Browsing Tag

Rudyard Kipling

Lịch sử tư tưởng phương Đông TUẦN 1: PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY Việt Nam học

PHƯƠNG ĐÔNG – PHƯƠNG TÂY : TỪ MỘT BÀI THƠ, SUY NGHĨ VỀ MỘT VẤN ĐỀ KHÔNG NHỎ

PHƯƠNG ĐÔNG – PHƯƠNG TÂY : TỪ MỘT BÀI THƠ,

SUY NGHĨ VỀ MỘT VẤN ĐỀ KHÔNG NHỎ

Nguyễn Văn Dân

Ngày nay, khi nói đến hai nền văn hoá phương Đông và phương Tây, nhiều nhà khoa học trên thế giới hay dẫn câu thơ nổi tiếng của nhà văn người Anh đầu tiên đoạt giải Nobel văn học cách đây đúng một thế kỷ (1907) R. Kipling: “Phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây, và hai bên sẽ chẳng thể bao giờ gặp nhau”. Người ta cho rằng phương Đông và phương Tây có những đặc thù riêng của chúng. Tuy nhiên, theo tôi, cái vế sau của câu thơ nói trên mới là điều đáng bàn: Có thật phương Đông và phương Tây không bao giờ gặp nhau không?

 

 

Về bài thơ của Kipling tôi sẽ bàn kỹ ở phần sau, trước hết tôi muốn nói rằng trên thế giới có rất nhiều tộc người sinh sống, cho nên sự khác biệt giữa các tộc người là điều hiển nhiên. Nhưng các tộc người không tồn tại biệt lập nhau, mà ngày càng tiếp xúc, giao lưu với nhau theo dòng lịch sử. Vì thế cái chung giữa các tộc người ngày càng được mở rộng. Sự hình thành và phát triển của cái chung đó được thực hiện nhờ có sự phát triển của văn hoá và văn minh nhân loại. Trong lịch sử hàng nghìn năm, do điều kiện cách biệt về chủng tộc và địa lý, giữa phương Đông và phương Tây đã hình thành những khác biệt không khó nhận ra. Nhưng lịch sử cũng chứng minh rằng giữa phương Đông và phương Tây không phải là có một sự cách biệt hoàn toàn. Nhiều học giả đã cho thấy rằng giữa hai bên đã có những mối giao lưu từ hàng nghìn năm nay. Đặc biệt là trong thời đại của toàn cầu hoá như ngày nay, khi mà thông tin và truyền thông đã làm cho khoảng cách về không gian và thời gian không còn có ý nghĩa gì nhiều, thì liệu cái vế sau trong câu thơ của Kipling có trở nên lỗi thời không? Thế nhưng cái vế đầu của câu nói “phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây” thì hình như vẫn mãi mãi ám ảnh suy nghĩ của nhiều học giả. Vậy cái gì đã làm thành sự khác biệt được cho là không thể vượt qua như thế?

Có một xu hướng chung cho rằng người phương Tây duy lý, còn người phương Đông duy cảm; người phương Tây hành xử nặng về lý, còn người phương Đông hành xử nặng về cảm tính, về tình. Nhưng tại sao lại có sự khác biệt lý-tình như vậy thì lại là một câu hỏi khó trả lời. Chẳng lẽ đó lại là sự quy định của chủng tộc? Điều này khó có thể chấp nhận, bởi lẽ chưa có một công trình nhân chủng học hoặc dân tộc học nào đưa ra được một kết quả thực nhiệm đủ sức thuyết phục về điều đó. Có nhiều người viện dẫn đến sự khác biệt giữa hai bán cầu đại não để lý giải sự khu biệt Đông-Tây. Nhưng người ta chưa chứng minh được rằng liệu có phải ở người phương Tây có sự phát triển mạnh bán cầu đại não trái – thiên về lý tính phân tích lôgic –, còn ở người phương Đông có sự phát triển mạnh bán cầu đại não phải – thiên về trực giác tổng hợp –, hay đây chỉ là hai chức năng bổ sung cho nhau trong cùng một bộ não của bất cứ một con người nào?

