Browsing Category

Film studies

Akira Kurosawa Film studies

“Samurai thượng thừa” của điện ảnh Nhật Bản

VCC 

Tài năng của Akira Kurosawa được bộc lộ rõ nét nhất ở thể loại phim về các võ sĩ đạo (Samurai) với hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng như Rashomon (La Sinh Môn), Seven Samurai (Bảy võ sĩ), Ran (Lãnh Chúa Hidetora Ran), Throne of Blood (Ngai vàng đẫm máu), Yojimbo (Vệ sĩ). Ông cũng là người đã đưa điện ảnh Nhật Bản đến với công chúng phương Tây. Giống như “gã lập dị” Woody Allen, vị đạo diễn đáng kính không thích nói về bộ phim của mình sau khi đã hoàn thành. “Nếu những gì tôi nói trong phim là thật, mọi người sẽ hiểu”, ông giải thích. Tuy nhiên, ông lại rất thích nói về quá trình làm phim, điều này được Akira Kurosawa đề cập trong cuốn hồi ký của mình.
Như một người thợ thủ công cẩn thận và chu đáo, Akira Kurosawa luôn biết cách làm cho bộ phim của mình hấp dẫn từ đầu đến cuối. Ông luôn tin rằng một nhà biên kịch tốt là điều tiên quyết để trở thành một nhà làm phim thành công. “Với một kịch bản tốt, một đạo diễn có tài sẽ tạo nên một kiệt tác. Cùng kịch bản ấy, đạo diễn xoàng có thể làm ra một bộ phim khá. Nhưng với một kịch bản kém, kể cả là một đạo diễn tài năng nhúng tay vào cũng không cách nào làm cho bộ phim thuyết phục và thú vị”, Akira Kurosawa nói . Cũng theo người hùng của điện ảnh châu Á, một đạo diễn phải biết tất cả mọi thứ về phim ảnh, quá trình và ý tưởng làm phim của các đàn anh mẫu mực. Và kịch bản, như một hạt giống tốt hứa hẹn mùa màng nảy nở, bội thu. Đây là yếu tố để phân biệt các đạo diễn lớn với các đạo diễn xoàng. Chính vì thế, Akira Kurosawa luôn tự tay vật lộn với các trang kịch bản để có thể nắm được cả phần xác và phần hồn của tác phẩm điện ảnh.
“Samurai thượng thừa” của điện ảnh Nhật Bản 1
Như một người thợ thủ công cẩn thận và chu đáo, Akira Kurosawa luôn biết cách làm cho bộ phim của mình hấp dẫn từ đầu đến cuối

Vẫn chưa thỏa mãn với bản thân, Akira Kurosawa liên tục tìm cách thâm nhập vào đời sống, nắm bắt những khoảnh khắc sống động nhất của thế giới. Vị đạo diễn bậc thầy luôn kè kè một cuốn sổ ghi chép để có thể ghi và đọc những ý tưởng bất cứ nơi đâu. Thời gian còn là một trợ lý đạo diễn, ông đã luôn kỷ luật bản thân ít nhất phải viết được 1 trang kịch bản mỗi ngày. Và bao giờ cũng vậy, Akira Kurosawa luôn phá kỷ lục khi viết được tới 2 – 3 trang mỗi ngày. Với ông, viết kịch bản cũng giống như sáng tác một bản giao hưởng, câu chuyện cần tới 3 – 4 đoạn chuyển tiếp với nhịp độ khác nhau.
Điểm đặc biệt trong phong cách làm phim của Akira Kurosawa là ở chỗ ông ít coi trọng đối thoại trong các tác phẩm điện ảnh. Theo ông, máy quay, ánh sáng, các chỉnh sửa và nhất là biểu cảm, chuyển động của các diễn viên sẽ thể hiện tốt hơn lời nói thông thường. Từ khi còn trẻ, Akira Kurosawa đã yêu thích phong cách phim câm nên khi đã trở thành một nhà làm phim thực thụ, ông hạn chế đối thoại để tạo điều kiện cho các phương thức biểu hiện khác lên ngôi. Với Akira Kurosawa, đối thoại không phải là chiếc thang bắc tới mục đích. Ngay khi đang hoàn thiện kịch bản, ý tưởng về âm nhạc, hiệu ứng âm thanh cũng đã xuất hiện trong đầu Akira Kurosawa, điều mà không phải người thường nào cũng làm được.
“Samurai thượng thừa” của điện ảnh Nhật Bản 2
Seven Samurai và Rashomon là hai tác phẩm nổi bật trong sự nghiệp của Akira Kurosawa

Coi trọng kịch bản nhưng Akira Kurosawa cũng là một nhà làm phim có tư tưởng rất rộng mở. Những năm 1940, ông mời thêm hai nhà biên kịch làm việc nhóm với mình nhằm tạo ra sự phong phú, đa dạng cho kịch bản. Những năm sau đó, vị đạo diễn xuất chúng rời rời Tokyo sau khi hoàn thành một bộ phim. Về nhà hoặc tìm một quán trọ ở Kyoto, nơi không bị quấy rầy, ông thư giãn và tiếp tục viết một kịch bản mới trong vài tuần kế tiếp. Ông thường thức dậy sớm, ăn sáng, sau đó quay về phòng và viết cho tới 6 giờ tối.
Là một nhà làm phim có tư tưởng hết sức hiện đại, Akira Kurosawa không cho phép quá lạm dụng quan điểm cá nhân vào một tác phẩm điện ảnh. Điều này thể hiện rất rõ ở bộ phim nổi tiếng Seven Samurai. Ông chỉnh sửa các phân đoạn ngay trong quá trình làm phim, nhờ đó sản phẩm cuối cùng gần như đã được trau chuốt, gần như hoàn chỉnh.
“Samurai thượng thừa” của điện ảnh Nhật Bản 3
“Samurai thượng thừa của điện ảnh Nhật Bản”

Như những nhà làm phim lâu năm khác, Akira Kurosawa cũng phải đối mặt với những giai đoạn thua lỗ, khó khăn về tài chính. Đỉnh điểm là vào những năm 1965, khi bộ phim Dodeskaden thất bại, Akira Kurosawa đồng thời đánh mất tình bạn lâu năm với diễn viên Toshiro Mifune. Nhà làm phim xuất chúng đã lâm vào tình trạng nghiện rượu và trầm cảm. Ông trở nên khép kín và chỉ làm việc với vài cộng sự thân cận. Sau đó, cuộc hợp tác làm phim với Hollywood thất bại do khác biệt về quan điểm nghệ thuật khiến Akira Kurosawa đi tới cùng quẫn, tự tử nhưng may mắn sống sót. Tuy nhiên, ông luôn giữ vững vị trí “Hoàng đế của điện ảnh Nhật Bản”, luôn “chiến đấu” đến tận cùng với những khó khăn trong việc làm phim bằng cả sự khó tính, cầu toàn và chuyên nghiệp của bản thân. Cuối cùng, khi bộ phim Derzsu Uzala (Thợ săn)giành được giải Oscar cho phim nước ngoài hay nhất, được đà, Akira Kurosawa đã liên tiếp thực hiện hàng loạt bộ phim hay nhất trong sự nghiệp của ông.
Dường như làm phim là toàn bộ ý nghĩa cuộc đời của “Samurai thượng thừa của điện ảnh Nhật Bản”, Akira Kurosawa, như những cuộc chinh phạt là lý tưởng sự nghiệp của những chiến lược gia quân sự vĩ đại trong lịch sử. LHP quốc tế Tokyo hàng năm đã dành một giải thưởng mang tên Akira Kurosawa trao cho những nhân vật điện ảnh có phong cách sáng tạo cùng với những bộ phim đậm tính người và có tinh thần giải trí. Đạo diễn Trung Quốc, Trần Khải Ca và đạo diễn Nga, Nikita Mikhalov là những nhân vật từng có vinh dự nhận giải thưởng danh dự này.
http://www.baomoi.com/Samurai-thuong-thua-cua-dien-anh-Nhat-Ban/c/12526509.epi
Akira Kurosawa Film studies Văn học & Điện ảnh Văn học Anh

Throne Of Blood (1957) – Akira Kurosawa

Throne Of Blood (1957) pt. 1

Throne Of Blood (1957) pt. 2

Throne of Blood

From Wikipedia, the free encyclopedia
Throne of Blood
蜘蛛巣城
Throne of Blood Japanese 1957 poster.jpg

Original Japanese poster
Directed by Akira Kurosawa
Produced by Sōjirō Motoki
Akira Kurosawa
Screenplay by Shinobu Hashimoto
Ryûzô Kikushima
Akira Kurosawa
Hideo Oguni
Based on Macbeth
by William Shakespeare(uncredited)
Starring Toshiro Mifune
Isuzu Yamada
Takashi Shimura
Music by Masaru Sato
Cinematography Asakazu Nakai
Edited by Akira Kurosawa
Production
company
Toho Studios
Distributed by Toho
Release dates
  • 15 January 1957 (Japan)
Running time
110 min
Country Japan
Language Japanese

Throne of Blood (蜘蛛巣城 Kumonosu-jō?, literally, “Spider Web Castle”) is a 1957 Japanese film directed by Akira Kurosawa. The film transposes the plot of William Shakespeare’s play Macbeth to feudal Japan, with stylistic elements drawn from Noh drama.

Akira Kurosawa Film studies

AKIRA KUROSAWA – HOÀNG ĐẾ ĐIỆN ẢNH NHẬT


(Viết nhân 100 năm ngày sinh của Akira Kurosawa)

“Ở Nhật Bản người ta toàn hỏi tôi những câu vô nghĩa. Tôi không trả lời” – Akira Kurosawa kể. Vì tính bướng bỉnh và thái độ không nhân nhượng mà Kurosawa có biệt danh là “Hoàng đế”.

Ông là người con thứ bảy (con út) trong gia đình có cha là võ sĩ samurai. Từ bé ông đã theo cha học võ. Nhưng ông đã “phản bội” cha để đi theo một con đường khác – điện ảnh. Người anh cả của ông là Heigo cũng không thực hiện được hy vọng của cha về theo đuổi con đường binh nghiệp. Năm 27 tuổi, anh cùng người bạn gái bỏ vào núi và cả hai đã quyên sinh tại đó.

Sự nghiệp điện ảnh của Kurosawa bắt đầu sau khi ông giành phần thắng trong một cuộc thi và trở thành trợ lý đạo diễn tại hãng phim “Toho”. Bộ phim ông làm từ đầu đến cuối có tên là “Huyền thoại judo” (Sanshiro Sugata) được công chiếu rộng rãi năm 1943. Nhưng Kurosawa không coi đó là tác phẩm đầu tay, bởi ông luôn tự tin rằng mình là đạo diễn giỏi nghề. Ở tuổi 33, ông tự mình đi một con đường trong điện ảnh và đặt ra những quy chuẩn của riêng mình. “Đừng nói nhiều”, – Kurosawa thường nói với các đồng nghiệp như vậy.

Kurosawa là đạo diễn kiệt xuất. Bởi vì để đem đến cho khán giả thứ điện ảnh trung thực, cần phải quay cái mà anh muốn, chứ không nên quay cái mà vì thứ đó người ta trả tiền. “Tôi không thể lừa dối khán giả vì tiền” – ông nói. Người Nhật thích thưởng ngoạn những khoảnh khắc. Vì vậy, ông chăm chút từng chi tiết để gây ấn tượng mạnh. Trong cảnh cuối của phim “Ngai vàng đẫm máu”(Throne of Blood) ông đã cho bắn diễn viên Toshirō Mifune bằng mũi tên thật từ khoảng cách rất gần. Độ an toàn của diễn viên phụ thuộc hoàn toàn vào sự thiện nghệ của người bắn tên. Còn trong phim “Ran” ông đã cho xây dựng một lâu đài thật trên núi Phú Sĩ. Chỉ để đốt cho hiệu quả thật của cảnh quay.

Để diễn viên quen với phục trang, ông bắt họ phải mặc trang phục đó mấy ngày trước khi quay. Để quay cảnh có thời tiết khác biệt, ông sẵn sàng chờ hàng tuần, thậm chí hàng tháng. Các thành viên trong đoàn làm phim của ông đều biết rõ rằng: nếu Kurosawa chỉ bắt diễn viên quay lại một lần, điều đó có nghĩa là ông không thích cảnh đó và không quan tâm đến nó nữa.

7 võ sĩ samurai

Mở hãng phim của chính mình “Kurosawa Production”, ông có thể sáng tạo tương đối độc lập. Tất cả các bộ phim của ông đều giành được những giải thưởng danh giá ở nước ngoài trong khi ở trong nước bị các nhà phê bình điện ảnh Nhật Bản đánh cho tơi tả. Ông thường thiếu tiền, vì vậy đã đồng ý cộng tác với Hollywood. Ở tuổi 50, ông cao lớn, ăn mặc trẻ trung và sang trọng. Chính vì điều đó mà các ông bầu phim Mỹ trông đợi ở ông phép màu lạ lẫm từ đất nước Phù Tang có thể đổi gu cho nền điện ảnh của họ. Nhưng họ không biết rằng Hoàng đế đang đến với họ.

Năm 1966 ông đồng ý dựng bộ phim “Chuyền tàu-kẻ đào tẩu” cùng một dàn sao Mỹ. Nhưng ông không thể tìm được tiếng nói chung với các nhà sản xuất. Ông muốn dựng một bộ phim triết lý sâu sắc, nhưng họ lại đề nghị ông phải có vài cảnh phụ nữ khỏa thân. Không những thế, tính thực dụng và hệ thống hợp đồng nghiệt ngã của điện ảnh Mỹ đã khiến ông phải chào thua. Kurosawa không thể hiểu tại sao người ta có thể cho ra đời tác phẩm nghệ thuật trong những điều kiện như thế. Người Mỹ lại cho rằng ông bị trầm cảm và buộc ông phải đến trị liệu ở ba bác sĩ thần kinh. Cuộc xung đột chấm dứt với việc hủy bỏ hợp đồng.

Trở về Nhật Bản, Kurosawa buộc phải bán nhà để bắt đầu từ con số không. Đó là giai đoạn đen tối trong cuộc đời ông. Và vào một ngày tháng 12.1971, ông đã tự tay cắt ven. Nhưng rõ ràng là số phận chưa bắt ông phải chết. Ông được cứu thoát từ cái bồn tắm đầy nước. Kurosawa buộc phải sống thêm gần 30 năm nữa.

Ông đành phải kiếm tiền bằng cách quay phim quảng cáo cho rượu wisky Nhật Bản. Ông làm việc đó song song với cuốn phim lịch sử sau này trở thành tác phẩm kinh điển của điện ảnh thế giới “Kagemusha”. “Không ai chi tiền cho tôi. Tất cả đều nói phim lịch sử thì ai quan tâm. Tôi quay “Kagemusha” để chứng minh sự thật không phải như vậy”, – Kurosawa nói.

Và ông đã chứng minh được điều đó. 12 năm sau vụ tự sát bất thành, ông đã xây dựng hãng phim “Kurosawa Film” ở Yokohama. Năm 1990, thế giới được xem bộ phim “Những giấc mơ của Akira Kurosawa” (Dreams) với 8 đoạn về tư duy và thế giới quan của ông, về cuộc sống, cái chết, sáng tạo và bản chất con người. Đạo diễn lừng danh Hollywood Steven Spielberg là giám đốc sản xuất của phim.

Bộ phim cuối cùng của ông “Vẫn chưa” (Madadayo) ra mắt tháng 4.1993. Vị giáo sư già cùng các học trò của mình lúc thì thưởng ngoạn rượu sake, lúc thì phân tích những giọt nước mưa. Bên ngoài cánh cửa chiến tranh đến, rồi đi qua mà không ai phát hiện ra. Ông giáo già và vợ phát hiện ra những điều khác, mà theo họ thì quan trọng hơn: những chiếc mộc nhĩ trên thân cây, cái nắng mùa hè, những cụm lá vàng và đỏ nhuốm tuyết trước cửa nhà.

Tên của bộ phim lấy từ một câu thoại: “Ông đã sẵn sàng sang thế giới bên kia chưa?”, “Chưa, vẫn chưa!”

Kurosawa tự cho mình giống công tước Myshkin trong tác phẩm “Chàng ngốc” của đại văn hào Nga Fedor Dostoevsky. “Tôi thường đọc đi đọc lại sách của Dostoevsky. Không ai có khả năng viết về con người, tâm lý và số phận của con người hay như thế. Nhờ ông mà tôi hiểu cuộc sống” – Kurosawa kể. Ông cho rằng để viết kịch bản, cần phải học thuộc những cuốn tiểu thuyết và những vở kịch của các tác giả khác: “Tôi muốn hiểu những tình cảm làm tâm hồn tôi xao động bắt nguồn từ đâu?”

“Chàng ngốc”

Bộ phim mà ông hài lòng nhất chính là chuyển thể tiểu thuyết “Chàng ngốc” (The Idiot). Kurosawa chuyển bối cảnh bộ phim sang Nhật Bản thời hậu Chiến tranh Thế giới II, ở Hokkaido. Các nhân vật đều mang tên Nhật. Giới phê bình điện ảnh thế giới cho rằng đây là bộ phim chuyển thể hay nhất và trung thực nhất tác phẩm của Dostoevsky.

