Browsing Tag

Toni Morrison

Văn học Mỹ

TÓM LƯỢC VĂN HỌC HOA KỲ

Kathryn VanSpanckeren

(Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 5/2007)

1

Kathryn VanSpanckeren, Giáo sư tiếng Anh tại trường Đại học Tampa, đã giảng dạy về văn học Hoa Kỳ ở nhiều nơi trên thế giới, và từng là Giám đốc Chương trình Tập huấn Mùa hè do Quỹ Fulbright tài trợ dành cho các học giả quốc tế. Những tác phẩm đã xuất bản của bà bao gồm thơ ca và các nghiên cứu. Bà đã tốt nghiệp cử nhân ở Đại học California, Berkeley và nhận bằng Tiến sĩ của trường Đại học Harvard.

2

Mục lục

Nước Mỹ thời kỳ lập quốc và giai đoạn thuộc địa

Sự độc lập về văn học

Chủ nghĩa lãng mạn New England

Những tiểu thuyêt gia vĩ đại đầu tiên

Sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực

Chủ nghĩa hiện đại và những thử nghiệm

Sự phát triển của cá nhân

 

Chương 1

Nền tảng của văn học Mỹ đã được xây dựng từ những câu chuyện thần thoại, những truyền thuyết, những câu chuyện cổ tích và những bài ca trữ tình được truyền miệng từ các nền văn hóa của người da đỏ. Truyền thống truyền miệng của người Mỹ bản địa tương đối phong phú. Các câu chuyện của người da đỏ thường tỏ ra sùng kính thiên nhiên và coi
thiên nhiên như người mẹ vật chất lẫn tinh thần. Thiên nhiên là một thực giả J.L.G. Ferris, miêu tả nghi thể sống động và mang lại sức mạnh lễ cầu mùa màng bội thu. (ảnh tinh thần; các nhân vật chính trong tự nhiên có thể là loài vật hoặc cây cối, đôi khi là các vật tổ gắn liền với mỗi bộ lạc, mỗi tộc người hoặc mỗi cá nhân.

Sự đóng góp của người da đỏ bản địa đối với nước Mỹ lớn hơn chúng ta tưởng. Hàng trăm từ ngữ của người da đỏ hiện vẫn đang được sử dụng trong tiếng Anh Mỹ thông dụng. Ví dụ như “canoe”,, “tobacco”,, “potato”, “moccasin”, “moose”, “persimmon”, “raccoon”, “tomahawk”, và “totem” (xuồng, thuốc lá, khoai tây, giày da đanh, nai sừng tấm, quả hồng vàng, gấu trúc Mỹ, cái rìu và vật tổ). Các tác phẩm văn học đương đại của người Mỹ bản địa sẽ được nhắc tới trong chương 8 cũng bao gồm nhiều áng văn hay.

Tác phẩm văn học đầu tiên mang hơi hướng châu Âu xuất hiện trên đất Mỹ là một tác phẩm được viết bằng tiếng Scandinavi. Câu chuyện dân gian về các dòng họ lâu đời ở Na Uy đã mô tả những cuộc phưu lưu của Leif Eriksson và những người đàn ông Na Uy đến khai hoang tại một vài nơi thuộc bờ Đông Bắc nước Mỹ – có thể là ở Nova Scotia thuộc Canada- vào thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 11.

Tuy nhiên, tiếp xúc đầu tiên và liên tục giữa nước Mỹ với phần còn lại của thế giới chỉ được bắt đầu khi nhà thám hiểm tài ba người Italia, Christopher Columbus, tìm ra châu Mỹ dưới sự tài trợ của nữ hoàng Tây Ban Nha – Isabella. Nhật ký Columbus trong cuốn “Epistola” của ông – được in vào năm 1493 – đã mô tả lại cuộc hành trình đầy kịch tính này.

Những nỗ lực thực dân hóa đầu tiên của người Anh quả là một thảm họa. Khu thuộc địa đầu tiên được thành lập năm 1585 tại Roanoke, thuộc bờ Bắc Carolina và tất cả người đến khai hoang ở khu vực này đã biến mất. Khu kiều dân thứ hai tồn tại lâu hơn: Jamestown, được thành lập năm 1607. Khu kiều dân này đã chịu đựng cái đói, sự cai trị hung bạo và vô tổ chức. Tuy nhiên, nền văn học trong thời kỳ này đã mô tả nước Mỹ với nhiều màu sắc rực rỡ như là miền đất hứa hẹn sự giàu có với nhiều cơ hội. Các tác phẩm miêu tả thời kỳ thuộc địa đã trở thành những áng văn nổi tiểng trên thế giới.

Vào thế kỷ 17, những tên cướp biển, những kẻ phưu lưu và những nhà thám hiểm đã mở đường cho làn sóng thứ hai của những người khai phá lâu dài: họ đem theo vợ con, đồ dùng trong trang trại và công cụ lao động của những người thợ thủ công. Nền văn học mới xuất hiện trong thời kỳ khai hoang này được thể hiện qua những cuốn nhật ký, thư từ, nhật ký các cuộc hành trình, nhật ký hàng hải của những con tàu và các báo cáo gửi cho những người tài trợ cho các nhà thám hiểm. Vì rốt cuộc nước Anh đã có quyền sở hữu những thuộc địa ở Bắc Mỹ, nên hầu hết các tác phẩm nổi tiếng và những hợp tuyển các tác phẩm văn học thời kỳ thuộc địa đều được viết bằng tiếng Anh.

Dường như không có một khu kiều dân nào trong lịch sử thế giới lại tỏ ra có trí tuệ nhiều hơn những người Thanh giáo, hầu hết trong số họ có nguồn gốc từ nước Anh hoặc từ đất nước Hà Lan. Từ năm 1630 đến năm 1690, đã có nhiều trường đại học được thành lập ở miền Đông Bắc nước Mỹ – được biết đến với cái tên New England như ở nước Anh vậy. Những người Thanh giáo tự lập và thường là tự học muốn có kiến thức để hiểu được Chúa và thực hiện những điều răn dạy của Chúa khi họ xây dựng những khu kiều dân của mình tại New England.

Văn phong của người Thanh giáo tỏ ra vô cùng phong phú – từ những áng thơ trừu tượng rất phức tạp đến những dòng nhật ký bình dị, chất phác và những cuốn lịch sử tôn giáo có tính mô phạm cao. Dù ở phong cách và thể loại nào, chủ đề của các tác phẩm dường như không đổi. Cuộc sống được coi như một cuộc thử nghiệm, thất bại dẫn đến sự nguyền rủa vĩnh viễn và bị thiêu cháy dưới địa ngục còn thành công thì dẫn đến những niềm vui sướng nơi thiên đường. Thế giới này là một đấu trường bất biến giữa sức mạnh của Chúa và sức mạnh của Sa-tăng – một kẻ thù nguy hiểm với nhiều hình dạng cải trang.

Lâu nay, các học giả đã chỉ ra mối liên hệ giữa chủ nghĩa Thanh giáo và chủ nghĩa Tư bản: cả hai đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tham vọng, lao động chăm chỉ và nỗ lực hết mình để thành công. Mặc dù các cá nhân theo chủ nghĩa Thanh giáo – do những ràng buộc nghiêm khắc của các quy phạm thuộc thần học – có thể không biết họ có được “che chở” và được chọn để đi tới thiên đường hay không, nhưng những người Thanh giáo luôn có thiên hướng tin tưởng rằng những thành công nơi thế giới trần tục chính là dấu hiệu cho thấy họ sẽ được chọn. Sự giàu sang và địa vị xã hội không chỉ là quý giá đối với họ mà còn là sự bảo đảm để có được một sức mạnh tinh thần và hứa hẹn một cuộc sống bất tử.

Ngoài ra, quan điểm về địa vị xã hội cũng góp phần thúc đẩy sự thành công. Các tín đồ Thanh giáo tin rằng bằng cách thúc đẩy hơn nữa lợi ích của chính họ và sự hạnh phúc của cộng đồng, họ đã tiến gần hơn được với Chúa. Tác phẩm văn học vĩ đại nhất chứa đựng đức tín và quy tắc ứng xử của họ chính là Kinh thánh – đã được cho phép dịch ra tiếng Anh. Tính cổ xưa của Kinh thánh đã khiến nó trở nên đầy quyền lực trong con mắt của các tín đồ Thanh giáo.

Từ những năm 1600 đến những năm 1700, chủ nghĩa giáo điều tôn giáo từng bước suy thoái bất chấp những nỗ lực rời rạc và tàn nhẫn của các tín đồ Thanh giáo nhằm ngăn chặn làn sóng của chủ nghĩa khoan dung. Tư tưởng của chủ nghĩa khoan dung và tự do tôn giáo đã từng bước lớn mạnh tại các khu kiều dân Mỹ và lần đầu tiên được thành lập ở Rhode Island và Pennsylvania, quê hương của người Quaker. Những người Quaker bao dung và nhân ái – hay còn được gọi là những “Người bạn” – tin tưởng vào phần thánh thiện trong lương tâm mỗi người và coi đó là nguồn gốc của đạo đức và trật tự xã hội. Đức tin căn bản của người Quaker đối với tình yêu vạn vật và tình anh em khiến họ trở thành những người có tư tưởng dân chủ sâu sắc và phản đối quyền lực tôn giáo võ đoán. Bị xua đuổi bởi chính quyền bang Massachusetts – những người e sợ sự ảnh hưởng của họ – những người Quaker đã xây dựng một khu kiều dân rất thành công dưới thời William Penn năm 1681 ở Penn- sylvania.

 

Chương 2

Sự độc lập về văn học

Cuộc cách mạng Mỹ chống lại người Anh (1775-1783) là cuộc chiến tranh giải phóng hiện đại đầu tiên chống lại một cường quốc thực dân. Chiến thắng vang dội của cuộc đấu tranh giành độc lập đã cho thấy những tiên đoán về số mệnh làm nên những điều vĩ đại của nước Mỹ và người dân Mỹ. Chiến thắng quân sự đã thắp sáng niềm hy vọng về chủ nghĩa dân tộc và làm nảy sinh một nền văn học mới. Nếu không kể đến các bài viết về chính trị nổi bật thì chỉ có rất ít tác phẩm văn học đáng chú ý được viết trong hoặc ngay sau Cách mạng.

Người dân Mỹ đã đau xót nhận thấy sự phụ thuộc quá mức của văn học Mỹ vào các mô thức văn học kiểu Anh. Sự tìm kiếm nền văn học bản địa đã trở thành nỗi ám ảnh trên khắp đất nước. Sự giải phóng cho văn học Mỹ đã bị trì hoãn bởi mối liên hệ còn sót lại với nước Anh thể hiện qua sự bắt chước và mô phỏng thái quá những hình mẫu văn học cổ điển hoặc theo kiểu Anh quốc. Đồng thời, những khó khăn về kinh tế và điều kiện chính trị cũng đã làm cản trở công việc xuất bản.

James Fenimore Cooper, giống như Washing- ton Irving, là một trong những nhà văn lớn đầu tiên của nước Mỹ. Giống như các nhà văn lãng mạn khác thời kỳ này, ông đã gợi nên những tình cảm trong quá khứ (ở thời đại của ông, những vùng đất hoang vu của nước Mỹ được khai hóa và gắn liền với những kiều dân đến từ châu Âu). Trong tác phẩm của Cooper, người ta đã tìm thấy sức mạnh diệu kỳ của “thời đại vàng” và đau xót cho những mất mát của nó.

Trong khi Washington Irving và những nhà văn Mỹ khác trước và sau ông đã sục sạo khắp châu Âu để tìm kiếm các truyền thuyết, các tòa lâu đài và các tư tưởng vĩ đại thì Cooper lại giúp tạo ra một truyền thuyết riêng cho nước Mỹ: lịch sử châu Âu tại Mỹ đã được tái hiện qua tác phẩm Mùa thu ở khu vườn địa đàng. Tính tuần hoàn của tự nhiên chỉ được nhận thấy thấp thoáng từ chính hành vi phá hủy nó: những vùng đất hoang dã đã biến mất trong con mắt người Mỹ, biến mất ngay trước khi những người tiên phong đi tới, giống như một ảo giác vậy. Đây chính là nhân sinh quan theo kiểu bi kịch của Cooper đối với tình trạng bị tàn phá của các miền đất chưa được khai hóa – một vườn địa đàng mới lúc đầu đã thu hút các kiều dân.

Là con trai trong một gia đình Quaker, ông lớn lên tại một điền trang xa xôi hẻo lánh của người cha tại Hồ Otsego (hiện là thị trấn Coopers) nằm ở trung tâm bang New York. Mặc dù vùng đất này khá yên bình vào thời niên thiếu của Cooper song nó đã từng một lần là nơi diễn ra cuộc tàn sát người da đỏ. Từ bé Fenimore Cooper đã nhìn thấy những người dân ở vùng biên giới và những người da đỏ ở vùng hồ Hồ Otsego, sau này cậu thấy những kiều dân da trắng ngang nhiên xâm lấn đất đai của mình.

Natty Bumppo, nhân vật nổi tiếng trong các tác phẩm văn học của Cooper, là đại diện cho nhân sinh quan của ông – một người dân vùng biên giới và là một “nhà quý tộc bẩm sinh” theo chủ nghĩa Jefferson. Ngay từ năm 1823, trong tác phẩm Người tiên phong, Cooper đã bắt đầu tưởng tượng ra nhân vật Bumppo. Natty là người dân vùng biên giới được biết đến đầu tiên trong văn học Hoa Kỳ và là nguyên mẫu văn học đầu tiên của vô số các nhân vật cao bồi và các anh hùng tại những khu rừng hẻo lánh được hư cấu sau này. Nhân vật này là một người theo chủ nghĩa cá nhân lý tưởng – người luôn tốt đẹp hơn xã hội mà anh ta bảo vệ. Nghèo khổ và đơn độc nhưng lại vô cùng trong sáng, nhân vật này là chuẩn mực cho các giá trị đạo đức và là nguyên mẫu cho nhân vật Billy Bud của Herman Melville và nhân vật Huck Finn của Mark Twain sau này.

Dựa trên một phần cuộc sống đời thực của một người Mỹ khai hoang là Daniel Boone – một người Quaker giống như Cooper – Natty Bumppo, phiên mẫu của Boone, là một người đàn ông mang lại hòa bình và được một bộ lạc người da đỏ nuôi dưỡng. Cả Boone và nhân vật tưởng tượng Bumppo đều yêu thiên nhiên và tự do. Họ không ngừng hướng về phía Tây để thoát khỏi những kiều dân đang đến – những người mà chính họ đã chỉ đường cho tới vùng đất hoang dã này – và họ đã trở thành truyền thuyết từ chính cuộc đời của họ.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tuyển tập gồm 5 cuốn tiểu thuyết được biết đến dưới cái tên Truyền thuyết chiếc vớ da chính là cuộc đời của Natty Bumppo. Được coi là tuyển tập hay nhất của Cooper, 5 cuốn tiểu thuyết này là những áng văn xuôi mang đậm chất hùng ca với khung cảnh hùng tráng của lục địa Bắc Mỹ, các bộ lạc da đỏ là những diễn viên chính, các cuộc chiến tranh vĩ đại và dòng người di cư sang phía Tây là bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những cuốn tiểu thuyết này cho thấy cuộc sống nơi biên giới nước Mỹ trong những năm từ 1740 đến 1804. Tiểu thuyết của Cooper đã miêu tả một cách vô cùng sinh động những làn sóng kiều dân kế tiếp nhau tới khu vực biên giới: những vùng đất hoang vu là nơi sinh sống của người da đỏ; sự có mặt của những người da trắng đầu tiên – những trinh sát, những người lính, nhà buôn và những người dân vùng biên giới; sự xuất hiện của nghèo đói, của những gia đình kiều dân khốn khổ, và cuối cùng là sự có mặt của tầng lớp trung lưu bao gồm thẩm phán, bác sĩ và chủ ngân hàng. Mỗi đợt sóng ào đến lại xóa sạch những đợt sóng trước đó: người da trắng thế chỗ người da đỏ khiến những người này buộc phải rút về phía Tây; tầng lớp trung lưu xây dựng trường học, nhà thờ và nhà tù, thay thế cho tầng lớp thấp hơn bao gồm những tộc người biên giới theo chủ nghĩa cá nhân – những người buộc phải di chuyển xa hơn về phía Tây, đến lượt họ lại thay thế những người da đỏ đến trước đó. Coo- per đã miêu tả được tính vô tận và làn sóng không thể tránh khỏi của những kiều dân, đồng thời ông cũng nhìn nhận được cả những cái được và cái mất của những làn sóng di cư ấy.

Giống như Rudyard Kipling, E.M. Forster, Herman Melville và các nhà quan sát nhạy cảm khác của các nền văn hóa rất khác nhau nhưng vẫn tương tác lẫn nhau, Cooper là một nhà văn hóa theo thuyết tương đối. Ông hiểu rằng không nền văn hóa nào có vị thế độc tôn trong những vấn đề đạo đức hay cái đẹp.

 

Chương 3

Chủ nghĩa lãng mạn New England

Phong trào lãng mạn bắt nguồn từ nước Đức nhưng đã nhanh chóng lan rộng và ảnh hưởng tới nước Mỹ vào khoảng năm 1820. Các tư tưởng lãng mạn xoay quanh linh hồn con người và những vẻ đẹp vĩ đại của tự nhiên, đồng thời đề cập đến tầm quan trọng của linh hồn và trí tuệ của mỗi cá nhân. Chủ nghĩa lãng mạn nhấn mạnh tầm quan trọng của nghệ thuật tự biểu cảm của cá nhân và xã hội.

Sự phát triển cá nhân trở thành chủ đề chính và sự tự ý thức về bản thân là phương thức cơ bản. Theo lý thuyết của chủ nghĩa lãng mạn, nếu bản ngã và tự nhiên hòa làm một thì ý thức về bản thân không phải là sự ích kỷ mà là cách thức mở rộng tri thức đối với vũ trụ. Nếu cái tôi của một người là cái tôi có nhân tính thì cá nhân đó có trách nhiệm đạo đức là cải tạo xã hội, xóa bỏ bất công và làm dịu đi những nỗi thống khổ của con người. Tư tưởng về cái tôi – vốn bị những thế hệ trước coi là bản ngã ích kỷ – đã được định nghĩa lại. Các từ ghép mới mang ý nghĩa tích cực đã được sử dụng như: “khả năng tự nhận thức”, “khả năng tự biểu đạt” và “lòng tự tin”.

Vì chỉ có một nên cái tôi chủ quan trở nên vô cùng quan trọng dưới góc nhìn tâm lý học. Nhiều kỹ thuật và hiệu ứng nghệ thuật đã được xây dựng để khơi gợi xúc cảm tâm lý của các cá nhân. Nghệ thuật tượng hình – một hiệu ứng thẩm mỹ mô tả các khung cảnh hùng vĩ (ví dụ như quang cảnh nhìn từ một đỉnh núi) – đã có tác dụng tạo ra những cảm xúc về nỗi kinh sợ, sự tôn kính, sự bao la và sức mạnh trong nhận thức của con người.

Chủ nghĩa lãng mạn đã được khẳng định và được dành riêng cho hầu hết các nhà thơ và các nhà văn tiểu luận sáng tạo Mỹ. Các đỉnh núi hùng vĩ, các sa mạc mênh mông và các vùng đất nhiệt đới của nước Mỹ đã được mô tả trong các áng văn thơ của họ. Tư tưởng lãng mạn dường như đặc biệt thích hợp với nền dân chủ kiểu Mỹ: nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa cá nhân, khẳng định giá trị của những con người bình dị và cổ vũ cho trí tưởng tượng đầy sáng tạo nhằm biểu đạt các giá trị đạo đức và thẩm mỹ.

Thuyết tiên nghiệm

Phong trào Tiên nghiệm – đại diện bởi nhà văn tiểu luận Waldo Em- erson và Henry David Thoreau, là một phản ứng chống lại Chủ nghĩa Duy lý thế kỷ 18 và được coi là có mối liên hệ gần gũi với phong trào Lãng mạn. Phong trào này gắn liền với Concord, Massa- chusetts, một thị trấn gần Boston, nơi Emerson, Thoreau, và một nhóm các nhà văn khác đã sống.

Nhìn chung, Chủ nghĩa Tiên nghiệm là một triết lý sống tự do, yêu thích tự nhiên hơn là các cấu trúc tôn giáo theo nghi thức, đề cao nhận thức của mỗi cá nhân hơn là những giáo lý cứng nhắc, coi trọng bản năng của con người hơn là các quy ước xã hội. Những người theo chủ nghĩa Lãng mạn tiên nghiệm ở nước Mỹ đã thúc đẩy hơn nữa chủ nghĩa cá nhân cấp tiến và đẩy chủ nghĩa cá nhân đến mức cực đoan. Các nhà văn Mỹ – lúc đó hoặc sau này – đều tự coi mình là những nhà thám hiểm đơn độc nằm bên ngoài xã hội và các quy ước của nó. Nhân vật anh hùng Mỹ – giống như Thuyền trưởng Ahab của Herman Melville hay Huck Finn của Mark Twain – đều tự mình đối mặt với hiểm nguy, thậm chí đối mặt với cái chết trong hành trình tự khám phá mang tính siêu việt của họ. Đối với các nhà văn lãng mạn Mỹ, không có gì là định sẵn. Văn học và quy ước xã hội, nếu không có ích thì sẽ trở thành nguy hiểm. Luôn có một sức ép dữ dội thôi thúc họ tìm ra một hình thức, nội dung và cảm xúc văn học có tính xác thực cao.

Ralph Waldo Emerson, một gương mặt xuất chúng vào thời đại của ông, là một người có tư tưởng về sứ mệnh tôn giáo. Mặc dù nhiều người buộc tội ông đã phá vỡ các giáo lý của đạo Cơ đốc song ông đã giải thích rằng đối với ông “để trở thành một mục sư tốt thì phải rời bỏ nhà thờ”. Bài diễn văn mà ông đã trình bày năm 1838 tại Thánh đường Trường Thần học Harvard đã khiến ông không được chào đón tại Harvard trong 30 năm. Trong bài diễn văn này, Emerson đã cáo buộc nhà thờ quá ủng hộ tín điều và bóp nghẹt linh hồn con người.

Ralph Waldo Emerson

Emerson luôn kiên định với lời kêu gọi của mình về sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân kiểu Mỹ lấy nguồn cảm hứng từ tự nhiên. Trong cuốn Tự nhiên (1836), ấn phẩm đầu tiên của ông, đoạn mở đầu được viết như sau:

Thời đại của chúng ta là nhìn nhận lại quá khứ. Quá khứ xây nên lăng mộ của những người cha. Nó viết nên tiểu sử, lịch sử và những lời chỉ trích. Các thế hệ đi trước đã trông thấy Chúa và thiên nhiên đối mặt với nhau; chúng ta (chỉ đơn thuần là) thông qua con mắt của họ. Tại sao chúng ta lại không được phép trực tiếp quan sát mối liên hệ giữa loài người với vũ trụ? Tại sao chúng ta không được phép có thi ca nhìn thấu tâm hồn con người thay vì truyền thống, và tại sao chúng ta không được có một tôn giáo soi rạng chính chúng ta thay vì lịch sử của những thế hệ trước. Cứ mỗi mùa trong tự nhiên với những dòng chảy cuộc sống xung quanh ta và xuyên qua ta lại mời mọc ta bởi sức mạnh của nó, thúc đẩy ta hành động hòa hợp với tự nhiên, vậy thì tại sao chúng ta lại cứ phải mò mẫm trong những đống xương tàn của quá khứ…?

Nhiều tư tưởng tôn giáo của ông bắt nguồn từ những tác phẩm mà ông đã đọc về Đạo Hinđu, Khổng giáo và đạo Xufi Hồi giáo.