Cho đến nửa cuối thế kỷ XX, một số nhà khoa học Italia và Nhật Bản đã nghiên cứu so sánh phản ứng xúc cảm của người Nhật so với người Italia xuất hiện trong hai bán cầu đại não. Họ đã lần lượt tiêm thuốc gây tê vào động mạch chủ của từng bán cầu đại não của đối tượng thí nghiệm và thấy rằng: phản ứng xúc cảm xuất hiện trên hai bán cầu có khác nhau giữa người Italia và người Nhật. ở người Italia thì phản ứng xúc cảm xuất hiện trên bán cầu não phải (được họ gọi là bán cầu không mang tính trội). Còn ở người Nhật thì phản ứng xúc cảm xuất hiện trên bán cầu trái (mang tính trội).  Tuy nhiên họ không đưa ra kết luận gì về tính trội lý tính trong bộ não của người phương Tây và tính trội cảm tính của người phương Đông. Đây là một thí nghiệm rất đáng quan tâm. Nhưng nó vẫn đòi hỏi phải được tiếp tục một cách sâu rộng và có hệ thống thì mới có thể kết luận chính xác về sự khác biệt Đông-Tây này.

Mặt khác, khi nghiên cứu về tính trội ngôn ngữ trong hai bán cầu của người phương Tây và người Nhật, các nhà khoa học Nhật Bản cho thấy rằng người Nhật tiếp nhận nguyên âm nhiều hơn trong bán cầu não trái, còn người phương Tây tiếp nhận nguyên âm nhiều trong bán cầu não phải, phụ âm thì ở bán cầu não trái. Tuy nhiên, theo hai nhà khoa học người Mỹ gốc Nhật Niseis và Sanseis, thì việc người Nhật tiếp nhận nổi trội nguyên âm trong bán cầu não trái không phải là do di truyền, mà là do môi trường sống đem lại cho họ.  Nhìn chung, đây là một vấn đề nan giải mà khoa học vẫn chưa có tiếng nói cuối cùng

Vì thế tạm thời chúng tôi đặt giả thiết cho rằng có lẽ sự khác biệt Đông-Tây nằm ẩn sâu trong truyền thống văn hoá và văn minh của hai khu vực lớn này (tức là “do môi trường đem lại”). Con người ban đầu sinh ra trong thiên nhiên bao la đầy những bí ẩn, thì hoạt động văn hoá đầu tiên của nó là nhận thức thiên nhiên. Tuy nhiên, khi văn minh phát triển, thì sự khác biệt giữa các dân tộc bắt đầu hình thành. Người phương Đông cổ xưa chủ yếu là có nền văn minh làng xã, họ không đặt mục đích chinh phục thiên nhiên mà dựa vào thiên nhiên, gửi gắm tình cảm vào thiên nhiên để tồn tại và lập ra những hương ước nặng về tình để đối nhân xử thế. Người phương Đông đề cao sức mạnh của cái thiên nhiên và cái siêu nhiên. Họ quan niệm con người phụ thuộc vào thiên nhiên và vào thế giới siêu nhiên. Người ta cho rằng con người phương Đông cổ xưa nhận thức thiên nhiên và thế giới chủ yếu bằng con đường trực giác,  tức là bằng tư duy cảm tính. Phải chăng mối quan hệ tình cảm có phần huyền bí giữa con người với thiên nhiên và với thế giới siêu nhiên là lý do chính tạo ra kiểu tư duy này? Y thuật, số thuật và chiêm tinh thuật của phương Đông thể hiện rõ ràng quan điểm này. Từ đó xuất hiện quan điểm tôn trọng gốc gác và là nguồn gốc của đạo đức học phương Đông tồn tại cho đến ngày nay. Người phương Đông đi xa vẫn khó quên gốc gác của mình. Người Do Thái, người Arập, người Hoa sống ở nước ngoài vẫn giữ gần như nguyên vẹn bản tính dân tộc. ở những nước văn minh canh nông phương Đông (ngoại trừ văn minh du mục), việc hình thành nhiều quốc gia từ một nguồn gốc dân tộc không phải là điều phổ biến.

