Browsing Tag

Shakespeare

Văn học & Điện ảnh Văn học Anh

Hamlet – Shakespeare

Hoàng tử Hamlet, con vua Đan Mạch, được vua cha gửi sang trường đại học Wittemberg, nước Đức, để hoàn tất việc học. Đó là một thiếu niên tài trí, một trang dũng kiệt, một văn nhân tao nhã, đóa hoa thơm và nguồn hy vọng của vương quốc. Nhưng trước khi khóa học chấm dứt, chàng bị triệu hồi về nước vì nhà vua vừa đột ngột băng hà. Hamlet buồn khổ nhiều, bởi chàng rất mực yêu mến cha.

Đau đớn và sầu thảm suốt cuộc hành trình, khi về đến lâu đài ở Elseneur(1), chàng thấy hoàng hậu Gertrude, mẹ chàng đã tái giá. Trước khi đôi giày bà mang để tiễn đưa người chồng cũ kịp mòn, trước khi hai tháng trôi qua đủ làm khô nước mắt, bà đã lấy em trai của nhà vua quá cố.

Hoàng tử Hamlet không ưa chú mình tí nào, ông ta khác xa người cha yêu quý mà chàng giữ mãi hình ảnh trong tâm khảm. Tâm hồn chàng không chịu nổi sự lãng quên mau chóng đó. Tuy nhiên, triều đình đón chàng rất tưng bừng. Nhà vua mới không cho phép chàng quay lại trường đại học, muốn giữ lại bên cạnh mình vị thái tử của vương quốc rất được mẹ quý mến, đã khuyên chàng nên sớm nguôi ngoai, bởi vì cha chết trước con cũng là điều tự nhiên thôi, và để tôn vinh chàng, nhà vua vừa uống rượu mừng sức khỏe chàng, vừa ra lệnh bắn đại bác.

Nhưng Hamlet vẫn u sầu và sửng sốt khi một người bạn cũng về Đan Mạch dự đám tang, và cũng như chàng, bị bất ngờ vì gặp hôn lễ, đến báo cho chàng hay một việc lạ kì. Mỗi đêm các sĩ quan phòng vệ sân trước của lâu đài ở Elseneur đều trông thấy một hồn ma lẩn khuất, võ trang từ chân đến đầu, thơ thẩn đến lúc gà gáy sáng mới biến mất. Horatio đã thức rình xem và tận mắt trông thấy; qua bộ áo giáp và nhất là qua đôi mày nhíu lại, anh đã nhận ra nhà vua quá cố. Cả lính gác, cả Horatio nữa đều khiếp hãi, không ai dám nói chuyện với ngài. Hamlet, xúc động mãnh liệt, bảo bạn hãy giấu kín sự việc lạ lùng đó và ngay đêm sau, khoảng mười một giờ đến nửa đêm, chàng thấp thỏm đợi chờ hồn ma xuất hiện.

Trên khu sân rộng băng giá, hắt hiu gió bấc, vị hoàng tử trẻ ngồi chờ giữa lúc kèn và tiếng đại bác báo hiệu rằng giữa tiệc, vị vua Claudius vừa nốc cạn bình rượu chát xứ Rhin. Mười hai giờ vừa gõ, hồn ma mặc áo giáp, xanh xao và đờ đẫn xuất hiện trước mặt chàng. Hamlet run lẩy bẩy vì được gặp lại cha, vội khẩn:

– Dẫu rằng người là vong linh hay oan hồn, ý định của người hiểm độc hay nhân ái, ta, Hamlet hoàng tử Đan Mạch, gọi ngươi là vua cha! Ôi! Hãy trả lời ta! Tại sao xương cốt người có thể sống dậy? Tại sao mộ phần lại hé cánh cửa cẩm thạch nặng nề cho người thoát ra? Tại sao người đứng đó, cái tử thi mang khí giới từ chân đến đầu, khiến ta kinh hoàng dưới ánh trăng, vì ta bị ám ảnh bởi những ý tưởng từ bên kia cõi chết?

Thoắt cái, hồn ma lôi chàng đi, và mặc dù khiếp sợ, Hamlet vẫn bước theo, buông xuôi cho định mệnh, rời khỏi những người bạn đang kinh hãi vì sự bồng bột của chàng. Hồn ma dừng lại nói:

– Ta là vong hồn cha của con bị hình phạt, ban đêm thì phải lang thang vất vưởng đó đây, và ban ngày thì bùng cháy cho đến khi đền xong tội lỗi. Nếu ta kể con nghe về ngục thất của ta, lòng con sẽ tan nát và con sẽ táng đởm kinh hồn. Nhưng tiết lộ với đôi tai phàm tục về chốn vĩnh cửu cũng chẳng ích gì. Hãy nghe đây! Ôi! Hãy nghe đây! Nếu con vẫn thương cha –và Hamlet rên rỉ, kêu trời- hãy báo thù cho cha đối với con quỷ đê tiện và vô luân đó.

Hồn ma kể lại cái chết tức tưởi của mình. Đứa em khốn nạn đã đầu độc ngài, lúc ngài thiu thiu ngủ trong vườn, đoạt cả vợ và ngai vàng, đưa ngài sang thế giới bên kia, hồn đầy tội lỗi, không kịp sám hối, không lễ rửa tội. Ngài van nài Hamlet hãy chấm dứt sự kiện ô nhục đó, hãy cứu con mồi đáng thương khỏi bàn tay sát nhân, nhưng tuyệt đối không được đụng đến mẹ, cứ để mặc thượng đế trừng phạt bà và lòng hối hận cấu xé bà. Rồi thấy ánh sáng đom đóm nhạt dần, vừng đông sắp ló dạng, hồn ma biến mất sau khi nhắc lại:“Vĩnh biệt, Hamlet, hãy nhớ đến cha!”

Hình như đất trời rung chuyển quanh Hamlet khi chàng nghe tiết lộ câu chuyện bi thảm đó. Bao kỉ niệm phù phiếm, bao ý đẹp lời hay trong sách vở và những ấn tượng về một thời quá khứ vàng son, tất cả những gì tuổi trẻ đã hấp thụ, chợt nhạt nhòa đi và biến khỏi ký ức; Trong tâm não chàng chỉ còn lại vỏn vẹn một lời thề sắt đá: vâng lời hồn ma và không được quên lời dặn.

Đối với lũ bạn tò mò, chàng không giải thích gì, chỉ nói:“Ta là một kẻ xấu số, ta phải đi cầu nguyện đây!”. Chàng buộc các bạn phải thề trên lưỡi kiếm của chàng là họ sẽ giữ kín mọi chuyện trong khi từ lòng đất vọng lên tiếng nói vang rền:“Hãy thề đi!”.

Rồi trước sự kinh ngạc của bạn bè, Hamlet nói thêm:“Còn biết bao điều trong trời đất mà triết học của các bạn chưa hề với tới!”. Bản thân chàng cũng rất hoang mang, bởi chàng chưa rõ điều hồn ma nói có đúng là sự thật không và chàng trù tính sẽ bí mật tìm ra manh mối vụ án. Định mệnh khắc nghiệt đã đặt lên đôi vai gầy yếu của chàng một nhiệm vụ nặng nề: tìm ra sự thật và báo thù.

Bỗng nhiên có tiếng đồn lan khắp triều đình rằng hoàng tử Hamlet đã đổi hẳn tính nết: trang phục xộc xệch, áo mở phanh ngực, chàng đi lang thang, tất giày lem luốc bẩn thỉu, dây buộc cẩu thả, mặt mày tái xanh, bước ngả nghiêng với cái nhìn ảo não, như thể chàng vừa từ địa ngục thoát ra để gieo kinh hoàng cho con người; thỉnh thoảng chàng dừng lại, đăm đăm nhìn một khuôn mặt tình cờ bắt gặp, rồi thở dài, loạng choạng bước đi, đờ đẫn và ngơ ngác. Chẳng ai nhận ra chàng nữa, kể cả những bạn cũ hay quan thị vệ Polonius và tiểu thư Ophélia dịu hiền mà Hamlet vẫn thương yêu; hoàng hậu, mẹ chàng và vua Claudius, chú chàng, cũng thế. Nhà vua nghĩ –hay giả vờ nghĩ, và khối người e ngài không hề lầm – rằng hoàng tử trẻ bị khủng hoảng tinh thần bởi quá sầu muộn vì cái chết của vua cha. Đức vua và hoàng hậu giao cho hai người bạn thời thơ ấu của chàng là Rosencrantz và Guildenstern nhiệm vụ an ủi chàng, nếu có thể, và nhất là tìm hiểu chàng. Nhưng Hamlet nhanh chóng hiểu ra cái lý do đích thực khiến chúng đến với chàng, nên liền tuôn ra với chúng những lời lẽ điên rồ, hai nghĩa. Theo chàng, Đan Mạch là một nhà ngục với ngục tối, xà lim và vọng canh; chàng có thể chui vào vỏ trái hồ đào và từ đấy, có thể xem mình như chúa tể nhiều lãnh thổ bao la… cùng vô vàn những điều phi lý khác, nhưng chàng luôn tỏ vẻ hết sức trân trọng và lịch sự đối với hai người bạn. Và bởi chàng thú nhận rằng mình đã mất hết niềm hứng khởi và xao lãng mọi cuộc luyện tập, rằng chàng rất u buồn và phiền muộn, hai người bạn mới lưu ý chàng về đoàn hát mà trước đây chàng vẫn thích, vừa đến lâu đài. Trong lúc bàn tán về thành tích của nhóm kịch sĩ này so với các đoàn hát khác, Hamlet chợt nảy ra một ý định kỳ quặc, phù hợp với tâm trạng bối rối của chàng. Chàng tiếp đón niềm nở gánh hát rong, bàn luận về các vai trò và diễn viên, muốn được thưởng thức tức khắc cái trường đoạn mà chàng thích thú nhất –câu chuyện trong đó chàng Enée(2) kể cho nữ hoàng Didon(2) nghe người ta đã giết chết đức vua già Priam ra sao- rồi chàng nhờ quan thị vệ Polonius trông coi xếp đặt cho thỏa đáng việc ăn ở của đoàn hát. Sau đó, một mình với trưởng đoàn, hoàng tử yêu cầu hắn ta trình diễn một vở do mình chọn lựa, “Cái chết của vua Gonzague” và chen vào đó độ mười hai câu thơ do chàng sáng tác.

Bởi chừng hoàng tử thấy đó là một thử thách quyết định. Vở tuồng, do chàng sửa đổi, sẽ diễn lại vụ mưu sát cha chàng chính xác đến nỗi, chỉ cần nghe thôi, bọn thủ phạm cũng không thể nào che giấu xúc động và như thế, buổi trình diễn chắc chắn sẽ là cơ hội để chàng bắt chộp được lương tâm nhà vua. Vì Hamlet vốn yếu đuối và đa cảm vẫn chưa tin hẳn những lời nói của hồn ma, chàng nghĩ rằng vong hồn ấy biết đâu chẳng hiểm độc, và chỉ tìm cách đày đọa chàng mà thôi. Với ý chí tê liệt, tâm hồn mơ mộng, chàng nguyền rủa tội ác, nhưng không dám ra tay trừng phạt, khinh miệt kẻ sát nhân nhưng chẳng có can đảm vạch mặt nó, thiếu quyết tâm báo thù, tự an ủi mình bằng lời nói hơn là hành động, đến nỗi cuối cùng phải buộc tội hồn ma để bào chữa cho sự bất lực của bản thân mình.

