Browsing Category

Lịch sử tư tưởng phương Đông

Do Thái giáo

Những chuyện giật mình ở “dân tộc thông minh”

“Có một lời nguyền của Chúa Jesus đối với Judas, tông đồ người Do Thái đã phản ông ấy, rằng nếu dân tộc Do Thái tụ tập lại ở một nơi, thì thế giới sẽ diệt vong. Người Israel có thể không tin ở lời nguyền đó, nhưng rất ý thức xử sự với thế giới theo cách đó”

 

LTS:Người ta thường nói “ngoại giao chính trị thúc đẩy ngoại giao kinh tế”. Nhưng trong một số ít trường hợp, từ mối quan hệ kinh tế là nảy sinh nhu cầu về chính trị. Mối quan hệ của Việt Nam với Israel, được thiết lập cách đây đúng 20 năm, cũng bắt nguồn từ chuyến đi trước đó 2 năm của một chuyên gia kinh tế, Tổng Thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI, Phạm Chi Lan.

Nhân kỷ niệm 20 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Israel và sứ quán Israel được mở ở Việt Nam, BBT xin giới thiệu cuộc phỏng vấn với bà Phạm Chi Lan.

Nước nhỏ mà dám đánh nhau với mấy nước lớn

Isael, Phạm Chi Lan, kinh tế, khoa học kỹ thuật

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan (Ảnh Hoàng Ngọc)

Chuyến đi tại sao lại được tổ chức, thưa bà?

Tháng 8.1991, chúng tôi trình được đề án tổ chức chuyến đi khảo sát Israel. Đề án của chúng tôi được ông Vũ Khoan, Thứ trưởng Ngoại giao, ủng hộ. Văn phòng Chính phủ, với toàn những người đầu óc mở và cải cách, cũng rất ủng hộ, để thông qua Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) bắt tay với các công ty Israel.

Sở dĩ có đề xuất như vậy, bởi vì trước đó, VCCI có tiếp xúc với một số công ty Israel trong khu vực, từ Singapore và Hồng Kông. Họ đã vào Việt Nam từ năm 1988 để xem xét xem Việt Nam đổi mới thế nào, có cơ hội gì làm ăn hay không.

Hồi đó, họ vào Việt Nam với sự cho phép của chính phủ (đối với thị trường nhạy cảm), nhưng rất may trong không khí vừa đổi mới, lại vừa chịu sự cấm vận của Mỹ, chính phủ lại rất thoáng, cho phép mở những kênh mới là Hàn Quốc, Đài Loan và Israel – 3 kênh Việt Nam không có quan hệ ngoại giao chính thức – qua kênh VCCI là tổ chức phi chính phủ.

Sau những lần làm việc với các doanh nghiệp Israel từ khu vực, chúng tôi tiến bước nữa là mời Phòng Thương mại Israel từ Tel Aviv sang Việt Nam, vào năm 1989. Vào Việt Nam, thấy cũng có triển vọng, họ mới mời lại VCCI sang đó.

Tôi được làm trưởng đoàn. Đoàn có thêm một người của Bộ Ngoại giao, ông Nguyễn Quang Khai (sau này là đại sứ Việt Nam tại Israel), để tham dò khả năng mở quan hệ, cũng như phản ứng của các nước Ả rập ở Trung Đông, và một người của Bộ Thương mại, ông Ngô Luân, phụ trách về thi trường Trung Đông và Bắc Phi, về khả năng mở quan hệ thương mại.

Sang bên đó, cơ quan nào đã đón mình?

Bộ Ngoại giao là chủ yếu. Người tiếp chúng tôi là Tổng Vụ trưởng Bộ Ngoại giao J. Hadass, người sau đó một năm rưỡi đã sang thăm Việt Nam.

Chúng tôi cũng thăm nơi làm việc của David Matnai, người 2 năm sau trở thành đại sứ đầu tiên của Israel tại Việt Nam. Ông này phụ trách về Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, và ông này rất thích Việt Nam. Vào phòng ông này thấy có tượng Hồ Chí Minh. Và trong các bức tranh thì có bức chụp Đại tướng Võ Nguyên Giáp (kiểu như áp phích của mình), và một số cờ Việt Nam nho nhỏ.

Chúng tôi hỏi tại sao ông có những thứ đấy, ông ấy nói rằng đoàn Phòng Thương mại Israel sang Việt Nam về đã cho ông, vì biết ông thích Việt Nam. Khi Phòng Thương mại Israel sang Việt Nam, ông đã lo thủ tục cho họ. Ông dặn phải mang về những kỷ niệm về hai nhân vật mà ông rất yêu quí là Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp.

Họ tìm thấy sự tương tự…

Đúng thế. Chúng tôi có tiếp xúc với một số công ty, họ thấy Việt Nam là gần gũi với họ nhất. Bởi vì Việt Nam là nước nhỏ mà dám đánh nhau với mấy nước lớn và chiến thắng, trong khi đó Israel là một nước nhỏ, bị bao vây bởi thế giới Ả rập hơn 300 triệu dân, và họ cũng chiến thắng.

Tức là Israel không bị ám ảnh bởi mặc cảm rằng Mỹ là đồng minh của Israel, và Việt Nam đã thắng Mỹ?

Đúng thế. Thậm chí, họ còn không biểu hiện cái mặc cảm là Việt Nam thân với Liên Xô, vốn là nước ủng hộ Ả rập trong cuộc chiến với Israel. Họ cũng không hề đả động tới những tuyên bố trước nay của Việt Nam về họ trong cuộc chiến với thế giới Ả rập. Họ cứ nhắc đi nhắc là điểm tương đồng giữa hai nước trong thế giới hiện đại là cùng là nước nhỏ mà không sợ nước lớn.

Chính ông Tổng Vụ trưởng đã nhắc đi nhắc lại cái ý rằng Israel muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, bởi 2 nước như thế này phải gắn bó với nhau, để cùng phát triển.

Và kết quả của chuyến đi là mở ra mối quan hệ về ngoại giao năm 1993?

Trên đường về, tôi nói với ông Khai là nhiệm vụ của chúng tôi là phải báo cáo cấp trên để triển khai mối quan hệ chính thức, bởi có quan hệ chính thức thì mới làm ăn thuận lợi được. Tôi thấy có rất nhiều thứ Israel có thể trao đổi, làm ăn với Việt Nam.

Isael, Phạm Chi Lan, kinh tế, khoa học kỹ thuậtXe tăng chiến đấu chủ lực nâng cấp T-55M3 -gói nâng cấp mạnh nhất của T-55 tại
Việt Nam được thực hiện với sự hợp tác giúp đỡ của Israel. Ảnh Internet

Điều làm tôi giật mình

Trong khi đó, thái độ của Việt Nam với Israel thế nào?

Trước khi chúng tôi đi, thông tin ở Việt Nam về Israel nói chung ít, và có thì nói chung là xấu. Lý do tại sao thì anh biết rồi đấy.

Dù rằng tôi không đi Israel với trang bị ban đầu bằng thông tin trên báo chí, bởi làm ở VCCI ở những năm Việt Nam còn rất khép về thông tin, chúng tôi có thuận lợi lớn là có những kênh để tìm kiếm những thông tin khác với thông tin được cung cấp một chiều, qua Israel tôi vẫn thấy ngỡ ngàng, nếu không nói là giật mình.

Một trong những điều đầu tiên làm tôi giật mình là thông tin về lịch sử của Israel, khi trong nước chỉ có khoảng 5 triệu người, trong khi khoảng 7 triệu người sống ở các nước khác trên thế giới. Tôi được biết rằng có một lời nguyền của Chúa Jesus đối với Judas, tông đồ người Do Thái đã phản ông ấy, rằng nếu dân tộc Do Thái tụ tập lại ở một nơi, thì
thế giới sẽ diệt vong.

Người Israel có thể không tin ở lời nguyền đó, nhưng rất ý thức xử sự với thế giới theo cách đó, tức là không tụ tập dân tộc ở một nơi. Bằng cách đó, người Israel đã giúp cho dân tộc mình biến khó khăn, thách thức, thành thuận lợi, tức là khả năng toàn cầu hóa rất cao.

Điều giật mình thứ hai là chúng tôi tiếp xúc với một Tướng Israel đã nghỉ hưu, Tổng Tư lệnh của quân đội Israel đã chiến thắng người Ả rập ở Cao nguyên Golan năm 1967. Ông này nghe tin có đoàn Việt Nam sang đã khẩn khoản xin được gặp chúng tôi.

Trong cuộc gặp đấy, ở một quán cà phê, ông nói rằng động lực tinh thần cho thắng lợi của Israel chính là hình ảnh của Việt Nam ở Điện Biên Phủ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Khi chỉ huy quân sĩ chiến đấu trong vòng vây của kẻ địch, ông chỉ nghĩ rằng người Việt Nam đã đạt được thắng lợi như vậy trong cuộc chiến với người Pháp, và Israel cũng phải cố gắng đạt được điều tương tự.

Chúng tôi rất ấn tượng khi nghe câu chuyện đó, và rất thiết tha mời ông có dịp sang Việt Nam. Ông ấy nói rằng đó cũng là mong muốn của ông, và ông muốn gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Rất tiếc sau đó ít lâu, các bạn Israel báo cho tôi rằng ông đã bị mất vì đau tim.

Trong chuyến đi đó, bà đi những nơi nào, tiếp xúc những ai, và mở ra những cơ hội gì?

Trong khoảng 5 ngày ở đó, chúng tôi tiếp xúc với Bộ Ngoại giao, Phòng Thương mại, và mấy tập đoàn công ty lớn.

Họ giới thiệu với chúng tôi những thế mạnh của họ gồm công nghệ cao, công nghệ thông tin, y tế, và nông nghiệp, ở trình độ phát triển rất cao.

Người Israel giải thích với tôi rằng dân tộc Israel mãi về sau này mới được ở cùng với nhau (1948), đặc biệt sau sự thảm sát của Phát xít Đức, nên muốn tồn tại được phải rất mạnh khoẻ, đặc biệt ở vùng đất sa mạc, chính vì vậy người Israel có một trình độ y tế cao.

Thế còn công nghệ cao thì ý chí họ rất đơn giản là ở vùng đất hoang tàn như Israel cần phải tìm một thế mạnh riêng cho mình trên cơ sở một thế mạnh là trí tuệ.

Nông nghiệp Israel phát triển được là nhờ công nghệ cao. Những người Israel đã đi Việt Nam kể rằng Việt Nam được thừa hưởng mảnh đất có ưu thế thuận lợi để phát triển nông nghiệp, nhưng không hiểu tại sao chất lượng quá thấp, và Israel muốn giới thiệu mô hình và các kỹ thuật cao của Israel để Việt Nam học tập.

Tôi đã đến thăm chỗ họ trồng cà chua, năng suất rất cao (50 tấn trên một héc ta, so với Việt Nam là vài tấn một héc ta). Tôi nhìn cây cà chua của họ trĩu trịt quả, loại cà chua không hột, thịt rất đặc, vỏ mỏng, nhưng rất vững chắc. “Như vậy chúng tôi mới bán sang châu Âu được với giá 2 USD một ki lô”, họ nói.

Loại cà chua này đã được nhập vào trồng ở Việt Nam, nên ở Hà Nội nhiều người cứ tưởng là cà chua Trung Quốc, vì mùa hè cũng có.

Hay họ dẫn đi thăm vườn cam, trồng bạt ngàn, trong khi đất trồng cam rất cằn cỗi. Và, lần đầu tiên, tôi đã được tham quan hệ thống tưới nhỏ giọt của họ. Sau này, cách đây ba năm, Đặng Lê Nguyên Vũ mới đưa về, và thử nghiệm cho người nông dân trồng cà phê. Vừa tiết kiệm nước, tiết kiệm phân, tiết kiệm sức lao động, vừa điều tiết được những chất cần thiết cho cây trong từng thời kỳ một.

 

Huỳnh Phan(Thực hiện)

Do Thái giáo

Nguyên Nhân Thành Công Của Những Người gốc Do Thái ???

 

Nguyên Nhân Thành Công Của Những Người gốc Do Thái ???

  

Cả một dân tộc giỏi làm kinh tế

Chúng ta đều biết người Do Thái (thời cổ gọi là Hebrew) là dân tộc thành công nhất trên nhiều lĩnh vực trí tuệ, nhưng có lẽ ít ai biết họ thực ra còn cực kỳ xuất sắc trên mặt kinh tế, tài chính, thương mại.

Họ đạt được những thành tựu đó trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn: toàn bộ dân tộc Do Thái buộc phải sống lưu vong phân tán, “ăn nhờ ở đợ” suốt 2000 năm qua trên khắp thế giới, đi tới đâu (trừ ở Mỹ) cũng bị xa lánh hoặc hắt hủi, xua đuổi, tước đoạt, thậm chí hãm hại, tàn sát vô cùng dã man, bị cấm được sở hữu bất cứ tài sản cố định nào như nhà đất, tài nguyên thiên nhiên ….

Chỉ cần lướt các mạng tìm kiếm là ta có thể sưu tầm được ngay một số thành tựu cực kỳ gây ấn tượng của người Do Thái trên lĩnh vực kinh tế, dù là về mặt lý thuyết hay thực tiễn. Hãy xem một số số liệu sau đây:

Rất nhiều nhà lý thuyết kinh tế hàng đầu thế giới là người Do Thái, các lý thuyết họ xây dựng nên đã ảnh hưởng vô cùng to lớn nếu không nói là quyết định tới quá trình trình tiến hóa của nhân loại:

– Karl Marx (Các Mác) người khám phá ra “giá trị thặng dư” và xây dựng học thuyết kinh tế chủ nghĩa cộng sản sẽ thay thế cho chủ nghĩa tư bản, được gọi là một trong hai người Do Thái làm đảo lộn cả thế giới (người kia là Jesus Christ);

– Alan Greenspan 17 năm liền được 4 đời Tổng thống Mỹ tín nhiệm cử làm Chủ tịch Cơ quan Dự trữ Liên bang (FED, tức Cục Dự trữ liên bang Mỹ) nắm quyền sinh sát lớn nhất trong giới tài chính Mỹ, thống trị lĩnh vực tài chính tiền tệ toàn cầu;

– 41% chủ nhân giải Nobel kinh tế thời gian 1901-2007 là người Do Thái (cộng 13 người), chẳng hạn Paul Samuelson (1970), Milton Friedman (1976) và Paul Krugman (2008) … là những tên tuổi quen thuộc trong giới kinh tế thế giới hiện nay, các lý thuyết của họ được cả thế giới thừa nhận và học tập, áp dụng…

Nhiều nhà giàu nổi tiếng thế giới từng tác động không nhỏ tới chính trị, kinh tế nước Mỹ và thế giới là người Do Thái. Đơn cử vài người :

– Jacob Schiff, chủ nhà băng ở Đức, sau sang Mỹ định cư; đầu thế kỷ XX do căm ghét chính quyền Sa Hoàng giết hại hàng trăm nghìn dân Do Thái ở Nga, ông đã cho chính phủ Nhật Bản vay 200 triệu USD (một số tiền cực kỳ lớn hồi ấy) để xây dựng hải quân, nhờ đó Nhật thắng Nga trong trận hải chiến Nhật-Nga năm 1905. Nhớ ơn này, trong đại chiến II Nhật đã không giết hại người Do Thái sống ở Trung Quốc tuy đồng minh số Một của Nhật là phát xít Đức Hitler có nhờ Nhật “làm hộ” chuyện ấy.

