Browsing Category

Hou Hsiao-Hsien

Film studies Hou Hsiao-Hsien

Goodbye South, Goodbye (1996) by Hou Hsiao-Hsien

Goodbye South Goodbye

 

[goodbye poster]
image from Shochiku web site (Japan)
 


Taiwan, 1996

  • director: Hou Hsiao-hsien
  • producers: Katsuhiro Mizuno, Shozo Ichiyama, King Jieh-wen, Huang Chong, Ben Hsieh
  • executive producers: Kazuyoshi Okuyama, Yang Teng-kuei
  • screenplay: Chu Tien-wen, from a story by King Jieh-wen and Jack Kao
  • cinematography: Lee Ping-bin, Chen Hwai-en
  • editor: Liao Ching-song
  • design: Huang Wen-ying, Wang Che-cheng, Kuo Kuo, Chiu Yun-ru (costumes)
  • sound: Tu Du-che
  • music: Lim Giong
  • A 3H Films Production ; Team Okuyama
Film studies Hou Hsiao-Hsien

“Gia tài” ấn tượng của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền qua các mùa LHP Cannes

Là một trong những đạo diễn hàng đầu Châu Á, những tác phẩm cộp mác “Hầu Hiếu Hiền” đều gây ấn tượng mạnh mẽ với khán giả và các nhà làm phim.

Vừa qua tại lễ bế mạc Liên hoan phim Cannes lần thứ 68, đạo diễn Đài Loan Hầu Hiếu Hiền đã xuất sắc giành giải “Đạo diễn xuất sắc nhất” với bộ phim The Assassin (Nhiếp Ẩn Nương). Dù không được xướng tên lên nhận Cành cọ vàng, The Assassin vẫn gây ấn tượng mạnh với các nhà làm phim quốc tế bởi sự tinh tế đậm nét phương đông qua từng thước phim. Không chỉ có vậy, đạo diễn Hầu Hiếu Hiền gần như trở thành tâm điểm của giới truyền thông sau khi buổi lễ kết thúc. Hãy cùng nhìn lại các tác phẩm được thực hiện bởi vị đạo diễn tài ba này qua các mùa Cannes.
Đạo diễn Hầu Hiếu Hiền