Nhưng giới phê bình điện ảnh Nhật Bản đầu thập niên 1950 lại không đánh giá cao bộ phim. Họ cho rằng nó không đảm bảo các tiêu chuẩn của một bi kịch cổ điển Nhật Bản. Làm xong bộ phim này, Kurosawa buộc phải rời khỏi hãng phim “Sekino”. “Nhưng dù thế nào thì đây vẫn là bộ phim hay nhất của tôi. Tôi biết chính xác như vậy. Tôi đã nghiền ngẫm nó rất lâu và dồn vào đó mọi kinh nghiệm đạo diễn. Có lẽ tôi thích “Chàng ngốc” bởi vì tôi giống nhân vật chính của tiểu thuyết – công tước Myshkin” – Kurosawa nói.

Tiểu sử
1910, 23.3: Akira Kurosawa chào đời ở ngoại ô Tokyo.
1936: Trở thành trợ lý cho đạo diễn K. Yamamoto. 7 năm sau, ông dựng bộ phim đầu tiên “Huyền thoại judo”.
1944: Nữ diễn viên Yoko Yaguchi (1921-1985) đóng trong bộ phim “Đẹp nhất”. Hai người kết hôn ngày 21.5.1945. Họ có hai con: con gái Kazuko và con trai Hisao. Hisao sau này trở thành nhà sản xuất và làm việc cùng cha.
1948: Làm quen với đạo diễn Toshiro Mifune. Ông này về sau đóng hầu hết các phim của Kurosawa. Hai người cùng làm bộ phim “Thiên thần say”. Ba năm sau, ông chuyển thể tiểu thuyết “Chàng ngốc”.
1951: Đoạt Oscar Phim nước ngoài hay nhất cho “Rashomon“. Đây là phim Nhật Bản đầu tiên đoạt giải Oscar. “Rashomon” còn đoạt “Sư tử vàng” tại LHP Quốc tế Venice.
1952: Mẹ đạo diễn qua đời. Ông dựng bộ phim buồn đầu tiên có tên “Sống”. Ba năm sau, ông cho ra đời “7 võ sĩ samurai” – một trong những bộ phim nổi tiếng nhất của ông.
Tháng 4.1955, ông thành lập hãng phim “Kurosawa Pro”.
1973: Hợp tác với Liên Xô làm bộ phim “Dersu Uzala”. Phim này đoạt Oscar năm 1975.
1980: Nhận giải Cành cọ Vàng cho phim “Kagemusha”. Phim này còn đoạt BAFTA đạo diễn xuất sắc nhất và Cesar Phim nước ngoài hay nhất.
1982: Nhận giải “Sư tử vàng” thành tựu trọn đời.
1990: Nhận giải Oscar thành tựu trọn đời. Một năm sau ra mắt phim “Bản rhapsody tháng Tám” (Rhapsody in August) về thảm họa nguyên tử ở Nagasaki.
1998, 6.9: Qua đời tại Tokyo.

http://vmcinhanoi.blogspot.com/2010/03/akira-kurosawa-hoang-e-ien-anh-nhat.html
Akira Kurosawa Film studies Văn học & Điện ảnh Văn học Anh Văn học Nhật Bản

Ran (1985) – Akira Kurosawa

https://www.youtube.com/watch?v=YoRHFG0d-70

Ran

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ran

Áp phích tại Mỹ
Thông tin phim
Đạo diễn Akira Kurosawa
Sản xuất Katsumi Furukawa
Serge Silberman
Masato Hara
Hisao Kurosawa
Tác giả Akira Kurosawa
Hideo Oguni
Masato Ide
Dựa trên King Lear của
William Shakespeare
Diễn viên Tatsuya Nakadai
Akira Terao
Jinpachi Nezu
Daisuke Ryu
Mieko Harada
Yoshiko Miyazaki
Peter
Âm nhạc Toru Takemitsu
Quay phim Asakazu Nakai
Takao Saitō
Masaharu Ueda
Dựng phim Akira Kurosawa
Hãng sản xuất Greenwich Film Productions
Herald Ace
Nippon Herald Films
Phát hành Toho (Nhật)
Orion Pictures (USA 1985)
Rialto Pictures (USA 2010)
Acteurs Auteurs Associés (AAA)(France 1985)
StudioCanal (France 2010)
Công chiếu 31 tháng 5, 1985(Tokyo International Film Festival)
1 tháng 6, 1985 (Nhật)
Độ dài 162 phút
Quốc gia Nhật Bản
Pháp
Ngôn ngữ Nhật
Kinh phí US$12.000.000

Loạn (Ran) là một phim Jidaigeki hợp tác giữa điện ảnh Nhật Bản và Pháp, được công chiếu vào năm 1985. Bộ phim miêu tả cuộc tranh chấp giữa cha con, huynh đệ dòng họ lãnh chúa Ichimonji trong bối cảnh một thời Chiến quốc giả tưởng thời trung cổ ở Nhật Bản. Nội dung phim mang cốt cách của vở bi kịch “King Lear” của William Shakespeare và sử dụng giai thoại 3 mũi tên của Mōri Motonari trong lịch sử Nhật Bản (tam tử giáo huấn trạng).

Loạn (Ran) là bộ phim thứ 27 của đạo diễn Kurosawa Akira và là bộ phim thể loại Jidaigeki cuối cùng trong đời ông. Bản thân Kurosawa cũng xem đây là tác phẩm của đời ông, và là di ngôn để lại cho nhân loại.

Mục lục

Nội dung

Bối cảnh phim là một thời Chiến quốc giả tưởng, sau khi Ichimonji Hidetori lần lượt đánh chiếm hết 3 thành trì bên địch và trở thành đại lãnh chúa của cả vùng. Một ngày nọ, nhân buổi đi săn, Hidetora bất ngờ thông cáo cho các quan khách rằng mình sẽ nhường ngôi vị lại cho con trưởng, còn bản thân thì về ẩn cư. Hidetora lấy 3 mũi tên, bảo với con trai rằng, 1 mũi tên thì dễ bẻ nhưng gọp 3 mũi lại thì không thể bẻ được. Nhưng con trai út thấy thế lại chê cha già lẩm cẩm, dùng sức bẻ gãy cả 3 mũi tên. Cảm thấy mất mặt trước các quan khách, Hidetori nổi giận đuổi con trai út đi rồi về làm phận khách tại thành trì của con trưởng. Và cũng bắt đầu từ đây, sự thực hư trong lòng hiếu thảo của từng người con được bộc lộ, dẫn đến mối tranh chấp, bất hòa của cả dòng họ Ichimonji…

Vai diễn

  • Nakadai Tatsuya vai Ichimonji Hidetora
  • Terao Akira vai Ichimonji Tarō Takatora
  • Nezu Jimpachi vai Ichimonji Jirō Masatora
  • Ryū Daisuke vai Ichimonji Saburō
  • Harada Mieko vai phu nhân Kaede
  • Miyazaki Yoshiko vai phu nhân Sue
  • Nomura Mansai vai Tsurumaru
  • Yui Masayuki vai Hirayama Tango
  • Katō Kazuo vai Ikoma
  • Matsui Norio vai Kokura
  • Tazaki Jun vai Ayabe
  • Ueki Hitoshi vai Fujimaki
  • Ikehata Shin-no-suke vai Kyō-ami
  • Igawa Hisashi vai Kurogane

Âm nhạc

Phụ trách chỉ huy mảng âm nhạc trong Ran (Loạn) là Takemitsu Tōru, trước đó ông cũng từng lo mảng âm thanh trong “Dō desuka den”, bộ phim màu đầu tiên của Kurosawa Akira vào năm 1970. Trong phim này, Kurosawa tỏ ra đối lập với Takemitsu, không chấp nhận ý kiến của Takemitsu trong quá trình lồng tiếng khiến ông này bất mãn, nói rằng “có thể cắt dán âm nhạc theo ý của Kurosawa, nhưng đừng có để tên tôi vào phần danh sách làm phim” và tuyên bố bỏ dở công việc, chạy ra khỏi phòng lồng tiếng. Nhưng thực tế Takemitsu đã không bỏ dở công việc của mình, sau đó có nói đây là kể từ sau tác phẩm này thì ông không muốn làm việc chung với Kurosawa nữa. Và thực tế, đây cũng là bộ phim cuối cùng mà Takemitsu dính dáng đến Kurosawa.

Lúc đầu đạo diễn Kurosawa Akira mong muốn chọn dàn nhạc giao hưởng London cho bộ phim của mình, nhưng Takemitsu Tōru phản đối nên rốt cuộc là chọn dàn nhạc giao hưởng Sapporo (tháng 4 năm 1985, tại trung tâm văn hóa thị dân Chitose). Dàn nhạc giao hưởng Sapporo chỉ là một dàn nhạc địa phương, ngay tại Nhật Bản cũng chẳng có tiếng tăm gì, vì thế nên Kurosawa tỏ ra bất mãn và chẳng thèm nhìn mặt các thành viên trong nhạc đoàn trước khi bắt đầu thu âm. Nhưng trái với dự định, dàn nhạc đã diễn tấu rất tốt nên khi giải tán trước giờ ăn trưa, Kurosawa có bước lên sân khấu nói lời cảm ơn, xin lỗi các thành viên và ông cúi đầu không hề ngẩng lên suốt lúc đó.

Chuyện bên lề

  • Theo Hashimoto Shinobu, một trong ba tác giả kịch bản của bộ phim thì trong quá trình xây dựng nhân vật, Oguni Hideo bất mãn với Kurosawa và có cãi nhau gay gắt nên nửa chừng ông này từ bỏ việc chấp bút kịch bản.
  • Lá cờ của nhân vật Ichimonji Hidetora có hình thái dương và mặt trăng, đây là từ chữ “minh” (明) trong tên của Kurosawa Akira (Hắc Trạch Minh, chữ “minh” gồm chữ “nhật” và “nguyệt” ghép lại). Ngoài ra chính Kurosawa cũng có nói với Miyazaki Yoshiko rằng nhân vật Ichimonji Hidetora chính là hình ảnh của bản thân mình.
  • Số lượng diễn viên quần chúng trong Ran (Loạn) chừng 1000 người. Và vì quá trình quay phim kéo dài nên nếu thuê ngựa thì chi phí đắt đỏ, nên nhà làm phim đã nhập 50 con ngựa Quarter Horse từ Mỹ quốc về. Cũng chính vì lý do này mà bộ phim bị chỉ trích rằng “Nhật Bản thời Chiến quốc không có giống ngựa tốt như vậy”. Sau khi kết thúc bộ phim, bầy ngựa được bán đi.
  • Trong phim có cảnh Hidetora ngồi dưới trời nắng khi bị lũ con đuổi đi, phía sau có thấy 2 người leo núi ở ngọn núi phía sau. Chỉ có một người duy nhất phát hiện ra điểm bất thường này là Nakai Asaichi, phụ trách C Camera. Ông này đã bí mật bàn bạc với Kurosawa để xử lý xóa hình ảnh này. Quá trình xử lý tốn 500 vạn En.
  • Một người bạn thân của Kurosawa là đạo diễn người Nga Nikita Sergeyevich Mikhalkov có đến Nhật trong quá trình chuẩn bị cho bộ phim, và có một ý tưởng đề xuất. Ý tưởng của ông này có thấy xuất hiện trong bộ phim hoàn chỉnh khiến ông này cảm thấy rất vui và có giá trị.
  • Diễn viên Takakura Ken được mời thủ vai Kurogane trong phim, đích thân Kurosawa 4 lần đến nhà Takakura để bàn bạc, nhưng lúc này Takakura đang chuẩn bị cho bộ phim truyền hình “Izakaya Chōji” nên đều từ chối hết. Vì thế Takakura Ken bị Kurosawa nói “anh đúng là người khó tính” và vai diễn này được giao cho Igawa Hisashi. Sau này, tình cờ Takakura Ken có đi qua nơi quay phim Ran và tỏ ra hối tiếc vì ngày trước đã từ chối.
  • Tạo hình nhân vật Ichimonji Hidetora còn được sử dụng ở nhân vật Tenrai trong game Tenchū San trên hệ máy PlayStation 2.

Các giải thưởng

  • Giải Oscar thiết kế trang phục, 1985.
  • Giải thưởng hóa trang trong khuôn khổ giải Academy điện ảnh Anh quốc, giải cho phim ngoại quốc.
  • Giải thưởng quay phim trong khuôn khổ Giải Hiệp hội phê bình điện ảnh toàn Mỹ quốc.
  • Giải cho phim ngoại quốc trong khuôn khổ Giải Hiệp hội phê bình điện ảnh New York.
  • Giải âm nhạc, giải cho phim ngoại quốc trong khuôn khổ Giải Hiệp hội phê bình điện ảnh Los Angeles.
  • Giải quay phim trong khuôn khổ Giải Hiệp hội phê bình điện ảnh Boston.
  • Giải bạc trong khuôn khổ giải Golden Gloss lần thứ 3, Nhật Bản.

Địa điểm quay phim

  • Thành Himeji: đệ nhất thành
  • Thành Kumamoto: đệ nhị thành
  • Thành Nagoya, tỉnh Saga, thành phố Karatsu
  • Tỉnh Kumamoto
  • Tỉnh Ōita
  • Núi Phú Sĩ
Film studies Văn học & Điện ảnh Văn học Đức

‘The reader’ – học cách tha thứ để yêu thương

Bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết của nhà văn Bernhard Schlink là một trong những câu chuyện tình dị biệt đầy cảm động, gắn với số phận lịch sử của nước Đức.

  • Ra đời năm 1995, tiểu thuyết Người đọc (Der Vorleser) trở thành một hiện tượng chấn động văn đàn Đức khi đề cập đến vấn đề khá nhạy cảm – tội ác của Đức quốc xã trong Thế chiến II. Hình ảnh những trại tập trung một lần nữa được nhắc đến như một bằng chứng cho tội ác không thể chối cãi trong lịch sử nhân loại. Cuốn sách ngay sau đó đã được phổ biến rộng rãi với bảy triệu ấn bản và được dịch ra 38 thứ tiếng khác nhau trên toàn thế giới.
Tình yêu giữa Hanna và Michael đến từ những lần tắm - đọc sách - làm tình.

Tình yêu giữa Hanna và Michael đến từ những lần tắm – đọc sách – làm tình.

13 năm sau, đạo diễn Stephen Daldry cùng hãng Weinstein quyết định đưa cuốn tiểu thuyết này lên màn ảnh rộng trong một dự án khá mạo hiểm. Bộ phim ra mắt đã nhận được không ít phản ứng tranh cãi từ giới phê bình. Gabrielle Burton – một biên kịch nổi tiếng cho rằng, Kate Winslet đã dùng thân thể gợi dục và một vai diễn hay để “lấp liếm đi sự vô đạo đức” của nhân vật Hanna Schmitz. Có ý kiến khác cho rằng bộ phim chỉ nhằm thỏa mãn tình cảm xóa tội của nhiều người Đức dưới chế độ Hitler tàn bạo một thời.

Những tranh cãi đó xoay quanh câu chuyện về cuộc tình giữa Michael Berg – một thanh niên trung học 15 tuổi và Hanna Schmitz – người phụ nữ hơn cậu 21 tuổi trong bối cảnh những năm 1960 tại Đức. Hai người gặp nhau trong một lần Michael trên đường đi học về, gặp mưa và nôn thốc bên vệ đường. Hanna đưa cậu về nhà và từ đó hai người bắt đầu một mối quan hệ kỳ lạ. Họ tìm đến nhau thường xuyên hơn trong ngôi nhà trên căn gác cũ của Hanna để thực hiện một nghi thức gần như cố định: tắm – đọc sách – làm tình.

Quan hệ đó kéo dài không lâu cho đến một ngày kia Hanna đột nhiên biến mất. Phải đến rất nhiều năm sau, Michael mới gặp lại cô nhưng trong một hoàn cảnh trớ trêu. Khi ấy anh đã trở thành một sinh viên trường luật và cô là một bị đơn trong phiên tòa xét xử những tội nhân giết người của cuộc diệt chủng Holocaust. Những bí ẩn đằng sau người phụ nữ anh yêu năm nào dần được hé lộ. Hanna là một đại diện trong bộ máy giết người dưới chế độ Hitler tàn bạo còn sống sót trong khi Michael là một đại diện của thế hệ hôm nay, lớn lên trong thời bình và đang xét lại quá khứ tội lỗi của thế hệ trước.

Cùng một lúc phải đối diện với quá khứ của cá nhân – người phụ nữ nâng đỡ, chở che mình thời niên thiếu và quá khứ của dân tộc – một kẻ sát nhân trong cuộc thảm sát Holocaust, Michael không thể làm gì hơn ngoài việc im lặng, bất lực nhìn Hanna điểm chỉ vào bản án lịch sử dành cho cô. Từ đó, anh không sao thoát khỏi nỗi dằn vặt khi nghĩ về người phụ nữ mình từng yêu và mang ơn ngày ấy.