– Sheldon Adelson, người giàu thứ 3 nước Mỹ năm 2007, với tài sản cá nhân lên tới 26,5 tỷ USD.

– George Soros giàu thứ 28 ở Mỹ (7 tỷ USD) nổi tiếng thế giới hiện nay về ý tưởng đầu tư và làm từ thiện quy mô lớn.

– Michael Bloomberg có tài sản riêng 5,1 tỷ USD, làm thị trưởng thành phố New York đã 8 năm nay với mức lương tượng trưng mỗi năm 1 USD và là chủ kênh truyền hình Bloomberg nổi tiếng trong giới kinh tế, đang được mong đợi sẽ là ứng cử viên Tổng thống Mỹ khóa tới…

Cộng đồng Do Thái ở Mỹ chiếm một nửa tổng số người Do Thái trên toàn thế giới là quần thể thiểu số thành công nhất ở Mỹ dù chỉ chiếm 2,5% số dân. Khoảng một nửa số doanh nhân giàu nhất Mỹ, 21 trong số 40 nhà giàu đứng đầu bảng xếp hạng của tạp chí Forbes là người Do Thái, và cộng đồng Do Thái có mức sống bình quân cao hơn mức trung bình của nước này.

Họ nắm giữ phần lớn nền kinh tế tài chính Mỹ, tới mức người Mỹ có câu nói “Tiền nước Mỹ nằm trong túi người Do Thái”. Nhờ thế trên vấn đề Trung Đông chính phủ Mỹ xưa nay luôn bênh vực và viện trợ Israel.

Nước Israel nhỏ bé với hơn 5 triệu người Do Thái tuy ở trên vùng sa mạc khô cằn nhưng nông nghiệp và các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật đều rất phát triển, dân rất giàu, GDP đầu người năm 2003 bằng 19.000 USD. Nhờ sức mạnh mọi mặt ấy, quốc gia nhỏ xíu này đã đứng vững được trong làn sóng hằn thù và công kích của cả trăm triệu người A Rập xung quanh …

Nguyên nhân do đâu?

Vì sao người Do Thái giỏi làm kinh tế trên cả hai mặt lý thuyết và thực hành như vậy? Lịch sử đã chứng minh, yếu tố quyết định thành công của một dân tộc bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của dân tộc ấy.

Để tìm hiểu truyền thống văn hóa của dân tộc này có lẽ ta cần tìm hiểu các nguyên tắc chính của đạo Do Thái (Judaism), tôn giáo lâu đời nhất thế giới còn tồn tại tới ngày nay và là chất keo bền chắc gắn bó cộng đồng, khiến dân tộc này giữ gìn được nguyên vẹn nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa mặc dù phải sống phân tán, lưu vong và bị kỳ thị, xua đuổi, hãm hại, tàn sát dã man suốt 2000 năm qua.

Có thể nói, nếu không có chất keo ấy thì từ lâu dân tộc Do Thái đã bị tiêu diệt hoặc đồng hóa và biến mất khỏi lịch sử. Đạo Do Thái là tôn giáo duy nhất thành công trên cả hai mặt: giữ được sự tồn tại của dân tộc và hơn nữa đưa họ vươn lên hàng đầu thế giới trên hầu hết các lĩnh vực trí tuệ.

Muốn vậy, ta thử điểm qua vài nét về Kinh thánh của người Do Thái (Hebrew Bible) – kinh điển này hơn 10 thế kỷ sau được đạo Ki-tô lấy nguyên văn làm phần đầu Kinh Thánh của họ và gọi là Cựu Ước, nhằm phân biệt với Tân Ước do các nhà sáng lập Ki-tô giáo viết. Ta cũng cần xem xét một kinh điển nữa của đạo Do Thái gọi là Kinh Talmud, quan trọng hơn cả Cựu Ước, có đưa ra nhiều nguyên tắc cụ thể cho tới thời nay vẫn còn giá trị về kinh doanh, buôn bán.

Trước hết người Do Thái có truyền thống coi kiến thức trí tuệ là thứ quý nhất của con người.

Kinh Talmud viết: Tài sản có thể bị mất, chỉ có tri thức và trí tuệ thì mãi mãi không mất đi đâu được. Các ông bố bà mẹ Do Thái dạy con: Của cải, tiền bạc của chúng ta đều có thể bị kẻ khác tước đoạt nhưng kiến thức, trí tuệ trong đầu óc ta thì không ai có thể cướp nổi.

Với phương châm đó, họ đặc biệt coi trọng việc giáo dục, dù khó khăn đến đâu cũng tìm cách cho con học hành; ngoài ra họ chú trọng truyền đạt cho nhau các kinh nghiệm làm ăn, không bao giờ giấu nghề. Người Do Thái có trình độ giáo dục tốt nhất trong các cộng đồng thiểu số ở Mỹ, thể hiện ở chỗ họ chiếm tỷ lệ cao nhất trong sinh viên các trường đại học hàng đầu cũng như trong giới khoa học kỹ thuật và văn hóa nghệ thuật.

Thứ hai, đạo Do Thái đặc biệt coi trọng tài sản và tiền bạc. Đây là một điểm độc đáo khác hẳn đạo Ki-tô, đạo Phật, đạo Nho, ta cần phân tích thêm.

Có lẽ sở hữu tài sản là một trong các vấn đề quan trọng nhất của đời sống loài người, là nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa con người với nhau (đấu tranh giai cấp) và chiến tranh giữa các quốc gia. Heghel, đại diện nổi tiếng nhất của triết học cổ điển Đức từng nói: “Nhân quyền nói cho tới cùng là quyền (sở hữu) về tài sản.” Chính Marx cũng nói: Chủ nghĩa cộng sản “là sự phục hồi chế độ sở hữu của cá nhân trên một hình thức cao hơn”.

Rõ ràng, chỉ khi nào mọi người đều có tài sản, đều giàu có thì khi ấy mới có sự bình đẳng đích thực, người người mới có nhân quyền. Một xã hội có phân hóa giàu nghèo thì chưa thể có bình đẳng thực sự. Đạo Do Thái rất chú trọng nguyên tắc làm cho mọi người cùng có tài sản, tiền bạc, cùng giàu có.

Triết gia Max Weber viết: “Đạo Ki-tô không làm tốt bằng đạo Do Thái, vì họ kết tội sự giàu có.” Quả vậy, Chúa Jesus từng nói: “Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Chúa” (Tân Ước, Mathew 19:24), ý nói ai giàu thì khó lên thiên đường, ai nghèo thì dễ lên thiên đường hơn – qua đó có thể suy ra đạo Ki-tô thân cận với người nghèo khổ. Nho giáo và đạo Phật lại càng khinh thường tài sản, tiền bạc, coi nghèo là trong sạch, giàu là bẩn thỉu.

Ngược lại Cựu Ước ngay từ đầu đã viết: “Vàng ở xứ này rất quý” (Genesis 2:12). Ý tưởng quý vàng bạc, coi trọng tài sản vật chất đã ảnh hưởng lớn tới người Do Thái, họ đều muốn giàu có.

Khái niệm tài sản xuất hiện ngay từ cách đây hơn 3000 năm khi vua Ai Cập bồi thường cho vị tổ phụ của bộ lạc Do Thái là Abraham, khiến ông này “có rất nhiều súc vật, vàng bạc” (Genesis 13:2). Thượng Đế Jehovah yêu cầu Abraham phải giàu để có cái mà thờ cúng Ngài. Thượng Đế cho rằng sự giàu có sẽ giúp chấm dứt nạn chém giết nhau. Khi Moses dẫn dân Do Thái đi khỏi Ai Cập cũng mang theo rất nhiều súc vật.

Những người xuất thân gia đình giàu có hồi ấy như Jacob, Saul, David … đều được Cựu Ước ca ngợi là có nhiều phẩm chất tốt, lắm tài năng, lập được công trạng lớn cho cộng đồng dân tộc và đều trở thành lãnh đạo, vua chúa. Ngược lại, văn hóa phương Đông thường ca ngợi phẩm chất của những người nghèo.

Trọng tiền bạc là đặc điểm nổi bật ở người Do Thái.

Họ coi đó là phương tiện tốt nhất để bảo vệ mình và bảo vệ dân tộc họ. Quả vậy, không có tiền thì họ làm sao tồn tại nổi ở những quốc gia và địa phương họ sống nhờ ở đợ, nơi chính quyền và dân bản địa luôn chèn ép, gây khó khăn.

Hoàn cảnh ấy khiến họ sáng tạo ra nhiều biện pháp làm giàu rất khôn ngoan. Thí dụ cửa hiệu cầm đồ và cho vay lãi là sáng tạo độc đáo của người Do Thái cổ đại – về sau gọi là hệ thống ngân hàng. Buôn bán cũng là một biện pháp tồn tại khi trong tay không có tài sản cố định nào.

Người ta nói dân Do Thái có hai bản năng: thứ nhất là bản năng kiếm tiền; thứ hai là bản năng làm cho tiền đẻ ra tiền – họ là cha đẻ của thuyết lưu thông tiền tệ ngày nay chúng ta đều áp dụng với quy mô lớn (còn ai kiếm tiền dễ hơn ngành ngân hàng?).

Tuy vậy, sự quá gắn bó với tiền bạc là một lý do khiến người Do Thái bị chê bai. Bạn nào đã đọc tiểu thuyết Ai-van-hô (Ivanhoe) của Walter Scott chắc còn nhớ mãi hình ảnh ông lão Do Thái Isaac (I-sắc) đáng thương, bố của nàng Rebeca xinh đẹp và thánh thiện, lúc nào cũng khư khư giữ túi tiền và bị hiệp sĩ Đầu Bò nhạo báng khinh bỉ thậm tệ. Kịch của Shakespeare đưa ra nhiều hình ảnh khiến người ta có cảm giác người Do Thái bần tiện, ích kỷ, xảo trá. Tập quán cho vay lãi của người Do Thái bị nhiều nơi lên án.

Hệ thống cửa hiệu của người Do Thái ở Đức là đối tượng bị Quốc Xã Hitler đập phá đầu tiên hồi thập niên 30. Người Đức có câu ngạn ngữ “Chẳng con dê nào không có râu, chẳng người Do Thái nào không có tiền để dành.” Karl Marx từng viết: Tiền bạc là vị thần gắn bó với người Do Thái; xóa bỏ chủ nghĩa tư bản sẽ kéo theo sự xóa bỏ chủ nghĩa Do Thái.

Người Do Thái có đóng góp rất lớn về lý thuyết và thực hành trong việc xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Đạo Do Thái coi làm giàu là bổn phận nặng nề của con người; nói “nặng nề” vì người giàu có trách nhiệm to lớn đối với xã hội: họ không được bóc lột người nghèo mà phải chia một phần tài sản của mình để làm từ thiện. Những người Do Thái giàu có luôn sống rất giản dị, tiết kiệm và năng làm từ thiện. Soros từng cúng 4 tỷ USD (trong tổng tài sản 7 tỷ) cho công tác từ thiện. Không một nhà giàu Do Thái nào không có quỹ từ thiện của mình. Từ đây có thể hiểu được tại sao cộng đồng Do Thái lại cùng giàu có như thế.

Tại sao người Do Thái thông minh?

Cuốn START-UP NATION, của Alphabook đăng một số bài viết liên quan tới những câu chuyện về nền kinh tế thần kỳ của Israel. Đính kèm là một bài viết “quảng cáo”.

” Người Do Thái là dân tộc thông minh nhất thế giới, họ dường như được sinh ra là để làm chủ thế giới này”. Có bao giờ bạn tự hỏi tại sao họ lại thông minh như vậy? Tại sao họ lại được sinh ra với quá nhiều ưu việt như thế? Có phải tất cả đều là tự nhiên? Liệu Việt Nam chúng ta có thể tạo ra những thế hệ ưu việt như thế không?
Tất cả câu hỏi trên đều có thể giải đáp được, ngoại trừ câu hỏi cuối cùng vì nó sẽ được trả lời bởi chính các bạn, những con người của dân tộc Việt Nam. Bài viết dưới đây được lược dịch từ luận án của một tiến sĩ nước ngoài với tiêu đề gốc là “Why Jews Are Intelligent” (tạm dịch là “Vì sao người Do Thái thông minh”).
Trước hết xin được cung cấp một số thông tin tìm hiểu được về IQ (Intelligence Quotient) của người Do Thái. Hiện nay các nhà nghiên cứu về giáo dục và tâm lý tin rằng IQ trung bình của người Do Thái vào khoảng từ 110. Để so sánh thì IQ trung bình của thế giới là 100 và IQ trung bình của người Việt Nam là 94. Cách biệt sẽ không rõ ràng nếu chỉ nhìn vào những con số này. Mọi thứ sẽ trở nên thực sự khác biệt nếu như ta so sánh đến tỉ lệ (“thiên tài” IQ>=140 – cũng là mức yêu cầu trong số dân).

Với IQ TB của dân số là 94 thì tỉ lệ “thiên tài” sẽ là 1/924 hay 0,1%, tỉ lệ này sẽ là 1/261 hay 0,4% nếu IQ TB là 100. Sự khác biệt sẽ cực lớn vì với mức IQ TB là 110 như người Do Thái thì tỉ lệ những người có IQ đạt mức thiên tài này sẽ lên tới 2,3% (nghĩa là cứ 100 người sẽ có hơn 2 thiên tài).