Trong khi đó ở phương Tây, do nền văn minh đô thị phát triển sớm, người phương Tây đã sớm có ý thức cạnh tranh với cái thiên thiên và với cái siêu nhiên, chinh phục thiên nhiên và chinh phục thế giới để khẳng định sức mạnh của con người lý tính.
Thực ra nói về văn minh đô thị thì phải nói cái nôi đầu tiên của nó là nằm ở khu vực Lưỡng Hà (Tiểu á), bắt đầu từ nghìn năm thứ 8 trước CN. Nhưng sự phát triển về sau lại hướng về phía Tây. Còn ở vùng viễn Đông xa xôi, văn minh đô thị phát triển chậm hơn. Trong bối cảnh đó, nền y học phương Tây là một nền y học chủ yếu dựa vào khả năng lý tính chế tác của con người mà ít cầu viện đến thiên nhiên, không giống như y thuật phương Đông chủ yếu dựa vào chiêm nghiệm trực giác. Mặt khác, ý thức chinh phục thiên nhiên và giao thương phát triển sớm làm cho người phương Tây sẵn sàng rời xứ sở đi tìm miền đất mới để định cư. Tất nhiên việc mở mang bờ cõi thì ở cả phương Tây lẫn phương Đông đều diễn ra. Nhưng ở phương Tây, người bản quốc sau khi định cư ở miền đất mới thì sẵn sàng lập ra một quốc gia mới để khẳng định mình và cạnh tranh với bản quốc. Sau đêm dài trung cổ, người Tây Âu sau khi phát hiện ra châu Mỹ đã ồ ạt di cư sang miền Tân Thế giới này để lập ra một loạt quốc gia độc lập hẳn với chính quốc của họ. Quốc gia mới của người Anh trên lãnh thổ nước Mỹ ngày nay khác hẳn với nước Anh chính quốc. Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ở Trung và Nam Mỹ cũng vậy.

Như nhiều nhà khoa học đã phát biểu, một trong những cội nguồn của văn hoá là tín ngưỡng. Chẳng hạn như nhà triết học người Nga (thuộc Liên Xô cũ) Alexander Spirkin đã giải nghĩa từ “cultura” trong tiếng Latin (nghĩa là “văn hoá”) bằng cách cho rằng nó có xuất xứ từ từ “colere” có nghĩa là “gieo trồng” và “thờ cúng”. Và ông cho rằng văn hoá của mọi dân tộc trong suốt quá trình lịch sử loài người đều thấm đậm chất tôn giáo ở một mức độ nào đó.  Ngày nay, tôn giáo không còn giữ được ý nghĩa và vai trò ban đầu của nó, nhưng cái chất tín ngưỡng tôn giáo thì vẫn tồn tại thấm đậm trong lối sống, trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của hầu hết các dân tộc. Mỗi khi thể hiện những tình cảm đặc biệt, chúng ta thường viện dẫn đến Thượng Đế. Lúc vui, lúc buồn, ta thường kêu “Trời”, cầu “Chúa”… Theo từ điển Wikipedia, từ “goodbye” [“tạm biệt”] trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tập ngữ trong tiếng Anh cổ “God be with ye” [“Chúa phù hộ cho bạn”].

Mà hệ thống tín ngưỡng tôn giáo của phương Đông và phương Tây lại có những sự khác nhau rất cơ bản. Cái tư tưởng tôn trọng gốc gác nơi đất mẹ thiên nhiên nói trên của người phương Đông đã dẫn đến một ý thức thuần phục gần như tuyệt đối đối với một tôn ti trật tự đã được thiết lập trong tôn giáo. Đạo Phật của phương Đông về cơ bản là nhất quán, thông suốt, hầu như không có những “kẻ phản nghịch”. Trong khi đó ở phương Tây, đạo Cơ Đốc luôn được sửa đổi, cải cách, thậm chí ly giáo. Ngay từ khi Cơ Đốc giáo mới ra đời, Chúa Jesus đã có kẻ tông đồ thứ 13 là Juda, được mệnh danh là kẻ “phản nghịch” đầu tiên. Trong lịch sử Cơ Đốc giáo, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vụ ly giáo: vụ ly giáo Đông-Tây năm 867 giữa giáo trưởng thành Constantinople Photius với giáo hoàng Nicolas I ở Roma; vụ ly giáo Đông-Tây năm 1054 giữa giáo trưởng thành Constantinople Kerularios với giáo hoàng Leo IX; và đặc biệt là vụ ly giáo lớn ở châu Âu diễn ra từ 1378 đến 1417 giữa ba chế độ giáo hoàng: chế độ giáo hoàng ở Roma, chế độ giáo hoàng ở Avignon (Pháp) và chế độ giáo hoàng ở Pisa (Italia). Và đặc biệt là cuộc cải cách đạo Cơ Đốc của nhà thần học người Đức Martin Luther đầu thế kỷ XVI, dẫn đến sự ra đời của đạo Tin Lành. Tư tưởng phản nghịch thể hiện phổ biến trong Cơ Đốc giáo đến nỗi Nhà Thờ đã phải lập ra một toà án để xử tội dị giáo.