1. Daughter of the Nile (1988)

Daughter of the Nile là tác phẩm góp mặt trong Directors’ Fortnight – một sự kiện được tổ chức song song với Liên hoan phim Cannes – vào năm 1988. Phim lấy tựa đề dựa theo cuốn truyện tranh nổi tiếng Nữ Hoàng Ai Cập của Nhật Bản. Tuy nhiên, nội dung của Daughter of Nile lại được đạo diễn Hầu Hiếu Hiền tập trung vào đời sống của những người trẻ tuổi trong cuộc sống đô thị Đài Bắc hiện đại. Tuy không được công chiếu rộng rãi nhưng tác phẩm này được khán giả trong nước và quốc tế đón nhận nồng nhiệt.
Nhân vật chính của phim là Lin Hsiao Yang – cô phục vụ bàn tại quán đồ ăn nhanh KFC. Vì vẫn còn là sinh viên, Hsiao Yang phải đi làm vào ban ngày và tham gia các khóa học vào buổi tối. Anh trai và mẹ cô đều đã mất. Cha của Hsiao Yang lại đi làm ăn xa. Gánh nặng cuộc sống đè nặng lên vai cô gái trẻ khi cô vừa phải tự lo cho bản thân vừa phải chăm sóc cô em gái đang tuổi trưởng thành cùng một em trai. Em gái của Hsiao Yang bắt đầu có biểu hiện ăn cắp vặt còn cậu em trai lại thường giao du với những thành phần xấu trong xã hội.
2. The Puppetmaster (1993)
The Puppetmaster là một trong những cột mốc đáng nhớ của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền tại Liên hoan phim Cannes. Tác phẩm này đã giúp ông giành được “Giải thưởng của ban giám khảo” (Jury Prize) vào năm 1993. Đây là bộ phim thứ hai nằm trong loạt tác phẩm lịch sử của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền. Hai tác phẩm còn lại là A City of Sadness (1989) và Good Men, Good Women (1995).
The Puppetmaster được xây dựng dựa trên cuộc đời của nghệ nhân rối nổi tiếng Đài Loan – Li Tian Lu từ khi ông sinh ra vào năm 1909 cho đến khi đất nước Đài Loan được tự do sau khi bị Nhật Bản đô hộ suốt 50 năm trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
3. Goodbye South, Goodbye (1996)
Vào năm 1996, đạo diễn Hầu Hiếu Hiền lần nữa “đem chuông đi đánh xứ người” tại Liên hoan phim Cannes với tác phẩm Goodbye South, Goodbye. Tuy được đánh giá cao về mặt nội dung nhưng tác phẩm này đã để mất Cành cọ vàng danh giá vào tay đối thủ sừng sỏ Secrets & Lies của đạo diễn người Anh – Mike Leigh.
Goodbye South, Goodbye là câu chuyện xoay quanh nhân vật Gao – kẻ ham mê cờ bạc. Bạn gái của Gao – Ying – làm việc tại một câu lạc bộ đêm. Cô hoàn toàn không thích những người bạn mà Gao đang giao du gồm: anh bạn Hsi, thầy cúng Flatty cùng cô người yêu của Flatty – Pletzel. Ying nghĩ rằng họ là những nhân tố nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến suy nghĩ của Gao. Ngoài ra, Gao đã thỏa thuận với Hsi để đầu tư vào một câu lạc bộ đêm tại Thượng Hải nhưng bị Ying phản đối kịch liệt. Thay vào đó, cô muốn anh ở lại Đài Loan và hai người sẽ cùng nhau mở một nhà hàng. Mong muốn kiếm được thật nhiều tiền một cách nhanh chóng khiến cuộc đời họ bị đẩy đến vực thẳm.
4. Flowers of Shanghai (1998)
Tiếp nối những thành công trước đó, Flowers of Shanghai lần nữa giúp đạo diễn Hầu Hiếu Hiền nhận được một đề cử giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes. Mặc dù không giành được giải thưởng này, đạo diễn Hầu Hiếu Hiền vẫn khiến các nhà làm phim phải ngả mũ thán phục. Nhà phê bình J Hoberman nhận định, Hầu Hiếu Hiền là một trong những đạo diễn xuất sắc của những năm 90. Còn Flowers of Shanghai là một trong 3 kiệt tác để đời của ông.
Flowers of Shanghai lấy bối cảnh tại Thượng Hải vào những năm 1880. Tại đây, có bốn nhà thổ nổi tiếng được giới thượng lưu thường xuyên lui tới. Nhân vật chính của phim là bốn cô gái: Crimson, Pearl, Emerald, Jasmine và Jade. Họ đều là những ngôi sao sáng của mỗi nhà thổ kể trên. Tuy nhiên, bốn cô gái đều phải chịu mọi sự tủi nhục, thậm chí là bị bạo hành bởi các má mì mỗi khi họ không chịu nghe lời. Mỗi người họ đều nhẫn nhịn chờ đến khi trả xong mọi khoản nợ để có thể tự chuộc mình và trở lại cuộc sống bình thường. Trong khoảng thời gian tiếp khách, một vài cô gái đã phải lòng chính vị khách của mình nhưng tình yêu của họ đều bị coi khinh.
5. Millennium Mambo (2001)
Millennium Mambo là tác phẩm tiếp theo được đề cử giải Cành cọ vàng và giành chiến thắng ở hạng mục “Hiệu ứng xuất sắc” tại Liên hoan phim Cannes năm 2001. Không những vậy, đạo diễn Hầu Hiếu Hiền còn mời nữ diễn viên Thư Kỳ đảm nhận vai nữ chính của phim.
Bộ phim là câu chuyện của nhân vật Vicky, kể về cuộc đời của cô 10 năm trước. Vào thời gian đầu của một thiên niên kỷ mới, số phận của Vicky đã hoàn toàn rẽ sang một hướng mới. Khi đó, cô làm nhân viên tại một quán bar. Không những vậy, cô gái trẻ Vicky còn bị giằng xé trong cuộc tình tay ba với hai người đàn ông.
6. Three Times (2005)
Một lần nữa, đạo diễn Hầu Hiếu Hiền tiếp tục tin tưởng giao phó vai chính cho nữ diễn viên Thư Kỳ. Tuy được đề cử giải Cành cọ vàng nhưng Three Times (Ba Lần) lại thất bại dưới những đối thủ khác trong Liên hoan phim Cannes năm 2005.
Về nội dung, Three Times xoay quanh câu chuyện tình yêu của hai nhân vật chính – May và Chen – qua từng giai đoạn đáng nhớ: 1911 (A time for love), 1966 (A time for freedom) và 2005 (A time for youth). Phim nhận được nhiều bình luận tích cực từ giới truyền thông và khán giả khi ra mắt tại thị trường Bắc Mỹ.
7. The Assassin (2015)
Sau mười năm, cặp đôi Thư Kỳ – Trương Chấn lần nữa tái ngộ trong tác phẩm The Assassin (Nhiếp Ẩn Nương) của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền.  Mặc dù không giành được giải Cành cọ vàng nhưng The Assassin đã mang về cho ông giải “Đạo diễn xuất sắc” của Cannes 68.
(Tổng hợp)