Trong khi đó, mọi người đều rắp tâm tìm hiểu nguyên nhân sự điên loạn hiển nhiên và ngày càng trầm trọng của hoàng tử Hamlet. Polonius, cha cô gái đẹp tuyệt trần Ophélia, ngỡ như mình đã hiểu ra. Với tính cách một người cha thận trọng, ông ra lệnh cho con gái đừng nghe chuyện, cũng đừng nhận tặng vật gì của Hamlet, vị quân vương tương lai đó không thể nào làm chồng nàng được. Nhận thấy hoàng tử hoàn toàn mất trí, ông cho rằng tình yêu bị hất hủi đã khiến chàng ngây dại và đó chẳng phải cái gì khác hơn là một cơn điên loạn vì tình. Ông vội chạy đi báo cho đức vua và hoàng hậu về điều mình vừa phát hiện, thế là cả bọn quyết định bày cách thử chàng. Người ta đặt cô Ophélia dịu hiền, với quyển sách mở rộng trước mặt, -để cho việc nàng ngồi một mình dễ chấp nhận hơn- trong một hành lang mà Hamlet vẫn thường lui tới trầm mặc. Rồi nhà vua và Polonius nấp sau một bức tường, rình nghe cuộc trò chuyện của đôi lứa để có thể khẳng định cơn điên của hoàng tử có phải là do thất vọng vì tình không. Chẳng mấy chốc Hamlet bước vào, đi chậm rãi, vừa lẩm bẩm những câu triết lý theo thói quen, nghĩ đến những hồn ma bóng quế và ranh giới ngăn cách người sống với kẻ chết:

– Tồn tại hay không tồn tại, đó là vấn đề. Chết, ngủ! Chẳng có gì hơn. Có thể nói giấc ngủ chấm dứt mọi thống khổ mà xác thân phải chịu đựng! Chết, hay ngủ. Ngủ, là nằm mơ, có lẽ. Ừ, câu hỏi chính là ở đó. Cơn mơ nào sẽ đến với ta trong giấc ngủ triền miên của cái chết? Đó là điều buộc ta phải suy nghĩ trở trăn. Mấy ai thích gánh chịu sự khinh miệt của người đời, những nỗi bất công, những điều sỉ nhục, nỗi đau khổ của tình phụ khi người ta có thể tự tìm đến với bình yên thanh thản bằng một nhát dao găm? Mây ai muốn rên siết và đổ mồ hôi dưới gánh nặng của một kiếp sống nhọc nhằn mà lại chẳng có điều phải sợ hãi sau khi lọt vào cõi chết, cái xứ sở xa lạ mà chẳng du khách nào đó lại được trở về!

Rồi chàng nghĩ rằng sự hèn hạ của người đời chẳng qua là do sợ hãi những điều chưa biết. Đôi mắt dịu dàng của Ophélia có nghĩa gì trước những vấn đề khắc khoải đó? Tuy nhiên, khi trông thấy nàng, chàng cũng nhã nhặn chào và đứng lại trò chuyện. Có thể chàng ao ước được nàng an ủi chăng? Nhưng vì hờn giận, hoài nghi, chàng thốt lên những lời cay đắng khiến cô gái đáng thương kinh hoàng; chàng không tin ai hết, kể cả nàng, dù trong trắng và dịu hiền là thế. Rồi hồi tưởng lại quá khứ, chàng nói thật phũ phàng:

– Ngày xưa, tôi đã từng yêu tiểu thư.

– Quả thực, thưa ngài, ngài đã khiến tôi tin như thế.

– Lẽ ra tiểu thư chẳng nên tin tôi, bởi tôi không còn yêu tiểu thư nữa.

Rồi chàng nói đến những điều xấu xa bằng mấy lời bóng gió khó hiểu:

– Hãy vào tu viện đi, vào tu viện đi, và nhanh lên nào. Tất cả chúng ta đều là những kẻ đểu giả quá đỗi; chẳng nên tin một ai trong chúng ta cả. Vĩnh biệt!

Và chàng bỏ mặc cô gái tội nghiệp, sững sờ khiếp đảm, cô tự nhủ thầm: “Ôi! Hỡi những quyền lực thiêng liêng, hãy trả lại lý trí cho chàng! Bất hạnh thay cho tôi, phải nhìn thấy vẻ đẹp tuyệt vời của thanh xuân bị hủy hoại vì điên loạn!”.

Nhà vua hiểu rõ căn bệnh mất trí của người cháu nên lo lắng tột độ, ngài quyết định tức khắc đưa chàng rời khỏi Đan Mạch và gửi chàng sang nước Anh với một sứ mệnh. Nhà vua cho rằng cuộc hành trình, mặt biển, với những khung cảnh mới lạ diễn ra trước mắt sẽ xua tan nỗi sầu muộn và những định kiến của chàng nhưng cái điều mà tên phản trắc không nói ra ấy là cuộc hành trình phải được tổ chức như thế nào để Hamlet không bao giờ còn quay lại nữa. Tuy nhiên, vua Claudius còn phải chờ hoàng hậu gặp mặt con, sau buổi kịch, để cho bà tìm cách làm cho con mình thổ lộ nguyên nhân nỗi sầu khổ nó vẫn ấp ủ trong lòng, mới loan báo dự định đó. Tên quan thị vệ Polonius vừa thất bại trong mưu đồ của hắn, ra vẻ xun xoe rối rít xin lãnh phần rình mò cuộc tiếp xúc của hai mẹ con.

Đêm hát đã chuẩn bị bắt đầu. Cả triều đình đều đến dự trong lễ phục long trọng, mỗi người ngồi theo chức vị của mình, thành hình vòng cung quanh hoàng hậu và đức vua, ngự trên ngai đối diện với bọn kịch sĩ. Sau khi nhắc lại những câu thơ cho các diễn viên -điều mà Hamlet quan tâm hơn cả là mọi người phải nghe thật rõ- chàng từ chối chỗ ngồi vinh dự bên cạnh mẹ, bởi chàng muốn quan sát tường tận nét mặt nhà vua. Hơn nữa, lần đầu tiên chàng đã tiết lộ phần nào những nỗi ngờ vực của mình cho Horatio biết, để anh ta có thể giúp chàng dò xét sắc diện của tên phản bội. Hoàng tử như muốn đùa bỡn, đến ngồi dưới chân nàng Ophélia dịu hiền, phía cuối vòng cung. Từ đó, đưa mắt về phía mẹ chàng nói:

– Hãy xem nét mặt hớn hở của mẹ tôi kìa, cha tôi chỉ mới mất hai giờ thôi đấy!

Nghe thế, cô bé hồn nhiên Ophélia, ngây thơ trả lời:

– Không đâu! Thưa ngài, đã hai lần hai tháng rồi đấy chứ!

– Sao, lâu thế cơ à! –Hamlet chế giễu- chết đã lâu thế mà chưa bị lãng quên! Thế thì hy vọng rằng ký ức về một bậc vĩ nhân có thể sẽ không phai mờ sau khi chết sáu tháng, nhưng Thánh mẫu ơi! Muốn thế, người ấy phải xây dựng bao nhiêu nhà thờ!

Suốt màn kịch câm và đoạn mở đầu, mọi người lặng im phăng phắc! Rồi vở kịch khởi diễn. Trên sân khấu, một ông vua và một hoàng hậu đối thoại bằng thơ; còn dưới này Hamlet oang oang giải thích cốt truyện cho Ophélia nghe. Người ta thấy cảnh vị vua già nhu nhược được bà vợ xảo quyệt ru ngủ bằng những lời thề nguyền chung thủy, rồi ngay sau đó, bị kẻ đồng lõa với bà đầu độc. Đúng lúc đó, vua Claudius đứng bật dậy, bước nhanh ra khỏi phòng và giữa sự nhốn nháo liền sau đó, Hamlet cược với Horatio một nghìn lirve rằng, hồn ma đã nói đúng, bởi vì chỉ mỗi tiếng “đầu độc” thôi, đủ khiến tên sát nhân phải bỏ đi.

Trước khi Hamlet kịp trấn tĩnh, mẹ chàng cho gọi chàng đến bên bà, không quên nói với Rosencrantz và Guildenstern vài lời cuồng dại, diễn tiếp vai trò mà chàng vẫn đặt ra cho mình. Chàng chua xót lẩm bẩm một mình:

– Bọn họ rồi sẽ biến ta thành kẻ điên mất, vì cứ buộc ta phải giả điên mãi thế này. Hãy đi tìm mẹ ta vậy! Đã đến giờ của những phù phép về đêm, giờ mà các nghĩa trang nhả ra những người chết và địa ngục thải uế khí tràn lan mặt đất. Ôi! Tim ta ơi! Hãy đừng đánh mất bản tính của mình! Đừng bao giờ để tâm hồn một Néron(3) len lỏi vào giữa ngực ta. Cứ tàn nhẫn đi, nhưng đừng vô luân. Miệng ta cứ phóng ra toàn dao găm, nhưng tay ta sẽ không hề động đến một ai.

Polonius đến núp sẵn sau bức màn để rình nghe cuộc đối thoại giữa hoàng hậu và con trai bà, bởi vì như ông ta tâu với nhà vua -giờ đây đã nhất quyết thanh toán hoàng tử, tốt hơn là để một người khác không phải là mẹ, tự nhiên phải thiên vị con mình- đến nghe lén những điều mà câu chuyện có thể tình cờ để lộ ra. Còn lại một mình, nhà vua lên tiếng cầu nguyện, cố ăn năn và hối tiếc tội ác đã gây ra, nhưng vẫn không thể được, bởi vì chẳng phải là ông ta đang thụ hưởng thành quả do tội ác của chính ông ta gây ra mang lại đó sao? Trong lúc ông ta quì gối, kêu gọi thiên thần cứu rỗi, thì Hamlet lặng lẽ bước vào, tính mạng kẻ thù kể như nằm trong tay, chàng có thể mặc tình hành động, nhưng chàng vẫn còn chần chừ, và cứ mãi quẩn quanh với mình.

– Kìa, hắn ta đang cầu nguyện! Ta có thể khử hắn trong lúc này. Nhưng như thế, hắn sẽ được lên thiên đàng! Báo thù mà như thế ư? Đó là điều cần nghĩ lại. Sao! Tên vô lại đã giết cha ta giữa lúc cha ta đang trong tình trạng tội lỗi nghiêm trọng, và theo như ta biết, những tội lỗi ấy đè nặng trên người. Thế mà ta, đứa con duy nhất, ta lại đưa tên phản trắc này lên thiên đàng, giữa lúc tâm hồn hắn thanh khiết, khác nào hắn được chuẩn bị tốt cho cuộc hành trình vào cõi chết! Không! Hãy dành cho hắn nhát gươm khủng khiếp hơn: ta sẽ hạ hắn khi nào hắn đang say sưa, mê ngủ, đang truy hoan hay lộng ngôn nghịch đạo. Để linh hồn hắn cũng bị đày đọa và đen tối như địa ngục mà hắn phải rơi vào!

Chính trong tâm trạng đó, chàng đến gặp mẹ. Chàng thốt lên những lời độc địa, rồi bất thình lình nghe có tiếng động sau bức màn, rút gươm ra đâm bâng quơ một nhát, vừa la lên:“Một con chuột!” rồi giết chết Polonius ẩn trong đó. Và chàng lại tiếp tục đay nghiến mẹ bằng những lời trách móc hung hăng, dẫn bà đến trước chân dung của hai anh em, buộc bà phải so sánh, làm tình làm tội bà đủ điều; bỗng nhiên hồn ma hiện ra, rồi cất lên tiếng nói:

– Con ơi! Đừng quên cuộc viếng thăm của ta không nhằm mục đích nào khác hơn là nung nấu cái ý chí báo thù giờ đây hầu như đã nguội lạnh trong con! Nhìn mẹ của con kìa: bà ấy và tâm hồn bà ấy đang cấu xé nhau. Con hãy can thiệp vào cuộc cấu xé đó đi. Chính những kẻ yếu đuối nhất mới là những kẻ mà trí tưởng tượng hoạt động mạnh nhất. Hamlet! Hãy nói với mẹ con đi.

Nhưng Hamlet nhìn trân trối vào khoảng không, tóc dựng ngược vì khiếp đảm, cố chỉ cho hoàng hậu thấy hồn ma, nhưng vô ích.

– Hỡi các vì thiên sứ, hãy che chở và bao phủ ta bằng đôi cánh của các ngươi Ngài, ngài kìa! Hãy nhìn ánh mắt nhợt nhạt của ngài. Ngài khiến đá cũng phải mủi lòng. Hãy nhìn kìa! Hãy nhìn bước chân ngài xa dần như thế nào. Đó là cha ta hệt như khi người còn sống. Hãy nhìn kìa! Người vừa bước ra khỏi cửa!

Hoàng hậu chẳng thấy gì cả, ngỡ chàng lại lên cơn điên loạn:

– Hamlet ơi! Con khiến mẹ tan nát cõi lòng!

Nhưng chàng vẫn nói mãi, tố cáo mẹ bằng những lời độc ác và thách bà cứ bảo với nhà vua về sự giả điên của mình rồi chàng đi ra, lôi theo cái xác của Polonius vừa tụng lên bài điếu văn sau đây:“Thực ra, lúc sống viên cố văn này là một thằng ngốc và ba hoa nhưng bây giờ hắn đã thật sự lặng thinh kín đáo và nghiêm trang rồi. Đi thôi, thưa ông! Thế là xong nhé! Chúc mẹ ngủ ngon!”.