Có thể cái tư tưởng “phản nghịch” của người phương Tây là có xuất xứ từ truyền thống văn hoá thần thoại xa xưa. Hệ thống thần thoại Hy Lạp là một hệ thống tranh giành quyền lực. Thần Cronos sẵn sàng giết cha là thần Uranos để lên nối ngôi. Đến lượt mình, thần Dớt lại làm một cuộc “cách mạng” lật đổ cha mình để nắm quyền trị vì thế giới. Trong một loạt những cuộc giao tranh tiếp theo giữa các phe phái trong các vị thần, như giữa các vị thần Olympos với các vị thần khổng lồ Gigantes, thì con người, đại diện là dũng sỹ Heracles, cũng tham gia giúp các vị thần Olympos đánh lại các vị thần Gigantes. Trong thần thoại Hy Lap, điển hình của thần thoại văn minh đô thị, thần thánh và người trần sống lẫn với nhau, yêu nhau, kết hôn với nhau và cạnh tranh lẫn nhau, hầu như không có sự phân biệt và không có một tôn ty trật tự tuyệt đối. Nhiều người trần sẵn sàng đấu võ và thi tài với thần linh: Tráng sỹ Heracles giết chết nhiều thần khổng lồ Gigantes, trong đó có thần Antaios nổi tiếng [tức thần “Ăngtê” gọi theo tiếng Pháp]; tráng sỹ Diomedes đánh bị thương thần chiến tranh Ares; cô thợ dệt Arakhne dám thi tài dệt vải với nữ thần Athena; cô gái Acalanthis và chàng trai Thamyras dám thi hát với các nữ thần nghệ thuật Musa; nàng Casiope xinh đẹp và tự tin dám thi sắc đẹp với các nữ thần biển Neraydes, v.v… Trong khi đó trong thần thoại phương Đông, thế lực thần thánh được phát huy tuyệt đối quyền hành, tôn ty trật tự được tuân thủ nghiêm ngặt. Kẻ phản nghịch duy nhất là Tôn Ngộ Không thì chỉ múa may trong thế giới quỷ sứ chứ không đụng chạm được đến quyền lực thánh thần.

Trong giáo dục, người phương Đông đề cao tư tưởng “tôn sư trọng đạo”. Người thầy có một vị thế quan trọng đến mức thiêng liêng. Người ta chỉ có thể lập ra một tư tưởng, một lý thuyết mới, chứ ít khi cải cách lý thuyết của thầy. Ngay cả đến thời đại ngày nay, khi Đặng Tiểu Bình thực hiện cải cách Trung Quốc, thì tư tưởng Mao Trạch Đông vẫn được tôn sùng. Trong khi đó ở phương Tây, khái niệm người thầy không có ý nghĩa “thần thánh” như ở phương Đông. Ngay từ thời xa xưa, Socrate đã không dạy học trò bằng cách áp đặt quan điểm của mình, mà ông đưa ra các câu hỏi để học sinh chủ động trả lời. Aristote, bằng các công trình học thuật của mình, đã dám phản bác lại quan điểm duy tâm của thầy học của mình là Platon. Đến thời cận-hiện đại, K. Jung, học trò của Freud, đã cải cách lý thuyết tâm phân học của thầy mình, dẫn đến hai người không còn muốn nhìn mặt nhau. Các Mác, thời trẻ là học trò của Hegel, đã kiên quyết “lật ngược” phép biện chứng duy tâm của ông này để lập ra một học thuyết mới. Lênin cũng sửa đổi học thuyết Mác về cách mạng vô sản để thực hiện cuộc Cách mạng Tháng 10 vĩ đại. (Mác chủ trương rằng cách mạng vô sản chỉ có thể thành công khi nó diễn ra trên toàn thế giới. Lênin sửa lại rằng nó có thể thành công trong khâu yếu nhất của chủ nghĩa tư bản.)