Trong chùm chủ đề về cuộc tàn sát chủng tộc người Do Thái của Phát xít Đức trong Thế chiến II, có không ít bộ phim đã ghi dấu trong lòng khán giả như Schindler’s List (1993), Life is Beautiful (1997), The Pianist (2002)… Tuy nhiên, nếu như hầu hết các bộ phim trước đó đều chủ yếu tố cáo tội ác của Đức quốc xã thì The reader lại đưa đến cho chúng ta cái nhìn mới. Bộ phim là tiếng nói của những người Đức, đi qua chiến tranh và trở thành tội đồ của những cuộc phán xét trong thời bình.

Cuộc gặp lại định mệnh giữa Michael và Hanna không chỉ là cuộc hội ngộ của hai người yêu nhau sau nhiều năm xa cách mà còn là ẩn dụ cho cuộc “đối mặt” giữa hai thế hệ mang những số phận khác nhau của lịch sử. Michael biết Hanna đã phải nhận hết trách nhiệm về một tội ác không chỉ mình cô gây ra nhưng anh cũng không lên tiếng đứng về phía cô. Thái độ bối rối, xấu hổ của anh phần nào là thái độ mặc cảm với mối tình dị biệt nhiều năm trước nhưng mặt khác cũng là thái độ lẩn tránh, chối bỏ của thế hệ hôm nay về những tội ác mà cha ông mình gây ra.

Một cảnh nóng bỏng trong "The Reader".

Một cảnh nóng bỏng trong “The reader”.

Bộ phim đặt ra những vấn đề lớn lao về mối quan hệ giữa hiện tại và quá khứ, giữa cá nhân và cộng đồng thông qua một câu chuyện tình ngang trái, trải dài qua nhiều thập kỷ của nước Đức. Tuy nhiên, trên tất cả, để lại ấn tượng xúc động nhất trong lòng người xem vẫn là mối tình vượt qua mọi ranh giới về tuổi tác, địa vị xã hội lẫn thời gian của Hanna và Michael.

Họ đến với nhau ban đầu bằng những ham muốn, tò mò về thể xác nhưng ở lại bên nhau bằng tình thương và sự sẻ chia. Hanna đã dạy Michael làm tình như một kỹ năng cơ bản để trưởng thành bằng kinh nghiệm của một người từng trải. Ngược lại, Michael mang tới những quyển sách, những câu chuyện và lấp đầy thế giới tâm hồn luôn khao khát nhưng bấy lâu thiếu vắng của Hanna.

Đến sau này, khi biết được bí mật của Hanna, Michael vẫn không quên niềm say mê những cuốn sách của cô và vẫn tiếp tục kiên nhẫn đọc lại từng câu chuyện cũ, thu âm lại rồi gửi cho cô trong tù. Nỗi tuyệt vọng trong những năm héo hon cuối đời của Hanna dường như được tiếp sức trở lại bởi những cuốn băng chất đầy kỷ niệm ấy. Cô đã làm được một điều phi thường nhưng dường như tất cả đều trở nên quá muộn vào phút chót của cuộc đời.

Những bức thư với những nét chữ run rẩy đầu tiên của Hanna gửi tới Michael không được đáp lại. Michael cho đến cuối đời vẫn không đủ dũng cảm đón nhận người phụ nữ năm xưa dù anh không khi nào thôi ám ảnh và mang ơn bà. Hanna cũng tự thấy mình không đủ dũng cảm trở về với cộng đồng từng kết tội mình.

Câu chuyện tình dị biệt ấy không thể buồn đến thế, cuộc đời của người phụ nữ bất hạnh ấy không thể xót xa đến thế nếu không nhờ diễn xuất xuất sắc của Kate Winslet. Vốn gây được cảm tình với khán giả trong hình ảnh cô tiểu thư quý tộc xinh đẹp từ Titanic đến Finding Neverland, vai diễn này ghi dấu một sự phá cách đầy táo bạo của “bông hồng nước Anh”. Không chỉ hoá thân trong hình ảnh một người phụ nữ lấm lem, giản dị của đời thường, Kate Winslet còn khiến khán giả ngỡ ngàng với những cảnh khỏa thân đầy táo bạo khi làm tình trong phim.

Vai diễn Hanna đem lại cho Kate Winslet tượng vàng Oscar đầu tiên dành cho "Nữ diễn viên chính xuất sắc" vào năm 2009.

Vai diễn Hanna đem lại cho Kate Winslet tượng vàng Oscar đầu tiên dành cho “Nữ diễn viên chính xuất sắc” vào năm 2009.

Một trong những cảnh quay xúc động nhất là cuộc gặp lại cuối cùng của Michael và Hanna trong tù để chuẩn bị cho cuộc trở về. Tất cả mong chờ, háo hức lẫn hy vọng đã ánh lên rồi nhanh chóng vụt tắt trong ánh mắt mờ đục, héo mòn của Hanna. Sự lạnh lùng, hờ hững như một người thân lãnh trách nhiệm đón người nhà ra tù của Michael sau bao nhiêu năm trời chính là bản án tử hình nghiệt ngã nhất dành cho Hanna. Bà hiểu hơn ai hết rằng không có nơi nào để trở về ở ngoài kia.

Đây cũng là vai diễn mang về cho Kate Winslet một tượng vàng Oscar. Vẻ đẹp đầy nhục cảm của Rose năm nào một lần nữa làm khán giả choáng ngợp dù khi ấy cô đã ngoài 30 tuổi. Cũng chính vì những cảnh quay nóng bỏng, nhạy cảm đó mà bộ phim phải lùi lịch phát hành tới sau ngày sinh nhật lần thứ 18 của David Kross (thủ vai Michael hồi trẻ) để tránh phiền phức khi kiểm duyệt.

Với lối kể chuyện tiết chế, kết cấu dựng đan xen hiện tại và quá khứ uyển chuyển, nhịp nhàng, Stephen Daldry đã cho kiệt tác của văn học Đức thêm một đời sống nữa trên phim. Hơn cả một câu chuyện tình buồn và tuyệt vọng, The reader sống trong lòng khán giả đến ngày hôm nay còn nhờ những thông điệp đầy nhân văn về số phận của mỗi cá nhân trước lịch sử cũng như trong cộng đồng mà nó đề cập đến.

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/diem-phim/the-reader-hoc-cach-tha-thu-de-yeu-thuong-2921667.html

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/diem-phim/the-reader-hoc-cach-tha-thu-de-yeu-thuong-2921667.html

Film studies Trần Anh Hùng Văn học & Điện ảnh Văn học Nhật Bản

Nỗi u buồn trong Rừng Na Uy

Xuất bản lần đầu năm 1987, rừng Na Uy là một trong những cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nhật Bản Haruki Murakami. Khi được dịch sang tiếng Việt, tiểu thuyết này gây xôn xao dư luận suốt một thời gian dài. Đạo diễn người Pháp gốc Việt – Trần Anh Hùng – đã chuyển thể thành kịch bản điện ảnh. Tiếp cận tác phẩm này, người đọc luôn bị ám ảnh bởi nỗi u hoài khó lý giải.

1. Haruki Murakami có lý khi cho rằng tình cảm thẩm mỹ là nét chủ đạo chi phối mọi đặc trưng bản sắc dân tộc Phù Tang. Rừng Na Uy của Haruki Murakami cũng không nằm ngoài quy luật đó. Với bút pháp mới mẻ, Murakami đã vẽ nên bức tranh đầy màu sắc về xã hôi Nhật Bản truyền thống tưởng như vỡ òa bởi nhịp sống hiện đại.

2. Nhật Bản là mảnh đất của anh đào, của tinh anh Sake, của những rung động vi diệu trong lòng người… Hầu như người Nhật luôn xem vạn vật dưới góc nhìn của quan niệm thẩm mỹ. Trong sự phát triển nhảy vọt của một siêu cường, giới trẻ Nhật một thời đã cho mình là  “thế hệ lạc lõng” để rồi ý thức về sự ưu hoài thế sự càng đâm đặc trong tâm thức. Từ đó, cảm thức Biwa trở thành một quan niệm thẩm mỹ tiêu biểu trong văn học Nhật Bản, đặc biệt là dòng văn học hiện đại.

“Tất cả chúng ta bấm sinh đều là nghệ sĩ của đời sống” (Suzuki). Hơn thế nữa, mỗi người Nhật đều mang trong mình cảm thức thẩm mỹ của người nghệ sĩ. Họ nâng tất cả thành Đạo: Trà Đạo, Kiếm Đạo, Hài-cú Đạo… Dường như quan niệm thẩm mỹ đã thấm sâu vào văn học Nhật Bản tạo ra sự tịch lặng (Sabi), nâng tâm hồn con người hòa nhập đến những khoảnh của sự đơn sơ (Wabi), rồi chợt rung động bi cảm, trầm buồn (Biwa). Tâm thức Biwa xuyên suốt nền văn học Nhật Bản, từ truyện Genji của thế kỷ XI, sáng tác của Kawabata, cả trong Haiku – loài hoa đậm sắc hương của vườn thơ ca Nhật Bản – và vang vọng mãi đến Rừng Na Uy – cuốn tiểu thuyết tuyệt vời về nỗi cô đơn của con người hiện đại. Đó là nỗi bi cảm thoát thai từ sự cô đơn trống vắng khi con người muốn đi tìm ý nghĩa đích thực của cuộc sống và tình yêu.

Con người cũng có lúc cảm thấy rợn ngợp trước cuộc sống hiện đại với bao đổi thay của cuộc đời. Cô đơn là bản chất của con người, như một nhân vật trong tiểu thuyết Rừng Na Uy đã tuyên bố: “Bản ngã và tha nhân là cách biệt”. Cá nhân là riêng tư, là một tiểu vũ trụ bí ẩn. Trong hành trình hòa nhập, bản ngã luôn phải cố gắng hết sức để tìm đến với tha nhân, tìm hơi ấm bầy đàn, để hóa giải cô đơn.

Cô đơn trong Rừng Na Uy chính là cảm giác thời đại. Cảm giác ấy được khơi gợi từ chính nhan đề Rừng Na Uy, vốn là tên bài hát nổi tiếng của nhóm Beatles những năm 60 – 70 của thế kỷ XX. Rừng Na Uy đâu chỉ là tên một bài hát, nó còn là tên của một sự ám ảnh về nỗi cô độc; là tên của những hạnh phúc mong manh như chính nội dung ca từ: “Tôi từng có môt cô gái… Cô dẫn tôi vào phòng và bảo tôi ngồi đâu cũng được, nhưng tôi thấy chẳng có chiếc ghế nào… Khi tỉnh dậy tôi chỉ có một mình, con chim ấy đã bay đi rồi…

3.Nhân vật trong Rừng Na Uy tất tả ngược xuôi đi tìm bản ngã giữa biển người mênh mông. Nhưng rồi chính sự cô đơn trong tâm hồn đã đưa bản ngã đến gần tha nhân hơn. Bản ngã cô đơn phân mảnh cực đoan trong không gian văn hóa Nhật Bản hậu hiện đại. Rừng Na Uy là thế giới của những con người cô đơn. Mở đầu tiểu thuyết là hình ảnh của Toru 37 tuổi, với bản hòa tấu không lời ca khúc Rừng Na Uy (Norwegian Wood). “Giai điệu ấy bao giờ cũng khiến toàn thân tôi tung rẩy, lần này nó làm tôi choáng váng hơn bao giờ hết”. Toru là chiếc cầu nối kết các nhân vật trong truyện, nhưng chính anh lại nhận về nỗi cô đơn không chút niềm thân mật. Toru đã lần lượt chứng kiến cái chết của Kizuki và Naoko vốn mang trong mình bản thể cô đơn không lý giải. Toru ở ký túc xá cũng chỉ có thể làm bạn với Nagasawa, một tính cách trái ngược hoàn toàn. Hai người bạn này như hai mặt đối lập mà Toru vừa phải sống với nó và vừa muốn khám phá nó. Đến cuối tác phẩm, Toru vẫn chưa tìm được lối thoát cho cuộc đời mình.

Kizuki và Naoko “giống như hai đứa trẻ trần truồng lớn lên trên một hòn đảo hoang. Nếu đói, bọn mình chỉ việc nhặt chuối ăn, nếu thấy cô đơn, bọn mình chỉ việc tìm đến vòng tay nhau. Nhưng những cái như thế không kéo dài mãi mãi”. Kizuki tìm đến cái chết năm 17 tuổi. Toru và Naoko cùng rời khỏi Kobe đến Tokyo để tìm lối thoát. Toru đã gặp lại và yêu Naoko như muốn quên lãng quá khứ u sầu. Naoko hiểu rằng mình có thể hòa nhập trở lại với thế giới. Nhưng vết thương ấy đã không bao giờ chữa lành được. Naoko bỏ vào khu trị liệu trên núi cao, tự nhận thấy mình méo mó, vừa hy vọng, vừa lo sợ. Naoko khỏa thân vô thức trước Toru và khát vọng được khơi mở để hòa nhập với tha nhân.

Cô đơn trước thời cuộc, các nhân vật đã hòa nhập trong tình dục. Đó là thứ tình dục bừa bãi nhằm thỏa mãn bản năng. Nagasawa gọi đây là những ”cơ may”: “Nó đầy rẫy xung quanh, làm sao có thể phớt lờ nó đi được”. Nhân vật buông thả ”sẵn sàng ngủ với bất kể người nào, bất kể là ai”. Vì vậy, tình dục cuối cùng cũng chỉ là sự nhạt nhẽo vô vị: “những sự chung đụng thể xác không cứu vãn nổi tâm hồn của những con người cô đơn”. Với họ, tình dục là “nói cho nhau biết rằng có những điều chỉ có thể nói bằng cách cọ xát hai khối thịt bất toàn như thế này. Làm như vậy chúng mình mới chia sẻ được những bất toàn của nhau”. Nhiều khi tình dục là cầu nối duy nhất để nhân vật đạt đến sự hài hòa trong đời sống. Toru đã làm tình với Naoko, chung đụng thân xác với Reiko.

4. Tình dục chỉ là nơi “tạm trú” của những tâm hồn tuyệt vọng. Các nhân vật lại đi tìm cho mình một lối thoát thực sự: cái chết. Kết thúc tác phẩm, đầy rẫy những con người của niềm đam mê khao khát tự kết liễu đời mình. Cái khó khăn nhất trong cuộc đời một con người là vượt qua chính mình. Nhân vật không vượt thoát khỏi nỗi cô đơn.

Kizuki chết vì không thể có được khoảnh khắc thăng hoa bên Naoko. Naoko tuyệt vọng trước cuộc đời, chết một cách nhẹ nhàng: “Đừng lo, nó chỉ là cái chết thôi mà. Đừng để nó làm phiền cậu”. Toru rút ra triết lý sau cái chết của Kizuki: “Sự chết tồn tại không phải như một đối nghịch mà là một phần của sự sống”. Chị của Naoko và Hatsumi chết chỉ vì không sợ chết. Những người chết trong tác phẩm đều cố gắng vượt thoát khỏi nỗi cô đơn. Và có lẽ bởi không còn đủ niềm tin, họ đã tìm đến cái chết như một giải pháp nhẹ nhàng, đơn giản. “Rừng Na Uy” không hề bi lụy. Murakami đã dẫn người đọc đi từ cảm giác chết chóc đến niềm yêu đời. Cảm thức Biwa vì thế mà không chỉ là nỗi u hoài mà hơn thế đó là sự xúc cảm, hướng về với niềm tin yêu sống.5. Cảm thức Biwa đã được Muhakami phát triển ở mức cao hơn phù hợp với thị hiếu của đông đảo độc giả. Tác phẩm đã vượt ra khỏi biên giới hoa anh đào để khẳng định vị trí văn học Nhật Bản trong vườn hoa văn học nhân loại. Rừng Na Uy bắt được nhịp thở của thế hệ trẻ, tạo nên một nét nhìn mới về một mẫu mực truyền thống. Biwa là cô đơn u hoài trước thế sự nhưng không có nghĩa là chán chường trong tuyệt vọng. Đọc Rừng Na Uy để có được lẽ sống trong nhịp sống bôn bề, để khẳng định bản ngã, để có được những phút lắng mình. ■

Akira Kurosawa Film studies Văn học & Điện ảnh Văn học Nhật Bản

Rashomon- bộ phim của những cách tân độc đáo

Author: Lê Thị Hồng Hạnh

Rashomon được coi là bộ phim đầu tiên giới thiệu Kurosawa và nền điện ảnh Nhật Bản đến với các khán giả phương Tây và là một kiệt tác của Kurosawa. Cái tạo nên sức hấp dẫn ở bộ phim này chính là cách kể chuyện hết sức hiện đại của nó, cộng với các cách tân về kĩ thuật mà Kurosawa tạo nên trên cơ sở kết hợp nghệ thuật hiện đại phương Tây với cội nguồn văn hóa Nhật Bản trong diễn xuất và dàn dựng.
Rashomon được coi là bộ phim đầu tiên giới thiệu Kurosawa và nền điện ảnh Nhật Bản đến với các khán giả phương Tây và là một kiệt tác của Kurosawa. Bộ phim được làm năm 1950, dựa trên hai truyện ngắn của nhà văn tài hoa Akugatawa: “Rashomon” và “In a Grove” (truyện “Rashomon”: Lã Sinh Môn cung cấp bối cảnh nền, truyện “In a Grove”- “Trong bụi cây” cung cấp cốt truyện và nhân vật). Cấu trúc tự sự độc đáo của bộ phim cùng với tính không thể khám phá của sự thực mà bộ phim đề cập khiến cho trong văn hóa phương Tây, Rashomon gần như đã trở thành một điển tích (trong tiếng Anh cũng như một số ngôn ngữ khác, Rashomon đã trở thành từ chỉ tình trạng sự thật không thể được tìm ra vì các nhân chứng khác nhau cung cấp những bằng chứng trái ngược nhau. Thuật ngữ hiệu ứng Rashomon trong tâm lí học cũng bắt nguồn từ chính bộ phim này.)