Vụ sát nhân là bằng chứng sự điên loạn của chàng. Nhưng vì chàng được thần dân yêu mến, nên nhà vua chẳng dám đụng đến chàng ngay tại Đan Mạch. Vì vậy, viện cớ chàng đã trở nên nguy hiểm, Claudius thực hiện ý đồ đưa chàng sang Anh, kèm theo hai người bạn Rosencrantz và Guildenstern, với những lá thư niêm kín. Hoàng tử nghi ngờ có cạm bẫy, nên trong cuộc hành trình chàng tìm cách lấy trộm cái bọc đựng thư, và được biết có lệnh giết chàng ngay khi đến đất Anh, như một tên điên loạn không có khả năng trị vì. Chàng liền thảo lá thư khác, điền vào đấy lệnh xử tử không được trì hoãn những kẻ mang thư, rồi lục tìm trong túi ấn tín của cha, mẫu quốc ấn của nước Đan Mạch, khéo đến nỗi lá thư vẫn y nguyên như cũ khi chàng đặt trả trong bao. Hai ngày sau, một bọn cướp biển cặp sát tàu rồi ập lên giết sạch thủy thủ đoàn, chỉ tha chết cho mỗi hoàng tử, mà chúng hy vọng sẽ được lãnh tiền chuộc. Chẳng bao lâu sau đó, nhà vua nhận được thư của bọn thủy thủ báo tin ngày về nhanh chóng của vị hoàng tử đáng ghét; ông ta bèn nghiền ngẫm mưu kế mới; ông ta khơi gợi lòng thù hận của Laerte, con trai Polonius, khi về đến Elseneur hay cha mình bị giết chết và em gái là Ophélia hóa dại. Cô gái dịu hiền không thể cùng một lúc chịu đựng hai nỗi khổ đau quá lớn giày xéo lòng cô; sự ruồng bỏ của Hamlet và cái chết của cha nàng. Trong nhiều ngày, nàng thơ thẩn khắp các phòng trong lâu đài, kể lể với những người bạn âu sầu những chuyện đâu đâu, đôi khi hét lên, rồi hát nghêu ngao những bài trước đây nàng chưa hề dám hát. Nàng ôm trong tay nhiều bó hoa dại; thỉnh thoảng phân phát cho từng người tùy tâm trạng mỗi lúc. Nhưng hôm sau, nàng đến một cánh đồng ven dòng sông, ngồi dưới gốc một cây liễu soi bóng lá xanh trên mặt nước im lìm, nàng kết những tràng hoa kỳ dị với nào mao-lương, tầm-ma, hoàng cúc và với mấy cánh hoa dại màu đỏ thẫm thường gọi là hoa lồng đèn; rồi nàng lại muốn treo cái tràng hoa sặc sỡ ấy lên cành liễu. Nàng nhoài người tựa vào nhánh cây, cành liễu oàn xuống, và cô bé Ophélia trong trắng cùng với tràng hoa trượt dần xuống nước. Trong một lát, quần áo nổi lềnh bềnh giữ nàng trên mặt sông như một nàng tiên cá, và thật hồn nhiên, nàng vẫn cất lên những khúc hát cổ xưa. Nhưng xiêm y thấm ướt nặng dần, kéo nàng xuống và nàng chìm xuống đáy nước bặt tăm.

Khi hay cái chết bi thảm đó, Laerte bất bình và phẫn uất, ưng thuận cùng với nhà vua xếp đặt một cuộc so gươm, trong đó lưỡi gươm tẩm độc của hắn nhất định chạm vào người Hamlet. Để cho được chắc chắn hơn, nhà vua còn pha chế một cốc nước gớm ghiếc có thể vĩnh viễn làm đông đặc máu của người uống lúc khát. Họ tin chắc lần này chàng không thể nào thoát được.

Tuy nhiên, khi trở về, Hamlet không vội vã vào thành Elseneur, mà cứ quẩn quanh bên ngoài. Chàng dừng bước ở một nghĩa trang gần đó, nơi những người phu đào huyệt vừa đào vừa cười đùa, tán chuyện gẫu với nhau. Hamlet vấp những khúc xương mà cái xẻng vừa hất lên, lại bắt đầu suy tưởng về cái chết và sự sống:

– Cái sọ này đây –chàng nói với Horatio- xưa kia chứa đựng một cái lưỡi có thể ca hát. Như cái thỏi xương quái quỉ vừa khiến anh ngã lăn kia, chẳng khác nào là xương hàm của Cain(4) là kẻ đầu tiên phạm tội giết người. Cũng có thể đó là một cái đầu của một nhà chính trị, một kẻ tin rằng mình có thể đánh lừa cả Thượng đế. Và bây giờ, thế đấy, mặc cho dòi bọ chui rúc, lại phải nhận một nhát xẻng vào mồm. Như vậy là chế tạo ra những mảnh xương này chẳng tốn bao công sức cũng như chỉ có thể dùng chúng để chơi “ki”(5) thôi! Phần tôi, chỉ nghĩ đến xương của cha mình, đã thấy đau rồi.

Gã phu đào huyệt vẫn bỡn cợt, gã nghêu ngao những điệu dân ca vừa nêu lên những trò chơi chữ, vừa đào một cái huyệt mà theo gã nói, không phải cho một người đàn bà, mà cho một người đã từng là đàn bà. Gã khoe mình bắt đầu hành nghề đúng vào ngày cậu bé Hamlet ra đời và bây giờ thì cậu ta trở nên điên rồ và bị tống sang Anh quốc. Hamlet ớn lạnh cả mình, nhưng bị câu chuyện mê hoặc bèn hỏi: “Phải mất bao nhiêu năm, con người chôn dưới đất mới mục rã?”.

– Tám hay chín năm –gã kia đáp- cái sọ này đã nằm đây từ hai mươi ba năm. Đó là sọ của Yorick, tên hề của nhà vua.

– Than ôi! Tội nghiệp cho Yorick! –Hamlet kêu lên- Ta biết hắn, Horatio ạ. Đó là một chàng trai rất vui tính, trí tưởng tượng hết sức phong phú. Hắn đã nghìn lần cõng ta trên lưng, mà bây giờ chỉ tưởng tượng đến cũng đủ rợn tóc gáy! Ta buồn nôn quá! Kia là cặp môi ta đã hôn bao lần. Giờ đây còn đâu những lời bỡn cợt, những trò vui nhộn, những khúc hát, những câu bông lơn, từng gây ra những trận bão cười trong cung điện? Giờ đây, cũng chẳng còn những lời khôi hài nào để chế giễu cái nhăn nhó của chính người nữa. Ngươi đã phải hoàn toàn câm miệng lại rồi!

Và trong lúc chàng để mình phiêu diêu theo những tư tưởng thê thảm đó, một đám tang đi tới. Đó là một đam tang theo nghi thức trọng thể, có mặt đức vua, hoàng hậu và tất cả quần thần. Chàng trông thấy theo nhịp tiếng chuông ngân, trong trang phục trắng tinh, đầu kết vòng hoa trắng, tiểu thư Ophélia dịu hiền đã chết. Chàng thấy hoàng hậu vẫn tiếp tục rắc hoa lên quan tài và phủ những gì kiều diễm nhất lên thi hài cô gái kiều diễm và Laerte điên cuồng vì đau đớn, nhảy bừa xuống huyệt để hôn đứa em gái thân yêu lần cuối. Hờn ghen và tức giận, Hamlet nhảy bổ lên anh ta, và cả hai lăn xả vào cuộc ẩu đả ác liệt. Người ta phải nhọc nhằn lắm mới can họ ra được. Hamlet hét lên:

– Ta yêu Ophélia! Dù bốn vạn người anh dồn tất cả tình thương lại cũng không thể nào sánh nổi lòng ta yêu nàng!

Người ta tìm cách buộc chàng nín lặng, họ cố gắng hòa giải hai người, và hoàng hậu dắt con mình đi. Nhưng nhà vua vẫn chưa quên những mưu đồ đen tối của mình. Và ngày sau, một sĩ quan tự ý đến đề nghị cùng Hamlet một trận so kiếm với Laerte. Nhà vua đánh cuộc bằng sáu con ngựa Bắc Phi rằng con ghẻ của mình sẽ thắng cuộc, còn món cuộc của Laerte chỉ có sáu trường kiếm và sáu đoản kiếm kiểu Pháp với mọi thứ phụ tùng khác. Điều kiện trận đấu đã được qui định, nhà vua cho rằng Laerte không thể nào chạm được vào người Hamlet ba lần trong mười hai hiệp; còn Laerte thì đánh cuộc rằng mình sẽ đâm trúng chín lần. Nhà kiếm thuật lỗi lạc như sống dậy trong Hamlet và chàng quên khuấy trong một lúc nỗi mơ mộng của mình để chỉ nghĩ đến trận đấu.

Trận đấu được chuẩn bị rộn rịp và trọng thể với sự hiện diện của các vị quân vương. Trước khi bắt đầu, hai địch thủ nhã nhặn cam kết sẽ xóa bỏ hết mọi hận thù. Người ta chọn kiếm thật cẩn thận. Nhà vua quyết định rằng mỗi nhát kiếm đánh trúng của Hamlet sẽ được loan báo bằng một phát đại bác, và mỗi lần như thế, chàng sẽ được uống cạn một cốc rượu ngâm ngọc trai để tán thưởng chàng. Người ta sửa soạn nhiều bình rượu vang, còn tên gian trá thì hờm sẵn cốc rượu độc.

Hamlet nhanh chóng đâm trúng Laerte, nhưng say sưa vì trận đấu, chàng từ chối không uống và định mệnh ác nghiệt đã muốn rằng hoàng hậu bỗng dưng khát nước, vội cầm lấy và uống cạn cốc rượu độc, đúng vào lúc đến lượt Laerte chạm kiếm vào người Hamlet. Trong cơn hăng say, họ đổi kiếm cho nhau, và cả hai lần lượt trúng thương bởi lưỡi gươm có tẩm độc nên đều rỉ máu.

Lúc đó hoàng hậu bỗng ngã lăn ra, ai cũng ngỡ bà xúc động vì trông thấy máu, nhưng bà chợt hiểu ra, và kêu lên:

– Không, không, vì rượu đấy. Ồ! Hamlet, con thân yêu của mẹ, mẹ đã bị đầu độc.

– Bọn phản trắc! –Hamlet la lên- Hãy đóng tất cả các cửa lại! Có sự phản bội! Phải tìm cho ra từ đâu!

– Ở ngay đây thôi! –Laerte, bị lương tâm giày vò, nên thú nhận- Hamlet ơi! Ngài đã bị mưu sát. Chẳng có thuốc nào trên thế gian chữa nổi cho ngài, ngài chỉ còn sống khoảng nửa giờ thôi. Công cụ phản bội đang ở trong tay ngài đấy, gớm ghiếc và độc hại. Mưu kế hiểm ác đã hại cả tôi. Kiệt sức rồi, tôi sẽ quỵ xuống đây và chẳng bao giờ trở dậy nữa. Chính nhà vua, chính nhà vua đã gây ra mọi điều!

Lần này, Hamlet không chần chừ nữa. Chàng đâm tên vua phản bội một nhát kiếm tẩm thuốc độc rồi tưới rượu độc lên người hắn.

Thế là tất cả nạn nhân của nhau, đều ngã gục theo lời nói cuối cùng của Hamlet:

– Cái còn lại là sự im lặng!

Đối với chúng ta, phải chăng nên kết luận bằng nhận định của một trong những nhân vật:

– Có cái gì thối rữa trong vương quốc Đan Mạch.

Chú thích: 

1) Tên Đan Mạch là Hen-xin-giơ, một hải cảng của Đan Mạch. Ở đây có lâu đài Crông-bo (Kronborg) nơi Shakespeare dùng làm bối cảnh cho vở kịch Hamlet này.

2) Nhân vật trong vở kịch của nhà thơ Ý cổ đại La Mã Viêcgin (70-19 Trước CN)

3) Tên bạo chúa của La Mã cổ đại (37-68 trước CN) nổi tiếng vì đã ra lệnh đốt cháy thành Roma, đã giết mẹ, giết vợ.

4) Nhân vật trong kinh thánh, con của Adam và Eva, đã giết chết em của mình là Aben

5) Ki (quille): một trò chơi trong đó người ta dùng một quả bóng để quật ngã những quân “ki” làm bằng gỗ như cái chày con.