Có thể thấy, bên cạnh yếu tố tích cực về mặt đề cao tình nghĩa thầy-trò, thì tư tưởng tôn sư trọng đạo của phương Đông nhiều khi dẫn đến thái độ thuần phục mang tính mô phạm giáo điều, kìm hãm tư duy sáng tạo. Trong khi đó ở phương Tây, chính cái quan niệm bình đẳng thầy-trò là một trong những động lực làm nảy sinh nhiều tư tưởng và lý thuyết mới. Vậy mà cái tư tưởng mô phạm giáo điều đó vẫn còn tồn tại dai dẳng ở phương Đông cho đến ngày nay, đôi khi thể hiện thành sự bắt chước một cách máy móc các lý thuyết của nước ngoài, đặc biệt là trong khoa học xã hội. Ví dụ như trong khi ở nước ngoài đang có nhiều lý thuyết khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau về một chủ đề, thì ở nước ta, nhiều người đã không tiếp thu được một cách có hệ thống, mà chỉ tiếp thu một vài quan điểm nào đó, và người khác lại tiếp thu một vài quan điểm khác mâu thuẫn với các quan điểm kia, thế là dẫn đến việc cùng một chủ đề, nhưng mỗi người ở nước ta lại hiểu theo một cách khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau. Điển hình gần đây nhất là quan điểm của các nhà nghiên cứu của nước ta về chủ hậu hiện đại trong nghệ thuật. Đó chính là căn bệnh cảm tính, thiếu tư duy lôgic triết học mà có nhà khoa học đang cảnh báo. Căn bệnh thiếu tư duy lôgic cũng đang thể hiện trong cả cuộc sống hàng ngày, khi mà người ta không hề cảm thấy phi lý khi cứ phát ngôn một cách hồn nhiên: “tỷ giá hối đoái giữa ‘Việt Nam đồng’ với ‘đôla Mỹ’”. (Tất cả các đồng tiền của nước ngoài đều được đọc xuôi theo ngữ pháp tiếng Việt, riêng đồng Việt Nam thì được đọc ngược theo ngữ pháp tiếng Anh!) Và có lẽ đó cũng là biểu hiện của truyền thống tư duy cảm tính của người phương Đông chăng?

Tuy nhiên, trong thời đại mà thế giới đang phát triển như vũ bão ngày nay, khi mà con người đang có nguy cơ tiêu diệt thiên nhiên và vì thế sẽ dẫn đến tiêu diệt chính mình, thì cái bản chất truyền thống của văn hoá phương Đông nặng về cảm tính và tình nghĩa, tôn thờ đất mẹ thiên nhiên, mặc dù có mặt tiêu cực là chậm phát triển, nhưng lại có tác dụng tích cực là thúc đẩy sự hoà hợp con người với thiên nhiên, rất phù hợp với quan điểm phát triển bền vững ngày nay của LHQ. Trong khi đó, cái tư duy thiên về lý tính của phương Tây có mặt mạnh là luôn luôn đổi mới, thúc đẩy phát triển – thực tế mấy thập kỷ gần đây tho thấy đầu tàu phát triển nằm ở phương Tây – nhưng nó lại tiềm ẩn những nguy cơ huỷ hoại môi trường: tài nguyên thiên nhiên suy kiệt, hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên, v.v… Chính vì thế mà ở phương Tây cũng đang có một xu hướng tìm đến phương Đông. Song, trớ trêu thay, khi phương Tây tìm đến phương Đông để học tập cái hay trong văn hoá mang tính hoà nhập với thiên nhiên của phương Đông, thì nhiều nước đang phát triển của phương Đông, vì nôn nóng bắt chước xu hướng phát triển nhanh của phương Tây, lại đang góp phần đắc lực vào việc hủy hoại môi trường. Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã lên tiếng cảnh báo rằng Trung Quốc hiện đang là nước gây ô nhiễm và huỷ hoại thiên nhiên vào loại bậc nhất hiện nay.  Mặt trái của tư duy cảm tính đang làm cho người ta học tập sự phát triển của phương Tây một cách không suy xét. Kể cả việc học tập theo cách sao chép, ví dụ như nạn làm hàng nhái, hàng giả thường là hiện tượng phổ biến ngày nay ở á Đông.