Tuy nhiên, không phải ngay từ khi ra đời, Rashomon đã gây đựợc tiếng vang như vây. Sự thực là khi phát hành ở Nhật, bộ phim đã bị thất bại nặng nề về mặt doanh thu, nó thậm chí còn bị tống vào kho, liệt vào danh sách những bộ phim dở nhất trong năm, vì cách kể chuyện có phần khó hiểu và kì lạ, khiến cho uy tín nghề nghiệp của đạo diễn Kurusawa bị suy giảm đáng kể. Số phận của bộ phim chỉ thực sự thay đổi nhờ vào một phái đoàn nghệ thuật đến từ nước Ý. Phái đoàn này đã đề nghị các nhà làm phim Nhật Bản cho xem những bộ phim hay nhất và dở nhất trong năm, Rashomon đã được chiếu trong danh mục những phim dở nhất. Con mắt xanh của các nhà làm phim Ý đã khiến họ thấy ở đây những cách tân độc đáo của một thiên tài. Bộ phim đựợc đưa về tham dự Liên hoan phim Venice và sau đó liên tiếp giành đựợc các giải thưởng cao của các hội đồng nghệ thuật và được các khan giả châu Âu nồng nhiệt đón nhận. Lí do giải thích cho số phận thăng trầm của bộ phim chính là những cách tân táo bạo của Kurosawa. Cái tạo nên sức hấp dẫn ở bộ phim này chính là cách kể chuyện hết sức hiện đại của nó, cộng với các cách tân về kĩ thuật mà Kurosawa tạo nên trên cơ sở kết hợp nghệ thuật hiện đại phương Tây với cội nguồn văn hóa Nhật Bản trong diễn xuất và dàn dựng. Cấu trúc tự sự độc đáo mới mẻ chính là điểm gây shock nhất trong bộ phim này. Ngày nay, cách trần thuật từ nhiều điểm nhìn, tính đa thanh- đối thoại trong tự sự không còn là một điều quá mới mẻ nhưng với văn học và điện ảnh lúc bấy giờ, cách kể chuyện của Akugatawa và Kurosawa thực sự là kì lạ.


Bộ phim xoay quanh một sự kiện trung tâm: vợ của một samurai bị tên cướp Tajomaru hãm hiếp và samurai bị chết bởi một thanh gươm đâm vào ngực. Sự kiện này được kể lại qua 4 lời khai khác nhau của 4 nhân chứng: Tajomaru-tên cướp, Masago-người thiếu phụ- vợ nạn nhân, Kanazawa-no-Takehiro-nạn nhân (qua lời người ngồi đồng) và tiều phu-vô danh, mỗi lời khai cung cấp cho chúng ta một hồ sơ khác nhau về sự thực, chúng lần lượt phủ nhận lẫn nhau, khiến cho khan giả như rơi vào mê cung, không thể biết lời khai nào là sự thật. Điều này cho thấy tính không đáng tin cậy của lời người kể chuyện trong quan niệm của tự sự hiện đại. Nó hoàn toàn khác với tự sự truyền thống. Tự sự truỳền thống đi tìm cách kể bằng hình ảnh cho hay nhất một câu chuyện nào đó, người kể phải là người ban phát chân lí cuối cùng. Nếu theo cách dựng của tự sự truyền thống, đây sẽ là một bộ phim trinh thám. Nó sẽ chỉ dừng lại khi tìm ra sự thực về thủ phạm giết người. Chính vì các khan giả Nhật Bản lúc đầu đã xem Rashomon theo cách như vậy nên họ thấy đây là một thất bại của Kurosawa. “Bộ phim quá khó hiểu.”

Trên thực tế, Akugatawa và Kurosawa đã đưa ra một quan niệm mới về người kể chuyện: người kể chuyện không phải là người biết hết tất cả, anh ta chỉ biết một phần của sự thực và cố tình kể sự thực theo cách có lợi nhất cho mình. Hay như lời nhà sư nói trong ngôi đền đổ nát, con người sẽ mãi mãi không thể có được sự thực vì sự yếu đuối và ích kỉ của chính mình, Một nét mới trong nghệ thuật tự sự cuả bộ phim này là cách kể chuyện bằng phục hiện. Nó kể lại vụ án mạng qua hồi tưởng của 4 nhân vật. Đây là điểm Kurosawa kế thừa từ tác giả truyện ngắn Akutagawa. Nhưng bộ phim còn đẩy xa hơn kĩ thuật kể chuyện bằng hồi tưởng vì câu chuyện vụ án của ông thực chất là hồi tưởng của hồi tưởng, phục hiện nằm trong phục hiện.Thật vậy, lời khai cuả các nạn nhân ở đây không phải được ghi lại một cách trực tiếp như trong truyện ngắn của Akugatawa mà được kể lại trong lời của tiều phu và nhà sư nói với một kẻ tiện dân khi họ cùng trú mưa trong một cổng thành hoang phế. Tính hồi tưởng lồng trong hồi tưởng này chi phối sự xuất hiện 3 mảng không gian khác nhau trong câu chuyện. Không phải là hai mảng không gian: công đường và khu rừng- hiện trường vụ án mà là cổng thành Rashomon- công đường- khu rừng.

Mở dầu phim là 3 nhân vật tiều phu, nhà sư và kẻ tiện dân đứng trú mưa. Tiều phu không ngừng than thở “Không thể hiểu được, không thể hiểu được chuyện gì cả”, trong khi nhà sư ôm đầu bất lực. Đáp lại câu hỏi của kẻ tiện dân, tiều phu kể lại câu chuyện trên công đường với lời khai của các nhân chứng. Các nhân chứng lại hồi tưởng lại sự thực và hiện trường vụ án theo quan điểm của mình. Nạn nhân, tên cướp, người thiếu phụ không xuất hiện trực tiếp như trong truyện ngắn của Akugatawa mà xuất hiện trong hồi tưởng của tiều phu và nhà sư. Các nhân vật này lại lần lượt tái hiện nội tình của vụ án trước quan tòa. Nếu gọi không gian cổng đền Rashomon là không gian hiện tại, không gian công đường là quá khứ 1, không gian khu rừng là quá khứ 2 thì bộ phim chính là sự đan xen các mảng không gian này, hiện tại và quá khứ đan xen, quá khứ 1 và quá khứ 2 luân phiên.

Các nhân vật chính của vụ án không xuất hiện trong duy nhất một không gian và thời gian của vụ án mà luôn đứng ở bản lề của không gian công đường và không gian hiện trường vụ án, do đó,người xem không chỉ chứng kiến bản thân vụ án mà còn được chứng kiến diễn biến tâm trạng của họ trước từng sự kiện của vụ án, cũng như sự đối chứng giữa các lời khai của 3 nhân vật này với hai nhân chứng: nhà sư và tiều phu. Thiếu phụ, tên cướp, nạn nhân cung khai trước sự chứng kiến của hai nhân chứng (trong khuôn hình, 3 nhân vật lần lượt cung khai luôn ở vị trí tiền cảnh, cận cảnh, còn hậu cảnh luôn là nhà sư và tiều phu). Sự đan xen các hình ảnh ở công đường và hình ảnh ở ngôi đền cũng cho thấy những phản ứng của tiều phu, người bình dân và thày tu trước các lời khai.

Nghệ thuật xử lí máy quay của phim cũng rất hiệu quả. Khi miêu tả cảnh người tiều phu vào rừng, để báo hiệu một sự kiện giật gan sắp đến, máy quay di chuyển theo bước chân của nhân vật, quay từ nhiều góc độ: từ trên cao xuống, từ dưới hất lên, khiến ta có cảm giác như người tiều phu đang bị theo dõi bới một con mắt vô hình nào đó. Cảnh tên cướp và võ sĩ chạy vào rừng sâu cũng được miêu tả với máy quay di chuyển tốc độ cao, rung, quay từ phía trước, phía sau, trên đầu, gợi tả trạng thái phấn khích của hai nhân vật: samurai phán khích vì tò mò trước món đồ cổ mà tên cướp hứa hẹn, tên cướp phấn khích vì đã dụ được kiếm sĩ vào bẫy. Đặc biệt ấn tượng trong phim này là các cảnh người thiếu phụ cung khai, tên cướp và nạn nhân cung khai đều được quay bằng cách chĩa thẳng ống kính vào nhân vật, cho họ xuất hiện ở cận cảnh, trực diện. Cách quay này tạo cảm giác như khán giả chính là vị quan tòa đang nghe đang các nhân chứng cung khai.

Nghệ thuật xử lí ánh sáng trong phim cũng rất ấn tượng. Kurosawa đã triệt để quay bằng ánh sáng tự nhiên. Khi các cảnh quay ở trong rừng gặp khó khăn vì cây cối rậm rạp, ánh sáng mặt trời khó lọt qua, nhà quay phim đã khắc phục bằng cách dùng gương phản chiếu ánh mặt trời. Ánh sáng phản chiếu của gương tạo nên những mảng sáng tập trung trên gương mặt nhân vật và trong màu trắng của trang phục của người thiếu phụ. Hiệu quả ánh sáng thể hiện rõ trong đoạn phục hiện của tên cướp, kể lại cảnh hắn chạy về báo với thiếu phụ là chồng cô bị rắn cắn. “Tajomaru cười lớn rồi chạy. Ánh sáng chiếu thẳng vào mặt y và chiếu vào hình ảnh người thiếu phụ trùm mũ trắng…Đạo diễn thực sự rất lưu tâm đến hiệu quả màu sắc của phim khi cho dùng mực tàu để nhuộm nước mưa, tạo ra hiệu quả về cảm giác mưa nặng hạt.


Phim còn hấp dẫn bởi các chi tiết mang tính biểu trưng. Khu rừng là một không gian có tính biểu trưng. Rừng, với đặc điểm bản thể là nơi có nhiều cây cối rậm rạp, ánh mặt trời khó lọt qua, gợi liên tưởng đến những bí ẩn trong vô thức của con người. Rừng cũng khiến ta liên tưởng đến một mê cung không lối thoát. Đó là không gian lưu giữ những bí ẩn. Việc sử dụng ánh sáng mặt trờ để quay phim có lẽ cũng mang ý nghĩa biểu trưng. Chúng ta thường nói mọi sự thật đều được phơi bầy dưới ánh mặt trời, nhưng ở đây, ánh sáng mặt trờ trong khu rừng không thể đủ mạnh để soi thấu mọi ngóc ngách của khu rừng- của sự thực.

Diễn xuất của diễn viên trong bộ phim này mang tính tượng trưng, tính sân khấu hơn là tính tự nhiên. Các cử chỉ, lời nói của diễn viên gợi nhắc cách diễn của kịch nô trong văn hóa truyền thống của Nhật Bản. Đây không phải là hạn chế của diẽn viên mà có lẽ chính là chủ ý của đạo diễn, khi cái mà ông muốn mang đến cho người đọc không phải là tính chân thực của sự kiện (vì làm gì có sự thực) mà là thái độ của con người, những góc khuất trong tâm lí con ngừời.

Thông điệp của bộ phim có lẽ là cái mãi mãi khiến người đọc day dứt, đó là thông điệp về tính thiện mong manh của con người. Con người, kể cả người đã chết, không ai trung thực với sự thực. Tất cả đều che dấu sự thực theo cách có lợi nhất cho mình. Một cái chết, 3 thủ phạm khác nhau. Tên cướp kể lại câu chuyện để dựng lên hình ảnh mình như một đạo tặc yêng hùng, thiếu phụ kể lại câu chuyện để tìm sự cảm thông, nạn nhân kể lại câu chuyện để cứu vớt danh dự. Người tiềuphu không dám kể sự thực vì sợ liên lụy hay vì đã trot lấy cắp thanh đoản đao. Trong câu chuyện cuối cùng của tiều phu, nỗi cay đắng còn bật lên bởi kiếm sĩ và tên cướp thực chất đèu là những người hèn nhát và tàn nhẫn. Kiếm sĩ không những không xót thưong người vợ bị làm nhục mà còn sỉ vả cô, tên cướp không phải được cô gái van vỉ xin theo mà chính là người van vỉ. Tình yêu của y với cô gái cũng tan nhanh như bong bóng khi y nghe ngừơi chồng hát hủi cô và coi cô là kẻ chẳng ra gì. Khi bị cô gái kích động, lao vào đánh nhau, kiếm sĩ và tên cướp cũng không phaỉ đánh nhau nhằm bảo về người mình yêu mà chỉ nhằm vớt vát danh dự trước người phụ nữ. Họ cũng run sợ khi cầm kiếm đánh nhau (thể hiện qua cảnh họ bò lê trên đất và liên tục ngã, rơi kiếm) Tất cả toát lên một dư vị chua chát về tính thiện mong manh của con người. Nếu bộ phim chấm dứt ở đây, nó sẽ là một cái nhìn bi quan về đời sống, đúng như cái bi quan đau đớn của nhà sư. Nhưng nó đã khép lại bằng chi tiết người tiều phu mang đứa bé về nuôi, mặc dù anh đã có 6 đứa con, mang lại niềm tin cho nhà sư nói riêng, khán giả nói chung về cái thiện căn bền vững của con người.