 

http://maxreading.com/sach-hay/tac-pham-cua-shakespeare/hamlet-hoang-tu-dan-mach-24197.html

Akira Kurosawa Film studies Văn học & Điện ảnh Văn học Anh

The Bad Sleep Well (1960) – Akira Kurosawa

https://www.criterion.com/films/765-the-bad-sleep-well

The Bad Sleep Well

From Wikipedia, the free encyclopedia
 The Bad Sleep Well (悪い奴ほどよく眠る Warui yatsu hodo yoku nemuru?) is a 1960 film directed by the Japanese director Akira Kurosawa. It was the first film to be produced under Kurosawa’s own independent production company. It was entered into the 11th Berlin International Film Festival.
The Bad Sleep Well
Badsleepwell.jpg

Original Japanese poster
Directed by Akira Kurosawa
Produced by Akira Kurosawa
Tomoyuki Tanaka
Written by Hideo Oguni
Eijirô Hisaita
Akira Kurosawa
Ryûzô Kikushima
Shinobu Hashimoto
Starring Toshiro Mifune
Music by Masaru Sato
Cinematography Yuzuru Aizawa
Edited by Akira Kurosawa
Production
company
Toho Studios
Kurosawa Production Co.
Distributed by Toho
Release dates
  • September 19, 1960
Running time
151 minutes
Country Japan
Language Japanese
Văn học & Điện ảnh Văn học Anh