Bài này tôi lược dịch và tổng hợp từ nhiều nguồn, nhân dịp nghe chuyện người Do Thái và vì thầy hướng dẫn hiện tại của tôi là một Giáo sư người Do Do Thái. Để mở đầu, xin được trích dẫn rằng, dân số Do Thái ở Anh có tên tuổi khiến tôi đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng xấp xỉ 13 triệu người (tức là khoảng 0.21% dân số thế giới – số liệu năm 2000), tức là cứ 470 người thì có 1 người Do Thái. Vậy nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài người chỉ do 0.21% dân số đảm nhiệm.
Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, Otto Frisch, .v.v. đều là người Do Thái. Dù không phải là chủng tộc lớn, vậy nhưng không một nhóm chủng tộc nào có thể sánh được với người Do Thái về khả năng và thành tích vượt trội. Kết hợp với những tính cách di truyền của người Do Thái như tham vọng, ham hiểu biết, tích cực, trí tưởng tượng phong phú, bền bỉ, sự thông minh của người Do Thái thực sự đã là đòn bẩy khiến người Do Thái đứng đầu trong tất cả các lĩnh vực cuộc sống.

Những tên tuổi Do Thái hiện nay có thể kế đến là nhà tài phiệt George Soros (người có thể làm khuynh đảo thị trường tài chính thế giới, được xem là người đứng sau sự sụp đổ hệ thống chính trị ở Đông Âu và khủng hoảng tài chính Châu Á 1997); các cựu và chủ tịch Ngân hàng thế giới World bank đương nhiệm đều là người Do Thái ví dụ như James Wolfensohn, Paul Wolfowitz, Robert Zoellick. Diễn viên điện ảnh thông minh và có học thức thuộc hàng top Hollywood hiện nay là Natalie Portman cũng là người Do Thái, vừa theo học đại học Havard và tham gia bộ phim siêu phẩm Chiến tranh giữa các vì sao”.
Trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống như kỹ thuật, âm nhạc, khoa học và kinh doanh, 70% các hoạt động kinh doanh thế giới hiện nay đều do người Do Thái nắm giữ. Các lĩnh vực kinh doanh nổi bật như mỹ phẩm, thời trang, thực phẩm, vũ khí, khách sạn, công nghiệp phim ảnh (kể cả Hollywood và các trung tâm điện ảnh khác).

Trong năm thứ 2 đại học, vào tháng 12 năm 1980, tôi định đến California và tôi nảy ra ý tường, tôi tự hỏi sao trời lại cho họ những khả năng siêu phàm như vậy, liệu có điều gì trùng hợp chăng, loài người có thể tạo ra những người giống họ như việc sản xuất hàng hóa từ nhà máy không? Luận văn của tôi mất 8 năm để tập hợp thông tin từ tất cả các nguồn tin chính xác như đồ ăn, văn hóa, tôn giáo, sự chuẩn bị khi mang thai, .v.v. và tôi đem so sánh với những chủng tộc khác.

Người Do Thái ở Mỹ
Hãy bắt đầu bằng việc chuẩn bị cho thai kỳ. Ở Israel , điều đầu tiên tôi nhận thấy đó là người mẹ khi mang thai sẽ thường xuyên hát, chơi đàn, và luôn cố gắng giải toán cũng chồng. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy người mẹ luôn mang theo sách toán và đôi khi tôi giúp cô giải bài. Tôi hỏi cô, ‘việc này có phải là giúp cho thai nhi?’. Và cô trả lời, ‘Đúng vậy, tôi làm thế là để đào tạo đứa trẻ từ khi còn trong bụng mẹ như vậynó sẽ trở nên thông thái về sau.’ Và cô tiếp tục làm toán cho đến khi đứa trẻ được sinh ra.
Một điều khác tôi nhận thấy là đồ ăn. Người mẹ rất thích ăn hạnh nhân (almonds), chà là (dates) cùng sữa tươi. Bữa trưa cô ăn bánh mỳ và cá (không ăn đầu), salad trộn với hạnh nhân và những loại hạt khác vì họ tin rằng thịt cá tốt cho sự phát triển trí não nhưng đầu cá thì không. Thêm vào đó, theo văn hóa của người Do Thái, người mẹ khi mang thai sẽ cần phải uống dầu gan cá. Khi tôi được mời đến dùng bữa tối, tôi thấy rằng họ luôn dùng cá (phần thịt ở mình cá), họ không ăn thịt vì họ tin rằng thịt và cá khi ăn chung sẽ không tốt cho cơ thể.
Salad và các loại hạt là điều bắt buộc, đặc biệt là hạnh nhân. Họ luôn ăn hoa quả tươi trước bữa chính. Lý do là vì họ tin rằng việc ăn bữa chính trước rồi hoa quả sẽ khiến chúng ta buồn ngủ và khó tiếp thu bài ở trường.
——
Nguồn: ST

http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/nguyn-nhn-thnh-cng-ca-nhng-ngi-gc-thi.html

Do Thái giáo

Vì sao Người Do thái thông minh nhất thế giới?

 

Ở Việt Nam, một đứa trẻ đi học về mà được cha mẹ quan tâm thường sẽ được hỏi “Hôm nay con được mấy điểm?”, trong khi trẻ Do Thái nhận được câu hỏi “Hôm nay con có hỏi gì thầy cô không?”

 

Người Việt chúng ta thường tự hào là dân tộc thông minh và hiếu học. Lòng tự tôn đó dễ khiến ta coi mình là nhất rồi, không cần học tập ai nữa, thành thử hóa ra có hại cho chí tiến thủ của dân tộc. Người Việt có thể thông minh, hiếu học, nhưng cũng nhiều dân tộc khác thông minh, hiếu học hơn, trong đó có dân tộc Do Thái. ..

Nhà bác học Albert Einstein là người gốc Do Thái

Thông minh như người Do Thái

Hãy nhớ câu khen “Thông minh như Do Thái”. Quả là dân tộc Do Thái, dân tộc có chỉ số thông minh (IQ) trung bình 110 – đặc biệt là dòng Do Thái từng sinh sống vùng sông Rhin (Đức) sau đó di cư sang các nước châu Âu rồi Bắc Mỹ – là hết sức nổi bật về trí tuệ.

Nếu IQ trung bình trên thế giới là 100, nhưng dân tộc Do Thái có IQ trung bình là 110 thì điều này có ý nghĩa gì ?Một dân tộc A có chỉ số IQ trung bình là 100 thì tỉ lệ người có khả năng thành thiên tài sẽ là 0,4%, nhưng với mức 110 như người Do Thái thì tỉ lệ những người có khả năng thành thiên tài này sẽ lên tới 2,3%, nghĩa là cứ 1.000 người sẽ có 23 thiên tài, cao gấp 6 lần mức của dân tộc A kia.

Vậy cho nên chỉ với 13 triệu người – chỉ bằng 0,2% dân số thế giới, số người Do Thái hay người có gốc Do Thái thành danh lại nhiều hơn bất kỳ dân tộc nào trên thế giới. Đầu thế kỷ 20, ngành khoa học hạt nhân non trẻ còn được biết đến dưới cái tên là “khoa học Do Thái”.

Albert Einstein, nhà vật lý học lớn nhất thế kỷ 20 – cha đẻ của thuyết tương đối – là người gốc Do Thái. Giải Nobel vật lý được “cha truyền con nối” bởi hai cha con nhà vật lý học Niels Bohr (Henrik David và Aage) là người gốc Do Thái. Trong nửa cuối thế kỷ 20, người gốc Do Thái giành được 29% số giải Nobel văn chương, y học, vật lý và hóa học. Tính chung trong cả thế kỷ 20, tỉ lệ này là 32%. Riêng tại Mỹ trong thế kỷ 20, nơi cộng đồng Do Thái chỉ chiếm 3% dân số thì 27% giải Nobel và 25% số giải Turing – được xem là giải Nobel dành cho những người có đóng góp xuất chúng cho ngành điện toán – đã rơi vào tay người Do Thái.

Trong cả 6 lĩnh vực được xét giải Nobel là văn chương, y sinh học, vật lý học, hóa học, kinh tế và hòa bình, chưa hề có một chủng tộc nào trên thế giới có thể sánh được với Do Thái bởi họ thành danh trên cả 6 lĩnh vực này. Đến năm 2011, chỉ riêng các nhà khoa học Israel (người Do Thái mang quốc tịch Israel – một quốc gia vỏn vẹn 7,8 triệu dân, xấp xỉ dân số TP. Hồ Chí Minh) đã giành đến… 10 giải Nobel.

Người Do Thái còn nổi tiếng khắp thế giới với tài buôn bán từ nhiều thiên niên kỷ nay. Ngân hàng Thế giới có các cựu chủ tịch và chủ tịch đương nhiệm như James Wolfensohn, Paul Wolfowitz, Robert Zoellick đều là người gốc Do Thái. Các lĩnh vực kinh doanh nổi bật như mỹ phẩm, thời trang, thực phẩm, vũ khí, khách sạn, công nghiệp phim ảnh (kể cả Hollywood và các trung tâm điện ảnh khác) do người Do Thái nắm.

Nhà phân tâm học Sigmund Freud cũng là người Do Thái. Những người chế ra vắc xin ngừa bại liệt Jonas Salk và Albert Sabin cũng có gốc Do Thái. Đến cả nhạc sĩ thiên tài như Johan Strauss – người được mệnh danh là vua nhạc valse, tác giả bản nhạc bất hủ Sông Danube xanh, hay diễn viên nổi tiếng như Natalie Portman vừa theo học Đại học Havard vừa tham gia bộ phim siêu phẩm Chiến tranh giữa các vì sao… cũng có gốc Do Thái. Karl Marx – nhà tư tưởng để lại tên của mình cho một học thuyết vĩ đại có ảnh hưởng mạnh nhất trong thế kỷ 20 cũng là người có gốc Do Thái! Quá nửa số nhà vô địch thế giới về cờ vua là người gốc Do Thái. Và còn vô số ví dụ khác.

Người Do Thái tài giỏi, điều này không ai phủ nhận nổi, nhưng nguyên nhân là gì? 

Tính hiếu học đặc biệt

Có nhiều tài liệu, công trình khoa học lý giải việc này bằng các yếu tố về gien, về hoàn cảnh lịch sử – xã hội của cộng đồng Do Thái, về tính hiếu học đặc biệt của người Do Thái. Nếu hai yếu tố đầu là các yếu tố đặc thù, không thể bắt chước được thì tính hiếu học của người Do Thái hoàn toàn có thể là tấm gương để người Việt Nam tự soi mình và noi theo. Tính hiếu học này được rèn luyện, hình thành và phát triển trong cả ba môi trường gia đình, nhà trường và xã hội.

Gia đình

Cha mẹ Do Thái vô cùng chăm lo đến việc phát triển trí tuệ của con. Bà mẹ Do Thái dạy con từ thuở còn… thai: khi mang thai, bà mẹ thường nghe nhạc, chơi đàn, hát và còn làm toán nữa cho đến khi sinh con ra. Các thai phụ làm vậy vì tin rằng cách đó sẽ làm đứa bé sau này trở nên thông minh. Người mẹ chọn ăn hạnh nhân, chà là, uống dầu cá và ăn cá nhưng tránh ăn đầu cá – thật khác với thói quen thích ăn đầu cá của nhiều người Viêt Nam, cũng vì tin rằng tất cả điều đó sẽ giúp cho con trở nên thông thái.

Từ lúc còn ẵm ngửa đứa bé, bà mẹ đã tạo cho con thói quen thích sách bằng cách dùng cái mẹo là nhỏ vài giọt mật lên cuốn sách và cho bé liếm. Khi đó, trong nhận thức non nớt của đứa trẻ, sách là cái gì đó rất ngọt ngào, hấp dẫn. Ủy ban công nghiệp thành phố New York (Mỹ) có cuộc điều tra nguồn nhân lực vào năm 1950 và nhận thấy có sự khác biệt lớn về việc đi làm công nhân giữa phụ nữ Ý với phụ nữ Do Thái.

Phụ nữ Ý thường phải đi làm và thường còn bắt con nghỉ học để đi làm phụ cha mẹ, các bà mẹ Do Thái thì không. Dù kinh tế khó khăn, họ vẫn ở nhà để nuôi dạy con, dồn hết trách nhiệm kiếm sống cho chồng, người ban ngày đi làm nhưng tối về có nghĩa vụ học và dạy cho con học. Cha mẹ Việt Nam, nhất là các gia đình ở nông thôn nên học theo các gia đình Do Thái ở điểm này. Có thể thấy ở một vài vùng miền là vùng trũng về giáo dục của nước ta, cứ gia đình gặp hoàn cảnh khó khăn về kinh tế là cha mẹ bắt con bỏ học để đi làm phụ giúp mình.

Nhờ sự chăm sóc, động viên của cha mẹ mà học sinh Do Thái nổi tiếng trong trường về thành tích học tập và tính chuyên cần, khác hẳn với học sinh nhiều dân tộc khác học kiểu được chăng hay chớ và dễ dàng bỏ học để đi làm với lý do phụ giúp cha mẹ. Vào năm 1954, hệ thống trường công của thành phố New York phát hiện ra 28 học sinh có chỉ số IQ cực cao – 170 điểm, thì trong đó 24 là học sinh Do Thái. Ở Việt Nam, một đứa trẻ đi học về mà được cha mẹ quan tâm thường sẽ được hỏi “Hôm nay con được mấy điểm?”, trong khi trẻ Do Thái nhận được câu hỏi “Hôm nay con có hỏi gì thầy cô không?”. Họ quan niệm điểm không quan trọng bằng cách học, mà đã học thì phải hỏi. Người Việt mình hay ghép học với hỏi thành từ học hỏi. Điều này là rất hay, mọi gia đình nên khuyến khích con em mình đặt câu hỏi.

Nhà trường

Nhà trường Do Thái không chỉ chăm bẵm lo truyền thụ thật nhiều kiến thức lý thuyết mà còn chú ý trau dồi nhân cách học sinh. Học sinh Do Thái nào cũng phải chơi nhạc cụ piano hay violon, nhờ đó mà khả năng cảm thụ cái đẹp và sự nhạy cảm được bồi bổ.

Qua học bắn cung, bắn súng hay chạy bộ, trẻ em luyện được khả năng tập trung và tính kiên trì. Học sinh Israel dùng hai ngôn ngữ chính thức là tiếng Do Thái và tiếng Arập. Tiếng Do Thái là ngôn ngữ chính và thứ nhất của quốc gia, được đa số dân cư sử dụng. Tiếng Arập là của thiểu số người Arập và một số thành viên cộng đồng Do Thái. Tiếng Anh được dạy trong các trường học và đa phần dân cư coi đó là ngôn ngữ thứ hai.

