, và tiêu biểu bằng đại danh từ giống đực. Trong thực hành cũng thế, có khuynh hướng làm lễ điểm đạo, hay lễ trưởng thành cho thiếu niên 13 tuổi, cả nam lẫn nữ; nhân số mười người hợp qui cách cho một buổi cầu nguyện phải tính luôn cả nam lẫn nữ, các qui định về hôn ước, li thân li dị, quyền gia trưởng, v.v. phải đặt trên sự bình đẳng giới tính.

Thậm chí một số định chế Do Thái còn tiến hành việc phong thầy cả cho người nữ. Như nữ thầy cả Sally Priesand (1946 – ), thuộc Đại học Hiệp nhất Do Thái Cải cách (Reform Hebrew Union College), kẻ đầu tiên được tấn phong vào năm 1972 ở Hoa Kỳ.

Thế nhưng nữ thầy cả đầu tiên là Regina Jonas được tấn phong bí mật vào năm 1935 tại Bá Linh; bà chào đời năm 1902 và tới năm 1944 thì bị giết trong trại tập trung Auschwitz. Trước đó, tại Hoa Kỳ có Paula Ackerman (1893-1989) phục vụ cộng đoàn với năng lực của một thầy cả nhưng bà không bao giờ được phong chức.

Năm 1985, Chủng viện Thần học Do Thái Bảo thủ tại Hoa Kỳ(Jewish Theological Seminary of America) cũng tấn phong Amy Eilberg (1954- ) làm thầy cả. Tính tới năm 2004, Chủng viện này đã tấn phong hơn 150 nữ thầy cả, còn Học viện Thầy cả Ziegler (Ziegler School of Rabbinic Studies), cũng thuộc khuynh hướng bảo thủ, đã tấn phong khoảng 30 người.

 

*

Từ lời ca của David trong đoạn Thánh vinh mở đầu bài này đến nay đã ba ngàn năm. Qua bao nhiêu gian khổ và chuyển biến, người Do Thái vẫn mang trong mình hình ảnh Thượng đế giữa cuộc lữ thứ trần thế. Đấng giao ước ấy, dù được thông giải ra sao theo ngôn ngữ thời nay, vẫn là niềm hy vọng nỗi cậy trông và bến đỗ cho thuyền đời lạc loài. Và khi con người bí lối hay cô đơn nhất, vẫn có thể cảm thấy nguôi ngoai nếu có một hình bóng bên cạnh hay trên đám mây trước mặt. Cũng thế, ngày nay, tiếng hát có hình bóng ấy hẳn không còn ở nơi đồng cỏ xanh tươi với đàn súc vật, hay chỉ ở hội đường mà còn trên sân khấu với hàng chục ngàn khán giả đang ngây ngất vươn tay lượn mình và nhiều khi hòa điệu hát theo.

Ofra Haza, nữ ca sĩ Do Thái, là người thấm đẫm nguồn cảm hứng thiêng liêng ấy. Cô chào đời năm 1957 tại khu phố Hativak ở Tel Aviv, trong một gia đình nghèo gồm chín anh em. Nhạc và lời do chính cô viết và hát, khởi hứng từ tình yêu văn hóa Israel và niềm tin vào Thượng đế, lan khắp Trung Đông, các xứ A Rập cùng châu Âu và Bắc Mỹ. Tiếng hát của Haza cất cao theo thể điệu nhạc pop hiện đại mang lại cho cô nhiều dĩa vàng và dĩa bạch kim cùng nhiều giải thưởng trên khắp thế giới. Năm cô qua đời (2000) vừa khép lại một ngàn năm cũ, nhưng tiếng hát của cô vẫn vang lên dạt dào trong thiên niên kỷ mới. Và tôi xin mượn một bài hát của cô như lời nguyện cầu của kẻ cô đơn lạc loài nơi trần thế, để làm lời kết cho bài này:

 

                        Trái tim tôi

Những chiếc cổng trời cao mở ra cho nước mắt tôi

Những chiếc cổng trời cao mở ra cho nước mắt tôi

Thượng đế ơi, xin xót thương tôi.

Thượng đế ơi, xin xót thương tôi

Và đây cơn nhức buốt trong trái tim tôi

Và đây cơn nhức buốt trong trái tim tôi   

Ôi tình yêu, làm sao tôi có được?

Ôi tình yêu, làm sao tôi có được?

Người còn biết chăng tôi hiện hữu nơi này?

Làm sao tôi tìm thấy lối đi xuyên qua

tình yêu của người?

Trái tim tôi chỉ khát khao tự do

Không ai có thể khiến tôi yêu cái khác

Chỉ khi tình yêu ấy hiểu nỗi khổ đau này

và tới bên tôi

Ai nguyên nhân của đau đớn không thể tin này

Ai kẻ chẳng biết chút nào sự hiện hữu của tôi? ./.

 

 

Nguyễn Ước

http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=13541

Do Thái giáo Hồi giáo

Do Thái: hành trình của một dân tộc -1

Tiểu luận
Do Thái: hành trình của một dân tộc -1
Chúa là mục tử tôi, tôi không mong muốn gì hơn,

Ngài khiến tôi nằm nghỉ trên đồng cỏ xanh,

Ngài dẫn tôi đi bên mặt nước yên tĩnh

Ngài khôi phục linh hồn tôi

Ngài dẫn tôi đi trên đường công chính vì danh ngài

Dù có bước qua thung lũng bóng tối sự chết

tôi cũng không sợ cái ác vì ngài đang ở với tôi.

 

Những câu thơ ấy trong một bài Thánh vịnh của David cách đây ba ngàn năm đã đi theo dân tộc Do Thái khắp mọi nẻo đường thế giới. Chúng được cất lên trong nhà riêng, nơi hội đường, trên đồng cỏ, trong tiếng gươm giáo chiến trận hay hoan ca lễ hội, trong các đợt bị bách hại và giữa các trại tập trung chết chóc nhất. Chúng là niềm trông cậy, nỗi hy vọng và sức mạnh tâm linh, cốt lõi của một dân tộc lưu lạc.

Cuộc hành trình của dân tộc Do Thái phải chăng cũng biểu tượng cho cuộc lữ hành của loài người nơi trần thế, với những kiên định và dao động, trí tuệ và vô minh, thuần khiết và pha tạp, thực tiễn và thăng hoa, ngã gục và hồi phục, v.v. tới độ khó có thể trả lời câu hỏi ai quả thật là người Do Thái, cũng như kẻ nào quả thật là con người chân chính.

Giao ước với Abraham

Trận lụt Đại hồng thủy vừa dứt. Đất đai vừa khô ráo. Con thuyền Noah hạ xuống trên đỉnh núi Ararat với ba người con trai của ông, trong đó có Sem, kẻ sau này đứng đầu chủng tộc Semite bao gồm Do Thái, A Rập, Assyria,Phoenicia. Abraham là hậu duệ trực hệ đời thứ mười tính từ Noah, qua Sem, với tên nguyên thủy là Abram. Ông sống vào khoảng 4.000 trước đây.

Từ Ur, một thành phố ở gần tháp Baben và thờ nữ thần mặt trăng Nanna, (ngày nay thuộc lãnh thổ Iraq), Abram với vợ là Sarah theo thân phụ là Terah với em là Nahor, đi dọc theo sông Euphrates, dự tính vào Canaan nhưng rồi lại trở qua phương bắc, định cư ở một nơi có tên là Haran trong khu vực Padan-aram. Tại đây, năm 75 tuổi, Abram nghe tiếng Thượng đế gọi mình: “Này Abram, hãy đi khỏi xứ này, khỏi họ hàng của ngươi và nhà của cha ngươi. Hãy tới một vùng đất sẽ được ta chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi trở thành một dân tộc vĩ đại. Ta sẽ chúc lành cho ngươi và làm cho tên của ngươi trở thành lớn lao. Qua ngươi, hết thảy các dân tộc trên thế gian sẽ được chúc phúc”.

Không chút ngần ngại, Abram lại mang theo vợ Sarah và cháu trai Lot cùng toàn thể gia nhân và súc vật lên đường đi Canaan, một vùng đất từ bờ sông Jordan tới biển Địa trung hải. Theo Kinh thánh, đó là một vùng đất đầy sữa và mật ong. Ngày nay, nhìn qua phim ảnh và so sánh với đất đai màu mỡ của Việt Nam, ta chỉ thấy miền đất hứa ấy phần nhiều là đồng khô cỏ cháy, hoang mạc với các bụi lùm thưa thớt chỉ cao ngang đầu gối, ít cây cao bóng cả và thiếu các nguồn nước. Nhưng có lẽ đối với dân du mục, thì đây là vùng đất phì nhiêu bát ngát! Hoặc giả, với điều kiện sinh thái của bốn ngàn năm trước, đây từng là vùng đất tốt tươi như thế.

Tới năm Abram 90 tuổi, Thượng đế còn nói với ông thêm lần nữa: “Ta là Thiên Chúa toàn năng, và ta lập giao ước với ngươi. Ngươi là kẻ trung thành và hết sức phục vụ ta; và ngươi sẽ là cha của nhiều dân tộc. Từ con cái của ngươi và của con cái ngươi sẽ xuất hiện những người vĩ đại và những vua vĩ đại, và hết thảy đất Canaan sẽ mãi mãi là của chúng.” Cùng với giao ước đó, Thượng đế đưa ra một dấu hiệu: các con trai trong dòng tộc Abraham phải chịu cắt da qui đầu, tức phép cắt bì, tám ngày sau khi chào đời, như một cách tỏ cho thấy bản thân chúng chấp nhận giao kèo.

Kể từ lúc đó, Abram (người cha tôn quí), mang tên mới là Abraham (người cha của hằng hà sa số), tuyệt đối đi theo Đấng Thiêng liêng. Ngài là Thượng đế duy nhất, độc nhất, tối cao và đại đồng. Một Thượng đế tạo dựng vạn vật và chúa tể vũ trụ. Ngài là khởi nguyên và cùng đích của lịch sử. Trong cuộc sáng tạo đang tiếp diễn ngày càng tốt đẹp do ngài và vì ngài, mọi sự phát xuất từ ngài và trở về trong ngài. Ngài là tác nhân và điều hướng mọi biến cố. Một Thượng đế rất nghiêm khắc khi con người bất tuân lời ngài và rất nhân từ khi con người vâng theo mệnh lệnh ngài.

Bước đầu tiên Thượng đế thể hiện giao ước là ban cho Abraham đứa con trai dòng chính là Isaac khi Sarah đã 90 tuổi và Abraham 100 tuổi. Trước đó, ngài còn ban cho Abraham một đứa con trai với nữ tì Ai Cập Haggar, tên là Ishmael. Về sau Haggar không chịu nổi sự hà khắc của Sarah nên bồng con ra ở vùng sa mạc, và Ishmael trở thành tổ phụ của người A Rập mạnh bạo kiên cường.

Ý nghĩa của giao ước

Thời cổ đại, tại Lưỡng hà địa (Mesopotamia), có nhiều tín ngưỡng của con người, tin vào các thần linh mang tính thiên nhiên như mưa gió sấm sét tinh tú hay phồn thực của mùa màng và sinh nở, mang hình thức bái lạy ngẫu tượng. Bên cạnh đó còn có những người có niềm tin độc thần, nhưng đối với Abraham, ông xem tín ngưỡng mình đang theo không phải là tôn giáo của con người lập nên, mà là tôn giáo của Thượng đế ban cho. Thượng đế của Abraham và giao ước của ngài đưa ra cho ông có tính độc nhất vô nhị, và nó hình thành tư duy trong suốt lịch sử mấy nghìn năm sau đó của những người xem ông là tổ phụ. Ba đặc điểm đó là:

1Phẩm cách của con người. Nếu Thượng đế tự nguyện tiến hành giao ước này với loài người thì chắc chắn ngài đánh giá loài người rất cao. Thái độ này được biểu lộ trong câu chuyện Abraham đương đầu với dự tính của Thượng đế qua lời tuyên bố của thiên sứ về dự tính hủy diệt thành phố bại hoại Sodom. Khi Abraham lập luận rằng không phải mọi người ởSodom đều xấu xa, Thượng đế lắng nghe, như thế rõ ràng ngài đánh giá cao dân ngài đã chọn.

2. Trung thành với giao ước. Dân Israel sắp duy trì lòng trung thành tuyệt đối với giao ước. Thượng đế ra lệnh cho Abraham hiến tế con trai Isaac của ông để làm của lễ. Ông chấp hành không chút thắc mắc. Nhưng đúng phút giây ông khai đao, lấy tính mạng đứa con yêu dấu của mình thì vang lên tiếng từ trời cao bảo dừng tay, và xuất hiện con cừu đực chưa thiến trong bụi cây gần đó, để ông tiến dâng thay vào. Lòng tựï nguyện của Abraham dâng lên Thượng đế núm ruột ông yêu quí nhất là một kiểu mẫu của lòng trung thành triệt để mà dân Israel sẽ liều chết noi theo.

3. Thượng đế sắp đặt các biến cố. Thượng đế cho thấy và lặp đi lặp lại nhiều lần việc ngài là đấng hình thành và sắp xếp các biến cố để bảo đảm sự liên tục của dân ngài chọn và để hoàn thành các mục đích của ngài. Thí dụ Thượng đế bảo vệ Josef, con trai của Jacob, bị anh em đem bán sang làm nô lệ ở Ai Cập. Cuối cùng, ngài nâng Josef lên địa vịï cao trọng để ông có khả năng cứu vớt toàn gia đình mình, đầu nguồn của 12 bộ tộc Hebrew.

Tổ phụ Abraham

Thời Abraham, dân Israel chỉ mới được gọi là Hebrew (Híp-ri), nhưng sau Adam, ông được xem là Đại tổ phụ, vì ít nhất bốn lý do. Thứ nhất, ông trực tiếp nhận được giao ước của Thượng đế cho con người, như một định mệnh được an bài cho dòng họ ông sau này thành dân tộc Israel, hiểu như đại biểu cho loài người. Thứ đến, với giao ước đó, ông và hậu duệ có quan hệ rất riêng tư với Thượng đế. Thứ ba, lòng tin tưởng Thượng đế của ông tuyệt đối, qua việc ông không ngần ngại hiến tế đứa con thừa tự độc nhất là Isaac theo yêu cầu của ngài.  Thứ tư, lòng yêu thương loài người của ông vô bờ bến khi ông tha thiết và buồn bã cầu khẩn Thượng đế đừng trừng phat hai thành Sodom và Gomorrah. Bốn đặc tính đó đem lại địa vị Tổ phụ cho Abraham trong Do Thái giáo, Kitô giáo và cả trong đạo Islam (Hồi giáo) với tên gọi trong Thiên kinh Qur’an là Ibrahim.

Cuộc lưu đày ở Ai Cập

Sau Isaac, Abraham còn có sáu người con trai khác nhưng giao ước của Thượng đế chỉ với dòng tộc của Isaac. Sau khi cha qua đời lúc 175 tuổi, Isaac sinh đôi Esau và Jacob, nhưng rồi quyền trưởng nam về tay Jacob. Trải qua một đêm Jacob vật lộn với một người lạ, và kế đó, chính kẻ lạ ấy – hình bóng của Thượng đế – chúc phúc và đặt cho ông cái tên Israel, có nghĩa là “Kẻ chiến đấu với Thượng đế”. Và kể từ ông, người Hebrew được gọi là dân Israel. Jacob sinh được mười hai con trai, trong đó có đứa con áp út là Josef, như có đề cập ở trên, lưu lạc sang Ai Cập rồi làm tể tướng.

Đất Ai Cập với phù sa sông Nil là vựa lúa của vùng Điạ trung hải và là nơi các dân tộc quanh đó tìm đến khi gặp đói kém, hoạn nạn. Đối với gia tộc Israel cũng thế, gặp lúc đất Canaan mất mùa, thiếu ăn, toàn thể gia tộc kéo sang Ai Cập, với nhân số khoảng 70 người tính luôn cả cha già Jacob, dưới sự bảo trợ của Josef, rồi ở lại theo lời mời của Pharaoh. Trong các tộc trưởng đó, ngoài Josef, mười một người con trai còn lại là Reuven, Simon, Levi, Yhuda, Yissahar, Zevulem, Dan, Gad, Naftali, Asher và Benjamin.

Chuyến đi tị nạn tưởng chỉ một đôi vụ mùa, đâu ngờ kéo dài tới 400 năm. Mười hai anh em thành 12 chi tộc sống ở Goshen, vùng đất phì nhiêu của Ai Cập, thuận tiện cho việc trồng trọt và chăn nuôi. Thế nhưng thời thế đổi thay, từ 70 người di dân nay phát triển thành hàng trăm ngàn người, quá đông đúc gây thành mối lo ngại nội tại cho người Ai Cập. Về sau, các Pharaoh ngày càng ngược đãi người Israel, bằng nhiều hình thức, bắt họ làm thợ xây cất đền đài cung điện dưới sự đốc công của người Ai Cập, và độc ác nhất là ra lệnh giết con trai vừa lọt lòng của họ để kềm hãm đà gia tăng dân số Israel.

Một bé trai mới lọt lòng từ chi tộc Levi được một công chúa Ai Cập cứu thoát trong thúng điên điển do mẹ nó thả bên bờ sông Nil, có tên là Moses. Hoàng tử Moses lớn lên nơi hoàng cung và dĩ nhiên được giáo dục chu đáo. Trong một lần ông ra ngoài dạo chơi, vì cứu một phu xây dựng người Do Thái nên lỡ tay giết chết tên đốc công Ai Cập. Trở lại làm người Israel và trong khi trốn ở hoang mạc xa ngút ngàn, làm kẻ chăn cừu, Moses nhận được lệnh của Thượng đế phải quay về Ai Cập giải thoát dân Israel đang bị câu thúc. Ông vâng lời. Trong thời gian Moses thuyết phục Pharaoh để cho dân ông lên đường, Thượng đế giáng mười tai hoạ xuống dân Ai Cập mà cái sau cùng là giết chết trưởng nam cũng như những con vật đầu lòng của người Ai Cập, Pharaoh mới chịu để cho dân Israel ra đi. Biến cố vượt thoát ly kỳ này được ghi lại trong Kinh thánh (sách Vượt qua), mang người Israel trực chỉ miền đất Canaan mà Thượng đế đã hứa cho họ từ thời Abraham.

Bốn mươi năm trong hoang mạc

Cuộc lên đường gay cấn của bốn chục vạn người diễn ra trong khoảng thế kỷ 13 trước Công nguyên. Ngày nay, nhìn vào bản đồ, người ta có thể thấy thay vì đi thẳng, đoàn người Israel đã đánh một vòng quanh hoang mạc rồi quanh lui quẩn tới mất đến 40 năm. Thượng đế đích thân hướng dẫn họ khi đi, khi dừng lại, bằng cột mây ban ngày và cột lửa ban đêm. Sự giáng lâm hữu hình Shekinah ấy còn ở Nơi Cực thánh trong Lều Trướng mà mỗi khi cần thiết, Moses có thể trò chuyện trực tiếp tuy không thấy mặt ngài. Như vậy, lãnh đạo là đích thân Thượng đế, còn Moses chỉ là kẻ điều động.

Bốn mươi năm hành trình là thời kỳ tôi luyện dân Israel. Làm sao một dân tộc quen sống trong cảnh sung túc rồi nô lệ hàng trăm năm có đủ tính cách và bản lãnh để có thể chinh phục vùng đất trước mặt và xây dựng một quốc gia hùng mạnh trong tương lai. Làm sao lời giao ước của Thượng đế, vốn thuần túy là những hứa hẹn, được pháp chế hóa thành luật lệ và thiêng liêng hóa trong ràng buộc mang tính tôn giáo. Để có khả năng tiếp nhận miền đất hứa và xứng đáng làm người chủ của nó, dân Israel phải trải qua cuộc thanh tẩy trong đạo đức cùng thao luyện trong gian khổ. Quả thật, tường trình về chuyến băng ngang sa mạc ghi nhận đầy đủ những tin tưởng và phản bội, trông cậy và sa ngã, chiến đấu và thất bại, v.v. Đối với một số học giả, đó là lời giải thích cho cuộc đi vòng quanh và lẩn quẩn quá dài ngày mà thoạt trông tưởng là lạc lối.

Giao ước với toàn thể dân tộc

Trước đây, Thượng đế giao ước riêng với Abraham còn lần này, ngài giao ước với toàn thể dân tộc Israel qua những lần Moses lên đỉnh núi Sinai để trực tiếp gặp ngài. Từ đỉnh núi trở xuống, Moses chuyển giao cho dân tộcIsrael các huấn thị của Thượng đế. Thượng đế lúc này tỏ lộ danh xưng là YHWH, nghĩa là “Ta là kẻ ta là”, gọi là Gia-vê (có nơi phiên âm lầm thành Giê-hô-va), vì việc kêu lên Thánh Danh ngài là điều cấm ky nên có thể gọi ngài là Elohim, Thiên Chúa, Thượng đế, v.v. Còn về khuôn mặt thì không một ai thấy ngài mà sống sót, thậm chí cả Moses cũng chỉ thấy được bóng lưng ngài. Và đặc điểm của giao ước lần này cũng rất cụ thể, đó là chừng nào dân ngài chọn còn vâng lời ngài, chừng đó nó còn được ngài che chở. Ngài còn nói rõ, ta là Thượng đế của các ngươi, đấng Thượng đế ghen tương.