Henry David Thoreau sinh ra và cư trú ở Concord. Xuất thân từ một gia đình nghèo, giống như Emerson nhưng ông đã từng học tập ở trường Đại học Harvard. Kiệt tác của ông, Walden, hay Cuộc sống trong rừng (1854), là thành quả của 2 năm, 2 tháng và 2 ngày (từ 1845 đến 1847) sống trong một căn nhà gỗ nhỏ được ông xây dựng ở Walden Pond, gần Concord. Bản trường ca thơ mộng này của ông đã giúp người đọc chiêm nghiệm cuộc sống và thúc đẩy họ sống hết mình cho cuộc sống.

Tác phẩm “Chống lại pháp luật” của Thoreau cùng với lý thuyết của nó về sự kháng cự tiêu cực dựa trên sự cần thiết về đạo đức đối với mỗi cá nhân chính nghĩa – những người cần đứng lên phản kháng lại những bộ luật bất công. Tư tưởng này của ông chính là nguồn cảm hứng Henry David Thoreau cho phong trào giành độc lập của thủ lĩnh người Ấn độ Mahatma Gandhi và của cuộc đấu tranh do Martin Luther King lãnh đạo đòi quyền dân sự cho những người Mỹ da đen vào thế kỷ 20.

Sinh ra ở Long Island, bang New York, Walt Whitman đã từng là thợ mộc bán thời gian và là một người con ưu tú của dân tộc – người đã có những tác phẩm thành công rực rỡ, đầy chất sáng tạo và phản ánh linh hồn của nền dân chủ Hoa Kỳ. Cuộc đời của Whitman là một tấm gương về tự học hỏi, từ năm 11 tuổi ông đã rời trường học để đi làm, vì vậy, ông không được hưởng những tinh hoa của nền giáo dục truyền thống khiến cho hầu hết các tác giả người Mỹ đều mô phỏng văn phong kiểu Anh. Trong cuốn Lá Cỏ (1855) của ông – một tác phẩm được ông sáng tác dựa trên chính cuộc đời mình – có “Bài ca của tôi” – một bài thơ được coi là ấn tượng nhất đã từng được viết bởi một tác giả là người Mỹ.

Tính sáng tạo, không theo vần điệu, hình thức tự do của thơ ca cùng với thái độ cởi mở đối với đời sống tình dục, xúc cảm mạnh mẽ đối với nền dân chủ và tư tưởng lãng mạn cực đoan được hòa trộn làm một và người đọc lập tức đã bị cuốn theo dòng chảy thi ca thực sự theo lối Mỹ.

Walt Whitman (1819-1892)

Emily Dickinson được coi là chiếc cầu nối giữa thời đại của bà với những xúc cảm văn học của thế kỷ 20. Là một người theo chủ nghĩa cá nhân cực đoan, bà sinh ra và sống cuộc đời mình ở Amherst – một ngôi làng nhỏ thuộc bang Massa- chusetts. Bà không kết hôn và đã sống một cuộc đời kỳ lạ với một nội tâm mãnh liệt, nhiều biến cố mặc dù nếu chỉ quan sát bên ngoài thì dường như cuộc sống của bà vô cùng bình lặng. Bà yêu thiên nhiên và tìm thấy cảm hứng sâu sắc từ những cánh chim, những con vật, cỏ cây và

Emily Dickinson (1830-1886) những thời khắc giao mùa của vùng nông thôn New England.

Dickinson đã sống ẩn dật phần cuối của cuộc đời mình để nuôi dưỡng tâm hồn vô cùng nhạy cảm của bà và dành thời gian để sáng tác.

Văn phong ngắn gọn, xúc tích và giàu hình tượng của bà có tính hiện đại và sáng tạo hơn phong cách của Whitman. Bà thường đề cập đến những cảm xúc khiếp sợ về sự tồn tại của các sinh linh. Những vần thơ trong sáng, chải chuốt, đầy hình tượng của bà được phát hiện vào những năm 1950 và được coi là một trong những vần thơ lôi cuốn và có sức hấp dẫn lớn nhất trong lịch sử văn học Hoa Kỳ.

 

Chương 4

Những tiểu thuyêt gia vĩ đại đầu tiên

Walt Whitman, Herman Melville, Emily Dickinson – cũng như các tác giả đương thời khác, Nathaniel Hawthorne và Edgar Allen Poe – đại diện cho thế hệ các nhà văn, nhà thơ lớn đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ. Đối với các nhà văn hư cấu, nhân sinh quan theo chủ nghĩa lãng mạn được bộc lộc qua một thể thức văn học được Haw- thorrne gọi là “tiểu thuyết hư cấu” – một hình thức văn học có tính biểu trưng, gây xúc động mạnh và cường điệu của loại hình tiểu thuyết. Theo cách định nghĩa của Hawthorrne, tiểu thuyết hư cấu không phải là những câu chuyện tình yêu mà là những cuốn tiểu thuyết thực sự, trong đó sử dụng những thuật ngữ đặc biệt để truyền tải những cảm xúc phức tạp và tinh tế.

Thay vì mô tả một cách thận trọng những nhân vật có thực thông qua hàng loạt các chi tiết như hầu hết các tác giả người Anh và các nhà viết tiểu thuyết ở châu Âu, Hawthorne, Melville và Poe đã tạo ra những nhân vật anh hùng không có thật trong cuộc sống và mang đậm chất hoang đường. Nhân vật chính trong tiểu thuyết hư cấu Mỹ là những cá nhân ma quái hoặc bị bệnh tâm thần. Arthur Dimmesdale hay Hester Prynne trong cuốn Chữ A màu đỏ của Hawthorne, Ahab trong cuốn Moby-Dick của Melville và nhiều nhân vật cô độc và bị ám ảnh khác trong các tác phẩm của Poe đều là những vai chính đơn độc chống lại định mệnh đen tối không thể nhận biết – một định mệnh được hình thành một cách hoàn toàn bí ẩn bên ngoài cá nhân vô thức của họ. Cốt truyện có tính biểu trưng được giấu trong những hành động của linh hồn đau khổ. Một lý do khiến cho loại tiểu thuyết hư cấu này thường khai thác những ngóc ngách sâu kín trong tâm hồn nhân vật là do vào thời kỳ này, tại nước Mỹ, sự chia sẻ cộng đồng vẫn còn đang thiếu vắng. Các nhà văn tiểu thuyết của nước Anh – Jane Austen, Charles Dickens (một nhà văn rất nổi tiếng), Anthony Trollope, George Eliot, William Thackeray – đều sống trong một xã hội phức tạp, được kết nối tốt và mang đậm tính truyền thống. Họ chia sẻ với độc giả của họ – một thái độ cho thấy tư tưởng hư cấu hiện thực của những nhà văn này.

Các nhà văn Mỹ phải đối mặt với lịch sử của cuộc đấu tranh cách mạng, với những vùng đất bao la chưa được khai phá và một xã hội dân chủ hay thay đổi và gần như không bị phân tầng. Nhiều cuốn tiểu thuyết Anh mô tả những con người nghèo khổ đã leo lên được các bậc thang kinh tế xã hội cao hơn do có được một cuộc hôn nhân tốt hoặc do phát hiện ra quá khứ quý tộc bị che giấu của mình. Nhưng cốt truyện kiểu này đã không hấp dẫn được cấu trúc xã hội quý tộc kiểu Anh. Ngược lại, chính cấu trúc xã hội này tạo nên cốt truyện. Sự vươn lên của các nhân vật chính trong truyện làm thỏa mãn khao khát của phần lớn độc giả thuộc tầng lớp trung lưu thời bấy giờ ở nước Anh.

Ngược lại, các nhà viết tiểu thuyết Mỹ phải tin tưởng vào chính họ. Nước Mỹ là một quốc gia có đường biên giới luôn thay đổi và không thể định nghĩa do những người di cư nói hàng chục ngôn ngữ khác nhau với những phong cách sống thô sơ và hoàn toàn mới lạ. Vì thế, nhân vật chính trong một cuốn tiểu thuyết Mỹ thường có khả năng một mình sống giữa một bộ lạc ăn thịt người như trong cuốn Typee của Melville, hay một mình khai phá vùng đất hoang như Leatherstocking của James Fenimore Cooper, hoặc có khả năng nhìn thấy hồn ma hiện lên từ những nấm mồ như những nhân vật ẩn dật của Poe, và gặp gỡ ma qủy đi dạo trong rừng như nhân vật Young Goodman Brown của Hawthorne. Hầu như tất cả các nhân vật chính trong loại hình tiểu thuyết này đều là những người “cô đơn”. Một người Mỹ dân chủ phải tự phát hiện ra bản ngã của mình. Các nhà viết tiểu thuyết nổi tiếng của nước Mỹ đã phát minh ra những thể thức mới cho loại hình văn học này: ví dụ như cuốn Moby-Dick – một tác phẩm đặc trưng của Melville và Chuyện kể của Arthur Gordon Pym – một tác phẩm với cốt truyện và văn phong kỳ ảo của Poe.

Herman Melville (1819-1891) là hậu duệ của một gia đình giàu có và cổ xưa bất ngờ lâm vào cảnh nghèo nàn bởi cái chết của người cha. Mặc dù được dạy dỗ một cách nghiêm khắc, bất chấp truyền thống gia đình và lao động vất vả, Melville đã không đặt chân đến trường đại học. Vào năm 19 tuổi, ông bắt đầu đi biển. Tình yêu của ông đối với cuộc sống người thủy thủ đã được nuôi lớn một cách hoàn toàn tự nhiên và nằm ngoài kinh nghiệm của bản thân. Hầu hết các cuốn tiểu thuyết của ông đều được viết trong những chuyến đi dài. Tác phẩm đầu tay – Typee – được xây dựng dựa trên khoảng thời gian ông sống với những người Taipis ở quần đảo Marquesas thuộc Nam Thái Bình Dương.

Moby-Dick; hay Cá voi, kiệt tác của Melville, là một bản hùng ca về con tàu săn bắt cá voi Pequod và vị thuyền trưởng của nó, Ahab, người có nỗi ám ảnh phải săn đuổi cá voi trắng, Moby-Dick, khiến con tàu bị phá hủy và các thủy thủ phải đối mặt với cái chết. Tác phẩm này là một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu hiện thực, chứa đựng và truyền tải những suy ngẫm về cuộc sống của con người.

Qua cuốn sách này, nghề săn bắt cá voi dường như là một phép ẩn dụ lớn về quá trình đi tìm tri thức. Cuộc rượt đuổi của Ahab vừa can đảm lại vừa bi kịch. Bất chấp chủ nghĩa anh hùng của mình, Ahab vẫn phải chịu một kết thúc bi thảm và có thể còn tiếp tục bị nguyền rủa sau cái chết. Thiên nhiên tuy rất đẹp nhưng cũng chứa đựng hiểm nguy và cái chết. Trong tác phẩm Moby-Dick, Melville đã thách thức quan điểm lạc quan của Emerson cho rằng con người có thể thấu hiểu tự nhiên. Moby-Dick – chú cá voi trắng to lớn – là sự tồn tại khó hiểu và kỳ vĩ chế ngự toàn bộ cuốn tiểu thuyết, và chính điều đó đã ám ảnh Ahab. Thực tế về cá voi và nghề săn bắt cá voi không thể giải thích được hành vi của Moby-Dick; trái lại, chính thực tế lại có vẻ như bị tan biến trong các biểu tượng. Đằng sau những thực tế mà Melville thu lượm được là một nhân sinh quan thần bí – nhưng dù nhân sinh quan này tốt hay xấu, có tính nhân văn hay không có tính nhân văn thì cũng không thể giải thích được.

Ahab đã khăng khăng tưởng tượng ra một thế giới anh hùng, tuyệt đối và vĩnh cửu. Ông đã dại dột đòi hỏi một sự kết thúc rõ ràng, một câu trả lời chính xác. Nhưng cuốn tiểu thuyết đã chỉ ra rằng không có kết thúc nào cả, không có câu trả lời cuối cùng nào cả, ngoại trừ cái chết. Tác phẩm này của Melville đã gây được tiếng vang rộng khắp trong làng văn học Mỹ. Nhân vật Ahab được đặt tên theo tên một ông vua trong kinh thánh, một người mong muốn cái tuyệt đối. Giống như Oedipus trong tác phẩm của Sophocles, người đã phải trả giá đắt do nhận thức không đúng đắn, Ahab đã thực sự mù quáng trước khi tự đẩy mình vào chỗ chết.

Con tàu Pequod của Ahab được đặt tên theo một bộ lạc người Mỹ bản địa đã tuyệt chủng ở New England. Vì thế, chỉ riêng cái tên này đã khiến độc giả linh cảm trước về việc con tàu sẽ bị phá hủy. Nghề săn bắt cá voi trên thực tế là một ngành công nghiệp quan trọng, đặc biệt là ở New England: nó cung cấp tinh dầu cá voi như một nguồn năng lượng, đặc biệt dành cho việc đốt cháy các ngọn đèn. Vì vậy, trong văn học, cá voi được ví như “nguồn sáng lan tỏa” trong vũ trụ. Cuốn sách này đã gây tiếng vang lớn xét về mặt lịch sử. Nghề săn bắt cá voi vốn đã có tính bành trướng chủ nghĩa và có quan hệ mật thiết với ý tưởng lịch sử về “số phận chủ nghĩa bành trướng” của dân tộc Mỹ, từ đó đòi hỏi người dân Mỹ phải dong buồm vòng quanh thế giới để tìm kiếm cá voi (trên thực tế, bang Hawaii thuộc Mỹ ngày nay trước kia đã được sử dụng để tiếp nhiên liệu cho các con tàu đánh bắt cá voi của Mỹ). Các thủy thủ của tàu Pequod đại diện cho các sắc tộc và các tôn giáo khác nhau, thể hiện ý tưởng về một nước Mỹ thống nhất, đa sắc tộc, đa tôn giáo và là điểm đến của các dòng người nhập cư. Cuối cùng, Ahab tiêu biểu cho một phiên bản bi kịch của chủ nghĩa cá nhân dân chủ kiểu Mỹ. Ông khẳng định nhân phẩm cá nhân mình và dám đối chọi với những sức mạnh bên ngoài không thể chế ngự từ vũ trụ.

 

Chương 5
Sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực

Cuộc Nội chiến Mỹ (1861-1865) nổ ra giữa miền Bắc công nghiệp với miền Nam nông nghiệp chiếm hữu nô lệ là một bước ngoặt lớn trong lịch sử Hoa Kỳ. Trước chiến tranh, các nhà duy tâm đã đấu tranh bênh vực nhân quyền, đặc biệt là việc xóa bỏ chế độ chiếm hữu nô lệ. Sau chiến tranh, người Mỹ đã đạt được những tiến bộ lớn trong lĩnh vực này và chế độ nô lệ đã hoàn toàn bị xóa bỏ. Thời kỳ sau Nội chiến trở thành kỷ nguyên của các triệu phú là các nhà sản xuất và các nhà đầu cơ, khi thuyết tiến hóa về sự thích nghi của loài của Darwin bắt đầu được áp dụng phổ biến trong xã hội và dường như những ông chủ tư bản sẵn sàng thực hiện nhiều hành vi vô đạo đức để đạt được mục đích kinh doanh.

Hoạt động kinh doanh buôn bán đã bùng nổ sau chiến tranh. Hệ thống đường sắt liên lục địa được khánh thành năm 1869 và kỹ thuật điện tín truyền tin xuyên lục địa bắt đầu hoạt động năm 1861 đã giúp cho ngành công nghiệp tiếp cận dễ dàng các nguồn nguyên vật liệu, các thị trường và thúc đẩy hoạt động giao tiếp. Dòng người nhập cư vào Hoa Kỳ vẫn tiếp tục tăng lên, cung cấp một nguồn lao động rẻ dường như vô hạn. Hơn 23 triệu người ngoại quốc – đầu tiên là những người Đức, người Scăngđinavi và người Ai -len, sau đó là người Trung Âu và Nam Âu – đã di cư tới nước Mỹ trong giai đoạn từ 1860 đến 1910. Trong năm 1860, hầu hết người Mỹ đều sinh sống tại các trang trại hoặc các ngôi làng nhỏ; nhưng đến năm 1919, một nửa dân số Mỹ đã sinh sống tập trung ở 12 thành phố lớn.

Những vấn đề nảy sinh trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã bắt đầu xuất hiện: nghèo đói, thiếu thốn nhà cửa, điều kiện vệ sinh không đảm bảo, tiền lương thấp (hay còn được gọi là “mức lương trả cho nô lệ”), điều kiện làm việc khó khăn và những ràng buộc lao động chưa phù hợp. Các công đoàn lớn mạnh và bắt đầu đấu tranh thông qua việc giúp cho người lao động trên khắp đất nước nhận thức được hoàn cảnh lao động khốn cùng của họ. Các chủ trang trại cũng đấu tranh chống lại “lợi tức tư bản” của miền Đông. Từ 1860 đến 1914, nước Mỹ đã chuyển đổi từ một thuộc địa cũ nông nghiệp nhỏ bé thành một quốc gia công nghiệp, hiện đại và rộng lớn. Từ một con nợ năm 1860, đến năm 1914, nước Mỹ đã trở thành quốc gia thịnh vượng nhất và kể từ Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, nước Mỹ đã trở thành một cường quốc thế giới.

Nền công nghiệp hóa lớn mạnh đã gây ra các ảnh hưởng của nó. Hai nhà viết tiểu thuyết Mỹ vĩ đại nhất thời kỳ này là Mark Twain và Henry James có các cách phản ứng khác nhau trước bối cảnh này. Twain đã đưa miền Nam và miền Tây – vốn được ông coi là trái tim của vùng nông thôn và vùng biên giới nước Mỹ – vào các tác phẩm hư cấu của mình; James thì lại hướng về châu Âu để tiến lại gần hơn bản chất của những người Mỹ mới theo chủ nghĩa thế giới.

Samuel Clemens (1835-1910), nổi tiếng hơn dưới bút danh Mark Twain, lớn lên bên bờ sông Mississippi tại một thị trấn biên giới Hannibal, thuộc bang Missouri. Chính Ernest Hemingway đã tuyên bố rằng tất cả nền văn học Mỹ đã được phác họa từ một tác phẩm vĩ đại của Twain – cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Vào đầu thế kỷ 19, các nhà văn Mỹ có xu hướng sáng tác theo lối văn phong đa cảm, hoa mỹ và phô trương – một phần là họ muốn chứng minh rằng họ có
thể viết giống như người Anh. Văn phong của Twain dựa trên phong cách hiện thực, thông dụng và sôi nổi theo kiểu Mỹ, giúp cho các nhà văn Mỹ bắt đầu ý thức được và đánh giá cao tiếng nói dân tộc của họ. Twain là tác giả lớn đầu tiên khai phá những nét đặc trưng của chính bản thân nước Mỹ, ông cũng là người đầu tiên sử dụng lối nói lái hài hước và có những tư tưởng đả phá tín ngưỡng lỗi thời trong các tác phẩm của mình.

Đối với Twain và các nhà văn Mỹ khác ở thế kỷ 19, chủ nghĩa hiện thực không chỉ là một kỹ thuật văn học: nó còn là cách để nói lên sự thật và làm tiêu tan những quy ước đã lỗi thời. Vì thế, nó thực sự tự do và có thể tạo ra xung đột với xã hội. Ví dụ được biết đến nhiều nhất chính là tác phẩm về Huck Finn – một chàng trai nghèo quyết định đi theo tiếng gọi lương tâm và giúp người nô lệ Negro vươn tới tự do, ngay cả khi Huck biết rằng anh có thể bị trừng phạt vì đã vi phạm luật pháp.

Kiệt tác này của Twain được xuất bản năm 1884 và đã được ông sáng tác tại ngôi làng St. Petersburg bên bờ sông Mississippi. Là con trai của một kẻ nghiện rượu, Huck được một gia đình đáng kính nhận làm con nuôi khi cha của cậu đe dọa giết chết cậu bé trong cơn say. Bị đe dọa, Huck đã chạy trốn cùng với một người nô lệ tên là Jim – một người đang bị cô chủ của mình là cô Watson dọa bán cho một chủ nô lệ thô lỗ ở miền Nam. Huck và Jim đã trôi nổi trên một chiếc bè xuôi theo dòng sông Mississippi huyền bí, nhưng chiếc bè đã bị đánh chìm bởi một chiếc tàu thủy chạy bằng hơi nước. Hai cậu bé đã bị lạc nhau rồi sau đó lại tìm thấy nhau. Chúng đã trải qua nhiều cuộc phiêu lưu nguy hiểm và vui nhộn bên bờ hồ lớn, qua đó chỉ ra tính đa dạng, sự khoan dung và những điều bất công tàn ác trong xã hội. Kết thúc câu chuyện, cô Watson trả tự do cho Jim và một gia đình đáng kính đã nhận nuôi và chăm sóc cho cậu bé Huck. Nhưng Huck lớn lên và đã không chịu chấp nhận xã hội văn minh. Cậu lại lập kế hoạch để đi tới miền đất mới – miền đất của những người da đỏ.

Đoạn kết của câu chuyện đã cho độc giả thấy một phiên bản mới về “sự thuần khiết” cổ điển theo kiểu Mỹ: một con đường rộng mở dẫn đến những vùng đất nguyên sơ, tránh xa khỏi những ảnh hưởng đạo đức thối nát của “nền văn minh”. Tiểu thuyết của James Fenimore Cooper, những bài thơ ca tụng con đường khai phá của Walt Whitman, tác phẩm Chú Gấu của William Faulkner và cuốn Trên đường của Jack Kerouac là những ví dụ văn học điển hình khác thể hiện nhân sinh quan này.

Trong một tác phẩm của mình, Henry James đã viết rằng nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật văn học “tạo ra cuộc sống, tạo ra những điều kỳ thú và tạo ra ý nghĩa”. Văn chương của James là một trong những áng văn chân thực, phức tạp và tinh tế nhất của thời đại. Trong các tác phẩm của mình, ông thường nhấn mạnh chủ nghĩa quốc tế – bộc lộ mối quan hệ phức tạp giữa những người Mỹ bản địa và những người châu Âu theo chủ nghĩa thế giới.

Henry James (1843-1916)

Người viết tiểu sử của James – Leon Edel – đã gọi thời kỳ sáng tác đầu tiên của ông là “thời kỳ chủ nghĩa quốc tế”, thể hiện qua các tác phẩm như Người Mỹ (1877), Daisy Miller (1879), và kiệt tác Bức chân dung của người đàn bà (1881). Trong cuốn Người Mỹ, Christopher Newman, một triệu phú công nghiệp chất phác nhưng thông minh và thực tế đã tới châu Âu để tìm vợ. Khi gia đình của cô dâu từ chối anh vì anh không có nguồn gốc quý tộc, anh đã từng có cơ hội để trả thù họ nhưng anh đã không làm thế – điều này thể hiện sự ưu tú về phẩm chất đạo đức của một người Mỹ không xuất thân từ tầng lớp quý tộc.

Giai đoạn sáng tác thứ hai của James là giai đoạn thử nghiệm. Ông khai thác những chủ điểm mới – phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ và cải cách xã hội trong tác phẩm Người Boston (1886), hay những mưu đồ chính trị trong tác phẩm Công chúa Casamassima (1885). Trong giai đoạn sáng tác thứ ba và cũng là giai đoạn quan trọng nhất, James quay lại với các chủ đề quốc tế, nhưng văn phong của ông đã trở nên sâu sắc hơn và mang màu sắc tâm lý hơn. Những tác phẩm hay nhất và đồ sộ nhất như Đôi cánh của chim bồ câu (1902), Ngài đại sứ (1903) (được James đánh giá là tiểu thuyết hay nhất của mình) và Cái bát vàng (1904) đều được viết vào giai đoạn này. Nếu như chủ đề chính trong tiểu thuyết của Twain là những điều khác biệt hài hước giữa kỳ vọng và thực tế thì mối quan tâm không dứt của James chính là tri giác sáng suốt. Trong các tác phẩm của James, chỉ có khả năng tự nhận thức và tri giác sáng suốt mới là nền tảng cho tri thức uyên thâm và sự hy sinh quên mình cho tình yêu.