Do đặc điểm dân cư tụ về quốc gia này vốn sinh sống từ nhiều nước nên các ngôn ngữ khác được dùng ở Israel còn có tiếng Nga, tiếng Pháp và một số ngôn ngữ khác. Thông thường, học sinh Israel có thể nói được ba thứ tiếng. Nếu thành ngữ Pháp “Một người biết thêm ngôn ngữ thứ hai thì bằng hai người” là đúng thì một trẻ em Israel sẽ có thể bằng… ba người.

Tính dạn dĩ của học sinh luôn được khuyến khích bởi người Do Thái quan niệm hỏi cũng quan trọng như trả lời. Hỏi quan trọng không kém đáp bởi đòi hỏi khả năng quan sát và suy nghĩ, công cụ quan trọng để chiếm lĩnh tri thức. Chẳng lạ gì mà người Do Thái luôn nổi bật về tính độc lập suy nghĩ và tài lập luận.

Nhà trường Do Thái rất coi trọng tính thực hành. Trong thời khóa biểu, ngoài các môn học thường gặp ở mọi nhà trường, cấp tiểu học Do Thái còn có môn kinh doanh. Từ trung học, học sinh học giảm dần các môn lý thuyết mà chuyển dần qua học cách tạo ra “sản phẩm” với các bài tập thực tế. Tất cả “sản phẩm” của học sinh dù còn ngây ngô nhưng đều là những thử thách thật sự nghiêm túc với người tạo ra chúng và những sản phẩm có ý tưởng tốt có thể được giới thiệu lên các viện hay trường đại học để khai thác.

Trong khi đó thì cách dạy – cách học và nội dung học nhà trường của Việt Nam từ phổ thông đến đại học đều chăm bẵm nhồi nhét cho học sinh lý thuyết suông, song người học khi ra đời thì lóng ngóng không biết áp dụng thế nào hoặc có khi lại còn không muốn áp dụng.

Xã hội

Xã hội Do Thái là một xã hội đặt trí tuệ vào bậc cao nhất trong thang giá trị. Do vậy mà cứ điều gì có hại cho trí tuệ là người Do Thái cố tránh, có lợi cho trí tuệ thì họ cố làm, từ chuyện “vặt” như hút thuốc lá đến chuyện trọng đại như lập gia đình. Người Do Thái rất bài trừ thuốc lá, cho nên dù là khách quý vào nhà mà hút thuốc cũng sẽ bị chủ nhà lịch sự mời ra ngoài. Đơn giản bởi các nhà khoa học Do Thái chứng minh rằng nicotine trong thuốc lá làm thoái hóa tế bào não.

Hãy nhìn ra xã hội Việt Nam, thuốc lá bán khắp nơi và số người hút không hề giảm sau bao lời cảnh báo về tác hại của thuốc lá; ở nhà thì đàn ông tự do hút thuốc, tự do đầu độc não con em mình bằng nicotine. Người Do Thái có uống rượu nhưng rất chừng mực vì sợ uống nhiều sẽ bị dư luận xã hội chỉ trích, sợ bị nhà thờ trừng phạt, sợ hại trí tuệ bởi lượng rượu uống kiểu người nghiện sẽ làm chết các tế bào não. Rượu cồn là thứ thuốc độc thực sự, vậy mà ở Việt Nam, các nhà máy bia cứ đua nhau mọc lên và mở rộng sản xuất, nên người Việt Nam thuộc loại có thứ hạng cao trên thế giới về số lít bia rượu tiêu thụ theo đầu người; trong nhà, ngoài quán, người Việt ta cứ ép nhau, thách nhau uống, xem có tửu lượng cao là thành tích, không hề cân nhắc hậu quả mà mình cùng vợ con, cháu chắt và xã hội sẽ phải gánh.

Xã hội Do Thái từ rất sớm đã rất coi trọng việc xóa mù chữ, coi trọng sách và người có học thức. Dân tộc Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới – từ năm 64 đầu Công nguyên – mà nhà thờ quy định tất cả nam giới phải biết đọc viết và tính toán; sang thế kỷ thứ 2 thì bắt buộc mọi đàn ông phải có nghĩa vụ dạy con trai mình đọc, viết, tính toán.

Như vậy họ đã thực hiện phổ cập giáo dục cho nam giới trước các dân tộc khác hàng mười mấy thế kỷ. Israel là nước đứng đầu thế giới về dân số từ 14 tuổi đọc sách, đứng đầu về số đầu sách xuất bản theo đầu dân. Không một người Do Thái thành đạt nào lại không tranh thủ thời gian để đọc, để học, để làm giàu hiểu biết.

Ngay cả tại nghĩa trang, người ta cũng để sẵn sách vì tin rằng những đêm có trăng, các linh hồn sẽ ra đọc sách. Thì ra trong lúc người Viêt Nam ta đang kêu gọi hãy đọc sách và học suốt đời thì người Do Thái đã thực hiện học… quá đời! Dân tộc Do Thái coi trọng học giả, coi trọng người thầy.

Tri thức được trọng vọng hơn của cải, hơn cả chức tước, là điều khác hẳn với quan niệm của số đông người Việt Nam hiện nay. Do vậy người Do Thái sẵn sàng hy sinh cả gia tài để được làm thông gia với gia đình trí thức. Theo truyền thống, hôn nhân giữa người thuộc gia đình người có học thức cao với thành viên gia đình thương gia là một cuộc hôn nhân lý tưởng, làm cho việc kinh doanh càng trở nên có trí tuệ hơn. Từ ngàn xưa, người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được.

Người Do Thái đã tự khai sáng mình ngay từ buổi bình minh của lịch sử loài người như vậy đấy và thành quả mà con cháu họ đạt được ngày nay trong nhiều lĩnh vực đời sống là kết quả tất yếu, là sự tưởng thưởng xứng đáng. Người Việt Nam phải phục họ thì không có gì phải xấu hổ. Người Việt Nam cần quyết tâm tự khai sáng noi theo dân tộc Do Thái, cùng đồng tâm nhất trí loại trừ những thói quen gây hại cho việc phát triển trí tuệ trong cả ba môi trường giáo dục là gia đình, nhà trường và xã hội, cùng nhau hình thành thang giá trị mới, trở nên thật sự hiếu học và có thói quen học suốt đời.

* Năm 2011, chỉ riêng các nhà khoa học Israel đã giành đến… 10 giải Nobel.

* Từ ngàn xưa, người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được.

Nguồn: Sưu tầm

Do Thái giáo

Bí quyết thành công của người Do Thái: ‘Tôi đâu còn lựa chọn nào khác’

Nhìn lại lịch sử, những quốc gia với xuất phát điểm thấp nhưng biết cách “lựa chọn” thái độ trước thời cuộc đều đã thành công.

Nội dung nổi bật:

– Nghèo khổ, lang bạt, bị đối xử khinh thường, cuộc sống đầy rẫy bất ổn… nhưng cũng nhờ đó, người Do Thái học được bài học về sự sáng tạo, về lòng quả cảm, trí tưởng tượng phong phú và nỗ lực khẳng định vị thế dân tộc mình. Cho tới nay, khi những cống hiến của người Do Thái dần được công nhận, người ta mới nhìn họ với một con mắt khác. 

– Ví dụ cửa hiệu cầm đồ và cho vay lãi là sáng tạo độc đáo của người Do Thái cổ về sau gọi là hệ thống ngân hàng. Lịch sử cũng một lần nữa chứng minh tài năng của người Do Thái trong kinh doanh, với những cái tên như vua dầu mỏ John Rockefeller, trùm tài chính George Soros, huyền thoại thời trangRalph Lauren…

– Nhìn lại lịch sử, những quốc gia với xuất phát điểm thấp nhưng biết cách “lựa chọn” thái độ trước thời cuộc đều đã thành công.

Tôi cứ nghĩ mãi về điều gì khơi nguồn cho sự tỏa sáng của người Do Thái trong hầu hết khía cạnh cuộc sống, cho tới khi đọc lại Eran Katz:“Có lần, tôi gặp một người mù. Ông ấy có một trí nhớ phi thường. Ông ấy thuộc lòng số điện thoại, những cuộc hẹn của mình từ hàng tháng trước hoặc sẽ có trong hàng tháng sau đó, mà không hề cần sổ ghi chép hay sắp xếp các cuộc hẹn. Khi tôi hỏi ông ấy làm thế nào mà nhớ được, ông ấy có vẻ hơi ngạc nhiên và câu trả lời của ông ấy đến giờ vẫn văng vẳng trong tâm trí tôi: ‘Tôi đâu còn lựa chọn nào khác chứ?’ ”.

Và tôi tự hỏi, liệu có phải lý do của người Do Thái cũng bắt nguồn từ việc họ từng là một dân tộc “đâu còn sự lựa chọn nào khác”?

Từ 2000 năm lưu vong

Điều 1 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 tại Pháp ghi: “Mọi người đều được sinh ra tự do và bình đẳng”. Thế nhưng đó là câu chuyện của 1948.

2000 năm trước, có một dân tộc mà nhiều người từ khi sinh ra đã là một đứa trẻ mất nước, đi tới đâu cũng bị xua đuổi, tàn sát, người dân bị cấm sở hữu bất cứ tài sản nào… Họ chính là dân tộc Do Thái. Ngay từ những giai đoạn đầu tiên, người Do Thái đã phải sống lưu vong, bị cướp bóc tài sản do những quan niệm trái ngược về tôn giáo. Vào thời đại di chuyển khá hạn chế, người Do Thái trở thành những người tị nạn đầu tiên. Ngày xưa cũng như bây giờ, dân di cư luôn bị đối xử với sự nghi ngờ.

Tới Thế chiến II, khi Adolf Hitler với thuyết “người Đức là một dân tộc thượng đẳng”, vì sợ sự vượt trội của người Do Thái đã bắt họ phải sống trong các trại tập trung với ý đồ để họ chết dần chết mòn. Kết quả, không dưới sáu triệu người bao gồm cả phụ nữ, trẻ em đã bị sát hại dã man.

Nghèo khổ, lang bạt, bị đối xử khinh thường, cuộc sống đầy rẫy bất ổn… nhưng cũng nhờ đó, người Do Thái học được bài học về sự sáng tạo, về lòng quả cảm, trí tưởng tượng phong phú và nỗ lực khẳng định vị thế dân tộc mình. Cho tới nay, khi những cống hiến của người Do Thái dần được công nhận, người ta mới nhìn họ với một con mắt khác.

[Một giả thuyết thú vị], phải chăng quá trình chọn lọc tự nhiên quá dài và khắc nghiệt đã khiến chỉ những cá nhân xuất sắc nhất mới có thể tồn tại để tạo nên một dân tộc tinh hoa như vậy?

Kinh Talmud, tri thức và tiền

Đã có không ít nghiên cứu về công thức thành công của người Do Thái: Từ việc mang thai của người mẹ, việc đào tạo thanh niên trong quân đội, việc chính phủ cởi mở trước ý tưởng sáng tạo cho tới truyền thống của một dân tộc thông thái… Nhưng khởi điểm căn bản, không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của Kinh Talmud. Kinh Talmud là một văn bản trung tâm của giáo sĩ Do Thái giáo gồm 63 bài luận với độ dài hơn 6.200 trang thể hiện những ý kiến của hàng ngàn giáo sĩ Do Thái trong nhiều chủ đề như pháp luật, đạo đức, triết học, phong tục, lịch sử, thần học, truyền thuyết và nhiều chủ đề khác.

Kinh Talmud

Kinh Talmud viết: “Tài sản có thể bị mất, chỉ có tri thức và trí tuệ thì mãi mãi không mất đi đâu được”. Với phương châm đó, người Do Thái đặc biệt coi trọng giáo dục, dù khó khăn đến đâu cũng tìm cách cho con học hành. Nhìn toàn cục, đạo Do Thái coi trọng học vấn và phân tích. Họ không chấp nhận những giá trị bề ngoài, mà luôn đi sâu tìm hiểu “tại sao”, “như thế nào”. Với lịch sử, bộ óc thế kỷ Albert Einstein, nhà tâm lý học Sigmund Freud, cha đẻ Chủ nghĩa Cộng sản Karl Marx…hay thậm chí chúaJesus, tất cả đã chứng minh đóng góp tri thức vĩ đại của người Do Thái với nhân loại.

Chẳng con dê nào không có râu, chẳng người Do Thái nào không có tiền để dành”.

Ngạn ngữ Đức

Một điểm đặc biệt của Kinh Tadmud, khác với những tôn giáo khác như Phật giáo, Thiên chúa giáo là ở chỗ coi trọng giá trị của tiền bạc. Với người Do Thái: “Vàng ở xứ này rất quý”. Rõ ràng, không có tiền thì làm sao có thể tồn tại ở những quốc gia nơi người Do Thái sống nhờ ở đợ, chịu mọi chèn ép, khó khăn? Cũng chính trong hoàn cảnh đó, họ đã sáng tạo ra nhiều ý tưởng kinh doanh rất khôn ngoan.

Ví dụ cửa hiệu cầm đồ và cho vay lãi là sáng tạo độc đáo của người Do Thái cổ về sau gọi là hệ thống ngân hàng. Lịch sử cũng một lần nữa chứng minh tài năng của người Do Thái trong kinh doanh, với những cái tên như vua dầu mỏ John Rockefeller, trùm tài chính George Soros, huyền thoại thời trang Ralph Lauren

Tới hồi kết nở hoa

Nhìn lại lịch sử, những quốc gia với xuất phát điểm thấp nhưng biết cách “lựa chọn” thái độ trước thời cuộc đều đã thành công. Hoa Kỳ, sau cuộc nội chiến vươn lên trở thành một cường quốc quyền lực. Nhật Bản, dù hứng chịu không ít bom nguyên tử, động đất, sóng thần vẫn là nơi mặt trời luôn mọc. Singapore, từ một mảnh đất bé xíu thuộc về Malaysia, ô nhiễm, pha tạp, trở thành một đất nước xanh và năng động bậc nhất không chỉ tại châu Á.

Và tất nhiên, không thể không nhắc tới Israel, quê hương của những người con Do Thái, nơi đã viết nên câu chuyện rằng bất kể quá khứ của một dân tộc ra sao, với sự sáng tạo, cầu tiến của mình, họ đều có thể viết nên tương lai mới.