http://tinvanonline.org/2008/04/29/rashomon-2/

Akira Kurosawa Film studies Literature Văn học & Điện ảnh Văn học Nhật Bản

Truyện “Rashomon” và “Trong rừng trúc” – Akutagawa Ryunosuke

1) Cổng Rashomon – Akutagawa Ryunosuke

Chuyện vào một ngày nọ lúc trời đã về chiều. Có một gã nô bộc đang chờ tạnh mưa dưới cổng Rashomon.
Dưới chiếc cổng lớn, ngoài gã đàn ông này ra chẳng có ai khác. Trên chiếc cột lớn sơn son đỏ mà nước sơn đã bị bong loang lổ đó đây, chỉ có mỗi một con dế mèn đang đậu ở đấy. Cổng Rashomon ở ngay trên đại lộ Suzaku cho nên ngoài gã đàn ông này bình thường lẽ ra cũng có thể có thêm vài ba người khác, đàn bà thì đội nón lá ichimegasa hay đàn ông đội mũ momieboshi đứng tránh mưa. Thế nhưng ngoài gã ra không có ai cả.
Số là vì mấy năm gần đây kinh thành Kyoto cứ bị hết hoạ này lại đến nạn kia, hết động đất, giông bão, hoả hoạn, lại đến nạn đói kém. Vì thế mà chốn kinh sư tiêu điều xơ xác thật khác thường. Cổ thư còn ghi chép lại những chuyện như tượng Phật và đồ thờ tự bị chẻ ra, gỗ sơn son hay thếp bạc cũng bị chất đống bên đường để bán làm củi đốt. Chốn kinh thành mà còn như thế, huống hồ cổng Rashomon này, chẳng ai ngó ngàng đến chuyện trùng tu sửa sang. Cổng bị bỏ mặc tiêu điều hoang phế, chỉ tổ cho chồn cáo cùng quân trộm cắp thừa cơ đến dùng làm nơi trú ẩn. Thậm chí cả những xác chết đường chết chợ không người tới nhận cũng được đem vứt ở đây, như đã thành một cái lệ. Vì thế hễ trời chạng vạng tối là mọi người đều ghê sợ, chẳng một ai dám bén mảng đến gần.
Thay vào đó, vô số quạ không biết từ đâu kéo cả về đây. Ban ngày nhìn về phía cổng thấy không biết bao nhiêu là quạ bay thành vòng tròn, vừa kêu vừa lượn lờ quanh miếng ngói phù điêu trên cùng. Nhất là hễ đến lúc ráng chiều nhuộm đỏ khoảng trời phía trên cổng, thì nom cứ như là nền trời có rắc vừng đen. Dĩ nhiên lũ quạ đến rỉa xác người chết vứt nơi cổng.
Thế nhưng hôm nay, có lẽ kể về giờ giấc thì cũng đã muộn, chẳng thấy bóng dáng một con quạ nào cả. Chỉ thấy đó đây lốm đốm màu bạc phếch của phân quạ dính vào những bậc đá chỉ chực lở và cỏ mọc um tùm từ nhũng kẽ nứt. Gã nô bộc ngồi ở bậc trên cùng của bậc đá có bảy bậc, đặt mông trên vạt sau của chiếc áo xanh lam đã giặt đến bạc màu, vừa mân mê mụn trứng cá to tướng mọc trên má bên phải vừa lơ đãng nhìn mưa rơi.
Tác giả vừa viết ở trên rằng “gã nô bộc đang chờ tạnh mưa”. Nhưng dù trời có tạnh mưa đi nữa, gã nô bộc này cũng chẳng có việc gì để làm. Thông thường dĩ nhiên là gã sẽ đi về nhà chủ. Nhưng gã lại mới bị chủ cho thôi việc từ bốn năm hôm nay. Như đã viết ở trên, lúc bấy giờ Kyoto đã suy tàn lắm rồi. Gã nô bộc này bị người chủ mà gã hầu hạ lâu năm cho thôi việc, thật ra cũng là ít nhiều do sự suy tàn ấy mà ra chứ chẳng phải gì khác. Vì thế thay vì viết “gã nô bộc đang chờ tạnh mưa”, phải viết là “gã nô bộc không đi đâu được vì trời mưa, và gã đã đến bước đường cùng chẳng biết về đâu nữa” mới đúng. Hơn nữa, bầu trời u ám hôm nay chẳng nhiều thì ít cũng đã khiến gã nô bộc thời Heian(°)này chạnh lòng. Cơn mưa đổ xuống từ giờ thân đến giờ vẫn chẳng có vẻ gì là muốn ngớt. Vì thế trước mắt, gã chưa biết ngày mai sẽ phải làm gì để sống qua ngày, từ nẫy đến giờ gã vẫn vừa miên man nghĩ ngợi tìm cách xoay sở làm sao ra khỏi bước đường cùng, vừa lơ đãng nghe tiếng mưa rơi trên đại lộ Suzaku .
Mưa rào rào từ xa tới bao trùm lên cổng Rashomon. Bóng chiều như kéo màn trời sa xuống thấp, ngẩng nhìn lên thấy hàng ngói chênh chếch đầu hồi trên mái cổng như đang đỡ cả một màn mây nặng trĩu u ám.
Một khi đã không còn cách nào khác, không làm sao hơn được, thì đâu còn có thể kén chọn nữa. Nếu còn kén chọn, thì chỉ có mà chết đói, không chết trong nhà thì cũng chết đường chết chợ, rồi sẽ bị đem ra vứt trên cổng này như người ta vứt xác của một con chó mà thôi.
Nếu đừng kén chọn nữa- gã nô bộc cứ nghĩ tới nghĩ lui quanh quẩn mãi không biết bao lần để rồi cuối cùng ngừng lại ở chỗ đó. Tuy vậy ngay cả khi đã nghĩ tới “nếu đừng kén chọn” rồi, nhưng quanh đi quẩn lại vẫn còn dừng lại ở chỗ “nếu đừng kén chọn.” này, thì rút cuộc vẫn mãi mãi chỉ là một chữ “nếu “. Dù gã nô bộc đã nhủ lòng sẽ không kén chọn -không từ bất cứ điều gì- , thế nhưng gã vẫn không có can đảm tiến thêm đến chỗ khẳng định cái điều đương nhiên phải đến tiếp theo sau câu “nếu đừng kén chọn ” -để ngã ngũ cho xong chuyện -, tức là ” thì chẳng còn cách nào khác là đành làm quân trộm cắp vậy.”
Gã nô bộc hắt hơi thật mạnh, rồi uể oải đứng dậy. Hơi lạnh buổi chiều ở Kyoto đã đến độ cần có lò than để sưởi ấm. Gió luồn giữa những hàng cột, cùng với bóng chiều đang dần xuống, lồng lộng thổi. Con dế mèn đậu trên chiếc cột loang lổ nước sơn đã bò đi đâu mất.
Gã nô bộc vừa kéo cao cổ áo màu lam mặc bên ngoài chiếc áo cánh màu vàng, rụt cổ lại, vừa đưa mắt nhìn quanh cổng. Gã nghĩ bụng nếu có chỗ nào không sợ bị mưa gió, không ngại có người trông thấy, để đánh một giấc ngon lành, thì gã sẽ ngủ ở đó cho qua đêm nay. Tức thì, may đâu chiếc cầu thang cũng sơn son đỏ, bề ngang khá rộng, bắc lên tầng gác của chiếc cổng đã lọt vào mắt gã. Ở trên ấy thì dù cho có người chăng nữa, chắc cũng chỉ toàn là người chết. Gã nô bộc bèn vừa cẩn thận giữ cho thanh đao đeo bên hông khỏi tuột ra khỏi vỏ, vừa đặt bàn chân mang đôi dép rơm lên bậc dưới cùng của cầu thang.
Thế rồi, một vài phút sau đó. Trên bậc giữa của cầu thang bắc lên gác cổng Rashomon, một gã đàn ông đang co người lại như con mèo, nín thở nghe ngóng động tĩnh trên gác. Một ánh lửa leo lét chập chờn trên gác lờ mờ soi xuống gò má bên phải của gã, gò má có một cái mụn trứng cá mưng mủ sưng đỏ lên ở giữa đám râu ria lởm chởm. Thoạt đầu gã nô bộc cứ đinh ninh rằng ở trên ấy chỉ toàn là người chết. Nhưng chỉ mới bước lên được hai ba bậc thang và nhìn xem thử, gã thấy ở trên đó có ai đang thắp lửa, mà ánh lửa ấy hình như đang chuyển động về phía này. Đó là một ánh lửa đục tối và vàng vọt, chập chờn chiếu lên trần nhà có giăng đầy mạng nhện đến khắp mọi xó xỉnh, thoạt nhìn đã nhận ra ngay. Một kẻ dám đốt đèn trên gác cổng Rashomon trong đêm mưa như thế này ắt chẳng phải là người bình thường.
Gã nô bộc rón rén lần bước như một con thạch sùng, mãi mới lên đến bậc trên cùng của chiếc cầu thang dốc dác. Thế rồi gã cố nằm bẹp xuống bám mình vào sàn gác, cần cổ thì cố vươn về phía trước, rụt rè dòm vào trong gác.
Gã nhìn thử thì thấy trong lòng gác, quả đúng như lời đồn đại, có một vài xác chết bị vứt nằm ngổn ngang. Chỗ có ánh lửa soi tới hoá ra không rộng lắm nên cũng không rõ là trên ấy có bao nhiêu xác chết. Chỉ có điều là lờ mờ trông thấy trong đó
có xác thì trần truồng, có xác thì có mặc quần áo. Dĩ nhiên hình như trong đó cũng có cả xác đàn ông lẫn với xác đàn bà. Và tất cả những xác chết ấy đều như những hình nhân nặn bằng đất sét, miệng há hốc, tay thò ra, nằm lăn lóc trên sàn, thật không ngờ trước đó đã từng là những con người có sự sống. Hơn nữa những phần thân thể nhô cao như vai và ngực phản chiếu ánh lửa mơ hồ đổ bóng xuống làm cho những phần thân thể thấp hơn càng thêm u tối, lặng thinh câm nín ngàn đời.
Gã nô bộc vội bịt mũi vì mùi hôi thối của những xác chết đã rữa nát ấy. Nhưng chỉ trong một phút sau đó, bàn tay ấy đã quên cả bịt mũi lại. Đó là vì một cảm xúc vô cùng mãnh liệt đã cướp trọn khứu giác của gã đàn ông này.
Lúc ấy lần đầu tiên mắt gã nô bộc mới nhìn thấy có bóng người lom khom giữa đống xác chết. Một bà lão mặc chiếc áo kimono màu nâu vỏ dà, thấp bé, gầy gò, đầu tóc bạc phơ như một con khỉ. Bà lão ấy tay phải cầm một mẩu gỗ thông để đốt lửa, đang nhìn như soi vào mặt một trong những cái xác chết. Mái tóc dài cho thấy có lẽ đấy là xác của một người đàn bà.
Hết sáu phần là hoảng sợ, bốn phần còn lại là tò mò, nên lúc ấy gã nô bộc đã quên cả thở. Nếu mượn lời cổ thư thì đó là gã nô bộc cảm thấy như tóc trên đầu mình đang dựng đứng cả lên. Bấy giờ bà lão đặt mẩu gỗ thông xuống sàn gác, rồi đưa hai tay lên đầu của xác chết mà nẫy giờ bà vẫn nhìn chầm chập, làm như thể khỉ mẹ đang bắt chấy cho khỉ con, bà bắt đầu nhổ từng sợi của mái tóc dài ấy. Những sợi tóc dường như cứ thế rụng ra theo bàn tay của bà lão.
Nhìn từng sợi tóc rụng dần, nỗi kinh hoàng cũng biến dần trong lòng gã nô bộc. Và cũng đồng thời, dần dần mỗi lúc gã cảm thấy căm giận bà lão này hơn. Ồ không, nói rằng đó là lòng căm giận đối với bà lão này thì có lẽ là không đúng. Mà đúng ra đó là mối ác cảm đối với tất cả những điều ác trên đời, cứ mỗi lúc một bùng lên mãnh liệt trong lòng gã. Lúc này nếu có ai lại đem chuyện nên chịu chết đói hay nên thành kẻ trộm mà gã đàn ông này đã nghĩ đến khi còn ở dưới cổng lúc nẫy ra hỏi lại gã, thì có lẽ gã đã trả lời ngay không một chút nuối tiếc rằng gã sẽ chịu chết đói. Lòng căm ghét cái ác của gã đang bùng lên mãnh liệt như thế đó, giống như mẩu gỗ thông đang cháy mà bà lão để trên sàn kia.
Dĩ nhiên gã nô bộc không biết vì sao bà lão lại nhổ tóc của xác chết. Vì thế không biết có thể quy kết rằng đây là một việc thiện hay ác, một cách rạch ròi phân minh hay không. Thế nhưng đối với gã nô bộc này thì, chỉ nội chuyện nhổ tóc của xác chết trên gác cổng Rashomon trong đêm mưa hôm nay cũng đã đủ thành một điều ác không thể nào tha thứ được. Dĩ nhiên, gã nô bộc cũng đã quên bẵng rằng mãi cho đến lúc nẫy thì chính gã cũng đã có ý định trở thành quân trộm cắp đấy thôi.
Thế là gã nô bộc bỗng bước thật mạnh trên chiếc cầu thang và leo lên gác. Rồi vừa đặt tay lên thanh đao, gã vừa bước sải mấy bước đến trước mặt bà lão. Đương nhiên là bà lão hết sức ngạc nhiên.
Bà lão nhìn thấy gã nô bộc thì giật bắn cả người, như thể tên vừa bị bật khỏi nỏ.
-Mụ kia, mụ định chạy đi đâu ?
Gã nô bộc chận đường bà lão đang bị vấp phải xác chết khi bà hớt hải tìm đường chạy trốn, và quát mắng như thế. Bà lão vẫn cố gạt gã ra để chạy đi. Gã nô bộc lại đẩy bà lão lui lại, cố không cho bà chạy thoát. Hai người chẳng nói chẳng rằng cứ giằng co xô đẩy nhau như vậy giữa đống xác chết. Nhưng thắng bại thì đã rõ ngay từ đầu. Cuối cùng gã nô bộc nắm lấy cánh tay bà lão bẻ vặn sang một bên, cánh tay chỉ còn đúng có da bọc xương như một cái chân gà.
-Mụ làm gì ở đây nẫy giờ. Nói, nói ngay không thì mụ biết tay ta ! .
Gã nô bộc bỗng thình lình gạt bà lão ra, tay rút đao ra khỏi vỏ, khua thanh đao bằng thép sáng loáng trước mắt bà lão. Thế nhưng bà lão vẫn làm thinh. Hai tay bà run lẩy bẩy, vai co lại thở dốc, hai mắt mở trừng trừng tưởng chừng con ngươi sắp văng ra ngoài, và bà vẫn một mực nín thinh như thể một người câm. Thấy thế, gã nô bộc chợt hiểu rõ rằng mạng sống của bà lão này giờ đây hoàn toàn ở trong tay mình. Nghĩ đến đấy sự căm ghét đang bừng cháy trong lòng gã nẫy giờ chẳng mấy chốc đã dịu xuống. Và rồi sau đó chỉ còn lại sự đắc ý dễ chịu, hài lòng vì làm được một việc, và đã hoàn thành công việc ấy thật mỹ mãn. Gã nô bộc cúi nhìn bà lão, hạ giọng nói:
-Ta chẳng phải là sai nha coi việc xét xử gì cả, mà chỉ là khách đi đường qua dưới cổng này chiều nay. Vì vậy ta không trói mụ hay làm gì mụ đâu. Thế nhưng, mụ làm gì trên gác này nẫy giờ, mụ chỉ cần kể cho ta nghe là đủ rồi.
Bấy giờ đôi mắt đã mở to của bà lão lại càng trợn lên nhìn chòng chọc vào mặt gã nô bộc. Vành mắt đỏ lòm, bà lão nhìn gã bằng đôi mắt sắc như của loài cú vọ chuyên ăn thịt. Thế rồi đôi môi nhăn nheo và hầu như đã dính liền với mũi khẽ động đậy như đang nhai cái gì. Cục yết hầu xương xẩu nhọn hoắt chạy lên chạy xuống trên cổ trông thấy rõ. Đúng lúc đó, từ trong cái cổ họng ấy phát ra một thứ âm thanh nghe như tiếng quạ kêu, hổn hển lọt vào tai gã nô bộc.
-Ta định nhổ những sợi tóc này, nhổ những tóc này, để kết tóc giả.
Gã nô bộc thất vọng vì câu trả lời của bà lão không ngờ lại tầm thường quá. Trong lúc thất vọng như thế thì đồng thời, lòng căm giận lúc nẫy cùng với sự lạnh nhạt khinh bỉ lại ùa vào lòng gã. Bà lão có vẻ cũng nhận ra được điều đó. Một tay vẫn còn cầm mớ tóc dài mới nhổ vừa đoạt từ xác chết, bà lão lẩm bẩm, nghe như một con cóc gớm ghiếc đang ộp oạp trong miệng như sau
– ƯØ, thì cho là nhổ tóc của xác chết như thế này có lẽ ác lắm cũng không chừng đấy . Nhưng lũ người chết đang nằm đây cũng toàn là một bọn đã làm những chuyện đáng để bị như thế. Như con đàn bà mà ta đang nhổ tóc của nó đây, nó đã bắt rắn chặt ra thành từng khúc đem phơi khô mà bảo đó là cá khô, đem bán cho bọn lính gác ở Đông Cung. Nếu nó không bị bệnh dịch mà chết thì bây giờ có lẽ nó cũng đang đi bán đấy. Ấy thế mà cá khô của nó bán lại có tiếng là ngon, không lần nào mà bọn lính tráng không mua về ăn. Ta không nghĩ rằng việc con đàn bà này làm là điều ác. Vì không làm thế thì chết đói, chẳng qua là bất đắc dĩ thôi. Đã vậy, thì bây giờ cũng thế, ta cũng không cho rằng điều ta đang làm là điều ác. Vì nếu không làm như vậy sẽ phải chết đói, đó chẳng qua chỉ là một điều bất đắc dĩ mới phải làm đấy sao. Vì thế con đàn bà này cũng đã biết rõ rằng có những điều bất đắc dĩ mới phải làm, cho nên có lẽ nó cũng bỏ qua cho việc mà ta đang làm.
Bà lão nói đại khái như thế.
Gã nô bộc tra đao vào vỏ, vừa chận tay trái lên chuôi đao, vừa nghe câu chuyện của bà lão với vẻ lãnh đạm. Tai nghe mà bàn tay phải vẫn mân mê mụn trứng cá lớn đang mưng mủ đỏ lòm trên má. Thế nhưng, trong lúc nghe bà lão nói như thế, lòng gã dần dần trở nên can đảm hơn. Đó là sự can đảm mà lúc nẫy khi còn ở dưới cổng gã còn thiếu. Và đó là sự can đảm hoàn toàn trái ngược với lòng dũng cảm khi gã leo lên gác của chiếc cổng này và đã tóm lấy bà lão. Gã nô bộc không chỉ không còn phân vân không biết nên đành chịu chết đói hay trở thành kẻ trộm cắp nữa. Trong bụng của gã lúc này, nói thẳng ra là, cái ý nghĩ đành chịu chết đói gì đó hầu như đã bị xua đi mất tiêu, khiến gã như không còn bận tâm gì về điều ấy nữa.
-Ra thế ! Chắc phải thế !
Bà lão vừa kể xong, gã nô bộc cười khẩy nói như tự nhủ. Và rồi, gã bước tới một bước, tay phải bỗng rời cái mụn trứng cá trên má, gã nắm lấy cổ áo bà lão gằn giọng nói :
-Vậy ta có lột áo của mụ thì mụ cũng đừng có oán trách gì nhé . Vì ta mà không làm thế này thì cái thân ta cũng chết đói thôi.
Gã nô bộc lột phắt cái áo của bà lão. Đoạn gã tàn nhẫn đá bà lão, còn đang cố ghì lấy chân gã , khiến bà ngã lăn ra trên những xác chết. Chỉ độ dăm bước là đến miệng cầu thang. Gã nô bộc cắp chiếc áo kimono màu nâu vỏ dà vừa tước đoạt của bà lão vào nách, chỉ trong chớp mắt gã đã theo chiếc cầu thang dốc dác tuột xuống đất, rồi mất hút vào bóng đêm.
Một lát sau, bà lão bị ngã tưởng suýt chết ngóc được dậy, trần truồng giữa những xác chết. Bà cất giọng vừa như lẩm bẩm vừa như rên rỉ, lần theo ánh lửa vẫn còn leo lét bò ra đến miệng cầu thang. Và rồi, từ miệng cầu thang ấy, một cái đầu tóc trắng ngắn ngủn thò ra dòm xuống cánh cổng . Bên ngoài chỉ có bóng đêm tối đen như mực.
Chẳng ai biết gã nô bộc ấy đã đi đâu .
( Tháng 9 năm Taisho thứ 4 )
DTTM ( Quỳnh Chi ) dịch
( Tokyo, 1993-3/2005)
Bản dịch theo nguyên tác Rashomon trong Tuyển tập Akutagawa Ryunosuke của nhà xuất bản Chikuma Shobo năm 1984.
Chú thích : (°) Heian : Tên gọi thời đại dài khoảng 400 năm của Nhật bản, từ khi kinh đô được dời về Heiankyo( Kyoto ngày nay ) vào năm 794.