 

Chương 6
Chủ nghĩa hiện đại và những thử nghiệm

Nhiều nhà sử học đã đánh giá thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới là thời kỳ lịch sử đau buồn đối với nước Mỹ, dù thực tế là khoảng thời gian mà nước Mỹ trực tiếp tham gia vào cuộc chiến là rất ngắn ngủi (1917-1918) và số thương vong mà nước Mỹ phải gánh chịu ít hơn rất nhiều so với những tổn thất của các đồng minh và kẻ thù của Mỹ ở châu Âu. Bị sốc về mặt tâm lý và nhân sinh quan thay đổi, những người lính Mỹ trở về quê hương nhưng không bao giờ lấy lại được sự trong sáng thuần khiết của họ. Những người lính từ các vùng nông thôn Mỹ khó có thể dễ dàng trở lại cội rễ của mình. Sau khi đã đi tới nhiều nơi trên thế giới, nhiều người trong số họ bỗng khao khát cuộc sống hiện đại nơi thị thành.

Trong giai đoạn sau chiến tranh, hoạt động kinh doanh nở rộ và sự làm ăn phát đạt đã nhấn chìm những giấc mơ hoang dã của họ. Lần đầu tiên, nhiều người Mỹ tìm cách có được bằng cấp cao hơn – trong những năm 1920, số lượng trường đại học tăng lên gấp đôi. Với tầng lớp trung lưu giàu có, người Mỹ bắt đầu trở thành những người có thu nhập bình quân cao nhất thế giới trong thời kỳ này.

Người Mỹ vào “những năm 20 sôi nổi” bắt đầu yêu thích các hình thức giải trí hiện đại. Hầu như ai cũng tới rạp chiếu phim một lần mỗi tuần. Mặc dù có Luật cấm nấu và bán rượu trên toàn quốc, được ban hành thông qua Điều bổ sung sửa đổi thứ 18 của Hiến pháp Hoa Kỳ và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1919, song các quán rượu và những hộp đêm phi pháp vẫn được mở ra nhanh chóng, cùng với nhạc Jazz, các kiểu váy áo và những điệu nhảy táo bạo. Đi khiêu vũ, đi xem phim, đi du lịch bằng xe ô tô và các thiết bị vô tuyến đã trở thành niềm đam mê trên toàn nước Mỹ. Đặc biệt là phụ nữ Mỹ đã cảm thấy được giải phóng. Họ cắt tóc ngắn, mặc váy ngắn và hân hoan đón nhận quyền được bỏ phiếu thông qua Điều bổ sung sửa đổi thứ 19 của Hiến pháp vào năm 1920. Họ có thể bày tỏ một cách táo bạo những suy nghĩ của mình và giữ những vị trí quan trọng trong xã hội.

Bất chấp cuộc sống mới thịnh vượng này, những thanh niên miền Tây đang trải qua sự chuyển đổi văn hóa mạnh mẽ lại muốn nổi loạn về mặt trí tuệ. Họ trở nên giận giữ và vỡ mộng với cuộc chiến đẫm máu và bất mãn với thế hệ đàn anh mà họ cho là phải chịu trách nhiệm. Mỉa mai thay, điều kiện kinh tế khó khăn sau chiến tranh ở châu Âu đã cho phép người Mỹ – với những đồng đô-la của họ – như các nhà văn F. Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway, Gertrude Stein và Ezra Pound – sống được ở nước ngoài chỉ với một số tiền ít ỏi, được chứng kiến sự vỡ mộng sau chiến tranh, cũng như những nhà trí thức châu Âu khác thời kỳ đó, đặc biệt là những người theo chủ nghĩa Frớt và một nhóm ít người theo chủ nghĩa Mác.

Nhiều cuốn tiểu thuyết, nhất là cuốn Mặt trời vẫn mọc của Hemingway (1926) và cuốn Bên này thiên đường của Fitzgerald (1920), đã mô tả rẩt rõ sự hoang phí và cơn ảo mộng của cái mà nhà văn Mỹ lưu vong Gertrude Stein đã gọi là “thế hệ đã mất”. Trong bản trường ca của T.S. Eliot “Vùng đất bỏ hoang” (1922), nền văn minh phương Tây đã được hình tượng hóa bởi một sa mạc lạnh lẽo đang trong lúc tuyệt vọng chờ mưa (sự hồi sinh của những linh hồn).

Chủ nghĩa hiện đại

Làn sóng văn hóa lớn của chủ nghĩa hiện đại đã nổi lên ở châu Âu và nhanh chóng lan rộng tới nước Mỹ vào những năm đầu thế kỷ 20, biểu thị cảm xúc về cuộc sống hiện đại thông qua nghệ thuật như hình bóng từ quá khứ. Vì máy móc hiện đại đã làm thay đổi vận tốc, khí hậu và muôn mặt của cuộc sống đời thường trong những năm đầu thế kỷ 20 nên nhiều nghệ sĩ và nhà văn, với các cấp độ thành công khác nhau, đã tái hiện lại những thể thức nghệ thuật truyền thống và thử tìm ra những thể thức nghệ thuật mới – một thành tựu thẩm mỹ mà người ta gọi là “thời đại của máy móc”.

Thomas Stearns Eliot – T.S. Eliot (1888-1965) là nhà văn được hưởng những điều kiện giáo dục tốt nhất trong số bất kỳ nhà văn lớn nào của Mỹ thuộc thế hệ ông. Ông đã từng học tập ở Đại học Harvard, Đại học Sor- bonne, và Đại học Oxford. Ông nghiên cứu tiếng Phạn và triết học phương đông – là những tri thức ảnh hưởng lớn tới thơ ca của ông. Giống như bạn của mình, nhà thơ Ezra Pound, ông tới nước Anh từ rất sớm và đã trở thành một gương mặt sáng giá trong làng văn học nước này. Là một trong những nhà thơ đáng kính trọng nhất thời kỳ đó, quan điểm ủng hộ chủ nghĩa tân thời của ông được thể hiện qua những vần thơ trừu tượng và đã gây ra những ảnh hưởng mang tính cách mạng.

Trong “Bản tình ca của J. Alfred Prufrock” (1915), nhà trí thức già Prufrock đã nghĩ rằng ông ta có thể đo lường cuộc sống của mình trong chiếc muỗng cà phê – hình ảnh chiếc muỗng cà phê thể hiện sự tồn tại buồn tẻ và quãng đời nghiện ngập. Đoạn mở đầu trong tác phẩm “Prufrock” của Eliot đã đưa người đọc tới một hẻm phố lòe loẹt, giống như cuộc sống hiện đại không đưa ra được câu trả lời thích đáng nào cho những câu hỏi về cuộc sống:

Hãy đi nào, bạn và tôi
Khi bóng đêm bao trùm bầu trời
Như người bệnh đang ngủ mê trên bàn

Những hình ảnh tương tự cũng tràn ngập trong tác phẩm “Vùng đất bị bỏ hoang” (1922), khiến tác phẩm “Địa ngục” của Dante trở nên nổi danh và gợi nhớ tới những đường phố đông người của Luân-đôn vào khoảng thời gian xảy ra cuộc Chiến tranh Thế giới Thứ nhất:

Dưới màn sương mù màu nâu của buổi ban mai mùa đông Đám đông nối đuôi nhau qua cây cầu Luân-đôn, rất đông người Tôi đã không nghĩ rằng cái chết lại có thể hủy diệt nhiều sinh linh đến vậy … (1, 60-63)

Robert Lee Frost (1874-1963) sinh ở California nhưng lớn lên trong một trang trại miền đông bắc Hoa Kỳ cho đến lúc lên 10. Giống như Eliot và Pound, ông tới nước Anh vì bị thu hút bởi những trào lưu thơ ca mới ở đây. Ông đã viết về cuộc sống trang trại truyền thống ở New England (thuộc miền đông bắc Hoa Kỳ), gợi nên nỗi lòng hoài cổ với những con đường xưa. Chủ đề trong thơ của ông là vũ trụ – những lần hái táo, những bức tường đá, những cái hàng rào và những con đường thôn quê. Mặc dù cách tiếp cận vấn đề của ông rất sáng sủa và rõ ràng song dường như hơi đơn giản. Tuy nhiên nhiều bài thơ của ông cũng có ý nghĩa sâu sa. Ví dụ như một buổi tối yên tĩnh có tuyết rơi với nhịp điệu buồn tẻ làm người đọc liên tưởng tới sự giá buốt buồn thảm của cái chết. Trong bài thơ “Dừng chân trong rừng vào một buổi tối đầy tuyết” (1923) ông viết:

Tôi nghĩ là tôi biết cánh rừng này thuộc về ai

Ngôi nhà của người ấy ở trong khu làng này

Người ấy sẽ không thấy tôi dừng chân ở đây

Để ngắm nhìn những hàng cây phủ đầy tuyết

Mặc dù văn xuôi Mỹ giai đoạn giữa hai cuộc chiến vẫn có thể thức và tư tưởng mang tính thử nghiệm, song các nhà văn Mỹ ngày càng thiên về xu hướng hiện thực hóa giống như các nhà văn Anh. Tầm quan trọng của việc phải đối mặt với sự thật đã trở thành chủ điểm chính trong những năm 1920 và 1930: các nhà văn như F. Scott Fitzgerald và nhà biên kịch Eugene O’Neill một lần nữa đã vẽ nên số phận bi kịch của những người sống phù du trong những giấc mơ hời hợt.

Cuộc sống của Francis Scott Key Fitzgerald giống như một câu chuyện cổ tích. Trong Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, Fitzgerald đã gia nhập quân đội Hoa Kỳ và đã đem lòng yêu một cô gái xinh đẹp và giàu có, Zelda Sayre, sống gần Mont- gomery, bang Alabama nơi anh đóng quân. Sau khi rời quân ngũ khi chiến tranh kết thúc, chàng trai này đã tìm kiếm người yêu của mình ở Thành phố New York City với ý định sẽ cưới cô làm vợ.

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của anh, Bờ bên này của Thiên đường (1920) đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất và họ đã cưới nhau vào năm 24 tuổi. Đôi vợ chồng trẻ đã không trụ vững được trước những cám dỗ của thành công và tên tuổi, họ đã phung phí tiền bạc của mình để rồi phải rời nước Mỹ năm 1924 và di cư đến nước Pháp để sống cuộc sống tằn tiệm hơn. Họ đã trở về Mỹ 7 năm sau đó. Zelda bị mắc chứng bệnh tâm thần và phải được đưa vào sống tại một trại từ thiện; bản thân Fitzgerald thì nghiện rượu và chết trẻ khi đang là một nhà viết kịch bản phim.

Chỗ đứng của Fitzgerald trong làng văn học Mỹ được khẳng định qua cuốn tiểu thuyết Gatsby vĩ đại (1925) của ông – một cuốn sách đã thành công rực rỡ, một câu chuyện có cấu trúc vô cùng chặt chẽ về giấc mơ Mỹ của một người đàn ông tự do. Vai chính trong truyện, nhân vật Jay Gatsby huyền bí đã phát hiện ra cái giá quá đắt phải trả cho thành công trong tình yêu và trong những khát vọng cá nhân. Hơn hết thảy mọi nhà văn Mỹ khác, Fitzgerald đã làm toát lên vẻ đẹp dữ dội và lộng lẫy của cuộc sống những năm 1920.

Ít có nhà văn nào lại có cuộc sống phong phú như Ernest Hemingway. Các cuốn tiểu thuyết phiêu lưu của ông là kết quả của những công việc mà ông đã trải qua. Giống như Fitzgerald, Dreiser và nhiều người viết tiểu thuyết nổi tiếng khác của thế kỷ 20, Hemingway đến từ miền Trung Tây của nước Mỹ. Ông đã từng là lính tình nguyện tại một đơn vị xe cứu thương ở Pháp trong Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, nhưng ông đã bị thương và phải nằm trong bệnh viện trong sáu tháng. Sau chiến tranh, với cương vị là một phóng viên chiến tranh tác nghiệp ở Paris, ông đã gặp những nhà văn Mỹ lưu vong Sherwood Anderson, Ezra Pound, F. Scott Fitzgerald và Gertrude Stein. Đặc biệt là Stein đã có ảnh hưởng lớn tới văn phong bình dị của ông.

Ernest Hemingway (1899-1961)

Sau cuốn tiểu thuyết Mặt trời vẫn mọc (1926) làm nên danh tiếng của ông, ông tiếp tục làm nhà báo trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha, trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai và trong cuộc chiến ở Trung quốc vào những năm 1940. Trong một chuyến đi săn dài ngày ở châu Phi, ông đã bị thương trong một tai nạn máy bay; trước đó, ông đã từng đi săn và câu cá – những hoạt động được tái hiện sau này trong những tác phẩm hay nhất của ông. Ông già và biển cả (1952), một cuốn tiểu thuyết ngắn đầy chất thơ về một ông lão đánh cá nghèo khổ bắt được một chú cá to từ đại dương bao la, nhưng rồi con cá đó lại bị cá mập ăn thịt, đã được trao giải Pulitzer năm 1953; một năm sau đó, ông đã nhận được giải Nobel văn học. Buồn chán vì một gia đình không êm ấm, bệnh tật và ý nghĩ là mình đã mất tài năng sáng tác, Hemingway đã tự sát vào năm 1961. Hemingway có thể được coi là nhà viết tiểu thuyết Mỹ được biết đến nhiều nhất. Sự đồng cảm của ông trong văn chương hoàn toàn phi chính trị, thấm đẫm chất nhân văn và chính vì thế nên ông được biết đến trên toàn thế giới.

Giống như Fitzgerald, Hemingway đã trở thành phát ngôn viên của thế hệ mình. Nhưng thay vì vẽ nên vòng hào quang tai họa như Fitzgerald đã làm – người chưa bao giờ chiến đấu trong cuộc Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, Hemingway đã viết về chiến tranh, về cái chết và về “thế hệ đã mất” của những người sống sót bất cần đạo lý. Các nhân vật của ông không phải là những kẻ mơ mộng mà là những dũng sĩ đấu bò tót, những người lính và những vận động viên điền kinh. Nếu là những nhân vật trí thức, thì họ đều bị tổn thương sâu sắc và vỡ mộng. Văn phong của ông là lối văn rõ ràng, mạch lạc, không có chỗ cho những ngôn từ thừa thãi. Ông thường sử dụng lối nói tắt: Trong tác phẩm Giã từ vũ khí (1929), nhân vật chính đã nói “Tôi không hề sợ hãi. Đó chỉ là một trò bịp bợm bẩn thỉu”. Một lần, ông đã ví lối viết của mình với những tảng băng trôi: “Trong lối viết văn của tôi, chỉ có một phần tám là ngôn từ, bảy phần tám còn lại là chìm dưới nước và độc giả phải tự tìm hiểu ẩn ý của những ngôn từ đó”.

Sinh ra trong một gia đình lâu đời ở miền Nam, William Harrison Faulkner đã lớn lên ở Oxford, bang Mississippi, nơi ông sống phần lớn cuộc đời mình. Faulkner đã tái hiện lịch sử của miền đất này và của nhiều sắc tộc mà ông đã cùng chung sống. Là một nhà văn đầy sáng tạo, Faulkner tỏ ra rất điêu luyện trong lối văn tường thuật, với nhiều góc nhìn, nhiều quan điểm và nhiều tiếng nói khác nhau (trong đó có cả những người vô gia cư, các em nhỏ và những người mù chữ). Văn phong của ông phong phú và hoa mỹ, được xây dựng trên những câu văn rất dài.

William Faulkner (1897-1962)

Những cuốn tiểu thuyết hay nhất của Faulkner bao gồm Âm thanh và cơn thịnh nộ (1929) và Khi tôi hấp hối (1930) – hai tác phẩm hiện đại đại diện cho nhân sinh quan và tiếng nói của những gia đình miền nam nước Mỹ đang quằn quại dưới nỗi đau mất người thân; Ánh sáng tháng Tám (1932) – tác phẩm viết về những mối quan hệ phức tạp và dữ dội giữa một người phụ nữ da trắng và một người đàn ông da đen; và Absalom, Absalom! (1936) – có thể coi là tác phẩm hay nhất của ông, kể về con đường thăng tiến của một chủ vườn và sự xuống dốc bi thảm của ông ta.

Sân khấu kịch của thế kỷ 20

Sân khấu kịch của Mỹ cũng theo mô-típ sân khấu kịch của Anh và châu Âu cho đến tận thế kỷ 20. Trước thế kỷ 20, các vở kịch trên sân khấu Mỹ chưa từng thử tìm tòi bất cứ một sáng tạo thẩm mĩ nào trong lĩnh vực nghệ thuật này.

Eugene O’Neill là một gương mặt vĩ đại của sân khấu kịch Mỹ. Nhiều vở kịch của ông là sự kết hợp giữa nguyên tắc kịch truyền thống với một cách nhìn mới và sự sâu sắc trong cách thể hiện tình cảm. Những vở kịch đầu tiên của O’Neill quan tâm tới tầng lớp lao động và người nghèo trong xã hội; các tác phẩm sau này khám phá lĩnh vực chủ thể, và nhấn mạnh trường phái Freud và sự đau khổ của ông khi chịu đựng sự mất mát người thân là bố, mẹ và anh em ruột thịt.

Eugene O’Neill (1888-1953)

Vở kịch Khát vọng dưới bóng cây du (1924) của ông tái dựng lại câu chuyện về những đam mê thầm kín trong một gia đình. Những vở kịch sau đó của ông là những kiệt tác bao gồm Sự xuất hiện của người bán nước đá (1946), tác phẩm đầu tiên về chủ đề cái chết, và Hành trình từ ngày vào đêm (1956) – một vở bi kịch tự sự có tác động mạnh và sâu sắc tập trung vào chính gia đình ông và những băng hoại về thể chất và tâm lý của những người trong gia đình, diễn ra trong suốt một đêm dài.

 

Chương 7

Sự phát triển của cá nhân

Cuộc Đại suy thoái của những năm 1930 đã làm kiệt quệ nền kinh tế Mỹ cho đến Chiến tranh Thế giới Thứ hai mới phục hồi. Hoa Kỳ trở thành một nhân vật chính trên sân khấu chính trị thế giới, và những người Mỹ thời kỳ sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai lần đầu tiên được hưởng sự phồn thịnh của chủ nghĩa cá nhân chủ nghĩa và tự do cá nhân.

Giáo dục đại học được phát triển và truyền hình ngày càng phổ biến trên khắp nước Mỹ sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai khiến mọi người dân bình thường đều có thể tự cập nhật thông tin và trở nên hiểu biết hơn. Hàng hóa tiện ích tràn ngập và khả năng dễ dàng sở hữu những căn nhà đẹp ở ngoại ô khiến những gia đình thuộc tầng lớp trung lưu ngày càng tự chủ hơn. Học thuyết tâm lý của Freud được quảng bá rộng rãi và nhấn mạnh vào nguồn gốc và tầm quan trọng của tư duy cá nhân. Những “viên thuốc’ tránh thai giải phóng phụ nữ khỏi sự phụ thuộc vào những nguyên tắc sinh lý truyền thống. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, đa số mọi người dân bình thường đều có một cuộc sống sung túc và tự tin về giá trị cá nhân của bản thân họ.

Sự thăng hoa của chủ nghĩa cá nhân đại chúng – cũng như là các quyền dân sự và các phong trào chống chiến tranh của thập kỷ 1960 – đã tạo thêm sức mạnh cho những tầng lớp không có tiếng nói trước đây. Các nhà văn khẳng định được bản chất bên trong sâu xa của họ, cũng như là kinh nghiệm cá nhân và tầm quan trọng của kinh nghiệm cá nhân ẩn chứa trong tầm quan trọng của cả nhóm xã hội gắn liền với cá nhân mỗi người. Người đồng tính, người theo chủ nghĩa nam nữ bình quyền và những người sống ngoài lề xã hội khác cũng lên tiếng kể về những câu chuyện của họ. Các nhà văn Mỹ gốc Phi hoặc theo đạo Do Thái nhận thấy rằng họ có các độc giả ở khắp mọi nơi để thể hiện chủ đề phong phú của họ về giấc mơ, hoặc cơn ác mộng Mỹ. Các nhà văn theo đạo Tin Lành, như là John Cheever và John Updike, đã bàn về tác động của nền văn hóa thời hậu chiến đối với cuộc đời của những người như họ. Một số nhà văn hiện đại và đương đại vẫn tìm được chỗ đứng trong phong cách truyền thống hơn, như là chủ nghĩa hiện thực. Một số người có thể được coi như là những người theo chủ nghĩa cổ điển, những người khác thì đang trong quá trình thử nghiệm, có lối hành văn chịu ảnh hưởng bởi hiện tượng phù du của nền văn hóa đại chúng, hoặc bởi những học thuyết xã hội chủ nghĩa hoặc chủ nghĩa hiện sinh. Nhiều người dễ dàng họp lại thành một nhóm xã hội theo chủng tộc hoặc theo tôn giáo. Tuy nhiên, hầu hết các nhà văn hiện đại đều khẳng định một giá trị đồng nhất mang tính cá nhân trong văn học.

Sylvia Plath điển hình cho một người có một cuộc sống hướng ngoại, giành được học bổng theo học tại trường cao đẳng Smith, tốt nghiệp hạng nhất trong lớp, và giành được học bổng Fulbright đi du học tại Đại học Cambridge ở Anh. Tại đây bà gặp người chồng đầy uy tín sau này là nhà thơ Ted Hughes, sinh được hai người con và định cư tại một căn nhà ở vùng quê nước Anh.

Với sự thành công tưởng như chỉ có trong những câu chuyện cổ tích, nổi cộm lên những vấn đề tâm lý đầy day dứt chưa được giải quyết trong cuốn tiểu thuyết đắt khách nhất của bà là Tiếng chuông ngân (1963). Trong đó có một số vấn đề thuộc về cá nhân, còn những vấn đề khác nảy sinh từ cảm nhận của bà về những thái độ hà khắc đối với phụ nữ trong thập kỷ 1950. Trong đó, có nhiều niềm tin và sự chia sẻ của phụ nữ – đối với việc phụ nữ không được phép tỏ ra giận dữ hoặc say mê theo đuổi sự nghiệp, mà chỉ nên hoàn thành tốt bổn phận chăm lo cho chồng và con mà thôi. Những phụ nữ rất thành công trong sự nghiệp như Plath cảm thấy rằng họ đang sống giữa một sự giằng co. Câu chuyện cuộc đời của Plath bị vỡ vụn khi bà và chồng là Hughes ly thân và bà nhận nuôi hai con nhỏ trong một căn hộ ở Luân-đôn suốt một mùa đông lạnh giá. Ốm đau, cô đơn và tuyệt vọng, Plath đã chạy đua với thời gian để hoàn thành một chuỗi các bài thơ tuyệt hay trước khi bà tự tử bằng khí ga trong bếp. Những bài thơ này được tổng hợp lại trong tập thơ có tiêu đề Ariel (1965), hai năm sau cái chết của bà. Nhà thơ Robert Lowell, người viết lời giới thiệu cho tập thơ, đã nhấn mạnh vào sự thành công nhanh chóng trong sự nghiệp thơ ca của bà kể từ khi bà tham gia lớp học làm thơ của ông vào năm 1958.