Trong lần tái xác nhận và giao ước với Israel này, Thượng đế truyền Mười giới răn, khắc sẵn trong hai tấm bia đá và trao cho Moses. Có thể rút gọn chúng như sau:

1. Ta là Thiên Chúa của các ngươi, đấng mang các ngươi ra khỏi Ai Cập,

và ra khỏi cảnh câu thúc;

2. Ngươi sẽ không có các thần nào khác ngoài ta ra;

3. Ngươi không được vô cớ kêu tên của Thiên Chúa;

4. Hãy nhớ ngày Sabbath và giữ nó làm ngày lễ nghỉ;

5. Ngươi hãy tôn kính cha ngươi và mẹ ngươi;

6. Ngươi sẽ không giết người;

7. Ngươi sẽ không phạm tội ngoại tình;

8. Ngươi sẽ không ăn cắp;

9. Ngươi sẽ không làm chứng gian dối chống lại người bên cạnh;

10. Ngươi sẽ không tham muốn vợ của người bên cạnh

hay bất cứ cái gì khác của người bên cạnh.

Cùng với Mười giới răn là vô số huấn thị khác của Thượng đế, làm thành bộ kinh Torah (gồm năm cuốn đầu của Kinh thánh, gọi là Ngũ kinh, Pentateuch) mà người Do Thái tin rằng tác giả của nó là Moses; ông nhận được từ Thượng đế qua ngôn từ trực tiếp và khải thị thiêng liêng. Ngoại trừ phần tường tình về Sáng thế, bộ kinh Torah đưa ra qui định lề luật từ việc nhỏ nhất về vệ sinh thân thể tới cúng tế, từ hôn nhân tới ăn uống kiêng khem (kosher), các lễ lạc từ ngày Sabbath hàng tuần tới các ngày lễ trọng thể và bán trọng thể quanh năm, v.v

Tất cả gồm 613 giới luật với chỉ dẫn chi tiết về cách phải làm và cách không được làm. 613 giới luật đó bao gồm 248 phát biểu tích cực về cách phải làm tương ứng với 248 bộ phận của thân thể. Và 365 lời phát biểu về không nên làm, tương ứng với 365 ngày một năm theo lịch Do Thái trên cơ sở âm lịch. Vậng lời Thượng đế tức là tuân giữ lề luật của ngài. Người Do Thái còn tin rằng bên cạnh kinh Torah được Moses công khai truyền cho dân Israel, còn có kinh Torah được Moses truyền riêng cho các đệ tử thân tín, và đó chính là phần huyền học, hay gọi bí pháp Kabbalah.

Thượng đế, kinh Torah và Israel

Kể từ đó, Thượng đế, kinh Torah và Israel là ba thành tố bất phân ly trong đời sống của người Do Thái.

Trên đường lữ thứ nơi hoang mạc, cứ mỗi thời kỳ dừng chân, dân Israel dựng Lều Trướng. Tại Nơi Cực thánh, họ đặt Hòm Giao ước trong đó đựng hai bia đá ghi Mười giới răn. Lều Trướng bao giờ cũng nằm ở vị trí trung tâm, chung quanh là lều trại của 12 bộ tộc. Thượng đế hiện thân thành Shekinah, trong đám mây, cột lửa dẫn đường đi hay dừng, và quầng sáng trên Lều Trướng. Trên đường đoàn người tìm lại miền đất hứa, Thượng đế ban thức ăn, nước uống, thẳng tay trừng trị khi có người phạm tội hay khi dân chúng dao động, đồng thời phù hộ khi phải giao chiến với các bộ tộc bản địa thù nghịch.

Lều Trướng là tiền thân của Đền thánh Jerusalem mà sau này, Thượng đế cũng ngự ở Nơi Cực thánh, căn phòng nội điện mà mỗi năm thượng tế chỉ được vào một lần và chỉ được gọi Thánh Danh ngài một lần. Hai ngàn năm sau, khi định chế hội đường thành tâm điểm của sinh hoạt cộng đoàn Do Thái giáo, hội đường nào cũng có một Hòm thánh trong đó đựng cuộn kinh Torah viết trên giấy da. Và tuần nào cũng lấy ra đọc một trích đoạn cho cộng đoàn nghe trong ngày Sabbath.

Vào miền đất hứa

Suốt bốn mươi năm ấy, không phải đoàn người lữ thứ hoàn toàn quanh quẩn mịt mù trong sa mạc. Đã có lần họ tới được bên rìa miền đất hứaCanaan, nhìn thấy nó, và Moses cử một đoàn thám sát vào thăm dò nó. Nhưng lần đó, dân Israel mới chỉ như con người thoáng thấy chân lý rồi lại bị trôi giạt giữa dòng đời. Sau những gian nan khi tiến khi lùi gần như bất tận, đoàn người lên tới khoảng sáu chục vạn người và chuyển sang một thế hệ mới, với não trạng mới và tính cách mới.  Họ trở nên kỷ luật hơn, thiện chiến hơn, đạo đức hơn, và chỉ thế hệ mới này mới đủ tiêu chuẩn vào miền đất hứa. Thậm chí bản thân Moses cũng chỉ được lên núi cao đưa mắt nhìn nó trước khi nhục thể phải nằm lại tại Moab, dưới một nấm mồ không bia mộ ở thung lũng giáp ranh với Canaan.

Mang theo Lều Trướng và Hòm bia Giao ước trong đó đựng Mười giới răn, và mang theo lời truyền khẩu về Lề luật mà ba trăm năm sau ghi lại thành bộ kinh Torah, đoàn người vượt sông Jordan vào vùng đất hứa Canaan. Trong khi vùng đất chung quanh có vua chúa, thờ phượng nhiều thần linh bản địa bằng ngẫu tượng, theo tôn giáo tự nhiên, thì chỉ một mình dân Israel thờ phượng Thượng đế, biến niềm tin thành giới luật và thoát ra ngoài sự sùng bái quỉ thần, mê tín dị đoan.

Miền đất hứa ấy được chia vùng cho 12 bộ tộc sinh sống, còn Lều Trướng với Hòm bia Giao ước đặt tại Shiloh. Từ khoảng năm 1200 cho tới năm 1047, các bộ tộc Israel sống canh nông và chăn nuôi, không có chính quyền trung ường và được phân xử bởi các thủ lãnh, còn gọi là thẩm phán. Thủ lãnh là người được lấy từ các kỳ mục vị vọng, có trách nhiệm đặc biệt phân xử về đất đai, hôn nhân và các sự việc liên quan tới lề luật. Đồng thời, họ còn lãnh đạo những cuộc hành quân phối hợp giữa các bộ tộc trong những trận đánh với các dân tộc chung quanh, đặc biệt với quân Philistine, tiền thân của người Palestine sau này. Người sau cùng và nổi tiếng nhất là thủ lãnh Samson, thuộc bộ tộc Dan, nhà dũng sĩ vô địch đã dùng cái chết để chuộc tội sa ngã nữ sắc của mình. Thời kỳ này được ghi lại trong sách Thủ lãnh (còn được dịch sang tiếng Việt là Thẩm phán).

Thời kỳ của hoàng đế

Tình trạng tranh chấp và chia rẽ giữa các bộ tộc cùng với xung đột với các dân tộc bản địa chung quanh dần dà vượt ngoài tầm giải quyết của thủ lãnh. Đã tới lúc người Israel đòi phải có vua, bất chấp lời cảnh cáo của Thượng tế và Ngôn sứ Samuel về một tương lai sẽ đánh mất quyền làm chủ sinh mạng và của cải vào tay đức vua, đồng thời sẽ than khóc vì mình đã chọn loại thủ lãnh đó. Cuối cùng Thượng đế đành để cho Samuel chọn Saul, người thuộc bộ tộc Benjamin lên làm vua.

Saul là một hoàng đế dũng mãnh, bảo vệ được dân chúng và đặt nền móng cho công cuộc lập quốc. Nhưng quyền lực trần thế biến ông thành người điên loạn. Ông hãm hại kẻ trung lương là David, ân nhân của ông và cũng là người được thiên định kế vị ông. Cực điểm hư hoại của Saul là đánh mất niềm tin vào Thượng đế, vi phạm điều ngài cấm triệt để bằng việc nhờ đồng bóng triệu hồn Samuel để ông hỏi về hậu vận của mình. Cuối cùng, Saul tự sát ngoài chiến trường khi phải đối đầu với quân Philistine. Saul làm vua từ năm 1047 tới 1010 trước CN.

Kế tục Saul là David, thuộc bộ tộc Judah và xuất thân mục đồng, là vị vua vĩ đại nhất lịch sử Israel. Qua David, Thượng đế hoàn thành lời hứa với Abraham, biến Israel thành một dân tộc vĩ đại. Làm vua Judah năm 1010 và hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước Israel năm 1.003, David là vị vua anh hùng, mở đầu cho Nhà David với Ngôi sao David biểu tượng cho dân tộc Do Thái, gồm hai hình tam giác đều đặt ngược nhau và đồng tâm; nối các điểm tiếp giáp thì sẽ cùng với các mũi nhọn làm thành 12 tam giác nhỏ, tiêu biểu cho 12 bộ tộc. Thêm nữa, David được qui là tác giả của sách Thánh vịnh, dùng làm cốt lõi cho kinh nguyện Do Thái giáo suốt mấy ngàn năm nay. Đặt Zadok làm Thượng tế, nhà vua bắt đầu chuẩn bị xây đựng Đền thờ Jerusalem, thay thế Lều Trướng để làm tâm điểm cho Do Thái giáo và biến kinh đô Jerusalem thành Thánh thánh của dân tộc hay còn gọi là Thành David.

David qua đời năm 970 trước CN, nối ngôi là hoàng tử Solomon, kẻ tiêu biểu cho minh triết Israel và được Thượng đế ban cho đầy đủ khôn ngoan. Thời đại Salomon thịnh trị, thu phục được lòng tin của lân bang, mở rộng ngoại thương tới các xứ xa. Về mặt kinh điển, kinh Torah được ghi thành văn bản dưới triều Solomon. Về mặt cơ sở phụng vụ, Solomon nối tiếp ý nguyện của phụ hoàng, năm 960 khởi công xây lên Đền thờ Jerusalem, và rồi nó được xem là kỳ quan đệ nhất của thế giới thuở đó.

Đền thờ Jerusalem là một quần thể mà tòa nhà chính dài khoảng 28 thước, rộng 9 thước, cao 13 thước với các cột đồng khổng lồ được trang trí tinh xảo bằng hoa văn cây thạch lựu và hoa huệ; những hành lang cao và rộng bọc quanh toà nhà chính; các bức tường khổng lồ bằng gỗ cây bách hương hùng vĩ của Lebanon, tất cả đều dát vàng lóng lánh. Cây bách hương không có mắt gỗ, không bị mọt và không mục, thường được nói đến trong Kinh thánh, là loại gỗ xây dựng tốt nhất.

Tòa nhà lộng lẫy ấy, nơi thờ tự đầu tiên của một dân tộc du mục đã chuyển qua lối sống định cư mang lại uy danh mới cho vương quốc, hẳn phải phản ánh khả năng kiến trúc của những dân tộc có nhiều kinh nghiệm xây dựng hơn dân Do Thái thuở ấy. Thợ khắc gỗ người Phoenicia, tài cán nhất đương thời, được thuê sang để thực hiện các phù điêu. Thợ chuyên môn từ thành phố Tir đẽo các khuôn đúc vật bằng đồng. Thêm vào đó là các thợ thủ công và sự tiếp tay của lực lượng lao động gồm ít nhất ba chục ngàn người Israel. Công trình vô tiền khoáng hậu ấy cần thời gian tới bảy năm mới hoàn tất.

Bằng sự phong phú vật liệu hơn là tính cách riêng biệt của mô hình, Solomon ra sức ganh đua với những gì hoành tráng nhất trong đền đài ở các xứ khác.  Những con cừu, vật chứa hương trầm, kẹp gắp lửa, chảo nấu và những đồ dùng trong lễ thượng hiến tế vật đều được làm bằng vàng. “Biển” nước kỳ bí làm bằng đồng nguyên chất dùng cho nghi lễ tẩy uế, chứa gần 40.000 lít nước và cân nặng khoảng 30 tấn. Bên trong Nơi hậu tẩm Cực Thánh mà duy nhất vị thượng tế được vào chỉ một ngày trong năm, có hai thần phẩm có cánh Cherubim to lớn, làm bằng gỗ ô-liu và thếp vàng, đứng canh giữ Hòm bia Giao ước.

Đối với các tín đồ, vẻ nguy nga và lộng lẫy của Đền thờ và nỗ lực tối thượng xây lên một tòa nhà như thế không nhằm làm bằng chứng cho vinh quang trần thế của dân tộc mình mà chỉ để tương xứng với sự hiện diện của Thượng đế, Đấng Chúa tể Vũ trụ, Đấng đã đem dân ngài chọn vào đất hứa và đã giúp họ đánh bại các kẻ thù. Cho tới mấy ngàn năm sau, Đền thánh của Solomon vẫn sáng lung linh trong tâm tưởng và Thành thánhJerusalem vẫn là linh địa của người Thiên Chúa giáo.

Thế nhưng, cuối cùng, quyền lực vẫn làm băng hoại được Solomon. Ông mất bảy năm xây cất Jerusalem nhưng mất 30 năm để xây dựng các cung điện của mình. Dân chúng phải chịu sưu cao thuế năng cho những phí tổn của quốc gia. Nhà vua có một hậu cung với 700 hoàng hậu, 300 phi tần trong đó nhiều phụ nữ ngoại giáo, và ông dựng các tế đàn ở vùng đồi núi để họ cúng các thần ngoại giáo của họ.

Solomon vị vua uy hùng cuối cùng của Israel, qua đời năm 931 tr.CN, trao lại vương quyền cho con là Rehoboam với vương quốc trên đà hổn loạn. Nói chung, thời đại David-Salomon là thời kỳ huy hoàng nhất của Israel. Nó là đối tượng vĩnh viễn của hoài niệm đầy tự hào và mơ ước nóng bỏng của dân Do Thái từ mấy ngàn năm nay. Và kể từ ngày đất nước chia đôi rồi dân chúng bị lưu đày, nó củng cố thêm hình ảnh Đấng Cứu thế được trông đợi sẽ xuất hiện từ Nhà David để khôi phục vương quyền, cứu độ dân tộc và đem Israel trở lại thời hoàng kim đó.

Chia thành hai vương quốc

Năm 930, Jeroboam, người không thuộc hoàng tộc David, lãnh đạo cuộc nổi loạn của mười bộ tộc phương bắc làm thành nước Israel. Chỉ còn lại hai bộ tộc Judah và Benjamin trung thành với Nhà David làm thành nướcJudah ở phương nam, trong đó có Đền thờ Jerusalem.

Đặt kinh đô tại Samari, Jeroboam muốn xây dựng tại nước Israel của mình một đền thờ ở Bethel thay cho Jerusalem, nhưng với một số biểu tượng ngoại đạo. Và cùng với chúng là các vị vua hậu duệ của ông bái lạy thần linh ngẫu tượng. Đây là thời của các ngôn sứ như Đại ngôn sứ Elijah và vị kế thừa là Elisha, cùng với các ngôn sứ khác như Amos, Hosea, và Jonah.

Tuổi thọ của vương quốc Israel phương bắc chỉ được khoảng 200 năm. Tới năm 720, Israel bị xâm chiếm bởi Đế quốc Assyria, một cường quốc ở vùng Lưỡng hà, tọa lạc tại thượng nguồn sông Tigris với thủ đô là Niniveh. Mười bộ tộc phương bắc bị lưu đày tứ tán, trở thành mười bộ tộc thất lạc đâu đó mà có lẽ sẽ không bao giờ quay về đất Canaan, nay là Palestine. Có ít nhất bốn nhóm dân tộc ở Ấn Độ, và các dân tộc ở châu Phi, Trung Á, xưng mình là hậu duệ của 10 bộ tộc này. Trong đó có cả người Khương sống ở Cam Túc, Thanh Hải, từng nổi loạn chống lại nhà Đông Hán năm 110 s sau CN, và một số người Hoa tại Khai Phong ở Hồ Nam.

Vương quốc miền nam Judah kéo dài tuổi thọ tới năm 587 rồi cũng bị xâm chiếm bởi Babylon, một đế quốc mới, phát xuất từ vùng Lưỡng Hà địa (nay là Iraq). Đền thờ Jerusalem sau bao nhiêu lần bị các vua Judahphương nam rút tỉa đề cống nạp, và bị các toán quân Assyria cướp phá khi mượn đường hành quân, cuối cùng nó bị san thành bình địa bởi đạo quân xâm lăng người Babylon. Tại miền nam, đây cũng là thời kỳ của các ngôn sứ như Isaiah, Jeremiah, Zechariah, Habbakkuk, Joel, Micah, Obadiah và Zephaniah .

Có thể nói đây là thời đại của các ngôn sứ. Trong hoàn cảnh dân tộc Israelphân hóa, đất nước chia đôi, các vua tiếp theo Solomon, cả nam lẫn bắc, đánh mất sự tôn trọng của dân chúng thì tiếng nói của các ngôn sứ cất lên dõng dạc. Các ngôn sứ trở thành thủ lãnh thật sự của dân chúng. Họ tạo niềm hứng khởi và nếu cần thì cảnh giác, phê phán dân chúng. Thậm chí nhiều ngôn sứ chỉ trích nhà vua, và họ sẵn sàng chấp nhận hậu quả nguy hiểm của hành động đó. Ngôn sứ nói lên tiếng nói của Thượng đế, tố cáo sự dữ, báo trước thảm hoạ sắp xảy ra, và sẵn sàng đổ máu mình để làm chứng cho lời mình nói.

Đây cũng là thời kỳ Elijah với ngọn lửa nhiệt tình, trấn áp việc thờ phượng tà thần, và cứu khổn phò nguy cho người bị thiên tai lẫn nhân tai. Theo gót ông là ngôn sứ được ông chân truyền Elisha. Ngôn sứ Isaiah mô tả kỹ lưỡng về Đấng Cứu thế, xuất thân từ Nhà David, sẽ giáng lâm để giải phóng dân tộc Israel, đoàn kết các dân tộc trên thế giới trong hòa bình, và sẽ phân xử trong công bằng và chính đáng cho đến muôn đời.

Cuộc lưu đày và hồi hương

Khi các đế quốc lần lượt nổi lên thì vùng đất Israel là địa điểm chiến lược. Nó trở thành một hành lang nằm giữa biển và sa mạc, cung cấp cho đoàn thương buôn và đạo quân chinh phục một con đường độc nhất có sinh khí xuyên giữa các quốc gia rộng lớn và hùng mạnh giáp ranh nó. Thế kỷ này nối tiếp thế kỷ kia, hàng ngàn năm này sang ngàn năm khác, những cuộc diễn binh lũ lượt đi qua nó: các binh đội của vua Ai Cập, những đoàn bộ hành A Rập; xe trận từ Assyria và kỵ binh từ Babylon, sau này người Ba Tư với Cyrus, Macedonia với Đại đế Alexander và rồi tới lượt người Hi Lạp, La Mã, Parthia.

Nhưng những đợt sóng quét dân tộc Israel một phần sẽ dâng lên về sau. Lúc này, và có lẽ cũng giống như mọi thời, muốn tiêu diệt một dân tộc, phải phá hoại tôn giáo, cái làm thành sức mạnh tâm linh và định chuẩn đạo đức của nó. Vì chỉ những người đạo cao đức trọng, tâm linh phong phú mới có khả năng làm anh hùng liệt nữ, và một dân tộc dù khốn khó mà có đạo nghĩa vẫn giữ được bản lãnh quật cường. Trường hợp này tuyệt đối đúng với người Do Thái. Đền thờ Jerusalem bị phá hủy. Toàn thể dân chúng, kể cả vua của Judah, bị bắt sang sống lưu đày ở kinh đô Babylon. Và kể từ đó, họ được gọi là người Judah (Jew/Do Thái), để phân biệt với các sắc dân khác cũng ở trong Đế quốc Babylon mênh mông.