Macbeth – Shakespeare

Sấm sét vang rền, những tia chớp lóe trong đêm tối. Đó là thời gian lý tưởng cho các mụ phù thủy hò hẹn nhau đợi giờ tàn cuộc chiến.
Người ta nghe thấy tiếng ầm ĩ của một trận đánh lớn: Macbeth, nam tước Glamis và Banquo, người chiến hữu, cùng chiến đấu bảo vệ mảnh đất Ecosse chống lại vua Na-Uy, được nam tước Cawdor, phản lại tổ quốc mình, trợ lực. Hạnh phúc thay cho Duncan, vua Ecosse, khi nhận được tin hai vị tướng can trường đã đè bẹp quân thù. Như “hai khẩu thần công nạp đạn, họ đánh tan tác bọn Na-Uy”; Macbeth đã xả làm đôi thủ lãnh bọn phiến loạn.
Trên vùng đất hoang um tùm thạch thảo, giữa cơn giông tố các mụ phù thủy tề tựu lại. Chúng gồm ba đứa quây tròn nhảy múa:“Ba vòng cho mày, ba vòng cho tao, thêm ba vòng nữa là chín”. Đột nhiên, chúng dừng lại. Macbeth và Banquo vừa đi trờ tới. Chúng giơ những ngón tay khẳng khiu, trơ xương lên và lần lượt nói:
– Chào Macbeth! Chào người, nam tước Glasmis!
– Chào Macbeth! Chào người, nam tước Cawdor!
– Chào Macbeth! một ngày kia, ngươi sẽ làm vua!
Macbeth run sợ. Banquo liền hỏi chúng. Anh cũng muốn biết vận mạng mình; với anh, chúng cũng nói, thoạt tiên với vẻ thần bí, sau đó thật rõ ràng:
– Nhỏ hơn Macbeth, tuy nhiên lại lớn hơn.
– Kém may mắn hơn Macbeth, nhưng lại may mắn hơn nhiều.
– Tổ phụ của nhiều vị vua, ngươi không phải là vua!
Những lời dự ước huyền bí đó thấm sâu vào tâm hồn Macbeth. Đến lượt mình, chàng định hỏi, nhưng ba nhân vật râu dài, môi xệ đã tan biến như sương khói. Họ không thể biết gì thêm nữa, và mỗi người trong bọn họ đều tự động nhắc lại lời tiên tri dành cho người kia:“Tổ phụ của nhiều vị vua”. Macbeth nhắc lại và sẽ không bao giờ quên. Banquo liền đáp:“Ngày kia, ngươi sẽ là vua!”
Hầu như điều dự đoán bắt đầu ứng nghiệm tức khắc. Đức vua khen thưởng chiến công hiển hách của Macbeth bằng cách ban tặng cho chàng tất cả di vật và chức tước của nam tước Cawdor, kẻ phản phúc đã bị xét xử và trừng phạt. Macbeth, quá xúc động, chẳng biết mình có phải là trò đùa của bọn yêu tinh quỉ quái không.
Tương lai có vẻ trải đầy hoa gấm, nhưng cõi lòng chàng rúng động, tóc chàng dựng ngược vì kinh hãi, một ý nghĩ giết người thoáng qua óc, chàng bất động và câm nín, cảm thấy cái ý tưởng khủng khiếp ấy đang lớn dần trong chàng, trong lúc Banquo cứ chế riễu cho rằng bạn mình đang bỡ ngỡ làm quen với địa vị mới “cũng vướng víu như những chiếc áo mới”.
Và sau đó, trước mặt đức vua cả tin, hân hoan bày tỏ sự biết ơn đối với chàng và yêu cầu lòng trung thành của chàng đối với người kế nghiệp. Macbeth nghĩ rằng chính kẻ này, thái tử Malcolm, mới là chướng ngại sẽ khiến chàng lao đao, hoặc là chàng phải làm bừa để vượt qua.
Ray rứt bởi những ý nghĩ đó, chàng cáo từ vua Duncan, về viết thư cho vợ, báo cho nàng hay chức vụ mới của mình, đồng thời với việc đứa vua sẽ hạ cố đến thăm và ngủ đêm tại nhà họ.
Phu nhân Macbeth được biết qua lá thư chồng, lời tiên tri của bọn phù thủy, cả chiến thắng và những danh vọng mới. Nàng đắn đo, cân nhắc, nàng hiểu rõ chồng mình và tham vọng của chàng, nhưng anh ta “tràn trề những tình cảm yếu đuối của con người”, chàng khao khát quyền uy, nhưng muốn chiếm nó một cách “chính trực”, chàng muốn thành đạt nhưng không chịu chơi trò gian lận. Và nàng nghĩ phải truyền sự can đảm của mình cho chồng và thúc đẩy chồng đến được với vận hội của chàng. Khi nàng biết rằng đức vua Duncan sẽ ngủ lại dưới mái nhà họ, nàng rùng mình trước những chết chóc, tiếng quạ kêu ai oán, báo hiệu đức vua đến, và khi Macbeth gặp vợ, cả hai quyết định nhúng tay vào tội ác, trước cả khi bàn bạc với nhau. Nàng hỏi:
– Chừng nào ông ta đi?
Chàng đáp:
– Ngày mai, theo như ông ta yêu cầu!
Và nàng chép miệng:
– Ôi! Chẳng bao giờ mặt trời thấy được cái ngày mai ấy!
Rồi, sau một lát im lặng: “Em phải lo chuẩn bị đón khách. Còn anh, anh hãy bày tỏ thái độ cương quyết, mọi cái khác cứ để mặc em”.
Cả hai kính cẩn tiếp rước đức vua nhân từ Duncan. Ngài hoan hỉ được trú ngụ trong nhà một chư hầu trung tín, rất thích thú vì không khí tươi mát và trong lành nơi chỗ ở của họ, những con chim én làm tổ trên dãy vòm cuốn. Người ta đốt đuốc, người ta tổ chức yến tiệc linh đình và nhạc kè ô-boa nổi lên rền rĩ. Macbeth không thể nào ngồi yên trong bàn tiệc. Chàng lẻn ra ngoài để trầm tư. Chàng tự nhủ mình nên tha cho nhà vua, vì chàng là hoàng thân, là kẻ thần dân của ngài, lại là chủ trọ nữa. Đức vua anh minh đức độ và nhân ái, bao nhiêu tính tốt biện hộ cho ngài. Nhưng bà vợ xộc tới nhận thấy chàng dao động yếu đuối, đã dùng lời cay chua xỉa xói chồng:
– Thế là trong hành động anh run sợ; còn trong ham muốn, anh lại tỏ ra dũng cảm? Anh mơ ước chiếm được ngai vàng để cho đời anh vinh hiển, mà lại cứ sống hèn nhát với chính mình! Anh khoe khoang dám làm tất cả những gì một người đàn ông có thể làm, rồi giờ đây, khi thời cơ đưa đến anh lại thối lui thay vì phải hành động!
– Nhưng nếu chúng ta thất bại thì sao? –Macbeth thốt lên một cách khiếp nhược.
– Thất bại à? Nếu anh không mềm yếu, làm sao hỏng việc được? Khi Duncan thiếp ngủ, em sẽ biết cách khiến hai tên cận thần rũ liệt vì rượu thịt, để chúng ngủ vùi một giấc nặng nề. Và ai cấm chúng ta đổ tội cho bọn võ quan say sưa đó?
– Tốt nhất –Macbeth đã tỉnh táo trở lại, nói thêm- là chúng ta vấy máu lên người bọn mê ngủ và sử dụng chính những con dao của chúng!
Phu nhân Macbeth còn tiên liệu cả việc phải la hoảng và kêu than thế nào trước thi thể người khách trọ bị thảm sát.
Đêm đã tới, khách đều an giấc, tặng vật của vua và viên kim cương ngài biếu, vị phu nhân đã cất kỹ. Macbeth ngồi đợi vợ mình trong sân lâu đài, ngay cửa cầu thang dẫn đến phòng vua Duncan. Chàng ngỡ như thấy con dao găm lượn lờ trước mắt, cán dao quay về phía tay chàng, máu nhỏ ròng ròng từng giọt, nhưng giờ đây chàng không do dự nữa, và tiếng chuông ngân lên báo hiệu mọi việc đã sẵn sàng, chàng men lên phòng đức vua.
Đứng ngay nơi cửa, phu nhân Macbeth chờ chồng quay xuống. Nàng lo lắng cho sự chậm trễ của chồng. Chẳng phải là nàng đã một mình bố trí hết đó sao, chuẩn bị các dao găm, hé mở các cửa và phục rượu cho bọn cận thần say khướt? “Nếu đức vua không phảng phất giống cha ta, -nàng nói- chắc ta sẽ tự làm lấy nốt.” Cuối cùng, Macbeth trở lại, tay đẫm máu, hoảng sợ vì tiếng cú kêu và dế gáy, khiếp hãi khi nghe bọn người hầu lâm râm cầu nguyện trong cơn mê ngủ, môi miệng giá lạnh chẳng thế nào thốt lên được tiếng: A-men! Chàng nghe như ai đó hét lên: “Đừng ngủ nữa! Glasmis đã giết chết giấc ngủ, vì thế Cawdor không còn ngủ nữa. Macbeth cũng không thể nào ngủ được nữa!” Chàng còn giữ con dao găm, nhưng không dám quay lên phòng đức vua. Chính phu nhân Macbeth phải lên vấy máu vào mặt và tay bọn cận thần, rồi đặt mấy con dao găm bên cạnh họ. Như thế, cả hai vợ chồng đều đã nhúng tay vào máu, khiến Macbeth cứ nhìn mà kinh hoảng.
– Bàn tay nào thế kia? Nước của cả đại dương chắc gì đã rửa sạch vết máu trên đó?
Vợ chàng bình thản trả lời:
– Tay em cũng một màu với tay anh thôi, nhưng em sẽ xấu hổ biết bao nếu có một quả tim yếu hèn đến thế! Lại đây, một tí nước cũng đủ cho ta xóa sạch hành vi vừa qua.
Rồi họ rút về phòng riêng, để chờ mọi người thức dậy và phát hiện cái tội ác ghê tởm.
Sáng sớm, Macduff phát giác ra vụ giết người. Anh kéo chuông báo động, tất cả đổ xô đến, và Macbeth, như một chủ trọ bất bình, vì có án mạng xảy ra ngay trong nhà mình, liền ra tay tàn sát bọn nội thần cho chúng câm miệng hẳn. Malcolm và Donalbain hai hoàng tử vội bỏ trốn sang Anh, “lánh xa cái nơi có dao găm giấu trong nụ cười con người”. Chẳng bao lâu sau, Macbeth vừa cảm thấy thoải mái trong tội ác, đã vu khống cho họ âm mưu giết cha. Hắn khai thác tình huống tuyệt vời đến mức, ngay vào ngày thánh thể vua Duncan được chuyển vào ngôi tiểu giáo đường Saint Colomban, nơi lưu giữ hài cốt tiên tổ của ngài, thì hắn, Macbeth lên ngôi vua ở Scone. Lời tiên tri của bọn phù thủy thế là ứng nghiệm.
Vua Macbeth ngự trong cung điện, giữa đám triều thần. Hắn cho mời Banquo, người bạn cố tri, đến dự đại yến, và trước giờ ăn tối, hắn ân cần dò hỏi hành trình của bạn mình. Kẻ nham hiểm muốn biết chắc bọn sát nhân mà hắn cấp tốc phái đi, có giết được Banquo không, kể cả trường hợp có cậu con Fléance đi theo. Bởi Macbeth nghĩ rằng; vua chẳng là gì cả, nếu làm vua mà không an toàn. “Banquo đã nghe những lời tiên tri của bọn phù thủy -hắn tự nhủ- thì sao anh ta lại không có quyền mơ ước? Bọn chúng chào anh ta như là tổ phụ của nhiều vị vua tiếp nối, như thế bọn chúng đã đặt lên đầu ta chiếc vương miện của ông vua tuyệt tự. Thế ra, vì họn hậu duệ của Banquo, mà ta đánh mất linh hồn à !”
Đã dạn dày trong tội ác, hắn giấu giếm cả với phu nhân Macbeth, khuyên nàng nên có lời lẽ dịu dàng và đằm thắm với Banquo trong buổi tiệc. Qua câu nói mập mờ, nàng cảm thấy rõ hắn đang âm mưu một trò xảo quyệt nào đây, dù sao hắn đã không để nàng liên lụy vào tội ác mới mới này.
Buổi tối, trên bàn tiệc, Macbeth cho an vị mỗi người theo thứ bậc mình. Ra vẻ một chủ nhân lịch duyệt, hắn lân la bên các thực khách, nốc từng cốc rượu tràn với mỗi nhóm. Nhờ thế, hắn có thể đến gần tên mật sứ lấm máu Banquo, mà gã vừa cắt cổ và xô xuống hố sâu. Nhưng Macbeth nghiến răng ken két, khi biết rằng Fléance đã trốn thoát. Tuy thế hắn buộc phải ra vẻ niềm nở, ba hoa vài câu khách sáo, ngạc nhiên nhận ra chỗ Banquo bỏ trống, đùa cợt về sự phạm thượng đó, rồi bất thần, khi người ta thỉnh cầu hắn ngồi vào cái bàn vắng mất vị khách đó, hắn chợt thấy hồn ma của Banquo ngồi đấy, ngay trước mặt hắn và hắn buộc miệng thều thào:
– Ngươi không thể nói rằng chính ta đã làm thế. Đừng đong đưa trước mắt ta mái tóc nhuộm đầy máu của ngươi. Kìa những người chết đang trỗi dậy, đuổi chúng ta ra khỏi ghế ngồi!
Trước những lời điên loạn đó, mọi người đều hoang mang. Tuy nhiên, phu nhân Macbeth trấn tĩnh họ, tiết lộ rằng đức vua thường bị ám ảnh bởi những điều kỳ quặt, rồi hạ giọng, nàng xoa dịu chồng, vừa chế giễu những ảo ảnh cũng như nỗi sợ hãi của chồng, khéo đến mức hắn không còn thấy hồn ma đâu nữa.
Hắn cáo lỗi, lại ngồi xuống, rót tràn cốc rượu nho với bộ điệu kiêu căng, rồi nâng cốc uống mừng Banquo…Ngay lúc đó, hồn ma lại ngồi vào chỗ cũ, và Macbeth mê sảng, mặt mày tái xanh vì khiếp hãi:“Lui ngay! Xa hẳn đời ta! Cho đất chôn vùi ngươi đi! Xương ngươi không còn tủy, máu ngươi đã khô lạnh! Chẳng còn ý tưởng nào trong hố mắt lờ đờ của ngươi nữa!
Lần này, sự biến bùng ra dữ dội. Dù cho Macbeth đã hồi tỉnh, phu nhân vẫn để bọn thực khách nhốn nháo kéo nhau ra về, lo lắng tìm cách che giấu cơn điên loạn của chồng.
Nhưng Macbeth lại phát hiện còn nhiều người vướng bận hắn ta, rằng cần phải chém giết thêm nữa, “lặn sâu vào biển máu” phải trui rèn bằng thói quen bởi vì như hắn nói một cách vô ý thức: “chúng ta còn quá non trẻ trong tội ác”.
Bọn phù thủy chuẩn bị nồi chảo, bùa mê, ngải độc và các thứ trù yểm để đón hắn. Trong cái nồi phù phép, sôi sục cái món hỗn tạp mà làn khói bốc lên biểu hiện các sự kiện của tương lai; một thứ canh âm phủ sủi bọt trong đó: thịt lưng răn dầm, mắt kỳ nhông, đùi ếch, lông dơi, lưỡi rắn lục, chân cắc kè, cánh chim cú, vảy rồng, răng sói cái, xác ướp yêu thuật, rễ độc cần nhổ trong đêm, ngón tay trẻ sơ sinh bị bóp cổ ngay khi ra đời. Đó là những vị thuốc mà các mụ bạn của cô đơn và bóng tối trộn thành món súp sền sệt tối độc.
Macbeth sợ hồn ma hơn là các mụ phù thủy này. Hắn đến khẩn cầu chúng tiết lộ việc tương lai. Chúng cười khẩy, nhạo báng, ném thêm nhiều vật ghớm ghiếc vào nồi nước hỏa ngục và vào đống lửa, thế là những quyền lực kỳ bí từ từ phát lộ. Không cần Macbeth phải nói, tư tưởng của hắn đã được hiểu thấu. Bên trên làn khói ô uế, nhiều khuôn mặt lần lượt hiện ra.
Thoạt tiên, một cái đầu đội mũ sắt hét lên:“Macbeth! Macbeth! Macbeth! Hãy coi chừng Macduff”. Rồi một cậu bé bê bết máu kêu la:“Hãy tàn bạo và cương quyết, vì chẳng ai do đàn bà sinh ra có thể hại được Macbeth!”
Cuối cùng, lại một cậu bé đội vương miện, tay cầm cành cây xanh nói:“Hãy kiêu hãnh lên đi, Macbeth; ngươi chẳng bao giờ chiến bại, trừ khi nào khu rừng Birnam đi về phía đồi Dunsinane để chống lại ngươi”.
Macbeth đắc thắng, nhưng hắn muốn biết đám hậu duệ của Banquo có được trị vì trên vương quốc không. Mặc những lời khuyên can của bọn phù thủy, hắn nài nỉ, nguyền rủa, bức bách. Thế rồi, giữa làn khói cuồn cuộn, cái chảo lút sâu xuống đất, và hắn thấy lần lượt hiện lên tám vị vua đội mão vàng mà hồn ma Banquo vừa chỉ vừa mỉm cười. Vị vua thứ tám cầm một chiếc gương soi, trong đó ta thấy nhạt nhòa nhiều gương mặt, mang hai quả cầu và ba vương trượng.
Và khi Macbeth kịp hoàn hồn, thì cái vòng ma quái của các mụ phù thủy đã tan biến, mang ảo ảnh chìm theo làn uế khí.
Tràn đầy tin tưởng, hắn tiến hành các dự kiến sát nhân bằng sự phản trắc và mưu lược. Hắn giết hại tất cả những ai làm phiền hắn, mà trước hết là Macduff. Là chư hầu trung tín, ông này quyết bảo vệ người thừa kế hợp pháp của vương quốc. Không thể giết ông, vì ông vừa trốn sang Anh quốc, nhưng ông còn bỏ lại trong lâu đài bà vợ, các con và những người xấu số thuộc dòng họ ông. Chính thông qua họ, mà Macbeth tấn công ông. Một nhóm đạo tặc đầu trâu mặt ngựa, xông và Fife chém giết phu nhân Macduff, lũ con cháu và tất cả người nhà. Thật là một cuộc thảm sát man rợ và cái xứ sở đau thương rỉ máu, quằn quại dưới ách bạo tàn, khóc than sau mỗi nhát dao, mỗi ngày mang thêm một vết thương mới. Người ta ngại ngùng không dám hỏi chuông đang gọi hồn ai:“Macbeth như một con yêu tinh, đầy dẫy tật xấu, tham lam vô độ, hiểm độc và khát máu”.
Xa kia, bên đất Anh, Macduff đã tìm gặp Malcolm, vị vua đích thực kế nghiệp ngai vàng, và chàng trai trẻ hoài nghi vì bao tai biến dồn dập xảy ra đã đem sự ngay thẳng và đức hạnh của Macduff ra thử thách. Rồi cả hai, họ nhận được sự trợ giúp quí báu của vua Anh quốc: một đội quân mười ngàn người. Thế là họ chuẩn bị giải phóng Ecosse. Chao ôi! Cần phải cho Macduff biết tin “con diều hâu hiểm độc kia đã xông vào tổ, sát hại cùng một lúc đàn gà con xinh xắn và cả mẹ chúng nữa!” Đau thương đã biến thành uất hận, bất hạnh đó mài sắc thêm lưỡi kiếm của ông; Macbeth quả chỉ còn chờ này sụp đổ.
Ở Dunsinane, vua Macbeth bận hành quân; trong cung điện, thế nữ phải mời một y sĩ đến khám căn bệnh quái lạ của hoàng hậu. Đêm nào cũng thế, lừ đừ nhợt nhạt và thẫn thờ, bó đuốc trên tay, bà đi thất thểu khắp các phòng và dãy hành lang. Bà tìm gì thế ? Đôi mắt mở to của bà ta nhìn thấy những gì mà tâm hồn lương thiện không nhìn thấy. Bà xoa tay, kỳ cọ hàng giờ đôi bàn tay nhỏ nhắn. Bà lẩm bẩm:
– Biến đi chứ, cái vết bẩn khốn kiếp, biến đi, ta bảo! Có ai ngờ lão già ấy lại chứa bao nhiêu là máu trong người? Sao, đôi tay này chẳng bao giờ sạch được ư? Tất cả dầu thơm xứ Arabie cũng không thể làm sạch bàn tay nhỏ này sao? Nào, rửa tay đi, đưa áo ngủ đây! Đừng có mà tái xanh thế! Ta nhắc lại cho ngươi rõ, Banquo đã bị chôn kín rồi, hắn không thể ra khỏi mồ đâu. Hô! Hô! Hô!
Can bệnh quái gỡ vượt quá tài nghệ chữa trị của viên ngự y.
– Hoàng hậu –ông nói- có lẽ cần tu sĩ hơn. Chúa ơi! Cầu Chúa tha tội cho tất cả chúng ta!
Thế rồi bà chết, bởi vì ai chẳng biết liều thuốc giải độc êm dịu của lãng quên và bà thì không thể nào rứt bỏ khỏi ký ức mình những giày vò và hối hận đã bám chặt trong đó.
Macbeth chẳng còn thì giờ đâu mà khóc than cho vợ, cuộc sống hắn vốn đã đầy dẫy những chuyện khủng khiếp, và nỗi kinh hoàng hầu như quen thuộc với những tư tưởng sát nhân, không còn khiến hắn xúc động nữa. Vả lại, hắn còn bao nhiêu điều lo nghĩ khác, lực lượng quân sự Anh tiến gần, dưới sự chỉ huy của Malcolm và Macduff.
Họ đến từ hướng rừng Birnam. Macbeth tăng cường phòng ngự Dunsinane, và để ru ngủ sự hoang mang của mình, hắn luôn tự nhủ:“Cánh rừng Birnam chưa đi về phía ta, và Malcolm là do một người đàn bà sinh ra. Thế thì ta sợ gì chứ?
Cờ hiệu của hắn phấp phới một cách ngạo mạn trên thành lũy, hắn cười nhạo đoàn quân vây thành, những tiếng la ó, những nỗi sợ sệt. Nhưng một mật báo viên đến cho hắn hay rằng cánh rừng Birnam đang bắt đầu tiến lên trên bề rộng khoảng ba dặm, như một lùm cây di động.
Lần này, hắn thực sự nao núng, hắn bắt đầu ngờ vực những câu đoán mập mờ của bọn quỉ sứ. Hắn nghĩ đến việc bỏ trốn, nhưng không, hắn muốn được chết da ngựa bọc thây và chống cự một cách quả cảm trận tiến công đã khởi sự trong tiếng kèn rầm rộ inh tai. Malcolm khôn ngoan và thận trọng, đã ra lệnh cho mỗi người lính đều chặt một cành cây mang trước người, để ngụy trang và che giấu quân số để địch không đánh giá nổi lực lượng của mình.
Trận chiến nổ ra, Macbeth còn bấu víu vào niềm tin rằng chẳng ai do đàn bà sinh ra có thể đánh ngã hắn. Rồi hắn mải mê chém giết không chút sợ hãi và cứ tưởng mình vô địch. Cuối cùng, đến lúc Macduff tìm gặp hắn giữa trận tiền, Macbeth say máu hét lên:
– Ngươi phí công vô ích. Ta mang trong mình một đời sống kỳ diệu, chẳng có ai do đàn bà sinh ra có thể đụng đến ta!”
Tức thì, Macduff cười khẩy:“Mi tuyệt vọng rồi! Macduff không do một người đàn bà đang sống sinh ra, vì mẹ ta đã chết ngay khi ta ra đời!”
Phen này, thế là hết, chẳng còn đâu đại đởm của Macbeth. Những lời tiên tri đã quay lại chống hắn, và định mệnh đã đánh gục hắn. Nhưng hắn không muốn chết trước mặt chàng trai trẻ Malcolm, nên cố tự vệ để tìm đường tẩu thoát.
Ngay sau đó, xứ Ecosse được tự do và Macduff lại hiện ra, vác cây cọc cắm cái đầu khốn kiếp và cả đoàn quân reo hò chào đón vị vua trẻ.