2) Trong rừng trúc – Akutagawa Ryunosuke

(Dịch giả Phạm Vũ Thịnh)

Lời khai của người đốn củi với quan kiểm sát
Trong rừng trúc - Akutagawa RyunosukeĐúng đó, thưa quan lớn. Thấy được xác chết đó chính là tui đây chớ ai. Sáng nay tui lên rừng sâu đốn củi như mọi ngày, thì thấy có xác chết trong bụi cây khuất sau núi đó. Quan hỏi ở đâu hả? Thì cách chừng 4, 5 thôi đường[1] từ con đường lớn qua trạm thơ ở Yamashina đó mà. Chỗ đó vắng người, có nhiều cây tuyết tùng[2] nhỏ lẫn trong bụi tre.
Xác chết nằm ngửa, mặc áo bào màu xanh lơ, đầu vẫn còn đội mũ xếp kiểu nhà quan trên kinh đô. Nói là chỉ bị đâm một dao thôi, chớ thiệt ra, vết thương nhằm ngay ngực, cho nên lá tre rụng chung quanh xác chết thấm đầy máu thâm tím. Không, máu đã hết chảy rồi, mà vết thương ngó bộ cũng đã khô rồi, thưa quan lớn. Lại có một con ruồi trâu bám riết trên vết thương, như thể không nghe cả tiếng chân tui bước tới nữa.
Quan hỏi có thấy đao kiếm chi không hả? Không, tui chẳng thấy có đao kiếm chi hết. Chỉ thấy có một đoạn dây rớt ở gốc cây tuyết tùng gần đó. À, ngoài đoạn dây, còn có cái lược nữa. Chung quanh xác chết chỉ có hai vật đó thôi, thưa quan lớn. Nhưng mà, một vùng cỏ và lá tre rụng quanh đó thì bị giẫm đạp tan hoang, nên chắc chắn là anh ta trước khi bị giết chết, cũng đã chống chọi dữ lắm. Còn ngựa hả? Chỗ đó thì ngựa không vô lọt được. Lối cho ngựa chạy thì phải cách đó một cánh rừng mới có.
  • Lời khai của nhà sư lữ hành với quan kiểm sát
Trong rừng trúc - Akutagawa RyunosukeNgười chết đó thì quả thật tôi đã gặp hôm qua. À, có lẽ vào khoảng trưa, thưa quan lớn. Chỗ gặp là khoảng đường tôi đang đi từ Sekiyama tới Yamashina đó. Anh ta đi bộ, cùng với người đàn bà cưỡi ngựa, hướng về phía Sekiyama. Người đàn bà đội mũ có phủ khăn che mặt nên tôi không biết mặt mũi ra sao, chỉ thấy cái áo màu tím. Con ngựa màu hung đỏ… À, hình như đã cắt sạch bờm. Quan hỏi ngựa bao lớn à? Con ngựa nầy có lẽ cao hơn ngựa thường đến 4 tấc[3]. Người tu hành nên tôi không rành chuyện đó, thưa quan lớn. Anh ta mang gươm, và có cả cung tên nữa. Đặc biệt, bao đựng tên sơn đen, cắm hơn hai chục mũi tên đánh trận, thì tới bây giờ tôi cũng còn nhớ rõ.
Tôi đâu có ngờ anh ta rồi ra thân thể như vậy. Quả thật là đời người như sương như điện chớp. Chao ôi, thảm thương đến thế nầy thì còn lời nào mà nói nữa.
  • Lời khai của sai nha[4] với quan kiểm sát
Quan hỏi cái thằng mà tôi bắt được là ai ạ? Thưa quan lớn, thằng nầy chính thật là tướng cướp khét tiếng Tajomaru đó. Quả thật là tôi đã tóm được lúc hắn đã ngã ngựa, đang rên hừ hừ trên cầu đá ở Awadaguchi. Quan hỏi vào giờ nào ạ? Khoảng canh đầu đêm hôm qua đó, thưa quan lớn.
Trong rừng trúc - Akutagawa Ryunosuke
Lần tôi bắt hụt hắn trước đây, hắn cũng mặc áo bào màu xanh đậm, mang gươm dài như vậy. Lần nầy, như quan lớn thấy đó, lại mang thêm cung tên nữa. Dạ, quan dạy là người chết đã mang cung tên đó? Vậy thì giết chết người đàn ông đó chính là tên Tajomaru nầy rồi, chẳng sai chạy vào đâu được nữa. Cây cung bọc da, bao đựng tên sơn đen, tên đánh trận đuôi lông ó 17 cây, tất cả các thứ nầy hẳn là của người bị hắn giết rồi. Ngựa thì đúng như quan phán, là ngựa màu hung đỏ, cắt hết bờm.
Tên cướp nầy mà bị con vật đó hất ngã xuống thì hẳn là tiền duyên nghiệp báo chi đây. Con ngựa lúc đó vẫn còn kéo theo dây cương dài, đứng gặm cỏ bên đường, một đoạn phía trước cầu đá.
Trong đám mấy tên cướp hay lai vãng chốn kinh kỳ, thằng Tajomaru nầy nổi tiếng là háo sắc. Năm ngoái đây, trên núi phía sau chùa Toribedera thờ La Hán Binzuru, có một bà đi lễ chùa đã bị giết chết cùng với đứa con gái nhỏ, nghe đâu là thủ đoạn của thằng nầy.
Nếu đúng thật là tên nầy đã giết người đàn ông đó, thì người đàn bà cỡi con ngựa hung đỏ đã đi đâu, ra sao rồi, thật không còn biết nói sao nữa. Sợ quan mắng cho là dám nói leo, nhưng xin quan lớn xét cả việc ấy cho.
  • Lời khai của bà già với quan kiểm sát
Dạ phải, người chết đó là người đã cưới con gái của già nầy. Nhưng cậu ta không phải là người chốn kinh kỳ, mà là võ sĩ nhà Kokufu ở xứ Wakasa. Tên cậu ta là Takehiro dòng Kanazawa, 26 tuổi. Dạ không, cậu ta tính tình hiền lành, đâu có gây thù oán chi với ai.
Trong rừng trúc - Akutagawa RyunosukeCòn con gái tôi à? Con gái của già tên là Masago, 19 tuổi. Tuy tính tình có cứng cỏi không thua đàn ông con trai, nhưng mà ngoài cậu Takehiro ra, nó chưa hề biết tới đàn ông nào khác. Khuôn mặt nhỏ trái xoan, nước da bánh mật, đuôi mắt bên trái có một nốt ruồi đen.
Hôm qua, cậu Takehiro đã cùng con gái tôi lên đường đi Wakasa. Nhân quả chi mà ác đức đến ra nông nỗi nầy. Rể tôi phần số như vậy đã đành, nhưng con gái tôi ra sao thì già nầy lo lắng không sao ở yên được. Lạy quan lớn xét cho lời van xin cuối đời của người già cả nầy, mà cho dù phải vạch từng lá cỏ, kiểm từng gốc cây, cũng xin tìm cho ra con gái của già.
Dù gì đi nữa, già cũng căm hận tên cướp mà quan nói là Tajomaru gì đó. Đã giết chết con rể tôi, mà cả con gái của tôi cũng … (sau đó khóc ròng, không nói gì được nữa).
  • Lời thú của Tajomaru
Giết chết người đàn ông đó chính là tui đây. Nhưng tui không giết người đàn bà. Vậy thì cô ta đi đâu? Cái đó thì tui cũng không biết. Mà khoan đã, có tra tấn bao nhiêu đi nữa, chuyện tui không biết thì làm sao mà nói gì được chớ. Hơn nữa, đã tới nước nầy thì tui cũng quyết không giấu giếm hèn nhát đâu.
Hôm qua, khoảng sau trưa một chút, tui đã gặp hai vợ chồng đó. Đúng lúc gió thổi lật cái khăn che mặt trước mũ của cô đó lên, tui thoáng thấy được khuôn mặt cô ta. Mà chỉ một thoáng thôi. Tui vừa tưởng là thấy được mặt cô ta, thì đã không còn thấy nữa. Một phần có lẽ cũng vì chỉ thấy lướt qua nên tui thấy khuôn mặt cô đó giống như khuôn mặt nữ-bồ-tát. Chỉ trong chớp nhoáng đó, tui đã quyết sẽ chiếm đoạt cô ta, dù có phải giết người chồng đi nữa.
Trong rừng trúc - Akutagawa Ryunosuke
Ôi, có gì đâu. Giết người có phải là chuyện gì ghê gớm như các người nghĩ đâu. Thế nào cũng phải chiếm đoạt đàn bà, thì phải giết đàn ông đi thôi. Chỉ khác là tui giết người thì dùng đao kiếm, còn các người thì thay vì đao kiếm, lại dùng quyền lực, tiền bạc, hay có khi chỉ cần lời nói xảo quyệt là đủ để giết người ta rồi. Giết kiểu đó thì máu chẳng đổ, mà đàn ông đó vẫn thấy như còn sống đàng hoàng. Nhưng chung quy cũng là giết người đó thôi. Giết người kiểu nào đáng kết tội nặng, các người đáng tội nặng, hay tui đáng tội nặng, thật khó mà phán quyết được (mỉm cười mai mỉa).
Nhưng mà, tất nhiên nếu không cần giết đàn ông mà vẫn chiếm đoạt được đàn bà thì tốt hơn. Quả thật, lúc đó lòng tui đã nghĩ là nếu được thì chiếm đoạt người đàn bà mà tránh giết người đàn ông. Nhưng khổ là ngay trên đường lớn qua trạm thơ ở Yamashina thì không cách nào làm được việc đó. Cho nên tui đã phải dàn xếp để dụ hai vợ chồng đó vô sâu trong núi.
Chuyện nầy cũng chẳng khó khăn chi. Tui giả bộ đi cùng đường với họ, rồi đặt chuyện rằng trong núi phía trước có phần mộ cổ, tui đào lên thấy có vô số gương và kiếm, nên đã dời đi, chôn ở một bụi rậm khuất sau núi để không ai tìm thấy được, nếu có ai muốn mua thì tui sẽ để lại với giá rẻ. Người đàn ông nghe tui nói, dần dần cũng động lòng ham. Thấy chưa, lòng ham muốn là thứ đáng sợ như thế nào. Vậy là, không đầy nửa khắc sau, vợ chồng họ đã theo tui, rẽ ngựa vào rừng.
Tới chỗ ngay trước bụi rậm, tui nói là kho tàng chôn ở trong đó, gọi họ tới xem. Anh chồng trong lòng đã ham muốn quá rồi, chẳng có gì phải phản đối. Nhưng cô vợ thì không chịu xuống ngựa, nói là muốn ngồi đợi ở đó. Mà nhìn thấy bụi rậm cây cối um tùm kiểu đó thì cô ta nói như vậy cũng là chuyện đúng thôi. Tui thì thật tình lúc đó đã chắc mẫm là thú săn lọt bẫy rồi, chạy đâu cho thoát, nên cứ để mặc cô ta ở đó, chỉ đưa anh chồng vô sâu trong bụi rậm.
Lúc đầu thì chỉ toàn là bụi tre dày. Nhưng đi chừng nửa thôi đường thì tới chỗ thấy phía trước có đám cây tuyết tùng, có phần thưa hơn. Không còn chỗ nào tốt hơn chỗ đó, cho tui ra tay. Tui vừa rẽ bụi rậm bước tới, vừa kiếm lời lọt tai mà nói gạt rằng kho tàng chôn ở dưới đám cây tuyết-tùng đó. Anh chồng nghe tui nói, hăm hở rẽ bụi rậm tiến về phía đám cây đó. Một hồi thì tới chỗ chỉ có ít tre, có vài cây tuyết tùng mọc thành hàng.
Vừa tới chỗ đó, tui thình lình nhào tới vật anh ta xuống. Là một tay dùng đao kiếm, anh ta quả là có sức mạnh lắm chớ, nhưng bị đánh thình lình nên không làm gì được, tức thì bị trói chặt vô một gốc cây tuyết tùng. Quan hỏi dây trói à? Dây đó là thứ đồ tiện lợi cho kẻ cướp, phòng khi cần có để vượt qua rào tường, nên lúc nào tui cũng cột sẵn ở thắt lưng. Tất nhiên là để anh ta khỏi la lên, chỉ cần tọng đám lá tre khô vô miệng là khỏi phải lo lắng chi nữa.
Lo xong phần anh chồng, tui quay trở lại chỗ cô vợ, nói là anh ta có vẻ phát bệnh thình lình, biểu vợ tới coi sóc cho.
Chắc khỏi cần nói là chuyện này cũng song suốt như ý tui. Cô ta vất mũ, mặc cho tui nắm tay, tất tả bước sâu vô bụi rậm. Nhưng, tới nơi lại thấy chồng mình bị trói vô gốc cây tuyết tùng. Vừa thấy vậy, không biết đã lấy từ trong túi ra từ lúc nào mà cô ta đã tức thì rút lưỡi dao ngắn ra, sáng loáng trên tay. Cho tới bây giờ, tui chưa hề thấy một người đàn bà nào cường ngạnh như cô này.
Lúc đó, tui mà dễ ngươi một chút là đã bị đâm một nhát lủng hông rồi. Tui tràng người né tránh được, nhưng cô ta cứ đâm chém túi bụi nên tui mà có bị thương tích cũng chẳng có chi lạ. Nhưng mà, tui đây, đường đường là Tajomaru, cho nên không đến nỗi phải dùng tới đao kiếm, cuối cùng rồi cũng đánh rớt được con dao. Tính khí cương cường đến đâu đi nữa mà trong tay không có vũ khí thì cũng phải chịu phép thôi. Vậy là đúng như ý định, cuối cùng tui đã chiếm đoạt được người đàn bà mà không cần phải giết người đàn ông.
Khỏi phải giết người đàn ông. Đúng đó. Tui đâu có ý định giết anh ta làm chi nữa. Nhưng, lúc tui định rời thoát khỏi bụi rậm đó, bỏ lại cô ta đang nằm khóc lóc, thì thình lình, cô ta nắm cánh tay tui, rồi như điên cuồng, cứ ôm chặt lấy tui. Mà nghe những lời thổn thức đứt quãng đó thì ra là cô ta nói : hoặc là chồng cô ta phải chết, hoặc là tui phải chết, một trong hai người phải chết đi, chớ cô ta đã làm chuyện nhục nhã đó trước mắt cả hai người đàn ông, thì đau khổ còn hơn chết nữa.
Ai cũng được, người nào sống sót thì cô ta sẽ đi theo mà cung phụng người đó. Cô ta năn nỉ thảm thiết vậy đó. Riết rồi tui cũng phát khởi ý muốn giết chết anh chồng đi. (có vẻ xúc động buồn rầu).
Chuyện này nói ra như vậy, chắc là người ta thấy tui tàn nhẫn hơn các người. Nhưng các người đâu có nhìn thấy vẻ mặt cô ta. Nhất là trong thoáng chớp đó, đôi mắt cô ta bốc lửa như thế nào. Lúc đó, nhìn đôi mắt cô ta, tui đã nghĩ là cho dù có bị sấm sét đánh chết đi nữa, cũng phải lấy cô ta làm vợ mới thoả lòng. Phải, lấy cô ta làm vợ, trong lòng tui lúc đó chỉ có một ý nguyện đó mà thôi. Điều đó không phải như các người nghĩ là chuyện sắc dục bỉ ổi đâu. Lúc đó, nếu thật chỉ chuyên niệm chuyện sắc dục mà thôi, thì dù có phải đạp ngã cô ta, tui cũng đã bỏ đi rồi. Mà như vậy thì người chồng cũng khỏi phải đổ máu dưới lưỡi gươm của tui. Nhưng mà, trong bụi rậm mờ tối, trong thoáng chớp khi tui nhìn đăm đăm khuôn mặt cô ta, tui hiểu rằng nếu không giết chết anh chồng thì không thể rời chỗ đó mà đi được.
Nhưng có giết anh ta đi nữa, tui cũng không muốn giết bằng thủ đoạn đê hèn. Tui cởi trói cho anh ta, rồi biểu anh ta tuốt gươm ra. (Dây trói cởi bỏ lúc đó, sau này còn sót lại bên gốc cây tuyết tùng). Sắc mặt giận dữ, anh ta mới tuốt cây gươm to bản ra, không nói một lời, tức thì hầm hầm bay tới chém tui.
Trận đấu gươm đó cuối cùng ra sao thì khỏi nói các người cũng đã rõ. Tới thế thứ 23 thì lưỡi gươm của tui đã xuyên thấu ngực kẻ địch. Thế thứ 23 đó, xin các người nhớ cho. Điều này, cho tới bây giờ tui vẫn còn nể phục. Đấu gươm với tui mà đỡ được hơn 20 thế thì khắp thiên hạ chỉ có một mình anh ta mà thôi. (mỉm cười khoái trá).
Anh ta vừa ngã xuống, thì tui hạ mũi gươm nhuộm máu, quay lại nhìn cô vợ. Thì, các người nghĩ coi, cô ta chẳng còn ở đó nữa. Tui cố tìm kiếm trong mấy đám cây tuyết-tùng coi cô ta trốn đi đâu. Nhưng trên đám lá tre khô chẳng còn gì là dấu vết của cô ta cả. Có lắng tai nghe cũng chỉ nghe tiếng hấp hối trong cổ họng người chồng mà thôi.
Theo chuyện mà đoán thì ngay khi tui chém nhát gươm đầu, có lẽ cô ta đã luồn qua bụi rậm, trốn đi để kêu người tới cứu rồi. Nghĩ vậy nên đến phiên tính mạng mình bị nguy, tui bèn đoạt lấy gươm dài và cung tên, lập tức chạy trốn về phía đường rừng đã vô lúc trước. Ở đó vẫn còn con ngựa của cô ta đang yên lặng gặm cỏ.
Chuyện từ đó về sau thì chẳng cần phải nói ra làm chi nữa. Có điều, trước khi vô kinh đô, chỉ có thanh gươm thì tui đã vất đi rồi. Lời cung khai của tui chỉ có chừng đó. Đàng nào thì cũng một lần, côn trượng hay bêu đầu treo cổ, thôi thì xin chịu nhục hình cho rồi. (tỏ thái độ ngạo mạn).
  • Lời sám hối của người đàn bà đến chùa Shimizu
Tên đàn ông mặc áo bào màu xanh đậm đó, sau khi đã dày vò tôi xong, hắn nhìn chồng tôi mà cười chế diễu. Chồng tôi khổ tâm biết là dường nào. Nhưng dù cho chồng tôi có vặn vẹo bao nhiêu đi nữa, cũng chỉ làm cho các vòng dây trói khắp trên thân người càng siết chặt vào thêm mà thôi. Tội nghiệp quá, bất giác tôi lăn về phía chồng tôi.
Trong rừng trúc - Akutagawa Ryunosuke
Không, tôi mới định lăn lại thì ngay lúc đó tên cướp đã đạp tôi ngã chúi tới chỗ chồng tôi. Rồi trong thoáng chốc nhìn thấy tia sáng không sao diễn tả được loé lên trong mắt chồng tôi, tôi hiểu ra được điều gì chứa đựng trong ánh mắt ấy. Ánh mắt không lời nào diễn tả được. Cho đến bây giờ, nhớ lại ánh mắt ấy, tôi còn không khỏi rùng mình.
Dù miệng không nói ra được lời nào, nhưng trong khoảnh khắc ấy, chồng tôi đã truyền đạt được tất cả tâm tình anh ấy. Nhưng chiếu toả ra từ ánh mắt ấy không phải là cơn giận dữ, mà cũng không phải là nỗi buồn rầu. Mà chỉ là tia sáng lạnh lẽo của lòng khinh miệt đối với tôi. Hơn cả nỗi đau đã bị tên cướp kia đạp đá, tôi đã bị ánh mắt ấy tống mạnh vào tâm thần, bất giác thét lên lời gì không rõ, rồi ngã xuống bất tỉnh.
Đến lúc tỉnh lại được thì tên đàn ông mặc áo bào màu xanh đậm đó đã đi đâu mất. Chỉ còn lại chồng tôi bị trói ở gốc cây tuyết tùng. Tôi gượng ngồi dậy được trên đám lá tre khô, nhìn chăm chú vẻ mặt của chồng tôi. Nhưng ánh mắt của chồng tôi vẫn không thay đổi chút nào. Cũng vẫn biểu lộ một màu thù ghét từ dưới đáy lạnh băng của lòng khinh miệt. Hổ thẹn, đau buồn, tức giận, … tôi không còn biết lòng tôi lúc ấy là như thế nào nữa. Tôi lảo đảo đứng lên, lết lại gần chồng tôi :
– “Thưa anh. Đã đến nông nỗi này thì em không còn có thể cùng sống với anh được nữa. Em chỉ muốn chết ngay cho rồi. Nhưng mà, xin anh cũng chết đi. Bởi anh đã chứng kiến nỗi ô nhục của em. Em không thể nào để mặc anh sống như thế này được”.
Tôi gượng hết sức mình để tỏ bày điều ấy. Thế mà chồng tôi vẫn chỉ nhìn tôi trừng trừng kinh tởm. Tôi gắng dằn lòng mình đang muốn xé toang ra, vừa tìm kiếm thanh gươm của chồng tôi. Nhưng có lẽ tên cướp kia đã đoạt lấy mất rồi. Thanh gươm đã đành, mà cung tên nữa, cũng không còn thấy đâu trong bụi rậm ấy. Nhưng may thay, lưỡi dao ngắn thì còn rớt lại dưới chân tôi. Tôi giương con dao ấy lên, nói với chồng tôi một lần nữa :
– “Thôi thì xin anh giao mạng cho em. Rồi em cũng xin chết theo anh”.
Nghe thế, chồng tôi mới mấp máy môi. Tất nhiên là vì miệng ngậm đầy lá tre khô, nên tiếng nói không sao nghe được. Nhưng nhìn đôi môi mấp máy, tôi cũng hiểu ngay lời anh nói. Chồng tôi cũng vẫn khinh miệt tôi, chỉ nói một lời : -“Giết ta đi”. Tôi, như hoàn toàn trong mộng dữ, đã đâm phập một nhát dao xuyên thấu ngực chồng tôi, qua lớp áo bào màu xanh lơ ấy.
Và rồi, có lẽ tôi đã bất tỉnh một lần nữa. Hồi lâu sau, khi tỉnh lại nhìn quanh, thì chồng tôi, vẫn còn bị trói như cũ, đã tắt thở từ lâu rồi. Ánh nắng chiều xuyên qua kẽ lá tuyết tùng lẫn trong đám lá tre, rọi lên khuôn mặt người chết tái xanh. Tôi cố nén tiếng khóc, lần mở dây trói tử thi mà vất đi. Rồi, còn thân tôi thì ra thế nào? Tôi chẳng còn sức nào mà nói nữa. Chỉ biết là, tôi không có đủ nghị lực để chết đi.
Tôi đã kề dao lên cổ, đã gieo mình xuống hồ nước bên triền núi, đã thử chết nhiều cách, nhưng cuối cùng cũng không chết được, mà còn sống sót như thế này, thì có gì để tự hào đâu. (mỉm cười buồn bã). Một kẻ hèn nhát như tôi, có lẽ đến Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cũng chẳng muốn đoái hoài cho nữa. Nhưng là kẻ đành phải giết chồng, là kẻ đã bị tên cướp kia dày vò nhục nhã, tôi biết làm thế nào được chứ? Trời ơi, tôi phải làm thế nào bây giờ? (thình lình nức nở thảm thiết).
  • Lời kể lể của người chết qua miệng người ngồi đồng
Tên cướp dày vò vợ ta xong còn ngồi đó mà an ủi vợ ta đủ điều. Tất nhiên, ta không thể thốt ra được lời nào. Thân thể lại bị trói vào gốc cây tuyết tùng. Nhưng ta đã đưa mắt ra hiệu cho vợ nhiều lần. Đừng tin những gì tên cướp nói, cứ nghĩ tất cả những điều hắn nói đều là láo toét cả. Ta muốn truyền đạt như thế.
Trong rừng trúc - Akutagawa RyunosukeThế nhưng, vợ ta cứ ngồi trên đám lá tre khô, buồn rầu nhìn xuống đầu gối. Ta thấy có vẻ cô ấy đang lắng tai nghe tên cướp nói. Ta rung động cả người vì ghen. Nhưng tên cướp đã khéo léo kiếm lời nói này nói nọ. Những là, đã thất tiết với người khác một lần rồi thì không thể nào còn sống chung êm đẹp với chồng nữa. Đi theo người chồng như thế, chi bằng theo làm vợ hắn còn hơn. Chính vì hắn đem lòng yêu thương cô, nên mới làm chuyện táo tợn như thế. Tên cướp ấy thật là lớn mật, dám đặt điều đến cả chuyện như thế.
Vậy mà nghe tên cướp nói, vợ ta lại ngước khuôn mặt đờ đẫn lên. Ta chưa bao giờ thấy vợ mình đẹp đến như lúc ấy. Nhưng, người vợ tuyệt đẹp ấy, ngay trước mặt chồng là ta đây đang bị trói chặt, đã nói gì với tên cướp? Ta, dù lúc này đang thất thểu chờ dịp đầu thai, mà mỗi lần nhớ đến lời nói của cô ta, lại không thể không bốc lên lửa hận. Vợ ta quả thật đã nói như thế này : – “Vậy thì, xin ông cứ cho tôi theo, bất cứ nơi đâu”. (im lặng một hồi lâu).
Tội của vợ ta không phải chỉ có thế. Nếu chỉ có thế thì trong cõi tối tăm này, ta đâu đến nỗi đau khổ như thế này. Vợ ta, như trong cơn mộng mị, đã để cho tên cướp nắm tay dắt đi, dợm bước ra khỏi bụi rậm ấy, đột nhiên, mặt mày tái nhợt, chỉ tay vào ta đang bị trói vào gốc cây tuyết tùng mà nói :
– “Giết chết người đó đi. Người đó mà còn sống thì tôi không thể nào đi theo ông được”.
Vợ ta như điên cuồng, đã thét lên nhiều lần : – “Giết chết người đó đi”. Lời thét ấy như trận cuồng phong, cho đến bây giờ vẫn còn chực cuốn ngược đầu ta xuống đáy vực sâu tăm tối. Lời nói đốn mạt đến như thế mà có thể lọt ra từ miệng con người được sao, dù chỉ một lần đi nữa? Lời nói quỷ ám đến như thế mà có thể chạm tai con người được sao, dù chỉ một lần đi nữa? (thình lình phì cười như chế diễu).
Nghe lời nói ấy, chính tên cướp kia, mặt mày cũng tái mét. – “Giết chết người đó đi”.
Vợ ta vừa thét lên vừa nắm kéo cánh tay tên cướp. Hắn nhìn vợ ta đăm đăm, chẳng trả lời được là giết hay không giết. Rồi đột nhiên, vợ ta ngã xuống đám lá tre khô; chỉ một đạp, tên cướp đã đạp ngã cô ta xuống đấy. (lại phì cười như chế diễu một lần nữa). Tên cướp khoan thai khoanh tay, nhìn về phiá ta mà nói :
– “Ngươi định làm gì con đàn bà này? Chỉ cần gật đầu trả lời. Nào, giết nhé?”
Chỉ cần một câu nói này thôi, ta đã muốn tha tội cho tên cướp ấy rồi. (lại im lặng hồi lâu).
Vợ ta, trong lúc ta đang do dự, đã thét lên một tiếng rồi lập tức vùng chạy vào sâu trong bụi rậm. Tên cướp cũng nhanh nhẹn phóng tới chụp lại, nhưng không kịp nắm được dù là một chéo áo. Ta chỉ nhìn khung cảnh ấy như trong cơn mơ.
Sau khi vợ ta đã chạy trốn mất, tên cướp thu nhặt thanh gươm và cung tên, xong cắt một chỗ dây trói trên mình ta. – “Đến phiên tao phải lo lấy thân đây”.
Ta nhớ tên cướp đã lẩm bẩm như thế trước khi chạy ra khỏi bụi rậm, mất dạng. Sau đó, bốn bề chung quanh đều im vắng. À không, còn có tiếng ai khóc. Ta vừa tự cởi trói, vừa lắng tai nghe ngóng. Nhưng mà, tiếng khóc đó, nghĩ lại, chẳng qua là tiếng khóc của chính mình đó thôi. (lại im lặng hồi lâu, lần thứ ba).
Cuối cùng, ta đã nhấc thân mình mệt đến kiệt sức lên từ gốc cây tuyết tùng. Trước mặt ta là con dao ngắn vợ ta đã làm rớt lại, loé sáng. Ta nhặt con dao đó lên, đâm một nhát vào ngực mình. Có gì như một khối tanh tưởi cuộn dâng lên trong miệng. Nhưng, chẳng nghe đau đớn gì. Chỉ khi ngực ta lạnh băng đi rồi thì chung quanh như càng lặng im thêm một bậc nữa.
Ôi, sao mà tĩnh mịch đến như thế. Khoảng trời trong bụi rậm khuất sau núi này, đến một cánh chim nhỏ cũng không thấy. Chỉ thấy ánh nắng chiều phiêu lãng buồn rầu trên những thân tre và tuyết tùng. Mà ánh nắng chiều cũng dần dần nhợt nhạt đi, rồi tuyết tùng và tre cũng không còn thấy nữa. Rồi ta ngã xuống đó, bao phủ trong tĩnh mịch sâu thẳm.
Lúc ấy, có tiếng chân ai rón rén đến bên ta. Ta cố nhìn về phía ấy. Nhưng chung quanh ta, bóng tối mịt mùng bao phủ. Ai đó … bàn tay không thấy được của ai đó đã nhè nhẹ rút lưỡi dao ra khỏi ngực ta. Cùng lúc ấy, trong miệng ta, dòng máu lại trào lên, dâng đầy tràn một lần nữa. Từ đó, ta vĩnh viễn chìm mất vào tăm tối hư vô.