Cuộc lưu đày này tuy chỉ kéo chưa tới năm chục năm, nhưng để lại những dấu ấn sâu xa trong tâm hồn Do Thái tha hương và trong văn học của họ. Ta đọc thấy những lời như sau:

Cô đơn biết bao ngồi chốn thành đô một thuở đông người

Giống biết mấy quả phụ kia, thuở cao vời giữa các dân tộc

Và công chúa giữa các tỉnh thành

Nàng hôm nay tên lệ thuộc

Đêm về thảm thiết khóc than nước mắt đẫm má

Chẳng ai an ủi nàng

Trong những kẻ nàng yêu.

Và họ cũng hát lên những bài ca ai oán cho thân phận mình cam chịu cảnh lưu đày giữa chốn kinh thành hoa lệ Babylon:

Bên những dòng sông Babylon

Nơi tôi ngồi xuống, ôi tôi khóc

Khi nhớ về Zion.

Nhưng Hoàng đế Nebuchadnezzar (k. 634 – 562 tr.CN) cũng không phải là người hoàn toàn khe khắt với người Do Thái. Và có lẽ trong thời gian này bắt đầu xuất hiện hình thức Hội đường – trung tâm thờ phượng và sinh hoạt tinh thần của cộng đoàn Do Thái giáo. Một khuôn mặt lưu đày hàng đầu là Ngôn sứ Ezechiel với những tiên báo về sự hủy diệt kẻ thù của Judah bằng lửa và động đất, việc hồi hương Israel và bằng giọng nói mang tính cứu thế, về sự tái lâm của vua David và sự phục hưng vương quốc.

 

Về từ chốn giam cầm

Rồi gió thịnh suy trần gian cũng phải đổi chiều. Bánh xe trận của đế quốc Ba Tư nghiền nát đế quốc Babylon. Năm 539 trước CN, Đại đế Cyrus của Ba Tư cho người Do Thái hồi hương. Đoàn người mà phần nhiều là người nghèo, vượt sa mạc trở về một quê hương đang nằm điêu tàn quá bờ bên kia. Người giàu ở lại Babylon mà về sau sẽ tiếp nhận thêm một đợt lưu vong mới và có những đóng góp lớn lao về giáo thuyết.

Công trình đầu tiên khi về lại quê cũ là xây dựng lại Đền thánh Jerusalemvì từ những ngày bên bờ sông Babylon, họ đã đau đáu với nỗi niềm “Ta mà quên ngươi, hỡi Jerusalem, thì tay phải ta cũng hãy quên ta.” Viên đá đầu tiên được đặt xuống cùng với sự yễm trợ tinh thần lẫn vật chất của Hoàng đế Ba Tư. Hiện nay, ta không còn giữ được sự mô tả cụ thể về Đền thờ thứ hai này, nhưng chắc chắn nó không hoành tráng bằng Đền thờ thứ nhất. Và năm trăm năm sau, nó bị Đại đế Herod phá để xây dựng Đền thờJerusalem thứ ba mà theo cao vọng của vị vua cải giáo là phải làm sao cho nguy nga hơn Đền thờ của Solomon.

Thế nhưng chính những sinh hoạt tôn giáo diễn ra trong Đền thờ mới quan trọng. Việc cúng tế mỗi ngày một con cừu vẫn diễn ra hằng ngày, suốt hơn năm trăm năm, kể cả trong thời gian Đại đế Herod xây dựng Đền thờ thứ ba. Quanh năm, lễ Vượt qua và lễ Ngũ Tuần vẫn tấp nập người hành hương. Đền thờ vẫn là tâm điểm của dân tộc Do Thái với cuộc sống kính sợ Thượng đế, từ tâm với người có nhu cầu và nghiêm ngặt giữ cho hết các lề luật chi li và nhiêu khê được qui định trong kinh Torah. Kinh này cũng được Ngôn sứ Ezra san định lại, với nội dung có lẽ hoàn toàn giống với bản ngày nay chúng ta đang có.

Sinh hoạt Đền thờ và tôn giáo cũng làm vững thêm tư thế của giới tư tế, có tính kế tục mà bây giờ được gọi là Sadducee, hậu duệ của Thượng tế Zadok thời David. Qua hình ảnh của Thượng tế cùng với hệ thống một tập đoàn tư tế đông đúc trên khắp đất nước, họ là những người lãnh đạo dân tộc. Vào thế kỷ cuối trước Công nguyên, trong một lễ hội như Vượt qua, tại Đền thờ Jerusalem có khoảng 17.000 tư tế và người Levi lo phục dịch Đền thờ. Bên cạnh Thượng tế và khoảng 200 chánh tư tế, có khoảng 7.200 tư tế thường và 9.600 người Levi. Quanh năm, các tư tế ở khắp nước đều theo từng lộ mà được cắt cử luân phiên về phụ trách việc tế lễ hằng ngày tại Đền thờ.

Sinh hoạt tôn giáo thường nhật và kinh sách làm sản sinh người Pharisee (nghĩa là kẻ chống đối) gồm các học giả, các thầy cả mà ngày càng đối lập với người Sadducee, giới tư tế có quan điểm bảo thủ và là đầu mối của các bất hòa tôn giáo và xung khắc trong các vấn đề nội bộ của người Do Thái. Vào đầu Công nguyên, tại Jerusalem có hai trường phái Pharisee nổi tiếng, một là của Đại thầy cả Shammai, hai là của Đại thầy cả Hillel. Bên cạnh, còn có người Essene khổ hạnh tại tu viện Qu’ram, mà gần hai ngàn năm sau, lôi cuốn sự chú ý của giới học giả nhờ các tài liệu Kinh thánh của họ để lại trong các hủ gốm, mãi tới năm 1947 mới tình cờ phát hiện, gọi là Các cuộn sách Biển Chết (Dead Sea Scrolls).

 

Lệ thuộc các đế quốc

Kể cả thời hoàng kim của Nhà David, Israel chưa bao giờ có một quân đội hùng mạnh đủ sức khống chế lân bang. Từ Ba Tư trở về, vùng đất Judea, mà về sau gọi là Palestine (đất của người Philistine), trở thành thuộc địa và hành lang chiến trận cho các đế quốc. Nền cai trị của Ba Tư sụp đổ khi bánh xe trận của Alexander Đại đế lăn qua Palestine năm 332, và mang theo tôn giáo cùng văn hóa Hi Lạp và mở đường cho nền văn hóa ấy phát triển rực rỡ với các thành phố mang sắc thái của nó mọc lên khắp Địa trung hải. Sau cái chết của vị Đại đế trẻ tuổi ấy, Judea lệ thuộc một cận tướng của ông là Ptolemy, lúc này xưng vương tại Ai Cập. Còn cận thần thứ hai là Seleucus cũng xưng vương tại Syria.

Trong khung cảnh đó, mỗi xứ sở thuộc địa được cho một phạm vi quyền hành tự quản rộng rãi. Do đó tại Judea – tức là xứ Palestine lúc ấy – vị Thượng tế hành xử như một ông vua bình thường. Ngoài nhiệm vụ làm thủ lãnh tôn giáo của dân tộc mình, ông còn là chủ tịch của Hội đồng Công nghị gồm các trưởng lão (kỳ mục) và là người giám sát các vấn đề an ninh, cung cấp nước và thu thuế. Người Do Thái được hưởng quyền tự do thờ phượng và quyền tuân giữ lề luật của tổ tiên khi thích hợp.

Dù trực thuộc Ptolemy ở Ai Cập hay tổng trấn ở Syria và rồi vua Syria, có lẽ người Do Thái cũng chỉ muốn được bình yên để thờ phượng và sinh sống. Họ chỉ có phản ứng mạnh khi tín ngưỡng Do Thái giáo và đặc biệt Đền thờ Jerusalem bị xâm phạm hay làm ô uế.

Sách nhiễu tôn giáo và nổi lọan

Căn cứ trên nền tảng Do Thái giáo gọi là kosher thì có loại thịt và cá bị cấm ăn, Thí dụ thịt heo và loài giáp xác (động vật không có xương sống, có vỏ cứng ở ngoài cơ thể, thở bằng mang như tôm, cua, vv.), bị coi là “không tinh khiết”. Cũng thế, không phải bất cứ con vật nào cũng có thể bị giết, chủ yếu chỉ để ăn thịt. Và cấm toàn bộ máu, vì như đã phát biểu trong sách Đệ nhị luật 12:33 rằng “Máu là sự sống”, và phải được coi là thiêng liêng, dù ở trong loài vật. Thậm chí bát dĩa nồi niêu soong chão cũng chưa từng đựng các thực phẩm bị cấm.

Khi người Syria ra lệnh cấm người Do Thái học kinh Torah, cấm giữ ngày Sabbath và cắt bì, bắt ăn thị heo và dùng máu heo rắc lên Đền thờ Jerusalem, và hơn nữa, còn dùng nơi đó để tế thần Zeus, người Do Thái thà chết còn hơn chấp nhận. Năm 167 tr.CN, tại tây bắc Jerusalem, lính của nhà vua Xyria tập trung dân chúng lại yêu cầu tư tế Mattathias làm lễ cúng một con heo. Sự việc ấy đưa tới vụ khởi nghĩa của dòng họ Maccabea. Nghĩa binh chiếm được và tẩy uế Đền thờ Jerusalem năm 164, mở đầu triều đại Hasmonea thái bình thịnh trị, kéo dài tới 80 năm.

Khi tướng Pompey (106-48 tr.CN) đánh bại Nhà Maccabea vào năm 63 tr.CN, ông nổi tính hiếu kỳ, đi cùng tùy tùng vào Nơi Cực thánh mà chỉ có Thượng tế mỗi năm mới được vào một lần. Pompey không thấy gì hết ngoài các bức tường trống rỗng. Tuy sau đó, ông cho phép các tư tế tẩy uế, nhưng với người Do Thái, đó là sự sỉ nhục tột độ và từ đó, tên của Pompey đi liền với sự báng bổ cực kỳ.

Dưới thời cai trị của Tổng trấn La Mã Gessius Florus, năm 66 sau CN, người Hi Lạp cử hành lễ cúng tế tà giáo trên lối vào của một hội đường khiến một số người Do Thái phản đối rồi bị bắt giữ. Tiếp đến, Florus đột nhập Đền thờ Jerusalem lấy đi một số tiền rất lớn. Tới khi người Do Thái phản đối, ông cho lính tàn sát làm số người tử nạn lên tới khoảng 3.600 người. Từ đó bùng lên cuộc khởi nghĩa toàn quốc của người Do Thái.

Cuộc khởi nghĩa kéo dài bốn năm. Tới năm 70 sau CN, 25.000 nghĩa quân trấn thủ Jerusalem thất trận. Đền thờ thứ ba do Đại đế Herod xây lên bị đốt cháy và san bằng. Toàn kinh thành cũng bị san bằng “không một hòn đá nào còn nằm trên hòn đá nào”. Kết thúc là cái chết bi tráng của 960 đàn ông đàn bà và trẻ con tự sát ở pháo đài Masada, năm 73 sau CN, sau mấy năm tử thủ.

 

Cuộc lưu lạc của người Do Thái

Trong hơn 2.700 năm, dân Do Thái có nhiều cuộc lưu vong và tản mác. Có thể liệt kê tuần tự như sau:

1. Cuộc lưu đày

Đây là lần tản mác thứ nhất, mang tính lưu vong, sau cuộc thất thủ của vương quốc Israel đưa tới sự thất lạc của mười bộ tộc phương bắc. Kế đó là vương quốc phương nam Judah bị xóa sổ, dân chúng thuộc hai bộ tộc còn lại, bị lưu đày sang Babylon và họ cùng hậu duệ làm thành dân Do Thái cho tới ngày nay. Mười bộ lạc thất lạc để lại nhiều sắc dân sống rải rác ở châu Phi, Ấn và Bắc Trung Hoa; tuy có nơi tự nhận là hậu duệ Do Thái nhưng đã đánh mất bản sắc Do Thái giáo. Hơn bốn vạn người Judahhồi hương, tái thiết Jerusalem để lại một bộ phận ở Babylon, còn có thêm nhiều người ở Ba Tư, tức là Iran ngày nay, mà ta đọc thấy Esther, một sách của Kinh thánh.

Xem tiếp PHẦN 2

Nguyễn Ước

http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=13540

Do Thái giáo Hồi giáo

Bàn về Thượng đế -2

Tiểu luận
Bàn về Thượng đế -2
 PHẦN 1
7. Phản biện

Khổ là do con người

Người ta thường trả lời những phê phán kể trên bằng cách vạch ra rằng Thượng đế, Ðấng toàn năng và nhân từ, tạo dựng vũ trụ một cách toàn hảo. Cuộc sáng thế toàn hảo này đòi hỏi phải cho con người ý chí tự do vì nó được tạo dựng theo hình ảnh của Thượng đế. Nếu không có ý chí tự do thì người sở hữu nó đã không có quyền chọn lựa và tự mình lập quyết định.

Khi đối mặt với cám dỗ, con người sa ngã phạm tội, dẫn đến mọi đau đớn khổ sở trong thế giới này. Thảm kich chiến tranh, khủng bố, động đất, bão tố, lốc xoáy, nghèo đói, dịch bệnh, ô nhiễm môi sinh, triều cường, v.v. là kết quả của tội lỗi của con người. Mọi độc dữ trong thế giới này đều do bởi con người chứ không do bởi Thượng đế. Như thế, những điểm đặc trưng thiết kế trong thế giới này là bằng chứng cho sự hiện hữu của Thượng đế, còn cái ác là hậu quả hành động tội lỗi của con người.

Ðau khổ là để uốn nắn

Có thể nói nhiều cái bị phàn nàn là những kiểu mẫu thiết kế kém phẩm chất chẳng qua là vì cái nhìn hữu hạn và chật hẹp của chúng ta. Có thể giả định chuyện một người cha trừng phạt đứa con. Khi thọ phạt, đứa con hoài nghi tình thương và sự am hiểu của người cha. Nhưng nếu đứa con ấy đừng nghĩ ngợi gì khác, chỉ nhìn tới tương lai, nó sẽ nhận ra rằng kỷ luật là chỉ vì sự tốt lành của nó.

So phần lớn khổ đau trong cuộc đời với thí dụ ấy thì cũng giống như thế. Mục đích sự trừng phạt của Thượng đế là để uốn nắn con cái của ngài như người cha uốn nắn đứa con của mình. Nếu chỉ nhìn toàn bộ bức tranh, chúng ta sẽ thấy rằng những gì gây đớn đau cho chúng ta lúc này chỉ là thành phần trong kế hoạch của Thượng đế vì sự tốt lành lớn lao của con người.

8. Luận cứ bản thể luận

Duy lý nghi ngờ duy nghiệm

Các kết luận của một hệ thống triết học, nếu muốn giữ được tính nhất quán, phải phản ánh nguyên tắc dẫn đạo hệ thống đó. Người duy nghiệm chủ nghĩa phải bắt đầu với vạn vật hoặc với dữ-liệu-giác-quan vì toàn bộ trường hợp thẩm tra của họ đều đặt cơ sở trên giá trị của kinh nghiệm giác quan.

Người duy lý chủ nghĩa không tin người duy nghiệm chủ nghĩa vì họ hoài nghi giá trị sự làm chứng của giác quan, và để kiến lập quan điểm của mình, họ có thể vạch cho thấy đủ thứ ảo giác. Do đó, người duy lý tìm kiếm bằng chứng sự hiện hữu của Thượng đế trong bản tính hoặc các nội dung của lý trí.

Trường hợp Descartes

René Descartes, như chúng ta từng đề cập, đã chọn việc đặt trường hợp thẩm tra của ông trên các nguyên tắc duy lý. Vì là nhà toán học, ông cảm thấy các tiền đề hoặc các nguyên lý hiển nhiên là vị trí bắt đầu để sở hữu tri thức một cách chắn chắn hơn, so với sự làm chứng của giác quan. Do đó, Descartes khảo sát các ý tưởng hoặc các nội dung của tâm trí. Và ông tìm thấy ở trong chúng có ý tưởng về một Hữu thể toàn hảo (a perfect Being). Kế đó, ông đặt vấn đề bằng cách nào mình có thể đi tới việc sở hữu một ý tưởng như thế.

Bằng trực giác, Descartes biết rằng kết quả không thể nào hơn nguyên nhân. Hoặc diễn tả cách khác, nguyên nhân phải ngang với hoặc lớn hơn kết quả, bằng không, cái gì đó hẳn phát sinh từ cái không có gì. Hệ quả là theo Descartes, tôi không thể là tác giả của ý tưởng về Hữu thể toàn hảo – bằng không, nguyên nhân ấy, là tôi, một hữu thể bất toàn, hẳn không ngang với kết quả. Vì tôi có ý tưởng về Hữu thể toàn hảo và vì nguyên nhân phải thỏa đáng với kết quả, nên phải hiện hữu Hữu thể toàn hảo, kẻ sản sinh ý tưởng ấy trong tâm trí của tôi.

Một ý tưởng bẩm sinh

Ðáp lại Descartes, câu trả lời dễ dàng là nói rằng chúng ta đã xem xét các ý tưởng của mình và ở đó, chẳng chỗ nào chúng ta tìm thấy có ý tưởng về sự toàn hảo hoặc về một hữu thể toàn hảo. Câu trả lời ấy hẳn không làm Descartes lo lắng vì ông tin rằng ý tưởng về Thượng đế hoặc về Ðấng (Hữu thể) toàn hảo là một ý tưởng bẩm sinh.

Vì do bởi nó bẩm sinh nên chúng ta có thể không nhận biết nó một cách đầy đủ. Chính phận sự của công tác giáo dục và suy ngẫm sẽ khiến cho chúng ta hoàn toàn ý thức các ý tưởng tiềm ẩn mà chúng ta đang sở hữu. Trong trường hợp Descartes, công tác ấy đã hoàn tất.

Từ ý thức sự bất toàn

Nhưng Descartes cũng lập luận rằng chúng ta có ý tưởng về sự toàn hảo vì nếu chúng ta ý thức về sự bất toàn, chúng ta phải nhận biết sự toàn hảo dù chúng ta thừa nhận hay không thừa nhận nó. Không thể nào xác định sự bất toàn nếu không liên quan tới ý tưởng về sự toàn hảo. Xét theo khía cạnh luận lý và thực tế, ý tưởng về sự toàn hảo có trước. Nếu chúng ta có ý tưởng về sự bất toàn thì chúng ta hẳn đã có ý tưởng về sự toàn hảo.

Người ta có thể đáp lại rằng trong thực tế, chúng ta xây dựng ý tưởng về sự toàn hảo bằng cách thiết lập thứ tự các đối tượng theo những cấp độ không toàn hảo. Chúng ta bắt đầu với một đối tượng bất toàn nhất, rồi đi từ cái rất bất toàn đó tới cái ít bất toàn hơn một chút rồi tiếp tục đi xa hết sức có thể. Và cứ thế ta mường tượng ra một chuỗi như thế để cuối cùng, hình thành ý tưởng về sự toàn hảo.

Tuy nhiên, Descartes hẳn sẽ vạch ra rằng chúng ta không thể sắp đặt một chuỗi liên quan tới các cấp độ bất toàn từ ít tới nhiều hoặc từ nhiều tới ít nếu chúng ta không có ý tưởng về sự toàn hảo để hướng dẫn chúng ta trong việc sắp xếp thứ tự.

Bằng cách ấy, Descartes lập luận rằng ai trong chúng ta cũng sở hữu ý tưởng về sự toàn hảo dù chúng ta có ý thức nó hay không. Thật dễ dàng khi đi từ ý tưởng về sự toàn hảo tới ý tưởng về Hữu thể toàn hảo vì xét theo quan hệ nhân quả, một hữu thể không toàn hảo thì không thể là nguyên nhân của ý tưởng về sự toàn hảo. Do đó, cũng dựa trên sự phân tích quan hệ nhân quả, việc chúng ta sở hữu ý tưởng về Hữu thể toàn hảo kiến lập sự hiện hữu của Ðấng toàn hảo, kẻ chắc chắn sản sinh nó trong tâm trí của chúng ta.

Trường hợp Anselm

Luận cứ của Descartes – vốn dựa trên giả định rằng chúng ta có ý tưởng về Hữu thể toàn hảo – dẫn tới cái được gọi một cách thích đáng hơn, đó là luận cứ mang tính *bản thể luận (ontological argument). Nguyên thủy, nó được lập thành vào thế kỷ 11 bởi giám mục *Anselm (1033-1109). Khái quát, từ luận cứ của vị học giả, tu sĩ và triết gia ấy ta có thể chiết ra như sau:

a. Tôi có ý tưởng về Hữu thể toàn hảo (a perfect Being);

b. Bằng sự kiện ấy, tôi có ý nói rằng tôi có ý tưởng về một Ðấng không thiếu cái gì cả, một cách tuyệt đối;

c. Nếu Hữu thể ấy thiếu cái gì đó, y không toàn hảo, và lúc đó, tôi có thể đã quan niệm một Hữu thể cao hơn.

d. Hữu thể toàn hảo này, do đó, phải hiện hữu; vì nếu không hiện hữu tức là Ngài thiếu cái gì đó và không là Hữu thể (Ðấng) toàn hảo;

đ. Vì tôi có ý tưởng về Hữu thể toàn hảo và rằng ý tưởng đó phải bao gồm cả sự hiện hữu, nên Ðấng toàn hảo – Thượng đế – do đó phải hiện hữu.