Như vậy thì sự khác biệt Đông-Tây là có thật. ở đây tôi chỉ bàn đến sự khác biệt trên bình diện tư duy và đời sống văn hoá-tinh thần. Nhưng khác biệt không có nghĩa là không thể gặp gỡ và bắt tay nhau. Trên thực tế, sự gặp gỡ Đông-Tây, đặc biệt là mối quan hệ giao thương, đã tồn tại từ lâu: con đường tơ lụa dài 8.000 km nối liền Trung Quốc với châu Âu, được hình thành từ đầu thế kỷ II trước CN, là một trong những bằng chứng lâu đời cho mối quan hệ này. Vì thế, sự khác biệt cũng có phần nhạt nhoà dần theo thời gian. Đến đây, có lẽ chúng ta phải trở lại với câu nói của Kipling để hiểu rõ thêm tư tưởng của ông.
Thực ra, ý nghĩa câu nói của Kipling không đơn giản như từ xưa đến nay người ta vẫn hiểu, hay cố tình hiểu đơn giản như thế. Sự thật là Kipling không bao giờ tuyên bố một cách dứt khoát về sự khác biệt Đông-Tây.

Câu nói trên được trích từ vần thơ đầu của bài thơ “Khúc ca Đông Tây”, viết năm 1889. Kipling là con trai của một vị bộ trưởng người Anh, sinh ra và lớn lên tại ấn Độ. Ông am hiểu văn hoá phương Đông và sáng tác nhiều về đề tài phương Đông. Ông được trao giải Nobel văn học vì óc quan sát thực tế, trí tưởng tượng độc đáo và tài năng tự sự nổi tiếng. Tuy nhiên ngày nay, người ta cho rằng cái tư tưởng đề cao sức mạnh của đế quốc Anh và khả năng khai hoá văn minh của nó trong các sáng tác của ông đã làm giảm phần nào uy tín của ông. Về bài thơ “Khúc ca Đông Tây”, việc người ta hay trích câu thơ nói trên thực tế mới chỉ là trích một nửa tư tưởng của ông.

Trong khổ thơ đầu của bài thơ, Kipling đã viết như sau:

“Ôi, phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây, và hai bên sẽ chẳng thể bao giờ gặp nhau,

Cho đến khi Đất Trời có mặt tại Toà phán xử tối cao của Thượng Đế;

Nhưng sẽ chẳng có Đông cũng chẳng có Tây, chẳng có Ranh giới, chẳng có Giống nòi, cũng chẳng có Sinh sôi,

Khi hai người đàn ông mạnh mẽ đứng đối diện nhau, dù họ đến từ những nơi tận cùng của Trái đất!”

Tiếp đến là một đoạn tự sự kể về chuyện đụng độ giữa một thủ lĩnh người bản xứ với con trai một đại tá thực dân. Cuộc đụng độ đã kết thúc bằng sự hoà giải và kết nghĩa anh em giữa “hai người đàn ông mạnh mẽ”. Và bài thơ kết thúc bằng việc lặp lại khổ thơ đầu.
Hoá ra, Kipling không chia cắt Đông-Tây như người ta vẫn tưởng. Trong quan niệm của ông, sự khác biệt Đông-Tây không đến mức không thể hiểu nhau và hợp tác với nhau. Và thực tế ngày nay đang chứng minh điều đó. Quan điểm về sự đụng độ giữa các nền văn minh của Huntington đang bị nhiều người trên thế giới phản bác. Đảng ta cũng chủ trương “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”.