 

http://maxreading.com/sach-hay/tac-pham-cua-shakespeare/macbeth-24198.html

Literature Văn học & Điện ảnh Văn học Anh

Vua Lear – Shakespeare

Vào thời Joas làm vua ở Juda, Lear con của Bladud trị vì trên đất Anh. Ngài chỉ có ba cô con gái: cô cả Goneril, là vợ quận công Albanie; Régane, cô thứ, là vợ công tước Cornouailles và cô út được cưng chiều nhất là Cordelia.
Tuy nhiên, vua Lear cảm thấy mình đã quá già. Mỗi ngày, những nỗi lo toan và công việc triều đình đè nặng trên vai. Ngài mong ước được trút bỏ gánh nặng để được thanh thản trong chuỗi ngày tàn, trước khi vào cõi chết. Ngài chia giang san của mình ra ba phần, rồi quy tụ trước cung đình tất cả triều thần, các con gái, hai chàng rễ và hai người cầu hôn công chúa Cordelia. Thế rồi ngài công bố quyết định rời bỏ quyền hành và sẽ ban an huệ cho cô con gái nào mà ngài nhận thấy đã yêu thương ngài nhiều nhất. Ngài yêu cầu các con hãy bày tỏ lòng hiếu thảo của mình trước mọi người cho ngài dễ dàng lượng xét.
Goneril, cô cả, nói trước tiên:
“ Tâu phụ vương, con yêu phụ vương thắm thiết hơn yêu ánh sáng, bầu trời và tự do, hơn cả những gì hiếm hoi và quí báu nhất trên đời. Con yêu ngài nhiều hơn là người ta yêu cuộc sống bình an và tươi đẹp với mọi thứ danh vọng và tặng phẩm. Con yêu ngài hơn bất cứ đứa trẻ nào yêu cha và chưa bao giờ có người cha nào được yêu đến thế. Thực ra, con không đủ lời để diễn tả tình yêu của con đối với phụ vương.”
Và Cordelia lặng lẽ nhủ thầm:
“Cordelia phải làm gì đây? Yêu và câm nín”.
Vị vua già được mơn trớn quá đỗi, tức khắc hạ lệnh chia cho Goneril phần lớn của giang san, những khu rừng rậm mát, những cánh đồng màu mỡ, những dòng sông và thảo nguyên bát ngát. Rồi ngài quay sang Régane nghe cô nói:
“Tâu bệ hạ, con cùng chung tính khí với chị con, qua chị, con có thể đo được lòng mình. Trong thâm tâm, con nhận ra chị ấy đã diễn tả rất trung thực những điều con cảm thấy, hơn nữa, con thù ghét niềm vui nào không liên hệ đến tình phụ tử và riêng chỉ có tình yêu chan chứa con dành cho bệ hạ mới là nguồn hạnh phúc của đời con.”
Và Cordelia, vẫn lặng yên trên ghế, nghỉ ngợi.
“Ôi! Cordelia đáng thương. Mày lại giàu tình yêu hơn là lời nói.”
Và ông vua cả tin lại ra lệnh cắt một phần lớn đất đai nữa, cũng giàu tài nguyên và rất phong phú cho Régane. Cuối cùng, ngài nhìn về phía Cordelia, đứa con gái được yêu chiều nhất.
“Còn con –ngài nói- niềm vui của ta, con ra đời sau cùng, nhưng chẳng vì thế mà ta kém yêu thương con, bây giờ con đang là mối tranh chấp giữa vị lãnh chúa sở hữu những vườn nho rộng lớn ở Pháp và bậc vương tôn, chủ những đàn súc vật trên đồng cỏ bát ngát vùng Bourgogne, con hãy nói làm sao cho xứng với cái phần thưởng to lớn hơn các chị?”
Và Cordelia, trái tim nhân hậu của nàng như tê dại, không thể phô diễn những tình cảm đậm đà nhất nên chỉ nói:
– Chẳng có gì cả, thưa phụ vương.
– Chẳng có gì cả à! -cảm thấy bị xúc phạm, vua Lear kêu lên.
– Chẳng gì cả. –cô Cordelia đáng thương lặp lại. Con yêu bệ hạ vì là bổn phận của con không hơn không kém. Phụ vương đã sinh ra con, đã nuôi dạy con, đã thương yêu con. Đáp lại, con ngoan ngoãn, quí mến và kính trọng phụ vương. Mà tại sao các chị con lo đi lấy chồng khi các chị ấy nói rằng đã dành trọn tình yêu cho phụ vương? Chắc chắn là con sẽ chẳng bao giờ thành hôn để có thể yêu cha mình hơn cả.
Nhà vua không tin vào đôi tai mình, sửng sốt:
– Sao, còn trẻ mà khô khan thế à!
– Rất trẻ và chân thực, thưa phụ vương.
– Được rồi –nhà vua phán- Giữ sự chân thực đó mà làm của hồi môn! Bởi vì, trước các đấng thần linh, ta từ bỏ mọi tình cảm cha con: cô sẽ là một người xa lạ, chẳng phải là con của ta nữa.
Trong khi Kent, viên trung thần, tìm cách thuyết phục cho ngài nguôi giận, nhà vua phẫn nộ hét lên:
– Hãy để ta yên! Ta từng thương yêu nó hơn cả; Ta hằng ao ước gửi chuỗi ngày tàn cho nó chăm sóc an ủi.
Và cơn giận nổ bùng, ngài quyết liệt xua đuổi cô gái. Ngài chia nốt cho hai cô gái lớn phần còn lại dành cho Cordelia, và trao hết quyền hành cho họ, với điều kiện mỗi người thay phiên nhau nuôi nấng ngài và đám tùy tùng gồm một trăm kỵ sĩ trong thời gian một tháng và vẫn duy trì vương tước của ngài. Ngài sẽ lần lượt đến nhà người này, rồi người kia, cứ thế quanh năm.
Nhưng Kent, viên cận thần phúc hậu, than thở trước sự điên rồ của nhà vua, ông biết quá rõ lòng dạ hai cô gái lớn, bởi thế ông to tiếng khẳng khái bênh vực cho công chúa Cordelia. Thế là vua Lear mất hết tự chủ, ra lệnh trục xuất ông ra khỏi nước và phải chịu lưu đày biệt xứ. Rồi ngài thông báo cho hai ông hoàng Pháp và Bourgogne rằng họ có thể cưới Cordelia với điều kiện không có hồi môn. Bởi vì, ngài nói, cô ta đã xuống giá, nếu các người còn nghĩ gì đến cái thân thể mảnh khảnh kia, hãy dẫn nó đi, nó thuộc về các người, với cả lời nguyền rủa của ta nữa!
Quận công xứ Bourgogne không dám xin cưới cô Cordelia tội nghiệp nữa, nhưng nhà vua hào hiệp đất Pháp lấy làm kinh ngạc tại sao một cô gái vẫn được quý chuộng, lại bỗng nhiên có thể phạm lỗi lầm quái gỡ đến nỗi đánh mất ân sủng của đức vua. Chàng không tin là cô bội bạc. Cordelia thỏ thẻ van xin cha hãy hiểu cho rằng nàng không hề làm điều gì nhục nhã, chỉ vì lời nói vụng về đã gây ra nông nỗi.
“Thà đừng sinh ra mi, để bây giờ khỏi phiền lụy đến ta” –cha nàng đáp lại.
Vua đất Pháp vẫn chưa hết kinh ngạc:
“Tình yêu chẳng còn là tình yêu nữa nếu chen vào tình yêu có những tính toán xa lạ, -chàng nói- quận công Bourgogne, ông tính sao về công chúa? Bản thân nàng chẳng phải là một món hồi môn rồi ư?”
Nhưng quận công Bourgogne thích công chúa với cả món hồi môn đã hứa, và bởi vua Lear nhất quyết không lay chuyển, vị vua Pháp nói:
“Hỡi nàng Cordelia xinh đẹp, ta thấy nàng giàu hơn bởi sự nghèo nàn; quí báu hơn bởi nỗi cô đơn. Ta nhận lấy nàng và cả đức hạnh của nàng. Tình yêu ta bùng cháy trước sự lạnh nhạt và khinh rẻ của mọi người. Tâu bệ hạ, cô công chúa không hồi môn mà số phận đã mang lại cho tôi, sẽ là hoàng hậu của tôi, của thần dân tôi và của nước Pháp tráng lệ. Nàng hãy nói với họ lời từ biệt, rồi nàng sẽ tìm thấy ở nơi khác nhiều hơn những gì đã mất nơi đây.”
Vua Lear hơi bẽ mặt vì con gái đã tìm ra nơi nương tựa, bèn bước thẳng không thèm quay lại nhìn nàng, và Cordelia, rưng rưng nước mắt tạ từ hai chị. Nàng khẩn cầu hai chị hãy đối xử thật tốt với cha, thừa biết rằng thời gian rồi sẽ vạch trần thói giả đạo đức của họ, rồi nàng bước theo vị hôn phu, kẻ duy nhất đánh giá nàng đúng đắn.
Goneril và Régane bàn luận với nhau một hồi mới chia tay. Hai tâm hồn xấu xa hiểu rõ cha mình với tính khí cộc cằn, những cơn nổi giận đột ngột; họ cũng biết tuổi già đã làm suy giảm lý trí của người cha khốn khổ. Họ biết đức vua đã mất tự chủ, cách đối xử tàn tệ đối với Kent, và nhất là sự vội vã và nhẫn tâm chối bỏ đứa con gái thân yêu là bằng chứng hiển nhiên của một thần kinh rối loạn. Họ thừa hiểu rằng đức vua khó rời bỏ quyền hành và uy lực, nên họ thỏa thuận với nhau rằng sẽ giới hạn dần chế độ ưu đãi và đối xử nghiêm khắc với đức vua cha.
Trước tiên, đức vua đến trọ tại nhà Goneril, cô cả, trong một tháng với một trăm tùy tùng. Nhưng tuần lễ thứ hai chưa kịp trôi qua, đứa con bội bạc đã kêu ầm lên rằng không còn chịu đựng nỗi sự hoang phí và mối bực dọc. Chị ta than phiền về tư cách và cử chỉ nghịch ngợm của một trăm kỵ sĩ; chị ta làm ngơ, đôi khi khuyến khích sự cẩu thả và xấc xược của bọn người hầu với đức vua già mà chị ta xem như một ông lão lẩm cẩm. Đức vua than trách, ngài bênh vực bộ hạ và gã hề bị ngược đãi. Tính nóng nảy phút chốc khiến ngài điên tiết. Ngài đập một tên hầu của Goneril đã quấy phá thằng hề, kẻ duy nhất còn biết cách làm ngài cười và vừa bông lơn vừa nói cho ngài nghe khối sự thực. Ngài giận dỗi vì người ta bắt ngài phải chờ đợi trong bữa cơm chiều, cuối cùng ngài đánh viên quản lý vô lễ đã dám huênh hoang rằng dù sao thì đây cũng chẳng phải là nhà ngài, mà chính là nhà của con gái ngài.
Tuy nhiên, vua Lear vẫn không muốn tin rằng việc thay đổi thái độ là có chủ trương, và việc người ta phục vụ tồi tệ và ăn nói xấc láo là có dụng tâm. Đến khi thằng hề bảo rằng đức vua điên mới không giữ lại cho mình một ít của cải, để đến nỗi bây giờ chỉ là con số không, chẳng giá trị gì. Ngài bèn nổi giận và mắng chửi hắn. Phải đợi chính Goneril làm ngài sáng mắt. Chị ta mát mẻ trách cứ thái độ kỳ quặc của ngài và sự hỗn độn của đám tùy tùng, rồi buộc ngài phải cắt giảm đám bộ hạ xuống còn năm mươi kỵ sĩ thôi.
Những ảo tưởng của vị vua già khốn khổ sụp đổ tan tành. Nỗi căm tức trước sự bất công đó thật vô bờ, khiến ngài bắt đầu hiểu ra lỗi lầm của mình chẳng còn nghi ngờ gì nữa, và đâm ra hối hận về sự bất công của chính mình đối với Cordelia.
“Ôi! Lear! Lear! Lear! –ngài hét lên vừa đập vào trán- hãy đập nát cánh cửa này đây đã để cho lý trí thoát ra và cơn điên chui vào! Dù sao ta vẫn còn một đứa con gái nữa.”
Và ngài quyết định dời sang trọ nhà cô Régane, sau khi đã trút lên đầu Goneril những lời nguyền rủa cay độc và trù ẻo cho mọi tai trời ách đất tàn hại đứa con suy đồi. Con người đau khổ quá tin vào sự thương yêu và lòng trắc ẩn của Régane bèn ra đi với gã hề, đoàn kỵ sĩ và một bộ hạ mới mà ngài rất thích, nhưng không thể nhận ra đó là Kent, người bề tôi trung tín, đã trở về bên ngài sau khi cải trang và mang tên giả. Vua Lear bỗng dưng đa nghi, phái anh ta đến báo với Régane rằng ngài sẽ đến trước thời gian qui định. Nhưng cùng lúc ấy, Goneril cũng cho tên quản lý sang nhà em với một bức thư dặn dò và trách móc vua cha.
Trước sân nhà quận công Cornouailles và Régane, hai sứ giả gặp nhau và đập lộn nhau chí chóe. Người ta nhận ra ngay ai là kẻ được bà quận công tin cẩn, bởi chị ta ân cần lắng nghe tên quản lý nói và buộc người tôi trung thành của cha mình vào tội phải bêu trước công chúng. Khi đã bị phơi ra trước cửa lâu đài, anh ta cố gắng nén đau, vừa cố gắng ngủ. Chính vua Lear đã bắt gặp cái cảnh đó thay vì sự tiếp đón nồng nhiệt như ngài chờ đợi khi lần mò đến nhà con gái. Cố nén phẫn uất, ngài gõ cửa và thấy rõ cửa không chịu mở ngay, cánh cửa của nhà con gái ngài đấy. Ngài tự nhủ mình nên kiên nhẫn, tự trách mình quá thô bạo trong cử chỉ và đứng chờ các con ra đón ngài vào.