Hoa đã nở trên những cao nguyên cằn khô tại “quốc gia khởi nghiệp”, nơi mà toàn bộ diện tích bao phủ bởi sỏi đá, chỉ gần 1% là nước. Israel- quốc gia nhỏ bé chỉ gồm hơn 7 triệu dân, mỗi ngày trôi qua là một ngày đối diện với hàng trăm thế lực thù địch xung quanh, vẫn vươn mình phát triển trên hầu hết các lĩnh vực, nông nghiệp, kinh tế, khoa học… Như một tất yếu, người dân Israel rất giàu, GDP đầu người năm 2013 vào khoảng 34.900 USD(*)- xếp thứ 40 thế giới.

Hitler (nếu còn sống) hẳn sẽ buồn vì sức sống của người Do Thái sau chừng ấy thử thách, quả không thể nào dập tắt!

(*) Theo The World Factbook

 

Đàm Linh

Theo Trí Thức Trẻ

 

Do Thái giáo

Vì sao người Do Thái thông minh nhất thế giới?

Từ ngàn xưa, người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được.

Vì sao người Do Thái thông minh nhất thế giới?

Trong lịch sử, người Do Thái được biết đến là một sắc tộc tôn giáo có nguồn gốc từ Israel. Dù hiện nay người Do Thái sống rải rác tại nhiều quốc gia khác nhau, nhưng chỉ có Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái.

Dân số người gốc Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng gần 13,8 triệu người (khoảng hơn 0,19% dân số thế giới – số liệu năm 2013), tức là cứ khoảng 517 người thì có 1 người Do Thái. Thế nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy, có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài người chỉ do 0,19% dân số đảm nhiệm. Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, Otto Frisch… đều là người Do Thái.

Vậy tại sao các thế hệ người Do Thái lại có được trí tuệ như vậy (chỉ số IQ trung bình của người Do Thái là 110 so với chỉ số trung bình 100 của thế giới)? Trong cuốn “Bí mật người Do Thái dạy con làm giàu” có đưa ra lời giải thích cụ thể cho vấn đề này.

Vai trò của bà mẹ Do Thái

Bà mẹ Do Thái dạy con từ khi mang thai. Các bà mẹ thường nghe nhạc, chơi đàn, hát và… làm toán cho đến khi sinh con ra. Các thai phụ làm vậy vì tin rằng cách đó sẽ làm đứa bé sau này trở nên thông minh. Người mẹ chọn ăn hạnh nhân, chà là, uống dầu cá và ăn cá nhưng tránh ăn đầu cá vì tin rằng tất cả điều đó sẽ giúp cho con trở nên thông thái.

Từ lúc còn ẵm ngửa đứa bé, bà mẹ đã tạo cho con thói quen thích sách bằng cách dùng mẹo nhỏ vài giọt mật lên cuốn sách và cho bé liếm. Khi đó, trong nhận thức non nớt của đứa trẻ, sách là cái gì đó rất ngọt ngào, hấp dẫn.

Ủy ban công nghiệp thành phố New York (Mỹ) có cuộc điều tra nguồn nhân lực vào năm 1950 và nhận thấy có sự khác biệt lớn về việc đi làm công nhân giữa phụ nữ Ý với phụ nữ Do Thái. Phụ nữ Ý thường phải đi làm và còn bắt con nghỉ học để đi làm phụ cha mẹ, các bà mẹ Do Thái thì ngược lại. Dù kinh tế khó khăn, họ vẫn ở nhà để nuôi dạy con, dồn hết trách nhiệm kiếm sống cho chồng – người ban ngày đi làm nhưng tối về có nghĩa vụ học và dạy cho con học.

Nhờ sự chăm sóc, động viên của cha mẹ mà học sinh Do Thái nổi tiếng trong trường về thành tích học tập và tính chuyên cần, khác hẳn với học sinh nhiều dân tộc khác. Vào năm 1954, hệ thống trường công của thành phố New York thống kê được 28 học sinh có chỉ số IQ cực cao lên tới 170 điểm, thì trong đó 24 là học sinh Do Thái. Ngoài ra, những người này còn quan niệm điểm không quan trọng bằng cách học, mà đã học thì phải hỏi. Chính vì vậy, học sinh Do Thái được khuyến khích đặt thật nhiều câu hỏi cho giáo viên.

Cũng theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích bộ não và đó là lý do vì sao có rất nhiều thiên tài người Do Thái…

Hệ thống giáo dục phổ thông

Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em gồm kinh doanh, toán học, khoa học. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn súng, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác.

Ở trường trung học, học sinh sẽ giảm dần việc học khoa học mà sẽ học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào những kiểu bài tập thực tế như vậy. Dù một số dự án/bài tập có vẻ nực cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc đặc biệt nếu đó là những môn thuộc về vũ khí, y học, kỹ sư, ý tưởng sẽ được giới thiệu lên các viện khoa học hoặc trường đại học.

Khoa kinh doanh cũng được chú trọng ưu tiên. Trong năm cuối ở trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ hoàn thành nếu nhóm của họ (khoảng 10 người/nhóm) có thể tạo ra lợi nhuận 1 triệu USD. Đừng ngạc nhiên, đây là thực tế và đó là lý do vì sao một nửa hoạt động kinh doanh trên thế giới là của người Do Thái.

Xã hội Do Thái từ rất sớm đã coi trọng việc xóa mù chữ, sách và người có học thức

Dân tộc Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới – từ năm 64 đầu Công nguyên – mà nhà thờ quy định tất cả nam giới phải biết đọc viết và tính toán; sang thế kỷ thứ 2 thì bắt buộc mọi đàn ông phải có nghĩa vụ dạy con trai mình đọc, viết, tính toán. Như vậy họ đã thực hiện phổ cập giáo dục cho nam giới trước các dân tộc khác mười mấy thế kỷ.

Israel cũng là nước đứng đầu thế giới về dân số từ 14 tuổi đọc sách, đứng đầu về số đầu sách xuất bản theo đầu dân. Không một người Do Thái thành đạt nào lại không tranh thủ thời gian để đọc, để học, để làm giàu hiểu biết.

Như vậy, từ ngàn xưa người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được. Và đây nhân tố quan trọng giúp người Do Thái đạt được trí thông minh vượt bậc so với phần còn lại của thế giới.

Phương Linh (Tổng hợp)

Theo Trí Thức Trẻ

Ấn Độ giáo

Achuta không được là người

Mang thân phận ô uế ngay từ khi mới ra đời, 1/6 dân số Ấn Độ đang phải sống cuộc sống xa lạ với đồng loại. Tại Ấn Độ, những người dưới đáy xã hội vẫn bị tẩy chay, bị sỉ nhục, bị cấm đi vào đền thờ và nhà của những người tầng lớp cao. Họ bị hiếp, bị đốt, thậm chí bị bắn chết vì những lý do không chấp nhận được.

Girdharrilal Maurya đang phất lên nhờ nghề thuộc da thì gặp họa, cái họa do chính tổ tiên anh gây ra. Tất cả chỉ vì anh sinh ra là một người Achuta, một thứ cặn bã dưới con mắt của đạo Hindu. Cái tội của Maurya là đã không cam chịu phận đã định như ông cha mình, dám dùng chung giếng làng – xưa nay vốn chỉ dành cho những người đẳng cấp trên.

Một đêm, trong khi Maurya đi vắng, nhà anh bị tấn công. Một nhóm người đã phá hàng rào, lấy đi máy kéo, đánh đập vợ và con gái anh rồi đốt rụi căn nhà. Thông điệp của họ rất rõ ràng: Hãy trở lại nơi thuộc về mày.

Những vết sẹo do bị tạt acid trên mặt Ramprasad và trên người Ramlakhan ở làng Uttar Pradesh là cái giá họ phải trả vì đã dám câu cá ở cái ao không phải dành cho những người Achuta.

Ở Ấn Độ, sinh ra là một tín đồ của đạo Hindu thì buộc phải tuân thủ những quy định ngặt nghèo về đẳng cấp xã hội của đạo này. Đạo Hindu chia xã hội thành những đẳng cấp khác nhau theo quan điểm đã tồn tại hơn 1.500 năm qua: mọi người sinh ra không phải ai cũng có quyền bình đẳng. Theo đó, như một cơ thể người, ở đẳng cấp cao nhất (từ miệng trở lên) là các Brahman: những thày tu và giáo sĩ; từ miệng xuống tay là Kshatrya: những người lãnh đạo và binh lính; từ tay xuống đùi là Vaisya: tầng lớp buôn bán; từ đùi đến chân là Sudra: người lao động. Những người như Maurya thì không được tính đến. Họ bị xếp vào dạng Achuta, nghĩa là những người dưới đáy xã hội. Họ bị khinh rẻ, ruồng bỏ và là một khái niệm đồng nghĩa với sự ô uế, không đáng được gọi là người.

“Luật Manu của đạo Hindu quy định rất rõ ràng, tầng lớp nào thì được ăn gì, vệ sinh ra sao, khi nào thì chiến đấu và kẻ nào thì phải tránh”, Umashaka Tripathy, một thày tu thuộc tầng lớp Brahman (Bà la môn), cho biết. Tổ tiên của Tripathy chính là những người đã lập ra luật Manu và bây giờ, đến lượt anh duy trì nó. Ngồi bắt chéo chân trong một ngôi đền ở Varanasi bên bờ sông Hằng, Tripathy vừa khua đôi bàn tay trắng mềm vừa nói về việc anh phải giữ thể xác và linh hồn mình trong sạch, không một tỳ vết như chiếc áo thụng dhoti truyền thống mà anh khoác trên người.

“Tôi kiêng thịt, rượu, không ăn gừng hay hành vì chúng trồng trên đất”. Câu chuyện của Tripathy chứa đầy sự tự kiêu của một người thuộc đẳng cấp cao nhất trong xã hội. Một người Brahman như Tripathy không được chạm vào chân của Gandhi, vì dù được tôn sùng như một vị thánh ở Ấn Độ, Gandhi vẫn thuộc về Vaisya – đẳng cấp thấp hơn anh những hai bậc. Và đương nhiên, Tripathy chẳng bao giờ bận tâm đến số phận của những người Maurya. Những câu chuyện về người Achuta bị tạt acid, hoặc vợ anh ta bị hiếp trước mặt chồng, vẫn xảy ra hằng ngày ở đâu đó trên đất Ấn Độ, không lấy nổi của Tripathy một cái nhíu mày.

Trong ký ức sống của ngày trước, người Achuta sẽ bị đánh nếu trót để bóng mình phủ lên một người ở đẳng cấp cao hơn vô tình đi qua đường. Họ phải mang chuông để người khác biết mà tránh. Họ phải mang ống nhổ theo mình để không được khạc nhổ làm ô uế mặt đất. Và đương nhiên là họ không bao giờ được phép ngồi gần ai ngoài những người cùng đẳng cấp với mình. Ngày nay, tuy những luật lệ này đã phần nào được nới lỏng, nhưng tình thân ngược đãi của nó với tầng lớp Achuta vẫn không khác trước là bao. Hiện có khoảng 160 triệu người Achuta ở Ấn Độ. Những người dưới đáy xã hội này vẫn bị tẩy chay, bị sỉ nhục, bị cấm đi vào đền thờ và nhà của những người ở tầng lớp cao hơn. Họ bị buộc phải ăn uống trong những cốc, bát riêng ở nơi công cộng. Họ bị hiếp, bị đốt, bị đánh thậm chí bị bắn chết vì những lý do phân biệt đẳng cấp không thể chấp nhận được.

Mặc dù luật pháp Ấn Độ nghiêm cấm những hành vi phân biệt đẳng cấp, nhưng ở một đất nước mà 80% dân số theo đạo Hindu thì thường là lệ (của chính giáo) vẫn lớn hơn luật (của quốc gia). Thế nên tất cả những nỗ lực của chính quyền để đổi đời cho người Achuta vẫn chỉ nằm chủ yếu trên giấy tờ. Không có cách nào để họ hòa nhập vào xã hội. Rào cản lớn nhất chính là nghề nghiệp của họ, những nghề luôn bị định kiến của đạo Hindu quay lưng.

Tôn giáo này quy định những công việc bẩn thỉu, phải tiếp xúc với rác, máu hay các chất thải của cơ thể, là để dành riêng cho người Achuta. Nghĩa là dù thông minh, tài giỏi tới đâu thì nghề của họ vẫn không nằm ngoài những việc như mai táng người chết, dọn nhà xí, cắt rốn trẻ con, thu lượm xác xúc vật trên phố, thuộc da, thông cống… may lắm mới được làm thuê việc đồng áng cho các địa chủ. Những công việc này thuộc dạng cha truyền con nối qua hàng bao thế hệ người Achuta.

Sinh thời, Mahatma Gandhi đã dũng cảm đối đầu với những điều luật mấy nghìn năm của đạo Hindu để lấy lại công bằng cho người Achuta. Ông nhận con gái của một gia đình Achuta làm con nuôi, khẩn cầu Ấn Độ thôi khinh mạt những người con cùng màu da, cùng sinh ra và lớn lên bên sông Hằng. Thậm chí ông còn đổi tên Achuta thành Harijan (Những đứa con của thượng đế). Ông cũng mở toang tất cả các cánh cửa đền cho họ vào hương khói và đi khắp Ấn Độ để nói về một xã hội mới không còn cái nhìn khinh rẻ đối với họ.

Tuy nhiên, Gandhi chỉ kêu gọi xóa bỏ Achuta mà không dám đánh đổ chế độ phân định đẳng cấp xã hội – đặc sản đáng buồn của Ấn Độ. Kết quả, cái ông mơ ước và cái ông nhìn thấy còn quá xa nhau. Người Achuta vẫn không được tôn trọng hơn. Tuy đã bớt bị khinh rẻ nhưng họ phải mang thêm những cái nhìn thương hại. Dù sao những gì Gandhi làm cũng mở đường cho Bhimrao Ramji Ambedkar lập ra đảng chính trị đầu tiên của người Achuta, thậm chí chiếm được ghế cho họ trong bộ máy lập pháp. Ambedkar mạnh tay hơn Gandhi và đáng tiếc là chính điều này đã đẩy họ sang hai chiến tuyến. Gandhi sợ rằng những gì Ambedkar làm sẽ phá tan đạo Hindu và ông đã đẩy người hùng đích thực của dân Achuta vào phía cuối của một con đường hầm không có ánh sáng. Thất bại, chán nản, Ambedkar cuối cùng đã cải giáo sang đạo Phật.