Những điều nói trên cho thấy rằng, điều quan trọng ngày nay là chúng ta phải hiểu rõ được mặt mạnh và mặt yếu của mỗi khu vực văn hoá để kết hợp bổ sung cho nhau nhằm xây dựng một thế giới loài người phát triển bền vững. Không nên tuyệt đối hoá một khía cạnh nào của văn hoá khu vực mà không thấy được mặt khiếm khuyết của nó. Thống nhất trong đa dạng chính là nguyên tắc để thúc đẩy sự hợp tác, bổ sung những cái hay cái tốt cho nhau để cùng tồn tại và phát triển. Nhưng hội nhập không phải là thủ tiêu sự khác biệt. Đông là Đông, Tây vẫn là Tây, có sao đâu! Nhưng đừng quá tự đề cao những cái khác biệt của riêng mình mà không thấy những cái hay cái tốt của người khác. Làm như thế sẽ có nguy cơ rơi vào căn bệnh “tự phụ thông thái rởm” mà nhà văn Gớt đã cảnh báo cách đây gần hai thế kỷ. Hội nhập Đông-Tây nói riêng và hội nhập toàn thế giới nói chung chính là vectơ chủ đạo và mục đích cuối cùng để loài người có được một ngôi nhà hoà bình và ổn định trên toàn hành tinh. Và như thế mới đúng theo tinh thần tư tưởng của Kipling: Khi các dân tộc gặp gỡ nhau trong mối quan hệ bình đẳng và trong tình anh em, thì sẽ không còn phương Đông, không còn phương Tây, không còn ranh giới phân chia giữa các giống nòi, chủng tộc!

Nguồn: trannhuong.com

http://vanhoahoc.edu.vn/nghien-cuu/van-hoa-the-gioi/quan-he-van-hoa-dong-tay/670-nguyen-van-dan-phuong-dong-phuong-tay-tu-mot-bai-tho–suy-nghi-ve-.html

iram-global-child-care-16-638

 

 

English Lịch sử tư tưởng phương Đông Literature TUẦN 1: PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY Việt Nam học

The Ballad of East and West

The Ballad of East and West
 gif
Rudyard Kipling (1889)
clr gif

Oh, East is East, and West is West, and never the twain shall meet,
Till Earth and Sky stand presently at God’s great Judgment Seat;
But there is neither East nor West, Border, nor Breed, nor Birth,
When two strong men stand face to face, though they come from the ends of the earth!
 

Kamal is out with twenty men to raise the Border-side,
And he has lifted the Colonel’s mare that is the Colonel’s pride.
He has lifted her out of the stable-door between the dawn and the day,
And turned the calkins upon her feet, and ridden her far away.
Then up and spoke the Colonel’s son that led a troop of the Guides:
“Is there never a man of all my men can say where Kamal hides?”
Then up and spoke Mohammed Khan, the son of the Ressaldar:
“If ye know the track of the morning-mist, ye know where his pickets are.
“At dusk he harries the Abazai — at dawn he is into Bonair,
“But he must go by Fort Bukloh to his own place to fare.
“So if ye gallop to Fort Bukloh as fast as a bird can fly,
“By the favour of God ye may cut him off ere he win to the Tongue of Jagai.
“But if he be past the Tongue of Jagai, right swiftly turn ye then,
“For the length and the breadth of that grisly plain is sown with Kamal’s men.
“There is rock to the left, and rock to the right, and low lean thorn between,
“And ye may hear a breech-bolt snick where never a man is seen.”

The Colonel’s son has taken horse, and a raw rough dun was he,
With the mouth of a bell and the heart of Hell and the head of a gallows-tree.
The Colonel’s son to the Fort has won, they bid him stay to eat —
Who rides at the tail of a Border thief, he sits not long at his meat.
He’s up and away from Fort Bukloh as fast as he can fly,
Till he was aware of his father’s mare in the gut of the Tongue of Jagai,
Till he was aware of his father’s mare with Kamal upon her back,
And when he could spy the white of her eye, he made the pistol crack.
He has fired once, he has fired twice, but the whistling ball went wide.
“Ye shoot like a soldier,” Kamal said.
“Show now if ye can ride!”
It’s up and over the Tongue of Jagai, as blown dust-devils go,
The dun he fled like a stag of ten, but the mare like a barren doe.
The dun he leaned against the bit and slugged his head above,
But the red mare played with the snaffle-bars, as a maiden plays with a glove.
There was rock to the left and rock to the right, and low lean thorn between,
And thrice he heard a breech-bolt snick tho’ never a man was seen.