Trong “con đường thứ tư” của Thomas Aquinas dùng để chứng minh có Thượng đế, ta bắt gặp, một cách cô đọng, các ý tưởng kể trên của Alselm.

Cái không cái gì lớn hơn

Trong chương 3 của cuốn Proslogion, Anselm đưa ra một lối giải thích khác cho luận cứ đó:

“Vì chúng ta nghĩ tới một sự vật, theo nghĩa này khi chúng ta nghĩ tới một từ ngữ xác định ý nghĩa cho nó, và theo nghĩa nọ khi chúng ta am hiểu chính bản thân sự vật ấy. Như thế, theo nghĩa thứ nhất, Thiên Chúa có thể bị quan niệm là phi-hiện-hữu, nhưng theo nghĩa thứ hai thì điều đó hoàn toàn bất khả thi. Vì không người nào am hiểu Thiên Chúa là gì lại có thể nghĩ rằng Thiên Chúa không hiện hữu…

“Vì Thiên Chúa là cái không cái gì lớn hơn có thể quan niệm được, và bất cứ ai am hiểu điều ấy một cách chính đáng thì phải am hiểu rằng Ngài hiện hữu theo cách Ngài không thể phi-hiện-hữu thậm chí trong ý nghĩ. Do đó, hắn, kẻ am hiểu rằng Thiên Chúa hiện hữu như thế, không thể quan niệm Ngài là phi-hiện-hữu.”

Từ tam giác của Descartes

Descartes minh họa luận cứ về Hữu thể toàn hảo của Anselm bằng cách phân tích ý tưởng về hình tam giác. Tôi có ý tưởng về một tam giác và tôi có thể quyết định mọi đặc tính của nó: thí dụ các góc bên trong của nó phải có hai góc vuông! Tôi không thấy có chỗ nào trong sự phân tích của tôi hiện hữu một tam giác như thế, do đó, không nhất thiết phải có sự hiện hữu của loại tam giác ấy.

Phân tích đó của tôi cho phép tôi nói rằng nếu tam giác ấy hiện hữu, nó phải có những đặc tính được biểu lộ bởi sự phân tích của tôi về ý tưởng ấy của tôi. Do đó, ý tưởng về tam giác ấy hoàn toàn khác với ý tưởng về Hữu thể toàn hảo. Hữu thể toàn hảo phải có sự hiện hữu như một trong các đặc tính của nó; bằng không nó thiếu cái gì đó và không được gọi là Hữu thể toàn hảo. Vì tôi có ý tưởng về Hữu thể toàn hảo nên hữu thể ấy phải hiện hữu. Nói theo ngôn từ mang tính kỹ thuật hơn thì: yếu tính của nó có liên quan tới sự hiện hữu, hoặc là hiện hữu là một trong những điều kiện làm thành yếu tính của nó.

Luận cứ bản thể luận (ontology) rất trừu tượng và rất khó nắm bắt. Các triết gia thiên về chủ nghĩa thực nghiệm có khuynh hướng bác bỏ nó; họ chỉ xem nó như một thí dụ điển hình cho những cái phi lý mà người duy lý chủ nghĩa có thói quen vấp phải. Vì ngày nay, người ta nhấn rất mạnh tính thực nghiệm nên rất ít người hiện đại ủng hộ luận cứ mang tính bản thể luận. Sự kiện ấy không chứng minh được rằng nó là một luận cứ yếu ớt. Trong những dòng chữ sắp tới, khi quay lại với Kant, chúng ta có thể thấy rằng sự bác bỏ hiện nay đối với luận cứ mang tính bản thể luận đã tạo nên hậu quả nghiêm trọng.

8. Phê phán luận cứ bản thể luận

Bất lực của lý trí

Khi những nhà tư tưởng tôn giáo đưa ra các chứng cớ lý tính về sự hiện hữu của Thượng đế, họ không dự tính chỉ chứng minh có sự hiện hữu của một Hữu thể toàn năng toàn trí sản sinh thế giới chúng ta đang biết. Họ còn muốn thiết lập sự hiện hữu của một Ðấng tự thân sở hữu mọi sự toàn hảo.

Vì lý do đó, Kant đánh giá cả hai luận cứ mang tính vũ trụ luận và cứu cánh luận đều có khuyết điểm; ông chọn cái thứ ba là luận cứ mang tính bản thể luận. Ông xem chỉ có nó có ý nghĩa vì đây là luận cứ độc nhất có thể thiết lập sự hiện hữu của Thượng đế. Nhưng rồi theo Kant, sự thất bại của nó là bằng chứng đầy đủ cho việc loài người không có khả năng thiết lập sự hiện hữu (hoặc không hiện hữu) của Thượng đế bằng bất cứ luận cứ lý tính nào.

Hiện hữu không là đặc tính

Kant bác bỏ luận cứ bản thể luận không chút xót thương. Ông lập luận rằng ý tưởng về sự hiện hữu của vật chẳng thêm được gì vào ý tưởng về vật ấy, nghĩa là vật vẫn y như vậy dù bạn có nghĩ thế nào về nó đi nữa. Lập luận của Descartes dựa trên giả định rằng sự hiện hữu là một đặc tính giống như màu sắc và mùi vị. Thế thì khi khảo sát về trái táo, tôi có thể nói lên hết thảy các đặc tính của nó, thí dụ màu sắc và mùi vị, nhưng tôi không thể tìm thấy nó có đặc tính nào được gọi là sự hiện hữu.

Ðiều đó lại càng rõ ràng hơn nếu tôi nói tới một xã hội toàn hảo như các nhà văn có thói quen mô tả về một tưởng quốc Utopia chỉ hiện hữu trong tâm trí của họ. Descartes nói rằng không nhất thiết những cái đó hiện hữu vì yếu tính của chúng không liên quan hoặc không bao gồm đặc tính sự hiện hữu. Theo Descartes, Thượng đế phải hiện hữu vì ngài là Hữu thể toàn hảo và vì là toàn hảo nên yếu tính của ngài phải bao gồm sự hiện hữu. Ðiều đó khẳng định rằng sự hiện hữu là một đặc tính, và đó là điều Kant phủ nhận.

Toàn hảo không liên quan hiện hữu

Kant vạch ra rằng mỗi đặc tính phải là cái gì đó cộng thêm vào đối tượng đang sở hữu nó. Nếu hiện hữu là một đặc tính, nó hẳn gây nên sự khác biệt, nhưng hiện hữu không gây nên khác biệt nào cho ý nghĩa của vật. Vì hiện hữu không thêm được gì vào vật đó, nên không thể gọi nó là một đặc tính.

Cũng theo Kant, nếu tôi phân tích một tam giác đang hiện hữu và ý tưởng về tam giác ấy, tôi sẽ thấy cả hai đều có những đặc tính giống nhau. Sự hiện hữu không thêm được gì vào đối tượng. Do đó, thật sai lầm khi nói rằng nếu Ðấng toàn hảo không hiện hữu tức là Ðấng ấy thiếu một đặc tính. Toàn hảo không liên quan gì tới hiện hữu. Do đó, theo Kant, không thể nào chứng minh sự hiện hữu của Ðấng toàn hảo bằng cách đó.

10. Luận cứ đạo đức

Không thể nhận thức Thượng đế

Trong triết học của Kant tiềm ẩn những giới hạn của lý trí vì Kant lập luận rằng rti thức liên quan tới nội dung có tính kinh nhgiệm. Lý trí là nguồn cội của các bảng hạng mục (categories) hoặc các nguyên lý về trật tự nhằm biến thế giới của kinh nghiệm thành một hệ thống có trật tự. Khi các bảng hạng mục ấy không có nội-dung-cảm-giác (sense-content) để tiếp tục thao tác, chúng không thể cung cấp tri thức.

Thượng đế không là đối tượng mà ta có thể trải nghiệm bằng giác quan. Do đó, theo Kant, không thể biết Thượng đế. Ðiều đó không có nghĩa rằng Thượng đế không hiện hữu nhưng chỉ có nghĩa rằng sự hiện hữu (hoặc sự không hiện hữu) của ngài không thể chứng minh bằng chứng cớ khoa học hoặc bằng lý trí.

Quả quyết bằng đức tin

Ðối với Kant, có một phương thế qua đó ta có thể quả quyết với niềm tự tin về sự hiện hữu của Thượng đế, đó là phương thế của đức tin. Ðiều này có thể làm bạn, kẻ đang đọc những dòng này, bối rối, nếu bạn không suy xét tới thực tế rằng có một cách-không-biết (no known way) trong đó sự hiện hữu của bản ngã có thể được phô bày một cách chắc chắn.

Chưa ai từng nhận biết – tri giác, nhận thức – một bản ngã độc lập với kinh nghiệm của bản ngã ấy. Tuy thế, theo Kant, không thể phủ nhận sự hiện hữu của bản ngã vì nếu không có sự giả định về cái tôi như cội nguồn của các bảng hạng mục thì không thể hiểu kinh nghiệm. Do đó, thật thích đáng khi khẳng định sự hiện hữu của một thực thể nếu sự hiện hữu của thực thể ấy thiết yếu cho việc am hiểu kinh nghiệm.

Tri thức tùy thuộc vào sự hiện hữu của bản ngã, cái không thể nắm bắt trực tiếp. Kant lập luận rằng sự hiện hữu của Thượng đế thiết yếu cho việc giải thích động thái đạo đức (moral behaviour). Do đó, Kant bác bỏ cả ba luận cứ chính và cổ truyền đặt cơ sở trên lý trí; ông thay vào chỗ của chúng bằng luận cứ đạo đức (moral argument) mà chủ yếu là một tín điều (an article of faith).

Giống như luận cứ mang tính cứu cánh luận, luận cứ đạo đức được phát biểu bằng những cách thức đa dạng, và có lẽ chúng ta cũng cần xem xét một số công thức diễn đạt của nó.

“Nên” hàm ý “có thể”

Dù bằng dạng nào đi nữa, luận cứ đạo đức cũng bắt đầu từ thực tế kinh nghiệm đạo đức, phát xuất từ sự kiện rằng con người khát khao các lý tưởng đạo đức hoặc nhận biết rằng mình nên làm những điều nhất định thay vì những điều nào khác, và rồi từ thực tế đó đi tới sự hiện hữu của Thượng đế. Trong số những diễn đạt đa dạng, dạng của Kant là lối giải thích khó nhất. Và đây là dạng thứ nhất.

Trong lý thuyết luân lý của mình, Kant đưa ra lời khẳng định cơ bản rằng đức hạnh, một mình nó, là thiện một cách phổ quát (universally good); nhưng ông phân biệt giữa cái thiện nội tại (the intrinsic good) và cái thiện đầy đủ (the complete good). Bằng cụm từ “cái thiện đầy đủ”, Kant có ý nói đức hạnh cộng thêm một cấp độ thích đáng của hạnh phúc.

Kant quả quyết rằng khi ta nói cái gì đó là thiện thì cũng giống như có ý nói lẽ ra cái đó nên hiện hữu, và vì “nên” có hàm ý “có thể”, do đó nói rằng cái gì đó “nên” hiện hữu thì cũng hàm ý rằng nó “có thể” hiện hữu. Như vậy nếu cái thiện đầy đủ có thể hiện hữu nhưng chỉ dưới điều kiện nhất định – ấy là Thượng đế hiệïn hữu – thế thì Thượng đế phải hiện hữu. Lúc đó phần còn lại của luận cứ đạo đức được sắp đặt nhằm trình bày cái thiện đầy đủ chỉ có thể hiện hữu với điều kiện Thượng đế hiện hữu; và sự hiện hữu của ngài được chứng minh bằng cách ấy.

Hiện hữu vì cái thiện đầy đủ

Trong tự nhiên, không có sự “thiết yếu kết liên nhau” giữa đức hạnh và hạnh phúc. Trong thế giới này, người quỉ quyệt thì vinh hoa phú quí trong khi người đức hạnh chịu nghèo cực khổ sở. Nếu đức hạnh và hạnh phúc ngang nhau và đó là ý nghĩa của cái thiện đầy đủ, thì phải hiện hữu một sức mạnh có đủ năng lực thực hiện một kế hoạch phức tạp như thế, do đó, Thượng đế phải hiện hữu.

Cốt lõi trung tâm của luận cứ đạo đức của Kant là “nên” có hàm ý “có thể”; do vậy, cái nên hiện hữu có thể thiện hữu. Dĩ nhiên hoàn toàn sai lầm và không thực tế khi nói rằng một người nào đó nên cứu người đang chết đuối nếu người đó không cách gì có thể làm được việc đó. Trong những trường hợp như thế, từ ngữ “nên” không hàm ý “có thể”. Nhưng từ ngữ “nên” nằm trong cụm từ “nên hiện hữu” có thể có những hàm ý khác với khi nó nằm trong dạng thông thường như “nên làm”.

Khi nói rằng cái gì đó nên hiện hữu, chúng ta có ý nói rằng nếu ai đó có thể làm cho nó trở thành hiện thực, kẻ đó nên làm như thế. Thế thì nói rằng cái thiện đầy đủ nên hiện hữu chỉ có nghĩa rằng nếu có một Ðấng có thể sản sinh ra nó, đấng ấy nên làm như thế. Luận cứ này quả thật không đưa tới kết luận Thượng đế hiện hữu nhưng chỉ đưa tới một kết luận mang tính giả thuyết rằng nếu Thượng đế hiện hữu, ngài hẳn sắp đặt thế giới này để cho đức hạnh nhận được một mức độ hạnh phúc thích đáng.

Cảm xúc đạo đức do Thượng đế

Dạng thứ hai của luận cứ đạo đức thể hiện trong trường hợp xoay thế phòng ngự thành thế tấn công. Một số tác giả theo thuyết tiến hóa ra sức giải thích sự hiện hữu của mọi tình cảm đạo đức như là sản phẩm của sự tiến hóa, do đó, của giá trị sinh tồn. Thế nhưng người ta có thể chứng minh rằng có nhiều cảm xúc đạo đức cao hơn của con người chẳng đem lại ích lợi gì về mặt sinh học và rằng không thể giải thích sự hiện hữu của chúng theo cách liên quan tới thuyết tiến hóa. Từ đó, người ta lập luận rằng muốn giải thích chúng thì nhất thiết phải viện dẫn nguyên nhân siêu nhiên. Vì không là sản phẩm của cuộc tiến hóa tự nhiên nên chúng phải do Thượng đế gây ra.

Trí tuệ chỉ để sống thực tiễn

Người theo *tự nhiên chủ nghĩa (naturalism) phản công luận cứ ấy bằng cách vạch ra rằng cuộc tiến hóa thường phát triển những cái không cần thiết. Trí tuệ được phát triển như một khí cụ giúp con người trong cuộc chiến đấu để sống sót. Do đó, nó chỉ quan tâm tới giải pháp cho các vấn đề thực tiễn.

Nhưng trí tuệ lại đi quá tới bên kia những chủ đề thực tiễn. Thậm chí người ta còn truyền tụng vị triết gia đầu tiên là Thales vì không chịu quan tâm tới các vấn đề thực tiễn nên đã bị rớt xuống giếng khi vừa đi vừa suy tưởng các vấn đề triết học. Thế thì người ta có thể lập luận rằng sự phát triển cảm xúc đạo đức – vốn vô dụng về mặt sinh học – có thể giải thích bằng cách thức giống như thế mà chẳng cần viện dẫn đấng siêu nhiên nào.

Ðạo đức chỉ là tương đối

Trong tư tưởng hiện đại, dạng thứ ba của luận cứ đạo đức mang tính phổ thông (common) hơn. Lập luận theo dạng này thì sự phát triển đạo đức của con người vén lộ cái nhìn ngày càng thấu suốt vào lý tưởng đạo đức tuyệt đối (an absolute moral ideal).

Quả thật, những dân tộc khác nhau vào những thời đại khác nhau và tại những vùng đất khác nhau, đều bảo lưu những thẩm định khác nhau về cái được gọi một cách thích đáng là thiện. Người theo thuyết tự nhiên lập luận rằng sự kiện ấy chứng minh mọi tiêu chuẩn đạo đức đều tương đối và rằng chẳng có cái gì có thể được gọi một cách tuyệt đối là thiện.

Lõi của vấn đề

Vấn đề các giá trị tuyệt đối và tương đối sẽ được chúng ta thảo luận căn kẽ trong chương kế. Luận cứ đạo đức về sự hiện hữu của Thượng đế tùy thuộc vào giả định rằng các giá trị đạo đức là tuyệt đối hay tương đối.

Nếu có thể chứng minh rằng các giá trị ấy có tính tuyệt đối, lúc đó ta có thể kiến lập sự hiện hữu của Thượng đế. Ngược lại, nếu các giá trị ấy chỉ là tương đối, lúc đó, toàn bộ luận cứ đạo đức cổ truyền không có giá trị.

 

IV. Bản tính của Thượng đế

1. Nguyên ủy của vấn đề

Bản tính là vấn đề chủ yếu

Qua những phân tích vừa kể về các lập luận cổ truyền biện minh cho sự hiện hữu của Thượng đế, dường như ta thấy rõ rằng, bằng phương thế của lý trí, thật chẳng dễ kiến lập sự hiện hữu của Thượng đế một cách tuyệt đối chắc chắn. Và bằng lý trí, cũng chẳng dễ chứng minh sự không hiện hữu của Thượng đế. Do đó, trong tình thế nan giải ấy, có vẻ thích đáng khi thử dùng các phương pháp khác, thí dụ phương pháp đức tin của Kant hoặc phương pháp trực giác của Bergson. Và đó là cách đang được nhiều triết gia hiện đại sử dụng.

Thao tác đó không chỉ hàm chứa nỗ lực thiết lập sự hiện hữu của Hữu thể tối cao; nó còn có thêm một nỗ lực khác nữa, đó là thiết lập bản tính của Thượng đế. Người ta giả dụ rằng trong tư tưởng hiện đại không cách gì chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế nếu không am hiểu ít nhiều về nội dung của từ ngữ “Thượng đế”.

Vì lý do đó, hầu hết các triết gia hiện đại phải đồng ý với David Hume trong cuốn The Dialogues concerning Natural Religion (Các đối thoại về tôn giáo tự nhiên) rằng: “Không một ai, tôi tin rằng không một ai, ít ra là theo cảm quan chung, sẵn sàng và vui lòng xem xét nỗi hoài nghi sâu sắc liên quan tới một chân lý rất chắc chắn và rất hiển nhiên. Vấn nạn được đặt ra ấy không liên quan tới Hữu thể, mà là tới Bản tính của Thượng đế (Nature of God)”.

Từ đa thần tới độc thần

Các tôn giáo nguyên thủy có khuynh hướng đa thần, nói cách khác, thuở đó người ta quả quyết rằng có sự hiện hữu của một số thần linh mà trong nhiều trường hợp, không khác con người bao nhiêu về quyền năng và đam mê. Thông thường, các thần ấy được chỉ định cai quản những khu vực riêng biệt, thí dụ thần núi, thần sông, v.v. hoặc đồng hóa với các sức mạnh riêng biệt của thiên nhiên, thí dụ thần sấm, thần gió, v.v. Nói chung, người ta thừa nhận rằng thuyết độc thần tiêu biểu cho một khái niệm cao hơn rất nhiều. Tuy thế, thuyết độc thần có thể mang nhiều dạng khác nhau.

Người Do Thái có tôn giáo độc thần theo ý nghĩa họ chỉ tin vào một Thượng đế độc nhất. Nhưng vào thuở ban sơ của người Do Thái, thượng đế ấy chỉ là một vị Thần của dân tộc và chỉ quan tâm cách riêng tới lợi ích của dân Do Thái. Về sau, các ngôn sứ (prophets) Do Thái thấy Thượng đế hẳn phải hơn một vị Thần của dân tộc, nhưng họ vẫn dừng lại bên trong cái nhìn đó cho mãi tới khi Kitô giáo tuyên bố một cách dứt khoát khái niệm về một Thượng đế (Thiên Chúa) độc nhất, đấng lo lắng chăm sóc cho toàn bộ thế giới, đồng thời tận hiến cho sự cứu độ toàn thể loài người, những kẻ Ngài đã làm nên bằng một thứ máu duy nhất.

Hàm ý của học thuyết Kitô giáo

Khi phát biểu lập trường độc thần giáo với sự khẳng định rằng Ðấng tối cao hiện hữu và sở hữu mọi sự toàn hảo, tức là đã làm sáng tỏ những hàm ý của học thuyết ấy về hai phương diện:

a. Công cuộc sáng thế và lập trật tự cho vũ trụ vật lý;

b. Sự cứu độ con người và nguồn gốc của mọi luật lệ đạo đức.

