Browsing Tag

The Great Gatsby

Văn học & Điện ảnh Văn học Mỹ

“The Great Gatsby” by F. Scott Fitzgerald Audiobook

The Great Gatsby Audiobook Chapter 1

The Great Gatsby Audiobook Chapter 2

The Great Gatsby Audiobook Chapter 3

The Great Gatsby Audiobook Chapter 4

The Great Gatsby Audiobook Chapter 5

The Great Gatsby Audiobook Chapter 6

The Great Gatsby Audiobook Chapter 7

The Great Gatsby Audiobook Chapter 8

The Great Gatsby Audiobook Chapter 9 

Like Pale Gold – The Great Gatsby Part I: Crash Course English Literature

Was Gatsby Great? The Great Gatsby Part 2: Crash Course English Literature

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 6: Trào lưu hiện đại và thể nghiệm thời kỳ 1914-1945

 

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Nhiều sử gia nêu rõ đặc điểm của nước Mỹ trong khoảng thời gian giữa hai thế chiến như là một sự khủng hoảng tâm lý, mặc dù thời gian Mỹ dính líu trực tiếp đến chiến tranh tương đối ngắn (1917 – 1918) và thiệt hại của nó ít hơn nhiều so với những đồng minh châu Âu và những kẻ thù của nó. John Dos Passos đã diễn tả cái ảo tưởng tan vỡ của Mỹ sau chiến tranh trong cuốn tiểu thuyết Three Soldiers (Ba người lính – 1921), trong đó ông cho rằng nền văn minh là một “công trình khổng lồ của sự giả dối và chiến tranh, thay vì là đống tro tàn của nó, lại là sự diễn đạt sau cùng và đầy đủ nhất của cái gọi là văn minh”. Bị chấn động và đã vĩnh viễn thay đổi, người lính Mỹ trở về nhà nhưng không bao giờ lấy lại được sự ngây thơ trong sáng của mình.

Cả những người lính ra đi từ những miền quê của nước Mỹ cũng không dễ dàng trở về với cái trước đây đã là cội rễ trong cuộc sống của họ. Sau khi bôn ba khắp thế giới, nhiều người trong số họ giờ đây ước ao có được một cuộc sống tiện nghi hiện đại nơi thị thành. Những máy móc mới dùng trong nông nghiệp như máy trồng lúa, máy gặt, và máy bó đã giảm thiểu đáng kể nhu cầu về lao động nông nghiệp, tuy vậy dù sản phẩm gia tăng, nông dân vẫn nghèo. Giá nông sản, cũng như lương công nhân, tùy thuộc vào sức mạnh thị trường tự 150 151 do chịu ảnh hưởng nặng nề của các tập đoàn kinh doanh: trợ cấp của chính phủ cho nông dân và những nghiệp đoàn công nhân thực sự chưa được thiết lập. “Công việc chủ yếu của người dân Mỹ là kinh doanh”, tổng thống Calvin Coolidge tuyên bố vào năm 1925, và hầu hết mọi người đã đồng ý với ông.

Trong thời kỳ “bùng nổ lớn” sau chiến tranh, thương mại nở rộ, các nhà đầu tư gặt hái những thành công và tiền bạc còn vượt xa giấc mơ hoang đường nhất của họ. Lần đầu tiên, nhiều người dân Mỹ đăng ký học đại học, vào những năm 20, sinh viên đại học tăng gấp dôi. Tầng lớp trung lưu phát đạt; người dân Mỹ bắt đầu được hưởng lợi tức trung bình quốc gia cao nhất thế giới vào thời kỳ đó. Và nhiều người đã mua cho được vật tượng trưng cho địa vị xã hội cao nhất: chiếc xe hơi. Ngôi nhà của các gia đình Mỹ bậc trung điển hình ở thành phố đã sáng ánh điện và họ huênh hoang về chiếc radio đã nối nhà mình với thế giới bên ngoài. Ngoài ra, họ còn có thể có một cái điện thoại, một máy ảnh, một máy đánh chữ, hay một cái máy may. Giống như nhân vật thương gia trong cuốn Babbitt (1922) của Sinclair Lewis, các công dân Mỹ tán thưởng những cái máy này bởi vì chúng tân tiến và bởi vì hầu hết chúng là phát minh của người Mỹ và được sản xuất ở Mỹ.

Người dân Mỹ của “thập niên 20 sôi nổi” say mê các phương tiện giải trí hiện đại. Hầu như tất cả mọi người đều đi xem phim mỗi tuần một lần. Mặc dù có luật cấm sản xuất, vận chuyển và bán rượu được ban hành qua tu chính án thứ 18 – có hiệu lực vào đầu năm 1919, các quán rượu lậu và hộp đêm nơi trình diễn nhạc Jazz, bán cocktail, trình diễn các mốt quần áo táo bạo và những vũ điệu bốc lửa vẫn mọc lên như nấm. Xem phim, lái xe du ngoạn, khiêu vũ và máy thu thanh là những say mê điên cuồng của cả nước. Đặc biệt phụ nữ ở Mỹ cảm thấy được tự do. Nhiều người đã rời trang trại, làng quê làm nhiệm vụ cho tiền tuyến ở những thành phố lớn ở Mỹ trong Thế chiến I và đã lột xác hoàn toàn. Họ cắt tóc ngắn, mặc váy ngắn “phất phơ”, và hân hoan được quyền bỏ phiếu nhờ vào tu chính Hiến pháp thứ 19 được thông qua vào năm 1920. Họ mạnh dạn phát biểu những gì mình nghĩ và tham gia những công việc chung của xã hội.

Trong khi đó, thế hệ trẻ phương Tây thì nổi loạn, giận dữ và vỡ mộng với cuộc chiến tàn khốc, với thế hệ đi trước có trách nhiệm trong cuộc chiến tranh này, và với những điều kiện kinh tế khó khăn sau chiến tranh mà oái ăm thay lại cho phép người dân Mỹ với một ít đô la – như các nhà văn F. Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway, Gertrude Stein, và Ezra Pound sống ở nước ngoài một cách phong lưu, vương giả. Những trào lưu tri thức, đặc biệt là phân tâm học của Freud và ở một chừng mực ít hơn chủ nghĩa Mác (giống như thuyết tiến hóa thời kỳ đầu của Darwin), hướng tới một thế giới quan “vô thần” đã góp phần vào cuộc lật đổ những giá trị truyền thống. Người Mỹ ở hải ngoại tiếp thu những quan điểm này, đem chúng về Mỹ, nơi chôn rau cắt rốn của họ, kích thích trí tưởng tượng của các nhà văn và nghệ sĩ trẻ. Chẳng hạn William Faulkner, một tiểu thuyết gia Mỹ thế kỷ 20 đã sử dụng những yếu tố phân tâm học của Freud trong tất cả những tác phẩm của mình, cũng như hầu hết những nhà văn Mỹ nghiêm túc sau Thế chiến thứ I. Mặc dù có một vẻ bên ngoài sôi động, hiện đại và một cuộc sống vật chất dồi dào chưa từng có, giới trẻ Mỹ thập niên 20 vẫn thuộc về một “thế hệ lạc lõng” như Gertrude Stein – một người chuyên viết chân dung văn học – đã đặt tên. Thiếu một cơ cấu truyền thống, bền vững về giá trị làm người, người ta đánh mất luôn cái ý thức về bản thân. Một chỗ dựa của tổ ấm gia đình; một môi trường xã hội thân thuộc, ổn định; thiên nhiên và cái nhịp điệu vĩnh cửu của nó đã hướng dẫn việc gieo trồng và gặt hái trong các nông trại; ý thức yêu nước được bồi dưỡng thường xuyên; những giá trị 152 153 đạo đức được nhấn mạnh bởi niềm tin tôn giáo và sự chiêm nghiệm cá nhân -tất cả những điều đó dường như đã bị Chiến tranh thế giới thứ I và hậu quả của nó làm băng hoại.

Nhiều cuốn tiểu thuyết, đáng chú ý là The Sun Also Rises (Rồi mặt trời cũng mọc – 1925) của Hemingway và This Side of Paradise (Phía bên này thiên đường – 1920) của Fitzgerald vẽ ra sự phí phạm và những ảo mộng tan tành của thế hệ lạc lõng. Trong bài thơ dài gây nhiều ảnh hưởng của T. S. Eliot, The Waste Land (Cõi hoang tàn – 1922), một sa mạc trơ trụi cầu mưa trong tuyệt vọng (sự phục sinh tâm linh) là biểu tượng của nền văn minh phương Tây.

Cuộc khủng hoảng thế giới vào thập niên 30 đã tác động đến hầu hết dân chúng Mỹ. Công nhân mất việc làm, nhà máy đóng cửa, doanh nghiệp và ngân hàng vỡ nợ; nhà nông không thể gặt hái, vận chuyển, hay bán được nông sản, đã không thể trả nợ và đành để mất trang trại của mình. Hạn hán ở miền Trung Tây biến “vựa lúa” này của nước Mỹ thành một vùng sa mạc khổng lồ. Nhiều nông dân bỏ xứ đến California kiếm việc, như John Steinbeck mô tả một cách sống động trong The Grapes of Wrath (Chùm nho uất hận – 1939). Ở đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế, một phần ba người Mỹ bị mất việc. Cơm bố thí, những khu ổ chuột và những đoàn quân tìm việc – những người thất nghiệp đi lậu theo những chuyến tàu chở hàng để kiếm việc làm – trở thành một mảng trong đời sống đất nước. Nhiều người cho rằng cuộc khủng hoảng là sự trừng phạt cho tội sùng bái vật chất thái quá và lối sống buông thả. Họ tin rằng những cơn bão làm đen tối bầu trời miền Trung Tây tạo nên ngày phán xét trong Cựu ước: “Những cơn xoáy lốc giữa ban ngày và bóng đêm bao phủ giữa ban trưa”.

 Cuộc đại khủng hoảng làm đảo điên cả thế giới. Nước Mỹ đã rao truyền một kiểu Kinh thánh kinh doanh vào thập niên 20. Giờ đây nhiều người Mỹ ủng hộ một vai trò tích cực hơn của chính phủ thể hiện trong chương trình Biện pháp mới của Tổng thống Franklin Roosevelt. Tiền của liên bang tạo nên công việc ở các công trình công cộng, việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và điện khí hóa nông thôn. Nghệ sĩ và trí thức được trả lương để sáng tác những bích họa, và những cẩm nang cho các bang. Những biện pháp này đã có hiệu quả, nhưng chỉ có sự gia tăng đều đặn các ngành công nghiệp của Chiến tranh Thế giới Thứ hai mới làm sống lại sự thịnh vượng. Sau khi Nhật tấn công Mỹ ở Trân Châu cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, những xưởng đóng tàu và nhà máy trước đó đã phải đóng cửa lại sống dậy nhộn nhịp sản xuất hàng loạt tàu chiến, máy bay, xe Jeep và quân trang, quân dụng. Sản xuất và thử nghiệm phục vụ chiến tranh dẫn đến những kỹ thuật mới, gồm cả bom nguyên tử. Chứng kiến vụ thử nổ bom nguyên tử đầu tiên, Ropert Oppenheimer, người lãnh đạo nhóm các nhà khoa học nguyên tử quốc tế trích dẫn một bài thơ tiếng Hindi một cách đầy tiên tri: “Tôi đang biến thành Tử thần, kẻ đập tan tành thế giới”.

TRÀO LƯU HIỆN ĐẠI

Làn sóng văn hóa lớn của trào lưu Hiện đại diễn đạt ý thức về cuộc sống hiện đại qua các loại hình nghệ thuật như là một sự đoạn tuyệt dứt khoát với quá khứ cũng như là với các truyền thống cổ điển của nền văn minh phương Tây, đã từ từ trỗi dậy ở châu Âu và Mỹ vào những năm đầu của thế kỷ 20. Cuộc sống hiện đại hình như khác biệt một cách cơ bản với lối sống truyền thống – khoa học hơn, tốc độ hơn, kỹ thuật hơn và máy móc hơn. Chủ nghĩa hiện đại bao gồm luôn cả những thay đổi này.

Trong văn học, Gertrude Stein (1874 – 1946) đã phát triển một sự tương đồng với nghệ thuật hiện đại. Là một cư dân 154 155 Paris và một nhà sưu tập nghệ thuật (bà và người em trai Leo đã mua các tác phẩm của Paul Cézanne, Paul Gauguin, Pierre August Renoir, Pablo Picasso, và nhiều họa sĩ khác), Stein đã từng giải thích rằng bà và Picasso đang làm một công việc giống nhau, ông ta trong lĩnh vực hội họa và bà trong văn học. Sử dụng từ vựng cụ thể, đơn giản thay thế, bà phát triển một loại thơ văn xuôi thử nghiệm, trừu tượng. Tính chất trẻ thơ trong từ vựng đơn giản của Stein gợi nhớ những màu nguyên, tươi sáng trong hội họa hiện đại, còn sự lặp lại của bà âm vang những hình thể được lặp đi, lặp lại của những bố cục tạo hình trừu tượng. Bằng cách bố trí sai ngữ pháp và dấu chấm câu, bà đạt được những ý nghĩa “trừu tượng” mới như trong tập thơ gây nhiều ảnh hưởng của bà là Tender Buttons (Những chiếc cúc áo dịu dàng – 1914), nhìn sự vật từ các góc độ khác nhau, như trong một bức tranh lập thể:

Một cái bàn một cái bàn không phải của tôi
trìu mến nó nghĩa là tất cả sự đều đặn
Nó giống như một sự đổi thay. Một cái bàn.
có ý nghĩa nhiều hơn một cái ly
hơn cả một tấm gương soi cao vòi vọi

Ý nghĩa, trong tác phẩm của Stein, thường lệ thuộc vào kỹ thuật, cũng như chủ đề thì ít quan trọng hơn cái hình thức trong nghệ thuật tạo hình trừu tượng. Chủ đề và kỹ thuật trở nên không thể tách rời nhau trong nghệ thuật tạo hình lẫn văn học thời đó. Luận điểm cho rằng hình thức như là một cái gì tương đương với nội dung là một hòn đá tảng đặt nền móng cho văn học và nghệ thuật sau Thế chiến II, được kết tinh trong chính thời kỳ này.

Sự cải tiến kỹ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp và cơ giới đã khơi gợi cảm hứng cho sự quan tâm mới đến kỹ thuật trong nhiều ngành nghệ thuật. Một thí dụ: Ánh sáng và đặc biệt là ánh sáng điện đã lôi cuốn nhiều nghệ sĩ và nhà văn hiện đại.

Bích chương quảng cáo thời kỳ này tràn ngập những hình ảnh về các ngôi nhà chọc trời rực rỡ ánh đèn và những chùm tia sáng chiếu ra từ đèn xe ô tô, rạp chiếu bóng, và những tháp canh để rọi sáng một không gian tối tăm bị cấm đoán bên ngoài, ám chỉ sự ngu dốt và truyền thống lỗi thời.

Nhiếp ảnh bắt đầu có được vị trí của một ngành nghệ thuật đi liền với những phát triển khoa học mới nhất. Nhiếp ảnh gia Alfred Stieglitz mở một phòng triển lãm ở New York. Và khoảng trước 1908 ông trưng bày các tác phẩm châu Âu mới nhất, bao gồm tranh của Picasso và những người bạn châu Âu khác của Gertrude Stein. Phòng triển lãm của Stieglitz tác động đến nhiều nhà văn và nghệ sĩ trong đó có William Carlos Williams, một trong những nhà thơ Mỹ nổi tiếng của thế kỷ 20. Williams đã tiếp nhận và phát triển độ trong sáng của nghệ thuật nhiếp ảnh trong hình tượng. Châm ngôn nghệ thuật của ông là “không có tư tưởng trừ phi là trong sự vật”.

Tầm nhìn và quan điểm cũng đã trở thành một khía cạnh thiết yếu của tiểu thuyết theo trào lưu hiện đại. Không còn phù hợp nữa cái lối kể thẳng tuột một câu chuyện dùng nhân vật ngôi thứ ba (hoặc tệ hơn) người kể chuyện can thiệp một cách vô nghĩa lý vào mọi chuyện. Cách kể chuyện trở nên cũng quan trọng như chính câu chuyện vậy.

Henry James, William Faulkner và nhiều nhà văn Mỹ khác thử nghiệm những quan điểm hư cấu (nhiều người vẫn còn đang làm như vậy). James thường hạn chế thông tin trong cuốn tiểu thuyết vào những gì mà một nhân vật riêng lẻ có lẽ đã biết. Cuốn tiểu thuyết The Sound and the Fury(Âm thanh và cuồng nộ – 1929) của Faulkner phân chia câu chuyện thành 4 156 157 phần, mỗi phần đưa ra cái nhìn của một nhân vật khác nhau (trong đó có một cậu bé tâm thần chậm phát triển).

Để phân tích tiểu thuyết và thơ ca trào lưu hiện đại, một trường phái “phê bình mới” xuất hiện ở Mỹ. Với cách sử dụng ngôn ngữ phê bình mới, các nhà phê bình này săn lùng “sự chứng ngộ” (một khoảnh khắc trong đó một nhân vật đột nhiên ngộ ra chân lý siêu phàm của một tình huống, “sự chứng ngộ” (epiphany) là một từ xuất phát từ sự xuất hiện của một vị thánh trước mắt những kẻ phàm trần); họ “nghiên cứu” và “làm sáng tỏ” một tác phẩm, hi vọng “soi sáng “ nó qua khả năng “thấu thị” của họ.

THƠ CA THỜI KỲ 1914 – 1945 NHỮNG THỂ NGHIỆM HÌNH THỨC

Ezra Pound 
(1885 – 1972)

Ezra Pound là một trong những nhà thơ Mỹ có nhiều ảnh hưởng nhất trong thế kỷ này. Từ năm 1908 đến 1920, ông sống ở London, giao du với nhiều văn sĩ, trong đó có William Butler Yeats – nhà thơ Anh nổi tiếng mà ông từng làm thư ký và T. S. Eliot, tác giả của cuốn The Waste Land mà ông biên tập và hiệu đính một cách nghiêm túc. Ông là cầu nối giữa nước Mỹ và nước Anh với tư cách là một chủ bút cộng tác cho tờ tạp chí Poetry quan trọng ở Chicago của Harriet Monroe. Ông cũng là con chim đầu đàn của một trường phái mới trong thơ ca được biết đến dưới tên gọi Chủ nghĩa hình tượng ủng hộ một lối biểu đạt rõ ràng, sinh động có tính hình tượng cao. Sau Chủ nghĩa hình tượng, ông là người đi đầu ở nhiều lối tiếp cận thơ ca khác nhau. Cuối cùng ông sang Ý sống, rồi bị mắc kẹt dưới chế độ Phát xít Ý.