They have ridden the low moon out of the sky, their hoofs drum up the dawn,
The dun he went like a wounded bull, but the mare like a new-roused fawn.
The dun he fell at a water-course — in a woeful heap fell he,
And Kamal has turned the red mare back, and pulled the rider free.
He has knocked the pistol out of his hand — small room was there to strive,
“’Twas only by favour of mine,” quoth he, “ye rode so long alive:
“There was not a rock for twenty mile, there was not a clump of tree,
“But covered a man of my own men with his rifle cocked on his knee.
“If I had raised my bridle-hand, as I have held it low,
“The little jackals that flee so fast were feasting all in a row.
“If I had bowed my head on my breast, as I have held it high,
“The kite that whistles above us now were gorged till she could not fly.”
Lightly answered the Colonel’s son: “Do good to bird and beast,
“But count who come for the broken meats before thou makest a feast.
“If there should follow a thousand swords to carry my bones away,
“Belike the price of a jackal’s meal were more than a thief could pay.
“They will feed their horse on the standing crop, their men on the garnered grain.
“The thatch of the byres will serve their fires when all the cattle are slain.
“But if thou thinkest the price be fair, — thy brethren wait to sup,
“The hound is kin to the jackal-spawn, — howl, dog, and call them up!
“And if thou thinkest the price be high, in steer and gear and stack,
“Give me my father’s mare again, and I’ll fight my own way back!”

Kamal has gripped him by the hand and set him upon his feet.
“No talk shall be of dogs,” said he, “when wolf and grey wolf meet.
“May I eat dirt if thou hast hurt of me in deed or breath;
“What dam of lances brought thee forth to jest at the dawn with Death?”
Lightly answered the Colonel’s son: “I hold by the blood of my clan:
“Take up the mare for my father’s gift — by God, she has carried a man!”
The red mare ran to the Colonel’s son, and nuzzled against his breast;
“We be two strong men,” said Kamal then, “but she loveth the younger best.
“So she shall go with a lifter’s dower, my turquoise-studded rein,
“My ’broidered saddle and saddle-cloth, and silver stirrups twain.”
The Colonel’s son a pistol drew, and held it muzzle-end,
“Ye have taken the one from a foe,” said he. “Will ye take the mate from a friend?”
“A gift for a gift,” said Kamal straight; “a limb for the risk of a limb.
“Thy father has sent his son to me, I’ll send my son to him!”
With that he whistled his only son, that dropped from a mountain-crest —
He trod the ling like a buck in spring, and he looked like a lance in rest.
“Now here is thy master,” Kamal said, “who leads a troop of the Guides,
#8220;And thou must ride at his left side as shield on shoulder rides.
“Till Death or I cut loose the tie, at camp and board and bed,
“Thy life is his — thy fate it is to guard him with thy head.
“So, thou must eat the White Queen’s meat, and all her foes are thine,
“And thou must harry thy father’s hold for the peace of the Border-line.
“And thou must make a trooper tough and hack thy way to power —
“Belike they will raise thee to Ressaldar when I am hanged in Peshawur!”

They have looked each other between the eyes, and there they found no fault.
They have taken the Oath of the Brother-in-Blood on leavened bread and salt:
They have taken the Oath of the Brother-in-Blood on fire and fresh-cut sod,
On the hilt and the haft of the Khyber knife, and the Wondrous Names of God.

The Colonel’s son he rides the mare and Kamal’s boy the dun,
And two have come back to Fort Bukloh where there went forth but one.
And when they drew to the Quarter-Guard, full twenty swords flew clear —
There was not a man but carried his feud with the blood of the mountaineer.
“Ha’ done! ha’ done!” said the Colonel’s son. “Put up the steel at your sides!
“Last night ye had struck at a Border thief — to-night ’tis a man of the Guides!”

Oh, East is East, and West is West, and never the twain shall meet,
Till Earth and Sky stand presently at God’s great Judgment Seat;
But there is neither East nor West, Border, nor Breed, nor Birth,
When two strong men stand face to face, though they come from the ends of the earth!

maxresdefault