Trong lịch sử của Việt Nam từ trước đến giờ hầu như chẳng nghe nhắc đến cụm từ: “Chế độ chiếm hữu nô lệ”. Nhà sử học Trần Trọng Kim trong “Việt Nam sử lược” – Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 cũng chẳng đề cập gì về chế độ này trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc? Vì sao vậy? Có gì mâu thuẫn với quy luật của Chủ nghĩa Mác – Lênin về tuần tự 05 chế độ xã hội mà loài người phải trải qua? Vậy có hay không một chế độ Chiếm hữu nô lệ, hay nó tồn tại ở hình thức đặc biệt nào ở lịch sử Việt Nam, bài viết này bằng kiến thức thu nhặt được, cùng lí lẽ chủ quan cũng xin góp thêm đôi điều bàn bạc.

Như chúng ta biết khi nhắc đến chế độ Chiếm hữu nô lệ thì tất cả nghĩ ngay đó là hình thức nhà nước đầu tiên trong lịch sử nhân loại nói chung và của phương Tây nói riêng. Nếu như hiện nay người ta còn bàn cải ở phương Đông cổ đại đã từng trải qua phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ hay phương thức sản xuất châu Á, thì đã từ lâu, sự tồn tại của phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp và La Mã đều đã được các nhà sử học Mác xít thừa nhận và đưọc coi đó là những xã hội chiếm hữu nô lệ có tính chất diển hình.

Thế thì phương Đông, nơi cũng là cái nôi vĩ đại của nền văn minh nhân loại, cũng cùng nhân loại đi từ xuống phát điểm là chế độ Cộng sản nguyên thủy sao lại ít được nhắc đến và trong đó bản thân Việt Nam lại dường như càng không có. Có phải không nhắc đến là không tồn tại chế độ Chiếm hữu nô lệ trong lịch sử nước ta?

Thực ra chế độ Chiếm hữu nô lệ xuất hiện và tồn tại trong lịch sử của nhân loại, cả trong phương Đông lẫn phương Tây. Ngay từ khi chế độ Cộng sản nguyên thủy tan rã, xã hội xuất hiện đầu tiên ở phương Đông, các con sông châu Á như sông Nin – Ai Cập, sông Ấn, Hằng ở Ấn Độ; Hoàng Hà – Trung Quốc… vào thiên niên kỉ IV-III TCN. Vậy căn cứ đầu tiên có thể khẳng định hầu hết các quốc gia Đông phương đã sớm tồn tại chế độ Chiếm hữu nô lệ, và trong xu thế tất nhiên của lịch sử  ấy Việt Nam ta cũng phải mang  trong mình cái chung ấy. Vậy cái chung ấy được thể hiện qua lăng kính của lịch sử nước ta qua cái riêng nào – đấy là nhiệm vụ cần làm rõ, tìm hiểu.

Thực ra, theo ý kiến chủ quan của tôi, từ thuở xa xưa khi tổ tiên ta vừa bước ra từ thế giới dã man, mông muội thì hết thảy họ đã chạm tay vào nền văn minh, chế độ mới – chế độ Chiếm hữu nô lệ “nửa vời”. Cái chế độ chiếm hữu nô lệ này ở nước ta nó không rõ ràng, đậm nét, sâu sắc như ở các quốc gia Tây phương và tôi cho rằng Việt Nam nói riêng, phương Đông nói chung đã nuôi nó trong một chế độ cùng sinh ra cùng thời – Chế độ phong kiến. Tại sao có thể nói trong lịch sử Việt Nam vừa có lại vừa không có tồn tại chế độ Chiếm hữu nô lệ, đấy là căn cứ vào một số phân tích sao.

Trước hết có thể luận giải dựa vào chế độ gia đình – gia đình “phụ hệ” đề cao vai trò tuyệt đôí của người đàn ông và được xem “ông chủ nô nhỏ” trong gia đình “nô lệ nhỏ”. Chính vì tư tưởng ăn sâu hình thành vào gia đoạn cuối của chế độ công xã nên khi bước vào chế độ chiếm nô đấy là tư tưởng thường trực và chủ đạo, chẳng hạn “tam cương ngũ thường”, “tam tòng tứ đức” dành cho nữ giới thực hiện… Tất cả hình thành nên mầm móng mà tôi gọi là những “áp đặt, cưỡng bức” đầu tiên, cơ bản và sơ khai nhất của Chế độ chiếm hữu nô lệ.