Như thế, học thuyết Kitô giáo về Thượng đế trở thành lời quả quyết chủ yếu và mang tính triết học về bản tính của thực tại (the nature of reality), và ta cần phải xem xét học thuyết ấy theo thuật ngữ đó.

Trung tâm của vấn đề

Thật chẳng thích đáng chút nào nếu dùng chữ “đa số” mà không dựa vào một bản thống kê nào, nhưng dường như chắc chắn và hợp lý khi nói rằng người ta hầu hết tin vào sự hiện hữu của Thượng đế. Ta có thể gọi những người tin ấy là kẻ theo *thuyết hữu thần (theism) với ý nghĩa rất rộng của thuật ngữ ấy.

Sau đó, chúng ta buộc lòng phải đưa ra một ý nghĩa hạn hẹp hơn để ứng xử với một số ý kiến khác nhau của những người chống lại sự hiện hữu của Thượng đế như một thực tế. Những dị biệt ấy phát sinh từ vấn đề tương quan giữa Thượng đế và vũ trụ. Chúng xoay quanh các câu hỏi về tính chất siêu việt (transcendence) và tính chất nội tại (immanence).

2. Thượng đế Ðấng siêu việt

Vượt lên trên và không can thiệpï

Một số người quả quyết rằng Thượng đế vượt quá vũ trụ vật lý và không có tiếp xúc trực tiếp nào với vũ trụ trụ ấy. Ðại biểu nổi bật cho quan điểm này là những người được gọi là theo *thuyết thần luận (deism).

Hầu hết là người mộ đạo, họ cảm thấy bị dằng co giữa tôn giáo chính thống và khoa học mang bản sắc Newton trong thế kỷ 18, và họ tìm cách né tránh cuộc xung khắc ấy bằng sự phân biệt cảnh giới khoa học với cảnh giới tôn giáo. Thẩm quyền khoa học thì chẳng có gì đáng để thắc mắc. Vấn đề là tìm cách hòa giải tín điều tôn giáo với những khám phá không thể nào phủ nhận của khoa học.

Phái Newton đề ra nguyên tắc rằng mọi biến cố tự nhiên (natural events) đều nối kết nhau bởi quan hệ nhân quả tự nhiên, và rằng mọi biến cố trong vũ trụ vật lý xảy ra theo những cách thức có thể tiênï đoán và đáng tin cậy. Vì khoa học mang bản sắc Newton biểu thị vũ trụ như có tính máy móc nên ở đó không thể nào có sự can thiệp vào dòng chảy của các biến cố, và Thượng đế không cách gì có thể can thiệp. Thượng đế hoàn toàn ở bên ngoài vũ trụ hữu hình ấy.

Cuộc sáng thế rất hoàn chỉnh

Nhiều người mộ đạo cho rằng phép lạ là hành động làm đình chỉ hiệu lực của các định luật tự nhiên và là bằng chứng cho thấy quyền năng cùng sự khôn ngoan của Thượng đế. Người theo thuyết thần luận trả lời rằng chính nhu cầu cần tới sự can thiệp thiêng liêng qua việc đình chỉ các hành động tự nhiên chứng tỏ tính chất bất toàn trong sự khôn ngoan của Thượng đế vì nó cho thấy Ngài đã tạo ra một bộ máy liên tục cần tới sự giám thị và sửa chữa.

Vinh quang của Thượng đế lại càng rạng ngời hơn khi giả định rằng Ngài đã tạo dựng một thế giới cực kỳ toàn hảo ngay từ đầu, tới độ chẳng cần Ngài phải can thiệp. Trong Kinh thánh Cựu Ước, sách Sáng thế (Genesis) nói rằng “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! [.] đó là ngày thứ sáu” (1:31), và “Ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã hoàn thành công việc Người làm. Khi làm xong mọi công việc của Người, ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi” (2:1). Theo nghĩa đen, những dòng chữ ấy cho thấy rằng Thượng đế không can thiệp vào dòng chảy của các biến cố tự nhiên.

Học thuyết này chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế, dựa trên cơ sở vũ trụ vật lý cần phải có đấng tạo hóa. Nó khẳng định sự khôn ngoan của Thượng đế trong đó trật tự của thiên nhiên được thiết lập rất hoàn chỉnh tới độ không cần tới bất cứ sửa chữa nào, đồng thời nó hòa giải khoa học với tôn giáo theo ý nghĩa rằng mỗi khám phá mới mẻ của khoa học là một bằng chứng cho thấy thêm lần nữa sự khôn ngoan của Thượng đế.

Một chút ý kiến

Tuy thế, rõ ràng rằng học thuyết về Thượng đế vắng mặt này thiếu tính chất thân mật nồng ấm và chan chứa cảm xúc về tầm quan trọng có tính nhân cách và riêng tư giữa Thượng đế với loài người và mỗi người.

Tính chất ấy hàm chứa trong các học thuyết nhấn mạnh tới sự có mặt của Thượng đế trong lịch sử và tới thánh ý phù hộ dân Ngài trong những giờ phút khốn khó bằng cách nếu cần thì ngài làm thay đổi dòng chảy của tự nhiên.

3. Thượng đế Ðâng nội tại

Phiếm thần luận

Những kẻ nhấn mạnh tới tính chất nội tại – có mặt khắp mọi nơi trong vũ trụ – của Thượng đế được gọi là người theo *thuyết phiếm thần, hay phiếm thần chủ nghĩa (pantheism). Cốt lõi của thuyết phiếm thần là luận cứ dựa trên sự ghét cay ghét đắng triết lý *nhị nguyên luận (dualism). Nếu Thượng đế hoàn toàn siêu việt, hoàn toàn khác với con người và vũ trụ vật lý, thì ta không có khả năng thấy bất cứ cách giao tiếp nào từng có thể được thiết lập giữa Thượng đế với con người và vũ trụ.

Thượng đế và tất cả

Descartes cho rằng hết thảy các hiện tượng trong vũ trụ đều mang dạng vật chất hoặc tinh thần. Vật chất và tinh thần đều do Thượng đế tạo ra và đều được Descartes xem là các bản thể tối hậu (ultimate substances). Ông định nghĩa bản thể là cái không tùy thuộc vào cái nào khác để hiện hữu (a substance as that which does not depend upon anything else for its existence).

Ðem chính định nghĩa ấy ra so với học thuyết của Descaters, ta thấy chúng không nhất quán về mặt luận lý (logic), vì ông lập luận rằng các bản thể tách biệt nhau, của vật chất và của tinh thần, đều tùy thuộc vào đấng Thượng đế siêu việt để hiện hữu. Vì chúng tùy thuộc như thế nên ta không thể gọi chúng một cách hợp qui cách (legitimately) là bản thể.

Trong các đức tính trí tuệ, các triết gia nhấn mạnh hơn cả tới tính nhất quán; vì thế triết gia Do Thái-Hà Lan *Baruch Spinoza (1632-1677), người kế tục Descartes, đã chú ý tới tình trạngï không nhất quán ấy. Cách độc nhất để giải quyết vấn đề đó là chấp nhận định nghĩa của Descartes về bản thể như là cái không tùy thuộc vào cái nào khác để hiện hữu, và rồi lập luận rằng vì Thượng đế, Hữu thể duy nhất đáp ứng được các yêu cầu của định nghĩa ấy nên Thượng đế là bản thể duy nhất. Ðó là học thuyết cơ bản của thuyết phiếm thần. Thượng đế là tất cả và tất cả là Thượng đế (God is all and all is God).

Thượng đế là toàn bộ

Trong triết học của Hegel, Thượng đế được đồng hóa với toàn bộ vũ trụ mà theo ông, thật ra là sự diễn đạt của lý trí. Hegel quả quyết rằng vũ trụ là một hệ thống hợp lý (rational system); tính chất hợp lý (rationality) của nó chính là cái chúng ta có ý nói tới trong từ ngữ Thượng đế. Con người là một hữu thể có lý trí hữu hạn, và kinh nghiệm tôn giáo là sự diễn đạt của ý thức con người về những giới hạn cùng những nỗ lực của nó nhằm đồng hóa bản thân với sự hợp lý rộng lớn hơn đang bao phủ nó và vượt quá nó.

Hegel bác bỏ hết thảy các thuyết nhị nguyên, đặc biệt thuyết nhị nguyên liên quan tới lời quả quyết rằng Thượng đế dù sao cũng khác với vũ trụ và vượt quá vũ trụ. Ông còn nhấn mạnh tới các yêu cầu của sách Phúc âm Kitô giáo đòi hỏi tín đồ phải biết Thiên Chúa; ông xem đòi hỏi ấy như một bảo đảm rằng có thể lĩnh hội Thượng đế bằng lý trí của con người, một bảo đảm về bản tính hợp lý (rational nature) của chính Ngài.

Nếu Thượng đế vượt quá vũ trụ như một Hữu thể có bản thể khác thì con người không bao giờ có thể lĩnh hội Ngài, và điều ấy trái ngược với lời giảng dạy minh bạch trong sách Phúc âm. Do đó, Thượng đế phải được đồng hóa với vũ trụ, cái được quan niệm như một hệ thống hợp lý.

4. Thượng đế Ðấng siêu việt và nội tại

Thuyết hữu thần

Chúng ta thường dùng thuật ngữ thuyết hữu thần hay chủ nghĩa hữu thần (theism) với ý nghĩa tổng quát để bao gồm những người tin vào sự hiện hữu của Thượng đế. Trong nội bộ truyền thống đó, người ta thường giới hạn thuật ngữ “người hữu thần” vào những kẻ tin rằng Thượng đế vừa siêu việt vừa nội tại. Ðây là lập trường thông dụng và được bảo quản trong thần học Kitô giáo.

Không đồng hóa, chẳng vắng mặt

Theo quan điểm này, Thượng đế vượt quá vũ trụ; ngài không chỉ là Ðấng tạo hóa mà còn là Ðấng thống trị và phán xét nó. Thượng đế là tinh thần, ngài hoàn toàn khác với vạn vật hữu hình mà ngài đã và đang sáng thế. Nhưng Thượng đế Ðấng tạo hóa ấy không vắng măt trong tiến trình sáng tạo đang tiếp diễn của ngài. Thượng đế ở khắp mọi nơi. Thượng đế có mặt như Ðấng quan phòng để chăm sóc dân Ngài và để điều khiển các biến cố nhằm thành toàn cứu cánh mà Ngài đã đặt ra từ vô biên hằng cửu.

Sự duy trì khái niệm về Thượng đế như Ðấng vừa có tính siêu việt vừa có tính nội tại này cung cấp cho con người một đối tượng thích đáng để thờ phượng và một bảo đảm về sự an ủi và phù hộ thiêng liêng. Thượng đế ấy không bị đồng hóa với những gì Ngài tạo dựng nhưng cũng không vắng mặt trong cuộc sáng thế của Ngài.

5. Các quan điểm hiện đại

Phải tái thông giải

Học thuyết Kitô giáo chủ yếu đặt cơ sở trên mạc khải và đức tin, dù có thể dùng các luận cứ rút tỉa từ lý trí và kinh nghiệm để hỗ trợ nó. Vì triết gia – với tư cách triết gia – không thể chấp nhận bất cứ nguồn thông tin nào hoặc bất cứ bằng chứng nào không thuộc về kinh nghiệm và lý trí nên chỉ có một ít triết gia có thể chấp nhận tính chất siêu việt và tính chất nội tại của Thượng đế được đề ra trong học thuyết ấy.

Tuy thế, trong triết học hiện đại, có một phong trào thật sự chấp nhận cả hai thuật ngữ ấy nhưng họ thông giải hơi khác một chút.

Khái niệm cổ truyền về tính chất siêu việt dựa trên lời quả quyết rằng bản tính thì có tính vật chất (material) và tính thể lýù (physical) trong khi Thượng đế có tính tinh thần (spirit), và những dị biệt về bản thể đó tạo ra sự phân ly lưỡng tất yếu tính (the two necessary) ấy. Do đó, siêu việt tính có nghĩa rằng Thượng đế hoàn toàn khác và hoàn toàn tách biệt với sáng tạo phẩm của Ngài. Chừng nào khoa học và triết học còn quan niệm thế giới hiện đại dưới dạng hệ thống, chừng đó bất cứ đối tượng nào hiện hữu một cách đích thực ở bên ngoài hệ thống ấy đều không có ý nghĩa. Do đó, phải tái thông giải siêu việt tính.

Thượng đế là nguyên lý sáng tạo

Có thể hiểu tính siêu việt là “đi tới quá bên kia hoặc cao hơn”. Như thế, tính cách ấy vượt quá cá nhân, hoặc các lý tưởng của một cá nhân vượt quá những thành tựu hiện thời của cá nhân ấy. Vậy nếu tính siêu việt cbỉ có nghĩa “đi tới quá bên kia” thì không có nan giải đặc thù nào trong việc chấp nhận thực tế có Thượng đế siêu việt. Thậm chí còn ít nan giải hơn tính nội tại.

Thuyết tiến hóa hiển lộ hàm ý một tương lai mở, một chuỗi các biến cố không thể tiên đoán. Nhưng sự hiển lộ ấy có thể hỗn độn và vô nghĩa. Trên thực tế, cuộc tiến hóa dường như được hướng dẫn theo ý nghĩa các dạng thức cao hơn xuất hiện từ dạng thức thấp hơn. Do đó, người ta lập luận rằng thực tế của sự hiển lộ – nghĩa là, sự sản sinh những dạng sự sống cao hơn – là bằng chứng cho nguyên lý sáng tạo đang thao tác hay đang ở khắp mọi nơi trong thiên nhiên.

Nguyên lý sáng tạo ấy là cái chúng ta có ý nói tới bằng từ ngữ Thượng đế. Thượng đế không bị quan niệm như tách biệt với tự nhiên (nature), đúng hơn, như một nguyên lý nội tại chịu trách nhiệm về sự trồi ra và nổi lên (hiển lộ) của những dạng cao hơn.

Thượng đế là lý tưởng cao thượng

Có thể thấy tính siêu việt rõ ràng nhất trong cảnh giới đạo đức. Con người có những lý tưởng, những khuôn mẫu thực hiện của động thái cá nhân và xã hội, nhằm hướng dẫn các hành động của nó. Không có những lý tưởng cùng những nỗ lực thực hiện chúng, cuộc đời hẳn diễn ra ở trình độ sống thấp hơn hiện nay.

Người ta có thể đưa ra những giải thích khác nhau về nguồn cội của các lý tưởng ấy nhưng không thể phủ nhận sự hiện hữu của chúng, cũng như không thể đánh giá thấp tầm quan trọng của chúng. Các triết gia, thí dụ John Dewey, nhấn mạnh thực tế và nhu cầu phải có các lý tưởng, và họ sẵn sàng gọi chúng là Thượng đế. Ðối với họ, từ ngữ “Thượng đế” chỉ biểu hiện cho các lý tưởng cao thượng nhất mà con người có thể tạo ra, các lý tưởng gây hứng khởi để làm cho cuộc sống cao quí và danh giá.

Chủ nghĩa nhân bản

Việc đề cập tới triết gia Mỹ Dewey ở đây có thể hiểu như một cách thế đưa dẫn bạn vào một hệ thống gọi là *chủ nghĩa nhân bản (humanism). Chủ nghĩa nhân bản là một hệ thống rất co giản với vô số ý nghĩa. Ở đây, thuật ngữ đó được dùng để có ý nói tới một hệ thống tư tưởng hoặc phủ nhận Thượng đế hoặc không đặt sự hiện hữu của Thượng đế thành vấn đề; nó được rút tĩa từ tự nhiên và nó làm nổi bật vị trí tâm điểm của con người.

Trong chương kế, chúng ta sẽ thấy Dewey cho rằng mọi lý tưởng đều là sản phẩm của trí tuệ con người. Như thế theo ý nghĩa đó, Thượng đế hẳn là sáng tạo phẩm thật sự của con người. Dewey tin rằng nếu con người được cứu độ, y phải tự cứu độ chính y bằng thao tác của trí tuệ. Cách độc nhất để con người tự cứu độ bản thân và xã hội của y là đề ra các lý tưởng phản ánh giá trị và phẩm giá của cá nhân. Khi các lý tưởng ấy gây được niềm hứng khởi và định hướng cho con người, chúng sẽ làm cho chúng ta chuyển động hướng tới một xã hội lý tưởng hơn.

Tư tưởng tôn giáo, trong hình thức rất tốt đẹp của nó, luôn luôn kêu gọi con người tìm kiếm những cấp độ hướng thượng hơn và cao quí hơn của cuộc sống. Ý tưởng về Thượng đế là tâm điểm của cuộc thách đố đó. Bởi thế con người phải khôn ngoan để đừng quá ghi khắc và bị ám ảnh bởi những phân biệt tinh tế có tính thần học; nó nên nhận ra thực tế rằng từ ngữ “Thượng đế” chỉ biểu hiện cho lý tưởng cao nhất của cuộc đời, và chỉ thế thôi.

“Ảo tưởng về Thượng đế”

Tới đầu thế kỷ 21, cuộc tranh luận về thế giới này do bởi Tạo hóa của Thượng đế hay chỉ là sự tiến hóa tự nhiên đã lên một tầng cao mới về trí thức, cụ thể vàø nghiêm ngặt hơn, dựa trên cơ sở khoa học.

Giáo sư Richard Dawkins (1946- ), một nhà sinh vật học tiến hóa và giáo sư tại Ðại học New College, Oxford, Anh, tác giả nhiều sách khoa học viết cho đại chúng. Cuốn The God Delusion (Ảo tưởng về Thượng đế, 2006) của ông khẳng định rằng hầu như chắc chắn không hiện hữu cái gọi là đấng tọa hóa siêu nhiên và đức tin cố định vào một kẻ như thế thì không đạt tiêu chuẩn và chỉ là niềm tin giả tạo.

Theo Dawkins, cứ đọc kỹ những bằng chứng khoa học vật lý ta sẽ tìm thấy các nền tảng cho một chủ trương vô thần. Cho tới cuối năm 2007, bản tiếng Anh của cuốn The God Delusion bán được hơn 1.5 triệu cuốn và đã được dịch ra 31 thứ tiếng, lưu hành trên khắp thế giới.

Ngược lại, giáo sư Francis Collins (1950- ) chuyên gia lừng danh về vật lý di truyền học, người đứng đầu các dự án nghiên cứu mã di truyền tại Mỹ và là giám đốc Viện Quốc gia Nghiên cứu Mã di truyền Con người(National Human Genome Research Intitute) lại là người cổ vũ cho hữu thần thuyết.

Trong cuốn sách cũng xuất bản năm 2006 có nhan đề The Language of God: A Scientist Presents Evidence for Belief (Ngôn ngữ của Thưỡng đế: một nhà khoa học trình bày bằng chứng biện hộ cho niềm tin), Collins xem các khám phá khoa học như một “cơ hội để thờ phượng”. Ông kể lại con đường mình từ người vô thần – vốn chiếm đa số trong hàng ngũ các nhà sinh vật học thượng thặng – trở thành một Kitô hữu từ năm 27 tuổi; đồng thời ông trình bày những khảo sát khoa học của mình, đưa tới việc ông bác bỏ chủ nghĩa tạo hóa (creationism) và thiết kế thông minh (intelligent design) có tính cổ truyền của các tôn giáo độc thần. Hệ thống niềm tin của Collins là thuyết tiến hóa mang tính hữu thần chủ nghĩa (theistic evolution) mà ông gọi là Biologos, tạm dịch là Ngôi lời sinh học.

Với thuật ngữ ấy, Collins có ý trình bày rằng niềm tin vào Thượng đế là nguồn của toàn bộ sự sống, và sự sống phô bày ý chí của Thượng đế. Biologos là một thuật ngữ mới mẻ của thuyết tiến hóa hữu thần chủ nghĩa, được dùng để bày tỏ lập trường của các nhà sinh vật học đồng thời cũng là các tín đồ mộ đạo. Với hàm ý rằng các dấu hiệu vật chất chỉ dấu cho thấy có Thượng đế và rằng đấng ấy ở ngoài cõi không gian và thời gian của chúng ta, biologos thể hiện quan điểm cho rằng khoa học và đức tin có thể cùng hiện hữu một cách hòa điệu.

V. Tóm lược

Phủ định và khẳng định

Những quan điểm vừa được trình bày ở đoạn trên minh họa một khuynh hướng trong tư tưởng hiện đại; nó chấp nhận một phần lối nói cổ truyền trong khi tái thông giải bằng một dạng khác được xem là thích đáng hơn với thế giới đương đại. Dĩ nhiên đó không chỉ là tái thống giải đơn thuần về mặt ngôn ngữ.