Pound phát triển lý luận về chủ nghĩa hình tượng trong thư từ, tiểu luận, và trong một tuyển tập. Trong lá thơ gửi cho Monroe vào năm 1915, ông tranh luận cho một trường phái thơ có âm hưởng hiện đại, giàu chất tạo hình, tránh “rập khuôn và sáo ngữ” (1913). Trong “A Few Don’ts of an Imagiste” (Một số điều không nên làm đối với một tác giả theo chủ nghĩa hình tượng – 1913), ông định nghĩa “hình tượng” như một cái gì đó diễn đạt sự phức hợp tri thức và xúc cảm trong một khoảnh khắc thời gian. Tuyển tập năm 1914 tựa đề Des Imagistes (Các nhà thơ theo trường phái Hình tượng) của Pound về 10 nhà thơ đã giới thiệu những ví dụ về thơ hình tượng của những nhà thơ nổi tiếng như William Carlos Williams, H. D. (Hilda Doolittle) và Amy Lowell.

Mối quan tâm và tầm hiểu biết của Pound hết sức rộng lớn, bao quát nhiều lĩnh vực. Các tác phẩm phóng tác, các bản dịch xuất sắc của ông dù đôi chỗ còn sai sót, đã giới thiệu tiềm năng văn học mới từ các nền văn hóa cho các nhà văn trẻ. Tác phẩm mà ông dành trọn đời mình để viết và xuất bản cho đến tận ngày chết là The Cantos (Những bài ca). Cuốn sách có những đoạn xuất sắc, nhưng những điển tích văn chương và nghệ thuật của nhiều thời kỳ và nhiều nền văn hóa đã khiến tác phẩm trở nên rối rắm, khó hiểu. Thơ của Pound nổi tiếng về những hình tượng sống động rõ ràng, có tính chất tạo hình cao, tiết tấu mới mẻ, và những dòng thơ bất thường, thông minh và mạnh mẽ, chẳng hạn như câu sau đây trong bài “Canto LXXXI”, “Con kiến là một quái vật nhân mã đầu trong thế giới rồng của nó”, hoặc trong những bài thơ lấy cảm hứng từ thơ haiku, Nhật Bản, như là “In a Station of the Metro” (Ở một ga điện ngầm – 1916):

Sự xuất hiện những khuôn mặt này trong đám đông;
Tựa những cánh hoa trên một cành cây đen, ẩm ướt.

T.S. Eliot
(1888 -1965)

Thomas Stearn Eliot sinh ở St. Louis bang Missouri trong một gia đình danh gia vọng tộc ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ. Ông được hưởng một nền giáo dục tốt nhất so với bất cứ nhà văn lớn nào cùng thời. Ông học ở Đại học Harvard, Sorbonne và trường Merton của Đại học Oxford. Ông còn học tiếng Phạn và triết học phương Đông, một hệ tư tưởng ảnh hưởng nhiều đến thơ ông. Giống như Pound, một người bạn của mình, ông đến London rất sớm và trở thành chủ soái của Tao đàn văn chương ở đây. Ông là một trong những nhà thơ được trọng vọng nhất lúc sinh thời. Thơ ông hiện đại, có vẻ như phi lý và trừu tượng, thực sự là một dòng thơ dấn thân, lật đổ mọi khuôn vàng thước ngọc và có tác động cách mạng trong thơ ca. Ông cũng viết tiểu luận và kịch gây nhiều ảnh hưởng. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của các truyền thống xã hội và văn học đối với nhà thơ hiện đại.

Với tư cách là một nhà phê bình, Eliot nổi tiếng với công thức của ông về “mối liên hệ khách quan” mà ông đã mô tả trong cuốn The Sacred Wood (Rừng thiêng) như là một phương tiện diễn đạt cảm xúc thông qua “một tập hợp các sự vật, một tình huống và một chuỗi các sự kiện”, có thể trở thành công thức cho cảm xúc đặc biệt đó. Những bài thơ như “The Love Song of J. Alfred Prufrock” (Bản tình ca của J. Anfred Prufrock – 1915), thể hiện cách tiếp cận này. Lúc Prufrock già nua, vô dụng, ông cho rằng ông đã “đong lượng cuộc đời mình bằng những chiếc muỗng café”. Vậy đấy, người ta có thể dùng muỗng café để phản ánh sự tồn tại hẩm hiu, ảm đạm về một đời người lãng phí như thế đấy.

Trong đoạn mở đầu nổi tiếng của bài thơ “Prufrock”, Eliot đưa độc giả vào các lối ngõ hào nhoáng, cũng giống như cuộc sống hiện đại, không có câu trả lời cho những vấn đề mà chính cuộc đời đặt ra.

Nào chúng ta đi, anh và tôi.
Khi bóng chiều lan tỏa khắp bầu trời
Như một bệnh nhân bị gây mê trên bàn mổ,
Nào chúng ta đi, qua những con đường gần như hoang vắng,
Những nơi ẩn cư lặng lẽ
Của những đêm không ngủ trôi qua trong những khách sạn rẻ tiền
chỉ trọ một đêm
Và những quán ăn đầy mùn cưa với những vỏ sò;
Những con đường chạy như một cuộc tranh luận dài buồn tẻ
Có ý định xảo quyệt
Đưa anh đến một vấn đề nan giải
Ồ, đừng hỏi, “Cái gì đấy?”
Nào chúng ta hãy đi thăm!

Những hình tượng tương tự như vậy cũng tràn ngập trong The Waste Land (Cõi hoang tàn[1] – 1922) vọng lại cái âm hưởng địa ngục của Dante ám chỉ những con đường đông đúc của London trong khoảng thời gian Thế chiến I:

Thành phố không có thật,
Dưới màn sương nâu một bình minh mùa đông
Đám đông tràn qua cầu London, sao nhiều thế
Tôi đã không nghĩ rằng cái chết đã tàn hủy nhiều
đến thế…
(I, 60-63)

Cái nhìn của The Waste Land thực chất có tính cách tiên tri và tầm bao quát khắp thế giới:

Những rạn nứt những cải tổ và bùng nổ
trong không gian tím nhạt
Đổ sụp những tháp cao
Ở Jerusalem, Athens và Alexandria
Vienna, London.
Đâu có thật
(V, 373 -377)

Những bài thơ quan trọng khác của Eliot gồm có “Gerontion” (Cảnh già – 1920), dùng hình ảnh một ông lão làm biểu tượng cho sự cằn cỗi, già nua của xã hội châu Âu. “The Hollow Men” (Những con người rỗng – 1925) là một bài ca truy điệu hết sức cảm động về cái chết tinh thần của nhân loại đương thời. Ash-Wednesday (Ngày thứ tư lễ tro – 1930) thể hiện tư tưởng của ông dứt khoát hướng về Giáo hội Anh giáo để tìm ý nghĩa trong cuộc sống con người. Và Four Quartets (Bốn tứ tấu khúc – 1943) là một suy ngẫm thử nghiệm phức tạp và chủ quan cao độ về những chủ đề muôn thuở như thời gian, bản chất của cái tôi và nhận thức tâm linh. Thơ của ông, đặc biệt là những tác phẩm táo bạo, cách tân thời kỳ đầu đã ảnh hưởng đến nhiều thế hệ sau đó.

Robert Frost
(1874 -1963)

Robert Lee Frost sinh ở California nhưng lớn lên ở một trang trại vùng Đông Bắc Hoa Kỳ cho đến năm 10 tuổi. Cũng như Eliot và Pound, ông sang Anh, bị lôi cuốn bởi các phong trào mới mẻ trong làng thơ ở đó. Là một nhà thơ đọc thơ trước công chúng có tài năng bẩm sinh, ông gặt hái nhiều thành công qua những chuyến đi của mình. Ông đã đọc một bài thơ độc đáo trong lễ nhậm chức của Tổng thống Kennedy vào năm 1961 góp phần làm bùng lên sự quan tâm đến thi ca trong cả nước. Sự nổi danh của ông cũng dễ giải thích, ông viết về đời sống trang trại truyền thống, khêu gợi hoài niệm về những gì đã qua. Thơ của ông quan tâm đến mọi tạo vật trong đời sống –hái táo, những bức tường đá, hàng rào, những con đường quê. Thi pháp của Frost trong sáng và biểu cảm: ông hiếm khi dùng những ám chỉ bóng gió rởm đời hay sự tỉnh lược. Thơ ca có vần điệu của ông cũng là một yếu tố lôi cuốn được độc giả đại chúng.

Tác phẩm của Frost thường có vẻ bề ngoài rất đơn giản. Nhiều bài thơ gợi lên ý nghĩa sâu xa. Ví dụ, bằng một sự phối hợp vần gần như thôi miên trong mô tả về một chiều tối đầy tuyết rơi, yên tĩnh, Frost đã gợi nên bước đi hoàn toàn không phải là không được chờ đợi của cái chết. Đây là một đoạn trong “Stopping by Woods on a Snowy Evening” (Dừng chân bên cánh rừng một chiều tuyết rơi – 1923):

Cánh rừng này của ai mà ta nghĩ rằng mình đã biết.
Dù cho nhà của ông ta ở giữa làng;
Ông sẽ chẳng thấy ta nghỉ lại nơi đây
Để nhìn cánh rừng ông tuyết phủ đầy
Con ngựa nhỏ của ta chắc nghĩ rằng ta thật lạ
Dừng chân nơi đây không thấy bóng một ngôi nhà
Giữa cánh rừng và mặt hồ băng giá
Vào một buổi chiều đen tối nhất trong năm.
Nó rung những cái chuông trong bộ yên cương
Như muốn hỏi xem có sự bất thường
Chỉ có một âm thanh nhẹ lướt
Của ngọn gió chiều và những đóa tuyết rơi
Cánh rừng sao mà đáng yêu, thẳm sâu dần sẫm lại
Nhưng ta còn nhiều lời hứa phải giữ mãi
Còn nhiều dặm đường phải đi, trước khi ta ngủ lại
Còn nhiều dặm đường phải đi, trước khi ta ngủ lại.

Wallace Stevens
(1879 -1955)

Sinh ra ở Pennsylvania, Wallace Stevens được đào tạo ở Đại học Harvard và trường Luật, Đại học New York. Ông hành nghề luật sư ở New York từ năm 1904 đến 1916, cũng là khoảng thời gian ông tham gia các hoạt động nghệ thuật và thi ca ở đó. Khi dời đến Hartford bang Connecticut, để làm một nhà điều hành bảo hiểm ở đây vào năm 1916, ông lại tiếp tục làm thơ. Cuộc đời của ông quả là khác thường vì sự phân thân của nó: Đồng sự của ông trong công ty bảo hiểm không hề biết ông là một nhà thơ lớn. Trong đời sống riêng tư, ông tiếp tục phát triển những tư tưởng cực kỳ phức tạp về một trật tự thẩm mỹ, một công việc ông đã tiến hành suốt cuộc đời được thể hiện trong những cuốn sách được đặt tên một cách thích hợp nhưHarmonium (Đàn đạp hơi, ấn bản năm 1931 được bổ sung thêm), Ideas of Order (Ý tưởng của trật tự – 1935), và Parts of a World (Các phần của thế giới – 1942). Những bài thơ hay nhất của ông là “Sunday Morning” (Sáng chủ nhật), “Peter Quince at the Clavier” (Peter Quince[2] bên phím đàn), “The Emperor of Icecream” (Hoàng đế kem), “Thirteen Ways of Looking at a Blackbird” (Mười ba cách ngắm nhìn một con chim đen) và “The Idea of Order at Key West” (Ý tưởng về trật tự ở Key West[3]).

Thơ của Stevens đào sâu những chủ đề của trí tưởng tượng, sự cần thiết của hình thức thẩm mỹ và niềm tin rằng trật tự của nghệ thuật tương hợp với một trật tự trong tự nhiên. Từ ngữ của ông phong phú và đa dạng: bút pháp của ông vẽ được những cảnh sắc nhiệt đới rực rỡ trăm hoa khoe sắc nhưng cũng tạo ra được những hình trang trí nhỏ khô khan, khôi hài và mai mỉa.

Một số bài thơ của ông sử dụng văn hóa dân gian, trong khi những bài thơ khác chế giễu giới quý phái hoặc bay thẳng lên thiên đường trí thức. Ông nổi tiếng bởi lối chơi chữ vui nhộn của mình. “Rồi, với âm thanh như của cái trống lục lạc, đám dân Byzantine tùy tùng của cô xuất hiện”.

Thơ của Stevens dồi dào những chiêm nghiệm nội tâm, sâu sắc một cách đáng kinh ngạc. Đôi lúc ông còn trêu đùa độc giả, như trong “Disillusionment of Ten O’Clock” (Vỡ mộng lúc 10 giờ – 1931):

Những ngôi nhà ma ám
Bởi những chiếc áo ngủ trắng
Không có cái nào màu xanh lá cây
Hay màu tím với những vòng tròn xanh
Hay màu xanh với những vòng tròn vàng
Hay màu vàng với những vòng tròn xanh da trời
Chúng chẳng xa lạ gì
Với những chiếc vớ ren
Những dây lưng tua rủ
Người ta sẽ không
Mơ về những con khỉ chó và đóa hoa nhạn lai hồng
Chỉ có đây kia một thủy thủ già
Say xỉn và ngủ vùi trong khoang hành lý
Bắt những con cọp to
Trong tiết trời rực đỏ

Bài thơ này có vẻ như than phiền về những cuộc đời quá trần tục thiếu hẳn tính bay bổng tưởng tượng (những chiếc áo ngủ trắng trơn), nhưng lại khơi dậy những hình ảnh sinh động trong đầu độc giả. Cuối cùng anh chàng thủy thủ say, chẳng biết gì đến phép tắc lại “bắt được những con hổ” – ít nhất thì cũng trong giấc mơ của anh. Bài thơ cho thấy óc tưởng tượng của con người – của độc giả hay thủy thủ – sẽ luôn tìm được một lối đi đầy sáng tạo.

William Carlos Williams
(1883 – 1963)

William Carlos Williams là một bác sĩ nhi khoa hành nghề trong suốt cuộc đời. Ông giúp hơn 2000 đứa trẻ chào đời và làm thơ trên giấy kê đơn thuốc. Williams là bạn học của nhà thơ Ezra Pound và Hilda Doolittle, và những bài thơ đầu tay của ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Hình tượng. Sau này ông tiếp tục đi đầu trong việc sử dụng ngôn ngữ nói trong thi ca. Khả năng thẩm âm tuyệt vời của ông đối với nhịp điệu tự nhiên của tiếng Anh – Mỹ đã giúp thơ ca Mỹ thoát khỏi nhịp iambic[4] thống trị thơ ca tiếng Anh kể từ thời Phục hưng. Sự cảm thông của ông đối với người lao động bình thường, trẻ con và những chuyện đời thường trong những khung cảnh đô thị hiện đại khiến cho thơ của ông đặc biệt lôi cuốn và dễ cảm thụ. Bài thơ The Red Wheelbarrow (Chiếc xe đẩy màu đỏ 1923), giống như một bức tranh tĩnh vật Hà Lan, tìm thấy sự thú vị và vẻ đẹp trong những đồ vật bình dị hàng ngày:

Quá nhiều phụ thuộc
vào
chiếc xe đẩy
màu đỏ
phủ một lớp nước
mưa
bên cạnh con gà
trắng

Williams phát triển phong cách thơ tự nhiên, nhẹ nhàng như hơi thở. Dưới ngòi bút của ông, thơ ca không trở thành một tác phẩm nghệ thuật toàn bích như trong thơ Stevens, hay cẩn thận tái tạo lại những biến cố theo phong cách Wordsworth như trong thơ Frost. Đối với ông, mỗi bài thơ sẽ nắm bắt một khoảnh khắc trong đời như một tấm hình chụp ngẫu hứng – một khái niệm ông có từ những nhiếp ảnh gia và họa sĩ ông đã gặp ở những phòng tranh như của Stieglitz ở New York. Cũng như tác phẩm nhiếp ảnh, những bài thơ của ông thường gợi ý tới những khả năng và sự quyến rũ tiềm ẩn của cuộc sống, như trong bài “The Young Housewife” (Bà nội trợ trẻ – 1917).

Mười giờ sáng, người vợ trẻ đi qua lại trong
tấm áo ngày thường sau bức vách gỗ
trong ngôi nhà của đấng phu quân
Tôi lướt qua trong chiếc xe hơi, nghe lòng cô đơn lạ.
Rồi nàng ta ra phố
gọi một anh bán kem, một người bán cá
lại đứng chờ
Rụt rè, không áo nịt, tay cố giữ những lọn tóc rối bay
và tôi ngầm so nàng
với một chiếc lá rơi.
Xe tôi lao đi không tiếng động làm vỡ
một chiếc lá khô khi tôi cúi chào
nàng và lướt đi
với một nụ cười.

Ông cho rằng thơ mình hết sức “khách quan” nhằm đề cao tầm quan trọng của những vật thể sinh động, cụ thể. Thơ ông thành công trong nắm bắt và thể hiện những sự kiện gây xúc cảm, tác động tức thời và tạo ảnh hưởng đến phong cách “Beat” vào đầu thập niên 50.

Cũng như Eliot và Pound, Williams cũng thử viết sử thi, nhưng trong lúc sử thi của họ sử dụng nhuần nhuyễn các điển tích hướng đến một số ít độc giả có học vấn cao, thì Williams lại ưa viết cho độc giả phổ thông hơn. Dù từng học tập ở nước ngoài, ông đã quyết định sống ở Mỹ. Thiên sử thi Paterson (5 tập, 1946 – 1958) ca ngợi thành phố quê hương Paterson, bang New Jersey của ông, được xem như tiểu sử tự thuật của “bác sĩ Parteson”. Trong tác phẩm, Williams xếp đặt cạnh nhau những đoạn tình ca, văn xuôi, thư từ, tiểu sử tự thuật, những bài báo và những sự kiện lịch sử. Lối trình bày với nhiều khoảng trống để giấy trắng, gợi nên chủ đề về con đường rộng mở của văn học Mỹ và một ý niệm về những viễn cảnh mới mở rộng ngay cả với những người nghèo đi dạo chơi trong công viên vào ngày chủ nhật.