Sylvia Plath (1932-1963)

Sự nghiệp thơ văn của bà trong giai đoạn đầu rất tinh tế và theo truyền thống, nhưng các bài thơ bà sáng tác sau này thể hiện nỗi tuyệt vọng cùng cực và tiếng khóc thống khổ của người theo chủ nghĩa nam nữ bình quyền thời khởi thủy. Trong tác phẩm “Ứng cử viên” (1966), Plath bộc lộ sự trống rỗng trong vai trò một người vợ bình thường (người mà giá trị bị giảm xuống chỉ còn như một vật vô tri vô giác là “nó”):

Như một con búp bê sống, ở chỗ nào bạn cũng nhìn thấy.

Nó có thể khâu vá, nấu nướng.

Nó có thể nói chuyện, nói chuyện và nói chuyện.

Những bài thơ “đánh nhịp” (beat) bắt đầu xuất hiện vào những năm 1950. Từ “đánh nhịp” thông thường sử dụng trong nhạc, như trong nhạc Jazz có nghĩa là nhịp đầu trong một khổ nhạc, hoặc phúc lành hoặc chúc phúc trong kinh thánh; và “nhừ tử” – sự mệt mỏi hoặc đau đớn. Phong cách Nhịp điệu (hay còn gọi là hippi) được truyền cảm hứng từ lối sống lang thang, tôn giáo phương Đông và dòng nhạc Jazz. Những đặc điểm này đều được khắc họa trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Jack Kerouac Trên đường, là một tác phẩm gây chấn động khi được xuất bản lần đầu tiên năm l957. Dựa trên một chuyến đi qua khắp các miền quê bằng xe hơi năm 1947, cuốn tiểu thuyết được hoàn thành trong vòng ba tuần miệt mài viết trên vỏn vẹn một cuộn giấy theo phong cách mà Ker- ouac gọi là “văn xuôi ngẫu hứng nhạc pop”. Phong cách ứng tác tự nhiên, các nhân vật hippi huyền bí, sự chống lại quyền lực và qui ước truyền thống thổi bùng lên ngọn lửa sáng tạo bên trong các độc giả trẻ tuổi và đánh dấu sự khởi đầu bánh xe tự do đi ngược dòng văn hóa truyền thống của những năm 1960.

Phần lớn những người viết thể loại thơ Beat là từ vùng ven biển miền Đông nước Mỹ di cư tới San Francisco, đã giành được sự thừa nhận ban đầu tại bang California. Nhân vật kiệt xuất Allen Ginsberg (1926-1997) trở thành người phát ngôn chính của nhóm này. Được sinh ra từ người bố là một nhà thơ và người mẹ lập dị theo Chủ nghĩa Cộng sản, Ginsberg đã theo học tại Đại học Columbia, nơi ông nhanh chóng kết thân với những sinh viên cùng khóa khác là Kerouac (1922-1969) và William Burroughs (1914-1997), là tác giả của những cuốn tiểu thuyết bạo lực và rùng rợn nhất về thế giới ngầm của dân nghiện heroin, trong đó có cuốn Bữa tiệc trưa trần trụi (1959). Họ là ba nhân vật hạt nhân của phong trào thơ Beat.

Thơ Beat là lối thơ miệng, lặp đi lặp lại và rất hiệu quả trong các buổi đọc tập thể, phần lớn là do nó được phát triển từ các buổi đọc thơ tại các câu lạc bộ “của thế giới ngầm”. Một số người có thể đúng khi cho rằng đây là ông tổ của nhạc Rap, dòng nhạc thịnh hành trong những năm 1990. Thơ Beat là một hình thức văn chương phản đối giới cầm quyền mạnh nhất tại Hoa Kỳ, nhưng đằng sau những từ ngữ giật gân đó lại ẩn chứa một tình yêu đất nước. Giọng thơ là tiếng khóc đau đớn và cơn thịnh nộ trước những điều mà các nhà thơ cho là sự mất mát trước sự vô can của nước Mỹ và sự lãng phí bi thảm về các nguồn nhân lực và vật lực của nước này.

Những bài thơ như Tiếng hú (1956) của Allen Ginbeng đã cải cách thơ ca truyền thống:

Tôi chứng kiến những trí óc tuyệt vời nhất trong thế hệ chúng tôi đã bị hủy hoại

bởi sự điên rồ, trần truồng cho tới chết,

kéo lê thân xác họ qua những khu phố của người da đen vào lúc bình minh để tìm kiếm cách hả giận,

những kẻ hippi có đầu óc thiên thần đang hừng hực liên kết giữa thiên đường cổ điển và sự năng động sáng tựa sao trong khuôn khổ của bóng đêm…

Tennessee Williams, người vùng Mississippi, là một trong những nhà văn khá phức tạp trên văn đàn nước Mỹ vào giữa thế kỷ 20. Tác phẩm của ông tập trung vào những xúc cảm xáo trộn trong đời sống gia đình – hầu hết là các gia đình ở miền Nam. Ông nổi tiếng về những câu nói lặp đi lặp lại như thần chú, một cách diễn đạt đầy chất thơ của miền Nam, về những bối cảnh Gothic kỳ lạ, và những khám phá về những xúc cảm của con người theo thuyết Freud. Là một trong những nhà văn Mỹ đầu tiên công khai sống như một người đồng tính luyến ái, Williams giải thích rằng niềm khát khao mãnh liệt của các nhân vật bị đọa đầy của ông diễn đạt sự cô đơn của họ. Những nhân vật của ông sống và chịu đau khổ một cách thảm hại.

Williams viết hơn 20 vở kịch dài, nhiều vở mang tính chất tiểu sử tự thuật. Ông đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp tương đối sớm – vào thập niên 40 – với The Glass Menagerie (Bầy thú thủy tinh – 1944) và A Streetcar Named Desire (Chuyến tàu mang tên dục vọng – 1947). Không một tác phẩm nào trong suốt hơn hai thập kỷ sau đó đạt được mức độ thành công và phong phú như hai vở kịch này.

Sinh ở Mississippi trong một gia đình nông dân khá giả sau này chuyển lên sống ở miền Bắc, Eu- dora Welty được hai tiểu thuyết gia Robert Penn Warren và Katherine Anne Porter dẫn dắt vào nghề. Thật ra, Porter đã viết lời giới thiệu cho tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của Welty, A Cur- tain of Green (Rèm cửa xanh lá cây – 1941). Welty dựa theo khuôn mẫu của Porter để viết các tác phẩm của mình, nhưng nữ văn sĩ trẻ này quan tâm hơn đến những điều khôi hài và lập dị. Cũng như với Flannery O’Connor sau này, các nhân vật trung tâm của bà thường bất thường, quái dị hay là những trường hợp ngoại lệ.

Eudora Welty (1909-2001)

Mặc dù tác phẩm của bà có nhiều yếu tố bạo lực, trí thông minh của Welty về bản chất mang tính nhân bản và lạc quan. Những tập truyện của bà bao gồm The Wide Net (Mạng rộng – 1943), The Golden Apples (Những trái táo bằng vàng – 1949), The Bride of the Innisfallen (Cô dâu của Innisfallen – 1955), và Moon Lake (Hồ Trăng – 1980). Welty cũng viết những cuốn tiểu thuyết như Delta Wedding (Đám cưới Delta – 1946), kể chuyện một gia đình ở một trang trại trong thời hiện đại và The Optimist’s Daughter (Con gái người lạc quan – 1972).

Ralph Ellison, một người miền Trung Tây, sinh ở Oklahoma, học ở Học viện Tuskegee ở miền Nam Hoa Kỳ. Ông có một trong những sự nghiệp kỳ lạ nhất trong văn học Mỹ – chỉ với một cuốn sách duy nhất, ông đã có chỗ đứng trên văn đàn.

Ralph Ellison (1914-1994)

Cuốn tiểu thuyết Invisible Man (Người vô hình) (1952) là câu chuyện về cuộc sống của một người da đen cố gắng sinh tồn ở dưới mặt đất trong một cái hang được chiếu sáng bởi ánh điện ăn cắp của một công ty dịch vụ công cộng. Cuốn sách kể lại chuỗi sự kiện quái dị và những giấc mộng đẹp bị tan vỡ của anh ta. Khi anh nhận được suất học bổng ở một trường đại học dành cho người da đen, anh đã bị những người da trắng sỉ nhục; khi anh vào đại học, anh chứng kiến thầy hiệu trưởng khinh bỉ bác bỏ những vấn đề bức xúc của người Mỹ da đen. Cuộc sống cũng thối rữa bên ngoài trường đại học. Ví dụ, ngay cả tôn giáo cũng không phải là một sự an ủi: Một giáo sĩ giảng đạo thực ra lại là một tên tội phạm. Cuốn tiểu thuyết lên án xã hội đã hoàn toàn không trao cho các công dân – da đen cũng như da trắng – những lý tưởng cao đẹp để vươn tới và những thể chế khả dĩ có thể biến chúng thành hiện thực. Cuốn tiểu thuyết chứa đựng nội dung sâu sắc về vấn đề chủng tộc bởi lẽ “người vô hình” ấy trở nên trong suốt không phải do bản thân anh ta mà do những người khác, mù lòa vì định kiến, đã không thể nhìn thấy anh ta, như là một con người đang tồn tại với đúng bản chất của mình.

Sinh ra ở Canada và lớn lên ở Chicago, Saul Bel- low là người gốc Nga-Do Thái. Ông theo học nhân chủng học và xã hội học ở trường đại học, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến lối viết văn của ông cho đến tận ngày nay. Ông đã biểu lộ lòng biết ơn sâu xa với Theodore Dreiser, một tiểu thuyết gia theo trường phái hiện thực vì đã chia sẻ những kinh nghiệm trải nghiệm và sự dấn thân đầy xúc cảm của ông đối với thể loại này. Được đánh giá rất cao, ông nhận giải Nobel văn học vào năm 1976.

Saul Bellow (1915-2005)

Những cuốn tiểu thuyết hiện sinh đầu tiên có phần u ám của Saul Bellow bao gồm Dangling Man (Người chờ đợi – 1944), một nghiên cứu theo trường phái Kafka về một người chờ đợi được tuyển mộ đi lính và The Victim (Nạn nhân – 1974), về quan hệ giữa người Do Thái và người không theo đạo Do Thái. Vào thập niên 50, quan điểm của ông trở nên hài hước hơn: Ông sử dụng một loạt những câu chuyện tự sự sinh động và mạo hiểm sử dụng đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất trong The Adventures of Augie March (Những cuộc phiêu lưu của Augie March – 1953) – khai thác nhân vật là một thương nhân sống ở thành phố giống như Huck Finn, sau này trở thành một trùm buôn lậu ở châu Âu – và trong tác phẩm Hender- son the Rain King (Vua mưa Henderson – 1959), một kiệt tác tiểu thuyết nửa nghiêm trang nửa khôi hài về một nhà triệu phú trung niên đã phiêu lưu tới châu Phi chỉ để thỏa mãn những tham vọng của mình. Những tác phẩm sau này của Bellow bao gồm Herzog (1964), kể về cuộc đời đầy rắc rối của một giáo sư thần kinh người Anh chỉ chuyên tâm vào ý tưởng về cái tôi lãng mạn; Mr Sammler’s Planet (Hành tinh của ông Sammler – 1970); Humboldt’s Gift (Món quà của Humboldt – 1975); và cuốn tự truyện The Dean’s Decem- ber (Tháng 12 trong đời ông hiệu trưởng- 1982).

Cuốn Seize the Day (Chớp lấy thời cơ – 1956) của Bellow là một tiểu thuyết kiệt tác với cốt truyện tập trung vào nhân vật chính là một thương gia thất cơ lỡ vận, Tommy Wilhelm, người trở nên bất lực hoàn toàn khi bị gặm nhấm bởi cảm giác thiếu thốn – thất bại trong quan hệ với những người phụ nữ trong đời, thất bại trong công việc, máy móc hỏng và thị trường kinh doanh hàng hóa, nơi ông mất hết tiền bạc. Wilhelm là một ví dụ về một gã khờ khạo, vụng về luôn thất bại trong truyện dân gian Do Thái – một người luôn luôn gặp những điều xui xẻo.

John Cheever (1915-2005) thường được gọi là một “tiểu thuyết gia đa phong cách”. Ông cũng nổi tiếng bởi những truyện ngắn tao nhã và đầy ngụ ý, khai thác tường tận thế giới kinh doanh qua những ảnh hưởng của nó đối với các nhà kinh doanh, vợ con và bạn bè họ.

Sự khát khao dường như là vô vọng nhưng chứa đựng sự diễu cợt trong phiền muộn và chưa bao giờ dập tắt vì sự đam mê hay thế lực siêu hình núp dưới bóng các nhân vật vô hình trong những câu chuyện ngắn tinh tế đầy sức lôi cuốn theo trường phái Chekhovian của Cheever, được sưu tập trong các tác phẩm The Way Somw People Live (Lối sống của một người -1943), The Housebreaker of Shady Hill (Kẻ đột nhập ở Shady Hill -1958), Some People, Places, and Things That Will Not Appear in My next Novel (Những con người, địa danh và sự vật sẽ không xuất hiện trong tiểu thuyết sắp tới của tôi -1961), The Brigadier and the Golf Widow (Thiếu tướng và người quả phụ chơi golf -1964), và The World of Apple (Thế giới của những trái táo – 1973). Tựa đề truyện bộc lộ đặc trưng lãnh đạm, đùa cợt, thiếu nghiêm túc và ngụ ý sâu xa về chủ đề sáng tác của ông.

Cheever cũng xuất bản một số tiểu thuyết – The Wapshot Scandal (Vụ tai tiếng của gia đình Wapshot – 1964), Bullet Park (Công viên hình viên đạn – 1969), và Falconer (Người luyện chim ưng, 1977) – cuốn tiểu thuyết sau cùng là một cuốn tự sự.

Cũng như Cheever, John Updike được xem là nhà văn đa phong cách với những bức tranh về cuộc sống đô thị, chủ đề xoay quanh cuộc sống gia đình, phản ánh tâm trạng chán chường, tiếc nuối và đặc biệt là những địa danh được nêu trong tiểu thuyết của ông thường là ở vùng Bờ Đông của Hoa Kỳ, bang Massachusetts và Penn- sylvania.

John Updike (1932- )

Updike được biết đến nhiều nhất bởi bốn tập tiểu thuyết của ông về Anh chàng thỏ đế, miêu tả về cuộc đời của một anh chàng – Harry Angstrom”thỏ đế” – với những thăng trầm trong cuộc sống qua suốt bốn thập kỷ phát triển của lịch sử chính trị và xã hội Mỹ. Thỏ ơi, chạy đi (1960) là một tấm gương phản chiếu thập kỷ 1950, với nhân vật Angstrom trong vai một anh chồng trẻ bất mãn, sống không có mục đích. Phong độ thỏ đế (1971) – nhấn mạnh vào phong trào đi ngược trào lưu văn hóa của thập kỉ 1960 – miêu tả một Angstrom với cuộc sống vẫn không có mục đích hoặc mục tiêu rõ ràng và vô vị không lối thoát. Trong tập Thỏ ơi giàu rồi (1981), Harry đã trở thành một doanh nhân giàu có trong thập kỉ 1970, khi mà cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã tới hồi kết thúc. Tập cuối cùng, Thỏ ơi hãy an nghỉ (1990), lướt nhanh qua sự nhượng bộ của Ang- strom với cuộc đời, trước khi ông chết vì một cơn đau tim, trong bối cảnh của những năm 1980.

Updike có một văn phong xuất chúng so với các nhà văn thời nay, và những tác phẩm truyện ngắn của ông là những minh chứng sắc sảo về tầm vóc và sự lỗi lạc trong văn phong của ông.

Norman Mailer đã tự chứng tỏ bản thân là một tiểu thuyết gia nổi tiếng nhất trong thập kỉ l960 và l970. Là người đồng sáng lập ra tuần báo phản đối giới cầm quyền Tiếng nói dân làng của Thành phố New York, Mailer công khai về bản thân và quan điểm chính trị của mình. Với khát vọng theo đuổi một phong cách mạnh mẽ, trải nghiệm, và một cá tính gây ấn tượng sâu sắc với công chúng, Mailer đi theo truyền thống của Ernest Hemingway. Để chiếm ưu thế trong các phóng sự về vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy, những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh ở Việt Nam, phong trào giải phóng người da đen, và phong trào của phụ nữ, ông đã xây dựng nên nhân vật nam đại trượng phu, tân tiến và theo chủ nghĩa hiện sinh (trong tác phẩm Chính trị giới tính, Kate Millett đã nhận định Mailer là một nguyên mẫu nam nhân vật theo chủ nghĩa sô-vanh). Một Mailer đầy tham vọng đã liên tiếp kết hôn sáu lần và đã từng tranh chức thị trưởng New York.

Từ những tác phẩm mang phong cách báo chí mới như là Miami và cuộc bao vây thành Chicago (1968), một bài báo phân tích về những thỏa thuận ngầm trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ năm 1968 và một phóng sự điều tra hết sức hấp dẫn của ông về vụ hành quyết một tên tử tù bị kết tội sát nhân trong Bài ca của tên đao phủ (1979), Mailer chuyển sang viết những cuốn tiểu thuyết đầy tham vọng và không hoàn mỹ như là Những buổi chiều xưa (1983) lấy bối cảnh ở Ai Cập cổ đại và cuốn Hồn ma Harlot (1992) về những vấn đề xoay quanh Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ.

Nữ văn sĩ người Mỹ gốc Phi Toni Morrison (1931- ) sinh ra ở bang Ohio trong một gia đình có tín ngưỡng. Bà theo học Đại học Howard ở thủ đô Washington, là biên tập viên cao cấp của
một nhà xuất bản lớn ở Washington và là giáo sư

Norman Mailer (1923- ) nổi tiếng tại nhiều trường đại học.

Tiểu thuyết viễn tưởng có nội dung đan xen phong phú của Morrison làm cho bà nổi tiếng khắp thế giới. Trong những cuốn tiểu thuyết phóng khoáng và cuốn hút của mình, bà đã xử lý những tính cách phức tạp của người da đen theo một phong cách rất phổ biến. Trong tác phẩm đầu tay của bà là Mắt biếc (1970), một cô gái da đen trẻ giàu nghị lực đã kể lại câu chuyện về Pecola Breedlove, người đã bị điên bởi ông bố bạo hành. Pecola tin rằng đôi mắt đen của cô đã biến thành màu xanh da trời một cách kỳ diệu và khiến cô trở nên dễ thương hơn. Morrison có nói rằng bà đã tạo nên một cảm nhận văn học của riêng bà với tư cách là một nhà văn qua cuốn tiểu thuyết này: “Tôi là Pecola, là Claudia, là tất cả mọi người”.

Tác phẩm Sula (1973) miêu tả tình bạn khăng khít của hai người phụ nữ. Morrison khắc họa chân dung những phụ nữ Mỹ gốc Phi thông qua những nhân vật đặc biệt, đầy cá tính, chứ không phải là những nhân vật kiểu mẫu. Tác phẩm Bài ca của Solomon (1977) của Morrison đã giành được nhiều giải thưởng. Tác phẩm mô tả một người đàn ông da đen tên là Milkman Dead và những mối quan hệ phức tạp của anh ta với gia đình và cộng đồng. Tác phẩm Người yêu dấu (1987) là một câu chuyện về nỗi thống khổ của một phụ nữ đã giết chết các con đẻ của mình còn hơn là để chúng sống cuộc đời của những nô lệ. Tác phẩm áp dụng những kỹ xảo huyền ảo của chủ nghĩa hiện thực kỳ diệu để xây dựng lên một nhân vật thần bí, Người yêu dấu, cô con gái đã quay trở lại sống với người mẹ đã cắt cổ mình. Tác phẩm Nhạc Jazz (1992), lấy bối cảnh của những năm 1920 tại Harlem, là một câu chuyện về tình yêu và kẻ sát nhân. Năm 1993, Morrison đoạt giải Nobel về văn chương.

Văn học đương đại

Cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỉ 21, sự thay đổi nhanh chóng về địa lý và xã hội trên toàn thế giới, sự ra đời của Internet, vấn đề nhập cư và toàn cầu hóa chỉ làm mạnh thêm tiếng nói chủ quan trong bối cảnh tách bạch về văn hóa. Một số nhà văn

đương đại phản ảnh biến cố này bằng giọng văn trầm tĩnh và dễ tiếp nhận hơn. Đối với các tác giả văn xuôi, đưa ra những nhận định về địa lý theo khu vực chứ không phải là theo quốc gia.

Một trong những nhà thơ đương đại ấn tượng nhất là Louise Glück (1943- ). Sinh ra ở thành phố New York, Glück, người giành giải thưởng thơ ca Mỹ năm 2003-2004, lớn lên với nỗi ám ảnh không nguôi về tội lỗi dẫn tới cái chết của người chị gái. Bà học cùng trường cao đẳng Sarah Lawrence và đại học Co- lumbia với các nhà thơi Leonie Adams và Stanley Kunitz. Phần lớn các bài thơ của bà nói về những mất mát đau thương. Mỗi tác phẩm của Glück là một trải nghiệm mới, khiến cho người ta khó mà tóm tắt được sự nghiệp của bà.

Trong bài thơ không thể quên của Glück là Hoa Iris dại (1992), nhiều loại hoa khác nhau đã nói lên những đoạn độc thoại ngắn ngủi. Tiêu đề của tập thơ, một sự khám phá về sự hồi sinh, có thể được coi như là lời đề cho toàn bộ sự nghiệp thơ ca của Glück. Hoa iris (hoa ngũ sắc) dại, là một loại hoa màu xanh biếc nở rực rỡ từ những nụ hoa ngủ yên trong suốt cả mùa đông, nói: “Thật là kinh khủng khi sống sót / trong trạng thái hoàn toàn tỉnh táo / nhưng bị vùi sâu trong lòng đất tối tăm”.

Từ trong tâm điểm của cuộc đời tôi xuất hiện một đài phun nước lớn, xanh thẳm in bóng trong làn nước biển xanh lơ

Billy Collins (1941- )

Thơ ca của Billy Collins tươi trẻ và hưng phấn. Collins sử dụng ngôn ngữ hàng ngày để ghi lại vô số những chi tiết của cuộc sống đời thường, tự do đan xen giữa những sự kiện nhàm chán (ăn uống, làm việc nhà, viết lách) có liên quan tới văn hóa. Sự độc đáo và hài hước của ông đã mang lại cho ông một số lượng độc giả lớn. Mặc dù một số người chê bai rằng Collins quá thoải mái, những chuyến phiêu lưu đầy bất ngờ của ông vào thế giới tưởng tượng lại chứa đựng những bí ẩn lớn lao.

Các tác phẩm của Collins hoàn toàn theo chủ nghĩa siêu thực. Những bài thơ hay nhất của ông nhanh chóng đẩy trí tưởng tượng lên những nấc thang của những tình huống ngày càng siêu thực hơn, để rồi kết thúc bằng một trạng thái cảm xúc, một tâm trạng mà bất cứ ai cũng có thể cảm thấy rất thư thái. Tuyển tập những bài thơ ngắn “Cái chết,” trong Đi thuyền một mình trong căn phòng: Tuyển tập những bài thơ mới chọn lọc (2001), cho thấy những cảm nhận của Collins về những chuyến bay đầy phiêu lưu mạo hiểm kết thúc bằng sự hạ cánh cánh nhẹ nhàng, như là chim bay về tổ nghỉ ngơi.

Thần chết luôn coi rẻ chúng ta,

trong khi chúng ta đang đi giầy và làm bánh sandwich, Họ đang dõi theo qua đáy những con thuyền thiên đường bằng thủy tinh

Trong khi họ đang nhẹ nhàng lướt vào cõi vĩnh hằng.