Gần 50 năm trôi qua kể từ khi Ambedkar trút hơi thở cuối cùng. Cũng từ đó, không còn lương tâm nào dằn vặt vì thân phận của người Achuta nữa. Và những người sống dưới đáy xã hội lại phải tiếp tục vác gánh nặng nghiệp chướng của quá khứ vào tương lai – tương lai không dành cho họ. Trong những năm gần đây, số vụ hành hung, ngược đãi người Achuta đã tăng lên tới 30% tại các bang họ tập trung như Bihar, Tamil Nadu. Xã hội làm ngơ và cảnh sát hãn hữu lắm mới tiến hành điều tra tội phạm. Trong kho tư liệu của phóng viên ảnh Krishnar Kishan ở thành phố Patna, thủ phủ Birha, tràn ngập hình xác người Achuta. “Mỗi tuần lại có vài người thiệt mạng. Nhưng chừng đó là quá ít để có thể đưa tin. Tòa soạn chỉ cử tôi đi chụp khi có những cuộc thảm sát Achuta lớn”.

Ở Ấn Độ, quốc gia luôn tự coi mình là điển hình cho một hình mẫu phát triển, nền dân chủ đông dân nhất thế giới, quyền lực mới trong công nghiệp phần mềm, một kẻ thách thức trong lĩnh vực liên lạc vệ tinh, một cường quốc tiềm năng với những nhà máy sản xuất năng lượng hạt nhân và bom nguyên tử – vẫn còn nguyên câu hỏi: Tại sao những người Achuta phải chết?

(Theo Sành Điệu)

Ấn Độ giáo

Why Julia Roberts Became a Hindu

 - Getty Images
Julia Roberts in India.

Academy Award winning Hollywood actor Julia Roberts, who recently converted to Hinduism, reconfirmed her faith in Hinduism while commenting that her “opting for Hinduism is not a religious gimmick”.

In an interview to The Hindu, “India’s National Newspaper” dated November 13, 2010, Roberts said: “It is similar to Patsy of Razor’s Edge by Somerset Maugham. We share a common aspect of finding peace and tranquility of mind in Hinduism, one of the oldest and respected religions of civilization”.

Clarifying that actual spiritual satisfaction was the real reason behind her converting to Hinduism, Julia Roberts said: “I have no intention of demeaning any other religion simply because of my fondness for Hinduism. I don’t believe in comparing religions or human beings. A comparison is a very mean thing to do. I have received real spiritual satisfaction through Hinduism.”

Roberts, who grew up with a Catholic mother and Baptist father, reportedly became interested in Hinduism after seeing a picture of the deity Hanuman and the Hindu guru Neem Karoli Baba, who died in 1973 and whom she never met.

She revealed in the past that the entire Roberts-Moder family went to temple together to “chant and pray and celebrate.” She then announced, “I’m definitely a practicing Hindu.”

According to reports, Roberts has been interested in yoga for quite some time. She was in the northern Indian state of Haryana (India) in September 2009 to shoot Eat, Pray, Love in an ‘ashram’ or hermitage. In January 2009, she was seen sporting a ‘bindi’ on her forehead during her trip to India.

Her film production company is called ‘Red Om Films,’ named after the Hindu symbol ‘Om’ which is considered the mystical syllable containing the universe. There were reports that she was trying to adopt a child from India and her kids shaved their heads during her last visit to India.

Hindu statesman Rajan Zed, who is President of Universal Society of Hinduism, interpreting wisdom of ancient Hindu scriptures, suggested Roberts to realize the Self or pure consciousness through meditation. Hindus believe that real happiness comes from within, and God can be found within one’s heart through meditation.

Quoting Shvetashvatara Upanishad, Zed pointed out to Roberts to be always aware that “worldly life is the river of God, flowing from him and flowing back to him.” Stressing the importance of meditation, he quoted Brihadaranyaka Upanishad, and pointed out that if one meditates upon the Self, and realizes it, they can come to understand the meaning of life.

Rajan Zed further said that seeing Roberts’ devotion, he would pray to lead her to the ‘eternal joy.’ If she needed any assistance in deeper Hinduism exploration, he or other Hindu scholars would be glad to help, Zed added.

This Diwali, Julia Roberts was in the news for her comment that ‘Diwali should be celebrated unanimously throughout the world as a gesture of goodwill’. Roberts equated Christmas with Diwali and said that both “are festivals of lights, good spirits and death of evil”. She further pointed out that Diwali “not only belongs to Hinduism but is universal in nature and in its essence too. Diwali ignites the values of self confidence, love for humanity, peace, prosperity and above all eternity which goes beyond all mortal factors… When I think of Diwali, I can never imagine a world broken into fragments by narrow feelings of communalism and religion which does not care for human benevolence.”Julia Roberts said: “Ever since I developed my liking and fondness for Hinduism, I have been attracted and deeply fascinated by many facets of the multi-dimensional Hinduism… spirituality in it transcends many barriers of mere religion”. Talking of India, she promised “to return to this sacred land again and again for the best of creativity.”

http://hinduism.about.com/od/artculture/a/Why-Julia-Roberts-Became-A-Hindu.htm

Do Thái giáo

Vì sao người Do Thái giỏi làm kinh tế?

 

Print Friendly

wedding_hats_2139761b

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Giỏi thực hành và giỏi cả lý thuyết kinh tế

Ai cũng biết người Do Thái từ xưa đến nay đều rất giỏi làm kinh tế. Nếu không thì họ không thể nào tồn tại nổi trong suốt 2.000 năm bị trục xuất ra khỏi tổ quốc mình, phải sống lưu vong khắp thế giới, phần lớn đi tới đâu cũng bị hắt hủi, xua đuổi thậm chí hãm hại, tàn sát, bị cấm sở hữu bất cứ tài sản cố định nào như nhà đất, tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, nguyên vật liệu …). Cho tới năm 1948 dân tộc lưu vong này mới được Liên Hợp Quốc chỉ định cho một “mảnh đất cắm dùi” rộng 20.770 km2 – tức nước Israel hiện nay, nơi tập trung khoảng 43% trong tổng số 13,9 triệu người Do Thái trên toàn thế giới.

Israel nghèo tài nguyên, thiếu cả nước ngọt, lại luôn luôn sống trong tình trạng bất ổn do bị các nước A Rập xung quanh đe dọa chiến tranh, nhưng người dân nước này đã vượt qua mọi khó khăn xây dựng được một nền kinh tế phát triển. GDP bình quân đầu người năm 2014 đạt 32.700 USD, cao thứ 50 trên thế giới, là nước có mức sống cao ở vùng Trung Đông và châu Á.[1] 

Cộng đồng Do Thái ở Mỹ có 5,7 triệu người, chiếm 40% tổng số người Do Thái trên toàn thế giới, là quần thể dân tộc thiểu số thành công nhất, có mức sống bình quân cao hơn mức trung bình của dân Mỹ. Dù chỉ chiếm khoảng 1,7~2,6% số dân nước Mỹ (số liệu 2012; tùy định nghĩa thế nào là người Do Thái) nhưng người Do Thái chiếm khoảng một nửa số doanh nhân giàu nhất Mỹ. Họ nắm giữ phần lớn nền kinh tế tài chính nước này, tới mức người Mỹ có câu nói “Tiền nước Mỹ nằm trong túi người Do Thái”. Nhờ thế trên vấn đề Trung Đông chính phủ Mỹ xưa nay luôn bênh vực và viện trợ Israel những khoản tiền khổng lồ.[2]

Trong 50 người giàu nhất thế giới hiện nay do tạp chí Forbes đưa ra (3/2015) có tới 10 người Do Thái.[3] Đó là :

  • Larry Ellison, tài sản 54,2 tỷ USD, nhà sáng lập và CEO Oracle Corp., giàu thứ 3 nước Mỹ
  • Michael Bloomberg, 35,5 tỷ USD
  • Mark Zuckerberg, 33,4 tỷ USD, tỷ phú trẻ nhất thế giới (sinh 1984)
  • Sheldon Adelson, 32,4 tỷ USD, vua casino
  • Sergey Brin và Larry Page (29,2 và 29,7 tỷ USD), đồng sáng lập Google
  • George Soros, 24,2 tỷ USD, nhà đầu tư và từ thiện
  • Carl Icahn, 23,5 tỷ USD, nhà đầu tư và từ thiện
  • Len Blavatnik, 20,2 tỷ USD, người giàu nhất nước Anh (sinh tại Liên Xô cũ),
  • Michael Dell, nhà sáng lập Dell Computer Founder.

Rất nhiều nhà lý thuyết kinh tế hàng đầu thế giới là người Do Thái, các lý thuyết họ xây dựng nên đã ảnh hưởng to lớn nếu không nói là quyết định tới tiến trình tiến hóa của nhân loại:

  • Karl Marx[4] người xây dựng học thuyết kinh tế chủ nghĩa cộng sản sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản, được gọi là một trong hai người Do Thái làm đảo lộn cả thế giới (người kia là Jesus Christ);
  • Trong tổng số 74 chủ nhân giải Nobel kinh tế thời gian 1969-2014, có 22 là người Do Thái, chiếm tỷ lệ gần 30%, dù người Do Thái chỉ chiếm 0,19 % số dân toàn cầu. Chẳng hạn Paul Samuelson (1970), Milton Friedman (1976) và Paul Krugman (2008)… là những tên tuổi quen thuộc trong giới kinh tế thế giới hiện nay, các lý thuyết của họ được cả thế giới thừa nhận và học tập, áp dụng…
  • Từ năm 1987 tới nay có ba người Do Thái kế tiếp nhau làm Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed, tức Ngân hàng Trung ương Mỹ), cơ quan nắm quyền sinh sát trong giới tài chính Mỹ và thống trị lĩnh vực tài chính tiền tệ toàn cầu. Đó là ông Alan Greenspan 19 năm liền (2/1987-2/2006) được 4 đời Tổng thống Mỹ tín nhiệm cử vào chức vụ này. Tiếp sau là ông Ben Bernanke (nhiệm kỳ 2/2006-2/2014) và bà Janet Yellen (từ 2/2014 tới nay).
  • Paul Wolfowitz cùng người tiền nhiệm James D. Wolfensohn, hai cựu chủ tịch Ngân hàng Thế giới, tổ chức tài chính có tác dụng rất lớn đối với các nước đang phát triển, đều là người Do Thái.

Nhiều nhà giàu nổi tiếng thế giới từng tác động không nhỏ tới chính trị, kinh tế nước Mỹ và thế giới là người Do Thái. Đơn cử vài người:

  • Jacob Schiff (1847-1920), chủ nhà băng ở Đức, sau sang Mỹ định cư; năm 1904 do căm ghét chính quyền Sa Hoàng giết hại hàng trăm nghìn dân Do Thái ở Nga, ông đã cho chính phủ Nhật vay 200 triệu USD (một số tiền cực kỳ lớn hồi ấy) để xây dựng hải quân, nhờ đó Nhật thắng Nga trong trận hải chiến Nhật-Nga năm 1905. Nhớ ơn này, trong Thế chiến II phát xít Nhật đã không giết hại người Do Thái sống ở Trung Quốc, tuy đồng minh số một của Nhật là phát xít Đức có nhờ Nhật “làm hộ” chuyện ấy. Schiff là người nước ngoài đầu tiên được Nhật Hoàng Minh Trị tiếp kiến tại Hoàng cung Nhật.
  • George Soros, nổi tiếng về ý tưởng đầu tư và làm từ thiện quy mô lớn, từng làm chao đảo thị trường tài chính toàn cầu.
  • Michael Blooomberg, sáng lập và sở hữu 88% Bloomberg L.P., một công ty truyền thông về tin tức tài chính và dịch vụ thông tin. Blooomberg từng trúng cử liền 3 khóa thị trưởng thành phố New York (2002-2013) với mức lương tượng trưng mỗi năm 1 USD và là chủ kênh truyền hình Bloomberg nổi tiếng trong giới kinh tế thế giới.

Nguyên nhân sâu xa

Vì sao người Do Thái lại giỏi làm kinh tế, tài chính trên cả hai mặt lý thuyết và thực hành như vậy?

Lịch sử cho thấy yếu tố quyết định thành công của một dân tộc bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của họ.

Để tìm hiểu truyền thống văn hóa của dân tộc này có lẽ ta cần tìm hiểu các nguyên tắc chính của đạo Do Thái (Judaism), tôn giáo lâu đời nhất thế giới còn tồn tại tới ngày nay và là chất keo bền chắc gắn bó cộng đồng, khiến dân tộc này giữ gìn được nguyên vẹn nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa mặc dù phải sống phân tán, lưu vong và bị kỳ thị, xua đuổi, hãm hại, tàn sát dã man trong suốt 2.000 năm qua. Có thể nói, nếu không có chất keo ấy thì từ lâu dân tộc Do Thái đã bị tiêu diệt hoặc đồng hóa và biến mất khỏi lịch sử. Đạo Do Thái là tôn giáo duy nhất thành công trên cả hai mặt: giữ được sự tồn tại của dân tộc và hơn nữa đưa họ vươn lên hàng đầu thế giới trên hầu hết các lĩnh vực trí tuệ.

Muốn vậy, ta thử điểm qua vài nét về Kinh thánh của người Do Thái (Hebrew Bible) – hơn 10 thế kỷ sau kinh điển này được đạo Ki-tô lấy nguyên văn làm phần đầu Kinh Thánh của họ và gọi là Cựu Ước, nhằm phân biệt với Tân Ước do các nhà sáng lập Ki-tô giáo viết. Cũng cần xem xét một kinh điển nữa của đạo Do Thái là Kinh Talmud, quan trọng hơn cả Cựu Ước, có đưa ra nhiều nguyên tắc cụ thể cho tới nay vẫn còn giá trị về kinh doanh, buôn bán.

Trước hết người Do Thái có truyền thống coi kiến thức trí tuệ là thứ quý nhất của con người. Kinh Talmud viết: Tài sản có thể bị mất, chỉ có tri thức và trí tuệ thì mãi mãi không mất đi đâu được. Các ông bố bà mẹ Do Thái dạy con: Của cải, tiền bạc của chúng ta đều có thể bị kẻ khác tước đoạt nhưng kiến thức, trí tuệ trong đầu óc ta thì không ai có thể cướp nổi. Với phương châm đó, họ đặc biệt coi trọng việc giáo dục, dù khó khăn đến đâu cũng tìm cách cho con học hành. Ngoài ra họ chú trọng truyền cho nhau các kinh nghiệm làm ăn, không bao giờ giấu nghề. Người Do Thái có trình độ giáo dục tốt nhất trong các cộng đồng thiểu số ở Mỹ.