Các quốc gia cổ đại phương Ðông đều có những đặc trưng chung của một xã hội chiếm hữu nô lệ, ví như việc phân chia xã hội thành hai giai cấp đối kháng: Giai cấp quý tộc, chủ nô thống trị và giai cấp nô lệ bị áp bức, bóc lột một cách tàn nhẫn và thô bạo nhất. Nhưng các quốc gia này cũng có nhiều đặc điểm riêng làm cho người ta có thể phân biệt chúng với các quốc gia chiếm hữu nô lệ phương Tây, tức Hy Lạp và La Mã cổ đại, mà những đặc điểm riêng biệt đó chủ yếu là như sau:

Các quốc gia cổ đại phương Ðông ra đời ở thời kỳ mà sức sản xuất xã hội đang còn ở trình độ thấp kém. Trình độ sản xuất thời ấy không cho phép các quốc gia đó phát triển chế độ chiếm hữu nô lệ một cách “thành thụ và điển hình”.

Bên cạnh đó có thể căn cứ vào yếu tố lịch sử – chính trị. Từ năm 287 – 258 TCN  Việt Nam sử lược” – NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2005, xã hội Việt Nam đã có nhà nước – nhà nước Văn Lang đầu tiên, bắt đầu có sự phân chia giai cấp và tầng lớp nô lệ cũng ra đời từ đó với tên gọi là –“Trâu”, xã hội có sự phân hóa sơ khai song chưa sâu sắc. Trải qua theo chiều dài lịch sử từ quá trình lập quốc đến cuộc giữ nước từ 174 TCN khi Triệu Đà đánh tan Thục Phán An Dương Vương. Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc giặc Tàu đầu thế kỉ X (938) nền tự trị của quốc gia lại được mở ra và kéo dài qua hàng ngàn năm của chế độ phong kiến tập quyền muôn vàn thống khổ cho gây ra. Từ  sau thế kỉ X khi nền thịnh trị của tầng lớp bị trị. Từ thế kỉ X nền thái bình nước nhà ngày càng vững bền thì chính sách bóc lột của chế độ phong kiến càng rõ nét và lớn hơn bao giờ hết. Tổng kết giai đoạn từ  X – XV các sử gia nhận xét rằng tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng cao. Những năm đói kém “nhân dân nhiều người phải bán ruông đất và bán con gái, con trai làm nô tì”. Quý tộc và địa chủ ngày càng chiếm nhiều ruộng đất” (1) . Chỉ qua lời nhận xét ấy, ta có thể rút ra 2 vấn đề để khẳng định chế độ Chiếm hữu nô lệ vẫn tồn tại ở nước ta, vì về mặt kinh tế là sự bóc lột, vơ vét sức người sức của của giai cấp nông dân, giai cấp bị trị làm cho đời sống nhân dân cùng khổ làm nảy sinh mâu thuẫn kéo đến hàng loạt phong trào khởi nghĩa của kẻ bị bóc lột chống lại bọn bóc lột như: Hàng loạt khởi nghĩa của nông dân Đàng ngoài cho chính quyền Trịnh thối nát – Khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu, Khởi nghĩa Hoàng Công Chất, phong trào Tây Sơn (2); đầu thế kỉ XIX có khoảng 400 cuộc khởi nghĩa, thời Minh Mạng có tới 250 cuộc (3) … đã phản ánh rõ nét thực chất của xã hội phong kiến chẳng qua là cái vỏ bọc thay cho cách gọi tên với chế độ Chiếm hữu nô lệ. Thực chất mà nói, giữa hai chế độ này trong thể nhất  cũng chẳng khác nhau là mấy, vì sao? Tên gọi giai cấp chủ nô, nô lệ tương ứng xã hội phong kiến cũng cùng bản chất với địa chủ – quý tộc và nông dân tá điền. Cái tên gọi thực sự chỉ thể hiện được cái hiện tượng, vỏ bên ngoài nhưng suy xét cho đến cùng thì giữa hai chế độ này cùng một người mẹ sinh ra – mẹ của thống khổ, bóc lột mà thôi. Đôi khi cái tên gọi không đồng nhất vối cái bản chất của chế độ. Như vậy trên cơ sơ đầu tiên này chúng ta có thể khẳng định Việt Nam từng tồn tại Chiếm hữu nô lệ nhưng thông qua cái tên hoa mĩ và cái vỏ khác, cái vỏ của Chế độ phong kiến.