Nhà văn mang phong cách nổi bật nhất, Annie Proulx (1935- ) đã viết lên những câu chuyện về những người dân bắc New England nổi loạn trong tác phẩm Tiếng hát từ trái tim (1988). Tiểu thuyết nổi tiếng nhất của bà, Tin tức Hàng hải (1993), lấy bối cảnh ở vùng cực bắc ở Newfoundland, Canada. Proulx cũng đã từng sống nhiều năm ở miền tây, và một trong những truyện ngắn của bà đã được chuyển thể thành phim năm 2006: “Ngọn núi nguy hiểm”.

Richard Ford (1944- ) được sinh ra ở Mississippi và bắt đầu viết văn theo phong cách của W. Faulknerian, nhưng lại nổi tiếng nhất bởi cuốn tiểu thuyết tinh tế trong bối cảnh ở New Jersey, Phóng viên thể thao(1986), và tác phẩm tiếp theo đó là Ngày độc lập (l995). Tác phẩm sau kể về Frank Bascombe, một dân chài mộng mơ và hay thoái thác trách nhiệm đã đánh mất tất cả những gì có ý nghĩa trong cuộc đời mình – đó là cậu con trai, giấc mơ viết tiểu thuyết, hôn nhân hạnh phúc, người thân, bạn bè và công việc. Bascombe là một người nhạy cảm và thông minh – ông nói rằng những sự lựa chọn của ông là để “xóa tan đi lòng hối hận muộn màng” – và sự trống rỗng trong con người ông, cùng với những siêu thị ẩn danh và những dự án nhà ở mới toanh mà ông đã trải qua không ngơi nghỉ, là một minh chứng thầm lặng cho quan điểm của Ford về tình trạng bất ổn của một đất nước.

Miền bắc California là cái nôi của những nhà văn Mỹ gốc Á giàu truyền thống, với chủ đề đặc trưng về gia đình, vai trò của giới tính và sự bất đồng giữa các thế hệ cũng như sự tìm kiếm gốc gác. Một nhà văn Mỹ gốc Á sinh ra tại California như vậy là tiểu thuyết gia Amy Tan (1952- ), tác giả của cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất có tựa đề Phúc Lạc Hội sau này được chuyển thể thành bộ phim ăn khách nhất năm 1993. Câu chuyện có nội dung xuyên suốt qua các chương phác họa số phận của bốn cặp mẹ và con gái. Các tiểu thuyết của Tan là nhịp cầu nối Trung Quốc cổ đại với Hoa Kỳ hiện đại qua các tác phẩm Trăm niềm ẩn thức (1995), kể về cặp chị em cùng cha khác mẹ, và Con gái thầy lang (2001), kể về sự chăm sóc của người con gái đối với mẹ của mình.

Là dân da đỏ sống ở Spokane (bang Washington) và Coeur d’Alene (bang Idaho), Sherman Alexie là tiểu thuyết gia người Mỹ bản địa trẻ nhất nổi danh trên toàn quốc. Alexie đã mô tả một loạt các câu chuyện hài hước và lý trí về đời sống của người da đỏ pha trộn giữa văn hóa truyền thống và văn hóa bình dân. Những tập truyện của ông bao gồm Bảo tồn điệu Blues (1995) và Viên kiểm lâm đơn độc và Tonto Fistfight trên thiên đường (1993), đã được chuyển thể thành phim rất thành công nói về cuộc sống trên vùng đất dành riêng cho những thổ dân da đỏ có tựa đề Những làn khói (1998), do chính Alexie viết kịch bản. Tuyển tập truyện gần đây nhất của Alexie là Người thổ dân kiên cường nhất trên thế giới (2000).

http://photos.state.gov/libraries/vietnam/8616/ebook/LiteratureInBrief.pdf

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 8: Văn xuôi Mỹ kể từ 1945: Chủ nghĩa hiện thực và sự thể nghiệm

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Văn chương tự sự từ Thế chiến thứ hai chống lại sự khái quát hóa bởi vì nó cực kỳ phong phú và đa diện. Nó được hồi sinh bởi các trào lưu văn học thế giới, như là chủ nghĩa hiện sinh châu Âu và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo châu Mỹ Latin, trong lúc kỷ nguyên điện tử đã biến thế giới rộng lớn thành một ngôi nhà chung. Ngôn ngữ nói trên truyền hình đã mang cuộc sống mới đến cho truyền thống văn học nói. Những thể loại truyền miệng, phương tiện thông tin đại chúng và văn hóa phổ thông ngày càng ảnh hưởng tới văn chương tự sự.

Trong quá khứ, nền văn hóa bác học đã ảnh hưởng đến văn hóa bình dân qua vị thế và mẫu mực của nó; điều ngược lại có vẻ đúng với nước Mỹ ngày nay. Những nhà văn nghiêm túc như Thomas Pynchon, Joyce Carol Oates, Kurt Vonnegut, Jr., Alice Walker và E. L. Dotorow đã vay mượn và bình luận về truyện bằng tranh trên báo, những cuốn phim, thời trang, những ca khúc và lịch sử.

Nói lên điều này không nhằm tầm thường hóa nền văn học đương đại: Các nhà văn ở Mỹ đang đặt nhiều câu hỏi nghiêm túc, nhiều câu trong đó có bản chất siêu hình. Họ có tinh thần đổi mới và tự nhận thức mình, hay “phản tỉnh”, rất cao. Thông thường họ thấy những kiểu cách truyền thống không mấy hiệu quả. Họ tìm kiếm sức sống trong chất liệu thông thường, rộng lớn hơn. Nói một cách khác: nhà văn Mỹ, trong những thập kỷ gần đây đã phát triển một cảm thức hậu – hiện đại. Việc điều chỉnh lại các quan điểm của các nhà văn theo chủ nghĩa hiện đại không còn phù hợp đối với họ; cái chính là điều kiện cho những quan điểm mới ra đời.

DI SẢN KẾ THỪA CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VÀ NHỮNG NĂM CUỐI CỦA THẬP NIÊN 40

Giống như tiểu thuyết trong nửa đầu thế kỷ 20, tiểu thuyết ở nửa sau của thế kỷ phản ánh đặc điểm của mỗi thập kỷ. Những năm cuối thập kỷ 40 đã chứng kiến hậu quả của Thế chiến II và sự bắt đầu của cuộc Chiến tranh Lạnh.

Chiến tranh Thế giới Thứ hai đã cung cấp những chất liệu cơ bản cho nhiều tác phẩm. Norman Mailer trong tác phẩm The Naked and the Dead (Kẻ trần truồng và người chết – 1948) và James Jones trong From Here to Eternity(Từ đây đến vô tận – 1951) là hai nhà văn đã sử dụng những chất liệu sống tốt nhất. Cả hai đều khai thác chủ nghĩa hiện thực rất gần với chủ nghĩa tự nhiên trần trụi; cả hai đều cố hết sức để không tôn vinh cuộc chiến. Điều này cũng xảy ra với The Young Lions (Sư tử non – 1948) của Irwin Shaw. Herman Wouk trong The Caine Mutiny (Cuộc tạo phản ở Caine – 1951), cũng cho thấy những nhược điểm của con người hiện rõ trong thời chiến cũng như trong cuộc sống dân sự. Về sau, Joseph Heller mô tả Chiến tranh Thế giới Thứ hai bằng những từ ngữ có tính cách châm biếm và phi lý, chẳng hạn như Catch-22[1] (Cạm bẫy – 1961), lập luận rằng chiến tranh luôn kết hợp với sự điên loạn. Thomas Pynchon trình bày một tình huống nổi bật, phức tạp nhại theo và thay thế những tình huống khác nhau trong thực tế trong cuốn Gravity’s Rainbow (Cầu vồng của trọng lực – 1973). Kurt Vonnegut, Jr., đã trở thành một trong những ngọn hải đăng của trào lưu phản văn hóa trong những năm đầu thập niên 70 sau khi xuất bản cuốnSlaughterhouse – Five: or, The Children’s Crusade (Lò sát sinh số 5 hoặc cuộc thập tự chinh của trẻ con – 1969). Cuốn tiểu thuyết chống chiến tranh của ông nói về cuộc đánh bom ở Dresden (Đức) của lực lượng Đồng minh trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai (cuộc ném bom mà ông đã chứng kiến từ dưới mặt đất khi là tù binh).

Thập niên 40 cũng chứng kiến sự lên ngôi của đội ngũ tài năng trẻ, bao gồm nhà thơ – tiểu thuyết gia – nhà viết tiểu luận Robert Penn Warren, hai nhà soạn kịch Arthur Miller và Tennessee Williams, những nhà văn viết truyện ngắn Katherine Anne Porte và Endora Welty. Tất cả đều là những nhà văn người miền Nam trừ Miller. Tất cả đều khám phá thân phận cá nhân trong gia đình hay cộng đồng và xoáy vào sự cân bằng giữa sự phát triển cá nhân và trách nhiệm đối với cộng đồng.

Robert Penn Warren
(1905-1989)

Robert Penn Warren, một trong những nhà văn nhóm Fugutive ở miền Nam, gặt hái được thành công mỹ mãn hầu như trong suốt thế kỷ 20. Suốt cuộc đời mình, ông quan tâm đến những giá trị dân chủ khi chúng xuất hiện trong các bối cảnh lịch sử khác nhau. Cuốn tiểu thuyết ngự trị lâu dài nhất của ông là All the King’s Men (Tất cả thần dân của vua – 1946), xoáy sâu vào những khía cạnh đen tối của giấc mơ Mỹ – được bộc lộ trong câu chuyện về con đường tiến thân đầy những uẩn khúc của một thượng nghị sĩ miền Nam khoe khoang và ranh mãnh – Huey Long.

Authur Miller
(1915- )

Nhà soạn kịch, viết tiểu thuyết, viết tiểu luận và viết tiểu sử người New York – Authur Miller – đạt đến đỉnh cao vào năm 1940, với cuốn Death of a Salesman (Cái chết của người chào hàng). Cuốn sách là một công trình nghiên cứu của một con người trong cuộc tìm kiếm danh dự và giá trị của anh ta trong cuộc sống và sự nhận thức rằng thất bại luôn chờ phía trước một cách chắc chắn. Chuyện xảy ra trong gia đình Loman, xoay quanh những mối quan hệ khập khiễng giữa người cha và những đứa con trai, giữa chồng và vợ. Nó là tấm gương phản chiếu tình hình văn học vào thập niên 40 – một sự kết hợp phong phú giữa chủ nghĩa hiện thực với hơi hướng của chủ nghĩa tự nhiên: các nhân vật được khắc họa cẩn thận, tròn trịa; và nhấn mạnh vào giá trị của mỗi cá nhân, mặc cho những thất bại và lỗi lầm.Death of a Salesman là một bài ca chiến thắng thật cảm động cho những con người bình thường – như bà góa phụ Willy Loman ca ngợi, “phải chú ý đến họ”. Thương tâm và ảm đạm, nó cũng là câu chuyện về những giấc mơ. Như một nhân vật ghi nhận một cách mỉa mai, “một người chào hàng cũng phải mơ ước, bé ạ. Nó đến cùng với đất đai”.

Death of a Salesman, một tác phẩm đặc sắc, vẫn chỉ là một trong nhiều vở kịch Miller viết qua nhiều thập kỷ, gồm All My Sons[2] (Tất cả đều là con tôi – 1947) và The Crucible[3] (Thử thách cam go – 1953). Cả hai đều mang tính chính trị – một vở về thời hiện đại, vở kia lấy bối cảnh thời thuộc địa.All My Sons nói về một nhà sản xuất dù biết rõ vẫn cho phép những phụ tùng không đạt yêu cầu được lắp ráp ở những công ty máy bay trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai, dẫn đến cái chết của chính đứa con trai của ông và những người khác. The Crucible khắc họa những phiên tòa xử phù thủy ở Salem (Massachusetts) vào thế kỷ 17 trong đó một số người định cư Thanh giáo đã chết oan vì bị cho là phù thủy. Tuy nhiên, thông điệp của nó – rằng “cuộc thanh trừng phù thủy” nhắm vào những người dân vô tội là con ghẻ của nền dân chủ – lại có liên quan đến giai đoạn trong đó vở kịch được dàn dựng, đó là những năm đầu thập niên 50, khi một chiến dịch chống cộng do thượng nghị sĩ Joseph Mc Carthy và những người khác lãnh đạo đã hủy hoại mạng sống của bao người dân vô tội.

Tennessee Williams
(1911 – 1983)

Tennessee Williams, người vùng Mississippi, là một trong những nhà văn khá phức tạp trên văn đàn nước Mỹ vào giữa thế kỷ 20. Tác phẩm của ông tập trung vào những xúc cảm xáo trộn, rối rắm và vấn đề tính dục chưa được giải quyết ổn thỏa trong đời sống gia đình – hầu hết là ở miền Nam. Ông nổi tiếng về những câu nói lặp đi lặp lại như thần chú, một cách diễn đạt đầy chất thơ của miền Nam, về những bối cảnh Gothic kỳ lạ, và những khám phá về những khát khao tình dục theo Freud. Là một trong những nhà văn Mỹ đầu tiên công khai sống như một người đồng tính luyến ái, Williams giải thích rằng đời sống tính dục của các nhân vật bị đọa đầy của ông diễn đạt sự cô đơn của họ. Những nhân vật của ông sống và chịu đau khổ một cách sâu xa.

Williams viết hơn 20 vở kịch dài, nhiều vở mang tính chất tiểu sử tự thuật. Ông đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp tương đối sớm – vào thập niên 40 – với The Glass Menagerie (Bầy thú bằng thủy tinh – 1944) và A Streetcar Named Desire (Chiếc xe điện mang tên Dục vọng – 1947). Không một tác phẩm nào trong suốt hơn 2 thập kỷ sau đó đạt được mức độ thành công và phong phú như hai vở kịch này.

Katherine Anne Porter
(1890 – 1980)

Cuộc đời và sự nghiệp dài lâu của Katherine Anne Porter trải qua nhiều mốc lịch sử. Tác phẩm thành công đầu tiên của bà, câu chuyện “Flowering Judas” (Judas Hoàn thiện – 1929), lấy bối cảnh ở Mexico trong thời kỳ cách mạng. Những truyện ngắn trau chuốt tuyệt vời mang lại danh tiếng cho bà qua những mảng đời được bộc bạch một cách tinh tế: “The Jilting of Granny Weatherall” (Người tình phụ bạc của bà ngoại Weatherall) chẳng hạn, đã chuyển tải những cảm xúc lớn lao một cách chính xác, ngắn gọn. Bà thường mô tả đời sống nội tâm của phụ nữ và sự lệ thuộc của họ vào đàn ông.

Những sắc thái biểu cảm của Porter chịu ảnh hưởng nhiều từ những câu chuyện của nhà văn sinh ở New Zealand, Katherine Mansfield. Những tập truyện của Porter bao gồm Flowering Judas (1930), Noon Wine (Rượu trưa – 1937), Pale HorsePale Rider (Ngựa còi, nài cọc – 1939), The Leaning Tower (Tháp nghiêng – 1944) và Collected Stories (Truyện ngắn chọn lọc – 1965). Vào đầu những năm 60, bà sáng tác một tiểu thuyết dài mang tính chất phúng dụ với một đề tài phi thời gian về trách nhiệm giữa người với người. Câu chuyện có tựa đề Ship of Fools (Con tàu của những người ngu – 1962) xảy ra trên boong một con tàu chở khách mang những con người thuộc xã hội thượng lưu Đức và những người dân tị nạn của Đức trốn chạy bọn phát xít Đức vào cuối những năm 30.

Tuy không viết nhiều, sáng tác của Porter vẫn ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nhà văn, trong số họ có những bạn văn miền Nam của bà là Eudora Welty và Flannery O’Connor.

Eudora Welty
(1909- )

Sinh ở Mississippi trong một gia đình khá giả sau này chuyển lên sống ở miền Bắc, Eudora Welty được Warren và Porter dẫn dắt vào nghề. Thật ra, Porter đã viết lời giới thiệu cho tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của Welty, A Curtain of Green (Màn cửa xanh lá cây – 1941). Welty nương theo khuôn mẫu của Porter để viết các tác phẩm của mình nhưng nữ văn sĩ trẻ quan tâm hơn đến những điều khôi hài và lập dị. Cũng như với Flannery O’Connor sau này, các nhân vật trung tâm của bà thường bất thường, quái dị hay ở những trường hợp ngoại lệ.

Mặc dù tác phẩm của bà có nhiều yếu tố bạo lực, trí thông minh của Welty tự bản chất mang tính nhân bản và lạc quan, ví dụ như trong câu chuyện thường được đưa vào các tuyển tập chính của bà: Why I Work at the P.O.(Tại sao tôi làm việc ở Bưu điện), nói về một đứa con gái bướng bỉnh và độc lập bỏ nhà đến sống trong một bưu điện nhỏ xíu. Những tập truyện của bà bao gồm The Wide Net (Mạng rộng – 1943), The Golden Apples (Những trái táo vàng – 1949), The Bride of the Innisfallen (Cô dâu của Innisfallen – 1955), và Moon Lake (Hồ Trăng – 1980). Welty cũng viết những cuốn tiểu thuyết như Delta Wedding (Đám cưới Delta – 1946), kể chuyện một gia đình ở một trang trại trong thời hiện đại và The Optimist’s Daughter (Con gái người lạc quan – 1972).

THẬP NIÊN 50 SUNG MÃN NHƯNG THA HÓA

Trong thập niên 50 người ta đã thấy rõ tác động của hiện đại hóa và kỹ thuật hóa trong cuộc sống hàng ngày, một ảnh hưởng còn sót lại từ thập niên 20 – trước cuộc Đại khủng hoảng kinh tế. Chiến tranh Thế giới Thứ hai đã đưa Hoa Kỳ thoát khỏi cuộc Đại khủng hoảng và thập niên 50 đã cung cấp cho hầu hết dân cư Mỹ thời gian tận hưởng sự giàu có vật chất đã chờ đợi từ lâu. Công việc kinh doanh, đặc biệt trong thế giới các công ty, hình như mang lại cuộc sống tốt đẹp (thường là ở ngoại vi đô thị), với những dấu hiệu thực sự và là biểu tượng của sự thành công – nhà cửa, xe hơi, truyền hình và đồ điện gia dụng.

Tuy nhiên, sự cô đơn trên hết vẫn như là một đề tài nổi bật, con người thuộc một đám đông không nhân mạo đã trở thành khuôn mẫu đặc trưng trong cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất của Sloan Wilson The Man in the Gray Flannel Suit (Người đàn ông mặc bộ đồ len xám – 1955). Sự tha hóa của nước Mỹ được khái quát trong một công trình nghiên cứu nghiêm túc của nhà xã hội học David Riesman – cuốn The Lonely Crowd (Đám đông đơn độc – 1950) – những công trình nghiên cứu khác ít hoặc nhiều tính khoa học tiếp nối nhau xuất hiện: từ cuốn The Hidden Persuaders (Người thuyết phục giấu mặt (1957) và The Status Seekers (Những kẻ chạy theo danh vọng – 1959) của Vance Packard, đến The Organization Man (Người của tổ chức 1956) của William Whyte và các cuốn White Collard (Viên chức – 1951) vàThe Power Elite (Giới tinh hoa quyền lực – 1956) có tính trí tuệ hơn của Wright Mill. Viện sĩ hàn lâm và nhà kinh tế học John Kenneth Galbraith đã đóng góp cuốn The Affluent Society (Một xã hội sung mãn – 1958). Hầu hết các tác phẩm này đều tán đồng các giả định có từ thập niên 50 rằng mọi người dân Mỹ cùng chia sẻ một lối sống chung. Những công trình nghiên cứu này dùng lối nói phổ thông chỉ trích những công dân đã đánh mất bản sắc cá nhân thời khai phá trở thành những kẻ sống quá rập khuôn theo tập tục chung của xã hội (ví dụ, Riesman và Mills) và khuyên mọi người trở thành thành viên của một “giai cấp mới” mà khoa học kỹ thuật và thời gian rảnh rỗi đã tạo nên (như có thể thấy trong các tác phẩm của Galbraith).

Thập niên 50 thật sự là thập niên của những áp lực trên mọi lĩnh vực và rất khó nhận biết. Những cuốn tiểu thuyết của John O’Hara, John Cheever và John Updike cố khám phá sự căng thẳng lẩn quất trong bóng tối của cảm giác thỏa lòng. Những tác phẩm hay nhất khắc họa những con người bị rớt đài trong cuộc vật lộn để đạt đến thành công, như trong Death of a Salesman của Authur Miller và tiểu thuyết Seize the Day (Sống qua ngày – 1956) của Saul Bellow. Có vài nhà văn đi xa hơn khi lần theo những con người bỏ cuộc như J.D. Salinger trong The Catcher in the Rye (Bắt trẻ đồng xanh – 1951), Ralph Ellison trong Invisible Man (Người vô hình – 1952) và Jack Kerouac trong On the Road (Trên con đường tự do[4] – 1957). Và trong những tháng ngày cuối cùng của thập kỷ, Philip Roth xuất hiện cùng với một loạt những truyện ngắn phản ánh sự tha hóa khỏi cội nguồn Do Thái của mình (Goodbye, Columbus – Vĩnh biệt, Columbus – 1959). Những suy ngẫm tâm lý của ông đã cung cấp chất liệu cho tiểu thuyết và về sau cho cả tiểu sử tự thuật của những năm 90.

Tiểu thuyết của những nhà văn Mỹ – Do Thái như Bellow, Bernard Malamud và Isaac Bashevis Singer – một vài gương mặt điển hình trong thập niên 50 và những năm tiếp theo sau – cũng là những tác phẩm thực sự có giá trị, một sự bổ sung hấp dẫn vào bản phác họa văn học Mỹ. Tác phẩm của ba nhà văn này nổi tiểng vì tính khôi hài, mối quan tâm đạo đức, và những miêu tả về cộng đồng Do Thái ở Cựu và Tân thế giới.

John O’Hara
(1905 – 1970)

Được đào tạo làm nhà báo, John O’Hara là nhà văn sung sức viết nhiều vở kịch, truyện ngắn và tiểu thuyết. Ngòi bút của ông thực sự điêu luyện trong việc xây dựng chu đáo các tình tiết và được độc giả nhớ đến nhiều nhờ một số cuốn tiểu thuyết hiện thực, hầu hết được viết vào thập niên 50, về những con người có bề ngoài thành đạt nhưng những lỗi lầm giấu kín và sự bất mãn sâu xa trong tâm hồn làm cho họ rất dễ bị tổn thương. Đó là những cuốn Appointment in Samarra (Hẹn gặp ở Samarra – 1934), Ten North Frederick (Mười người ở Bắc Frederick – 1955), và From the Terrace(Từ hiên nhà – 1958).

James Baldwin
(1924 – 1987)

James Baldwin và Ralph Ellison là tấm gương phản ánh cuộc sống của người Mỹ Da đen vào thập niên 50. Nhân vật của họ phải chịu đựng cảnh sống thiếu bản sắc, hơn là đau khổ vì quá cao vọng. Baldwin, lớn nhất trong chín anh em trong một gia đình ở Harlem, New York, là con nuôi của một mục sư. Khi còn trẻ, Baldwin đôi lúc cũng giảng đạo trong nhà thờ. Kinh nghiệm này giúp hình thành khả năng hùng biện hết sức cuốn hút trong văn xuôi của ông, thể hiện rõ nhất trong các bài tiểu luận như “Letter from a Region of My Mind” (Thư tự lòng tôi) trong tập The Fire Next Time(Ngọn lửa tương lai – 1963). Trong cuốn sách này, những lập luận gây xúc động sâu xa của ông là nhằm chấm dứt nạn phân biệt các chủng tộc.