Theo

Haylee / Trí Thức Trẻ

Ang Lee Chen Kaige Film studies Hou Hsiao-Hsien Wong Kar Wai Zhang YiMou

10 bộ phim xuất sắc của điện ảnh Hoa ngữ

“Anh hùng”, “Vô gian đạo, “Ngọa hổ tàng long” đều nằm trong danh sách danh giá này.

 

10. Anh hùng (Hero – 2002)

Anh hùng được cho là bộ phim mở đường cho điện ảnh Trung Quốc bước vào kỷ nguyên mới. Được thực hiện theo quy trình sản xuất phim của Hollywood và đầu tư lên tới 30 triệu USD, đây là bộ phim đắt giá nhất của Trung Quốc vào thời điểm đó.

Bộ phim đã làm sống lại nền điện ảnh của Trung Quốc, kéo khán giả đến rạp chiếu và thu về hơn 30 triệu USD tiền vé nội địa. Đây cũng là bộ phim đầu tiên có được doanh thu “khủng” trong nhiều thập kỷ qua.

Không chỉ thành công ở Trung Quốc, Anh hùng còn được thế giới đón nhận. Ngay trong tuần đầu tiên công chiếu ở Mỹ, Anh hùng ngay lập tức có được vị trí số 1 về doanh thu. Tính ở thị trường nước ngoài, bộ phim thu về hơn 120 triệu USD.

Anh hùng cũng được coi là bộ phim tiên phong cho những bộ phim toàn sao và đầu tư khủng ở Trung Quốc sau này. Tuy nhiên, bộ phim này không được đánh giá cao về mặt nội dung.

 

9. Đại thoại tây du (A Chinese Odyssey Duology – 1994)

Đây là bộ phim của đạo diễn Lưu Trấn Vĩ với sự tham gia “vua hài” Châu Tinh Trì, Mạc Văn Úy và Ngô Mạnh Đạt.

Lưu Trấn Vĩ và Châu Tinh Trì đã sử dụng 4 thày trò Đường Tăng trong cuốn tiểu thuyết kinh điển Tây du ký để tạo nên câu chuyện cho Đại thoại tây du. Phim có sự kết hợp của các yếu tố như tình cảm, kungfu và du hành thời gian.

Ra mắt năm 1995, Đại thoại tây du thất bại thảm hại. Không chỉ bị chê tơi bời, doanh thu của phim cũng quá thấp so với kỳ vọng. Tuy nhiên, 3 năm sau đó, Đại thoại tây du bất ngờ trở thành chủ đề “hot” của giới trẻ. Một số người thậm chí còn gọi đây là “tác phẩm kinh điển của thời hậu hiện đại“. Vào thời điểm đó, Đại thoại tây du được nhắc đến nhiều hơn bất kỳ bộ phim nào và thậm chí rất nhiều câu thoại của phim trở thành tuyên ngôn của giới trẻ Trung Quốc.

Xem lại Đại thoại tây du vào lúc này, người ta có thể chê kỹ xảo thô sơ chứ khó thể phủ nhận tính hài hước và những khoảnh khắc vô cùng xúc động của phim.

 

8. Vô gian đạo (Infernal Affairs – 2002)

Bộ phim sản xuất năm 2002 của cặp đôi đạo diễn Mạch Triệu Huy và Lưu Vĩ Cường được đánh giá là bước đột phá cho dòng phim cảnh sát của Hong Kong. Cũng như Anh hùng, Vô gian đạo, tác phẩm điện ảnh này khơi lại tình yêu của khán giả và kéo họ đến với các rạp chiếu đang phủ bụi.

Vô gian đạo được ca ngợi ở nhiều điểm, đầu tiên là một cốt truyện hay, gay cấn với những nhân vật hấp dẫn, bất ngờ ở cả hai tuyến: tội phạm và cảnh sát. Hai diễn viên chính Lương Triều Vỹ và Lưu Đức Hoa đã hoàn thành xuất sắc vai diễn. Đặc biệt là Lưu Đức Hoa, chưa bao giờ người hâm mộ được thấy thiên vương Hong Kong tỏa sáng đến như thế. Nhạc phim cũng được liệt vào danh sách kinh điển.