Các quan điểm hiện đại ấy phủ định ngôi vị của Thượng đế. Chúng bác bỏ khái niệm xem Thượng đế như thẩm phán và nhà cai quản tối cao, nhưng chúng tái khẳng định thực tế của nguyên lý sáng tạo trong thiên nhiên và tầm quan trọng của lý tưởng đạo đức. Tuy thế, chúng đi thêm một bước bằng sự xác quyết rằng cả nguyên lý sáng tạo lẫn lý tưởng đạo đức đều là thành phần thiết yếu của bản tính và tình cảnh con người.

Thường tại và vô thường

Nhân đây, có lẽ nên thêm một ghi nhận chót để có thể thấy rõ nét vấn đề đương đại ấy. Và như thế, cũng có thể thêm lần nữa trở lại với cuộc xung khắc giữa thường tại và vô thường, nghĩa là giữa tính thường trực vĩnh viễn và tính đang biến đổi.

Thường tại, như chúng ta đã thấy, được xem tương đương với toàn hảo. Vì theo truyền thống, Thượng đế được đánh giá là Ðấng toàn hảo, nên Thượng đế phải không biến đổi. Ðó là niềm xác tín kiên định trong các quan điểm tôn giáo cổ truyền. “Thiên Chúa hằng cửu là nơi ngươi nương náu”. “Ðức Giêsu Kitô, trước sau như một, hôm qua hôm nay và mãi mãi cho đến muôn đời”.

Whitehead đã lưu ý tới thực tế rằng lòng ưu ái có tính truyền thống đối với thường tại ấy được diễn tả một cách tuyệt vời nhất trong bài kinh thường xuyên đọc trong các gia đình Kitô hữu phương Tây. Nhan đề bài kinh là “Xin hãy ở lại cùng tôi”, trong đó có câu: “Chung quanh con mọi sự đang biến đổi và ra tồi tệ”. Ở đây, biến đổi được xem tương đương với ra tồi tệ, với bất toàn. Chống lại mọi sự thể ấy là lòng trông cậy vào tính chấtï thường tại của Thượng đế: “Ôi lạy Chúa, xin ngài đừng biến đổi, xin hãy ở lại cùng chúng con”.

Theo các triết gia đương đại, thái độ thiên về thường tại hơn là biến đổi ấy phản ánh triết học Hi Lạp cùng niềm tin vào tính ưu việt của lý trí so với giác quan và như một khí cụ của tri thức. Dưới tác động của khoa học hiện đại, thường tại bị thay thế; vô thường mới là thực tại tối hậu. Nếu biến đổi được ưa thích hơn thường trực – cũng là vĩnh viễn – thì phải sửa đổi khái niệm cổ truyền về Thượng đế để đáp ứng hoàn cảnh mới này.

Thượng đế là cái sắp là?

Do đó, có đủ lý do để có thể quả quyết rằng Thượng đế quả thật là nguyên lý sáng tạo và là sự tổng hợp các lý tưởng đang khởi hứng con người. Whitehead thậm chí còn vượt quá hai cái đó để đi tới cái khả thi thứ ba, đó là mô tả Thượng đế như là cái sắp là chứ không phải cái đang là (God as that which is to be, rather than that which is).

Nếu cứ đà này mà tiếp tục triển khai, chúng ta sẽ mang cuộc thảo luận tới một chốn xa hơn và phức tạp hơn. Ở đây, chỉ có mục đích đơn giản là trình bày một định hướng trong đó loài người đang tìm kiếm Thượng đế dưới ánh sáng của tri thức khoa học ngày nay.

Thượng đế sao đạo đức vậy

Sự nối kết Thượng đế với thần học trở thành vấn đề thẩm quyền đạo đức và nguồn gốc của các định chuẩn đạo đức. Nếu có một Thượng đế hiểu theo quan điểm thần học cổ truyền thì phải có những định chuẩn đạo đức do Thượng đế đưa ra cho chúng ta. Chúng không là đối tượng của bất cứ sự sửa chữa nào của con người, và con người phải tuân giữ chúng, bất chấp động cơ hoặc mưu chước cá nhân.

Ngược lại, nếu Thượng đế là nguyên lý sáng tạo tự nhiên, hoặc đồng nghĩa với các lý tưởng khởi hứng cho con người, thì chắc chắn các định chuẩn đạo đức có nguồn gốc tự nhiên. Và như thế, chúng là đối tượng của biến đổi, liên quan rất nhiều tới phúc lợi của con người. Từ đó, các chủ đề liên quan tới vấn đề này đang buộc chúng ta phải hướng tới và đối mặt với vấn đề các giá trị trong cuộc sống và trên thế giới này. Và đó cũng là những gì chúng ta sẽ thảo luận trong một bài khác.n

 

Nguyễn Ước

http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=10516

Do Thái giáo Hồi giáo

Bàn về Thượng đế -1

Tiểu luận
Bàn về Thượng đế -1
I. Khoa học, triết học và tôn giáo -II. Tri thức về Thượng đế -III. Các lập luận cổ truyền -IV. Bản tính của Thượng đế -V. Tóm lược

 

I. Khoa học, triết học và tôn giáo

1. Khoa học và cái khả tri

Có thể xem khoa học như một hệ thống gồm những phát biểu có thể xác minh về vũ trụ vật chất hoặc như phương pháp sở đắc những phát biểu đó. Có lẽ cách tốt nhất là nhấn mạnh phương pháp vì đó là chìa khóa mở tới mọi thành quả của khoa học.

Bắt đầu với sự kiện, khoa học thao tác bằng phép qui nạp (induction) và lập giả thuyết đối với những phát biểu về tương quan giữa các biến cố, để có thể xác minh bằng cách viện dẫn kinh nghiệm. Cho dẫu bị phương pháp ấy giới hạn trong các đối tượng chỉ có thể trải nghiệm trực tiếp hoặc gián tiếp, khoa học vẫn có lợi thế cách riêng trong việc đưa ra những câu trả lời có căn cứ cho các vấn nạn.

Cho tới nay, ngoài khoa học ra, không có phương pháp nào khác có khả năng cung cấp giải đáp cho các câu hỏi thuộc loại như thế. Do đó, thật dễ giả định rằng chỉ có cái nào được khoa học biết tới mới là cái có thể biết, còn cái nào không được khoa học biết tới thì dứt khoát là cái không thể biết.

2. Khoa học và tôn giáo

Không chỉ biết bằng khoa học

Thế nhưng, triết học và thần học đều tuyên bố rằng có loại tri thức vượt quá tầm với của phương pháp khoa học; tri thức ấy được sở đắc bằng lý trí, trực giác và đức tin. Trong thời đại khoa học là mốt thời thượng, lời tuyên bố ấy có thể bị thách thức hoặc không màng để ý tới. Và rất nhiều người xem nó như di tích của một thời kém khai phóng vì những kết luận của hai bộ môn ấy không thể là đối tượng của bất cứ kiểm tra thực nghiệm nào. Trong thời đại xem kiểm tra thực nghiệm là tối thượng, chúng bị đánh giá là một thói xấu.

Không thể kiểm nghiệm

Khi các nhà khoa học có ý kiến khác nhau về một vấn đề, người ta sẽ làm thí nghiệm về vấn đề đó để có thể đạt tới một quyết định chung. Nhưng như vẫn thường xảy ra, khi nhà triết học và nhà thần học đạt tới những kết luận khác nhau, đôi bên không thể giải quyết các dị biệt của họ bằng một cách thức hiển nhiên nào.

Vì người ta không sở đắc các kết luận của triết học và thần học bằng phương pháp khoa học, và vì không thể kiểm tra chúng bằng các cuộc thí nghiệm có tính quyết định, nên hai bộ môn ấy được xem như có họ hàng gần xa với thi ca. Khoa học thể hiện bằng cách đưa ra những thông tin bảo đảm trong khi triết học và thần học thì tùy thuộc óc tưởng tượng không thể kiểm soát. Ðó là nguồn cội của cuộc bị cho là xung khắc giữa khoa học và tôn giáo.

3. Lời biện hộ của triết học

Hạn chế của phương pháp khoa học

Có lẽ nên để các nhà thần học nói lời biện hộ cho bộ môn của họ. Ở đây, cuộc thảo luận trình bày trong sách này chỉ liên quan tới việc biện minh cho những sở thích mang tính suy tưởng của triết gia. Nếu muốn biện hộ cho triết học, chúng ta phải cho thấy có phương pháp kiến lập chân lý khác với phương pháp của khoa học. Hoặc bằng một cách khác nhưng vẫn có thể biện hộ hữu hiệu, đó là cho thấy có những suy xét không kém phần quan trọng nhưng chúng lại không thích hợp với thẩm tra khoa học.

Lời biện hộ của triết học đặt cơ sở trên tiền đề rằng thành quả của khoa học tùy thuộc vấn đề sử dụng phương pháp, cái tự nó giới hạn phạm vi của thẩm tra khoa học. Khoa học chỉ là khoa học khi nó có thể kiểm tra các ý kiến của nó bằng chứng cớ kinh nghiệm.

Quả thật, khi khoa học tùy thuộc vào toán học thì có thể áp dụng các tiêu chuẩn khác, thí dụ như tính nhất quán, nhưng đó chỉ là ngoại lệ tạm thời; các nhà khoa học chỉ mãn nguyện khi họ có thể “đưa tay” chỉ tới những chứng minh trước mắt cho kết luận của họ. Ðối với thành quả của khoa học, điều ấy mang tầm quan trọng sống còn và đó cũng chính là lý do khiến cho khoa học không vượt ra khỏi đường biên của nó.

Nhu cầu của suy tưởng

Trong thực tế, ngày nay triết học không còn gặp khó khăn khi phải tự biện hộ vì hầu hết các nhà khoa học lỗi lạc đều từng nhấn mạnh tới những hạn chế của phương pháp khoa học. Trong lãnh vực vật lý toán học (mathematical physics), từ lâu, việc nghiên cứu đã hoàn toàn vượt ra ngoài ranh giới quan sát trực tiếp để đòi hỏi phải có sự suy lý đầy tưởng tượng.

Không dễ xếp loại hoặc không dễ gọi một cách chuyên biệt những người như Albert Einstein, hoặc Max Planck là khoa học gia hay triết gia. Có lẽ tốt hơn nên gọi họ là cả hai vì các suy tưởng triết học của họ quả thật đã đóng góp cho sự phát triển của chính khoa học.

Người ta có thể đáp lại rằng sở dĩ có chuyện đó là do bởi những hạn chế của dụng cụ và kỹ thuật theo từng thời đại. Khoa học sẽ càng ngày càng tiến bộ, các giới hạn ấy sẽ càng ngày càng được bù đắp để tới một ngày nào đó, chắc chắn sẽ mang những cuộc nghiên cứu như thế vào bên trong đường biên của khoa học.

Eddington có câu trả lời cho vấn đề ấy. Ông nói rằng dù khoa học có thể tiến xa tới mấy đi nữa, sẽ vẫn có thêm cái gì đó mà khoa học không bao giờ có thể viên mãn. Và chính cái thêm đó làm tăng thêm phần quan trọng của sự thẩm tra. Triết gia chẳng cần phải bứt rứt về việc mình chỉ đưa ra những suy tưởng không thể kiểm tra thực nghiệm vì hầu hết các nhà khoa học lỗi lạc đều đánh giá chúng thiết yếu cho sự tiến bộ của tri thức loài người.

Ba chức năng khoa học của triết gia

Thực tế cho thấy triết gia thể hiện ba chức năng có liên quan tới khoa học. Ðó là:

1. Phê phán các giả định của khoa học;

2. Kêu gọi chú ý tới bản tính trừu tượng của khoa học;

3. Vạch ra cặn kẽ những hàm ý trong các kết luận đã được chấp nhận của khoa học.

Cả ba chức năng ấy đều quan trọng ngang nhau. Chúng không chỉ đóng góp vào những tiến bộ của khoa học mà còn rọi ánh sáng vào cuộc thám hiểm của con người.

Cả ba chức năng ấy đều không ở trong phạm trù khoa học hoặc không là đối tượng của kiểm tra thực nghiệm, cái cung cấp tính thẩm quyền cho kết luận khoa học. Nếu cứ khăng khăng áp dụng – theo nghĩa đen – phương pháp khoa học vào mọi giai đoạn sinh hoạt trí thức, thì lúc đó tri thức của ta sẽ bị giới hạn trầm trọng, cách riêng trong những giai đoạn làm cho cuộc sống của ta cao thượng và phong phú nhất.

Vượt ra ngoài chính thống

Trong chương bàn về chủ nghĩa máy móc, chúng ta từng thấy kết quả khả hữu của việc xem phương pháp khoa học có khả năng áp dụng ở quá bên kia các giới hạn hợp qui cách chính thống (legitimate limits) của nó. Dù con người là một cá thể có tự do hay không, hoặc chỉ là chiếc răng cưa trong guồng máy vũ trụ, thì đó cũng không phải là một vấn đề khoa học, và đó cũng không phải là loại câu hỏi mà khoa học có thể nêu ra một cách hợp qui cách chính thống.

Có lẽ nhà khoa học xã hội cảm thấy dễ dàng hơn khi ứng xử với con người nếu y giả dụ rằng con người có thể bị giảm thiểu thành số nguyên, vì như thế tiện lợi cho việc xem xét theo kiểu thống kê; thế nhưng nhà khoa học xã hội đó không thể quả quyết rằng con người chỉ là số nguyên. Có thể không có lời phản đối bất cứ phương pháp nào đẩy mạnh công tác khoa học ấy, tuy thế, có sự phản đối hợp thức và chính thống đối với việc thay thế một phương pháp bằng một nguyên lý giải thích. Con người thì hơn số nguyên.

4. Các giới hạn của lý trí

Phận sự của triết gia

Triết gia là khán thính giả của mọi thời và mọi người. Do đó, y phải đồng ý với nhà thần học rằng những câu hỏi về sự hiện hữu của Thượng đế và đời sống sau khi chết là hợp qui cách chính thống (legitimate questions). Những câu hỏi ấy quả thật không thể trả lời bằng bất cứ phương pháp nào mà khoa học đã và đang biết, và cũng không thể lập thành lời giải đáp chắc chắn cho những vấn đề ấy, như chúng ta đang kỳ vọng nơi khoa học thực nghiệm.

Thế nhưng những câu hỏi ấy cực kỳ quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta và đối với động thái của mỗi người trong cuộc đời tới độ không thể gạt chúng sang một bên. Tuy vậy, không khéo chúng ta để cho mình lâm vào tình thế tới lui đều khó vì một đằng không thể trả lời chúng bằng khoa học còn một đằng thì không thể gạt bỏ chúng.

Triết gia có phận sự tìm kiếm câu trả lời cho các vấn đề ấy, sao cho thỏa mãn nhu cầu của lý trí và phù hợp với tri thức chắc chắn mà khoa học cung cấp cho chúng ta. Hai mục đích ấy làm thành đầu mối cho một lập trường.

Triết học mang tư tưởng đi tới quá bên kia các giới hạn có thể đạt tới bằng sự gắn bó nghiêm ngặt với các phương pháp thực nghiệm của khoa học, nhưng trong triết học không có gì để có thể quả quyết một cách tối hậu rằng nó mâu thuẫn và không thể hòa giải với các kết luận có giá trị của khoa học.

Newton và Hume

Isaac Newton giới hạn sự suy tưởng trong thành ngữ cổ điển “hypotheses non fingo: tôi không giả vờ lập giả thuyết”, và đó là dường như là câu nói chung quyết về vấn đề ấy. Nó chỉ là một bước đi tới lời quả quyết của Hume rằng sự suy diễn (inference) từ cái biết sang cái không biết sẽ sinh ra cái không chắc chắn, vì kinh nghiệm không thể chứng minh cho bất cứ lời phát biểu nào về cái không biết.

Hume thừa nhận giá trị của khôn ngoan thực tiễn, cái chúng ta cần tới để giả định rằng những biến cố nhất định thì đưa tới những hệ quả có thể dự báo, thí dụ ăn quá nhiều thì khó tiêu. Nhưng ông phủ nhận bất cứ sự “thiết yếu kết liên nhau” nào – do lý trí có thể lập nên – giữa các biến cố. Khi cho rằng cái đã xảy ra trong quá khứ sẽ có khả năng xảy ra lần nữa căn cứ vào các hoàn cảnh tương tự, thì lời tiên đoán ấy chỉ đơn thuần là một xác tín.

Chủ nghĩa hoài nghi các tầm với của lý trí này xâm nhập vào những xem xét khác, và ở đó, nó thôi thúc người ta tìm cách chứng minh rằng lý trí không thể nào đi tới quá bên kia những chứng cớ của giác quan để kiến lập chân lý của một học thuyết như học thuyết về sự hiện hữu của Thựơng đế.

Thời đại đã đổi khác

Dường như sự kết hợp của học thuyết Newton và chủ nghĩa hoài nghi của Hume xác minh rằng những gì được con người tin là chân lý có bảo đảm thì thật ra chỉ là ít mê tín hơn một chút so với thuở trước, và nay chúng không còn có thẩm quyền giống như thời chúng được chấp nhận trong các xã hội xa xưa.

Từ trước tới nay, người ta xem sự chấp nhận lâu đời của mọi người như một thứ chứng cớ, nhưng đối với Hume, chẳng khó khăn chút nào để thấy rằng trong một thời đại quá quen thuộc với phương pháp bảo đảm của khoa học, chúng ta không cần tới sự chấp nhận ấy. Bằng cách trình bày rằng lý trí hơn một chút so với việc vinh danh sự tán đồng có tính cổ truyền hoặc phong tục tập quán, Hume cho là ông đã đặt dấu chấm hết cho những lời tuyên bố rằng có loại tri thức ở quá bên kia các giới hạn của kinh nghiệm tức thời và tại chỗ.

 

II. Tri thức về Thượng đế

1. Kant và “đức tin”

Khoa học và đức tin

Immanuel Kant, như chúng ta thấy, đã đáp trả Hume bằng cách phân biệt hai cảnh giới: khoa học và đức tin. Kant đồng ý với Hume rằng toàn bộ tri thức phải bắt đầu bằng kinh nghiệm nhưng ông phủ định ý kiến cho rằng tri thức chỉ vỏn vẹn là kinh nghiệm.

Cũng như chúng ta đã thấy, đối với Kant khoa học bắt đầu với các dữ-liệu-cảm-giác (sense-data) nhưng không phải thế thôi, vì chỉ bằng vào các dữ-liệu-cảm-giác ta không thể tổ chức thành khách thể hoặc thành các hệ thống của đối tượng. Chúng ta cần tới các nguyên lý tổ chức, và chúng chỉ có thể được cung cấp bằng cảm quan (sensibility) và tri thức (understanding).

Vai trò của nguyên tắc tổ chức

Ðể tránh những phức tạp không cần thiết, chúng ta từng đưa ra giả thuyết rằng lý trí là cội nguồn của các nguyên lý tổ chức nhằm biến trạng thái hỗn độn của kinh nghiệm giác quan thành một thế giới có trật tự. Không có các dữ-liệu-cảm-giác và không có các nguyên lý lập trật tự thì không có một thế giới như chúng ta đang biết. Tiếp đó, các dữ-liệu-cảm-giác cũng như các nguyên lý lập trật tự đều không cung cấp cho chúng ta tri thức nào.

Kết luận ấy về các nguyên lý lập trật tự thì thập phần quan trọng vì lý trí có khuynh hướng tìm cách áp dụng các nguyên lý hoặc các bảng hạng mục (categories) vào quá bên kia cảnh giới của kinh nghiệm. Một thí dụ minh họa cho khuynh hướng ấy là nỗ lực kiến lập sự hiện hữu Thượng đế bằng nguyên lý quan hệ nhân quả.

Có những triết gia đã và đang lập luận rằng vì thế giới hiện hữu nên phải có một thời gian nó không hiện hữu. Do đó, phải có Ðấng sản sinh ra nó và đưa nó vào hiện hữu. Rõ ràng rằng bất cứ phát biểu nào về Nguyên nhân đệ nhất (the first cause) đều phải ở bên ngoài cảnh giới của kinh nghiệm giác quan vì không ai có thể có khả năng nhận biết nguyên nhân ấy hoặc Hữu thể ấy.

Giới hạn của quan hệ nhân quả

Nhưng theo Kant, quan hệ nhân quả chỉ là một nguyên lý dùng để lập trật tự kinh nghiệm và cho dù có muốn cũng không thể áp dụng nó ở quá bên kia cảnh giới của kinh nghiệm. Do đó, lập luận ấy không có giá trị. Thậm chí Kant còn trình bày rằng không ai có thể chứng minh thế giới có hoặc không có một bắt đầu vì dù kết luận có hoặc không, cũng không thể đem bất cứ kinh nghiệm nào ra để chứng minh cho kết luận ấy, và không có kinh nghiệm thì cũng không thể có tri thức.