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Baldwin, cuốn Go Tell It On the Mountain (Đi mà kể trên núi – 1953) mang tính chất tự truyện, có lẽ là cuốn nổi tiếng nhất của ông. Đây là câu chuyện của một thiếu niên 14 tuổi trong cuộc tự tìm kiếm bản thân và niềm tin tôn giáo; như khi cậu bé vật lộn với những vấn đề cải đạo Thiên Chúa trong một tiền sảnh nhà thờ. Những tác phẩm quan trọng khác của Baldwin bao gồm Another Country (Xứ người – 1962), một cuốn tiểu thuyết đề cập đến vấn đề chủng tộc và đồng tính luyến ái và cuốn Nobody Knows My Name (Không ai biết tên tôi – 1961), một tuyển tập những tiểu luận mang dấu ấn cá nhân tràn đầy nhiệt tình về nạn kỳ thị chủng tộc, vai trò của người nghệ sĩ và văn học.

Ralph Waldo Ellison
(1914 – 1994)

Ralph Ellison, một người miền Trung Tây, sinh ở Oklahoma, học ở Học viện Tuskegee ở miền Nam Hoa Kỳ. Ông có một trong những sự nghiệp kỳ lạ nhất trong văn học Mỹ – chỉ với một cuốn sách duy nhất, ông đã có chỗ đứng trên văn đàn. Cuốn tiểu thuyết Invisible Man (1952) là câu chuyện về cuộc sống của một người Da đen chỉ là một sự tồn tại dưới mặt đất trong một cái hang được chiếu sáng bởi ánh điện ăn cắp của một công ty dịch vụ công cộng. Cuốn sách kể lại chuỗi sự kiện quái đản và những mộng đẹp tan tành của anh ta. Khi anh nhận được một học bổng ở một trường đại học dành cho người Da đen, anh đã bị những người Da trắng sỉ nhục; khi anh vào đại học, anh chứng kiến thầy hiệu trưởng người Da đen khinh bỉ bác bỏ những vấn đề bức xúc của người Mỹ Da đen. Cuộc sống cũng thối rữa bên ngoài trường đại học. Ví dụ, ngay cả tôn giáo cũng không phải là một sự an ủi: Một giáo sĩ giảng đạo thực ra lại là một tên tội phạm. Cuốn tiểu thuyết lên án xã hội đã hoàn toàn không trao cho các công dân – đen cũng như trắng – những lý tưởng cao đẹp để vươn tới và những thể chế khả dĩ có thể biến chúng thành hiện thực. Cuốn tiểu thuyết chứa đựng nội dung sâu sắc về chủng tộc bởi lẽ “con người vô hình” ấy trở nên trong suốt không phải do bản thân anh ta mà do những người khác, mù lòa vì định kiến, đã không thể nhìn thấy anh ta, không biết đến sự tồn tại của con người đó.

Flannery O’Connor 
(1925 – 1964)

Flannery O’Connor, người vùng Georgia, sống một cuộc đời ngắn ngủi vì bệnh Luput, một bệnh về máu dễ gây tử vong. Tuy vậy, bà từ chối những biểu hiện tình cảm ủy mị, điều đó được thể hiện rõ trong những câu chuyện cực kỳ khôi hài nhưng ảm đạm và không thỏa hiệp của bà. Không giống như Porter, Welty, và Hurston, O’Connor thường miêu tả nhân vật ở cự ly gần, không ngại ngần vạch ra các thiếu sót và ngu ngốc của họ. Những nhân vật miền Nam thất học trong những cuốn tiểu thuyết của bà thường gây ra tội ác và bạo lực bởi sự mê tín hoặc các hủ tục, như ta có thể thấy trong tiểu thuyết Wise Blood (Dòng máu khôn ngoan – 1952) của bà, kể về một kẻ cuồng tín tôn giáo, tự xây dựng giáo hội của riêng mình.

Đôi lúc bạo lực xuất phát từ thành kiến, như trong truyện “The Displaced Person” (Người bị thay thế) kể về một người mới nhập cư bị giết chết bởi những người dân quê dốt nát, ngu muội; những kẻ bị đe dọa bởi cung cách sống kỳ lạ và lao động siêng năng của anh ta. Thường thì những sự cố tàn bạo xảy ra một cách đơn giản với những nhân vật của bà, như trong “Good Country People” (Dân quê lương thiện), câu chuyện về một cô gái bị một người đàn ông dụ dỗ, rồi ăn cắp cái chân giả của cô.

Óc khôi hài mang đặc trưng Da đen của O’Connor rất gần gũi với Nathanael West và Joseph Heller. Những tác phẩm của bà bao gồm những tuyển tập truyện ngắn A Good Man is Hard to Find (Người tử tế thật khó tìm – 1955) và Everything That Rises Must Converge (Mọi thứ rốt cuộc đều giống nhau – 1965); cuốn tiểu thuyết The Violent Bear It Away (Bọn hung bạo mang nó đi – 1960); và một tuyển tập thư từ The Habit of Being (Thói quen hiện hữu – 1979). Cuốn Complete Stories (Toàn tập truyện ngắn) của bà ra đời vào năm 1971.

Saul Bellow 
(1915- )

Sinh ra ở Canada và lớn lên ở Chicago, Saul Bellow có gốc Nga-Do Thái. Ông theo học nhân chủng học và xã hội học ở trường đại học, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến tác phẩm của ông cho đến tận ngày nay. Ông đã biểu lộ lòng biết ơn sâu xa với Theodore Dreiser, vì các tác phẩm của Theodore Dreiser, đã hướng ông đi vào những kinh nghiệm đủ loại và sự dấn thân đầy xúc cảm của ông với nó. Được đánh giá rất cao, ông nhận giải Nobel văn học vào năm 1976. Những cuốn tiểu thuyết hiện sinh đầu tiên có phần u ám của Saul Bellow bao gồm Dangling Man (Người chờ đợi – 1944), một sự khảo sát mang phong cách Kafka về một người chờ đợi được tuyển mộ đi lính và The Victim (Nạn nhân – 1974), về quan hệ giữa người Do Thái và người không phải Do Thái. Vào thập niên 50, quan điểm của ông trở nên hài hước hơn: Ông sử dụng một loạt những người kể chuyện ngôi-thứ-nhất nhiệt tình và mạo hiểm trong The Adventures of Augie March (Cuộc phiêu lưu của Augie March – 1953) – một nghiên cứu về một nhà đầu tư ở thành phố giống như Huck Finn sau trở thành một tay bán chợ đen ở châu Âu – và trong Henderson the Rain King (Henderson vua Mưa – 1959), một cuốn tiểu thuyết xuất sắc nửa nghiêm túc nửa khôi hài về một nhà triệu phú đứng tuổi với những tham vọng không thỏa mãn cuối cùng đã đưa ông đến châu Phi. Những cuốn về sau của Bellow bao gồm Herzog (1964), về cuộc đời rắc rối của một giáo sư người Anh bị thần kinh với ám ảnh tìm cho ra ý nghĩa về cái tôi lãng mạn; Mr Sammler’s Planet (Hành tinh của ông Sammler – 1970); Humboldt’s Gift (Phần thưởng của Humboldt – 1975); và cuốn tự truyện The Dean’s December (Tháng 12 trong đời ông trưởng khoa – 1982).

Cuốn Seize the Day (Sống qua ngày – 1956) của Bellow là một cuốn tiểu thuyết sáng chói thường được giảng dạy trong chương trình trung học hoặc đại học bởi vì sự tuyệt vời và sự cô đọng của nó. Nhân vật trung tâm trong truyện là một thương gia thất cơ lỡ vận, Tommy Wilhelm, đã cố gắng che giấu cảm xúc đau đớn vì thất bại của mình bằng cách mang một bộ mặt mãn nguyện. Cuốn truyện bắt đầu một cách giễu cợt: “Khi phải che giấu những rắc rối của mình, Tommy Wilhelm tỏ ra chẳng kém cạnh ai cả. Vì thế ít nhất anh ta nghĩ…”. Sự tiêu hao năng lượng này, thật oái ăm chỉ dẫn đến sự xuống dốc của ông. Wilhelm quá day dứt với cảm giác bất cập đến nỗi ông trở nên hoàn toàn bất lực – thất bại với phụ nữ, với công việc, với máy móc và với thị trường hàng hóa, rồi cuối cùng ông ta mất hết tiền bạc. Ông ta là một ví dụ về một gã khờ khạo, vụng về luôn thất bại trong truyện dân gian Do Thái – một người luôn luôn gặp những điều xui xẻo. Seize the Daytổng kết lại nỗi sợ bị thất bại đã ám ảnh bao người Mỹ.

Bernard Malamud
(1914 – 1986)

Bernard Malamud sinh ở New York, cha mẹ là dân nhập cư Nga gốc Do Thái. Trong cuốn tiểu thuyết thứ hai The Assistant (Người phụ tá – 1957), Malamud đã tìm ra được những chủ đề đặc trưng của mình – cuộc đấu tranh sống còn chống lại mọi trở ngại và những nền tảng đạo đức của những người nhập cư Do Thái đương đại.

Tác phẩm xuất bản đầu tiên của Malamud là The Narural (Tự nhiên – 1952), một sự kết hợp của chủ nghĩa hiện thực và hoang tưởng, đặt trong thế giới kỳ bí của môn bóng chày chuyên nghiệp. Những tiểu thuyết khác bao gồm A New Life (Cuộc đời mới – 1961), The Fixer (Người hối lộ – 1966),Pictures of Fidelman (Những bức ảnh của Fidelman – 1969), và The Tenants(Những người thuê nhà – 1971). Ông cũng là một bậc đại gia sung mãn trong làng truyện ngắn. Qua những truyện ngắn của ông trong các tuyển tập như là The Magic Barrel (Chiếc thùng mầu nhiệm – 1958), Idiots First(Ưu tiên kẻ ngu ngốc – 1963), và Rembrandt’s Hat (Chiếc mũ của Rembrandt – 1973), ông truyền đạt – hơn tất cả những nhà văn khác sinh ra ở Mỹ một ý thức về hiện tại và quá khứ mang màu sắc Do Thái, cái thực và siêu thực, sự kiện và huyền thoại.

Một tác phẩm hoành tráng của Malamud – mà nhờ nó ông được giải thưởng Pulitzer và giải Sách quốc gia – cuốn The Fixer lấy bối cảnh ở Nga khoảng đầu thế kỷ 20, nó là cái nhìn chất chứa những bí ẩn về một trường hợp vu cáo bẩn thỉu – một chuyện có thật – vụ án tai tiếng của Mendel Beiliss năm 1913, một vết nhơ đen tối trong vụ bài Do Thái trong lịch sử hiện đại. Như trong nhiều tác phẩm của mình, Malamud nhấn mạnh sự chịu đựng của nhân vật của ông, Yako Bok và cuộc đấu tranh chống lại mọi trở ngại để tồn tại.

Isaac Bashevis Singer
(1904 – 1991)

Tiểu thuyết gia đoạt giải Nobel và bậc thầy truyện ngắn Isaac Bashevis Singer là một người Ba Lan di cư đến Mỹ năm 1935. Ông là con của một trưởng giáo sĩ Do Thái ở Warszawa. Suốt đời viết bằng tiếng Yiddish (ngôn ngữ pha trộn giữa tiếng Đức và Hebrew từng là ngôn ngữ thông dụng của người Do Thái trong nhiều thế kỷ qua), ông viết về những điều huyền bí và hiện thực của hai nhóm người Do Thái đặc biệt – kiều dân của các Shtetls (những làng nhỏ) ở Cựu thế giới và những di dân bị sóng gió đại dương vùi dập trước và sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai.

Các tác phẩm của Singer là tư liệu về hai thời kỳ trước và sau Chiến dịch Holocaust – việc tàn sát nhiều cộng đồng Do Thái châu Âu do Đức quốc xã và những kẻ hợp tác với chúng tiến hành. Một mặt, ông mô tả – trong những tiểu thuyết như The Manor (Thái ấp – 1967) và The Estate (Điền trang – 1969), lấy bối cảnh nước Nga thế kỷ 19, và The Family Moskat (Gia đình Moskat – 1950), xoay quanh một gia đình Do Thái – Balan giữa hai cuộc Thế chiến – cuộc sống của cộng đồng Do Thái ở châu Âu hiện không còn nữa. Mặt khác, một số tác phẩm của ông lấy bối cảnh sau chiến tranh, như Enemies, A Love Story (Những kẻ thù, một chuyện tình – 1972), mà nhân vật chính là những người sống sót sau cuộc khủng bố người Do Thái, tìm cách xây dựng cuộc đời mới cho chính mình.

Vladimir Nabokov
(1889 – 1977)

Cũng giống như Singer, Vladimir Nabokov là người di dân từ Đông Âu. Sinh ra trong một gia đình giàu có ở nước Nga Sa Hoàng, ông đến Mỹ năm 1940 và năm năm sau trở thành công dân Mỹ. Từ năm 1948 đến 1959 ông giảng dạy văn học ở Đại học Cornell ở phía bắc của tiểu bang New York; năm 1960, ông chuyển sang sống hẳn ở Thụy Sĩ. Ông nổi tiếng nhờ những tiểu thuyết của mình, trong đó có cuốn tự truyện Pnin (1957) – một câu chuyện về một giáo sư nhập cư người Nga không thành công và cuốn Lolita (xuất bản tại Mỹ năm 1958), về một người Âu trung niên, có học vấn si mê cuồng dại một cô bé người Mỹ 12 tuổi thơ ngây. Một tiểu thuyết mô phỏng của Nabokov, Pale Fire (Lửa tàn – 1962) lại là một sự mạo hiểm thành công khác, nói về một bài thơ dài do một nhà thơ tưởng tượng đã chết sáng tác và những lời bình về bài thơ do một nhà phê bình viết và những tác phẩm của nhà phê bình này thấm đẫm bài thơ bắt đầu sống cuộc đời đầy những bất ngờ của riêng chúng.

Nabokov là nhà văn có nhiều ảnh hưởng bởi bút pháp tinh tế, sự châm biếm sắc sảo và những cách tân độc đáo về mặt hình thức. Tất cả điều đó đã khơi nguồn cảm hứng cho những tiểu thuyết gia như John Barth. Nabokov ý thức được vai trò cầu nối của mình giữa hai thế giới văn học Nga và Mỹ; ông đã viết một cuốn sách về Gogol và dịch tiểu thuyết thơ Engene Onegin của Pushkin. Những chủ đề táo bạo, có phần ảnh hưởng của chủ nghĩa biểu hiện, như tình yêu kỳ quặc trong Lolita, góp phần giới thiệu những trào lưu biểu hiện châu Âu thế kỷ 20 vào truyền thống văn học mang nặng tính hiện thực của Mỹ. Giọng văn của ông, phần châm biếm phần hoài niệm, cũng gợi tới một kiểu mới để tái hiện cảm xúc nửa trang nghiêm nửa khôi hài, sau này rất hữu dụng cho các nhà văn như Pynchon, người phối hợp những mặt tương phản của trí thông minh và sợ hãi.

John Cheever
(1912 – 1982)

John Cheever thường được gọi là một “tiểu thuyết gia đa phong cách”. Ông nổi tiếng vì những truyện ngắn nhiều liên tưởng, tao nhã và tuyệt hay của mình, những truyện ngắn mổ xẻ giới kinh doanh của New York qua những ảnh hưởng của nó đối với các nhà kinh doanh, vợ con, bạn bè họ. Một khát khao gượng gạo, bi thiết có vẻ như vô vọng nhưng không bao giờ bị dập tắt về những đam mê hay sự xác tín siêu hình ẩn giấu trong bóng tối của những câu chuyện tinh tế của Cheever, theo phong cách Chekhov, tập hợp trong The Way Some People Live (Cách người ta sống – 1943), The Housebreaker of Shady Hill (Kẻ đột nhập ở Shady Hill – 1958); Some People, Places and Things That Will Not Appear in My Next Novel (Một vài người, vài địa điểm và vài chuyện sẽ không bao giờ xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết sắp tới của tôi – 1961), The Brigadier and the Golf Widow (Thiếu tướng và người góa phụ chơi golf – 1964), và The World of Apples (Thế giới những trái táo – 1973). Tựa đề những cuốn sách của ông bộc lộ sự lãnh đạm, đùa nghịch, một sự bất kính và một sự gợi ý về chủ đề, nội dung. Cheever cũng xuất bản nhiều cuốn tiểu thuyết – The Wapshot Scandal (Vụ tai tiếng của gia đình Wapshot – 1964), Bullet Park (Công viên đạn – 1969), và Falconer (Người luyện chim ưng – 1977) – cuốn sau cùng này mang nhiều yếu tố tự thuật.

John Updike
(1932 – )

Cũng như Cheever, John Updike được xem là nhà văn đa phong cách với những bức tranh về cuộc sống đô thị, chủ đề xoay quanh cuộc sống gia đình, phản ánh tâm trạng chán chường, tiếc nuối. Tiểu thuyết của ông thường xảy ra ở vùng Bờ Đông ở Massachusetts và Pennsylvania. Updike rất nổi tiếng với bốn tác phẩm loại Rabbit miêu tả cuộc sống của một người đàn ông tên là Harry “Rabbit” Angstrom với những thăng trầm trong cuộc đời ông qua bốn thập kỷ của lịch sử chính trị và xã hội Mỹ. Rabbit, Run(Rabbit, chạy – 1960) là tấm gương phản chiếu nước Mỹ thập niên 50, trong đó Angstrom là một anh chồng trẻ bất mãn; sống hoàn toàn không có mục đích. Rubbit Redux (Rubbit trở lại phong độ – 1971) tập trung làm nổi bật hiện tượng phản văn hóa của thập niên 60. Trong tập này, Angstrom vẫn không có một mục tiêu, hoặc lý tưởng rõ ràng trong cuộc sống hoặc là có một cách thức hợp lý để trốn khỏi sự nhàm chán, vô vị của nó. Trong Rabbit Is Rich (Rabbit giàu có – 1981), Harry trở nên giàu có nhờ của cải thừa hưởng trong bối cảnh thập niên 70 thịnh vượng và vị kỷ, khi mà cuộc chiến ở Việt Nam đã ở vào giai đoạn cuối. Tập cuối cùng Rabbit at Rest (Rabbit an nghỉ – 1990), lướt qua sự hòa giải của Angstrom với cuộc đời, và cái chết khinh suất của ông trong bối cảnh lịch sử những năm 80. Ngoài bộ tiểu thuyết trên, Updike còn viết các cuốn tiểu thuyết khác nhưThe Centaur (Con nhân mã – 1963), Couples (Những cặp vợ chồng – 1968) và Bech: A Book (Bech: Một cuốn sách – 1970). Updike có một thi pháp nổi bật, sáng chói của bất cứ nhà văn hiện đại nào và những truyện ngắn của ông là mẫu mực về sự lỗi lạc và sắc sảo xét cả về tầm vóc phản ánh và tính sáng tạo của chúng. Tuyển tập truyện ngắn của ông gồm có The Same Door (Cùng một cánh cửa – 1959), The Music School (Trường nhạc – 1966),Museums and Women (Bảo tàng và phụ nữ – 1972), Too Far To Go (Đường xa – 1979) và Problems (Những vấn đề – 1979). Ông cũng viết nhiều tập thơ và tiểu luận.

J.D. Salinger
(1919- )

Là người đưa tin của thập niên 60, J. D. Salinger đã khắc họa những cố gắng đào thoát ra khỏi xã hội. Sinh ở New York, ông đã đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp văn học nhờ vào việc xuất bản cuốn tiểu thuyết The Catcher in the Rye (Bắt trẻ đồng xanh – 1951) viết về một cậu bé nhạy cảm 16 tuổi, Holden Caulfield, đã trốn khỏi một trường nội trú danh giá để gia nhập vào thế giới bên ngoài của người lớn để sau đó phải vỡ mộng bởi cái chủ nghĩa vật chất và sự giả dối của nó.

Khi được hỏi lớn lên cậu bé thích làm gì, Caulfield đã trả lời “thích làm người bắt trẻ ngoài đồng”, nhại theo một bài thơ của Robert Burns. Trong mơ ước của mình, ông muốn bản thân là hình ảnh hiện đại của một hiệp sĩ Da trắng, người bảo vệ duy nhất cho sự trong sáng, ngây thơ. Ông tưởng tượng ra một cánh đồng lúa mạch đen bao la, lúa cao đến nỗi không thể nhìn thấy một bầy trẻ con đang chạy nhảy vui đùa trong đám lúa. Ông là người lớn duy nhất ở đấy. “Tôi đang đứng trên bờ đá cao ghê hồn. Tôi phải làm gì? Tôi phải bắt bất cứ đứa trẻ nào toan vượt qua bờ đá đó”. Rơi xuống bên kia vách đá có nghĩa là đánh mất tuổi thơ và sự thơ ngây (đặc biệt là về tính dục) – một chủ đề trở đi trở lại trong thời kỳ này. Những tác phẩm khác của nhà văn ẩn cư và viết rất kén này gồm: Nine Stories (Chín câu chuyện – 1953), Franny and Zooey (1961) và Raise High the Roof – Beam, Carpenters (Cao cao trên xà nhà, Bác thợ mộc – 1963) một tuyển tập truyện ngắn từ báo The New Yorker. Sau khi một truyện ra mắt độc giả vào năm 1965, Salinger – sống ở New Hampshire – vắng bóng trên bầu trời văn học Mỹ.

Jack Kerouac
(1922 – 1969)

Là con trai của một gia đình gốc Pháp – Canada nghèo khổ, Jack Kerouac trăn trở với vấn đề ý nghĩa và giá trị cuộc sống của lớp người trung lưu. Ông đã có những cuộc giao lưu với nhóm văn nghệ Beat bí mật khi còn là sinh viên của Đại học Columbia ở New York. Tiểu thuyết của ông chịu nhiều ảnh hưởng của những tác phẩm mang ít nhiều yếu tố tự thuật của tiểu thuyết gia miền Nam – Thomas Wolfe.

Tiểu thuyết hay nhất của Kerouac là cuốn On the Road (Trên con đường tự do – 1957) miêu tả “các thành viên của nhóm Beat” lang thang khắp nước Mỹ tìm kiếm một giấc mơ lý tưởng về cuộc sống cộng đồng và cái đẹp. Cuốn The Dharma Bums (Phật pháp của những kẻ cầu bơ cầu bất – 1958) tập trung phản ánh về những trí thức phản văn hóa sống lang thang bất định và sự say mê nhất thời của họ đối với Thiền tông – Phật giáo. Kerouac cũng sáng tác một tập thơ Mexico City Blues (Điệu blues ở Mexico City – 1959) và những tập sách về cuộc đời ông với thành viên của nhóm Beat như nhà văn viết tiểu thuyết thể nghiệm William Burroughs và thi sĩ Allen Ginsberg.

THẬP NIÊN 60 RỐI REN NHƯNG ĐẦY SÁNG TẠO

Áp lực và sự tha hóa tiềm tàng trong thập niên 50 tìm được tiếng nói thích hợp vào thập niên 60 ở Mỹ trong phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng, phong trào đấu tranh cho quyền phụ nữ, chống chiến tranh, hoạt động của cộng đồng ít người và sự xuất hiện của phong trào phản văn hóa mà ảnh hưởng của nó vẫn còn dai dẳng trong xã hội Mỹ. Những tác phẩm về văn hóa xã hội và chính trị nổi bật trong thời kỳ này gồm có những bài diễn thuyết về quyền bình đẳng của nhà lãnh đạo Da đen, tiến sĩ Martin Luther King, những trước tác thời kỳ đầu của nhà lãnh đạo phong trào nữ quyền Betty Friedan (The Feminine Mystique – Sự huyền diệu của phụ nữ, 1963) và The Armies of the Night (Đội quân của bóng đêm – 1968) của Normal Mailer về cuộc biểu dương lực lượng chống chiến tranh năm 1967.