Cũng như nhân vật hóa thân của Whitman trong Leaves of Grass, bác sĩ Paterson cảm thấy hoàn toàn thoải mái giữa những người lao động:

·        mùa xuân muộn
một chiều chủ nhật!
theo lối mòn đến bờ vách đá
chính anh ta giữa những người xa lạ
·        dẫm lên đây cũng những tảng đá này
và trên đó, họ trượt chân khi bước
168 169
những con chó của họ đuổi theo!
cười la, gọi nhau í ới
Chờ tôi với!
(II, i, 14 – 23)

VĂN HỌC GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI

Robinson Jeffers
(1887 – 1962)

Phần lớn các nhà thơ Mỹ vào loại tầm cỡ và có nhãn quan thiên tài đều xuất hiện vào những năm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, trong số họ có các nhà thơ từ vùng Bờ Tây, phụ nữ, và người Mỹ Da đen. Giống như nhà văn John Steinbeck, Robinson Jeffers sống ở California và viết về những người Tây Ban Nha làm thuê trong các trang trại, dân Da đỏ và những truyền thống pha trộn của họ và về vẻ đẹp mê hoặc của vùng đất này. Học hỏi từ những tác phẩm cổ điển và đọc nhiều về Freud, ông đã khai thác và tái tạo những chủ đề dựa trên bi kịch cổ đại Hy Lạp lấy bối cảnh là phong cảnh hoang sơ vùng duyên hải. Ông rất nổi tiếng với những bi kịch tự sự như Tamar (1924), Roan Stallion (1925), The Tower Beyond Tragedy (Tháp vượt ngoài bi kịch – 1924) – một sự tái tạo vở bi kịch Agamemnon[5] của Aeschylus – và Medea[6] (1946), dựa vào bi kịch của Euripides.

Edward Estlin Cummings 
(1894 – 1962) 

Edward Estlin Cummings, thường được biết đến dưới tên e. e. cummings – người đã viết những vần thơ lôi cuốn, mới mẻ hết sức nổi bật bởi tính hài hước, sự duyên dáng, niềm hân hoan đối với tình yêu, sự lãng mạn đa tình, và sự thể nghiệm với cách chấm câu và kiểu cách tạo hình trên trang giấy. Cũng là một họa sĩ, ông là nhà thơ Mỹ đầu tiên nhận ra rằng thơ ca chủ yếu là một nghệ thuật để nhìn bằng mắt chứ không phải thứ để đọc bằng miệng. Những bài thơ của ông sử dụng nhiều khoảng trống và cách xuống dòng bất thường, cũng như việc bỏ hết những chữ viết hoa.

Cũng như Williams, Cummings cũng dùng ngôn ngữ nói, hình tượng sắc sảo mạnh bạo, và kho ngôn từ của nền văn hóa bình dân. Và cũng như Williams, ông có một cách trình bày sáng tạo, tự do. Bài thơ “in Just” của ông (1920) mời gọi độc giả điền vào nó những ý tưởng bị rơi mất:

mùa xuân khi thế giới ngập bùn –
ngọt ngào người bán bóng bay bé nhỏ
chân khập khiễng
huýt sáo xa và nhỏ
rồi bọn trẻ con chạy đến
[7]
chơi trò bắn bi và bắt cướp
và thế là
xuân đến

Hart Crane
(1899 -1932)

Hart Crane là một nhà thơ trẻ bị dày vò đau khổ đến mức phải tự tử vào tuổi 33 bằng cách nhảy xuống biển. Ông để lại những bài thơ xuất sắc trong đó có một sử thi The Bridge (Cây cầu – 1930), lấy cảm hứng từ cây cầu Brooklyn, trong đó ông cố gắng một cách đầy tham vọng để điểm lại toàn bộ nền văn hóa Mỹ và viết lại về nó bằng những lời lẽ xác tín. Phong cách quyến rũ, đầy nhiệt tình của ông đạt hiệu quả cao nhất trong những bài thơ ngắn như là “Voyages” (Những chuyến du hành – 1923, 1926) và “At Melville’s Tomb” (Bên ngôi mộ của Melville – 1926), mà những câu kết trong bài thơ cũng là một câu thích hợp khắc ghi trên chính bia mộ của Crane:

bài ai điếu không đánh thức được người
thủy thủ
Bóng mát hoang đường này chỉ biển khơi giữ được

Marianna Moore
(1887 -1972)

Marianna Moore từng viết rằng thơ ca là “những khu vườn tưởng tượng trong đó có những con ếch thật”. Những bài thơ của bà là một cách để bà đàm đạo, nhưng lại khéo léo và tinh tế trong cách gieo vần, cực kỳ chính xác trong mô tả và trong việc tái hiện các sự kiện khoa học và lịch sử. Được mệnh danh là “nhà thơ của nhà thơ”, bà ảnh hưởng đến các nhà thơ đi sau, trong đó có người bạn trẻ của bà là Elizabeth Bishop.

Langston Hughes
(1902 -1967)

Một trong nhiều nhà thơ tài năng của trường phái Phục hưng Harlem vào thập kỷ 20 -cùng với James Weldon Johnson, Claude McKay, Countee Cullen và những người khác – là Langston Hughes. Ông đưa vào thơ mình nhịp điệu nhạc Jazz của người Mỹ Da đen và là một trong những tác gia Da đen đầu tiên sống khá giả nhờ viết lách. Thơ của ông là sự kết hợp tuyệt vời giữa nhạc Blue, thánh ca, ngôn ngữ trò chuyện và truyền thống dân gian.

Là một nhà hoạt động văn hóa có nhiều ảnh hưởng, Hughes xuất bản nhiều tuyển tập của các tác giả Da đen và khởi xướng các nhóm kịch nghệ Da đen ở Los Angeles và Chicago cũng như ở New York. Ông cũng viết nhiều bài báo có tác động sâu sắc, sáng tạo ra nhân vật Jesse B. Semple (“đơn giản”) để bày tỏ những luận điểm phê phán xã hội. Một trong những bài thơ đáng yêu nhất của ông, bài “The Negro Speaks of Rivers” (Người Da đen nói chuyện với các dòng sông – 1921, 1925) là một trường ca lớn, cuộn chảy trong lòng nó di sản châu Phi và của toàn nhân loại. Bài thơ ngụ ý rằng như những con sông lớn trên thế giới, nền văn hóa Phi châu sẽ tồn tại và ngày càng sâu thẳm:

Tôi biết những dòng sông:
Tôi biết những dòng sông cổ xưa như trái đất và
già hơn dòng máu của nhân gian trong
huyết quản con người

Tâm hồn tôi trở nên sâu thẳm như những dòng sông
Tôi tắm trong dòng sông Euphrates trong bình minh son trẻ
Và dựng lều tôi gần dòng Congo
rồi nó ru tôi vào giấc ngủ
Tôi nhìn xuống dòng sông Nile và
dựng lên những Kim tự tháp trên chính dòng sông
Tôi đã nghe tiếng hát con sông Mississippi
Khi Abe Lincoln xuôi dòng xuống New Orleans,
và tôi thấy lòng sông bùn lầy
trở nên vàng óng ả bởi hoàng hôn.

Tôi biết những dòng sông
Những dòng sông cổ xưa và mờ tối
Tâm hồn tôi bỗng trở nên sâu thẳm như những dòng sông

VĂN XUÔI 1914 – 1945 CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC MỸ

Mặc dầu văn xuôi Mỹ giữa hai cuộc đại chiến trải qua nhiều cuộc thử nghiệm với quan điểm và hình thức mới, nhìn toàn cục, người Mỹ có xu hướng viết văn bằng một cái nhìn hiện thực hơn các nhà văn châu Âu. Tiểu thuyết gia Ernest Hemingway viết về chiến tranh, săn bắn, và những theo đuổi khác nhau của giới mày râu với một văn phong trong sáng gần như giản đơn. William Faulkner lấy bối cảnh của vùng Mississippi nóng bỏng và cát bụi để đào sâu các vấn đề của nhiều thế hệ và nhiều nền văn hóa trong những cuốn tiểu thuyết miền Nam đầy sức mạnh của ông, và Sinclair Lewis miêu tả cuộc sống trưởng giả với sự trong sáng mỉa mai.

Tầm quan trọng của việc đối mặt với thực tế trở thành một chủ đề nổi bật vào những thập kỷ 20 và 30. Những nhà văn như Scott Fitzgerald và nhà viết kịch Eugene O’Neil mô tả trở đi trở lại cái bi kịch chờ đợi những ai sống với những giấc mơ hời hợt, nông cạn.

F. Scott Fitzgerald
(1896 – 1940)

Cuộc đời của Francis Scott Key Fitzgerald giống như một câu chuyện cổ tích. Trong thời gian thế chiến thứ I, ông gia nhập bộ binh Hoa Kỳ và say mê một cô gái vừa đẹp, vừa giàu có tên là Zenda Sayre, sống gần Montgomery, Alabama, nơi ông đóng quân. Một thời gian sau Zelda hủy bỏ việc đính hôn vì ông nghèo. Sau chiến tranh ông giải ngũ và đến New York tìm kiếm cơ may ở nghiệp văn chương để có thể cưới người trong mộng.

Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông This Side of Paradise (Phía bên này Thiên đàng 1920), gây được tiếng vang, bán rất chạy và ở vào tuổi 24 họ lấy nhau. Cả hai người đều không có khả năng chịu đựng được những sức ép của sự thành công và danh tiếng. Họ thi nhau ném tiền qua cửa sổ. Rồi họ sang Pháp năm 1924 để tiết kiệm chi tiêu và bảy năm sau trở về Mỹ. Thần kinh Zelda trở nên bất ổn và phải nhập viện điều trị; bản thân Fitzgerald trở thành một kẻ nát rượu và chết trẻ trong khi đang viết kịch bản phim.

Fitzgerald có được vị trí vững vàng trong văn đàn Mỹ chủ yếu nhờ vào cuốn tiểu thuyết The Great Gatsby (Gatsby vĩ đại – 1925), một câu chuyện được viết bằng một ngòi bút trác tuyệt với cấu trúc chặt chẽ về giấc mơ Mỹ của một người muốn đạt đến thành công bằng chính sức mình. Nhân vật chính, Jay Gatsby bí ẩn, đã nhận ra cái giá đắt kinh khủng của thành công hiểu theo nghĩa thành đạt cá nhân và tình yêu. Các tác phẩm thuộc vào loại hay khác bao gồm Tender Is the Night (Đêm dịu dàng – 1934), về một nhà phân tâm học trẻ bị đày đọa trong cuộc sống vợ chồng với một người đàn bà tính khí thất thường, và một vài truyện ngắn trong tuyển tập Flappers and Philosophers (Những cô gái tân tiến và các nhà triết học – 1920), Tales of the Jazz Age (Truyện kể về thời đại nhạc Jazz – 1922) và All the Sad Young Men (Tất cả những chàng trai sầu thảm – 1926). Hơn bất kỳ một nhà văn nào khác, Fitzgerald nắm bắt được cuộc sống vô vọng, bất định của thập niên 20. Cuốn tiểu thuyết The Side of Paradise của ông báo hiệu tiếng nói của giới trẻ hiện đại Mỹ. Cuốn tiểu thuyết thứ hai của ông The Beautiful and Damned (Người đẹp và kẻ đọa đầy – 1922), tiếp tục khám phá sự ngông cuồng tự hủy hoại mình của con người trong thời đại ông.

Những phẩm chất đặc biệt của Fitzgerald bao gồm một phong cách chói sáng hoàn toàn thích hợp với chủ đề của ông về sự hào nhoáng cám dỗ. Một đoạn nổi tiếng từ The Great Gastby đã tóm tắt một cách tài tình một khoảng thời gian dài:

“Nhạc vọng lại từ ngôi nhà của người hàng xóm trong suốt những đêm hè. Trong những khu vườn xanh tốt của ông, những người đàn ông và các cô gái đến và đi như đàn mối giữa tiếng thầm thì, rồi rượu sâm banh và những ngôi sao”.

Ernest Hemingway
(1899 -1961)

Ít có nhà văn nào sống cuộc đời sống động, thú vị và nhiều mặt như Ernest Hemingway, một người mà sự nghiệp cứ như thoát thai từ một trong những cuốn tiểu thuyết phiêu lưu của mình. Cũng như Fitzgerald, Dreiser và nhiều tiểu thuyết gia tài năng khác của thế kỷ 20, Hemingway xuất thân vùng Trung Tây Hoa Kỳ. Sinh ở Illinois, Hemingway trải qua thời thơ ấu tươi vui với những chuyến đi săn và câu cá trong những kỳ nghỉ hè ở Michigan. Ông tình nguyện vào một đơn vị cứu thương ở Pháp trong Thế chiến I, rồi bị thương và phải điều trị sáu tháng. Sau chiến tranh ông làm phóng viên thời chiến thường trú ở Paris. Ở đây ông đã gặp nhiều nhà văn Mỹ xa xứ như Sherwood Anderson, Ezra Pound, F. Scott Fitzgerald, và Gertrude Stein. Đặc biệt, Stein đã ảnh hưởng lớn đến phong cách viết văn giản dị của ông.

Sau cuốn The Sun Also Rises (1926) mang lại thành công vang dội, ông viết bài tường thuật về cuộc nội chiến Tây Ban Nha, Chiến tranh thế giới thứ II, và chiến sự ở Trung Quốc vào thập niên 40. Trong một cuộc đi săn ở một hoang mạc châu Phi, chiếc máy bay của ông bị tai nạn và ông bị thương nặng. Tuy thế, ông vẫn ham thích săn bắn và câu cá thể thao, những hoạt động tạo nguồn cảm hứng cho những tác phẩm xuất sắc của ông. The Old Man and The Sea (Ông già và biển cả – 1952), một cuốn tiểu thuyết ngắn, thi vị về một ông lão đánh cá nghèo, dũng cảm bắt được một con cá khổng lồ rồi nó bị đàn cá mập rỉa sạch thịt, đã mang lại cho ông giải thưởng Pulitzer vào năm 1953; năm sau ông nhận được giải Nobel. Bệnh tật, nền tảng gia đình chông chênh và cái ý nghĩ ám ảnh rằng ông đã mất hết khả năng sáng tạo, khiến ông mất tinh thần. Hemingway đã dùng súng tự sát năm 1961.

Có lẽ Hemingway là nhà văn Mỹ nổi tiếng nhất của thế kỷ này. Những tình cảm của ông về căn bản, là rất nhân bản và phi chính trị, và với ý nghĩa này, ông thuộc về nhân loại. Văn phong cực kỳ đơn giản làm cho những cuốn tiểu thuyết của ông trở nên dễ cảm thụ dù chúng thường được đặt trong những khung cảnh xa lạ với độc giả Mỹ. Là một người tin vào “sự tôn thờ kinh nghiệm”, Hemingway thường để cho nhân vật của mình vướng vào những tình huống nguy hiểm để bộc lộ bản chất bên trong của họ; trong những tác phẩm sau này của ông, mối hiểm nguy đôi lúc cũng là một cơ hội để khẳng định tính cách nam nhi của nhân vật.

Cũng như Fitzgerald, Hemingway trở thành người phát ngôn cho thế hệ mình. Nhưng thay vì vẽ ra sự cám dỗ chết người như Scott Fitzgerald, người chưa từng tham gia Thế chiến I đã làm, Hemingway viết về chiến tranh, cái chết, và về cái “thế hệ lạc lõng” của lớp người sống sót bi quan, yếm thế sau chiến tranh. Nhân vật của ông không phải là những người mơ mộng mà là những tay đấu bò can trường, những người lính và vận động viên. Nếu là trí thức, họ thường mang những vết thương chí mạng và không còn ảo tưởng gì cả.

Điểm đặc trưng trong cá tính sáng tạo của ông là một văn phong trong sáng, không có lấy một từ thừa. Ông thường sử dụng cách nói giảm nhẹ. Trong A Farewell to Arms (Giã từ vũ khí – 1929), nhân vật nữ chết lúc sinh con đã nói “Em chả sợ chút nào. Nó chỉ là trò đùa đê tiện”. Ông đã từng so sánh những gì mình viết với những tảng băng trôi: “Có đến bảy phần tám của nó ở dưới nước để một phần có thể phô bày”. Đôi tai tinh tường với ngôn ngữ đời thường và sự mô tả chính xác của Hemingway bộc lộ trong những truyện ngắn đặc sắc của ông, chẳng hạn “The Snows of Kilimanjaro” (Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro) và “The Short Happy Life of Francis Macomber” (Hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber”. Thật ra, các ý kiến phê bình thường xem những truyện ngắn của ông ngang hàng hoặc cao hơn những cuốn tiểu thuyết của ông. Những cuốn tiểu thuyết hay nhất của ông gồm The Sun Also Rises, về cuộc sống suy đồi của những người lưu vong sau Thế chiến I; A Farewell to Arms, về một chuyện tình bi đát của một người lính Mỹ và một nữ y tá người Anh trong chiến tranh; For Whom the Bell Tolls (Chuông nguyện hồn ai – 1940) trong bối cảnh cuộc nội chiến Tây Ban Nha và The Old Man and The Sea.

William Faulkner
(1897 – 1962)

Sinh ra trong một gia đình miền Nam lâu đời, William Harrison Faulkner lớn lên ở Oxford bang Mississippi, nơi ông sống hầu như suốt cả cuộc đời. Faulkner đã tạo nên một vùng đất hoàn toàn hư cấu, quận Yoknapatawpha, được nhắc đến trong nhiều tiểu thuyết, cùng với nhiều dòng họ, có những quan hệ đan xen kéo dài nhiều thế hệ. Quận Yoknapatawpha, với thủ phủ “Jefferson”, lấy khuôn mẫu của Oxford bang Mississippi và vùng phụ cận của nó. Faulkner tái tạo lịch sử của vùng đất và nhiều chủng tộc – người Da đỏ, người Mỹ Da đen, người Mỹ gốc Âu và những người pha trộn nhiều dòng máu khác sống trên vùng đất ấy. Là một nhà văn cách tân táo bạo, Faulkner thử nghiệm một trình tự kể chuyện với những quan điểm và giọng điệu khác nhau (bao gồm cả những người ngoài lề xã hội, trẻ con và những người thất học) một cách xuất sắc và một phong cách baroque đạt trình độ nghệ thuật cao và phong phú, xây dựng trên những câu rất dài đầy những thành phần phụ phức tạp.