———– ————————Phạm Vũ Thịnh dịch từ nguyên tác tiếng Nhật Yabu No Naka

(1) Chô : khoảng 119 yards, chừng 100 m, xin dịch là “thôi đường”. 5 chô khoảng 500 m.

(2) Sugi : cedar, cây tuyết tùng. Tự điển Hán Việt Thiều Chửu ghi là “cây sam”.

(3) Ki : (thốn) khoảng 3 cm, xin dịch là “tấc”. Ngựa thường chừng 4 shaku (1 shaku – thước : 30.3 cm), tính ra thân con ngựa này cao chừng 1m3 – 1m4.

(4) Hômen (Trong bản dịch là “sai nha”) : người phạm tội nhẹ, được tha, cho theo quan kiểm sát để đi bắt tội phạm.

 

http://radioplus.vn/nghe-doc-truyen/truyen-dem-khuya/trong-rung-truc-akutagawa-ryunosuke.html

Film studies Hou Hsiao-Hsien

Hầu Hiếu Hiền đoạt giải Đạo diễn xuất sắc LHP Cannes 2015

Hầu Hiếu Hiền đoạt giải Đạo diễn xuất sắc LHP Cannes 2015

Đạo diễn 68 tuổi được vinh danh với “Nhiếp Ẩn Nương” – phim võ hiệp với các diễn viên chính Thư Kỳ, Trương Chấn. Cành Cọ Vàng thuộc về bộ phim “Dheepan” của điện ảnh nước chủ nhà.
  • Đêm bế mạc liên hoan phim Cannes lần thứ 68 diễn ra hôm 24/5. Danh hiệu Đạo diễn xuất sắc thuộc về Hầu Hiếu Hiền, với phim Nhiếp Ẩn Nương (The Assassin). Nhiếp Ẩn Nương được chuẩn bị trong khoảng tám năm, chinh phục các nhà làm phim vì mang đậm dấu ấn phương Đông cùng phong cách cá nhân độc đáo của đạo diễn xứ Đài.
hau1-1608-1432516110.jpg

Đạo diễn Hầu Hiếu Hiền được vinh danh ở LHP Cannes.

Phát biểu khi nhận giải, Hầu Hiếu Hiền nói: “Đây là lần thứ bảy tôi đến với liên hoan phim Cannes, trước đây từng đoạt một giải, tôi quên mất là giải gì rồi. Lần này được trao danh hiệu Đạo diễn xuất sắc, quả thật là vinh quang lớn đối với tôi. Xin cám ơn. Làm phim không dễ dàng, đặc biệt là vấn đề tiền bạc, tôi muốn cám ơn đoàn làm phim, các diễn viên chính Trương Chấn, Thư Kỳ cùng biên kịch Chu Thiên Văn, cám ơn các bạn”.