Những năm 60 được đánh dấu bởi sự xóa nhòa ranh giới giữa hư cấu và sự thật, giữa tiểu thuyết và phóng sự điều tra và điều này vẫn còn tiếp diễn cho đến tận ngày nay. Tiểu thuyết gia Truman Capote, một con người ăn nói huỵch toẹt từng làm độc giả choáng váng vào cuối thập niên 40 đầu thập niên 50 trong những tác phẩm như Breakfast at Tiffany (Ăn sáng ở Tiffany – 1958) – giờ lại làm độc giả sững sờ với In Cold Blood (Máu lạnh – 1966), một phân tích vô cùng hấp dẫn về một vụ tàn sát tập thể hết sức tàn bạo xảy ra ở một vùng trung tâm nước Mỹ, lôi cuốn bạn đọc như một cuốn tiểu thuyết trinh thám. Cùng lúc đó, “phong cách báo chí mới” nổi lên, 268 269 những tác phẩm không có yếu tố hư cấu kết hợp với phong cách viết báo và kỹ thuật viết tiểu thuyết hoặc là sử dụng thường xuyên các dữ kiện thật, nhào nặn chúng lại để tạo tính xác thực và ly kỳ cho câu chuyện được kể. Cuốn The Electric Kool – Aid Acid Test. (Cuộc thử nghiệm của dân hippy([5])) của Tom Wolfe (1968) ca ngợi những chuyện ngộ nghĩnh, dễ thương trong những đam mê phiêu bồng phản văn hóa của tiểu thuyết gia Ken Kesey. Còn cuốn Radical Chic and Mau – Mauing the Flak Catchers cười nhạo nhiều khía cạnh của phong trào cánh tả. Sau này Wolfe viết một cuốn lịch sử hết sức sâu sắc và phong phú về giai đoạn đầu của chương trình không gian Hoa Kỳ, cuốn The Right Stuff (Chuyện tào lao – 1979) và tiểu thuyết The Bonfire of the Vanities (Ngọn lửa của sự phù hoa – 1987) là bức tranh toàn cảnh về xã hội Mỹ trong thập niên 80.

Vào những năm 60, văn học cũng nhập cuộc với những rối ren trong thời kỳ này. Một cái nhìn mỉa mai, bỡn cợt cũng xuất hiện, phản ánh trong phong cách ngụ ngôn của một số nhà văn, trong số đó có truyện One Flew Over the Cuckoo’s Nest (Bay qua tổ chim cúc cu – 1962) – một truyện hài hước ảm đạm của Ken Kesey về cuộc sống trong một nhà thương điên trong đó các nhân viên y tế lại còn quậy phá điên rồ hơn cả bệnh nhân.Trout Fishing in America (Câu cá hồi ở Mỹ – 1967) của Richard Brautigan là một cuốn tiểu thuyết tưởng tượng đến mức quái dị. Hài hước và tưởng tượng kết hợp để tạo ra một phong cách mới nửa siêu hình nửa khôi hài trong các cuốn tiểu thuyết hoang tưởng, xuất sắc của Thomas Pynchon nhan đề V (1963) và The Crying of Lot 49 (Tiếng khóc than của lô 49), cuốn Giles Goat – Boy (Giles – Cậu bé chăn dê – 1966) của John Barth và những truyện ngắn kỳ dị của Donald Bartheme trong tuyển tập truyện ngắn đầu tiên Come Back, Dr Calogari (Trở lại đi, Tiến sĩ Calogari) xuất bản vào năm 1964.

Trong lãnh vực sân khấu, Edward Albee sáng tác một loạt vở kịch tâm lý phi truyền thống: Who’s Afraid of Virginia Woolf[6]? (Ai sợ Virginia Woolf? – 1962), A Delicate Balance (Sự thăng bằng mong manh – 1966) vàSeascape (Phong cảnh biển – 1975). Những vở kịch phản ánh cuộc dò tìm nội tâm và cách tiếp cận đầy nghịch lý của tác giả.

Đồng thời, thập niên 60 cũng chứng kiến sự ra đời muộn màng của một tài năng văn học trong độ tuổi 40 – Walker Percy – một bác sĩ và một mẫu mực của phong cách tao nhã miền Nam. Trong loạt tác phẩm của mình, Percy đã dùng địa phương quê nhà của ông như một tấm thảm trang trí để ông trải lên đó những màn kịch tâm lý ly kỳ hấp dẫn. The Moviegoer (Dân nghiền xinê – 1961) và The Last Gentleman (Chính nhân quân tử cuối cùng – 1966) là hai vở kịch nổi bật trong những tác phẩm được đánh giá cao của ông.

Thomas Pynchon
(1937 – )

Thomas Pynchon là tác giả u huyền, không thích khoa trương tên tuổi. Ông sinh ở New York, tốt nghiệp Đại học Cornell năm 1958, nơi có lẽ ông đã tiếp nhận ảnh hưởng của Vladimir Nabokov. Có một điều chắc chắn là, những tưởng tượng có tính cách tân của ông, sử dụng những chủ đề về việc diễn giải những mấu chốt, những trò chơi, và các mật mã có thể xuất phát từ Nabokov. Giọng văn linh hoạt của Pynchon có thể hòa nhập chứng hoang tưởng vào trong thi ca.

Tất cả những tiểu thuyết của Pynchon đều có kết cấu giống nhau. Luôn có ít nhất một nhân vật chính không biết gì về dòng diễn biến phức tạp của câu chuyện, rồi sau đó trọng trách của hắn là sắp xếp lại trật tự của cái mớ bòng bong các sự kiện và giải mã thế giới. Công việc này, chính là nhiệm vụ của người nghệ sĩ truyền thống, được chuyển giao cho người đọc, họ phải dõi theo các sự kiện, tìm ra những điểm mấu chốt và lý giải về mọi sự. Quan điểm hoang tưởng này phổ biến khắp các lục địa và chính thời đại này, bởi vì Pynchon đã sử dụng ẩn dụ “entropy”[7] về sự suy tàn dần dần của vũ trụ. Ông là bậc thầy trong việc tiếp thu và chuyển hóa văn hóa dân gian – đặc biệt là trong tiểu thuyết khoa học viễn tưởng và tiểu thuyết trinh thám.

Tiểu thuyết mang tựa đề V được cấu trúc lỏng lẻo xung quanh Benny Profane – một kẻ thất bại lại lao vào những cuộc phiêu lưu vô mục đích với những công việc làm ăn kỳ cục luôn thay đổi và đối thủ của anh ta, Herbert Stencil, một trí thức có nhiệm vụ truy tìm một nữ điệp viên bí mật V (có thể là Venus, Virgin hay Void). The Crying of Lot 49 (Tiếng khóc than của lô 49), là một truyện vừa, đề cập đến một hệ thống bí mật liên quan đến dịch vụ bưu điện Mỹ. Gravity’s Rainbow (Cầu vồng của trọng lực – 1973) viết về những sự kiện xảy ra ở London trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ II, vào lúc mà đạn bom tưới xuống thành phố này. Nội dung xuyên suốt cuốn truyện là cuộc tìm kiếm nửa khôi hài nửa biểu trưng những tên phát xít Đức và các nhân vật đội lốt khác. Sự mãnh liệt trong biểu cảm, tính khôi hài và sự nhạy bén với những cái mới đã gắn chặt tên tuổi của Pynchon với thập niên 60.

John Barth
(1930- )

John Barth quê ở Maryland là nhà văn quan tâm đến cách kể lại một câu chuyện như thế nào hơn là nội dung của nó. Nhưng trong khi Pynchon tung hỏa mù đưa độc giả vào con đường với những dấu vết giả tạo và những đầu mối khả dĩ vượt ra ngoài một cuốn tiểu thuyết trinh thám, thì Barth lại mời bạn đọc bước vào một ngôi nhà vui tươi của lễ hội, nơi chứa đầy những tấm gương dị dạng, phóng đại một số nét này trong khi lại thu nhỏ một số đặc điểm khác. Chủ nghĩa hiện thực là kẻ thù của Barth, tác giả của tuyển tập truyện ngắn Lost in the Funhouse (Lạc lối trong ngôi nhà của niềm vui – 1968) gồm 14 truyện về quá trình viết văn và đọc sách. Mục đích của Barth là nhắc nhở và cảnh báo cho độc giả về bản chất nhân tạo của việc đọc và viết văn, và hơn nữa ngăn cản người đọc đừng bị lôi cuốn vào câu chuyện như thể câu chuyện ấy là có thật trên đời. Để làm nổ tung cái ảo tưởng về chủ nghĩa hiện thực, Barth đã dùng toàn bộ công cụ phản tỉnh để nhắc nhở bạn đọc rằng chính là họ đang đọc sách.

Những tác phẩm đầu tay của Barth cũng như của Saul Bellow chứa đựng rất nhiều vấn đề và mang tính hiện sinh rõ nét, có những chủ đề của thập niên 50 về sự tẩy chay xã hội và sự lang thang bất định của số phận con người. Cuốn truyện The Floating Opera (Nhạc kịch lưu động – 1956) viết về một con người toan tính tự tử. The End of the Road (Đoạn cuối của con đường – 1958) miêu tả một cuộc tình phức tạp. Những tác phẩm vào thập niên 60 của ông trở nên hài hước hơn và càng ít hiện thực hơn nữa. The Sot – Weed Factor (1960) nhại theo thể loại tiểu thuyết giang hồ thế kỷ 18, trong khi với Giles Goat Boy (Giles – Cậu bé chăn dê – 1966), thế giới được thu nhỏ một cách hài hước thành một trường đại học. Cuốn Chimera (Quái vật tưởng tượng – 1972) kể lại những câu chuyện cổ của thần thoại Hi Lạp và trong Letters (Những lá thư – 1979) thì chính Barth trở thành một nhân vật như là Normal Mailer đã làm trong The Armies of the Night. TrongSabbatical: A Romance (Kỳ nghỉ của giáo sư: Một truyện tình – 1982) Barth sử dụng một motif hư cấu quen thuộc về điệp viên, đấy là câu chuyện về một nữ giáo sư dạy đại học và chồng nàng, một điệp viên đã giải nghệ sau trở thành một tiểu thuyết gia.

Normal Mailer
(1923- )

Normal Mailer được dư luận rộng rãi công nhận là đại biểu cho những thập kỷ vừa qua, một tác gia có khả năng thay đổi phong cách, nội dung và mối quan tâm khá nhiều lần. Có xu hướng viết về những kinh nghiệm sống với cá tính mãnh liệt và tính cách của một con người tham gia hoạt động xã hội đầy kịch tính, Mailer đi theo con đường truyền thống của Ernest Hemingway. Tư tưởng của ông hết sức mạnh bạo và đổi mới. Ông là tác giả trái ngược hẳn với Barth, bởi vì đối với Barth, nội dung phản ánh không quan trọng bằng cái cách mà nó được diễn đạt. Cũng không giống với Pynchon khó xác định, Mailer luôn tranh thủ và đòi hỏi một sự chú tâm. Là nhà văn viết tiểu thuyết, một nhà viết tiểu luận, đôi khi cũng là một chính khách, một nhà hoạt động văn hóa và thỉnh thoảng còn là diễn viên, Mailer là nhân vật trung tâm của “sân khấu” xã hội. Từ những tác phẩm mang phong cách “báo chí mới” như Miami and the Siege of Chicago (Miami và việc vây hãm thành Chicago – 1968), một phân tích về những hội nghị đề cử ứng viên tổng thống Mỹ năm 1968 và sự nghiên cứu hết sức hấp dẫn của ông về vụ hành quyết những kẻ bị kết tội sát nhân trong cuốn The Excutioner’s Song (Bài ca của kẻ tử tội – 1979) ông chuyển sang viết những cuốn tiểu thuyết nặng ký và đầy tham vọng như Ancient Evenings (Những buổi chiều xưa – 1983) lấy bối cảnh ở Ai Cập cổ đại và cuốn Harlot’s Ghost(Hồn ma Harlot – 1992) về những vấn đề xoay quanh cơ quan tình báo trung ương Hoa Kỳ.

THẬP NIÊN 70 VÀ 80 NHỮNG HƯỚNG ĐI MỚI

Vào khoảng giữa thập niên 70, kỷ nguyên của sự củng cố bắt đầu. Chiến tranh ở Việt Nam đã kết thúc, tiếp sau đó là việc nước Mỹ công nhận Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và việc kỷ niệm 200 năm lập quốc. Chẳng bao lâu sau là những năm 80, “thập kỷ vì tôi” tiếp bước, trong đó mỗi cá nhân có khuynh hướng tập trung vào những mối quan tâm riêng tư của mình hơn là những vấn đề xã hội lớn lao hơn.

Trong văn học, các trào lưu cũ vẫn còn tồn tại, nhưng cái sức mạnh đằng sau sự thể nghiệm đơn thuần đã giảm dần. Các tiểu thuyết gia trẻ như John Gardner, John Irving (với tiểu thuyết The World According to Garp – Thế giới dưới con mắt của Garp, 1978), Paul Theroux (Trong The Mosquito Coast – Bờ biển Mosquito, 1982), William Kennedy (Ironweed – Hạt sắt, 1983) và Alice Walker (The Color Purple – Màu tím, 1982) lên ngôi với những tiểu thuyết nổi bật rất có cá tính khắc họa những tấn kịch cảm động về con người. Việc quan tâm tới hoàn cảnh, nhân vật và những chủ đề kết hợp với chủ nghĩa hiện thực đã trở lại. Chủ nghĩa hiện thực, bị bỏ rơi bởi các nhà văn thể nghiệm vào thập niên 60, đã quay trở lại thường kết hợp với những yếu tố sáng tạo hết sức táo bạo – một cấu trúc mới mẻ, đột phá như một “tiểu thuyết trong tiểu thuyết” có thể thấy trong truyện của John Garner October Light (Ánh sáng tháng Mười – 1976) hoặc là tiếng Anh của người Mỹ – Da đen trong The Color Purple của Alice Walker. Văn học của các cộng đồng ít người bắt đầu đua nở. Kịch nói đã chuyển từ chủ nghĩa hiện thực sang những kỹ xảo điện ảnh và tốc độ hơn. Tuy vậy, cùng lúc đó, “Thập kỷ vì tôi” cũng được phản ánh trong các tài năng trẻ khoa trương như Joy Mclnerny với Bright LightsBig City, (Ánh sáng rực rỡ nơi đô thị, 1984), Bret Easton Ellis với Less Than Zero (Nhỏ hơn số không, 1985) và Tama Janowits với Slaves of New York (Nô lệ của New York, 1986).

John Gardner
(1933-1982)

John Gardner xuất thân từ một nhà nông ở bang New York, là người phát ngôn quan trọng nhất cho những giá trị đạo đức trong văn học cho đến khi cái chết đã chấm dứt cuộc sống khá ngắn ngủi của ông bằng một tai nạn môtô. Ông là giáo sư văn học Anh chuyên về giai đoạn Trung đại. Cuốn tiểu thuyết Grendel (1971) nổi tiếng nhất của ông kể lại sử thi cổ đại Anh về Beowulf nhìn từ góc độ hiện sinh của con quái vật. Cuốn tiểu thuyết ngắn gọn, sinh động và thường vang lên tiếng cười trào lộng này là một cuộc tranh luận tinh tế chống lại chủ nghĩa hiện sinh đã dồn các nhân vật của nó vào nỗi tuyệt vọng tự hủy diệt và một thái độ khuyển nho, yếm thế.

Là một nhà văn sung sức và hết sức nổi tiếng, Gardner sáng tác theo phương pháp hiện thực nhưng lại sử dụng các kỹ thuật mới mẻ như hồi tưởng, truyện trong truyện, kể lại các huyền thoại và những câu chuyện tương phản – để phát hiện chân lý về tình cảnh của con người. Sức mạnh của ông chính là sự đặc trưng hóa (đặc biệt là trong những bức chân dung đầy cảm thông về những con người bình thường) và phong cách đa dạng.

Những tác phẩm lớn của ông gồm The Resurrection (Phục sinh – 1966), The Sunlight Dialogues (Cuộc đối thoại dưới ánh mặt trời – 1972), Nickel Mountain (Núi Nickel – 1973), October Light (Ánh sáng tháng Mười – 1976) và Mickenson’s Ghosts (Những bóng ma của Mickenson – 1982).

Các kiểu tiểu thuyết của Gardner gợi tả cái sức mạnh trị liệu của tình bằng hữu, bổn phận và trách nhiệm gia đình và xét theo ý nghĩa này, Gardner là một tác giả bảo thủ và truyền thống hết sức sâu sắc. Ông đã cố gắng chứng minh rằng một số hành động và các giá trị nhất định sẽ dẫn đến một cuộc sống viên mãn. Cuốn tiểu thuyết của ông On Moral Fiction (Tưởng tượng đạo lý – 1978) kêu gọi tiểu thuyết nên chuyển tải những giá trị đạo đức hơn là lòe bịp độc giả với những cách tân kỹ thuật trống rỗng. Cuốn sách đã gây nên một làn sóng phẫn nộ, chủ yếu bởi vì Gardner đã phê phán thẳng thừng những cây cao bóng cả trong làng văn đương đại đã thất bại trong việc phản ánh những mối quan tâm đạo đức.

Toni Morrison
(1931 – )

Nữ văn sĩ người Mỹ gốc Phi Toni Morrison sinh ở bang Ohio trong một gia đình gia phong mà mối quan tâm chính là những giá trị tinh thần. Bà theo học Đại học Howard ở thủ đô Washington, là biên tập cao cấp của một nhà xuất bản lớn ở Washington và là giáo sư nổi tiếng của nhiều trường đại học.

Tiểu thuyết đan kết phong phú của Morrison làm cho bà nổi tiếng thế giới. Trong những cuốn tiểu thuyết phóng khoáng và cuốn hút của mình bà đã xử lý những tính cách phức tạp của người Da đen bằng một cách thức phổ quát. Trong tác phẩm đầu tay The Bluest Eye (Mắt biếc – 1970) của bà, một cô gái Da đen trẻ giàu nghị lực đã kể lại câu chuyện về Pecola Breedlove, người rốt cuộc đã trốn thoát cuộc sống với một ông bố cục súc, thô bạo. Pecola tin rằng đôi mắt đen của cô đã biến thành màu xanh da trời một cách kỳ diệu và chúng làm cô trở nên dễ thương hơn. Morrison có nói rằng bà đã sáng tạo nên cái ý thức về diện mạo văn học riêng của riêng bà với tư cách là một nhà văn qua cuốn tiểu thuyết này “Tôi là Pecola, là Claudia, là mọi người”.

Tác phẩm Sula (1973) miêu tả tình bạn thắm thiết mặn nồng giữa hai người phụ nữ. Morrison khắc họa phụ nữ Mỹ gốc Phi như là những nhân vật đầy cá tính, đơn nhất hơn là những con người điển hình. Cuốn Song of Solomon (Bài ca của Solomon) của Morrison viết vào năm 1977 đã nhận được nhiều giải thưởng. Nó tái hiện cuộc đời của một người Da đen tên là Milkman Dead và những mối quan hệ phức tạp của anh ta với gia đình và cộng đồng Da đen. Trong cuốn Tar Baby (Bé con – 1981) Morrison khai thác các vấn đề của mối quan hệ giữa người Da trắng và người Da đen. Beloved(1987) là một câu chuyện về nỗi thống khổ của một người đàn bà thà giết chết những đứa con mình còn hơn là để chúng sống như những kẻ nô lệ. Cuốn tiểu thuyết sử dụng những kỹ thuật như trong một giấc mơ của chủ nghĩa hiện thực huyền bí trong việc phác họa một nhân vật huyễn hoặc, Beloved, cô gái trở lại sống với người mẹ đã cắt cổ mình.

Morrison cho rằng mặc dầu các tiểu thuyết của bà thuần túy là những tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo, chúng vẫn chứa đựng những ý nghĩa chính trị: “Tôi không quan tâm đến việc nuông mình trong những tưởng tượng riêng tư… Vâng, một tác phẩm nghệ thuật phải có ý nghĩa chính trị”. Năm 1993, Morrison được trao giải Nobel văn chương.

Alice Walker
(1944- )

Alice Walker là một người Mỹ Da đen và là con của một gia đình nhà nông ăn chia theo mùa vụ ở vùng thôn quê Georgia. Bà tốt nghiệp Đại học Sarah Lawrence, nơi có một trong những người thầy của bà là nữ thi sĩ có khuynh hướng làm chính trị, bà Muriel Rukeyser. Những người khác có ảnh hưởng đến sự nghiệp văn chương của bà là Flannery O’Connor và Zora Neale Hurston.

Là một nhà văn “rất nữ tính” như bà tự nhận; Walker từ lâu đã rất gắn bó với phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ, bà trình bày về sự hiện hữu của người Da đen dưới cái nhìn của người phụ nữ. Cũng như Toni Morrison, Jamaica Kincaid, Toni Cade Bambara và các tác giả Da đen đương đại thành công khác, Walker sử dụng chủ nghĩa hiện thực trữ tình ở trình độ nghệ thuật cao để phản ánh về những giấc mơ và thất bại của những con người đáng tin cậy có thực. Tác phẩm của bà khắc họa đậm nét cuộc tìm kiếm phẩm giá trong đời người. Bà là một nhà văn có văn phong rất mực tinh tế, mượt mà đặc biệt thể hiện trong cuốn tiểu thuyết mang phong cách ngôn ngữ thánh thư The Color Purple (Màu tím), tác phẩm của bà có ý hướng giáo dục. Ở điểm này, Walker cũng giống như một tiểu thuyết gia Mỹ đen khác là Ishmael Reed, tác giả của những tác phẩm trào phúng phơi bày những vấn đề chủng tộc và xã hội.

The Color Purple của Walker là một câu chuyện về tình yêu giữa hai chị em người Da đen sống sót sau những tháng năm xa cách. Gắn bó với câu chuyện này, bằng một cách nào đó trong cùng một thời điểm là việc một trong hai chị em, một cô gái xấu xí, nhút nhát và thất học khám phá ra sức mạnh tiềm tàng của mình nhờ sự giúp đỡ của một người bạn gái. Chủ đề về sự nâng đỡ giữa những người phụ nữ gợi nhớ tiểu sử tự thuật của Maya Angelou I Know Why the Caged Bird Sings ( Tôi biết vì sao chim hót trong lồng – 1970) ngợi ca tình cảm giữa mẹ và con gái và tác phẩm của các nhà văn Da trắng ủng hộ phong trào phụ nữ như Adrienne Rich. The Color Purple mô tả đàn ông như là những con người về căn bản không nhận thức được nhu cầu và sự hiện diện thực tế của người phụ nữ.

Những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 chứng kiến sự kiện ngoạn mục các tác phẩm của các cộng đồng ít người trở thành một bộ phận quan trọng trong văn đàn Mỹ. Điều này cũng xảy ra với sân khấu cũng như văn xuôi. August Wilson – người vẫn tiếp tục sáng tác và chứng kiến hàng loạt vở kịch của mình về cuộc đời người Da đen ở thế kỷ 20 được đưa lên sân khấu (trong đó có những vở đoạt giải Pulitzer như Fences (Rào cản – 1986) và The Piano Lesson (Bài học dương cầm – 1989) và tạo được chỗ đứng cho mình bên cạnh các tiểu thuyết gia nổi tiếng như Alice Walker, John Edgar Wideman và Toni Morrison.