Vô gian đạo còn ảnh hưởng tới cả Hollywood. Năm 2007, đạo diễn Martin Scorsese đã làm lại bộ phim này với cái tên The Departed. Phim đã đem về 2 giải Oscar quan trọng là Phim xuất sắc nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất.

 

7. Ngọa hổ tàng long (Crouching tiger, Hidden Dragon – 2000)

Bộ phim sản xuất năm 2000 của đạo diễn Lý An đã nhận được những phản ứng trái chiều ở Mỹ và Trung Quốc. Nếu ở thị trường Bắc Mỹ, Ngọa hổ tàng long thu về hơn 130 triệu USD tiền vé từ và đưa cái tên Chương Tử Di gia nhập hàng sao quốc tế thì ở Trung Quốc, bộ phim lại nhận được sự thờ ơ của khán giả.

Tuy nhiên, việc khán giả ở những nền văn hóa khác nhau phản ứng không đồng nhất trước một bộ phim không phải là điều khó hiểu. Với người Trung Quốc, việc thấy những diễn viên chính trong một bộ phim hành động có quá nhiều cảnh tình cảm vô nghĩa và bay qua bay lại như siêu nhân suốt thời lượng của phim không có gì hấp dẫn. Trong khi đó, với khán giả phương Tây, những rắc rối tình cảm lại là phần bổ sung hoàn hảo cho những cảnh chiến đấu trong phim.

Trên thực tế, các nhân vật trong phim dù xuất chúng nhưng vẫn rất đời thường, đủ để ai xem cũng có thể nhìn thấy bản thân mình trong đó. Bên cạnh đó, từ âm nhạc, phục trang cho đến quay phim củaNgọa hổ tàng long đều được đánh giá là xuất sắc. Những yếu tố này giúp bộ phim vượt trội hơn so với các tác phẩm đi trước.

 

6. A phi chính truyện (Days of being wild – 1990)

Bộ phim do chính Vương Gia Vệ viết kịch bản và đạo diễn này kể về câu chuyện tình của 6 người trẻ ở Hong Kong. Bên cạnh cái tên Vương Gia Vệ, phim còn có một dàn diễn viên “hoành tráng” gồm Trương Quốc Vinh, Trương Mạn Ngọc, Lưu Gia Linh, Trương Học Hữu và Lưu Đức Hoa.

A Phi chính truyện được coi là bộ phim mở đầu cho dòng phim nghệ thuật của Vương Gia Vệ. Đây cũng là tác phẩm đầu tiên mà đạo diễn họ Vương hợp tác cùng nhà quay phim Christopher Doyle. Sau này, Vương Gia Vệ còn có thêm 7 bộ phim khác với nhà quay phim người Úc.

Sự xuất sắc của A Phi chính truyện được ghi nhận bằng hàng loạt giải thưởng lớn như Diễn viên chính xuất sắc nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất và Quay phim xuất sắc nhất tại giải Kim Tượng năm 1991. Phim cũng đứng thứ 3 trong danh sách 100 bộ phim Trung Quốc xuất sắc nhất từ trước tới nay do các nhà phê bình phim Hong Kong bình chọn năm 2005.

 

5. Bi tình thành thị (A city of sadness – 1989)

Được “nhào nặn” dưới bàn tay của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền, Bi tình thành thị là câu chuyện về một gia đình dưới thời Quốc dân đảng tiến hành Khủng bố trắng. Đây là bộ phim đầu tiên đề cập đến sự kiện ngày 28/2/1947 – một dấu tích khó phai trong lịch sử Đài Loan khi có hàng ngàn người bị giết hại.

Đạo diễn Hầu đã rất giỏi khi vẽ ra bức tranh toàn cảnh của xã hội Đài Loan vào thời điểm đó thông qua bi kịch của một gia đình. Bi tình thành thị phản ánh sự xung đột giữa người bản xứ với người nhập cư, giữa những người dân địa phương với Quốc dân đảng.

Bi tình thành thị là bộ phim đầu tiên trong serie phim về lịch sử của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền, sau này làThe Puppet Master (1993) và Good men, good women (1995). Phim đã giành giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice lần thứ 46 năm 1989 và là bộ phim tiếng Trung đầu tiên có được vinh dự này.