Những cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của Faulkner bao gồm The Sound and the Fury (Âm thanh và cuồng nộ – 1929) và As I Lay Dying (Khi tôi hấp hối – 1930), hai tác phẩm thuộc trào lưu hiện đại thể nghiệm quan điểm và tiếng nói điều tra về những gia đình miền Nam sống dưới sức ép của việc mất đi một thành viên trong gia đình; Light in August (Ánh sáng tháng Tám – 1932), viết về những quan hệ phức tạp và tàn bạo giữa một người đàn bà Da trắng và một người đàn ông Da đen; và Absalom, Absalom! (1936), có lẽ là cuốn sách hay nhất của ông, viết về sự vươn lên của một người chủ trang trại mang ý hướng tự lập và sự sụp đổ bi đát của anh bởi thành kiến chủng tộc và đổ vỡ trong tình yêu.

Hầu hết các tiểu thuyết này xây dựng những nhân vật khác nhau để kể lại từng phần của câu chuyện và chứng minh ý nghĩa hiện diện thế nào trong cách kể chuyện cũng như trong đề tài sử dụng. Việc đưa ra những quan điểm khác nhau làm cho tác phẩm Faulkner mang tính tự tham chiếu, hay “tự chiêm nghiệm” hơn là của Hemingway và Fitzgerald. Mỗi cuốn tiểu thuyết của ông phản ánh lên chính nó, trong khi đồng thời mở ra một câu chuyện khác với mối quan tâm rộng lớn khái quát hơn. Những đề tài chính của Faulkner là truyền thống miền Nam, gia đình, cộng đồng, đất đai, lịch sử và quá khứ, chủng tộc và những đam mê tham vọng và tình yêu. Ông cũng sáng tạo ba tiểu thuyết tập trung vào sự vươn lên của một dòng họ đang suy sụp, dòng họ Snopes: The Hamlet (Xóm quê – 1940), The Town(Thị trấn – 1957), và The Mansion (Ngôi nhà – 1959).

TIỂU THUYẾT NHẬN THỨC XÃ HỘI

Kể từ thập niên 90 của thế kỷ 19, một dòng ý thức phản kháng xã hội đã âm thầm luân lưu trong nền văn học Mỹ, khi thì trào lên trong chủ nghĩa Tự nhiên với Stephen Crane và Theodofe Dreiser và trong những thông điệp rõ ràng của những nhà văn thuộc trường phái “khuấy bùn” chuyên phanh phui những vụ bê bối. Sau này, nổi lên những nhà văn dấn thân vào các vấn nạn xã hội bao gồm: Sinclair Lewis, John Steinbeck, John Dos Passos, Richard Wright và nhà viết kịch Clifford Odets. Họ gắn liền với thập niên 30 trong mối quan tâm đến phúc lợi của người dân bình thường và chú ý đến những nhóm người cụ thể: những người có nghề chuyên môn, như trong cuốn tiểu thuyết dựa theo nguyên mẫu Arrowsmith (Về cuộc đời bác sĩ Arrowsmith) hay Babbitt (một thương nhân địa phương) của Sinclair Lewis, về các gia đình, như trong The Grapes of Wrath của Steinbeck; hoặc quần chúng đô thị, như Dos Passos đã đạt được qua 11 nhân vật chính trong tiểu thuyết bộ ba U.S.A. (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) của ông.

Sinclair Lewis
(1885 – 1951)

Harry Sinclair Lewis sinh ra ở Sauk Centre, bang Minnesota, tốt nghiệp Đại học Yale. Ông dùng thời gian không phải tới lớp để làm việc ở một tổ chức xã hội, Helicon Home Colony, do nhà văn chuyên phanh phui những chuyện bê bối Upton Sinclair tài trợ. Cuốn Main Street (Phố chính 1920) của Lewis châm biếm cuộc sống tỉnh lẻ đơn điệu, đạo đức giả ở thảo nguyên Gopher, bang Minnesota. Ngòi bút bén nhọn trong mổ xẻ về đời sống thị dân ở Mỹ và sự phê phán chủ nghĩa vật chất, sự hẹp hòi, đạo đức giả kiểu Mỹ của ông mang lại danh tiếng cho ông cả trong nước và trên trường quốc tế. Vào năm 1926, ông được trao tặng nhưng lại từ chối giải Pulitzer cho cuốnArrowsmith (1925), một cuốn tiểu thuyết khắc họa những nỗ lực của một bác sĩ để giữ được lương tâm thầy thuốc giữa kỷ nguyên của lòng tham và sự băng hoại. Năm 1930, ông là người Mỹ đầu tiên đoạt giải Nobel văn học.

Trong những tác phẩm quan trọng khác của Lewis còn có Babbitt (1922). George Babbitt là một thương nhân bình thường sống và làm việc ở Zenith, một thị trấn bình thường ở Mỹ. Babbitt đạo đức, giàu nghị lực và là người tin tưởng rằng công việc kinh doanh là một phương cách khoa học mới của cuộc sống hiện đại. Trở nên bất ổn, ông ta tìm kiếm thành đạt nhưng rồi vỡ mộng bởi mối tình với một người đàn bà bohêmian, sau cũng trở về với vợ, và chấp nhận số phận. Cuốn tiểu thuyết này đã thêm một từ mới vào tiếng Anh-Mỹ – “Babbittry” có nghĩa là những kiểu cách trưởng giả, tự mãn, hẹp hòi. Cuốn Elmer Gantry (1927) mô tả tôn giáo theo phái thức tỉnh niềm tin ở Mỹ (Revivalism), còn cuốn Cass Timberlane (1945) đi sâu phân tích những căng thẳng phát sinh trong cuộc hôn nhân giữa một quan tòa già nua và người vợ trẻ.

John Dos Passos
(1896 – 1970)

Cũng như Sinclair Lewis, John Dos Passos bắt đầu là một nhà hoạt động cánh tả cấp tiến rồi chuyển sang cánh hữu khi về già. Dos Passos viết văn theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tác phẩm hay nhất của ông đạt được tính khách quan một cách khoa học và gần như có hiệu quả tư liệu. Dos Passos triển khai một kỹ thuật cắt dán thử nghiệm cho tác phẩm kiệt xuất U.S.A (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) của mình, bao gồm The 42nd Parallel (Vĩ tuyến 42 – 1930), 1919 (Năm 1919 – 1932), và The Big Money(Đại tài phiệt – 1936). Tuyển tập này bao quát lịch sử xã hội của Hoa Kỳ từ 1900 đến 1930 và phơi bày sự xuống cấp đạo đức của xã hội Mỹ bởi chủ nghĩa vật chất qua những trang đời các nhân vật.

Những kỹ thuật mới của Dos Passos gồm nhũng đoạn “phim thời sự” lấy từ những tiêu đề báo chí đương thời, những bài hát ưa thích, và những mẫu quảng cáo, cũng như “những tiểu sử” giới thiệu ngắn gọn cuộc đời của những nhân vật VIP đương thời, chẳng hạn như nhà phát minh Thomas Edison, nhà hoạt động công đoàn Eugene Debs, ngôi sao màn bạc Rudolph Valentino, nhà tài phiệt J. P Morgan, và nhà xã hội học Thorstein Veblen. Cả những đoạn phim thời sự lẫn tiểu sử đều mang lại cho tiểu thuyết của Dos Passos một giá trị tư liệu; kỹ thuật thứ ba của ông, “con mắt ống kính”, bao gồm những bài thơ văn xuôi có ý thức tạo ra một phản ứng chủ quan đối với những biến cố được mô tả trong cuốn sách.

John Steinbeck
(1902 – 1968)

Cũng như Sinclair Lewis, ngày nay John Steinbeck được giới phê bình nước ngoài đánh giá cao hơn là ở trong nước chủ yếu do ông đã nhận giải Nobel văn học năm 1963 và cùng với nó là danh tiếng trên trường quốc tế. Trong cả hai trường hợp, Ủy ban Nobel đã chọn lựa những nhà văn Mỹ tự do, nổi bật vì những phê phán xã hội của họ.

Steinbeck, người California, tái hiện thung lũng Salinas, gần San Francisco trong nhiều tác phẩm của mình. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là cuốn tiểu thuyết đoạt giải Pulitzer The Grapes of Wrath (1939), dõi theo những công việc nhọc nhằn của một gia đình nghèo ở Oklahoma bị mất hết ruộng đất trong cuộc khủng hoảng kinh tế và phải đến California kiếm việc. Những người trong gia đình chịu đựng những điều kiện sống áp bức theo kiểu phong kiến của những chủ đất giàu có. Những tác phẩm khác cũng lấy bối cảnh ở California gồm Tortilla Flat (1935), Of Mice and Man (Của chuột và người – 1937), Cannery Row (Dãy đồ hộp – 1945), và East of Eden (Phía Đông vườn địa đàng – 1952).

Steinbeck kết hợp chủ nghĩa Hiện thực với chủ nghĩa Lãng mạn mang tính cách nguyên sơ để tìm kiếm đức hạnh ở những nông dân nghèo bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Tiểu thuyết của ông minh chứng cho các khía cạnh dễ bị tổn thương của những con người đó, họ có thể bị nhổ tận gốc bởi những cơn hạn hán và là những người đầu tiên phải chịu đựng đau khổ trong những giai đoạn bất ổn chính trị và khủng hoảng kinh tế.

PHONG TRÀO PHỤC HƯNG HARLEM

Trong suốt thập niên 20 hưng thịnh của thế kỷ này, Harlem, cộng đồng Da đen tọa lạc ngoại vi thành phố New York, tràn đầy một không khí đam mê và sáng tạo. Nhạc Jazz của người Mỹ Da đen tràn ngập và thành công khắp đất nước, những nhạc công và những nhà soạn nhạc Jazz như Duke Ellington trở thành những ngôi sao được hâm mộ không chỉ ở Mỹ mà trên toàn thế giới. Bessie Smith và những ca sĩ nhạc Blues khác trình bày những lời ca chân thành, đa cảm, mộc mạc với nhiều xúc cảm. Thánh ca của người Mỹ Da đen được tán thưởng một cách rộng rãi như là một loại âm nhạc tôn giáo hay tuyệt vời và độc đáo vô song. Ethel Waters, nữ diễn viên Da đen chiếm lĩnh trên sân khấu Broadway rồi những điệu múa và nghệ thuật Mỹ Da đen nở rộ cùng âm nhạc và kịch nghệ.

Trong vườn tài năng muôn màu muôn vẻ ở Harlem, nhiều nhãn quan nghệ thuật cùng nhau tồn tại. Cuốn tiểu thuyết đầy sức lay động viết năm 1926 về Harlem của Carl Van Vechten mở ra cánh cửa sự thật về cuộc sống phức tạp, vừa ngọt ngào vừa cay đắng của người Mỹ Da đen trong cuộc đối đầu với những khó khăn về sự bất bình đẳng kinh tế và xã hội.

Thi sĩ Countee Cullen (1903 – 1946), một người Harlem đã có một cuộc hôn nhân ngắn ngủi với con gái của W. E. Du Bois đã sáng tác những bài thơ có vần rất tài tình, theo những hình thức khả dĩ rất được người Da trắng ngưỡng mộ. Ông tin tưởng rằng một nhà thơ không nên để cho màu da ấn định các chủ đề và phong cách của một bài thơ. Còn ở thái cực phía bên kia là những người Mỹ gốc Phi châu đã chối bỏ nước Mỹ, ủng hộ phong trào “Trở về cội nguồn châu Phi” của Marcus Garvey. Đâu đó ở giữa hai khuynh hướng này là tác phẩm của Jean Toomer.

Jean Toomer
(1899 – 1967)

Giống như Cullen, nhà văn viết tiểu thuyết và nhà thơ Mỹ gốc Phi châu – Toomer tin tưởng và xây dựng một tính cách Mỹ vượt qua cái ngưỡng chủng tộc. Có lẽ vì lý do này, ông sử dụng những truyền thống thi ca có vần điệu và không tìm kiếm những hình thức “Da đen” mới cho thơ mình. Tuy nhiên, tác phẩm quan trọng Cane (Lau sậy – 1923) của ông đầy tham vọng và rất đổi mới. Như Paterson của Williams, Cane kết hợp những bài thơ, những đoạn văn xuôi ngắn, những câu chuyện và những ghi chép có tính cách tiểu sử tự thuật. Trong đó, một người Mỹ Da đen đấu tranh để khám phá bản thân mình trong giới hạn và vượt ra ngoài những cộng đồng Da đen ở vùng quê Georgia, Washington D.C., và Chicago bang Illinois với tư cách là một thầy giáo Da đen ở miền Nam. Trong Cane, những người dân Da đen quê mùa ở Georgia của Toomer có tâm hồn rất nghệ sĩ:

Giọng hát họ cất lên… những cây thông là những cây đàn ghita,
Tiếng đàn bập bùng, những chiếc lá thông rơi như những làn mưa…
Giọng hát họ cất lên… dàn đồng ca của lau sậy
Đang hát một bài kinh chiều mừng đón các vì sao…
(I, 21 – 24)

Cane là hình ảnh tương phản với nhịp sống nhanh của người Mỹ Da đen ở thành phố Washington:

Tiền đốt cháy túi, túi đau,
Mặc áo lụa, những tay buôn rượu lậu
Phình to, những chiếc Cadillac kêu vù vù,
Rít lên, rít lên lao tới dòng xe
(II, 1 – 4)

 

Richard Wright
(1908 – 1960) 

Richard Wright sinh ra trong một gia đình nghèo làm lĩnh canh ở Mississippi bị cha bỏ rơi lúc lên năm. Wright là tiểu thuyết gia Mỹ gốc Phi đầu tiên được đông đảo bạn đọc đón nhận, mặc dầu ông chưa học hết lớp 9. Thời thơ ấu gian khổ khắc nghiệt của ông được mô tả trong một trong những cuốn tự truyện hay nhất của ông, cuốn Black Boy (Cậu bé Da đen – 1945). Sau này ông nói rằng ý thức về nỗi đau xót của tuổi thơ bị tước đoạt, do sự kỳ thị chủng tộc, lớn đến nỗi chỉ có đọc sách mới giúp cho ông sống được.

Sự phê phán xã hội và chủ nghĩa hiện thực của Sherwood Anderson, Theodore Dreiser, và Sinclair Lewis đã khơi nguồn hứng khởi sáng tạo đặc biệt cho Wright. Trong suốt thập niên 30, ông tham gia Đảng Cộng sản; vào thập niên 1940, ông sang Pháp, có mối quan hệ với Gertrude Stein và Jean Paul Sartre rồi trở thành một người chống cộng. Lối viết bộc trực của ông mở đường cho những tiểu thuyết gia Mỹ Da đen đi sau.

Tác phẩm của ông gồm Uncle Tom’s Children (Con cháu của chú Tom – 1938), một tập truyện ngắn và một cuốn tiểu thuyết nhan đề Native Son(Con của đất Mẹ – 1940) mạnh mẽ có phần tàn nhẫn, trong đó Bigger Thomas, một thanh niên Da đen thất học, lỡ tay giết chết con gái của ông chủ Da trắng của mình, rồi tàn nhẫn đốt xác để phi tang và giết luôn cô bạn gái Da đen của mình vì sợ cô ta sẽ tố cáo hắn. Mặc dầu nhiều người Mỹ Da đen phê phán Wright vì đã xây dựng một nhân vật Da đen là một kẻ giết người ghê tởm như vậy, tiểu thuyết của Wright góp một tiếng nói cần thiết dù chậm trễ về tệ phân biệt chủng tộc đã là chủ đề của quá nhiều cuộc tranh luận ở Hoa Kỳ.

Zora Neale Hurston
(1903 – 1960)

Sinh ra trong thành phố nhỏ Eatonville bang Florida, Zora Neale Hurston được đánh giá là một trong những lá cờ đầu của thời kỳ Phục hưng Harlem. Bà đến New York lần đầu khi mới 16 tuổi – với tư cách là thành viên của đoàn kịch nói lưu động. Là người kể chuyện tài năng trác tuyệt có khả năng hớp hồn khán thính giả, bà theo học Đại học Barnard, và được thụ giáo với nhà nhân chủng học Franz Boaz và đi đến chỗ nắm vững bộ môn dân tộc học, hứa hẹn một triển vọng khoa học. Boaz khuyến khích bà sưu tập văn hóa dân gian từ vùng quê Florida của bà. Nhà folklore học nổi tiếng Alan Lomax gọi cuốn Mules and Men (Lừa và người – 1935) của bà là cuốn sách được viết một cách điêu luyện, chân thành và dấn thân nhất trong lĩnh vực folklore.

Hurston cũng có một thời gian sống ở Haiti, học pháp thuật và sưu tầm văn hóa dân gian vùng Caribbe, những điều này được đưa vào tuyển tập Tell My Horse (Bảo con ngựa của tôi – 1938). Việc nắm vững một cách tự nhiên tiếng Anh thông dụng đưa bà đến với truyền thống lớn lao của Mark Twain. Lối viết của bà tỏa sáng với một ngôn ngữ đầy màu sắc trong những câu chuyện khôi hài – hay bi thảm – lấy từ văn hóa truyền miệng của người Mỹ Da đen.

Hurston là nhà văn gây ấn tượng sâu sắc. Tác phẩm quan trọng nhất của bà, Their Eyes Were Watching God (Đôi mắt họ ngước lên thành kính Chúa – 1937), là một bức tranh mới mẻ, cảm động về sự trưởng thành và về niềm hạnh phúc lại trở về với một người phụ nữ đẹp mang trong mình hai dòng máu đen trắng khi cô trải qua 3 cuộc hôn nhân. Cuốn tiểu thuyết khơi dậy một cách sống động cuộc sống của người lao động Mỹ – Phi châu trên vùng đất hoang sơ miền Nam. Là cánh chim báo tin của phong trào phụ nữ, Hurston gợi cảm hứng và gây ảnh hưởng đến những nhà văn đương đại như Alice Walker và Toni Morrison qua những cuốn tiểu thuyết mang tính tự thuật của bà như Dust Tracks on a Road (Dấu bụi trên đường – 1942).

TRÀO LƯU VĂN HỌC FUGITIVES VÀ NHÓM PHÊ BÌNH MỚI

Từ sau cuộc Nội chiến đến thế kỷ 20, miền Nam nước Mỹ vẫn còn là một miền đất lạc hậu về chính trị, kinh tế cùng với nạn kỳ thị chủng tộc và tệ mê tín dị đoan, nhưng đồng thời lại là vùng đất có một nền văn hóa dân gian phong phú và một ý thức mạnh mẽ về lòng tự hào và truyền thống nhất. Nó đã mang tiếng một cách hơi bất công là một vùng đất khô cằn, thấp kém về văn hóa, mang phong cách tỉnh lẻ và ngu dốt.