Xét theo lập trường đó, chỉ có khoa học mới được gọi một cách thích đáng là tri thức, ấy bởi vì khoa học là sự kết hợp kinh nghiệm giác quan với các bảng hạng mục, là cái tổ chức kinh nghiệm giác quan thành vũ trụ.

Thượng đế, tự do và bất tử

Nhưng kế đó, Kant thừa nhận rằng lý trí không mãn nguyện với vai trò của nó như một kẻ tổ chức các dữ-liệu-cảm-giác. Do bởi bản tính của nó, lý trí nêu các câu hỏi mà chính nó không thể trả lời. Trong số đó, quan trọng nhất là các câu hỏi về (1) Thượng đế, (2) tự do và (3) sự bất tử.

Vì lý trí nên ra các câu hỏi đó nên chúng ta có thể cho là chúng cực kỳ quan trọng trong khi chúng ta vẫn thừa nhận rằng lý trí không thể nào trả lời chúng một cách chắc chắn. Vì lý trí thất bại, không đáp ứng nổi tầm quan trọng đó, nên chúng ta phải trông cậy vào các phương thế khác nhằm kiến lập học thuyết ấy; và Kant gọi các phương thế khác là đức tin.

Ý nghĩa của đức tin

Trong hệ thống của Kant, đức tin có một ý nghĩa riêng biệt. Ðức tin là sự giả định của một nguyên tắc không thể thiết lập bằng kinh nghiệm hoặc bằng lý trí, tuy thế, nó đòi hỏi phải giải thích những phương diện nhất định của kinh nghiệm. Chứng cớ có vẻ thực dụng này thập phần quan trọng.

Không thể kiến lập sự tự do bằng lý trí, nhưng nếu không giả định con người có tự do thì ta chẳng thể nào hiểu nổi tác phong đạo đức. Không ai có thể phủ nhận thực tế của đạo đức, và vì giả định ấy vừa giải thích nó vừa không hàm chứa tính chất phi nhất quán với các chân lý được kiến lập một cách hợp lý, nên ta phải chấp nhận nó. Cũng đúng y như thế về sự hiện hữu của Thượng đế và thực tế của bất tử.

Vượt quá thẩm quyền của khoa học

Do đó, Kant tiếp tục trung thành với khoa học; ông thừa nhận rằng chỉ có khoa học mới có thể cung cấp tri thức hoàn toàn bảo đảm. Tuy thế, ông lập luận rằng có những phương diện của kinh nghiệm vượt quá cảnh giới mà khoa học có thể phát biểu với đầy đủ thẩm quyền, và những phương diện ấy mang tầm quan trọng bậc nhất.

Bởi thế, theo Kant, có thể biện minh cho triết học trong việc đi tới quá bên kia khoa học để tìm kiếm các câu trả lời cho các câu hỏi nằm ngoài tầm xử lý của khoa học. Tuy nhiên, ở đây triết học không thể tìm thấy sự hậu thuẫn hợp lý cho các học thuyết của nó, và nó phải bằng lòng với lập luận rằng nếu không có những giả định nhất định thì không thể cắt nghĩa các khía cạnh cực kỳ quan trọng của cuộc sống

2. Hegel và lý trí

Người duy lý chủ nghĩa

Lập trường của Kant không hấp dẫn nổi Hegel, triết gia Ðức kế tục ông. Hegel phản đối sự phân biệt thành hai cảnh giới đức tin và lý trí cùng lời quả quyết rằng thật sự có hai thế giới: một mở ra cho thẩm tra khoa học và một chỉ mở ra cho niềm hy vọng mộ đạo.

Hegel hoàn toàn là người duy lý chủ nghĩa, kẻ tin rằng lý trí là chìa khóa mở cửa mọi bí nhiệm tự nhiên. Ông không chấp nhận lời tuyên bố rằng có các câu hỏi do lý trí đặt ra mà chính nó cũng không thể trả lời. Phủ nhận ấy của Hegel được ông biện minh bằng lời quả quyết rằng thế giới là một hệ thống hợp lý và nó là sự diễn đạt của lý trí tối hậu.

Thượng đế hoàn toàn nội tại

Chúng ta sẽ sớm thấy có sự mâu thuẫn nào đó liên quan tới việc không biết Thượng đế vượt lên trên hết thảy (siêu việt, transcendence) hoặc ở khắp mọi nơi (nội tại, immanence), không biết ngài ở ngoài vũ trụ tự nhiên này hoặc ngài dính líu tới nó bằng cách nào đó. Hegel quả quyết rằng Thượng đế hoàn toàn nội tại. Thực tế, ông lập luận rằng vũ trụ trong toàn bộ của nó có cái được ta ngụ ý nói tới bằng danh xưng Thượng đế.

Theo Hegel, vì Thượng đế được định nghĩa là Ðấng tuyệt đối, lý trí tuyệt đối, cho nên vũ trụ là một hệ thống hợp lý. Vì vũ trụ là một hệ thống hợp lý cho nên bất cứ cái gì bên trong nó cũng là sự diễn đạt của lý trí, không cách này cũng bằng cách khác.

Chúng ta có thể làm rõ hơn một chút điều Hegel có ý nói nếu tạm thời lúc này, ta nghĩ tới cái có liên quan tới tri thức. Mỗi hành động, như ta đã biết tới, đều lên quan tới một chủ thể (subject) và một khách thể (object). Rõ ràng điều đó không ai có thể phản bác. Tôi chỉ có thể biết cái cây vì có “cái tôi” để biết và có “cái cây” để được biết.

Thượng đế, bản ngã tối hậu

Trước tiên, chúng ta hãy suy nghĩ về “cái tôi”, là chủ thể biết. Liệu cái tôi này có được biết như cái cây có thể được biết (khách thể)? Câu trả lời phải là phủ định: không. Chưa từng có người nào biết bản thân y như y biết cái cây. Vì thế nếu tôi nói rằng tôi hiểu bản thân tôi, có nghĩa tôi vừa làø khách thể được biết vừa là chủ thể biết.

Chủ thể đang biết không bao giờ có thể là một khách thể. Tuy thế, nếu không có tri thức về bản ngã, mọi tri thức khác đều vô nghĩa. Ở đây, chúng ta có chìa khóa mở ra mọi bí nhiệm. Toàn bộ tri thức là thật sự tự am hiểu, nhưng cái tôi chỉ có thể được biết bằng cái gì đó khác với cái tôi, (all knowledge is really self-knowledge, but the self can only be known by means of something other than the self). Nếu hiểu câu nói ấy của Hegel thì sẽ thấy rõ tại sao ông đồng ý với Kant rằng bản ngã (the self) là từ ngữ tương đương với sự tự ý thức (the self-consciousness).

Tới đây, Hegel lập luận rằng có một bản ngã tối hậu (an ultimate self), đó là Ðấng tuyệt đối hoặc Thượng đế. Trên cơ sở của những gì chúng ta vừa nói, bản ngã này phải có tính tự ý thức (self-concious). Nhưng không thể có sự tự ý thức nếu không qua tri thức về cái khác với cái tôi. Do đó, hệ quả là Thượng đế phải biểu thị ngài như là cái khác với bản thân ngài.

Vòng tuần hoàn

Chúng ta hãy giả định rằng Thượng đế là tinh thần (spirit). Nếu như thế, Thượng đế phải biểu thị bản thân ngài như là vật chất, hoặc như là cái khác với tinh thần. Nhưng cái khác đó phải được mang trở lại bên trong bản ngã để cung cấp sự tự ý thức, như chúng ta đã thấy khi phân tích về tri thức.

Do đó, toàn bộ câu chuyện về thiên nhiên và lịch sử cùng khoa học và triết học là câu chuyện về Thượng đế, đấng biểu thị bản thân ngài (Himself) trong thiên nhiên đang quay trở về bản thân ngài. Ta có thể diễn tả nó bằng lối nói đơn giản hơn, thí dụ thiên nhiên là sự biểu thị của lý trí, nó đang trở về với lý trí và nó chỉ trọn vẹn là nó khi rút gọn lại thành lý trí, như trong khoa học hoặc triết học.

Vật chất thành ký hiệu

Bất cứ nỗ lực nào nhằm trình bày tư tưởng của Hegel trong đôi ba đoạn văn ngắn cũng đều bất công với Hegel và với người đọc. Có lẽ dùng thí dụ thì dễ minh hoạ những gì Hegel cố gắng diễn tả bằng ngôn từ.

Hôm qua tôi đi dạo với một người bạn có đầu óc rất thực tế. Chúng tôi thấy đằng trước có một đầu máy xe lửa sắp băng qua một cây cầu. Trong một thoáng bất chợt, tôi nói với người bạn ấy rằng: “Có một phương trình toán học đang băng qua một phương trình toán học”. Vì là người thực tế, bạn tôi nhìn tôi với ánh mắt khinh dể. Thế nhưng tôi đúng!

Muốn xây nhiều cây cầu càng lớn hoặc chế tạo nhiều đầu máy xe lửa càng mạnh, nhà khoa học càng phải biến đổi các đối tượng vật chất rắn đặc thành các ký hiệu toán học. Hoặc đi lùi lại một chút, trước khi được làm thành các khách thể vật chất ấy, chúng trước hết phải là những ý tưởng trong tâm trí của kỹ sư (chủ thể). Cả chiếc cầu lẫn đầu máy xe lửa chỉ là hiện thân hữu hình của các ý tưởng và ta có thể hiểu chúng rõ ràng nhất, hoặc kiểm tra chúng căn kẽ nhất, bằng cách lại biến đổi chúng thành các ý tưởng.

Ý tưởng thành hình tượng

Hegel minh họa tính chất phổ quát (universality) của tinh thần hoặc lý trí bằng cách khảo sát nghệ thuật. Các bức tượng của Michelangelo (1475-1564) hoặc Phidias (k. tk 5 tr.C.N.) còn hơn là đá hoặc đồng hoặc cẩm thạch; chúng là sự diễn đạt các ý tưởng. Chính hành động diễn đạt các ý tưởng biến chúng thành nghệ thuật. Ngay cả ngôi nhà bạn đang ở cũng là sự diễn đạt hữu hình một ý tưởng. Khi chúng ta khảo sát các cấp bậc nghệ thuật khác nhau, chúng ta thấy ý tưởng càng lúc càng ít tùy thuộc vào hiện thân hữu hình của nó. Thơ quả thật đòi hỏi âm thanh nhưng ở đó, sự nối kết giữa các ý tưởng và hiện thân hữu hình hầu như biến mất.

Từ các cấp bậc cao nhất của nghệ thuật ta chỉ rướn thêm một bước nữa là tới tôn giáo. Trong phạm trù này chúng ta cũng liên quan tới các ý tưởng, nhưng là các ý tưởng không còn đòi hỏi phải khoác dạng thức hữu hình. Không nghệ sĩ nào có khả năng thể hiện những bí nhiệm vĩ đại của tôn giáo, thí dụ học thuyết Một Chúa Ba Ngôi (Trinity) hoặc Ba Thân Phật.

Diệu dụng của triết học

Các ý tưởng tôn giáo được tâm trí “nắm bắt” lập tức dù chúng có phần nào giống với các hình ảnh hoặc các bức ảnh tinh thần. Chỉ trong triết học mới có thể nắm bắt các ý tưởng với toàn bộ tính chất phổ quát (universality), trừu tượng (abstractness) và độc lập (independence) của chúng; chỉ trong triết học con người mới có thể thâm nhập vào bản tính chân chính (thực tính, real nature) của vũ trụ và nhận ra rằng hết thảy là tinh thần (spirit) hoặc lý trí (reason).

Hegel tán thưởng, trong chừng mực giới hạn, công việc của khoa học nhưng ông khẳng định rằng khoa học tất yếu ứng xử với vật chất đơn thuần. Nó chỉ liên quan tới những cấp bậc thấp hơn ý tưởng và cuộc hiện sinh, thí dụ quan hệ nhân quả. Ở cấp bậc đó, những gì khoa học nói thì đúng một cách sâu xa nhưng nó không thể cung cấp những cái nhìn thấu suốt (insights) vào bản tính của thực tại; việc này dành cho triết học.

Do đó có những cấp bậc tri thức khác nhau. Chỉ có triết học mới có thể bao hàm những bí nhiệm chan chứa của cuộc hiện sinh và cung cấp những trả lời cho câu hỏi quá đổi quan trọng đối với tri thức về sự hiện hữu nhân tính và thiêng tính.

3. Bergson và trực giác

Cả Hegel lẫn Kant đều đồng ý rằng khoa học là một ngành quan trọng của tri thức nhưng nó bị giới hạn trong phạm vi của nó. Cả hai đều đồng ý rằng khoa học, như một dạng (a form) của lý luận (reasoning), cung cấp câu trả lời cho những câu hỏi quan trọng và góp phần thúc đẩy các nỗ lực của con người nhằm hiểu biết vũ trụ của y. Khoa học làm thỏa mãn tính hiếu kỳ trí thức.

Chủ yếu là để sống sót

Tuy thế, hai triết gia ấy sống trước thời xuất hiện thuyết tiến hóa củaDarwin. Do đó, cả hai đưa ra cho lý trí một địa vị mà những người hậu-Darwin thường bác bỏ. Ta có thể qua Bergson, minh họa thái độ mới ấy.

Darwin chứng minh cho giả định rằng cái được con người xem quan trọng nhất chính là sự sống sót. Cái được chúng ta gọi là trí tuệ hoặc lý trí, phải là khí cụ góp phần vào cuộc sinh tồn. Vì trí tuệ hoặc lý trí thực dụng như thế nên phải căn cứ vào kết quả của nó mới có thểå kiểm tra tính hiệu quả của nó. Trí tuệ không là khí cụ dùng vào việc quyết định bản tính của thực tại cốt chỉ để thỏa mãn tính hiếu kỳ trí thức. Trí tuệ là năng lực giải quyết các vấn đề thiết yếu để sống sót.

Nếu sống sót là thập phần quan trọng và nếu phải cần tới giả mạo để góp phần sống sót thì sự giả mạo ấy được biện minh. Bergson lập luận rằng trí tuệ chỉ có thể hoạt động bằng cách giả mạo. Giả mạo quan trọng nhất là việc cho rằng thường tại thì có cơ sở hơn vô thường. Chúng ta xem vạn vật như đang tồn tại một cách thường trực, hôm nay vẫn như cũ và ngày mai “vũ như cẩn”, trong khi đó trạng thái của chúng biến đổi. Vì những lý do như chúng ta đã xem xét, Bergson cho rằng biến đổi là tối hậu, và lời quả quyết ấy của ông phù hợp với các giả định của khoa học hiện đại.

Biết bằng trực giác

Theo Bergson, trí tuệ hoặc lý trí – khí cụ của khoa học – không thể nào nắm bắt sự biến đổi đơn thuần (vô thường). Chúng ta chỉ có thể nghĩ tới vô thường như là trạng thái biến đổi của một vật nào đó, vì thế chúng ta biến những vật có tính thường trực thành tính tối hậu. Do đó, phải có một dạng khác của hành động biết. Bergson gọi dạng đó là trực giác (intuition).

Ngay ở đây, có thể minh họa sự nắm bắt thực tại bằng hành động có tính trực giác qua thí dụ về một nhà huyền học (mystic) xuyên suốt những tín điều tôn giáo khô cứng để trải nghiệm Thượng đế. Các triết gia cũng cần tới loại trực giác như thế.

Do đó, theo Bergson, lý trí, trí tuệ và khoa học đều chỉ liên quan tới các chủ đề thực tiễn, và vì vậy, chúng không bao giờ có khả năng cung cấp chân lý cho chúng ta. Ta chỉ có thể nắm bắt các khái niệm cao hơn về vũ trụ bằng một dạng của hành động biết mà không cần phải giả mạo vì mục đích sống sót. Do bởi khoa học là phương thế hữu hạn của hành động biết nên không bao giờ nó có thể cung cấp cho con người thông tin nào về thực tại tối hậu.

4. Các hàm ý

Ba lý thuyết khác nhau – của Kant, của Hegel và của Bergson – gặp gỡ nhau ở một điểm chung là khoa học không thể cung cấp toàn bộ câu chuyện về vũ trụ. Cả ba triết gia ấy đều đồng ý rằng có khả năng sở hữu tri thức về Thượng đế, dù người này khác với người kia về phương thế sở đắc tri thức ấy. Khác với Hegel chỉ tín nhiệm lý trí, Kant và Bergson cho rằng lý trí không là khí cụ thích hợp để ứng xử với những bí nhiệm tối hậu của cuộc đời; Kantï chọn đức tin, Bergson chọn trực giác, vì theo họ chỉ có chúng mới có thể ứng xử với những cái không thể quan sát.

Sự nhấn mạnh của Kant lên đức tin và Bergon lên trực giác, gần gũi với lập trường được nhiều nhà tư tưởng hiện đại chấp nhận. Ngày nay, có rất ít người quả quyết rằng có khả năng kiến lập sự hiện hữu hoặc không của Thượng đế bằng cách chỉ viện dẫn lý trí. Trong phạm vi này các nhà tư tưởng hiện đại quay lưng với quá khứ.

Cho tới thời của Hume và Kant, có nhiều người tin rằng lý trí có thể kiến lập sự hiện hữu của Thượng đế. Dĩ nhiên sự viện dẫn lý trí chỉ để phụ thêm vào lời chứng của đức tin và mặc khải; cho dẫu như thế, thẩm quyền của nó được xem là hiển nhiên. Vì vào thời của Kant, các luận cứ cổ truyền đều đáng ngờ. Và thiết yếu là phải thấy tại sao có tình trạng đó.

 

III. Các luận cứ cổ truyền

1. Bốn loại luận cứ

Có thể liệt kê các luận cứ cổ truyền thành ba loại, mang tính vũ trụ luận, cứu cánh luận và bản thể luận. Và như chúng ta đã thấy, Kant xem cảø ba loại luận cứ đó đều không có hiệu quả; ông thay vào đó bằng cái được gọi là luận cứ đạo đức. Như thế, tất cả làm thành bốn loại luận cứ dùng để chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế.

Trong khi tìm cách trình bày các loại luận cứ ấy, có một điều hẳn chúng ta cần phải chú ý, đó là chúng không chỉ dự tính chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế mà còn tính chuyện chứng minh sự hiện hữu của một Thượng đế có đầy đủ các thuộc tính như thiêng liêng, vô cùng, hằng cửu và bất biến trong hữu thể (being) minh triết, thánh thiện, công chính, thiện hảo và chân lý của ngài.

2. Luận cứ vũ trụ luận

Từ thiên nhiên tới Thượng đế

Luận cứ mang tính *vũ trụ luận (cosmology) đi từ sự hiện hữu của thiên nhiên tới sự hiện hữu của một Ðấng tạo hóa có khả năng mang vũ trụ mênh mông ấy vào hiện thực. Thiên nhiên đang hiện hữu, đó là điều không một ai chối cãi, do đó, luận cứ này cho rằng chẳng người nào có thể thật lòng hoài nghi việc có cái gì đó đã làm cho thiên nhiên trở thành hiện thực và tồn tại.

Mọi sự trong thiên nhiên tùy thuộc vào cái gì khác để hiện hữu, và quả rất thích đáng khi lập luận rằng cái đúng cho mọi thành phần thì ắt phải đúng cho toàn bộ của chúng. Thế giới không thể tự nó phát sinh. Phải hiện hữu Ðấng tạo hóa. Sự mênh mông của vũ trụ thiên nhiên đủ để chứng minh rằng Ðấng có khả năng làm cho nó thành hiện thực và tồn tại phải là Ðấng toàn năng. Do đó, thuyết này lập luận rằng sự hiện hữu của thế giới chỉ rõ cho ta thấy sự hiện hữu của Ðấng toàn năng có khả năng mang nó vào cuộc hiện sinh.

Phải sinh ra từ cái nào đó

Luận cứ mang tính vũ trụ luận mang nhiều dạng khác nhau. John Locke vạch ra rằng mỗi người phải chấp nhận thực tế hiện hữu của bản thân mình. Theo ông, ai cũng phải chấp nhận như một sự kiện rằng không cái gì có thể trở thành hiện thực mà không có cái gì đó sản sinh nó.

Trong cuốn Essay Concerning Human Understanding (Tiểu luận về tri thức con người, 1690), Locke viết rằng: “Do đó, nếu chúng ta biết rằng có một hữu thể có thật (real being) nào đó, và rằng cái phi thực thể (nonentity) không thể sản sinh ra bất cứ hữu thể có thật nào; đó là sự chứng minh có bằng cớ rằng có cái gì đó từ vĩnh cửu; vì cái không từ vĩnh cửu mà ra thì có một khởi đầu, và cái có một khởi đầu thì phải được sản sinh bởi một cái nào khác”.