Sau khi nghe kể những nỗi nhục nhã ngài phải gánh chịu ở nhà Goneril, Régane chẳng chút động lòng, chỉ tìm lời dịu ngọt khuyên bảo ngài nên thận trọng và phải biết phục tùng:
“Cha hãy quay trở lại nhà chị tôi, -chị ta nói- ngài đã già rồi, phải để người ta điều khiển chứ. Tôi van ngài, hãy nhận rằng mình đã xúc phạm chị ấy thái quá, bởi tôi không sao tin rằng chị ấy lại có thể sơ sót điều gì trong bổn phận đối với cha.”
Nghe đến đó, ông lão Lear nổi xung, nguyền rủa và thề sẽ không bao giờ gặp lại Goneril, rồi vẫn còn tin tưởng, ngài khơi động tấm lòng Régane:
“Chắc hẳn con không kiếm chuyện gây gổ về những thú vui của cha, hay tìm cách cắt giảm số tùy tùng hoặc buông lời mắng nhiếc cha, cắt giảm chi tiêu của cha và đóng sầm cửa lại mỗi khi cha đến gần. Con hiểu rõ hơn ai về những tình cảm tự nhiên, về nghĩa vụ con cái, và cách ăn ở hiền thục và con cũng không quên rằng cha đã tặng con một nửa giang san!”
Nhưng trong lúc Régane cáo lỗi không thể lưu giữ ông được, viện cớ rằng chưa có kịp chuẩn bị gì để có thể tiếp đón ông một cách chu đáo, người ta nghe thấy tiếng kèn rầm rộ báo hiệu Goneril sắp đến. Cô em đón tiếp bà chị niềm nở đến mức khiến cha họ tan nát cõi lòng, bà chị đến để tự biện minh và xúi dục Régane làm theo mình. Tiếp đó bắt đầu một sự mặc cả khả ố, Régane từ chối không nhận cha mình trước cuối tháng; ngoài ra ông chỉ được phép mang theo năm mươi người. Nhưng liền ngay đó, chị ta tuyên bố chỉ chấp nhận hai mươi lăm, còn Goneril thì lại đề nghị cắt bỏ hết đám tùy tùng của đức vua. Ông ấy cần gì đến kẻ phục dịch trong nhà các con mình chứ? Nhà họ quá chật, chỉ có thể chứa nổi một mình nhà vua mà thôi. Lần này, vua Lear đã hiểu cả. Ông chạy trốn, lòng đau như xé, và cứ lải nhải:
“Các ngươi tưởng ta sẽ khóc à? Không, ta không khóc đâu! Đúng là ta có những điều đáng khóc đấy! Nhưng trước khi ta nhỏ một giọt lệ, quả tim này phải nát tan từng mảnh. Ôi! Hề ơi! Ta cảm thấy mình đã mất trí. Những gì ta sẽ làm, chẳng biết rồi sẽ ra sao, nhưng rõ ràng sẽ làm cho cả trái đất kinh hoàng.”
Và dù cho đêm tối, dù gió bấc buốt da đang vi vút trên cánh đồng trơ trụi, -mà trong vòng vài dặm không thể nhìn thấy cả một bụi cây- hai con quỉ cái đã bỏ mặc ông ra đi với tên hề, không quên gài chặt then cửa để đề phòng cơn bão đang đe dọa.
Đó là một đêm đen thẫm như địa ngục. Trên cây thạch thảo ven dốc đá, bão tố nổi lên quay cuồng. Ông lão đầu trần cắm cúi chạy, ông muốn đem mạng sống mong manh ra chống chọi với mưa đổ gió bay, ông lên tiếng thách thức số phận và sự hủy diệt:
“Gió ơi, hãy gào thét lên đi! Vòi rồng và thác nước! Hãy dâng sóng ngập tràn mặt đất, đến tận con gà trên nóc gác chuông. Gió bão, sấm sét! Các ngươi đâu phải con gái ta! Hỡi thiên nhiên bạo tàn, ta không hề trách các ngươi bạc ác! Ta đâu có tặng các ngươi một vương quốc, các người đâu phải con cái ta! Các ngươi đâu cần phải vâng lời ta! Vậy hãy trút lên mình ta tất cả cơn cuồng nộ! Ta là kẻ nô lệ khốn khổ, là lão già gầy yếu bị đè bẹp bởi bệnh tật và sự rẻ khinh. Các ngươi chỉ là những tên tay sai hèn hạ cấu kết với hai đứa con gái đồi bại để chống lại lão già đầu bạc này! Ôi thật ghê tởm!”
Rồi dưới chớp léo đỏ rực, không hề nao núng trước sấm vang sét nổ, bão tố gầm thét loạn cuồng, tóc rối bời, dữ tợn và lạnh lùng, ngài bước đi, không đếm xỉa gì đến gã hề theo sau, cũng chẳng nhận ra người bề tôi trung thành Kent muốn vời ngài vào trú ẩn nơi ổ rơm trong túp lều tranh. Bởi vua Lear chẳng còn cảm giác gì nữa cả.
“Kẻ nào bị cấu xé bởi một niềm đau quá lớn –ngài nói- không thể nào cảm thấy nỗi buồn nho nhỏ. Than ôi! Ta là người đang khổ sở về những điều độc ác mình chưa hề gây ra. Thần trí ta rối loạn mất rồi!”
Tuy nhiên, con người tội nghiệp ấy bằng lòng ghé vào một mái nhà để sưởi ấm gã hề đang buốt lạnh thấu xương, ngài nghĩ đến những kẻ không nơi nương tựa và chợt hiểu ra mọi nỗi cơ cực trên đời.
“Những người khốn khổ đáng thương! Dù các người ở đâu, các người đang hứng chịu cơn thịnh nộ của trận bão phũ phàng, làm sao những cái đầu trần trụi, những dạ dày lép kẹp và những áo quần rách rưới có thể che chở các người trong buổi thời tiết khắc nghiệt như thế này? Ôi! Ta thật ít quan tâm đến các người. Những kẻ giàu sang! Đây là phương thuốc: hãy đưa lưng ra gánh chịu những gì những kẻ khốn cùng phải chịu, các người sẽ biết chia cho họ cái thừa của các người và như thế sẽ khiến trời đất công bình hơn!”
Và khi gặp một kẻ lang thang, ngài liền hỏi: “Có phải ngươi cũng giao hết tài sản cho con gái không? Để rồi ra cớ sự này?”
Rồi ngài triêt lý:
“Tốt hơn là ngươi chui xuống mồ, chứ đứng đây làm gì, để phơi thân giữa cảnh
trời long đất lở. Con người là thế đấy! Không có tơ của con tằm, không có lông của con thú, không có len của bầy cừu, người cũng chỉ là đồ súc sinh, một con vật khốn khổ. Nào chúng ta hãy vất bỏ quần áo đi!”
Và ngài xé toạc bộ quần áo đã xác xơ tơi tả, lý trí mê muội của ngài đã hoàn toàn điên loạn; ngài kể lể viển vông, lời nói rời rạc, lẩn thẩn, ngài muốn xét xử con gái theo thủ tục pháp lý. Trái tim cằn cỗi đáng thương, nó góp thêm nước mắt cho cơn mưa xối xả!
Lúc đó, hai đứa con gái muốn ngài chết cho xong, đã thúc bọn sát nhân theo giết quách ngài đi. Người bầy tôi trung thành Kent vẫn luôn bảo vệ ngài, vội bốc ngài đưa đến Douvres. Tin tưởng lòng dạ Cordelia, ông gởi cho nàng một lá thư. Lập tức hoàng hậu cùng với cả một đội quân Pháp đổ bộ để tìm cha và trừng trị các chị. Vua Lear khốn khổ đang ở trong thành, vào những lúc hồi tỉnh, ngài nhận ra được những kẻ chầu chực xung quanh, nhưng một sự hổ thẹn không vượt qua nổi khiến ngài không dám gặp Cordelia, ngài nhớ lại sự cứng rắn trước kia khi ngài tước bỏ mọi bổng lộc của nàng và đã phó mặc nàng cho số phận ở một đất nước xa lạ, truất hết mọi quyền lợi của nàng để giao cho những người chị lòng lang dạ thú, tất cả những ký ức đó, còn hơn là nọc độc, xâu xé trái tim ngài. Niềm hối hận giày vò khiến ngài rời xa Douvres và kẻ mất trí khốn khổ lang thang ven dốc đá hung dữ như sóng gào, hát nghêu ngao, đầu quấn nào độc cầu, nào tầm ma và đủ thứ cỏ dại mọc trên đồng, trong lúc con gái út của ngài sai quân lính và thầy thuốc tìm ngài khắp nơi. Cuối cùng đến khi Kent tốt bụng bắt gặp ngài, người ta chăm sóc và ru ngài ngủ. Ngài thức dậy trong tiếng nhạc réo rắt êm đềm, Cordelia, ngồi ở chân giường, vuốt ve những mớ tóc bạc trắng, thỏ thẻ nói chuyện với ngài.
Nỗi thương đau của ngài sống dậy mãnh liệt.
“Các ngươi đã làm hại ta khi lôi ta ra khỏi mồ. Ta bị cột chặt vào một bánh xe bằng lửa, nước mắt ta là những giọt nóng rơi trên má!”
Khổ nhọc lắm Ngài mới tin là mình còn sống.
“Ngươi là một hồn ma ta biết lắm –ngài nói với Cordelia- Ngươi chết bao giờ nhỉ? Nhưng không, ánh sáng ban ngày đây mà. Ta sẽ chết mất vì thương xót, nếu ta trông thấy kẻ khác lâm vào cảnh ngộ như ta. Ta không dám tin rằng đây là đôi tay ta. Ta thiết tha muốn biết rõ tình trạng thực sự của mình.”
Cordelia tuyệt vọng vì cơn mê loạn đó, khẩn cầu ban phúc cho ngài.
“Ôi, ta van ngươi –ông lão quì lạy dưới chân nàng- xin đừng riễu ta. Ta là một lão gì khốn khổ; Ta đã sống tám mươi năm, mà nói thực, ta e mình chưa làm chủ trọn vẹn lý trí của mình. Dường như ta có quen biết ngươi, nhưng sao ta vẫn hoài nghi; tuy nhiên, nếu quả thật ta là một người, thì hình như người đàn bà này là Cordelia, con ta!”
Cơn cuồng nộ qua đi, ngài mơ hồ nhớ lại rằng các con gái đã có lỗi lầm với ngài và khiêm tốn đến xót xa, ngài tuân phục Cordelia mọi điều và thừa nhận rằng:
“Ta đã già rồi và tâm trí đã lú lẫn.”
Nhưng viên y sĩ cho con gái ngài biết rằng vẫn còn hy vọng khôi phục trí tuệ cho ngài.
Song le, con người khốn khổ chỉ gặp lại Cordelia để rồi mất nàng mãi mãi. Hai quân đội Albanie và Cornouailles đã đánh thắng quân Pháp, vua Lear và con gái ngài bị bắt làm tù binh. Trong lúc bị chúng áp giải đi, vua Lear tỏ ra khoan khoái:
“Này con –ngài nói với Cordelia- chúng ta cứ hãy vào tù. Chỉ còn riêng hai cha con, chúng ta sẽ ca hát như chim trong lồng; trong khi con cầu trời ban phúc cho cha, cha muốn quì xuống van xin con tha thứ. Chúng ta sẽ sống như thế đó, cầu nguyện, hát ca, kể chuyện cổ tích, rồi đùa vui với những cánh bướm vàng sặc sỡ và lắng nghe bọn ti tiện kháo nhau về chuyện triều đình. Chúng ta sẽ tán gẫu với họ về kẻ thua người thắng, kẻ ra người vào, và chúng ta sẽ có dịp biết rõ bí ẩn của mọi việc, như thế chúng ta là do thám của nhà trời. Nào, hãy lau nước mắt đi, chúng ta sẽ thấy tất cả bọn chúng chết đói trước khi chúng có thể làm chúng ta khóc.”
Nhưng khi họ được giải thoát thì đã muộn. Régane và Goneril trước khi chết, nạn nhân của chính những mưu mô xảo quyệt của chúng, đã ra lệnh thắt cổ cô em gái ngay trong ngục. Vị vua già vẫn còn đủ sức để giết chết tên nô lệ đã hành hình Cordelia, và nâng đứa con đã chết trên tay, ngài kêu lên thống thiết:
“Hét lên, rú lên, gào lên! Ôi! Các ngươi là gỗ đá! Nếu ta có cái lưỡi và đôi mắt của các ngươi, ta phải làm sao cho đất trời chuyển động sụp đổ tan tành. Lẽ ra ta phải cứu được con, giờ đây con đã ra đi vĩnh viễn! À! Con nói gì nhỉ? Giọng nói của con vẫn êm đềm trìu mến, đối với một người đàn bà thật đáng quí xiết bao! Đứa con hồn nhiên của ta đã bị bức tử! Sao? Con chó, con ngựa, con chuột vẫn được sống mà con, con không còn hơi thở? Con chẳng bao giờ trở lại nữa; chẳng bao giờ, chẳng bao giờ nữa cả! Hãy nhìn kìa đôi môi của nó!”
Và trái tim quặn thắt, quá đau đớn, cuối cùng bị vỡ ra; trong khi Kent, đầy lòng trắc ẩn, cúi đầu cầu nguyện:
“Ôi! Xin đừng hành hạ vong linh ngài! Hãy để cho ngài ra đi thanh thản. Phải thù hận ngài lắm mới muốn giữ ngài lại lâu hơn trên bánh xe nhục hình của cõi trần khắc nghiệt.”
Thế là vua Lear không thể sống lâu hơn trái tim hiếu thảo đã trọn đời yêu mến ngài.