Các nhà văn Mỹ gốc châu Á cũng chiếm lĩnh vị trí của họ trên văn đàn: Maxine Hong Kingston với The Woman Warrior (Nữ chiến binh, 1976) đã mở ra một con đường cho các nhà văn nữ gốc châu Á của bà. Trong số họ có Amy Tan, tác giả của những tác phẩm sáng chói về cuộc sống của người Hoa di cư sang Mỹ sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai như cuốn The Joy Luck Club (Phúc lạc hội, 1989) và cuốn The Kitchen God’s Wife (Vợ ông đầu rau, 1991) chinh phục được đông đảo bạn đọc. Còn David Henry Hwang con của một gia đình người Hoa sinh ra ở California đã làm nên tên tuổi của mình trong làng kịch nghệ với những vở kịch như là F.O.B (Giao hàng lên tàu – 1981) và M. Butterfly (Ông Butterfly – 1986).

Một nhóm các nhà văn khá mới mẻ xuất hiện trên chân trời văn học là những tác gia gốc Nam Mỹ, gồm tiểu thuyết gia gốc Cuba đoạt giải Pulitzer mang tên Oscar Hijuelos, tác giả cuốn The Mambo Kings Play Songs of Love(Các ông vua Mambo chơi nhạc tình yêu – 1989); nhà văn chuyên viết truyện ngắn Sandra Cisneros (Women Hollering Creek and Other Stories – Chuyện phụ nữ – 1991)[8] và Rudolfo Anaya, tác giả của cuốn Bless Me, Ultima (Phù hộ cho tôi, Ultima) bán được 300.000 bản chủ yếu ở miền Tây nước Mỹ.

VĂN HỌC PHONG CÁCH ĐỊA PHƯƠNG MỚI

Chẳng có gì mới mẻ về truyền thống văn học địa phương trong văn chương Mỹ. Nó cũng xa xưa như những truyền thuyết của người Da đỏ, cũng khơi gợi trí tưởng tượng như các tác phẩm của James Fenimore Cooper và Bret Harte, cũng nhiều âm vang như tiểu thuyết của William Faulkner và các vở kịch của Tennessee Williams. Mặc dầu vậy, có một thời, vào khoảng sau Chiến tranh thế giới thứ II, truyền thống đó dường như biến mất trong bóng chập choạng của thời đại – trừ phi người ta nhận định, mà có lẽ là rất đúng, rằng tiểu thuyết về đô thị cũng là một dạng của chủ nghĩa địa phương. Tuy nhiên, trong thập kỷ vừa qua hay vào khoảng ấy, văn học địa phương đã thực hiện một sự trở về ngoạn mục, vang dội trong nền văn học Mỹ khiến cho độc giả có ý thức về không gian cũng như là có ý thức về thời gian và thân phận con người. Và nó cũng trở nên thịnh hành trong các thể loại tiểu thuyết phổ biến như là truyện trinh thám chẳng hạn, cũng như trong văn học cổ điển với tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch nói.

Ở đây có một vài lý do khả dĩ cho sự tái xuất hiện này. Cái chính là, tất cả các loại hình nghệ thuật ở Mỹ đã trở nên phi tập trung trong các thế hệ qua. Sân khấu, âm nhạc, múa có xu hướng phát triển mạnh ở các vùng đô thị ở miền Nam, Tây Nam và Tây Bắc nước Mỹ cũng như những thành phố lớn như New York và Chicago. Các công ty điện ảnh làm phim trên khắp đất Mỹ hoặc vô số nơi khác. Văn học Mỹ cũng vậy. Các nhà xuất bản nhỏ hơn tập trung vào tiểu thuyết đua nở rực rỡ bên ngoài “dãy phố xuất bản” của thành phố New York. Các cuộc hội thảo và hội nghị của các nhà văn trở thành mốt thời thượng hơn bao giờ hết, trong khi các lớp dạy viết văn và học văn cũng trở thành cơn sốt ở khắp các trường đại học trong nước. Chẳng có gì lạ khi các tài năng chớm nở có thể khai hoa bất cứ ở đâu. Tất cả những cái mà người ta cần để viết văn chỉ là một cây bút chì, giấy và quan điểm.

Những nét khỏe khoắn, thanh tân nhất của trào lưu văn học địa phương mới là sự bành trướng và đa dạng của nó. Nó tràn qua khắp nước Mỹ từ Đông sang Tây. Một cuộc hành trình văn học xuyên suốt lục địa được bắt đầu ở vùng Đông Bắc ở Albany, New York với trung tâm điểm của sự chú ý là người con của vùng đó, William Kennedy, đã một thời là nhà báo. Kennedy, tác giả của những tiểu thuyết về Albany trong số đó có các tiểu thuyết Ironweed (1983) và Very Old Bones (Chuyện rắc rối cũ rích – 1992) là bức tranh ảm đạm về cuộc sống của các cư dân ở các phố chợ và các quán rượu ở thủ phủ của bang New York.

Là một nhà văn viết tiểu thuyết, viết truyện ngắn, viết tiểu luận và cũng làm thơ rất sung mãn, giàu sức sáng tạo, Joyce Carol Oates cũng xuất thân từ vùng Đông Bắc nước Mỹ. Trong các tác phẩm đáng nhớ của bà, nỗ lực của các nhân vật bị ám ảnh phải đạt cho được thành công trong những môi trường méo mó kỳ cục của họ cuối cùng đã dẫn họ đến sự hủy hoại. Những tác phẩm hay nhất của bà được tuyển chọn trong các tuyển tập như là The Wheel of Love (Bánh xe của tình yêu 1970) và Where Are you Going, Where Have You Been? (Anh đi đâu, anh ở đâu? – 1974). Stephen King, bậc thầy của thể loại tiểu thuyết kinh dị bán chạy, thường lấy bối cảnh cho các tác phẩm kinh dị của ông tại Maine – trong cùng một khu vực. Xuôi theo ven biển, trong vùng phụ cận Baltimore bang Maryland, nhà văn Anne Tyler trình bày bằng cái giọng giản dị, điềm tĩnh về những cuộc đời phi thường và những nhân vật kiệt xuất. Những tiểu thuyết như Dinner at the Homesick Restaurant (Ăn tối ở nhà hàng Nhớ nhà – 1982), The Accidental Tourist(Người du khách bất ngờ – 1985), Breathing Lessons (Bài học hô hấp – 1988) và Saint Maybe (Thánh có thể – 1991) đã làm tên tuổi của bà vang dội trong làng văn và trong lòng công chúng rộng rãi.

Cách Baltimore không xa là thủ đô Washington cũng có truyền thống văn học của riêng mình, nếu không muốn nói là một dòng văn học còn giấu mình trong bóng tối ở giữa cái thành phố mà mối quan tâm chủ yếu là chính trị. Trong số những nhà văn vẽ được những bức tranh rõ ràng về cuộc sống ở trong và vành ngoài guồng máy chính phủ và quyền lực của đất nước, có tiểu thuyết gia Ward Just – một cựu phóng viên quốc tế đã theo đuổi sự nghiệp thứ hai của mình là viết về cái thế giới mà anh biết từng chân tơ kẽ tóc: thế giới của các phóng viên báo chí, các chính trị gia, các nhà ngoại giao, và giới binh nghiệp. Cuốn sách Nicholson at Large(Nicholson tự do – 1975) một khảo cứu về giới làm báo trong và sau nhiệm kỳ của tổng thống John F. Kenedy vào đầu những năm 1960, In the City of Fear (Ở thành phố của nỗi sợ hãi – 1982) một phác thảo về Washington trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam; và Jack Gane (1989), một cái nhìn tỉnh táo về một chính khách Chicago và sự thăng tiến của ông ta đến chức vụ Thượng nghị sĩ Mỹ, là vài cuốn tiểu thuyết trong số những tác phẩm gây ấn tượng của Ward Just.

Cuốn truyện Children of Power (Con cái của giới quyền lực – 1979) của Susan Richards Shreve mổ xẻ cuộc sống riêng tư của nhóm con cái của các quan chức chính phủ, trong khi tiểu thuyết gia nổi tiếng Tom Clancy, một công dân bang Maryland đã dùng bối cảnh của giới chính trị – quân sự ở Washington làm bệ phóng cho một loạt các câu chuyện ly kỳ mang tính sử thi hoành tráng của ông.

Hướng về phía Nam, Reynolds Price và Jill McCorkle xuất hiện trong tầm nhìn của chúng ta. Price, chính là bậc thầy của Tyler, đã được một nhà phê bình mô tả hồi thập niên 70 là giữ một vị trí lỗi thời của “nhà văn nội trú miền Nam”[9]. Ông gây được sự chú ý của dư luận lần đầu tiên với cuốn A Long and Happy Life (Một cuộc đời dài lâu và hạnh phúc – 1962) đề cập con người và mảnh đất về miền Đông bang Bắc Carolina và đặc biệt là nhân vật nữ trẻ tuổi tên là Rosacoke Mustian. Ông tiếp tục viết những câu chuyện về nữ nhân vật này nhiều năm sau đó, rồi lại chuyển mối quan tâm của ông sang các chủ đề khác trước khi quay trở lại với người phụ nữ này trong tác phẩm Kate Vaiden (1986) khá nổi tiếng – tác phẩm duy nhất viết ở ngôi thứ nhất. Tác phẩm mới nhất của Price, Blue Calhoun (Ông Calhoun sầu muộn – 1992) khám phá ảnh hưởng của một cuộc tình say đắm, định mệnh qua nhiều thập kỷ trong đời sống của một gia đình.

McCorkle sinh năm 1958 và vì vậy là đại biểu cho thế hệ các nhà văn mới đã sáng tác các tiểu thuyết và truyện ngắn của cô trong bối cảnh là những thị trấn nhỏ của bắc Carolina, để khám phá những bí ẩn của tuổi vị thành niên (Cuốn The Cheer Leader – Người xướng giọng hoan hô – 1984), những mối ràng buộc giữa các thế hệ (trong cuốn Tending to Virginia – Hướng về Virginia – 1987) và đặc biệt là sự nhạy cảm của phụ nữ miền Nam hiện đại (Crash Diet – Ăn kiêng bằng mọi giá – 1992).

Một nhà văn cũng của vùng đó là Pat Conroy, tác giả của những cuốn tiểu thuyết mang tính tự thuật đầy kích thích về tuổi thơ của ông lớn lên ở nam Carolina và người cha độc đoán, thô bạo của mình (Trong cuốn The Great Santini – Santini vĩ đại – 1976) và The Prince of Tides (Ông hoàng của các trào lưu – 1986). Đó là những cuốn truyện đầy ý thức về vẻ đẹp thiên nhiên của vùng đất trũng ở bang Nam Carolina. Shelby Foote, một người dân vùng Mississippi sống ở Memphis bang Tennessee một thời gian dài, là nhà viết biên niên sử lâu năm của miền Nam. Những cuốn tiểu thuyết và lịch sử của ông đã đem lại cho ông một vai diễn trong một loạt phim truyền hình thành công về thời kỳ Nội chiến.

Vùng trung tâm của nước Mỹ ấp ủ trong lòng nó rất nhiều tài năng văn chương, trong số đó có Jane Smiley, một giáo sư dạy viết văn ở Đại học bang Iowa. Smiley đoạt giải thưởng Pulitzer năm 1992 về tiểu thuyết cho cuốn A Thousand Acres (Một ngàn mẫu đất – 1991), một tiểu thuyết đã chuyển Vua Lear của Shakespeare đến một nông trại ở miền Trung Tây nước Mỹ và ghi lại mối xung đột gia đình hết sức cay đắng lại bùng lên khi ông chủ nông trại già nua quyết định giao lại đất đai của mình cho ba cô con gái.

Người viết biên niên sử của bang Texas – Larry McMurtry đặc tả tiểu bang quê hương của mình cùng với đời sống tình cảm của nó ở nhiều thời điểm khác nhau từ miền Tây đã biến mất ở thế kỷ 19 (Trong Lonesome Dove – Bồ câu cô đơn – 1985) đến sự bốc hơi của những thị trấn nhỏ thời hậu chiến (The Last Picture Show – Triển lãm tranh lần cuối – 1966).

Cormac McCarthy, phản ánh những cuộc chinh phục các sa mạc ở vùng Tây Nam nước Mỹ trong các cuốn tiểu thuyết Blood Meridian (Đường kinh tuyến máu – 1985) và Anything for Billy (Bất cứ thứ gì dành cho Billy – 1998), All The Pretty Horses (Tất cả những con ngựa đẹp – 1992) và The Crossing(Vượt tuyến – 1994) là một nhà văn có cuộc sống ẩn dật nhưng đặc biệt giàu trí tưởng tượng, cũng mới nhận được sự chú ý của dư luận. Được giới nghiên cứu công nhận là người thừa kế đúng mực của truyền thống văn học Gothic miền Nam, McCarthy đã để cho tính chất hoang sơ của vùng đất này mê hoặc cũng như là ông đã bị cuốn hút bởi sự man rợ của con người và những điều bất trắc.

Lấy phong cảnh tuyệt đẹp của quê hương New Mexico làm bối cảnh cho tiểu thuyết Ceremony (Nghi lễ – 1977) vốn được giới phê bình đánh giá rất cao, nữ văn sĩ người Mỹ – Da đỏ Leslie Marmon Silko đã mê hoặc được đông đảo bạn đọc. Giống như cuốn tiểu thuyết giàu chất thơ của N. Scott Momaday The Way to Rainy Mountain (Đường đi đến núi Mưa – 1969), Ceremony là một cuốn “tiểu thuyết đầy nhạc tính” được cấu trúc trên nền các nghi thức chữa bệnh của người Da đỏ. Một cuốn tiểu thuyết khác của Silko, cuốn The Almanac of the Dead (Niên lịch của người chết – 1991) là bức tranh toàn cảnh vùng Tây Nam từ những cuộc di dân của các bộ lạc cổ xưa cho đến những tên buôn lậu ma túy và những nhà đầu tư bất động sản vô lương tâm đồi bại sử dụng đất đai để kiếm lợi nhuận cho riêng mình. Nhà văn viết truyện hình sự bán rất chạy Tony Hillerman sống ở Santa Fe bang New Mexico cũng viết về vùng đất Tây Nam này của nước Mỹ, chọn hai viên cảnh sát Navajo siêng năng, khiêm tốn làm nhân vật chính.

Về phía Bắc, ở bang Montana, nhà thơ James Welch đặc tả cuộc vật lộn của người Mỹ Da đỏ để thoát khỏi cuộc sống gian khổ khắc nghiệt trong khu bảo tồn, một cuộc sống ngập ngụa trong rượu chè và đói nghèo, trong những tác phẩm ngắn gọn hầu như toàn bích của ông như Winter in the Blood (Mùa đông máu lửa – 1974), The Dead of Jim Loney (Xác chết của Jim Loney – 1979), Fools Crow (Bọn ngốc nghếch huênh hoang – 1986) vàThe Indian Lawyer (Luật sư Da đỏ – 1990). Một nhà văn khác là đồng hương của James Welch là Thomas McGuane, tác giả của những cuốn tiểu thuyết luôn luôn tập trung vào những vấn đề của đàn ông như Ninety-Two in the Shade (Chín hai độ trong bóng râm – 1973) và Keep the Change(Hãy giữ lấy tiền lẻ – 1989) kể lại giấc mơ về những cội nguồn trong lúc đã bị xa lìa nguồn cội. Louise Erdrich, có một phần dòng máu của bộ lạc Da đỏ Chippewa thì cho ra đời một loạt tiểu thuyết về tiểu bang láng giềng với Montana là Bắc Dakota. Trong những tác phẩm như Love Medicine (Thuốc yêu – 1984) bà đã miêu tả sâu sắc cuộc sống rối rắm của các gia đình không còn đủ chức năng ở các khu vực bảo tồn bằng một sự hòa trộn đau xót giữa chủ nghĩa khắc kỷ và tính trào lộng.

Có hai nhà văn điển hình cho vùng Viễn Tây trong một thời kỳ. Một người là Wallace Stegner quá cố, sinh năm 1909 ở vùng Trung Tây và chết trong một tai nạn xe cộ vào năm 1993. Stegner phiêu bạt đó đây ở miền Tây trong suốt cuộc đời, ông có được một tri kiến về bản sắc địa phương thậm chí còn trước khi nó trở thành thời thượng. Tác phẩm lớn nhất của ông The Big Rock Candy Mountain (Núi kẹo đá lớn – 1943) kể lại lịch sử một dòng họ ấp ủ giấc mơ Mỹ bởi cái vẻ ngoài cám dỗ của miền Tây vào cái lúc mà đường biên giới hầu như biến mất. Câu chuyện trải ra khắp nước Mỹ, từ tiểu bang Minesota đến tiểu bang Washington, và những mối quan tâm của nó, như Stegner đã nêu là “vùng đất của những vẻ đẹp phi phàm đã lôi kéo cả đất nước đi về phía Tây”. Tác phẩm đoạt giải Pulitzer của ông (Angle of Repose – 1971) chan chứa tinh thần của vùng đất trong bức chân dung về một nữ văn sĩ và họa sĩ minh họa của miền Tây xưa. Trong thực tế, sức mạnh trong ngòi bút của ông chính là những nét điển hình hóa, cũng như là sự gợi tả sâu sắc về sự khắc nghiệt của cuộc sống miền Viễn Tây.

Joan Didion, vừa viết báo vừa viết tiểu thuyết là người có tầm tưởng tượng rất xa trong những năm gần đây, đã đặt bản đồ California hiện thời vào bộ sách của bà vào năm 1968 Slouching Toward Bethlehem (Lê bước về Bethlehem[10]) và trong một cuốn tiểu thuyết hết sức sắc sảo, gây chấn động của bà về tính vô mục đích của màn ảnh Hollywood, cuốn Play It As It Lays (Chơi y như đã sắp xếp – 1970).

Vùng Tây Bắc Thái Bình Dương, một trong những vùng đất khá màu mỡ về văn học nghệ thuật trong toàn cảnh văn hóa vào đầu những năm 90, đã sản sinh ra Raymond Carver, một cây viết truyện ngắn xuất sắc. Carver chết một cách bi thảm vào năm 1988 ở tuổi 50, chẳng bao lâu sau khi ông nổi tiếng trên làng văn. Văn của ông là tấm gương phản chiếu thái độ và quan điểm của giai cấp lao động sống trong vùng của ông trong những tuyển tập như What We Talk About When We Talk About Love (Chúng tôi nói gì khi chúng tôi bàn về tình yêu – 1974) và Where I’m Calling From (Tôi đang gọi từ đâu – 1986). Trong những truyện ngắn này ông đã đặt các nhân vật của mình vào khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp mà phần lớn vẫn còn giữ nguyên cái vẻ trinh nguyên của nó.

Thành công của trào lưu sân khấu địa phương – các công ty có tôn chỉ nâng cao chất lượng nghệ thuật một cách vô vụ lợi đã trở thành các địa điểm của nền văn hóa đương đại ở hết thành phố này đến thành phố khác khắp trên nước Mỹ. Từ những năm đầu thập niên 60, những cơ sở này đã bồi dưỡng và đào tạo nên những tài năng soạn kịch trẻ tỏa sáng rực rỡ trong sân khấu hiện đại. Người ta tự hỏi văn chương và sân khấu của Mỹ ngày nay sẽ ra sao nếu thiếu đi cái xã hội tan vỡ thành nhiều mảnh, sáng chói và những mối quan hệ tàn bạo của nó với Sam Shepard (trong Buried Child – Đứa trẻ bị chôn vùi – 1979); A Lie of the Mind (Lời nói dối của tâm trí – 1985); những nhân vật vô đạo và những lời thoại rời rạc gây kinh hoàng của nhà soạn kịch Chicago, David Mamet (trong American Buffalo – Trâu rừng Bắc Mỹ – 1976); Glengarry Glen Ross (1982); sự thâm nhập của các giá trị truyền thống vào cuộc sống miền Trung Tây và những mối bận tâm được phản ánh trong tác phẩm của Lanford Wilson (5th of July – Ngày 5 tháng 7 – 1978; Talley’s Folly – Sự ngu xuẩn của Talley – 1979) và phong cách lập dị miền Nam của Beth Henley (trong Crimes of the Heart – Trái tim tội lỗi – 1979).

Văn học Mỹ đã trải qua một con đường dài, quanh co từ buổi đầu thành lập thuộc địa cho đến nay. Xã hội, dòng lịch sử, và sự phát triển khoa học kỹ thuật, tất cả đều có tác động mạnh đến nó. Mặc dầu vậy, rốt cuộc vẫn có một điều vĩnh hằng đó là con người, với tất cả vẻ đẹp rực rỡ và xấu xa của nó, với những truyền thống và điều hứa hẹn của nó.


[1] Cuốn truyện này xoay quanh nhân vật phản diện John Sossarian, một sĩ quan đồn trú ở một sân bay tại một hòn đảo ở Địa Trung Hải trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai. Tác phẩm khắc họa những nỗ lực tuyệt vọng của anh ta để sống sót. Từ Catch trong Catch – 22, liên quan đến một điều lệ bí mật của không quân cho rằng một phi công cho là mất trí nếu anh ta sẵn lòng thực hiện một chuyến bay nguy hiểm. Nhưng nếu anh ta chính thức yêu cầu được rút khỏi nhiệm vụ này thì điều đó có nghĩa là anh ta còn tỉnh táo và không đủ tư cách để được cứu trợ. Tựa đề của cuốn sách đã góp mặt trong từ vựng tiếng Anh như một ám chỉ đến tiền đề của những chuyến đi không có ngày về.

[2] Vở kịch này đã được dịch ra tiếng Việt và trình diễn trên các sân khấu ở ta.

[3] Crucible: còn có nghĩa là nồi nấu kim loại (của những người hành nghề phù thủy).

[4] On the Road dõi theo bước đường rong ruổi của hai nhân vật chính “Sal Paradise” và “Dean Moriarty”, trên lục địa Bắc Mỹ, suốt từ bờ biển phía Đông sang bờ biển phía Tây và đến Mexico. Trên những nẻo đường này họ thoát khỏi những bổn phận nhàm chán, tự do với mọi thứ đàn bà, âm nhạc, rượu và những cuộc đàm luận. Chúng tôi dịch thoát tựa sách này thành Trên con đường tự do.

[5] Cuốn truyện kể về tiểu thuyết gia Ken Kesey từng có biệt danh là “Chàng trai vàng”, một trong những tiểu thuyết gia hàng đầu trong thế hệ của ông, ngoài ra ông còn là một nhà bác học, một nghệ sĩ một siêu sao trong thể thao. Ken đã dẫn đầu một nhóm hippy đi khắp nước Mỹ trong một chiếc xe buýt vào đầu những năm 60. Electric Kool – Aid còn được gọi là LSD, một loại ma túy gây ra ảo giác.

[6] Virginia Woolf (1882 – 1941): nữ nhà văn Anh có những cống hiến đặc biệt cho thể loại tiểu thuyết và đồng thời là một nhà phê bình văn học xuất sắc.

[7] Entropy: có nghĩa là tình trạng trơ lì đồng nhất của vũ trụ hoặc sự suy tàn dẫn tới hủy hoại mọi hình thức, kiểu mẫu và khác biệt.

[8] Women Hollering Creek and Other Stories là một tuyển tập truyện ngắn về các cảnh đời của phụ nữ ở hai bên đường biên giới Mexico. Phụ nữ trong các truyện ngắn này kể về những khám phá đầy thú vị bất ngờ với một sự khôn ngoan kín đáo. Chúng tôi xin tạm dịch là Chuyện phụ nữ.

[9] Nhà văn nội trú (Writer Inresidence): nhà văn ăn ở tại cơ sở (trường đại học hoặc cộng đồng) được trả lương để họ làm việc tại đó một thời gian. Chúa Jesus Christ sinh ra ở Bethlehem.

[10] Chúa Jesus Christ sinh ra ở Bethlehem.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_viii.html