Thứ hai, đạo Do Thái đặc biệt coi trọng tài sản và tiền bạc. Đây là một điểm độc đáo khác hẳn quan điểm của đạo Ki-tô, đạo Phật, đạo Khổng, ta cần phân tích thêm.

Có lẽ sở hữu tài sản là một trong các vấn đề quan trọng nhất của đời sống loài người, là nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa con người với nhau và chiến tranh giữa các quốc gia. Hegel, đại diện nổi tiếng nhất của triết học cổ điển Đức từng nói: “Nhân quyền nói cho tới cùng là quyền về tài sản.” Rõ ràng, chỉ khi nào mọi người đều có tài sản, đều giàu có thì khi ấy mới có sự bình đẳng đích thực, toàn dân mới có nhân quyền. Một xã hội có phân hóa giàu nghèo thì chưa thể có bình đẳng thực sự. Đạo Do Thái rất chú trọng nguyên tắc làm cho mọi người cùng có tài sản, tiền bạc, cùng giàu có, tức cùng có nhân quyền và thực sự bình đẳng với nhau.

Triết gia Max Weber viết: “Đạo Ki-tô không làm tốt bằng đạo Do Thái, vì họ kết tội sự giàu có.” Quả vậy, Chúa Jesus từng nói: “Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Chúa” (Tân Ước, Mathew 19:24), ý nói ai giàu thì khó lên thiên đường, ai nghèo thì dễ lên thiên đường hơn – qua đó có thể suy ra đạo Ki-tô thân cận với người nghèo khổ, là tôn giáo của người nghèo. Khổng giáo và đạo Phật lại càng khinh thường tài sản, tiền bạc, coi nghèo là trong sạch, giàu là bẩn thỉu.

Ngược lại Cựu Ước ngay từ đầu đã viết: “Vàng ở xứ này rất quý” (Genesis 2:12). Ý tưởng quý vàng bạc, coi trọng tài sản vật chất đã ảnh hưởng lớn tới người Do Thái, họ đều muốn giàu có.

Khái niệm tài sản xuất hiện ngay từ cách đây hơn 3.000 năm khi vua Ai Cập bồi thường cho Abraham vị tổ phụ của bộ lạc Do Thái, khiến ông này “có rất nhiều súc vật, vàng bạc” (Genesis 13:2). Thượng Đế yêu cầu Abraham phải giàu để có cái mà thờ cúng Ngài.

Thượng Đế Jehovah cho rằng sự giàu có sẽ giúp chấm dứt nạn chém giết nhau. Khi Moses dẫn dân Do Thái đi khỏi Ai Cập cũng mang theo rất nhiều súc vật. Những người xuất thân gia đình giàu có hồi ấy như Jacob, Saul, David … đều được Cựu Ước ca ngợi là có nhiều phẩm chất tốt, lắm tài năng, lập được công trạng lớn cho cộng đồng dân tộc và đều trở thành lãnh đạo, vua chúa.

Ngược lại, văn hóa phương Đông thường ca ngợi phẩm chất của những người nghèo.

Trọng tiền bạc là đặc điểm nổi bật ở người Do Thái. Họ coi đó là phương tiện tốt nhất để bảo vệ mình và bảo vệ dân tộc họ. Quả vậy, không có tiền thì họ làm sao tồn tại nổi ở những quốc gia và địa phương họ sống nhờ ở đợ, nơi chính quyền và dân bản địa luôn chèn ép, gây khó khăn. Hoàn cảnh ấy khiến họ sáng tạo ra nhiều biện pháp làm giàu rất khôn ngoan. Thí dụ cửa hiệu cầm đồ và cho vay lãi là sáng tạo độc đáo của người Do Thái cổ đại – về sau gọi là hệ thống ngân hàng. Buôn bán cũng là một biện pháp tồn tại khi trong tay không có tài sản cố định nào.

Người ta nói dân Do Thái có hai bản năng: thứ nhất là bản năng kiếm tiền; thứ hai là bản năng làm cho tiền đẻ ra tiền – họ là cha đẻ của thuyết lưu thông tiền tệ ngày nay mà chúng ta đều áp dụng với quy mô lớn.

Tuy vậy, sự quá gắn bó với tiền bạc là một lý do khiến người Do Thái bị chê bai. Ai từng đọc tiểu thuyết Ai-van-hô (Ivanhoe) của Walter Scott chắc còn nhớ mãi hình ảnh ông lão Do Thái Isaac (I-sắc) đáng thương, bố của nàng Rebecca xinh đẹp và thánh thiện, lúc nào cũng khư khư giữ túi tiền và bị hiệp sĩ Đầu Bò nhạo báng khinh bỉ thậm tệ. Các vở kịch của Shakespear đưa ra nhiều hình ảnh khiến người ta có cảm giác người Do Thái bần tiện, ích kỷ, xảo trá. Tập quán cho vay lãi của người Do Thái bị nhiều nơi lên án. Hệ thống cửa hiệu của người Do Thái ở Đức là đối tượng bị bọn Quốc Xã Hitler đập phá đầu tiên hồi thập niên 1930. Người Đức có câu ngạn ngữ “Chẳng con dê nào không có râu, chẳng người Do Thái nào không có tiền để dành.”

Karl Marx xuất thân gia đình khá giả, vợ ông cũng là con nhà quý tộc, nhưng ông không coi trọng đồng tiền. Marx từng nói: Đồng tiền là con đĩ của loài người.[5] Trong bài viết “Về vấn đề Do Thái” công bố năm 1843, ông mạnh mẽ công kích dân tộc Do Thái: “Sự sùng bái cá nhân của người Do Thái là gì? Lừa đảo. Đức Chúa Trời của họ là gì? Tiền!”.[6] Ông cho rằng tiền bạc là vị thần gắn bó với người Do Thái; xóa bỏ chủ nghĩa tư bản sẽ kéo theo sự xóa bỏ chủ nghĩa Do Thái. Như vậy nghĩa là Marx đã thừa nhận người Do Thái tham dự sáng lập ra chủ nghĩa tư bản, một chế độ xã hội mới thay thế chế độ phong kiến và làm nên phần chủ yếu trong cộng đồng quốc tế hiện nay. Quả thật, người Do Thái có đóng góp rất lớn về lý thuyết và thực hành trong việc xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Kinh Talmud viết: Mọi người phải yêu Thượng Đế với toàn bộ trái tim, cuộc đời và của cải của mình; mỗi người đều phải quan tâm tới tài sản; không ai được phép dùng tài sản của mình để làm hại kẻ khác và không ai được trộm cắp tài sản người khác; tài sản của một người nhưng không phải chỉ là của người đó mà phải dùng nó để giúp kẻ khác … Có thể hiểu “Yêu Thượng Đế với toàn bộ tài sản của mình” nghĩa là phải sử dụng tài sản riêng của mình theo lệnh Thượng Đế, nghĩa là phải chia bớt cho người nghèo. Quy ước này đã đặt nền móng cho tư tưởng nhân ái, bình đẳng của văn minh phương Tây. Từ đó ta dễ hiểu vì sao cộng đồng Do Thái ở đâu cũng giúp đỡ nhau để tất cả cùng giàu lên, không có ai nghèo khổ.

Đạo Do Thái coi làm giàu là bổn phận nặng nề của con người; nói “nặng nề” vì người giàu có trách nhiệm to lớn đối với xã hội: họ không được bóc lột người nghèo mà phải chia một phần tài sản của mình để làm từ thiện. Những người Do Thái giàu có luôn sống rất giản dị, tiết kiệm và năng làm từ thiện. Soros từng góp 4 tỷ USD (trong tổng tài sản 7 tỷ khi ấy) cho công tác từ thiện. Không một nhà giàu Do Thái nào không có quỹ từ thiện của mình. Từ đây có thể hiểu được tại sao cộng đồng Do Thái lại cùng giàu có như thế.

Người Do Thái luôn nghĩ rằng Thượng Đế giao cho họ nghĩa vụ và quyền làm giàu. Đây là động lực chủ yếu khiến họ ở đâu cũng lo làm giàu, không bao giờ chịu nghèo khổ. Hai nghìn năm qua, dù sống lưu vong ăn nhờ ở đợ các quốc gia khác và ở đâu cũng bị cấm sở hữu mọi tài sản cố định nhưng dân tộc này vẫn nghĩ ra nhiều cách kinh doanh hữu hiệu bằng các dịch vụ như buôn bán, dành dụm tiền để cho vay lãi …

Muốn làm giàu, điều cơ bản là xã hội phải thừa nhận quyền tư hữu tài sản.

Kinh Talmud viết: Ai nói “Của tôi là của tôi, của anh là của anh” (mine is mine and yours is yours) thì là người bình thường (average); nói “Của tôi là của anh, của anh là của tôi” thì là kẻ ngu ngốc; nói “Của tôi là của anh và của anh là của anh” thì là ngoan đạo (godly); ai nói “Của anh là của tôi và của tôi là của tôi” là kẻ xấu (evil). Nghĩa là họ thừa nhận quyền tư hữu tài sản là chính đáng, không ai được xâm phạm tài sản của người khác.

Tuy thừa nhận quyền sở hữu tài sản và luật pháp bảo vệ quyền đó, nhưng đạo Do Thái không thừa nhận quyền sở hữu tài sản tuyệt đối và vô hạn, cho rằng tất cả của cải đều không thuộc về cá nhân mà thuộc về Thượng Đế, mọi người đều chỉ là kẻ quản lý hoặc kẻ được ủy thác của cải đó. Tài nguyên thiên nhiên do Thượng Đế tạo ra là để ban cho tất cả mọi người, không ai có quyền coi là của riêng mình. Đây là một quan niệm cực kỳ tiến bộ và có giá trị hiện thực cho tới ngày nay: tài nguyên thiên nhiên, sự giàu có của đất nước là tài sản của toàn dân, tuyệt đối không được coi là của một số nhóm lợi ích hoặc cá nhân.

Kinh Talmud viết nhiều quy tắc hữu dụng về kinh doanh. Chẳng hạn: – Vay một quả trứng, biến thành một trại ấp gà;  – Mất tiền chỉ là mất nửa đời người, mất lòng tin (tín dụng) là mất tất cả;  – Nghèo thì đáng sợ hơn 50 loại tai nạn;  – Giúp người thì sẽ làm tăng tài sản; ki bo chỉ làm nghèo đi;  – Chỉ lấy đi thứ gì đã trả đủ tiền cho người ta;  – Biết kiếm tiền thì phải biết tiêu tiền;  v.v…

So sánh Cựu Ước và Talmud với Tân Ước, có thể thấy đạo Do Thái là tôn giáo của người muốn làm giàu, còn đạo Ki-tô là tôn giáo của người nghèo. Khác biệt căn bản ấy là một trong các lý do khiến Giáo hội Ki-tô ngày xưa khinh ghét người Do Thái (hy vọng trong một dịp khác chúng tôi sẽ trình bày về vấn đề này).

Từ sự phân tích sơ qua về quan điểm đối với tài sản và tiền bạc nói trên, có thể thấy hệ thống tư tưởng của đạo Do Thái rất phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và chính vì thế nó tạo dựng nên truyền thống văn hóa bất hủ của dân tộc Do Thái – nền móng vững chắc làm cho dân tộc này dù phải sống lưu vong không tổ quốc hàng nghìn năm nhưng cuối cùng vẫn là dân tộc thành công nhất trên hầu hết các hoạt động của loài người.

Đồng thời các nguyên lý chính của đạo Do Thái đã tác động không nhỏ tới giáo lý đạo Ki-tô và đạo Islam; hai tôn giáo lớn này đều có nguồn gốc từ đạo Do Thái.

Cuối cùng, nhờ có những điểm độc đáo nói trên, văn minh Do Thái của phương Đông trong quá trình giao lưu kết hợp với văn minh Hy-lạp của phương Tây đã sinh ra một nền văn minh mới – văn minh Ki-tô giáo, cuối cùng trở thành nền văn minh phương Tây rực rỡ mấy nghìn năm nay. Có lẽ đây là thành tựu đáng kể nhất mà nền văn minh Hebrew đã đóng góp cho nhân loại. Điều đáng nói là, do các nguyên nhân lịch sử phức tạp, lâu nay người ta đã coi nhẹ nền văn minh ấy, và bây giờ đã đến lúc loài người nên xem lại quan điểm này./.

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.

Xem thêm: Giải mã sự thành công của Israel và người Do Thái

——————–

[1] Theo The CIA World Factbook.

[2] Tham khảo: http://www.wrmea.org/2013-october-november/congress-watch-a-conservative-estimate-of-total-u.s.-direct-aid-to-israel-more-than-$130-billion.html

[3] Theo http://www.timesofisrael.com/10-jews-in-forbes-top-50-billionaires/  March 3, 2015

[4] K. Marx là một trong hai lãnh tụ cộng sản người Do Thái phủ nhận nguồn gốc này của mình [người kia là Lev Davidovich Trotsky, tức Лев Давидович Троцький, 1879-1940, lãnh tụ Đảng Cộng sản Bôn-sê-vich Nga]. Cha và mẹ Marx đều là người Do Thái. Cha ông có nguồn gốc nhiều đời là giáo sĩ Do thái, về sau đã cải đạo sang Tin Lành vì nếu không sẽ không được hành nghề luật sư (ở nước Phổ).

[5] Theo http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/con-di-cua-nhan-loai-da-ngu-tri-trai-dat-ra-sao

[6] Theo http://nghiencuuquocte.net/2014/05/20/marx-chong-lai-chu-nghia-tu-ban-p1/

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/10/12/vi-sao-nguoi-do-thai-gioi-lam-kinh-te/#sthash.Qx5fzjiK.dpuf

Ấn Độ giáo

Gandhi: the mortal demi-god

Người ta tôn sùng Gandhi như một vị thánh, tuy nhiên con người đa diện của ông chưa được biến đến rộng rãi. Tất cả được mô tả trong cuốn tiểu sử gây tranh cãi gần đây về Gandhi của Joseph Lelyveld, tác giả từng đoạt giải Pulitzer

Joseph Lelyveld đã viết một cuốn sách đáng ngưỡng mộ về Mohandas Gandhi, người được công nhận đã dẫn dắt Ấn Độ đến độc lập từ Anh năm 1947. Nó cũng đem đến độc giả đầy đủ thông tin để nhận thức rằng ông là một người lập dị tính dục, không có năng lực chính trị, và có những sở thích cuồng nhiệt kỳ cục (vì thế ông thường xuyên thẳng thừng nghiệt ngã với những người xung quanh).