Oái ăm thay, trào lưu văn học địa phương quan trọng nhất của thế kỷ 20 chính là trào lưu Fugutives – có nghĩa là hoạt động của những kẻ Đào tẩu – do nhà lý luận kiêm phê bình và đồng thời là thi sĩ John Crowe Ransom, nhà thơ Allen Tate và nhà văn viết tiểu luận, tiểu thuyết và làm thơ Robert Penn Warren lãnh đạo. Trường phái văn học miền Nam này chối bỏ những giá trị thương mại đô thị của “miền Bắc” mà họ cảm thấy đang bành trướng khắp nước Mỹ. Fugitives kêu gọi trở về với đất đai và với những truyền thống Mỹ chỉ có thể tìm thấy ở miền Nam. Trào lưu này lấy tên từ một tạp chí văn học, The Fugitive, xuất bản từ 1922 đến 1925 của Đại học Vanderbilt, ở Nashville bang Tennessee, với sự hợp tác của Ransom, Tate, và Warren. Ba nhà văn chủ yếu của trào lưu Fugitive cũng kết hợp với nhóm Phê bình mới đề xuất một lối tiếp cận văn học qua cách đọc kỹ lưỡng, sự chú ý đến cách viết đúng quy phạm (về hình ảnh, ẩn dụ, vận luật, âm thanh và biểu tượng) và những ý nghĩa hàm ẩn của chúng. Ransom, lý thuyết gia hàng đầu của phong trào Phục hưng miền Nam giữa hai thế chiến, xuất bản một cuốn sách mang tên The New Criticism (Chủ nghĩa phê bình mới – 1941) bàn về phương pháp này, đưa ra một cách tiếp cận khác cho những phương pháp phê bình ngoài văn học trước đây vốn dựa trên các yếu tố lịch sử và tiểu sử tác giả. Trào lưu phê bình Mới trở thành phương pháp phê bình thống trị trong những thập niên 40 và 50 ở Mỹ bởi vì nó tỏ ra rất thích hợp với những nhà văn theo trào lưu Hiện đại như là Eliot và có thể tiếp thu lý thuyết của Freud (đặc biệt những phạm trù cấu trúc của nó như là vô thức, bản ngã và siêu ngã) và các phương pháp dựa trên những kiểu mẫu huyền thoại.

KỊCH NÓI MỸ THẾ KỶ 20

Kịch nói Mỹ mô phỏng sân khấu Anh và châu Âu mãi cho đến tận thế kỷ 20. Thông thường những vở từ nước Anh hay được dịch từ những ngôn ngữ châu Âu chiếm lĩnh mùa biểu diễn. Một đạo luật chưa hoàn chỉnh về bản quyền đã không thể bảo vệ và nâng đỡ những nhà viết kịch Mỹ hoạt động cho một nền nghệ thuật sân khấu đích thực. Các nam nữ 196 197 nghệ sĩ trong “hệ thống các ngôi sao” cũng vậy, họ được hâm mộ tán thưởng hơn là chính nội dung các vở kịch. Dân Mỹ đổ xô đi xem những diễn viên Cựu lục địa lưu diễn ở Mỹ. Thêm vào đó, những vở kịch nước ngoài, cũng như rượu ngoại, luôn được đánh giá cao hơn hẳn những vở kịch nội địa.

Suốt thế kỷ 19, những vở kịch ướt át, ủy mị với những nhân vật dân chủ mẫu mực và sự tương phản rõ rệt giữa cái tốt và cái xấu đã thành phổ biến. Những vở kịch về những vấn đề xã hội như chế độ nô lệ cũng lôi kéo được phần lớn khán giả; đôi lúc cũng có những vở kịch được chuyển thể từ tiểu thuyết như Uncle Tom’s Cabin. Cuối thế kỷ 19, những vở kịch nghiêm túc mới cố gắng đạt được sự đổi mới về mặt nghệ thuật. Tuy nhiên, văn hóa đại chúng đã có những tiến triển quan trọng, đặc biệt kịch vaudeville (thể loại sân khấu tạp kỹ bình dân gồm hài kịch ngắn, hề, nhạc và những thứ tương tự). Sân khấu tạp kỹ, dựa trên âm nhạc và văn hóa dân gian Mỹ Da đen, do những diễn viên Da trắng hóa trang “mặt đen” trình diễn cũng phát triển những hình thức và cách thể hiện rất sáng tạo.

Eugene O’Neill
(1888 – 1953)

Eugene O’Neill là đỉnh cao của kịch nói Mỹ. Rất nhiều vở kịch của ông kết hợp sáng tạo kỹ thuật lớn lao cùng với một cái nhìn tươi sáng và một cảm xúc sâu lắng. Những vở kịch đầu tay của O’Neill quan tâm đến tầng lớp lao động và người nghèo khổ; những tác phẩm về sau tập trung khám phá những lĩnh vực chủ quan, như những nỗi ám ảnh và tính dục. Đó cũng chính là những vở kịch ghi lại dấu ấn của việc O’Neill chịu ảnh hưởng sâu sắc của Freud và những cố gắng đau thương khắc khoải của ông trong việc chấp nhận cái chết của cha, mẹ và anh trai. Vở kịch Desire Under the Elms(Khao khát dưới rặng cây du – 1924) đã tái hiện niềm đam mê thầm kín trong một gia đình. Vở The Great God Brown (Vị thần tối linh thiêng Brown – 1926) bóc trần thế giới tiềm thức của một thương gia giàu có. Còn vởStrange Interlude (Quãng lặng kỳ lạ – 1928) – đoạt giải Pulitzer -thì lần theo dấu vết những cuộc tình rối rắm của một người đàn bà. Những vở kịch có sức tác động sâu xa này thể hiện những tính cách cá nhân khác nhau quay về với những xúc cảm nguyên sơ hoặc sự bấn loạn bởi tác động của các xung đột căng thẳng.

O’Neill tiếp tục khai thác các áp lực mang tính phân tâm học của tình yêu và sự thống trị trong các gia đình trong một vở kịch bộ ba cùng mang tênMourning Becomes Electra (Khóc thương vốn bản tính nàng Electra – 1931) dựa trên vở bi kịch bộ ba cổ điển Oedipus của Sophocles[8]. Những tác phẩm cuối đời của ông bao gồm những vở được dư luận công nhận là kiệt tác The Iceman Cometh (Người bán kem đã tới – 1946), một tác phẩm kiệt xuất với đề tài về cái chết, Long Day’s Journey Into Night (Cuộc hành trình trọn ngày dài để đi vào bóng đêm – 1956) – một tiểu sử tự thuật đầy sức mạnh bao quát nhiều vấn đề đầy kịch tính lấy chính những thành viên trong gia đình ông làm nhân vật và sự hủy hoại của họ về mặt tâm lý và thể xác làm trọng tâm; tất cả điều đó chỉ xảy ra trong vòng một đêm. Tác phẩm này là một phần của một chuỗi các vở kịch O’Neill sáng tác trong giai đoạn cuối đời cho đến khi ông chết.

O’Neill đã định nghĩa lại nghệ thuật sân khấu bằng cách dẹp bỏ sự phân chia theo truyền thống thành màn, cảnh (Strange Interlude có 9 màn, còn Mourning Becomes Electra phải mất 9 giờ để diễn); sử dụng mặt nạ như trong những vở kịch ở châu Á và Hy Lạp cổ đại; đưa vào kịch những đoạn thơ theo kiểu Shakespeare, dàn đồng ca Hy Lạp; và tạo ra những hiệu quả đặc biệt qua ánh sáng và âm thanh. Ông được mọi người công nhận là tác giả viết kịch hàng đầu của Hoa Kỳ. Vào năm 1936, ông được nhận giải Nobel văn học và cũng là nhà soạn kịch Hoa Kỳ đầu tiên nhận được vinh dự này.

Thorton Wilder
(1897 – 1975)

Thorton Wilder nổi tiếng vì những vở kịch Our Town (Thị trấn của chúng tôi – 1938) và The Skin of Our Teeth (1942), và vì cuốn tiểu thuyết The Bridge of San Luis Rey (Cây cầu ở San Luis Rey – 1927) của ông.

Vở Our Town chuyển tải những giá trị Mỹ tích cực. Nó chứa đựng mọi yếu tố tình cảm và hoài niệm về một thị trấn nhỏ miền quê theo truyền thống mẫu mực, các bậc cha mẹ đôn hậu và những đứa con ngỗ nghịch, cùng những cặp tình nhân son trẻ. Vẫn có đây đó những yếu tố cách tân như những hồn ma, giọng nói từ phía khán giả, những chuyển đổi thời gian táo bạo khiến cho vở kịch lôi cuốn hơn. Thực ra, đây là một vở kịch về cuộc sống và cái chết, trong đó những người chết được tái sinh, ít nhất thì cũng trong chốc lát.

Clifford Odets
(1906 – 1963)

Clifford Odets, một bậc thầy về kịch xã hội, là người Do Thái di cư từ Đông Âu. Lớn lên ở New York, ông trở thành một trong những thành viên đầu tiên của nhóm kịch the Group Theatre do Harold Churman, Lee Strasberg và Cheryl Crawford điều hành, chỉ dàn dựng những vở kịch trong nước. Vở kịch nổi tiếng nhất của Odets là Waiting for Lefty (Đợi chờ người cánh tả – 1935), vở kịch thể nghiệm một màn này ủng hộ một cách nhiệt tình chủ nghĩa nghiệp đoàn lao động.

Vở Awake and Sing! (Hãy thức dậy và ca hát!) của ông, một khúc ca hoài niệm về gia đình là một vở kịch thành công vang dội, tiếp theo là vở Golden Boy (Cậu bé vàng), câu chuyện một thanh niên di cư gốc Ý tự hủy hoại tài năng âm nhạc của mình (anh là một nhạc sĩ vĩ cầm) bị tiền bạc cám dỗ rồi trở thành một võ sĩ quyền Anh và rồi bị thương ở tay. Cũng như The Great Gatsby của Fitzgerald và An American Tragedy của Dreiser, vở kịch là hồi chuông cảnh tỉnh những tham vọng vô độ và chủ nghĩa vật chất.


[1] Theo các nhà nghiên cứu, tựa đề và tư tưởng của bài thơ ngụ ý đến nền văn minh hiện đại và bài thơ đã nắm bắt một cách chính xác thực trạng nền văn minh và xã hội Phương Tây sau chiến tranh thế giới thứ 1. Chiến tranh, được giả thiết là để cứu vãn châu Âu lại là một cái gì có sức tàn phá và hủy diệt nhất trong lịch sử, vậy thì sau nó loại văn minh nào diễn ra trên thế giới? Đó là vấn đề được đặt ra trong bài thơ. The Waste Land chứa đựng nhiều những cách tân táo bạo và nó đánh dấu một sự thay đổi lớn lao trong nghệ thuật thi ca của nhân loại.

[2] Leter Quince là người dàn cảnh cho các nghệ sĩ mộc mạc trong vở hài kịch Giấc mộng đêm hè của Shakespear, một cái tên gợi lên hình ảnh về những niềm vui và sự thơ ngây nơi thôn dã.

[3] Key West: tên một thành phố trung tâm của quận Monroe, tây nam bang Florida.

[4]

[5] Agamennon: trong thần thoại Hy Lạp là vị vua của Argos, có vợ là Clytemnestra. Sau khi Paris con trai vua Priam của thành Troy bắt người đẹp Helen, Agamemnon đã đứng lên kêu gọi hoàng tử của đất nước khởi chiến chống lại thành Troy. Aeschylus đã dựa vào truyền thuyết để viết kịch Agamemnon.

[6] Medea: một phụ nữ quyến rũ đã giúp Jason chiếm được bộ lông cừu vàng của cha nàng, vua Aeetes ở Colchis. Vở bi kịch Medea của Euripides viết về giai đoạn sau, khi Jason phản bội Medea yêu công chúa con vua Creon. Medea đã giết vua Creon, kẻ tình địch và hai con trai để trả thù Jason.

[7] Nguyên văn câu này là and eddieandbill come eddieandbill là tên của hai đứa trẻ Eddie và Bill được ghép lại, chúng tôi tạm dịch là bọn trẻ con.

[8] Electra: trong thần thoại Hi Lạp là con gái của Agamemnon và Clytemnestra đã cứu thoát người em trai khi cha nàng bị giết. Khi người em trở về nàng cũng giúp em giết mẹ và người tình của bà. Trong vở kịch bộ ba của O’Neil nhân vật chính cũng hành động tương tự Electra, chỉ có khác là người em trai sau đó tự sát.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_vi.html

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 5: Sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực thời kỳ 1860-1914

 

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Cuộc Nội chiến Hoa Kỳ (1861 – 1865) giữa miền Bắc công nghiệp và miền Nam nông nghiệp chiếm hữu nô lệ là một bước ngoặt lịch sử Mỹ. Sau chiến tranh, sự lạc quan ngây thơ của một quốc gia dân chủ non trẻ nhường bước cho một thời kỳ kiệt quệ. Chủ nghĩa lý tưởng Mỹ vẫn tồn tại nhưng đã rẽ sang một hướng khác. Trước cuộc Nội chiến, những người theo lý tưởng chủ nghĩa đã giành vòng nguyệt quế về nhân quyền, đặc biệt là việc bãi bỏ chế độ nô lệ. Sau chiến tranh, người Mỹ lại càng lý tưởng hóa về sự tiến bộ và con người tự lập. Đây là kỷ nguyên của những nhà sản xuất và đầu cơ triệu phú, khi mà thuyết tiến hóa của Darwin và “quy luật về sự đấu tranh sinh tồn” của ông dường như là sự phê chuẩn cho những biện pháp đôi khi trái với luân thường đạo lý của các ông trùm kinh doanh.

Thương mại bùng nổ sau chiến tranh. Ngành công nghiệp phục vụ chiến tranh đã đẩy nền công nghiệp ở phương Bắc đi lên và mang đến cho nó uy tín và quyền lực chính trị. Nó cũng mang lại cho những người lãnh đạo công nghiệp kinh nghiệm quý giá trong quản lý con người và máy móc. Những nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ – sắt, than đá, dầu lửa, vàng và bạc – của đất Mỹ mang lợi nhuận đến cho các ngành kinh doanh. Hệ thống xe lửa liên lục địa mới, khánh thành năm 1869, và hệ thống điện tín xuyên lục địa bắt đầu hoạt động năm 1861, cung cấp cho nền công nghiệp nguyên vật liệu thị trường và thông tin. Dòng người nhập cư chảy vào liên tục cũng mang lại nguồn cung ứng lao động rẻ mạt có vẻ như vô tận. Hơn 23 triệu người nước ngoài – người Đức, người Scandinavia và người Ireland trong những năm đầu, và rồi sau đó người Trung Âu và Nam Âu liên tục đổ vào nước Mỹ khoảng giữa 1860 và 1910. Những công nhân hợp đồng người Hoa, Nhật và Philippines cũng được các chủ đồn điền ở Hawaii, các công ty xe lửa, và các tập đoàn kinh doanh khác của Mỹ ở vùng bờ biển phía tây nhập cư vào Mỹ.

Vào năm 1860, hầu hết dân Mỹ sống trong những trang trại hay trong những làng nhỏ, nhưng khoảng trước 1919 nửa dân số tập trung vào khoảng 12 đô thị. Những vấn đề của việc đô thị hóa và công nghiệp hóa xuất hiện: nghèo đói và nhà ở quá chật chội, điều kiện sống kém vệ sinh, lương thấp (được gọi là “nô lệ ăn lương”), điều kiện làm việc khó khăn và những kềm hãm không phù hợp với hoạt động kinh doanh. Những nghiệp đoàn lao động phát triển và các cuộc đình công làm cả nước nhận thức được tình cảnh khốn khó của người lao động. Nông dân cũng tham gia đấu tranh chống lại “những tập đoàn tài chính” của miền Đông, những kẻ được gọi là những ông vua ăn cướp như J.P Morgan và John D. Rockefeller. Những ngân hàng ở miền Đông của họ kiểm soát chặt chẽ những tài sản thế chấp và tín dụng thiết yếu cho sự phát triển và nền nông nghiệp ở miền Tây, trong khi các công ty xe lửa tính giá vận chuyển nông sản ra thành phố rất cao. Nông dân dần dần trở thành một đối tượng lố bịch, bị chế giễu như là một anh chàng “quỷnh”, một anh nhà quê thô kệch. Người Mỹ lý tưởng của thời kỳ sau Nội chiến chính là những nhà triệu phú. Nếu vào năm 1860, có không đến 100 người là triệu phú; thì vào khoảng 1875, đã có hơn 1.000 người.

Từ năm 1860 đến 1914, Hoa Kỳ đã biến đổi từ một cựu thuộc địa nông nghiệp, non trẻ, nhỏ bé trở thành một đất nước công nghiệp, hiện đại, khổng lồ. Từ một đất nước vay nợ vào năm 1860, vào khoảng trước năm 1914 nó trở thành một quốc gia giàu có nhất thế giới, với một số dân tăng hơn gấp đôi, từ 31 triệu trong năm 1860 đến 76 triệu trong năm 1900. Trước Thế chiến thứ I, Hoa Kỳ đã trở thành một cường quốc chính trên thế giới.

Khi nền công nghiệp hóa phát triển, sự tha hóa bắt đầu. Những cuốn tiểu thuyết đặc trưng Mỹ của thời Kỳ đó là: Maggie – A Girl of the Streets(Maggie, cô gái điếm) của Stephen Crane, Martin Eden của Jack London và sau này An American Tragedy (Một bi kịch Mỹ) của Theodore Dreiser – đã đặc tả những tổn thất của nền kinh tế và sự tha hóa của mỗi cá nhân yếu ớt và dễ bị tổn thương. Những kẻ sống sót, như Huck Finn của Twain, Humphrey Vanderveyden trong The Sea-Wolf (Hải tặc sói biển) của London và dì Carrie cơ hội chủ nghĩa của Dreiser, chịu đựng được khó khăn nhờ sức mạnh bên trong như lòng tốt, sự linh hoạt mềm dẻo và trên hết là tính cách cá nhân.