Phải có nguyên nhân đệ nhất

Luận cứ mang tính cứu cánh luận cũng có thể mang dạng nhất thiết phải có nguyên nhân đệ nhất (a first cause). Mỗi biến cố phải có nguyên nhân, nguyên nhân của biến cố nào tự nó cũng hiện hữu trong một biến cố vốn phải có một nguyên nhân, và cứ thế cho tới vô cùng (infinite). Nhưng tâm trí con người không thể đi trở lùi cho tới vô cùng, do đó nhất thiết phải giả định có nguyên nhân đệ nhất ở đâu đó, không bị tác động bởi một nguyên nhân trước đó. Nguyên nhân đệ nhất mà mọi sự tùy thuộc vào nó chính là Thượng đế.

Ðiển hình cho luận cứ mang tính cứu cánh luận là Thomas Aquinas với“Năm con đường” ông dùng để chứng mình sự hiện hữu của Thượng đế. Năm con đường ấy gồm:

1. Luận cứ rút từ một động cơ không bị chuyển động;

2. Luận cứ rút từ một nguyên nhân không bị tác động;

3. Luận cứ rút từ tính chất khả thi và tất yếu;

4. Luận cứ rút từ các cấp độ khác nhau của phẩm tính;

5. Luận cứ rút từ thiết kế – hoặc dự kiến (design).

Trong năm con đường ấy, ba cái đầu mang tính cứu cánh luận. Bạn đọc có thể theo dõi chi tiết của chúng trong cuốn Ðại cương triết học Tây phương, cùng một soạn giả.

Berkeley đưa ra một dạng lập luận khác, được trình bày trong cuộc thảo luận của Locke và Berkeley. Theo Berkeley, người duy nghiệm chủ nghĩa không cần phải giả định sự hiện hữu độc lập của các đối tượng hữu hình ngoại tại. Có lẽ chẳng vô ích khi nhớ lại rằng sở dĩ Berkeley quan tâm tới việc kiến lập sự hiện hữu của Thượng đế chính là để phản bác các nhà tư tưởng chống giáo điều cùng thẩm quyền tôn giáo và người vô thần chủ nghĩa (atheism) thời ấy đang dùng chủ nghĩa duy vật để phủ nhận sự hiện hữu của Thượng đế.

Phải hiện hữu Thượng đế

Bằng cách giảm thiểu toàn bộ kinh nghiệm thành trạng thái chủ quan,Berkeley thiết lập tính ưu việt của tinh thần. Ông trình bày rằng khi chúng ta nói tới cây cối, sỏi đá và nhà cửa, chúng ta không có ý nói tới cái gì đó độc lập với tâm trí mà là nói tới cây cối, sỏi đá, nhà cửa như chúng được trải nghiệm. Ngoài trải nghiệm, các vật ấy không thể hiện hữu. Kinh nghiệm tinh thần (spiritual experience) là cái duy nhất nâng đỡ thế giới.

Theo Berkeley, tôi nhận biết có thành tố mang tính thụ động trong trải nghiệm của mình, điều đó chứng minh tôi không phải là kẻ nâng đỡ thiên nhiênï. Vạn vật hiện hữu không phụ thuộc vào kinh nghiệm của tôi. Do đó, điều thiết yếu là phải thừa nhận có sự hiện hữu của một Ðấng tối cao, kẻ có khả năng duy trì trong kinh nghiệm toàn bộ cái khung của vũ trụ.

Từ sự tùy thuộc của cái đang là vào kinh nghiệm, chúng ta có thể thấy rằng toàn thể vạn vật chỉ là những thành phần của một ban hợp ca vĩ đại cùng kết hợp để hát vang những tụng ca và kiến lập sự hiện hữu của Ðấng Thượng đế.

3. Phê phán luận cứ vũ trụ luận

Hữu hạn và vô cùng

Những kẻ đối lập với luận cứ mang tính vũ trụ luận vạch ra rằng cho dẫu luận cứ ấy có giá trị đi nữa, nó vẫn không thể chứng minh cái được những người ủng hộ nó tuyên bố.

Theo nguyên lý quan hệ nhân quả, thế giới này không vô cùng, do đó, để thích đáng với sự sản sinh nó, phải có Ðấng hữu hạn. Không cách gì ta có thể nhảy một cái từ sự hiện hữu của một kết quả hữu hạn (a finite effect) tới một nguyên nhân vô cùng (an infinite cause).

Chưa đúng Thượng đế ấy

Còn nữa, luận cứ đặt cơ sở trên sự ắt có và đủ (sufficiency) cho việc tạo hóa ấy chỉ có thể thiết lập quyền năng của Thượng đế; thế nhưng từ ngữ “Thượng đế” có nghĩa là Ðấng không những chỉ sở hữu quyền năng mà còn có những thuộc tính đạo đức như công bình, tình yêu và thương xót. Luận cứ mang tính vũ trụ luận bắt đầu từ sự kiện trần trụi rằng thế giới này hiện hữu, và lập luận rằng thế cho nên cũng phải hiện hữu một hữu thể quyền năng không ít hơn thế giới.

Nhưng “cái gì đó không ít quyền năng hơn thế giới” vẫn còn xa với cái được chúng ta ngụ ý trong từ ngữ Thượng đế. Trong luận cứ vũ trũ luận, chẳng thấy có chỗ nào thiết lập các thuôc tính công bình, tình yêu và thương xót. Lập luận ấy có thể đưa ra bằng chứng cho sự hiện hữu của Thượng đế nhưng đó không phải là loại Thượng đế được người tôn giáo hướng tới trong tình trạng bối rối của họ.

Không là qui luật tất yếu

Tiếp đến là phản đối thứ hai phủ nhận giá trị của luận cứ vũ trụ luận. Khi chúng ta lập luận từ thực tế mỗi biến cố phải có ít nhất một nguyên nhân tới sự hiện hữu của Thượng đế, tức là chúng ta có ý giả định rằng quan hệ nhân quả liên quan tới “thiết yếu kết liên nhau” giữa các sự kiện khác nhau về bản tính. Những lời phê bình của Hume (trong chương Quan hệ nhân quả) khiến cho ta khó chấp nhận lập trường ấy.

Hume cho thấy rằng cái được chúng ta gọi là thiết yếu kết liên nhau giữa các sự kiện chỉ vỏn vẹn là sự thấy trước trong tâm trí cái kết liên thường lệ của các ý tưởng. Nếu đúng như thế thì không có qui luật tất yếu giữa thế giới và kẻ tạo hóa. Có thể có một nối kết như thế nhưng ta không thể suy diễn nó từ bản tính của quan hệ nhân quả.

Ðó là lý do Hume quả quyết trong cuốn The Dialogues Concerning Natural Relegion (Các đối thoại về tôn giáo tự nhiên, 1750s) rằng: “Qui luật tất yếu của một nguyên nhân đối với mọi khởi đầu của hiện hữu không đặt trên bất cứ luận cứ nào, dù có tính chứng minh hoặc có tinh trực giác”.

Vô hiệu vì tự phủ nhận

Cuối cùng, phản đối thứ ba là phủ định giá trị của luận cứ phát sinh từ nhu cầu thiết yếu phải có nguyên nhân đệ nhất. Những người chống đối vạch ra rằng luận cứ ấy dựa trên một nguyên lý mà trong thực tế chính nó đã phủ nhận. Toàn bộ trọng lượng của luận cứ ấy dựa trên giả định rằng mọi kết quả phải có nguyên nhân và rằng tới lượt nguyên nhân ấy phải trở thành một kết quả và cứ thế tiếp tục cho tới một nguyên nhân không trở thành kết quả hoặc không đòi hỏi một nguyên nhân trước nó.

Tuy nhiên nếu có một nguyên nhân độc nhất không trở thành kết quả của một nguyên nhân khác thì làm sao chúng ta biết chắc chắn rằng nó là như thế? Bằng việc thừa nhận nguyên nhân đệ nhất, cái được xác định như một nguyên nhân không bao giờ là kết quả, tức là phủ định nguyên lý quan hệ nhân quả, và do đó, luận cứ vũ trụ luận không có trọng lượng.

4. Phản biện

Ðáp lại những lời chống đối kể trên, người biện hộ cho luận cứ mang tính vũ trụ luận thường vạch ra rằng bản tính của Thượng đế thì được kiến lập từ các nguồn khác. Không nên kỳ vọng một luận cứ duy nhất có khả năng trả lời hết thảy các câu hỏi của chúng ta, và nếu luận cứ vũ trụ luận cung cấp được lý do để tin có sự hiện hữu của Thượng đế, thì như thế là đủ.

Còn nữa, người ta có thể chất vấn giá trị của lời Hume phê bình về nguyên lý quan hệ nhân quả hoặc phủ nhận việc nó được thiết lập để mở cuộc tấn công luận cứ này.

Người ta có thể cố tránh sức mạnh của lời phản đối thứ ba bằng cách phân biệt sự thiết yếu kết liên nhau và một hữu thể lệ thuộc. Một hữu thể hiện hữu một cách thiết yếu thì yếu tính của nó hàm chứa sự hiện hữu, thí dụ nó không tùy thuộc vào bất cứ cái gì khác để hiện hữu. Thượng đế là một hữu thể như thế. Do đó, Thượng đế nhất thiết hiện hữu.

5. Luận cứ cứu cánh luận

Kỳ diệu của thiên nhiên

Theo am hiểu của nhiều người, luận cứ mạnh mẽ nhất là những lập luận mang tính cứu cánh luận, vốn xuất xứ từ sự thiết kế (design) với hàm ý rằng mọi sự đã được dự kiến. Luận cứ này làm say mê nhiều nhà tư tưởng thuộc mọi thời đại vì dường như sự kỳ diệu của thiên nhiên đòi hỏi phải có hành động tạo hóa của một trí huệ tối thượng (a supreme intelligence). Ngày nay, luận cứ này vẫn còn hấp dẫn hơn bất cứ luận cứ nào khác vì những kỳ diệu được khoa học ngày càng vén lộ thêm.

Triết gia Kitô giáo người Anh *William Paley (1743-1805) đưa ra một minh họa có tính kinh điển cho luận cứ này. Nếu chúng ta bị mắc kẹt trên một hoang đảo, ở đó không có tạo vật sống động nào khác, nhưng lại tìm thấy một chiếc đồng hồ. Sự kiện ấy khiến chúng ta tin rằng có một hữu thể trí huệ (intelligent being) nào đó từng có mặt trên hòn đảo này trước chúng ta, vì chúng ta không thể quan niệm một chiếc máy được thiết kế phức tạp như chiếc đồng hồ mà lại không thừa nhận có một kẻ thông minh đã làm ra nó.

Ba điểm gợi ý

Ý tưởng về thiết kế gợi cho thấy:

1. Việc đề ra một mục đích và chọn lựa phương thế thích đáng để thành tựu nó. Ðó là cái chúng ta thường ngụ ý khi nói tới cứu cánh. Khi chúng ta có ý nói tới một sự thiết kế rất bao la như vũ trụ và sự chọn lựa phương thế để thành tựu, dường như chúng ta đang bị đưa dẫn tới niềm tin vào sự hiện hữu của một Nhà thiết kế vô biên (an infinite Designer);

2. Thiết kế hàm ý rằng người thiết kế đứng bên ngoài cái được thiết kế. Ta dễ dàng phân biệt nhà kỹ sư với chiếc máy do y làm ra vì chúng ta không bao giờ trông mong sẽ tìm thấy y ở bên trong các bộ phận được y chế tạo;

3. Thiết kế luôn luôn có trước sản phẩm. Ðiều này được gợi ý trong ý tưởng về việc chọn lựa phương thế để thành tựu nó.

Ðặc tính của Nhà thiết kế

Ba điểm vừa kể gợi cho thấy có một Nhà thiết kế vũ trụ, kẻ có những đặc tính:

a. Tách biệt với vũ trụ;

b. Có năng lực để định ra các cùng đích;

c. Ðủ khôn ngoan để chọn lựa các phương thế thích đáng nhằm thành tựu chúng;

d. Phải có tính vô cùng để thích đáng với sự thiết kế được tìm thấy trong vũ trụ.

Khả năng bác bỏ thuyết vô thần

Luận cứ mang tính cứu cánh luận này được sự hậu thuẫn của những mẫu thiết kế có thể tìm thấy trong vũ trụ. Thể xác con người là một hệ thống phức tạp, cho đến nay dù đã có những phát hiện về gen, DNA, có khả năng nhân bản nó (cloning), v.v. nhưng vẫn chưa nắm bắt hết mọi kỳ diệu của nó.

Một giáo sư môn giải phẩu học từng có lần phát biểu rằng cơ thể con người là sự bác bỏ tối hậu chủ nghĩa vô thần. Trong con người, có những cách thức thích nghi hoàn hảo nhằm đạt tới cùng đích, với sự hợp tác của các cơ quan đa dạng để duy trì sự quân bình của thể xác. Trong khi nhiều hoạt động của thể xác là đối tượng nằm ở bên trong tầm kiểm soát của chúng ta thì hoạt động thiết yếu nhằm duy trì sự sống trong các điều kiện bình thường lại nằm ở bên ngoài tầm kiểm soát. Chúng ta tiếp tục thở trong khi chúng ta không ý thức việc mình đang thở, và trái tim tiếp tục đập mà không cần nhận lệnh của chủ nhân nó.

Thế giới thiên nhiên dư dật những mẫu thiết kế. Sự đổi màu của chim muông để sinh tồn, tránh né kẻ địch, thường hơn hẳn bất cứ hình thức ngụy trang nào của con người. Mõ, vuốt và đuôi của chim gõ kiến được thiết hế toàn hảo để leo lên thân cây trong khi đào bới vỏ cây để tìm thức ăn.

Còn cả chuẩn bị trước

Thậm chí có những mẫu có tính chất tiền viễn kiến (sớm thấy trước, prevision). Khi đứa bé còn ở trong cung lòng mẹ, các cơ quan của nó đều đã được chuẩn bị để sẽ sống trong một môi trường khác, và bầu ngực của người mẹ được chuẩn bị sẵn để sẵn sàng cho con bú. Mọi sự cung cấp cho chú gà con đều ở bên trong quả trứng, và đến thời điểm chú mổ vỏ để chui ra ngoài, trong cơ thể chú xảy ra sự thay đổi cấu trúc để thích hợp với lối sống mới.

Ta có thể đi quá những thí dụ đặc thù ấy để tới bức màn rộng lớn đang bao bọc vũ trụ vật lý. “Các tầng trời tuyên bố vinh quang của Thượng đế và bầu trời phô bày công trình do chính bởi tay Ngài”. Nếu có ai đó cho chúng ta thấy một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo rồi lập luận rằng nó không phải là tác phẩm của một nhà họa sĩ, mà chỉ khởi sự hình thành một cách tự phát hoặc do bởi ngẫu nhiên, chúng ta sẽ xem kẻ đó có tính thích đùa hoặc ngớ ngẩn.

Cũng một cách y hệt như thế, khi có người thấy những kỳ diệu của vũ trụ và qui chúng cho sự ngẫu nhiên, chúng ta có thể giả định rằng kẻ đó mù hoặc có thành kiến. Sự thiết kế vũ trụ hiển hiện khắp mọi nơi, tự nó lập luận cho sự hiện hữu của một Nhà thiết kế trí tuệ và vô cùng. Thomas Auuinas lấy sự dự kiến hay thiết kế này làm “con đường thứ năm” cho luận cứ của ông chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế.

6. Phê phán luận cứ cứu cánh luận

Thiết kế không hoàn hảo

Dù có giá trị, luận cứ mang tính cứu cánh luận vẫn không tránh khỏi bị chống đối vì nó không chứng minh được cái người đề xướng ra nó muốn nó chứng minh. Chẳng có lý do gì để giả dụ rằng sự thiết kế trong vũ trụ cần tới một Ðấng vô cùng.

Nếu giả định rằng vũ trụ được thiết kế bởi Thượng đế, Ðấng toàn năng và yêu thương, hẳn chúng ta kỳ vọng sẽ tìm thấy một vũ trụ được thiết kế toàn hảo. Thực tế, thiết kế ấy thường không toàn hảo. Nhiều kẻ dùng đôi mắt của con người để làm tiêu chuẩn minh họa cho sự khôn ngoan của Ðấng tạo hóa, nhưng chúng ta biết rằng con mắt không quá toàn hảo như nó đáng ra có thể.

Thể xác của con người được đánh giá là một mẫu thiết kế tuyệt vời, nhưng nó bị nhận xét tổng quát là nếu cơ thể con người được dự kiến cho một tạo vật đi thẳng lưng thì các bộ phận của nó đã không được bố trí đúng chỗ. Nhiều cơ quan của thể xác con người không quá toàn hảo như chúng ta trông mong. Một số lại rất khó giải thích tại sao có, thí dụ ruột thừa, và có một số khác bị đặt ở những chỗ thiếu lợi thế. Một đấng Thượng đế thiết kế với quyền năng thực hiện những gì ngài muốn, như chúng ta giả định, hẳn đã thực hiện toàn hảo công việc của ngài.

Nếu xem xét thiết kế của loài chim, như chim gõ kiến, chúng ta có thể thừa nhận rằng thật tuyệt vời cho giống chim ấy nhưng cũng cho thấy loại côn trùng bị nó gây đại họa lại ít được cứu xét đến. Ta có thể giả dụ muỗi là côn trùng được thiết kế tuyệt vời, nhưng đối với người đang bị bệnh sốt rét hành hạ, ta không dễ dàng thuyết phục y rằng đó sáng tạo phẩm của Nhà thiết kế nhân từ.

Nên chọn lời giải thích tự nhiên

Thứ đến, luận cứ mang tính cứu cánh luận có thể gây tranh cãi rằng không có nhu cầu thừa nhận sự hiện hữu của một nhà thiết kế ngoại tại để giải thích cái được thiết kế trong vũ trụ. Nếu thuyết tiến hóa có lý và nếu nó được khoa học chấp nhận một cách tổng quát thì đó là một luận cứ mạnh mẽ, gây được lợi thế cho chính nó, và như thế nó có thể đưa ra lời giải thích tự nhiên về các mẫu thiết kế.

Quả thật, không thể có khoa học lẫn triết học nếu không chọn lời giải thích tự nhiên thay cho lời giải thích siêu nhiên tại nơi nào hai bộ môn ấy có thể có. Vì nếu có lời giải thích tự nhiên và hữu lý về các sự kiện, ta nên chấp nhận nó.

Sẽ còn thấy nhiều bất toàn

Giả định nguyên nhân tự nhiên có ưu thế hơn giả định siêu nhiên, vì chúng ta có thể sẽ không ngạc nhiên khi thấy các bằng chứng về sự trục trặc hoặc không thỏa đáng trong việc thiết kế, và chúng ta không đòi hỏi phải giải thích thêm nữa về những hiện tượng đó. Trong cuộc tiến hóa chậm rãi của vũ trụ, chúng ta nên kỳ vọng mình còn thấy nhiều cái bất toàn.

Luận cứ mang tính cứu cánh luận phần lớn rút tỉa trọng lượng của nó từ những minh họa, thí dụ người chế tạo đồng hồ và cái đồng hồ, nhưng đó là một câu hỏi thiên vị, chưa hỏi đã biết sẵn câu không thể trả lời, vì đồng hồ là vật thuộc loại không thể tự tạo ra nó, và cũng giống như thế đối với tác phẩm nghệ thuật.

Xét theo thuyết tiến hóa, có đủ mọi lý do để giả dụ rằng luận cứ mang tính cứu cánh luận được dự kiến để thiết lập sự hiện hữu của một nhà thiết kế ở bên ngoài vũ trụ.

Còn tiếp PHẦN 2.

http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=10515

Nguyễn Ước
Do Thái giáo Lịch sử tư tưởng phương Đông

The Ten Commandments (1956) HD

Let My People Go –

The Ten Commandments (1/10)  

The Ten Commandments (1956 film)

From Wikipedia, the free encyclopedia
The Ten Commandments
10Command56.jpg

Original theatrical release poster
Directed by Cecil B. DeMille
Produced by Cecil B. DeMille
Henry Wilcoxon
(associate producer)
Screenplay by Æneas MacKenzie
Jesse L. Lasky, Jr.
Jack Gariss
Fredric M. Frank
Based on Prince of Egypt
by Dorothy Clarke Wilson
Pillar of Fire
by J.H. Ingraham
On Eagle’s Wings
by A.E. Southon
The Holy Scriptures
Starring Charlton Heston
Yul Brynner
Anne Baxter
Edward G. Robinson
Yvonne De Carlo
Debra Paget
John Derek
Narrated by Cecil B. DeMille
Music by Elmer Bernstein
Cinematography Loyal Griggs, A.S.C.
Edited by Anne Bauchens
Production
company
Motion Picture Associates
Distributed by Paramount Pictures
Release dates
  • October 5, 1956(Salt Lake City preview)
  • November 8, 1956(New York City premiere)
  • November 14, 1956(Los Angeles premiere)
Running time
220 minutes
(with intermission)
Country United States
Language English
Budget $13 million
Box office $122.7 million
(initial release)