Trong phong trào Swaraj (Tự trị) mà Gandhi thực hiện suốt đời, Ấn Độ có thể đã độc lập sớm hơn nhiều năm nếu ông không liên tiếp từ bỏ chiến dịch bất tuân lệnh dân sự ngay khi nó bắt đầu thành công. Với 300 triệu dân bị nhúm nhỏ người Anh (0,1% số đó) cai trị, tiểu lục địa đã có thể kết thúc ách đô hộ với chỉ một cái nhún vai nếu đạt được sự thống nhất chính trị. Tuy nhiên, việc không ngại ngần chọc tức và làm nhà lãnh đạo 90 triệu dân Hồi giáo Ấn Độ Muhammad Ali Jinnah (người ông gọi là “gàn dở”) thất vọng – đã phá nát bất cứ hy vọng sớm giành độc lập nào. Ông xa lánh B. R. Ambedkar, người đại diện cho 55 triệu dân thuộc tầng lớp thấp nhất ở Ấn Độ (Candala – tiếng Anh gọi là Untouchables, tiện dân, họ bị xã hội khinh rẻ và không được chạm vào bốn đẳng cấp trên, kể cả cái bóng của bốn đẳng cấp trên cũng không được giẫm đạp lên). Ambedkar gọi Gandhi là “thủ đoạn và bất tín”. Từ 1900 đến 1922, Gandhi chấm dứt những nỗ lực của ông không ít hơn ba lần, bỏ rơi hơn 15.000 người ủng hộ, những người vì đại nghĩa đã bị giam cầm.

Là một người không ngừng tự khuếch trương bản thân, Gandhi đưa ra bộ tiểu sử thần thánh đầy đủ đầu tiên về mình để gửi tới mọi người và đảm bảo sẽ tái bản. Chúng ta chưa thể rõ liệu ông có thực sự tạo ra mọi chi tiết về mình hay không, vì theo Lelyveld, Gandhi khăng khăng rằng đám nhà báo sắp xếp “những từ ngữ không phải từ miệng ông mà là bản ông cho phép in sau khi chỉnh sửa rất nhiều”.

Chúng ta đều biết chắc rằng ông khuyên người Séc và Do Thái lựa chọn bất bạo động với phát xít Đức, ông nói “một người Do Thái đứng lên và từ chối tuân theo các sắc lệnh của Hitler” là đủ để “làm trái tim hắn tan chảy”. (Bất bạo động, theo quan điểm của Gandhi, cũng có thể có tác dụng trong trường hợp người Trung Quốc chống phát xít Nhật). Mở đầu bức thư gửi Adolf Hitler với lời chào “Anh bạn của tôi”, Gandhi tự cao hỏi: “Anh có lắng nghe lời kêu gọi của một người dứt khoát tránh xa chiến tranh mà không phải là không có thành công đáng kể?” Ông khuyên người Do Thái ở Palestine “dựa vào thiện chí của người Ả rập” và chờ đợi một nhà nước Do Thái “đến khi ý kiến người Ả rập chín muồi”.

Tháng 8.1942, khi phát xít Nhật đang ở cửa ngõ Ấn Độ và đã chiếm gần hết Miến Điện, Gandhi phát động một phong trào nhằm cản trở nỗ lực chiến tranh và bắt người Anh “rời Ấn Độ”. Nếu chế độ diệt chủng Nhật Bản nắm được đông bắc Ấn Độ, và chắc chắn làm được nếu không có quân Anh ngăn chặn, hậu quả đối với nhân dân Ấn Độ đã rất thảm khốc. Không dưới 17% dân số Philippines thiệt mạng dưới ách đô hộ Nhật Bản, và không có lý do gì để nói Ấn Độ sẽ rơi vào tình trạng tốt hơn. May mắn là thống chế Lord Wavell đã giam giữ Gandhi và 60.000 người ủng hộ và tiếp tục chiến tranh với Nhật.

Dù chủ nghĩa bất bạo động của Gandhi khiến ông trở thành biểu tượng cho phong trào dân quyền Hoa Kỳ, Lelyveld cho thấy ông kiên quyết phân biệt chủng tộc với người da đen ở Nam Phi. “Chúng tôi bị dẫn tới một nhà tù được dành cho người da đen” (nguyên văn: Kaffir – một từ mang tính phân biệt chủng tộc nặng nề với người da đen Nam Phi), Gandhi phàn nàn trong một trong những chiến dịch vận động cho quyền lợi của người Ấn Độ sinh sống ở đó. “Có thể hiểu được khi không được xếp chung với người da trắng, nhưng bị đặt ngang hàng với người da đen thì thật là quá quắt. Họ (Kaffir) là chủng tộc chưa được khai hóa – những người tù thậm chí còn tệ hơn thế nhiều. Họ thật rắc rối, bẩn thỉu và sống như động vật.”

Trong một bức thư ngỏ gửi đến cơ quan lập pháp tỉnh Natal ở Nam Phi, Gandhi viết về cách “người Ấn Độ bị dìm xuống đẳng cấp của người da đen mọi rợ”, sau đó ông nói về một người da đen nào đó “với nghề nghiệp là săn bắn, khát vọng duy nhất là thu lượm một vài gia súc để mua một cô vợ, và sống cuộc đời biếng nhác và trần truồng”. Về người da trắng Nam Phi và người Ấn Độ, ông viết: “Chúng tôi tin vào sự thuần khiết của những giống nòi này như họ vốn vậy”. Đó cũng có thể là lý do ông không cho phép con trai Manilal lấy cô gái Hồi giáo Fatima Gool, mặc dù chính ông cổ súy sự thống nhất Hồi giáo – Hindu.

Quan niệm xấu về sự trần truồng của Gandhi thật mỉa mai thay, khi ông ở độ tuổi bảy mươi và sắp dẫn dắt Ấn Độ đến độc lập, lại khuyến khích cô chắt họ mười bảy tuổi Manu lõa thể “âu yếm hàng đêm” với ông. Sau khi sa thải vài thành viên trung thành lâu năm trong đội tùy tùng 100 người, những người có thể bất đồng với hành vi tâm linh trên, ông bắt đầu ngủ lõa thể với Manu và những phụ nữ trẻ khác. Một lần ông nói với một phụ nữ: “Bất chấp mọi nỗ lực, bộ phận của tôi vẫn bị kích thích. Thật kỳ lạ và đáng xấu hổ.”

Nhưng ông cũng có thể tàn nhẫn với Manu, một lần ông bắt cô đi qua một khu rừng rậm hay xảy ra hiếp dâm để lấy lại một viên đá bọt mà ông hay dùng để cọ chân. Khi cô trở lại trong nước mắt, Gandhi phá lên cười và nói: “ Nếu có tên côn đồ nào đó mang cháu đi và cháu dũng cảm đối mặt với cái chết, thì con tim ta sẽ nhảy nhót vì sung sướng.”

Giống như Lelyveld đã làm quá rõ, bộ phận của Gandhi có thể chỉ hiếm khi bị kích thích vì những cô gái trẻ trần truồng, vì tình yêu của đời ông là kiến trúc sư kiêm lực sỹ Đức gốc Do Thái, Hermann Kallenbach, người khiến ông bỏ vợ năm 1908. Ông viết cho Kallenbach: “ông đã hoàn toàn chiếm giữ thân thể tôi, đây là kiếp nô lệ với một sự báo thù”. Gandhi gọi mình là “Nhà trên” và Kallenbach là “Nhà dưới”, và ông hứa với “Nhà dưới” sẽ không “nhìn bất cứ phụ nữ nào với ánh mắt thèm khát”. Cà hai đều hứa “yêu nhiều, và nhiều hơn nữa… tình yêu mà họ hy vọng thế giới chưa từng có”.

Họ chia tay khi Gandhi trở về Ấn Độ năm 1914, vì kiến trúc sư người Đức không được phép đến Ấn Độ trong thời chiến – dù vậy Gandhi không bao giờ từ bỏ giấc mơ gặp lại ông ta, Gandhi viết “ông luôn luôn trong tâm trí tôi”. Về sau, ở trong tu viện, Gandhi nói: “Tôi không thể hình dung ra một thứ xấu xí như giao phối giữa nam và nữ”.

Trong tiểu luận Hind Swaraj (Độc lập của Ấn Độ), Gandhi kịch liệt phản đối luật sư, đường sắt, và chính trị nghị trường, mặc dù ông đã là một luật sư chuyên nghiệp thường xuyên di chuyển bằng tàu hỏa để đến các cuộc họp tranh luận cho chính phủ riêng của Ấn Độ. Sau khi thề không dùng sữa vì nó chứa các thành phần kích dục, ông mắc bệnh trĩ, vì thế ông cho rằng ông chỉ thề bỏ sữa bò, chứ không phải sữa dê (Gandhi về cuối đời bắt đầu uống sữa dê theo lời khuyên của bác sỹ). Sự chống đối hoàn toàn của ông với kiểm soát sinh đẻ trừ kiêng khem tình dục, ở một đất nước ngày nay có ngày càng nhiều người sống với dưới 1,25 đô la một ngày so với thời của ông, còn nguy hiểm hơn.

Ông nói về những người Hồi giáo chịu trách nhiệm trước những cuộc thảm sát hàng ngàn người Hindu ở Đông Bengal năm 1946 rằng Hồi giáo “là một tôn giáo hòa bình”. Với một người Hindu hỏi ông rằng làm sao những người đồng đạo lại có thể trở về những ngôi làng mà ở đó tôn giáo của họ đã bị quét sạch, Gandhi vô tư đáp: “Tôi không thấy phiền nếu một gia đình hay tất cả 500 gia đình trong khu vực của ông bị giết”. Điều có ý nghĩa với ông là phương châm bất bạo động. Dù sao, như ông nói với một tín đồ Bà La Môn chính giáo, ông tin vào hồi sinh.

Sự ủng hộ của Gandhi với chính quyền Hồi giáo (Caliphate) trong những năm 1920 (vì nó mà ông nói “sẵn sàng hy sinh vợ, con gái, và bạn bè”) – theo như Lelyveld cho thấy, chỉ là một cuộc vận động định kỳ để giữ chân Liên đoàn Hồi giáo trong liên minh của ông càng lâu càng tốt. Khi chiến dịch vì sự thống nhất thất bại, ông đổ lỗi cho thế lực tối cao, năm 1927: “Tôi quần quật vì nó, tôi hành xác cho nó, nhưng ông trời không hài lòng. Ông trời không muốn tôi có được thành quả nào từ công việc.”

Gandhi sẵn lòng đứng lên vì tầng lớp tiện dân Candala, nhưng không phải ở khoảnh khắc sống còn khi họ đòi quyền cầu nguyện trong đền thờ năm 1924-1925. Ông e ngại sẽ làm các tầng lớp Hindu cao cấp xa lánh. “Liệu bạn có dạy Kinh phúc âm cho một con bò?”, “Ồ, vài Candala còn tệ hơn cả bò theo cách hiểu của họ.”

Mùa Ăn Chay Lớn đầu tiên của Gandhi – được thực hiện năm 1932 bất chấp niềm tin của ông rằng nạn đói là “hình thức áp bức tệ hại nhất, điều cản trở những nguyên tắc cơ bản của bất bạo động” – nhằm ngăn cản những người Candala không có ghế trong bất kỳ chính phủ Ấn Độ tương lai nào. Ông nói đó là “tôn giáo, không phải một câu hỏi chính trị”, và không chấp nhận tranh luận về vấn đề này. Ông cũng khẳng định ở đâu đó rằng “sự thủ tiêu tình trạng phân biệt với đẳng cấp Candala không bao gồm việc các đẳng cấp cao Hindu phải dùng chung bữa với những người từng thuộc Candala”. Trong những cuộc mít tinh lớn chống lại tình trạng phân biệt trong những năm 1930, với hàng chục ngàn người tham dự, bản thân những người Candala bị giữ ở những bãi rào kín cách xa các tầng lớp Hindu.

Đương nhiên, bất cứ phong trào liên minh nào cũng dính líu ở một mức độ nhất định về tính thỏa hiệp và đạo đức giả. Nhưng hình ảnh thần thánh của Gandhi, cái chết của ông vì tay một kẻ cuồng tín theo đạo Hindu năm 1948, và sự lựa chọn hình ảnh Gandhi của Martin Luther King Jr. làm hình mẫu cho phong trào dân quyền Hoa Kỳ đã bảo vệ ông khỏi những soi xét chỉ trích. Nhà văn Pháp Romain Rolland gọi Gandhi là “một á thần không bất tử” năm 1924 trong một “tiểu sử các vị thánh”, tóm lược tinh thần của tất cả các bài viết về ông. Người ta thường lấy những hạt cát bám vào chân của Gandhi như thánh tích, và các nhà tiểu sử học hiện đại cũng có vẻ tôn kính ông như thế. Lelyveld không là ngoại lệ, ông bào chữa cầu kỳ cho Gandhi qua từng giai đoạn của cuốn sách được nghiên cứu kỹ và diễn giải rất tốt này.

Bốn chiến dịch lớn của đời Gandhi: thống nhất Hồi giáo – Hindu, chống nhập khẩu vải sợi Anh, chấm dứt phân biệt đẳng cấp Candala, và đuổi người Anh khỏi tiểu lục địa – chỉ có điều cuối cùng thành công, đơn giản chỉ vì Đế chế Anh đã gần sụp đổ – lúc đó lãnh đạo bởi Clement Attlee, người vốn chống chủ nghĩa thực dân – và dù sao đi nữa cũng thực sự muốn rời bỏ Ấn Độ sau Thế chiến mệt mỏi.

Không phải là một kỷ lục cho ai đó, người được dành cho “quyền quyết định duy nhất” ở Đảng Quốc Đại Ấn Độ từ tháng 12.1921, nhưng không như các chính trị gia khác, Gandhi không thể bị đánh giá bởi kết quả thực tế, vì ông là “Linh hồn Vĩ đại” (Mahatma tiếng Hindi nghĩa là Linh hồn Vĩ đại, cái tên do nhà thơ R. Tagore đặt cho ông).

https://hoangduongnt.wordpress.com/2011/04/28/gandhi-the-mortal-demi-god/