Samuel Clemens (Mark Twain)
(1835 – 1910) 

Samuel Clemens nổi tiếng với bút danh Mark Twain, lớn lên ở thị trấn biên giới Hannibal bên sông Mississippi bang Missouri. Câu nói nổi tiếng của Ernest Hemingway: tất cả nền văn học Mỹ xuất phát từ một cuốn sách vĩ đại, cuốn Adventures of Huckleberry Finn (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) của Twain, cho thấy vị trí cao vời vợi của nhà văn này trong truyền thống văn học. Đầu thế kỷ 19, nhiều nhà văn Mỹ có khuynh hướng quá hoa Mỹ, quá duy cảm, hoặc quá khoa trương – một phần vì họ vẫn nỗ lực chứng tỏ mình cũng có thể viết sang trọng như người Anh. Phong cách của Twain, trái lại dựa trên tiếng Mỹ bình dân, sống động, khỏe khoắn đã làm cho các nhà văn Mỹ có một cái nhìn mới, một sự trân trọng đối với tiếng nói dân tộc. Twain là nhà văn vĩ đại đầu tiên xuất thân từ vùng đất nội địa nước Mỹ và ông nắm bắt được thứ tiếng lóng khôi hài, độc đáo và tinh thần giải thiêng của xứ sở này([1]).

Đối với Twain và những tác giả Mỹ khác cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa hiện thực không thuần túy chỉ là một kỹ thuật văn học: nó là một cách nói lên sự thật và làm nổ tung những quy ước sáo mòn. Vì vậy nó tự do một cách sâu sắc và tiềm tàng sức mạnh phản kháng xã hội. Ví dụ nổi tiếng nhất là Huck Finn, một cậu bé nghèo quyết định đi theo tiếng nói của lương tâm và giúp đỡ một người nô lệ Da đen bỏ trốn tìm tự do, mặc dù Huck nghĩ rằng việc này có nghĩa là anh ta sẽ bị đày xuống địa ngục vì đã phá bỏ luật lệ.

Kiệt tác này của Twain, xuất hiện vào năm 1884, lấy bối cảnh ngôi làng St.Peterburg bên dòng sông Missippi. Huck là con trai của một gã lông bông nát rượu. Khi cậu vừa được một gia đình khả kính nhận làm con nuôi, thì cha cậu trong một cơn say điên loạn đã đe dọa giết cậu. Sợ mất mạng, Huck bỏ trốn, dựng lên cái chết giả của mình. Trên đường trốn chạy Huck gặp một kẻ bị ruồng bỏ, một nô lệ tên Jim. Chủ của anh, cô Watson đang nghĩ cách bán anh cho một vùng nô lệ khắc nghiệt hơn ở vùng hạ lưu sông Mississippi ở sâu dưới miền Nam. Huck và Jim trôi nổi trên một cái bè xuôi dòng Mississippi hùng vĩ, rồi bị một con tàu chạy bằng hơi nước nhận chìm, lạc mất nhau và về sau gặp lại nhau. Họ trải qua những cuộc phiêu lưu trên bộ đầy bất trắc, tức cười, phản ánh tính nhiều mặt, lòng quảng đại, và đôi lúc sự phi lý tàn ác của xã hội. Cuối cùng, người ta khám phá ra rằng chính cô Watson đã trả tự do cho Jim và một gia đình đáng kính muốn đùm bọc cho chú bé Huck hoang dã. Nhưng Huck trở nên bực mình với Xã hội văn minh và dự định trốn thoát đến lãnh địa của người Da đỏ. Đoạn kết mang đến cho độc giả phiên bản trái ngược với huyền thoại cổ điển về thành công của nước Mỹ: đó là con đường rộng mở dẫn đến miền đất hoang dã chưa bị xâm phạm, cách xa những ảnh hưởng suy đồi đạo đức của cái gọi là “văn minh”. Tiểu thuyết của James Fenimore Cooper, những bài tụng ca về con đường rộng mở của Walt Whiman, The Bear (Con gấu) của William Faulkmer; và On the Road (Trên đường) của Jack Kerouac là những ví dụ văn học khác.

Huckleberry Finn mang lại nguồn cảm hứng cho vô số những lý giải văn chương. Rõ ràng cuốn tiểu thuyết là một câu chuyện về cái chết, sự tái sinh và sự khởi đầu. Người nô lệ bỏ trốn – Jim, trở thành một người cha tinh thần đối với Huck. Khi quyết định cứu Jim, Huck, về mặt đạo đức, đã vượt ra khỏi những ràng buộc của xã hội chiếm hữu nô lệ. Chính những cuộc phiêu lưu của Jim đã dẫn dắt Huck làm cho anh thấu hiểu sự phức tạp của bản chất con người và cho anh lòng can đảm.

Cuốn tiểu thuyết cũng kịch hóa lý tưởng của Twain về một cộng đồng hòa hợp “Cái anh muốn, hơn tất cả mọi thứ trên đời lúc ở trên bè là làm cho mọi người hài lòng, cảm thấy mình đúng đắn và tử tế với người khác”. Cũng như con tàu Pequod của Melville, cái bè đã bị chìm, cùng với nó là cái xã hội đặc biệt ấy. Cái thế giới đơn giản, trong lành trên chiếc bè cuối cùng cũng bị nhận chìm bởi sự tiến bộ – con tàu chạy bằng hơi nước – nhưng hình ảnh huyền diệu của con sông vẫn còn ở lại, cũng mênh mông và thay đổi như chính cuộc đời.

Cái quan hệ không bền vững giữa thực tế và ảo tưởng là chủ đề mang tính cách Twain, là cái điều cơ bản lớn lao trong óc khôi hài của ông. Hình ảnh con sông hùng vĩ nhưng đầy cạm bẫy, luôn luôn thay đổi cũng là nét chính trong bức tranh phong cảnh giàu tưởng tượng của ông. Trong Life of the Mississippi (cuộc sống trên dòng sông Mississippi) Twain nhớ lại lúc ông được huấn luyện làm hoa tiêu trên tàu hơi nước, ông đã viết: “Giờ tôi đi làm để nắm được địa thế của con sông. Tôi cố chú tâm và cố gắng điều khiển những gì luôn trôi nổi, khó nắm bắt và đấy là những điều chính yếu”.

Ý thức đạo đức của Twain với tư cách là một nhà văn là âm vang của cái trách nhiệm hoa tiêu của ông lái con tàu đến nơi an toàn. Bút hiệu của Samuel Clemens, “Mark Twain”, là cụm từ mà các thủy thủ trên sông Mississippi dùng để chỉ 2 122 123 sải nước (3,6 mét) là độ sâu cần thiết cho tàu đi an toàn. Mục đích nghiêm túc của Twain, kết hợp với văn óc trào lộng của một thiên tài hiếm có, giữ cho các tác phẩm của ông còn nguyên vẻ tươi trẻ và hấp dẫn.

VĂN HỌC HIỆN THỰC VÀ TRÀO PHÚNG VÙNG BIÊN THÙY

Hai trào lưu văn học chủ yếu ở Mỹ thế kỷ 19 hòa quyện trong Mark Twain đó là trào lưu khôi hài vùng biên cương và văn học mang màu sắc địa phương, hay “văn học địa phương”. Những dòng văn học có quan hệ với nhau này được bắt đầu vào những năm của thế kỷ trước – nhưng đã có mầm mống sớm hơn từ những truyền thồng văn chương truyền miệng của địa phương. Trong những ngôi làng tồi tàn ở biên giới, trên những chiếc tàu chạy đường sông, trong những lều trại ở vùng mỏ và quanh đống lửa trại của những chàng chăn bò cách biệt với những thú vui đô thị, nghệ thuật kể chuyện này bắt rễ và đơm hoa rực rỡ. Sự cường điệu, những truyện tiếu lâm, những lời khoác lác không thể tin được và những nhân vật lao động ngộ nghĩnh đem lại sức sống cho văn học vùng biên giới. Những hình thức trào phúng này được tìm thấy ở nhiều vùng biên thùy (bây giờ là vùng Nam nội địa và hạ Trung Tây), vùng mỏ biên giới và vùng bờ biển Thái Bình Dương. Mỗi vùng có riêng những nhân vật đặc biệt, thú vị và nhiều câu chuyện được góp nhặt về họ: Mike Fink, một người ưa lý sự trên những con tàu xuôi ngược dòng Mississippi; Casey Jones, kỹ sư xe lửa quả cảm; John Henry, người Mỹ Phi châu – một tay lái vững vàng như thép; Paul Bunyan, người thợ xẻ khổng lồ mà tên tuổi được quảng cáo khắp nơi; những người miền Tây như Kit Carson, một chiến binh người Da đỏ, và Davy Crocket, người hướng đạo. Những chiến công phi thường của họ được cường điệu và làm phong phú thêm những khúc ballad, trên các trang báo và tạp chí. Đôi lúc, như với Kit Carson và DaVy Crockett, những câu chuyện này được kết nối lại với nhau thành sách.

Twain, Faulkner, và nhiều nhà văn khác, đặc biệt là người miền Nam đều chịu ơn sâu sắc những cây viết hài thời trước Nội chiến ở vùng biên thùy như Johson Hooper, George Washington Harris, Augustus Longstreet, Thomas Bangs Thorpe và Joseph Baldwin. Từ những nhà văn này và dân cư vùng biên giới rộ lên một sự sinh sôi nảy nở nhanh chóng những từ đặc Mỹ vừa mới, vừa ngộ nghĩnh: “absquatulate” (ra đi), “Flabbergasted” (kỳ lạ), “rampagious” (bất trị, tàn bạo). Những người khoác lác ở địa phương, hay là “những kẻ ầm ĩ có đuôi kêu”, kẻ một mực khẳng định rằng mình là nửa ngựa, nửa cá sấu, tất cả là để nhấn mạnh cái nguồn lực vô hạn của vùng biên giới. Họ lấy thêm sức mạnh từ những hiểm họa của thiên nhiên có thể làm cho người yếu bóng vía kinh sợ. “Tôi là một cơn lốc thực sự, một người khoác lác nói, cứng rắn như gỗ hồ đào và dai như gió Tây Bắc. Tôi có cú đấm thôi sơn và quét một cú có thể bạt đi một đám đông để lại một khoảng trống một hecta”.

CÁC NHÀ VĂN THUỘC TRÀO LƯU VĂN HỌC ĐỊA PHƯƠNG

Cũng như văn học trào phúng phổ biến ở vùng biên cương, dòng văn học mang màu sắc của từng miền cũng có những gốc rễ xa xưa nhưng chỉ cho ra đời những tác phẩm hay nhất một thời gian dài sau Nội chiến. Hiển nhiên, nhiều tác giả thời tiền chiến, từ Henry David Thoreau và Nathaniel Hawthorne cho đến John Greenleaf Whittier và James Russell Lowell, vẽ nên những bức chân dung nổi bật về nhiều vùng đất đặc biệt của Mỹ. Nhưng điều phân biệt các nhà văn địa phương với các bật tiền bối là sự tự ý thức và mối quan tâm đặc biệt đến việc thể hiện một nơi chốn nào đó với sự tả chân đầy ắp các sự kiện một cách chuẩn xác của họ.

Bret Harte (1836 – 1902) được mọi người nhớ đến như là tác giả của nhiều chuyện phiêu lưu như “The Luck of Roaring camp” (Vận may của một trại náo nhiệt) và “The Outcasts of Poker Flat (Những kẻ bị ruồng bỏ), lấy bối cảnh dọc theo vùng biên giới khai mỏ phía Tây. Là một nhà văn thành công vang dội đầu tiên của trường phái văn học mang sắc thái địa phương, Harte trong một thời gian ngắn có lẽ là tác giả nổi tiếng nhất ở Mỹ – sức hấp dẫn của những áng văn lãng mạn của miền Tây đầy tiếng súng của ông là thế. Là một nhà văn hiện thực đích thực, ông là một trong những người đầu tiên đưa những con người dưới đáy xã hội – những gã đánh bạc gian manh, những ả điếm diêm dúa, và những tên cướp thô lỗ – vào trong tác phẩm văn học nghiêm túc. Ông làm điều này rất thành công (giống như Charles Dickens ở Anh, người cũng rất mực ngưỡng mộ tác phẩm của Harte) bằng cách chứng minh rằng rốt cuộc trong số những con người có vẻ như cặn bã này cũng có những tấm lòng vàng.

Nhiều nhà văn nữ được độc giả nhớ đến vì những bức tranh mô tả vùng New England hết sức tinh tế của họ: Mary Wilkins Freeman (1852 – 1930), Harriet Beecher Stowe (1811 – 1896) và đặc biệt Sarah Orne Jewett (1849 – 1909). Sự độc đáo quan sát tinh tế và chuẩn xác về con người và cảnh vật vùng Maine và văn phòng trực cảm của Jeweett được thể hiện đậm nét trong truyện “The White Heron” (Con diệc trắng) trong tuyển tập Country of the Poited Firs (Quê hương những ngọn thông cao) (1896). Các tác phẩm đậm nét địa phương của Harriet Beecher Stowe đặc biệt là The Pearl of Orrs Island (Viên ngọc của đảo Orr – 1862) khắc họa những làng đánh cá bình dị ở Maine, đã có ảnh hưởng lớn đến Jewett. Những nhà văn nữ thế kỷ 19 đã tạo nên một thế giới riêng của họ với những ảnh hưởng và nâng đỡ về mặt đạo lý như có thể thấy trong những lá thư của họ. Phụ nữ trở thành giới độc giả chủ yếu của tiểu thuyết và nhiều phụ nữ còn viết những cuốn truyện, những bài thơ và những truyện cười rất nổi tiếng.

Mọi vùng trong đất nước tự ca ngợi chính mình trong các sáng tác văn học mang màu sắc địa phương. Một số tác phẩm thuộc loại này còn có cả nội dung phản kháng, chống đối mang tính xã hội, đặc biệt vào gần cuối thế kỷ khi mà sự bất bình đẳng xã hội và khó khăn về kinh tế trở thành vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Nạn phân biệt chủng tộc và bất bình đẳng giữa nam-nữ xuất hiện trong tác phẩm của các tác giả miền Nam như George Washington Cable (1844 – 1925) và Katee Chopin (1851 – 1904). Các tác phẩm đầy sức mạnh tố cáo của họ lấy bối cảnh ở Cajun (bang Lousiana thuộc địa của Pháp) đã bứt phá vượt lên trên dòng văn học mang sắc thái địa phương. Cuốn tiểu thuyết The Grandissimes (1880) của Cable bàn đến nạn phân biệt chủng tộc với một nghệ thuật tuyệt vời; cũng như tiểu thuyết táo bạo The Awakening (Bừng tỉnh – 1899) của Kate Chopin, về một phụ nữ với một nỗ lực định mệnh quyết tìm kiếm cho được bản thân mình qua nỗi đam mê, tác phẩm này đã đi trước thời đại. Trong The Awakening, một người đàn bà trẻ có một người chồng thành đạt, hết mực chiều chuộng vợ và những đứa con dễ thương đã từ bỏ gia đình, tiền bạc, địa vị xã hội, và cuối cùng chính cuộc đời mình để theo đuổi sự nhận chân về bản thân. Những cảnh tượng đầy chất thơ và hết sức gợi cảm về biển và chim chóc (bị nhốt trong lồng hay được tự do) và nhạc tính đã tạo cho cuốn tiểu thuyết ngắn này một sự phức tạp và mức độ sâu sắc không ngờ.

Thường đi đôi với The Awakening là câu chuyện thú vị “The Yellow Wallpaper” (Giấy dán tường màu vàng – 1892) của Charlotte Perkins Gilman (1860 – 1935). Cả hai tác phẩm đều bị lãng quên một thời gian dài, chỉ được các nhà phê bình văn học ủng hộ quyền phụ nữ khám phá ra vào cuối thế kỷ 20. Trong câu chuyện của Gilman, một bác sĩ ra vẻ khiêm nhường đã làm cho vợ mình phát điên vì nhốt bà vào trong căn phòng để “chữa” cho bà khỏi bệnh suy nhược thần kinh. Người vợ bị giam cầm này phản chiếu cuộc đời tù tội của mình lên tấm giấy dán tường; trong hình trang trí của nó, bà nhìn thấy những người phụ nữ bị giam cầm đang bò lê la sau những song sắt.

VĂN HỌC HIỆN THỰC VÙNG TRUNG TÂY

Trong nhiều năm làm chủ bút tạp chí Atlantic Monthly, William Dean Howells (1837 1920) đã xuất bản các tác phẩm mang phong cách hiện thực địa phương của Bret Harte, Mark Twain, George Washington Cable và những người khác. Ông còn là nhà văn hàng đầu của chủ nghĩa hiện thực và các tiểu thuyết của ông như A Modern Instance (Một trường hợp thời nay – 1882), The Rise of Silas Lapham (Sự thành công của Silas Lapham – 1885) và A Hazard of New Fotunes (Hiểm họa của vận hội mới – 1890), đan kết một cách cẩn thận những hiện trạng xã hội với cảm xúc của lớp người Mỹ trung lưu bình thường.

Lấy tình yêu, tham vọng, chủ nghĩa lý tưởng và sự cám dỗ những động lực cho các nhân vật của mình, Howells nhận thức một cách sắc sảo về sự băng hoại đạo đức của những nhà tài phiệt kinh doanh trong thời đại hoàng kim của thập niên 70, cuốn The Rise of Silas Lapham của HoWell dùng một tựa đề mỉa mai để xoáy sâu vào điểm này. Silas Lapham làm giàu bằng cách lừa lọc một người bạn kinh doanh già và hành động vô đạo đức của ông đã xáo trộn gia đình ông một cách sâu sắc, mặc dầu trong nhiều năm ông không nhận thức được hành động xấu xa của mình. Cuối cùng Lapham chuộc lại lỗi lầm bằng giải pháp hợp đạo lý, thà chịu phá sản hơn là thành đạt vô đạo. Silas Lapham cũng giống như Huckleberry Finn, là một câu chuyện về sự thất bại: công việc kinh doanh của Silas Lapham sụp đổ là sự lên ngôi về mặt đạo đức của ông. Vào giai đoạn cuối đời, Howells cũng như Twain, ngày càng trở nên tích cực hoạt động cho những lý tưởng chính trị, bảo vệ quyền của những người tổ chức nghiệp đoàn lao động và lên án chủ nghĩa thực dân của Mỹ ở Philippines.

CÁC NHÀ VĂN THEO QUAN ĐIỂM THẾ GIỚI CHỦ NGHĨA

Henry James
(1843 – 1916)

Henry James từng viết rằng nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật văn chương, “tạo ra cuộc sống, tạo ra mối quan tâm, tạo ra sự quan trọng”. Tiểu thuyết và sự nghiệp phê bình của James là những tác phẩm khó nhất, phức tạp nhất và tỉnh táo nhất trong thời kỳ đó. Cùng với Mark Twain, James thường được xếp vào hàng ngũ những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất của Mỹ vào nửa sau thế kỷ 19.