Nhưng, xin làm rõ thêm tại sao cụm từ “chiếm hữu nô lệ” lại không có trong lịch sử Việt Nam mặc dù nó từng tồn tại. Đấy bởi vì phạm vi, tính chất, mức độ thấp hay cao;  nổi bật hay chỉ là hiện tượng thoáng qua, đơn thuần tồn tại cách yếu đuối trong cách thể hiện. Chẳng hạn:

Dưới góc độ văn hóa, “người phương Đông sống trong văn hóa duy tình” đã hằn sâu trong tâm thức của họ do vậy cũng chỉ thị cho hành động, trong cách cư xử, đối đãi giữa các tầng lớp với nhau là không tàn bạo, gay gắt như phương Tây. Mặc dù ở chế độ tập quyền chuyên chế “vua là con trời, tối cao” “quân bức thần tử thần bất tử bất trung” nhưng ta vẫn thấy có chút gì nhân đạo, nhân ái của các vị minh quân, vẫn luôn hướng nghe cuộc sống, than vãn của quần chúng. Vua vi hành, vua trực tiếp xử kiện nếu có án oan, vua tham gia cày ruộng, vua thường xuyên đặt xá, miễn thuế… cho nhân dân, chăm lo nhân sinh … Điều đó giải thích tại sao trong lịch sử dân tộc có rất nhiều ông vua – đại diện cho giai cấp thống trị lại được muôn dân kính yêu: Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Lí Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Hàm Nghi, Duy Tân…. Ở một chừng mực nào đó dù có mâu thuẫn giai cấp, có bóc lột  song nó không tàn nhẫn, vô tâm  “cừu ăn thịt người” như chế đô Chiếm hữu nô lệ phương Tây.

Dười góc độ kinh tế. Sự chênh nhau trong phát triển kinh tế cũng ảnh hưởng đến bản chất của chế độ Chiếm hữu nô lệ. Nếu như các quốc gia cổ đại Phương Tây bước vào chế độ chiếm nô bằng bẳng nền kinh tê “công thương nghiệp cổ đại” phát triển với lò, xưởng thủ công, nhiều sản phẩm nổi tiếng, chất lượng cao: dầu oliu, lúa mạch, đồ da,…được giao thương nhiều nơi thì cư dân phương Tây  chỉ làm nông là chủ yếu “lấy nghề nông làm gốc”, dù phát triển đến đâu cũng chỉ nhằm mục đích duy nhất là hỗ trợ cho nghề nông. Chính vì trình độ kinh tế chênh nhau nảy sinh nhu cầu lực lượng người bị bắt buộc lao động cũng ờ mức khác nhau. Nếu ở Tây phuơng giai cấp chủ nô không những chiếm hữu mọi tư liệu sản xuất mà còn chiếm hữu cả bản thân người lao động sản xuất, giai cấp nô lệ thâm chí không có quyền được coi là một con người, hoàn toàn lệ thuộc chủ, lao động thật cực lực, vất vả là công cụ làm lợi cho chủ nô, ví dụ: Ở Hy lạp trong thời kỳ chiến tranh Ba Tư, con số nô lệ ở Ca-ran-tơ lên đến 46 vạn, ở E-gi-i-nơ lên đến 47 vạn, tức là tính theo dân số thì trung bình cứ 10 nô lệ mới có 1 người tự do – đây được xem là thứ hàng hóa đặc biệt thì tại phương Đông lại rất khác, nô lệ có nhưng chế độ ít tham gia vào các quá trình sản xuất ra của cải vật chất, chưa phải là lực lượng đông đảo nhất, chưa phải là lưc lượng duy trì toàn bô sự sống còn của xã hội mà có vai chủ yếu là tham gia xây dựng công trình kiến trúc, lăng điện thành trì, phục vụ tầng lớp quý tộc… và không phải là đối tượng bóc lột chủ yếu như ở phương Tây. Nhìn ở góc độ nào đó họ vẫn còn chút giá trị, họ vẫn có “lương” trong công việc phục vụ quý tộc dù ít, có thể hồi gia cùng gia  đình lúc tuổi già, sức yếu; vẫn có quyền có nhu cầu cơ bản nhất; có thể đươc trọng dụng như nô gia Yết Kiêu, Giã Tượng – hai tướng tài dưới trướng Hưng đạo Vương vậy… Chính vì lí do này mà tôi khẳng bản thân xã hội Việt Nam có sự đan xen tồn tại giữa hai chế độ “chiếm hữu nô lệ” và “xã hội phong kiến”  nhưng  nhìn bao quát cái thể hiện của Chiếm hữu nô lệ ở chừng mực còn mờ nhạt, hạn chế “chế độ chiếm hữu nô lệ chưa thành thụ và điển hình” như ở phương Tây.