Trước đó, một số ý kiến cho rằng Nhiếp Ẩn Nương mang đậm dấu ấn văn hóa Trung Quốc và có tình tiết hơi khó hiểu đối với người phương Tây. Đạo diễn chia sẻ: “Có lẽ sẽ bạn cho rằng ở đây có sự khác biệt văn hóa, thực ra không có. Vì chúng ta đều đang thảo luận về sự tồn tại của con người, cuộc sống của con người. Qua thời gian thì hình thành văn hóa. Bạn làm phim vào bất kỳ thời gian nào, ở bất kỳ ngóc ngách nào, chỉ cần bạn nói về con người, cả thế giới đều có thể hiểu”.

ki-8566-1432516110.jpg

Trong “Nhiếp Ẩn Nương”, Thư Kỳ vào vai thích khách, bị giao nhiệm vụ giết người yêu cũ.

Khi được hỏi có nuối tiếc khi không đoạt giải cao nhất – Cành Cọ Vàng, đạo diễn nói: “Vấn đề không nằm ở chỗ đoạt giải hay không mà là rốt cục bạn đã làm được gì, quay phim như thế nào. Lúc này, tôi không bận tâm đến việc đoạt giải. Tôi biết rõ điều mình chưa làm được”.

Hầu Hiếu Hiền sinh năm 1947, là tên tuổi kỳ cựu của làng phim châu Á. Năm 1993, phim The Puppetmaster (Hỷ mộng nhân sinh) của ông giành giải thưởng của Hội đồng giám khảo. Ngoài ra, các phim Goodbye South, GoodbyeFlowers of ShanghaiThree Times đều từng tranh giải ở LHP Cannes.

Dheepan, bộ phim Pháp có đề tài về nhập cư, giành giải thưởng Cành Cọ Vàng lần này.

Tác phẩm của đạo diễn Jacques Audiard kể câu chuyện về ba người tị nạn Sri Lanka cố gắng hòa nhập cuộc sống trong một khu ổ chuột nguy hiểm ở thủ đô Paris. Tác phẩm được các nhà phê bình đánh giá cao và được sự đồng thuận của ban giám khảo cho danh hiệu cao quý nhất.

Nhà phê bình phim Andrew Pulver nhận xét: “Đây có thể không phải là tác phẩm dễ xem ngay từ đầu của đạo diễn Jacques Audiard nhưng càng về sau nó càng chứng tỏ một sức hút mạnh mẽ”.

Năm nay là lần thứ tư đạo diễn Jacques Audiard có phim tranh giải Cành Cọ Vàng tại liên hoan phim Cannes. Bốn tác phẩm trước của ông là A Self-Made Hero (1996), A Prophet (2009) và Rust & Bone (2012) đều tạo được tiếng vang mạnh mẽ với khán giả yêu điện ảnh trên khắp thế giới.

Đạo diễn Jacques Audiard nhận Cành Cọ Vàng với phim "Dheepan".

Đạo diễn Jacques Audiard nhận Cành Cọ Vàng với phim “Dheepan”.

Tác phẩm giành giải nhì, Grand Prix, là Son of Saul của điện ảnh Hungary.Phim lấy bối cảnh trại tập trung Auschwitz, Đức năm 1994, với nhân vật chính là một người tù Do Thái tên Saul. Sau khi phát hiện xác chết của con trai, anh đã tìm cách liên kết với những người tù khác để bí mật chôn cất con theo nghi thức tử tế. Son of Saul là tác phẩm điện ảnh đầu tay của đạo diễn 38 tuổi – László Nemes. Vai chính do nhà thơ Géza Röhrig đóng.

Bộ phim hợp tác giữa Anh, Hy Lạp, Hà Lan, Ireland, Pháp – The Lobster – giành giải thưởng của ban giám khảo – Jury Prize. Tác phẩm này có sự tham gia của nhiều ngôi sao nổi tiếng như Colin Farrell, Rachel Weisz, John C. Reilly, Léa Seydoux, Ben Whishaw.

Toàn cảnh đêm bế mạc liên hoan phim Cannes lần thứ 68.

Toàn cảnh đêm bế mạc liên hoan phim Cannes lần thứ 68.

Danh hiệu “Nữ diễn viên xuất sắc” được trao cho cả hai nữ diễn viên là Rooney Mara trong Carol và Emmanuelle Bercot trong phim Mon roi. “Nam diễn viên xuất sắc” thuộc về Vincent Lindon trong phim Pháp – The Measure of Man.

Ở hạng mục Un Certain Regard dành cho các phim có yếu tố thể nghiệm, bộ phim Rams của Iceland giành giải cao nhất.

Liên hoan phim Cannes lần thứ 68 diễn ra tại thành phố biển xinh đẹp của nước Pháp từ 13 đến 24/5 với sự góp mặt của hàng trăm minh tinh, tài tử, các đạo diễn, nhà biên kịch từ khắp nền điện ảnh trên thế giới. Cannes năm nay gây nhiều tranh cãi với quy định cấm đi giầy bệt và chụp ảnh selfie trên thảm đỏ.

Mặc dù không tham gia tranh giải mà chỉ ra mắt trong chương trình Midnight Screenings (Suất chiếu lúc nửa đêm), bộ phim 3D 18+ có tênLove của đạo diễn Gaspar Nóe lại là tác phẩm gây sự chú ý nhất. Những tấm poster trần trụi, các cảnh sex quay thật giữa các diễn viên của Love đã trở thành tâm điểm tranh cãi của giới phê bình trong thời gian diễn ra liên hoan phim Cannes.

Hải Lan – Nguyên Minh

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/sau-man-anh/hau-hieu-hien-doat-giai-dao-dien-xuat-sac-lhp-cannes-2015-3223357.html

‘Thích khách Nhiếp Ẩn Nương’ của Thư Kỳ tranh giải Oscar

Bộ phim của đạo diễn gạo cội Hầu Hiếu Hiền đại diện điện ảnh Đài Loan dự tranh “Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất” ở Oscar 2016.

Variety đưa tin Đài Loan vừa chọn The Assassin là tác phẩm tranh giải Oscar 2016 tại hạng mục “Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất”.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa Đài Loan cho biết: “The Assassin được lựa chọn bởi tính thẩm mỹ đạt đến đỉnh cao. Tác phẩm truyền tải được không khí cổ điển và nhân văn tới người xem thông qua cách quay phim, tạo dựng ánh sáng, chỉ đạo nghệ thuật và xây dựng nhân vật. Mặc dù phong cách của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền trong phim mới không thay đổi so với trước đây, tác phẩm này cho thấy ông đang có tham vọng tạo ra ngôn ngữ điện ảnh mới”.

A-8750-1442289865.jpg

Phim có sự tham gia của Thư Kỳ và Trương Chấn được chọn tranh giải Oscar vì tính thẩm mỹ cao.

The Assassin có nội dung lấy cảm hứng từ một truyền thuyết Trung Hoa, kể về cuộc đời của một nữ thích khách thời nhà Đường. Ngày nhỏ, cô bị các nữ tu bắt cóc và huấn luyện trở thành một sát thủ khét tiếng. Sau 13 năm sống ẩn dật, cô gái trở về quê hương với nhiệm vụ ám sát người chồng sắp cưới.

Tác phẩm có ngân sách khá lớn (15 triệu USD) đối với một phim điện ảnh thông thường của Đài Loan, được đạo diễn Hầu Hiếu Hiền bắt tay chuẩn bị tiền kỳ trong bảy năm từ 2005. Tác phẩm đánh dấu sự tái ngộ giữa đạo diễn Hầu Hiếu Hiền cùng hai diễn viên ruột – Thư Kỳ và Trương Chấn sau bộ phim Three Times (2005). Đạo diễn chia sẻ: “Tôi đặc biệt thích tính cách của cả hai trong đời thường. Nếu Thư Kỳ là một người độc lập, rất quyết đoán thì Trương Chấn lại là mẫu người tỉ mỉ và thích bình lặng”. Phim còn có sự tham gia của nam diễn viên nổi tiếng Nhật Bản – Satoshi Tsumabuki.

Hồi ra mắt ở Liên hoan phim Cannes vào tháng 5, phim được giới phê bình đánh giá là mang đậm phong vị võ thuật Á Đông và mang về cho Hầu Hiếu Hiền giải “Đạo diễn xuất sắc”.

Thu-K-trong-vai-Nhi-p-n-n-3278-144228832

Thư Kỳ hóa thân thành sát thủ lạnh lùng, nhiều ẩn ức.

Hầu Hiếu Hiền chia sẻ về những bối cảnh trong phim ở bên ngoài khu vực Mông Cổ ở phía Bắc Trung Quốc và ở tỉnh Hồ Bắc. “Tôi đã rất bất ngờ khi nhìn thấy những khu rừng bạch dương bạc và những bờ hồ còn giữ nguyên vẻ hoang sơ. Trong phim, bạn sẽ bắt gặp những khuôn hình về những người nông dân. Họ là những người nông dân thực sự và đang làm những công việc đúng với thường ngày họ vẫn làm… Tôi đã cố gắng giữ nguyên tất cả những điều đó dù có vài chi tiết không đúng như trong kịch bản mong muốn”, đạo diễn nói.

Khi ra rạp dịp cuối tháng 8 ở Trung Quốc, Đài Loan và Hong Kong, giới phê bình và công chúng có nhiều nhận định trái chiều. Các nhà phê bình ca ngợi đây là một tác phẩm điện ảnh “xuất chúng” và “mang tính đột phá”, trong khi khán giả lại nhận thấy phim “buồn tẻ, đều đều”, thậm chí nhiều khán giả đã ngủ trong rạp. Tới nay, phim mới thu về gần 10 triệu USD tiền bán vé. Đạo diễn Hầu Hiếu Hiền vẫn nhấn mạnh rằng ông chỉ quan tâm tới việc làm một bộ phim thể hiện được góc nhìn nghệ thuật của mình chứ không đặt nặng các yếu tố khác.

Nh-ng-b-i-c-nh-phim-tuy-t-d-5816-1442288

Một cảnh đánh võ trong phim.

Hạn chót Viện Hàn lâm Mỹ nhận hồ sơ tranh giải cho hạng mục “Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất” là ngày 1/10. Năm tác phẩm lọt vào vòng đề cử cuối cùng sẽ được công bố vào ngày 16/1. Lễ trao giải Oscar 2016 dự kiến diễn ra tại Nhà hát Dolby vào ngày 28/2.

The Assassin sẽ đến Việt Nam từ ngày 25/9 với nhan đề Thích khách Nhiếp Ẩn Nương.

Vũ Văn Việt

‘Nhiếp Ẩn Nương’ trau chuốt hình ảnh hơn các pha võ thuật

Bộ phim cổ trang võ hiệp của Thư Kỳ chú trọng tạo khuôn hình đẹp, công phu nhưng không nhấn nhá nhiều vào các pha đánh võ.

The Assassin (Thích khách Nhiếp Ẩn Nương) là tác phẩm thứ 21 của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền sau gần ba thập kỷ thực hiện nhiều tác phẩm đặc sắc như A City of Sadness, The Time to Live, The Time to Die hay Three Times. Phim đánh dấu lần đầu tiên đạo diễn gạo cội Đài Loan chuyển hướng từ những câu chuyện gia đình, tuổi mới lớn sang đề tài cổ trang và võ hiệp. Tác phẩm là một chuỗi khung hình mực thước, đậm tính cổ điển, được trau chuốt tuyệt mỹ nhưng không chú trọng về mặt xây dựng kịch tính hay các cảnh võ thuật mãn nhãn.

Thu-K-trong-vai-Nhi-p-n-n-8417-144299498

Cảnh Thư Kỳ thể hiện nội tâm.

Mọi khung hình quay cảnh ngoài trời trong phim đều đẹp như tranh vẽ, có bố cục cân đối, chỉn chu. Chúng đưa người xem vào thế giới hoang sơ của rừng núi Trung Hoa khoảng giữa thế kỷ thứ tám sau Công Nguyên với những khu rừng bạch dương màu bạc, những hồ nước nguyên sơ, những rặng rúi mây phủ ngập trời. Thi thoảng, không gian tĩnh lặng ấy nổi lên một tiếng chim muông lảnh lót. Hàng loạt trảng cỏ hoa tươi tắn hoặc già úa trong phim được xử lý bằng tông màu cháy đẹp mắt.

Những phân cảnh được quay trong nhà hoặc trong khuôn viên gia đình thường gây ấn tượng bằng con mắt tinh tế khi chú ý vào chi tiết thay vì phô bày những hoạt động hoành tráng, nhộn nhịp hoặc sôi động trong lối sống vương quyền. Vào phim, người xem bước vào không gian của một gia tộc chúa đất ở xa nơi phồn hoa đô hội, cảm nhận sự thanh bình, tinh khiết với những chiếc rèm cửa trắng bay phất phơ nhẹ nhàng trong gió hay những lồng chim, những gốc cây già hoặc những mái nhà có đầu hồi kiến trúc tinh xảo.

Nh-ng-b-i-c-nh-phim-tuy-t-d-8213-1442994

Một khung hình có bối cảnh đẹp về bố cục.

Trong mỗi cảnh phim, hoạt động và di chuyển của nhân vật được tiết chế hết mức. Một phân cảnh nhân vật chính là Nhiếp Ẩn Nương ra tay sát hại nạn nhân được xử lý chỉ bằng một cú nhảy và vung gươm của Thư Kỳ cùng một tiếng xoẹt của dao cắt cổ. Nhiều lần đạo diễn Hầu Hiếu Hiền sử dụng chỉ một âm thanh để truyền tải sắc thái ý nghĩa hành động. Khi nhân vật nhà vua nổi cơn thịnh nộ, ông đâm vỡ một bình hoa quý trên bàn và được thể hiện qua một tiếng bình vỡ xoảng.

Với phong cách làm hành động mang tính gợi mở và ước lệ, những trường đoạn hành động trong phim không dồn nén kịch tính căng thẳng, lắt léo và đẩy theo nhịp cao trào. Mọi pha hành động đều không mãn nhãn mà được xử lý ở mức vừa phải và tạo điểm nhấn nhá đẹp mắt. Thủ pháp giấu góc quay được Hầu Hiếu Hiền nhiều lần sử dụng cho các cảnh Thư Kỳ và các đối thủ giao chiến bởi một phần nữ diễn viên không có nhiều kinh nghiệm võ thuật ngoài đời.

Chất hành động và võ hiệp của Hầu Hiếu Hiền có phần cổ điển, mực thước và già dặn chứ không trẻ trung và phóng khoáng như trong các phim của Trương Nghệ Mưu hay Lý An. Bởi vậy, nếu người xem chờ đợi những pha hành động bay nhảy như chim lướt qua ngọn tre hay băng qua mặt hồ trong những tác phẩm kiếm hiệp kiểu Anh Hùng, Thập Diện Mai Phục hayNgọa Hổ Tàng Long thì sẽ bị thất vọng.

Poster-Thich-khach-Nhi-p-n-6891-14429949

Poster phim “Thích khách Nhiếp Ẩn Nương”.

Kịch bản Thích khách Nhiếp Ẩn Nương không phức tạp và lắt léo, phụ thuộc nhiều vào lời thoại để dẫn chuyện. Phim xoay quanh nhân vật chính là Nhiếp Ẩn Nương (Thư Kỳ thủ vai) được huấn luyện từ bé để trở thành một sát thủ máu lạnh, giết người không chớp mắt. Nhưng rồi định mệnh bắt cô đối mặt với một tình huống – phải ám sát người chồng được hứa hôn từ lúc mới chào đời là Điền Quý An (Trương Chấn thủ vai). Toàn bộ câu chuyện đi sâu mô tả tâm lý của nhân vật thích khách khi cô phân vân giữa hai lựa chọn: Phục tùng mệnh lệnh của sư phụ hay nghe theo lời mách bảo riêng của con tim.

Diễn xuất của Thư Kỳ nhìn chung tròn vai. Cô tạo ra vẻ lạnh lùng cần có của một nữ sát thủ. Mặc dù vậy, biểu cảm gương mặt của nữ diễn viên từng đoạt giải Kim Mã lại không đa dạng trong tác phẩm mới. Trừ một số cảnh cô thể hiện sự dày vò nội tâm khi đang tắm, người đẹp Hoa ngữ đều giữ vẻ mặt khá khô cứng và một màu. Trong khi đó, Trương Chấn vào vai một chúa đất tính toán, lạnh lùng, tàn ác khá hợp vai. Một nhân vật nhỏ nhưng để lại ấn tượng là vai chàng thầy thuốc – người tình thứ ba của nữ thích khách. Nam diễn viên đóng vai này có khuôn mặt trẻ trung và bộc lộ sự tươi mới.

Bộ phim được Đài Loan lựa chọn đem tranh giải Oscar 2016 ra rạp Việt Nam từ ngày 25/9.

Vũ Văn Việt

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/diem-phim/nhiep-an-nuong-trau-chuot-hinh-anh-hon-cac-pha-vo-thuat-3283773.html

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/sau-man-anh/thich-khach-nhiep-an-nuong-cua-thu-ky-tranh-giai-oscar-3279437.html