James nổi tiếng về “đề tài quốc tế” của mình – đó là mối quan hệ phức tạp giữa những người Mỹ ngây thơ và những người châu Âu có tư tưởng quốc tế. Những cuốn sách mà tác giả viết tiểu sử của ông là Leon Edel cho rằng thuộc vào giai đoạn đầu tiên, hay “giai đoạn quốc tế” của James bao gồm những tác phẩm Transatlantic Sketches (Những phác thảo xuyên Đại Tây Dương) gồm Những bài du ký (1875), The American (Người Mỹ) (1877),Daisy Miller (1879) và một kiệt tác, cuốn The Portrait of a Lady (Chân dung một mệnh phụ) (1881). Trong cuốn The American chẳng hạn, Christopher Neuman, một kỹ nghệ gia triệu phú tự lập thân, ngây thơ nhưng thông minh và lý tưởng, đi châu Âu tìm kiếm một ý trung nhân. Khi gia đình cô cự tuyệt vì ông thiếu một nguồn gốc quý tộc, ông lại có cơ hội để rửa hận cho mình khi quyết định không trả thù, ông đã chứng tỏ được sự hơn hẳn về mặt đạo đức của mình.

Thời kỳ sáng tác thứ hai của James là thời kỳ thử nghiệm. Ông khai thác những đề tài mới mẻ – phong trào nữ quyền và cải cách xã hội trong The Bostonians (Người Boston – 1886) và mưu đồ chính trị trong The Princess Casamassima (Công chúa Casamassima – 1886). Ông cũng cố gắng viết cho sân khấu, nhưng thất bại. Vở kịch Guy Domville (1895) bị la ó phản đối ngay đêm công diễn đầu tiên.

Vào giai đoạn thứ ba, hay “giai đoạn chủ yếu” của ông, James trở lại những đề tài quốc tế, nhưng xử lý chúng với sự nghiên cứu tâm lý sâu sắc và tính nghệ thuật được nâng cao. Cuốn The Wings of the Dove (Đôi cánh chim câu – 1902) rất phức tạp và hầu như huyền bí, The Ambassador (Ngài đại sứ – 1903) (mà James cho là cuốn tiểu thuyết hay nhất của mình) và The Golden Bow (Cái tô bằng vàng – 1904) ghi dấu giai đoạn quan trọng này. Nếu chủ đề chính của Twain là các hiện tượng cuộc sống và thế giới hiện thực, thì điều quan tâm thường xuyên của James là tri giác. Với James, chỉ có sự tự nhận thức về mình và tri giác rõ ràng về người khác mới mang lại sự khôn ngoan và một tình yêu vị tha. Trong khi James phát triển luận điểm này, tiểu thuyết của ông càng mang đậm tính chất tâm lý hơn và ít quan tâm đến những sự cố bên ngoài hơn. Trong tác phẩm sau này của James, những sự kiện quan trọng nhất đều mang tính cách tâm lý – thường là những khoảnh khắc giác ngộ thực sự cho phép những nhân vật thấy được sự mê lầm trước đây của mình. Ví dụ, trong The Ambassador, ông Lambert Strether đã luống tuổi nhưng sống rất lý tưởng khám phá một quan hệ yêu đương bí mật và cũng đồng thời phát hiện ra sự phức tạp mới mẻ trong đời sống nội tâm của mình. Sự cứng rắn, cương trực và đạo đức của ông trở nên người hơn và rộng lớn hơn khi ông thấy mình có khả năng chấp nhận những người đã sa ngã, phạm tội.

Edith Wharton
(1862 – 1937) 

Cũng như James, Edith Wharton có một quãng đời lớn lên ở châu Âu và cuối cùng chọn nó làm chốn dung thân. Bà xuất thân từ một gia đình giàu có, danh giá trong xã hội New York và tận mắt nhìn thấy sự suy vong của tầng lớp xã hội văn minh này. Cùng lọt vào tầm mắt của bà là sự phất lên của những gia đình kinh doanh, trưởng giả vừa học đòi vừa thô bạo. Sự chuyển đổi xã hội này là bối cảnh trong nhiều cuốn tiểu thuyết của bà.

Cũng như James, Wharton nêu ra những tương phản giữa người Mỹ và người Âu. Điều cốt lõi trong mối quan tâm của bà là cái hố sâu ngăn cách giữa thực trạng xã hội và bản ngã bên trong của mỗi người. Thường thì một nhân vật nhạy cảm thấy mình bị mắc kẹt giữa những con người vô cảm hoặc là các thế lực xã hội. Bản thân Edith Wharton đã trải qua kinh nghiệm về cái bẫy đó khi còn là một nhà văn trẻ. Bà đã phải chịu đựng một sự suy sụp tinh thần kéo dài phần nào bởi sự giằng co giữa vai trò làm nhà văn và làm vợ của bà. Những cuốn tiểu thuyết hay nhất của Wharton có The House of Mirth (Ngôi nhà của niềm vui – 1905), The Custom of the Country(Tập tục địa phương – 1913), Summer (Mùa hè – 1917), The Age of Innocence (Thời thơ ngây – 1920), và cuốn tiểu thuyết ngắn được trau chuốt tuyệt vời Ethan Frome (1911).

VĂN HỌC TỰ NHIÊN VÀ HIỆN THỰC TRẦN TRỤI

Sự mổ xẻ những động cơ ám muội về tiền bạc và tính dục trong sáng tác của Wharton và James đã nối kết họ với những tác giả mà xét bề ngoài hình như hoàn toàn khác biệt: Stephen Crane, Jack London, Frank Norris, Theodore Dreiser và Upton Sinclair. Giống như những nhà văn có quan điểm thế giới chủ nghĩa, nhưng với độ xác thực cao hơn, những nhà văn tự nhiên chủ nghĩa này đã sử dụng cơ sở hiện thực để liên hệ giữa cá nhân với xã hội. Họ thường vạch ra những vấn đề xã hội và chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết Darwin và lý thuyết triết học có liên quan của chủ nghĩa định mệnh, xem cá nhân như những con cờ của những thế lực kinh tế – xã hội vượt ra ngoài tầm kiểm soát của họ.

Chủ nghĩa tự nhiên thực chất là biểu hiện văn học của thuyết định mệnh. Kết hợp với sự mô tả chân thực, lạnh lùng cuộc sống của tầng lớp hạ lưu, thuyết định mệnh chối bỏ tôn giáo như là một sức mạnh thúc đẩy trên thế giới và thay vào đó quan niệm thế giới như là một cỗ máy. Các nhà tư tưởng Ánh sáng thế kỷ 18 cũng tưởng tượng thế giới là một cỗ máy, nhưng là một cỗ máy hoàn hảo, do Thượng đế tạo nên và dẫn đường đến sự tiến bộ và sự cải thiện nhân bản. Các nhà văn tự nhiên chủ nghĩa trái lại cho rằng thế giới là một cỗ máy mù quáng, chẳng có gì là thiêng liêng và vượt ra ngoài sự kiểm soát.

Nhà sử học Mỹ thế kỷ 19 Henry Adams xây dựng nên một lý thuyết chi tiết về lịch sử có liên hệ đến ý tưởng một cỗ máy phát điện, hay sức mạnh máy móc và một sự chuyển hóa năng lượng hoặc sự suy sụp của sức mạnh này. Adams không nhìn thấy những tiến bộ xã hội, ông chỉ nhìn thấy sự đi xuống không thể tránh khỏi của xã hội loài người.

Stephen Crane, con trai của một mục sư, trình bày sự đánh mất Thượng đế một cách cô đọng nhất:

Một người nói với vũ trụ:
“Thưa ngài, tôi tồn tại!”
“Tuy nhiên”, vũ trụ đáp lời
“Sự kiện đã không tạo nên trong ta
Một ý thức bổn phận”.

Giống như chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa Tự nhiên xuất hiện đầu tiên ở châu Âu. Nó thường được xem là xuất phát từ những tác phẩm của Honoré de Balzac vào thập niên 40 và được nhìn nhận như là một trào lưu văn học Pháp gắn liền với tên tuổi Gustave Flaubert, Edmond và Jules Goncourt, Émile Zola và Guy de Maupassant. Nó mạnh dạn phơi trần mặt trái bị che khuất của xã hội và những đề tài như ly dị, tình dục, ngoại tình, khốn cùng và tội ác.

Chủ nghĩa Tự nhiên nở rộ khi người Mỹ bắt đầu công cuộc đô thị hóa và nhận thức được tầm quan trọng của các thế lực kinh tế và xã hội rộng lớn. Vào trước 1890, các cửa ngõ biên giới được công bố chính thức đóng cửa. Hầu hết người Mỹ sống ở các thành phố, và việc kinh doanh có vai trò thống trị ngay cả ở những vùng thôn quê xa xôi, hẻo lánh.

Stephen Crane
(1817 -1900) 

Stephen Crane sinh ở Jersey. Tổ tiên của ông có lẽ là một trong những chiến sĩ của cuộc chiến tranh Cách mạng, những mục sư, những cảnh sát trưởng, những quan tòa, và nông dân đã sống trước đó một thế kỷ. Lập nghiệp là một phóng viên, ông cũng viết tiểu thuyết, tiểu luận, thơ và kịch. Crane nhìn cuộc đời ở dạng thô thiển trần trụi nhất, ở trong những khu nhà ổ chuột về trên chiến trường. Những truyện ngắn của ông – đặc biệt “The Open Boat” (Con thuyền), “The Blue Hotel” (Khách sạn màu xanh da trời) và “The Bride Comes to Yellow Sky” (Cô dâu đến Yellow Sky[2]) – là những ví dụ cho thể loại đó. Cuốn tiểu thuyết không thể nào quên về Nội chiến,The Red Badge of Courage (huy hiệu đỏ anh dũng) được nhiệt liệt hoan nghênh khi xuất bản năm 1895, nhưng ông không có được thời gian để tắm mình trong vinh quang trước khi chết ở tuổi 29, vì quá khinh suất trong việc giữ gìn sức khỏe. Ông hầu như bị lãng quên suốt trong hai thập niên đầu của thế kỷ 20, nhưng lại được dựng tượng qua một tiểu sử ngợi ca do Thomes Beer viết năm 1923. Kể từ đó, ông càng ngày càng trở nên nổi tiếng như là một người bênh vực quyền lợi quần chúng, một nhà văn hiện thực và tượng trưng chủ nghĩa.

Tác phẩm Maggie – A Girl of the Streets (Maggie – Cô gái điếm – 1893) của Crane là một trong những tác phẩm hay nhất nếu không phải là sớm nhất của chủ nghĩa tự nhiên Mỹ. Đây là câu chuyện đau lòng về một cô gái trẻ đã nghèo lại nhạy cảm, xuất thân từ một gia đình mạt hạng, bố mẹ rượu chè, vô học, hoàn toàn ruồng bỏ cô. Yêu và nóng lòng muốn trốn thoát không khí địa ngục gia đình, cô đã bị một gã đàn ông trẻ dụ dỗ về sống với mình, sau đó chẳng bao lâu gã lại bỏ rơi cô. Khi mà ngay cả người mẹ tự cho mình là đứng đắn cũng chối bỏ cô, thì Maggie chỉ còn cách trở thành một cô gái đứng đường để nuôi thân, nhưng chẳng bao lâu cô tự tử vì tuyệt vọng. Đề tài và chất liệu hoàn toàn trần tục kết hợp với văn phong khoa học, khách quan, không răn dạy đạo đức, đã đánh dấu Maggie là một tác phẩm tự nhiên chủ nghĩa.

Jack London
(1876 – 1916) 

Từ công nhân nghèo, tự học ở California, nhà văn của chủ nghĩa tự nhiên Jack London đã có một cú nhảy ngoạn mục từ cảnh cơ hàn bước lên đài danh vọng bởi tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của mình, The Son of the Wolf (Đứa con của Sói – 1904), phần lớn bối cảnh là ở vùng Klondike ở Alaska và Yukon ở Canada. Những cuốn sách bán chạy khác của ông gồmThe Call of the Wild (Tiếng gọi nơi hoang dã – 1903) và The Sea-Wolf (Hải tặc sói biển – 1904), khiến ông trở thành nhà văn được trả nhuận bút cao nhất ở Hoa Kỳ vào thời đó.

Cuốn tiểu thuyết mang tính cách tự thuật Martin Eden (1909) miêu tả những căng thẳng nội tại của “giấc mơ Mỹ” mà bản thân London đã trải qua khi ông như một vì sao từ nghèo khổ tối tăm bay đến chỗ giàu sang và danh tiếng. Eden, một thủy thủ nghèo mạt rệp, không được học hành nhưng thông minh và ham hiểu biết, quyết tâm trở thành nhà văn. Cuối cùng tác phẩm của anh làm cho anh trở nên giàu có và nổi tiếng, nhưng cũng chính lúc đó Eden nhận ra rằng người con gái mà anh yêu chỉ quan tâm đến tiền bạc và danh tiếng của anh mà thôi. Sự vỡ mộng trong tình yêu vì người trong mộng của mình hoàn toàn không có khả năng yêu thương đã làm cho anh mất luôn lòng tin vào phẩm giá con người. Anh cũng là nạn nhân của sự tha hóa giai cấp, vì anh không còn thuộc về tầng lớp lao động nữa, trong khi anh chối bỏ những giá trị vật chất của tầng lớp quý tộc mà vì nó anh đã phải lao động và nỗ lực vượt bực. Trên chuyến tàu đến Nam Thái Bình Dương anh đã nhảy xuống biển tự tử. Cũng như nhiều cuốn tiểu thuyết hay nhất thời đó, Martin Eden là câu chuyện về sự thất bại. Nó là mẫu mực cho cuốn The Great Gatsby (Gatsby vĩ đại) của F. Scott Fitzgerald khi nó bộc lộ sự tuyệt vọng của con người giữa vinh hoa phú quý.

Theodore Dreiser 
(1871 – 1945) 

Năm 1925, tác phẩm An American Tragedy (Một bi kịch Mỹ) của Theodore Dreiser ra đời, cũng giống như Martin Eden của London, khám phá những hiểm họa của giấc mơ Mỹ. Câu chuyện tái hiện đến từng chi tiết nhỏ về cuộc đời của Clyde Griffiths, một cậu bé kém ý chí và có chút ít ý thức. Cậu lớn lên trong một gia đình nghèo khó, đi lang thang hành nghề thuyết giáo. Cậu bé sớm nuôi mơ ước được giàu sang và được một người phụ nữ đẹp yêu. Rồi anh ta được một người bác giàu có nhận vào làm trong nhà máy của ông. Khi người bạn gái Roberta của anh có thai, cô yêu cầu anh ta phải cưới. Trong khi đó, Clyde lại đem lòng yêu một cô gái thuộc xã hội thượng lưu là đại diện cho sự thành công, tiền tài và địa vị xã hội. Clyde cẩn thận vạch kế hoạch dìm Roberta chết trong một chuyến đi chơi thuyền, nhưng vào giây phút cuối cùng anh lại đổi ý; tuy nhiên cô vẫn ngẫu nhiên té xuống nước. Clyde vốn bơi giỏi đã không cứu cô, và cô chết đuối. Khi Clyde bị ra hầu tòa, Dreiser kể lại câu chuyện theo chiều ngược lại, đã khôn khéo sử dụng những vị trí thuận lợi của luật sư công tố và luật sư bào chữa để phân tích từng bước đi và động lực dẫn Clyde, một thanh niên tính tình vốn dịu dàng, rất mộ đạo và có quan hệ gia đình tốt đẹp, đến chỗ phạm tội giết người.

Mặc dầu không có được phong cách tinh tế nhưng Dreiser trong An American Tragedy lại chứng tỏ là ngòi bút bậc thầy. Những chi tiết chính xác của tác phẩm đã tạo được một cảm nhận mãnh liệt về một tấn bi kịch không thể nào tránh khỏi. Cuốn tiểu thuyết là một bức tranh cay độc làm tổn thương huyền thoại về sự thành công dễ dàng ở Mỹ, và nó cũng là một câu chuyện phổ biến về những áp lực của công cuộc đô thị hóa, hiện đại hóa, và sự tha hóa. Nó cũng nói lên nhiều khía cạnh về những tưởng tượng lãng mạn và nguy hiểm của những kẻ bị tước đoạt.

An American Tragedy phản ánh sự bất mãn, lòng ghen tị, và sự thất vọng làm dân nghèo và tầng lớp lao động phải đau khổ trong sự cạnh tranh gay gắt của xã hội Mỹ, nơi mà sự thành công vừa là động lực vừa là nỗi ám ảnh. Khi sức mạnh của ngành công nghiệp Mỹ trỗi dậy, cuộc sống hào nhoáng của lớp người giàu có xuất hiện hàng ngày trên báo ảnh và tạp chí là một sự tương phản rất rõ nét với cuộc sống ảm đạm buồn tẻ của đa số nông dân và tầng lớp công nhân ở đô thị. Truyền thông đại chúng đã thổi phồng lên những ước ao đổi đời và những ham muốn phi lý. Những vấn đề như thế là hết sức bình thường với những đất nước đang hiện đại hóa, tạo đất sống cho trào lưu báo chí có xu hướng khuấy bùn đó là một loại phóng sự điều tra phanh phui có chiều sâu, cung cấp tư liệu về những vấn đề xã hội và tạo ra sự thúc đẩy quan trọng cho việc cải tạo xã hội.

Truyền thống vững mạnh của báo chí điều tra Mỹ bắt nguồn từ giai đoạn này. Trong suốt thời gian ấy, tờ tạp chí tầm cỡ quốc gia như là McClures Collier’s đã xuất bản cuốn History of the Standard Oil Company[3] (Lịch sử của công ty dầu mỏ Standard Oil – 1904) của Ida M. Tarbell, The Shame of the Cities (Nỗi ô nhục của các đô thị – 1904) của Lincoln Steffens, và các vụ phanh phui đầy tai tiếng khác. Những cuốn tiểu thuyết bới móc sử dụng những kỹ thuật báo chí độc đáo để khắc họa những điều kiện sống khắc nghiệt và sự áp bức. Cuốn The Octopus (Bạch tuộc – 1901) của Frank Norris theo phái Dân túy đã phanh phui những vụ bê bối của những công Ty hỏa xa lớn, trong lúc đó cuốn The Jungle (Rừng rậm – 1908) của Upton Sinclair theo phái xã hội đã phơi bày sự dơ dáy bẩn thỉu của công nghệ làm thịt hộp ở Chicago. Cuốn The Iron Heel (Gót sắt – 1908) với cái nhìn bi quan của Jack London thì đi trước cuốn năm 1984 của George Orwell trong việc tiên đoán một cuộc chiến giai cấp và việc đảo chính cướp chính quyền.