 

4. Nhất Nhất (Yi Yi: A One and a Two – 2000)

Bộ phim dài gần 3 tiếng đồng hồ của đạo diễn Dương Đức Xương là câu chuyện kể một gia đình trung lưu ở Đài Loan với 3 thế hệ sống bên nhau. Nhất Nhất có tiết tấu chậm và dường như thiếu cao trào nhưng lại là bức tranh chân thực về cuộc sống hàng ngày của những con người nơi đây.

Với Nhất Nhất, đạo diễn Dương đã giành được giải Đạo diễn xuất sắc nhất tại liên hoan phim Cannes năm 2000. USA Today, New York Times, Newsweek và Hiệp hội Phê bình phim đồng loạt trao cho Nhất Nhất danh hiệu một trong những bộ phim hay nhất 2001. Năm 2002, tạp chí Sight and Sound của Hiệp hội điện ảnh Anh quốc còn bình chọn Nhất Nhất là một trong những bộ phim đáng xem nhất trong vòng 25 năm qua.

 

3. Bá vương biệt cơ (Farewell My Concubine – 1993)

Bá vương biệt cơ của đạo diễn Trần Khải Ca vẫn được nhắc đến như một đỉnh cao của nền điện ảnh Trung Quốc. Đây là bộ phim duy nhất của Trung Quốc cho đến thời điểm này giành được Cành cọ vàng danh giá của Liên hoan phim Cannes.

Được chuyển thể từ tiểu thuyết của Lý Bích Hoa, Bá vương biệt cơ có một dàn diễn viên đáng mơ ước với những cái tên như Trương Quốc Vinh, Củng Lợi, Cát Ưu. Phim là câu chuyện về cuộc đời sóng gió của 2 diễn viên Kinh Kịch trước những rối loạn của chính trường và xã hội Trung Quốc trong giai đoạn 1920 – 1970. Bá vương biệt cơ có nói tới cuộc cách mạng văn hóa (1966 – 1976) ở Trung Quốc. Đây cũng là sự kiện dẫn đến cái kết bi thảm của phim. Bên cạnh đó, Bá vương biệt cơ còn nhắc tới chủ đề đồng tính – một chủ đề vẫn còn hiếm hoi với điện ảnh Hoa ngữ cho đến thời điểm này.

 

2. Tiểu thành chi xuân (Spring in a small town – 1948)

Bộ phim về một chuyện tình tay ba này được xây dựng dựa trên vở kịch ngắn của Lý Thiên Tể, do Phí Mục đạo diễn và công ty Văn Hoa Thượng Hải sản xuất.

Không có một cốt truyện phức tạp nhưng Tiểu thành chi xuân lại hấp dẫn người xem ở cảm xúc của từng nhân vật. Đây cũng là bộ phim được coi là tiên phong trong việc vận dụng ngôn ngữ thơ vào điện ảnh.

Tiểu thành chi xuân được đánh giá cao ở cả trong nước lẫn nước ngoài. Các nhà làm phim Trung Quốc đều nhất trí liệt bộ phim vào dạng kinh điển. Đạo diễn Trương Nghệ Mưu cũng khẳng định đây là bộ phim Trung Quốc mà ông yêu thích nhất. Năm 2005, Hiệp hội giải thưởng điện ảnh Hong Kong tôn vinhTiểu thành chi xuân là bộ phim Trung Quốc xuất sắc nhất. Năm 2012, tờ Winnipeg Free Press của Canada cũng xếp bộ phim ở vị trí số 1 trong danh sách 10 phim Trung Quốc hay nhất.

 

1. Sông xuân nước chảy hướng về đông (A spring river flows east – 1947)

Bộ phim dài hơn 3 tiếng và được chia làm 2 phần của đạo diễn Sái Sở Sinh và Trịnh Quân Lý là một trong những cột mốc đáng nhớ của điện ảnh Trung Quốc.

Phim là câu chuyện xúc động về một gia đình Thượng Hải trong thời chiến tranh Trung – Nhật (1930s – 1940s) và cuộc biến đổi của nhân vật chính từ một người chàng thanh niên trẻ trung đầy hoài bão, có triển vọng thành một viên chức xảo trá và lóa mắt vì tiền.

Ngay khi ra đời năm 1947, bộ phim đã thu hút sự chú ý đặc biệt của công chúng Thượng Hải. Phim được chiếu rạp hơn 3 tháng và có hơn 700.000 khán giả. Con số này tương đương với 15% dân số Thượng Hải lúc bấy giờ. Sông xuân nước chảy hướng về đông vẫn được coi là bộ phim thành công nhất của điện ảnh Hoa ngữ trước khi nhà nước Trung Quốc được thành lập năm 1949.

Theo Infonet

http://thvl.vn/?p=222129#