Ngoài ra, tiếp cận ở góc độ tâm sinh lí cũng có thể giải thích vì sao hình thái Chiếm hữu nô lệ có tồn tại nhưng nó không có tên trong bề dày  lịch sử dân tộc. Đấy là, do sử dụng các sản phẩm chủ yếu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp trồng trọt nên con người “thuần tính” hơn. Các cư dân Việt có nguồn thức ăn chủ yếu từ thực vật: Rau quả, lúa gạo, khoai sắn…nên cũng phần nào tạo nên bản tính “người” hơn, sống và cư xử hòa nhã, có tình hơn so với người Tây phương họ “ăn thịt”, dùng “dao, thìa” lấy thức ăn phần nào nói lên bản chất “dữ tợn, tính con” của họ. Tiếp nhận từ góc độ này có thể lí giải vì sao con người Phương Đông phần nhiều thiên về nội tâm, nếu có “ bóc lột, thống trị” cũng không gay gắt, tàn bạo, dã man như người Tây phương. Chính vì thế khi chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời ở nước ta cũng bị “ru ngủ nhiều bằng sợi dây tình cảm”. Hơn nữa, do quan niệm của người phương Đông trong quan hệ giữa con người với trời, đất (Thiên – Địa – Nhân): “Người ta chỉ chịu làm cách mạng khi mà không còn cách nào khác sau khi đã cam chịu” khiến cho phần lớn các mâu thuẫn không trở nên quá gay gắt, không thể diều hòa.

Trên đây là những phân tích để đưa ra kết luận cuối cùng tìm lời đáp cho câu hỏi: “Có hay không chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam”. Qua đây có thể kết luận được rằng, theo quy luật chung của các nhà Mác xít thì nhân loại sẽ trải qua  5 hình thái xã hội nhưng mức thể hiện của mỗi chế đô là không giống nhau. Chế độ Chiếm hữu nô lệ theo tôi từng tồn tại ở Việt Nam nhưng xét vể bản chất, đặc trưng cũng như khả năng hợp “Thiên – địa – nhân – hòa” thì không cao, chưa phải đậm đặc nhất do vây nó phải “quá độ”  và sống len lỏi dựa vào “xã hội phong kiến” để tồn tại cho hợp với cái bổn phận được sinh ra từ lịch sử (Điều này tương tự như chúng ta tiến lên Chủ nghĩa xã hội nhưng ngay trong thời kì quá độ này ta vẫn chấp nhận bàn tay chi phối của Tư bản chủ nghĩa…). Lịch sử ta không ghi nhận chế độ Chiếm hữu nô lệ cũng có cái lí của bản thân nó và tôi nghĩ cái lí ấy chính từ những suy nghĩ trên vậy ./.

NGUYỄN HỮU HOÀNG

(Phó chủ nhiệm Câu lạc bộ Lý luận trẻ
Học viện Hành chính cơ sở TP. Hồ Chí Minh)

——————————
(1) Sách Giáo khoa Lịch sử 10 (Nâng cao), Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008, trang 161.
(2) Sách Giáo khoa Lịch sử 10 (Nâng cao), Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008, trang 197.
(3) Sách Giáo khoa Lịch sử 10 (Nâng cao), Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008, trang 208.

http://hto.svhanhchinh.vn/2012/09/co-hay-khong-mot-che-do-chiem-huu-no-le-o-viet-nam.html

——————————

Ba thành tựu rực rỡ của nước Âu Lạc

Nhiều vấn đề của nước Âu Lạc cho đến nay đã được làm sáng tỏ ít nhiều, nhưng vẫn chưa đầy đủ về lịch sử – kinh tế – xã hội của quốc gia cổ đại từ hơn 2.200 năm trước. Để làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh của nước Âu Lạc, cần nêu lên một số thành tựu rực rỡ của quốc gia cổ xưa này.