 

http://maxreading.com/sach-hay/tac-pham-cua-shakespeare/vua-lear-24201.html

Akira Kurosawa Film studies Văn học & Điện ảnh Văn học Anh Văn học Nhật Bản

Ran (1985) – Akira Kurosawa

https://www.youtube.com/watch?v=YoRHFG0d-70

Ran

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ran

Áp phích tại Mỹ
Thông tin phim
Đạo diễn Akira Kurosawa
Sản xuất Katsumi Furukawa
Serge Silberman
Masato Hara
Hisao Kurosawa
Tác giả Akira Kurosawa
Hideo Oguni
Masato Ide
Dựa trên King Lear của
William Shakespeare
Diễn viên Tatsuya Nakadai
Akira Terao
Jinpachi Nezu
Daisuke Ryu
Mieko Harada
Yoshiko Miyazaki
Peter
Âm nhạc Toru Takemitsu
Quay phim Asakazu Nakai
Takao Saitō
Masaharu Ueda
Dựng phim Akira Kurosawa
Hãng sản xuất Greenwich Film Productions
Herald Ace
Nippon Herald Films
Phát hành Toho (Nhật)
Orion Pictures (USA 1985)
Rialto Pictures (USA 2010)
Acteurs Auteurs Associés (AAA)(France 1985)
StudioCanal (France 2010)
Công chiếu 31 tháng 5, 1985(Tokyo International Film Festival)
1 tháng 6, 1985 (Nhật)
Độ dài 162 phút
Quốc gia Nhật Bản
Pháp
Ngôn ngữ Nhật
Kinh phí US$12.000.000

Loạn (Ran) là một phim Jidaigeki hợp tác giữa điện ảnh Nhật Bản và Pháp, được công chiếu vào năm 1985. Bộ phim miêu tả cuộc tranh chấp giữa cha con, huynh đệ dòng họ lãnh chúa Ichimonji trong bối cảnh một thời Chiến quốc giả tưởng thời trung cổ ở Nhật Bản. Nội dung phim mang cốt cách của vở bi kịch “King Lear” của William Shakespeare và sử dụng giai thoại 3 mũi tên của Mōri Motonari trong lịch sử Nhật Bản (tam tử giáo huấn trạng).

Loạn (Ran) là bộ phim thứ 27 của đạo diễn Kurosawa Akira và là bộ phim thể loại Jidaigeki cuối cùng trong đời ông. Bản thân Kurosawa cũng xem đây là tác phẩm của đời ông, và là di ngôn để lại cho nhân loại.

Mục lục

Nội dung

Bối cảnh phim là một thời Chiến quốc giả tưởng, sau khi Ichimonji Hidetori lần lượt đánh chiếm hết 3 thành trì bên địch và trở thành đại lãnh chúa của cả vùng. Một ngày nọ, nhân buổi đi săn, Hidetora bất ngờ thông cáo cho các quan khách rằng mình sẽ nhường ngôi vị lại cho con trưởng, còn bản thân thì về ẩn cư. Hidetora lấy 3 mũi tên, bảo với con trai rằng, 1 mũi tên thì dễ bẻ nhưng gọp 3 mũi lại thì không thể bẻ được. Nhưng con trai út thấy thế lại chê cha già lẩm cẩm, dùng sức bẻ gãy cả 3 mũi tên. Cảm thấy mất mặt trước các quan khách, Hidetori nổi giận đuổi con trai út đi rồi về làm phận khách tại thành trì của con trưởng. Và cũng bắt đầu từ đây, sự thực hư trong lòng hiếu thảo của từng người con được bộc lộ, dẫn đến mối tranh chấp, bất hòa của cả dòng họ Ichimonji…

Vai diễn

  • Nakadai Tatsuya vai Ichimonji Hidetora
  • Terao Akira vai Ichimonji Tarō Takatora
  • Nezu Jimpachi vai Ichimonji Jirō Masatora
  • Ryū Daisuke vai Ichimonji Saburō
  • Harada Mieko vai phu nhân Kaede
  • Miyazaki Yoshiko vai phu nhân Sue
  • Nomura Mansai vai Tsurumaru
  • Yui Masayuki vai Hirayama Tango
  • Katō Kazuo vai Ikoma
  • Matsui Norio vai Kokura
  • Tazaki Jun vai Ayabe
  • Ueki Hitoshi vai Fujimaki
  • Ikehata Shin-no-suke vai Kyō-ami
  • Igawa Hisashi vai Kurogane

Âm nhạc

Phụ trách chỉ huy mảng âm nhạc trong Ran (Loạn) là Takemitsu Tōru, trước đó ông cũng từng lo mảng âm thanh trong “Dō desuka den”, bộ phim màu đầu tiên của Kurosawa Akira vào năm 1970. Trong phim này, Kurosawa tỏ ra đối lập với Takemitsu, không chấp nhận ý kiến của Takemitsu trong quá trình lồng tiếng khiến ông này bất mãn, nói rằng “có thể cắt dán âm nhạc theo ý của Kurosawa, nhưng đừng có để tên tôi vào phần danh sách làm phim” và tuyên bố bỏ dở công việc, chạy ra khỏi phòng lồng tiếng. Nhưng thực tế Takemitsu đã không bỏ dở công việc của mình, sau đó có nói đây là kể từ sau tác phẩm này thì ông không muốn làm việc chung với Kurosawa nữa. Và thực tế, đây cũng là bộ phim cuối cùng mà Takemitsu dính dáng đến Kurosawa.

Lúc đầu đạo diễn Kurosawa Akira mong muốn chọn dàn nhạc giao hưởng London cho bộ phim của mình, nhưng Takemitsu Tōru phản đối nên rốt cuộc là chọn dàn nhạc giao hưởng Sapporo (tháng 4 năm 1985, tại trung tâm văn hóa thị dân Chitose). Dàn nhạc giao hưởng Sapporo chỉ là một dàn nhạc địa phương, ngay tại Nhật Bản cũng chẳng có tiếng tăm gì, vì thế nên Kurosawa tỏ ra bất mãn và chẳng thèm nhìn mặt các thành viên trong nhạc đoàn trước khi bắt đầu thu âm. Nhưng trái với dự định, dàn nhạc đã diễn tấu rất tốt nên khi giải tán trước giờ ăn trưa, Kurosawa có bước lên sân khấu nói lời cảm ơn, xin lỗi các thành viên và ông cúi đầu không hề ngẩng lên suốt lúc đó.

Chuyện bên lề

  • Theo Hashimoto Shinobu, một trong ba tác giả kịch bản của bộ phim thì trong quá trình xây dựng nhân vật, Oguni Hideo bất mãn với Kurosawa và có cãi nhau gay gắt nên nửa chừng ông này từ bỏ việc chấp bút kịch bản.
  • Lá cờ của nhân vật Ichimonji Hidetora có hình thái dương và mặt trăng, đây là từ chữ “minh” (明) trong tên của Kurosawa Akira (Hắc Trạch Minh, chữ “minh” gồm chữ “nhật” và “nguyệt” ghép lại). Ngoài ra chính Kurosawa cũng có nói với Miyazaki Yoshiko rằng nhân vật Ichimonji Hidetora chính là hình ảnh của bản thân mình.
  • Số lượng diễn viên quần chúng trong Ran (Loạn) chừng 1000 người. Và vì quá trình quay phim kéo dài nên nếu thuê ngựa thì chi phí đắt đỏ, nên nhà làm phim đã nhập 50 con ngựa Quarter Horse từ Mỹ quốc về. Cũng chính vì lý do này mà bộ phim bị chỉ trích rằng “Nhật Bản thời Chiến quốc không có giống ngựa tốt như vậy”. Sau khi kết thúc bộ phim, bầy ngựa được bán đi.
  • Trong phim có cảnh Hidetora ngồi dưới trời nắng khi bị lũ con đuổi đi, phía sau có thấy 2 người leo núi ở ngọn núi phía sau. Chỉ có một người duy nhất phát hiện ra điểm bất thường này là Nakai Asaichi, phụ trách C Camera. Ông này đã bí mật bàn bạc với Kurosawa để xử lý xóa hình ảnh này. Quá trình xử lý tốn 500 vạn En.
  • Một người bạn thân của Kurosawa là đạo diễn người Nga Nikita Sergeyevich Mikhalkov có đến Nhật trong quá trình chuẩn bị cho bộ phim, và có một ý tưởng đề xuất. Ý tưởng của ông này có thấy xuất hiện trong bộ phim hoàn chỉnh khiến ông này cảm thấy rất vui và có giá trị.
  • Diễn viên Takakura Ken được mời thủ vai Kurogane trong phim, đích thân Kurosawa 4 lần đến nhà Takakura để bàn bạc, nhưng lúc này Takakura đang chuẩn bị cho bộ phim truyền hình “Izakaya Chōji” nên đều từ chối hết. Vì thế Takakura Ken bị Kurosawa nói “anh đúng là người khó tính” và vai diễn này được giao cho Igawa Hisashi. Sau này, tình cờ Takakura Ken có đi qua nơi quay phim Ran và tỏ ra hối tiếc vì ngày trước đã từ chối.
  • Tạo hình nhân vật Ichimonji Hidetora còn được sử dụng ở nhân vật Tenrai trong game Tenchū San trên hệ máy PlayStation 2.

Các giải thưởng

  • Giải Oscar thiết kế trang phục, 1985.
  • Giải thưởng hóa trang trong khuôn khổ giải Academy điện ảnh Anh quốc, giải cho phim ngoại quốc.
  • Giải thưởng quay phim trong khuôn khổ Giải Hiệp hội phê bình điện ảnh toàn Mỹ quốc.
  • Giải cho phim ngoại quốc trong khuôn khổ Giải Hiệp hội phê bình điện ảnh New York.
  • Giải âm nhạc, giải cho phim ngoại quốc trong khuôn khổ Giải Hiệp hội phê bình điện ảnh Los Angeles.
  • Giải quay phim trong khuôn khổ Giải Hiệp hội phê bình điện ảnh Boston.
  • Giải bạc trong khuôn khổ giải Golden Gloss lần thứ 3, Nhật Bản.

Địa điểm quay phim

  • Thành Himeji: đệ nhất thành
  • Thành Kumamoto: đệ nhị thành
  • Thành Nagoya, tỉnh Saga, thành phố Karatsu
  • Tỉnh Kumamoto
  • Tỉnh Ōita
  • Núi Phú Sĩ