Một phản ứng có tính nghệ thuật hơn là các chân dung hiện thực hay nhóm chân dung những nhân vật bình thường và những thất vọng trong cuộc sống nội tâm. Tuyển tập truyện ngắn Main-Travelled Roads (Những nẻo đường chính – 1891) của tác giả được William Dean Howell bảo trợ, Hamlin Garland (1860 – 1940) là phòng tranh trưng bày chân dung của những người bình thường. Nó khắc họa những bức tranh đáng kinh ngạc về sự khốn cùng của nông dân miền Trung Tây đòi cải cách nông nghiệp. Tựa cuốn sách ám chỉ về nhiều con đường chạy về hướng Tây mà những người khẩn hoang nhọc nhằn đã đi theo và những con đường chính đầy bụi bặm ở các làng định cư của họ.

Gần gũi với Main-Travelled Roads của Garland là Winesburg, Ohio (Thành phố Winesburg, bang Ohio) của Sherwood Anderson (1876 – 1941) được bắt đầu 1916. Đây là tuyển tập truyện ngắn rời rạc về các cư dân của một thành phố hư cấu Winesburg qua cái nhìn của một phóng viên trẻ thơ ngây George Willard, người cuối cùng cũng ra đi tìm kiếm cơ may của mình ở đô thị. Giống như Main-Travelled Roads và những tác phẩm theo trường phái tự nhiên khác của thời kỳ này, Winesburg, Ohio nhấn mạnh đời sống nghèo khổ âm thầm, sự cô đơn và tuyệt vọng của các thành phố nhỏ ở Mỹ.

“TRƯỜNG PHÁI CHICAGO” TRONG THI CA

Ba nhà thơ miền Trung Tây lớn lên ở bang Illinois và chia sẻ mối quan tâm của miền Trung Tây với quần chúng là Carl Sandburg, Vachel Lindsay và Edgar Lee Masters. Thơ của họ thường quan tâm đến những cá nhân của bóng tối, họ phát triển những kỹ thuật mang yếu tố hiện thực, những diễn tả đầy kịch tính, giúp họ thu hút được đông đảo độc giả hơn. Họ là một phần của văn học miền Trung Tây, hay trường phái Chicago nổi lên trước Thế chiến thứ nhất thách thức định chế văn học ở bờ Đông. Sự “Phục hưng của Chicago” là một bước ngoặt của nền văn hóa Mỹ: nó chứng minh rằng văn hóa của vùng đất này đã trưởng thành.

Edgar Lee Masters
(1868 – 1950)

Trước thềm của thế kỷ 20, Chicago đã trở thành một đô thị lớn, quê hương của nền kiến trúc cách tân và những bộ sưu tập nghệ thuật tầm vóc thế giới. Chicago cũng là nơi ra đời của tờ Poetry của Harriet Monnoe, một tạp chí văn học quan trọng nhất thời đó.

Trong số những nhà thơ đương đại đáng chú ý mà tạp chí này đã giới thiệu, có Edgar Lee Masters, tác giả tập thơ dấn thân Spoon River Anthology(Tuyển tập Spoon River – 1915). Tập thơ nổi bật với ngôn ngữ hàng ngày “chẳng thơ một chút nào” hết sức mới mẻ, một sự bộc bạch thẳng thắn về tính dục, cái nhìn phê phán về cuộc sống làng quê, và những miêu tả cường điệu về đời sống nội tâm của những con người chẳng có gì nổi bật.

Spoon River Anthology là tuyển tập những chân dung được trình bày như những đoạn bi ký viết bằng ngôn ngữ thông thường tóm lược cuộc đời của những người dân quê như thể bằng lời lẽ của chính họ. Nó vẽ ra toàn cảnh của một làng quê qua cái nghĩa trang của nó: 250 người chôn ở đấy đã lên tiếng bộc bạch những bí mật sâu kín nhất của họ. Nhiều người có quan hệ mật thiết với nhau; thành viên của 20 gia đình nói về những thất bại và giấc mơ của họ bằng những bài tự sự theo thể thơ-tự-do hiện đại một cách đáng ngạc nhiên.

Carl Sandburg
(1878 – 1967)

Một người bạn của ông đã nói: “Cố viết ngắn gọn về Carl Sandburg cũng giống như cố gắng chụp hình hẻm núi Grand Canyon([4]) bằng một tấm hình đen trắng”. Là nhà thơ, nhà sử học, nhà văn viết tiểu sử, tiểu thuyết, sáng tác nhạc và viết tiểu luận – Sandburg – con trai của một người thợ rèn đường sắt xứng đáng với tất cả những danh hiệu đó và còn hơn thế nữa. Sống bằng nghề viết báo, ông viết tiểu sử đồ sộ về Abraham Lincoln – một trong những tác phẩm kinh điển về thể loại này của thế kỷ 20.

Đối với nhiều người, Sandburg là một Walt White hiện đại. Ông viết những vần thơ yêu nước và những bài thơ đầy cảm xúc về đời sống đô thị, những giai điệu đơn giản trẻ thơ và những khúc ballad. Ông đi khắp nơi ngâm thơ và ghi âm thơ của mình bằng một giọng ngâm có âm điệu du dương, ngọt ngào, thực sự là một cách hát. Tự bản chất ông hoàn toàn khiêm tốn, dù cho tiếng tăm lừng lẫy cả nước. Điều ông mong muốn trong cuộc sống như một lần ông nói là “được thoát khỏi giam cầm… được ăn đều đặn… được in ra những gì tôi viết… một tình yêu nơi quê nhà và chút ít âu yếm trìu mến nơi đây và xa kia trong toàn cảnh nước Mỹ… (và) được ca hát mỗi ngày”.

Bài thơ “Chicago” (1914) là một ví dụ tuyệt vời cho những chủ đề trên và cho phong cách Whitman của ông:

Gã bán thịt heo cho toàn thế giới,
Người làm dụng cụ, kẻ chất đống lúa mì,
Người rong chơi với những đường xe lửa và
Người chuyển hàng của đất nước;
Như bão tố, ồn ào, đầy sức mạnh
Thành phố của những đôi vai vững vàng.

 

Vachel Lindsay
(1879 – 1931)

Vachel Lindsay là một mục sư theo phái Dân túy ở một thị trấn nhỏ miền Trung Tây và là người sáng tạo ra loại thơ có nhịp điệu mạnh mẽ làm ra để đọc lớn trước đám đông. Sáng tác của ông là một sự kết hợp kỳ ảo với một mặt là những hình thức thơ ca bình dân, hay dân gian, chẳng hạn như những bài hát phúc âm Thiên Chúa giáo và ca nhạc tạp kỹ và mặt khác là thi pháp tiên tiến của các trào lưu hiện đại. Là một nhà thơ đọc trước công chúng cực kỳ nổi tiếng thời đó, những cách đọc của Lindsay là tiền thân những cách đọc thơ của nhóm “Beat” thời sau thế chiến II có đệm nhạc Jazz.

Để phổ biến thơ cho công chúng, Lindsay phát triển cái mà ông gọi là một “loại ca nhạc tạp kỹ cao cấp”, dùng âm nhạc và các tiết tấu mạnh. Là người phân biệt chủng tộc dựa vào tiêu chuẩn hiện nay, bài thơ nổi tiếng của ông “The congo” (1914) ca ngợi lịch sử của những người Phi châu bằng cách pha trộn nhạc Jazz, thơ, âm nhạc và ca từ. Ông đồng thời làm cho những nhân vật lỗi lạc trong lịch sử nước Mỹ chẳng hạn như Abraham Lincoln (trong bài “Abraham Lincoln Walks at Midnight” Abraham Lincoln đi dạo giữa đêm khuya và John Chapman (“Johnny Appleseed” – Johnny hạt táo) trở nên bất tử bởi nghệ thuật pha trộn giữa hiện thực và huyền thoại.

Edwin Arlington Robinson
(1869 – 1935)

Edwin Arlington Robinson là nhà thơ Mỹ xuất sắc nhất vào cuối thế kỷ 19. Giống như Edgar Lee Masters, ông nổi tiếng vì những phát hiện về nét khôi hài, tính cách thiếu hoàn hảo của những con người bình thường. Nhưng không giống Masters, Robinson dùng âm luật truyền thống. Thị trấn Tilbury do ông tưởng tượng ra cũng giống như Spoon River của Masters chứa đựng bao cuộc sống mòn trong tuyệt vọng âm thầm. Một số những bài thơ tự sự nổi tiếng của Robinson là “Luke Havergal” (1896), về một tình nhân bị bỏ rơi, “Miniver Cheevy” (1910), hình ảnh một con người mộng mơ lãng mạn; và “Richard Cory” (1896), một chân dung ảm đạm về một con người giàu có đã tự kết liễu đời mình:

Mỗi khi Richard Cory đi ra phố,
chúng tôi tụ trên vỉa hè đứng nhìn ông:
Ông là một quý ông lịch duyệt
Ân cần, đẹp tươi; thon thả, uy nghiêm.

Và ông luôn ăn mặc thật chỉnh tề, nhã nhặn
Ông luôn nhân từ khi trò chuyện cùng ai
Ông vẫn thường đỏ mặt lên khi nói,
“Chào ông” và trông ông rạng rỡ mỗi bước đi.

Ông giàu có – vâng, còn giàu hơn cả một ông vua –
Ông được dạy dỗ để phong nhã trong từng cử chỉ:
Cuối cùng, chúng tôi nghĩ rằng ông là tất cả những gì Khiến chúng tôi ao ước được là ông.

Vì thế chúng tôi tiếp tục làm việc, và đợi chờ may mắn
Và qua ngày không có thịt ăn, và nguyền rủa bánh mì
Còn Richard Cory, một đêm hè êm vắng,
Đã về nhà và bắn một viên đạn vào đầu ông.

 

“Richard Cory” chiếm được một chỗ đứng bên cạnh Martin EdenAn American Tragedy, và The Great Gatsby như một lời cảnh tỉnh đầy sức mạnh chống lại huyền thoại về sự thành công được thổi phồng lên biến thành bệnh dịch hành người dân Mỹ trong thời đại của những nhà triệu phú.

HAI TIỂU THUYẾT GIA MANG SẮC THÁI ĐỊA PHƯƠNG

Hai nữ tiểu thuyết gia Ellen Glasgow (1873 -1945) và Willa Cather (1873 – 1947) chuyên khám phá về thế giới phụ nữ, và đặt họ vào trong những khung cảnh địa phương được xây dựng với một vẻ rực rỡ, huy hoàng. Thực ra, không ai trong hai người tuyên bố những vấn đề đặc biệt về phụ nữ. Trong các tác phẩm đầu tay của nhân vật chính là nam, và chỉ khi họ đã tạo được sự tự tin và một độ chín trong nghệ thuật, họ mới quay sang mô tả đời sống của phụ nữ. Glasgow và Cather chỉ có thể được xem là “các nhà văn nữ” theo nghĩa mô tả, vì tác phẩm của họ không thể phân loại được.

Glasgow người vùng Richmond bang Virginia, thủ phụ cũ của phe miền Nam thời Nội chiến. Các tiểu thuyết hiện thực của bà phản ánh sự biến đổi của miền Nam từ một nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp. Các tác phẩm có giá trị như Virginia (1912) xoay quanh những kinh nghiệm của người miền Nam, trong lúc những tác phẩm sau này như Barren Groand(Đất bạc màu (1925) – được công nhận là tác phẩm hay nhất của bà – kịch hóa cuộc đời những phụ nữ tài hoa cố gắng vượt qua những lề thói truyền thống bó hẹp của miền Nam, khuôn định thiên chức nội trợ, trách nhiệm gia đình và sự phụ thuộc của phụ nữ.

Cather, một người Virginia khác, lớn lên trên thảo nguyên Nebradka giữa những người di dân khẩn hoang – sau này làm cho họ sống mãi trong cuốnO Pionners! (Ôi! Những người khai hoang – 1913), My Antonia (Antonia của tôi – 1918), và câu chuyện nổi tiếng của bà Neighbour Rosicky (Người hàng xóm Rosicky – 1928). Trong cuộc đời, bà trở nên ngày càng xa lạ với chủ nghĩa vật chất của cuộc sống hiện đại và viết về những ảo mộng khác nhau ở Tây Nam nước Mỹ và trong quá khứ. Cuốn Death Comes for the Archbishop (cái chết của ngài giám mục – 1927) dựng lại tinh thần lý tưởng của hai tu sĩ thế kỷ 16 lập nên Giáo hội Công giáo ở sa mạc New – Mexico. Tác phẩm của Cather tưởng niệm những khía cạnh quan trọng của kinh nghiệm Mỹ bên ngoài dòng văn học chính thống – như việc khai khẩn, sự thành lập tôn giáo, và cuộc sống độc lập của phụ nữ.

SỰ VƯƠN LÊN CỦA NỀN VĂN HỌC MỸ DA ĐEN

Thành tựu văn học của người Mỹ Da đen là một trong những bước phát triển văn học nổi bật nhất sau Nội chiến. Các dòng văn học Mỹ da đen đã bắt rễ trong các tác phẩm của Booker T. Washington, W.E.B. Du Bois, James Weldon Johson, Charles Waddell Chesnutt, Paul Laurence Dunbar và những người khác, đáng chú ý nhất là thể loại tiểu sử tự thuật, văn học phản kháng, những bài thuyết giảng, thơ và âm nhạc.

Booker T. Washington
(1856 – 1915)

Booker T. Washington, nhà giáo dục và người lãnh đạo Da đen nổi bật nhất vào thời đó. Ông sinh ra và lớn lên trong thân phận nô lệ ở quận Franklin – bang Virginia, cha là người Da trắng chủ nô, mẹ là nữ nô lệ Da đen. Tiểu sử tự thuật đơn giản, rất hay của ông Up From Slavery (Đứng lên từ cuộc đời nô lệ – 1901), kể lại cuộc đấu tranh thắng lợi của ông trong việc tu dưỡng bản thân. Ông trở nên nổi tiếng bởi những nỗ lực trong việc cải thiện cuộc sống của những người Mỹ Da đen; chính sách hòa giải với người Da trắng của ông – một nỗ lực giúp đỡ những người Mỹ Da đen mới được giải phóng hòa nhập vào dòng chảy chung của xã hội Mỹ – được vạch ra trong diễn văn nổi tiếng của ông nhan đề “Atlanta Exposition Address” (1895).

W.E.B. Du Bois
(1868 – 1963) 

Sinh ở New England và được đào tạo ở Đại học Harvard và Đại học Berlin (Đức), W. E. B. Du Bois là tác giả của bài viết “Of Mr Booker T. Washington and Others” (Về ông Booker T. Washington và nhữngh người khác), một tiểu luận về sau được tập hợp trong cuốn sách nổi tiếng của ông The Souls of Black Folk (Tâm hồn người Da đen – 1903). Du Bois cẩn thận chứng minh rằng dù cho Washington có nhiều thành tích, ông thật sự đã chấp nhận sự kỳ thị chủng tộc – sự đối xử bất bình đẳng và phân biệt đối với người Mỹ Da đen – và sự kỳ thị ấy tất yếu sẽ dẫn đến địa vị thấp kém của người Da đen, đặc biệt là trong giáo dục. Du Bois, một sáng lập viên của Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu (NAACP), cũng viết những lời đánh giá nhạy bén, sắc sảo về truyền thống và văn hóa của người Mỹ gốc Phi; tác phẩm của ông giúp những người trí thức Da đen khai thác nền văn học và âm nhạc dân gian phong phú của dân tộc mình.

James Weldon Johnson
(1871 – 1938)

Cũng như Du Bois, nhà thơ James Weldon Johnson tìm cảm hứng trong những bài dân ca của người Mỹ Da đen. Bài thơ “O Black and Unknown Bards” (Ôi, những nhà thơ Da đen vô danh! – 1917) của ông có đoạn

Trái tim người nô lệ nào trào tuôn bao giai điệu
Như trong bài “Lẻn bước đến bên Chúa” một khúc nhạc dịu êm
Linh hồn anh chắc tự do bay lượn hằng đêm,
Dầu quanh đôi tay anh xích xiềng xiết chặt.

Mang trong mình dòng máu pha trộn giữa Da đen và Da trắng, Johnson đã tìm hiểu vấn đề phức tạp của chủng tộc trong cuốn tiểu thuyếtAutobiography of an Ex-Colored (Tiểu sử tự thuật của một người lai – 1912) viết về một người pha trộn hai dòng máu đã “vượt qua” định kiến (hay là được chấp nhận) làm người Da trắng. Cuốn sách chuyển tải một cách có hiệu quả sự quan tâm của người Mỹ Da đen với những vấn đề nguồn gốc lai lịch ở Mỹ.

Charles Waddell Chesnutt 
(1858 – 1932)

Charles Waddell Chesnutt, tác giả của hai tuyển tập truyện ngắn, The Conjure Woman (Nữ pháp sư – 1899), The Wife of His Youth (Người vợ thời son trẻ – 1899) tiểu thuyết The Marrow Of Trandittion (Cốt lõi của truyền thống – 1901), và một cuốn tiểu sử về Frederick Douglass, đi trước thời đại. Truyện ngắn của ông dựa trên các đề tài về chủng tộc, nhưng tránh né những kết cục có thể đoán trước được và những tình cảm chung chung, nhân vật của ông là những cá nhân rõ rệt với những thái độ phức tạp về mọi việc, bao gồm cả vấn đề chủng tộc. Chesnutt thường mô tả sức mạnh của cộng đồng Da đen và khẳng định những giá trị đạo đức và sự đoàn kết chủng tộc.


[1] Tinh thần chống sùng bái thánh tượng nổi lên đầu tiên ở châu Âu thể hiện đậm nét trong văn học trào phúng dân gian.

[2] Yellow Sky: tên một thị trấn trong truyện ngắn nổi tiếng này.

[3] Standard Oil Company: một công ty dầu lửa hàng đầu của Mỹ. Tên viết tắt của nó là S.O và đọc là ESSO.

[4] Grand Canyon: một thung lũng rộng mênh mông bị sông Colorado cắt ngang ở vùng cao nguyên thuộc Tây Bắc Arizona. Hẻm núi ngoạn mục đẹp như một tác phẩm điêu khắc này có chiều rộng từ 0,2 đến 29km và trải dài từ cửa sông Paria gần địa phận phía Bắc của Arizona đến vách núi Grand Wash gần Nevada, tức là vào khoảng 446 km.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_v.html