Công nghệ luyện đúc đồng phát đạt

Nền văn hóa khảo cổ học Đông Sơn phân bố khắp lãnh thổ miền Bắc nước ta kéo dài từ suốt thiên niên kỷ thứ nhất TCN đến các năm SCN, mà tiêu chí là công nghệ luyện đúc đồng đạt đến trình độ điêu luyện

Các trung tâm lớn của văn minh Đông Sơn có nhiều, nhưng những địa danh liên quan đến Thục Phán – Âu Lạc lại nổi trội hơn hết, đó là Đào Thịnh – Yên Bái với sưu tập hiện vật đồ đồng đa dạng, trong đó có thạp đồng Đào Thịnh và nhiều trống đồng Đông Sơn. Đó là Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc, lại là địa danh văn minh Đông Sơn xuất sắc vùng hạ lưu sông Hồng phía dưới Việt Trì.

aulac12

Ở Cổ Loa có nhiều trống đồng Đông Sơn thuộc trống loại I Hêgơ, có hàng vạn mũi tên đồng. Cũng tại khu vực Cổ Loa tìm thấy nhiều lưỡi cày đồng. Có lẽ chưa có một địa danh văn minh Đông Sơn nào lại quy tụ nhiều loại hiện vật có giá trị tiêu biểu như ở Cổ Loa.

Chinh phục đồng bằng sông Hồng

Việc dời đô về Cổ Loa, bỏ qua Việt Trì – Phú Thọ thời Hùng Vương chứng tỏ rằng, cư dân Việt cổ của nước Âu Lạc đã chinh phục được đồng bằng sông Hồng. Điều lý thú là hàng loạt lưỡi cày đồng tìm thấy ở Cổ Loa, chứng tỏ rằng lúc đó nghề nông làm lúa nước bằng cày (có thể do người kéo hay súc vật kéo) đã phát triển.

Cây lúa hạt thóc là lương thực chủ đạo của cư dân Âu Lạc, những ruộng lúa ven châu thổ sông Hồng đã chín vàng vào mùa khô là điều chắc chắn. Thời Âu Lạc của An Dương Vương đã khác thời Văn Lang của Hùng Vương về lương thực là rõ ràng. Bởi vì thời Hùng Vương đồng ruộng vùng trung du, những đồng bằng hẹp ven sông, lợi dụng thủy triều lên xuống để làm ruộng…

Tất nhiên, kết quả là có hạn. Đến thời An Dương Vương, ruộng đất được cày xới, nghề nông dùng cày hiệu quả hàng chục lần hơn nghề nông dùng cuốc thời Hùng Vương, là một tiến bộ vượt bậc. Với nông nghiệp dùng cày, kinh tế thời Âu Lạc đã đạt đến trình độ cao. Đó là thành tựu rực rỡ của Âu Lạc.

Phát triển đô thị cổ

Với thành Cổ Loa, lâu nay giới nghiên cứu nói nhiều đến ý nghĩa quân sự của tòa thành này. Nhưng điều mà ít người nói đến Cổ Loa là ở vị thế đô thị cổ của nó.

Có thể là trung tâm hành chính không phải là đô thị cổ và trung tâm quân sự chưa phải là đô thị cổ. Nhưng Cổ Loa là đô thị cổ đích thực, bởi trình độ kinh tế thời Âu Lạc đã được thể hiện ở Cổ Loa, từ làng mạc vươn tới đô hội, nơi có tất cả mọi ngành nghề, quay về hướng nam, nơi có đồng bằng màu mỡ, có nhiều con sông nối với Cổ Loa, sông Hồng, sông Cầu…

sodo

Ba hạng mục thành tựu rực rỡ của Âu Lạc như vẫn còn đó trong những gì mà người Việt cổ lưu lại cho con cháu, từ truyền thuyết – di tích – hiện vật đến tâm tưởng của mọi thế hệ con cháu của Âu Lạc.

 http://www.hoangthanhthanglong.vn/blog/ba-thanh-tuu-ruc-ro-cua-nuoc-au-lac/538