Browsing Tag

Nguyễn Thanh Việt

Literature Thời sự văn học Văn học Mỹ

Về những câu chuyện chiến tranh chân thật

Truyện chiến tranh thì không có truyện nào hay

Nguyễn Thanh Việt

Hồng Anh dịch

(từ Viet Thanh Nguyen, “On True War Stories”, (Re)Collecting the Vietnam War, special issue of Asian American Literary Review 6.2 (Fall 2015): 140-145)

 

Ao ước, Denise Duong

          Chiến tranh là địa ngục. Giống như nhiều người Mỹ và mọi người trên khắp thế giới, tôi thích những câu chuyện chiến tranh xây dựng dựa trên cái có vẻ là một ý tưởng gây xáo động. Tôi có góp phần cá nhân vào những câu chuyện như vậy, khi được sinh ra tại Việt Nam nhưng được nuôi dạy, hay được tạo thành, tại Mỹ. Một cuộc chiến đã mang tôi từ bên đó qua bên này, một trải nghiệm tôi chia sẻ với hàng triệu người bạn Mỹ của mình. Thỉnh thoảng tôi tự hỏi liệu hoàn cảnh của tôi, hay những gì mà ba mẹ tôi phải chịu đựng, có thể gọi là một câu chuyện chiến tranh không, và có thể kể câu chuyện đó như thế nào? Trong  How to Tell a True War Story” [Làm thế nào kể một câu chuyện chiến tranh chân thật] trong The Things They Carried [Những thứ họ mang], Tim O’Brien nói:

Chiến tranh là địa ngục, nhưng như vậy còn chưa là một nửa của sự thật, bởi vì chiến tranh còn là bí ẩn và kinh khiếp và phiêu lưu và can đảm và khám phá và thiêng liêng và xót thương và tuyệt vọng và mong mỏi và tình yêu. Chiến tranh là tục tĩu và chiến tranh là đùa vui. Chiến tranh là rùng rợn; chiến tranh là lao dịch. Chiến tranh khiến bạn là một con người; chiến tranh khiến bạn chết. Các sự thật là trái ngược nhau.

Tôi chỉ trải nghiệm một nửa chiến tranh vốn không có bất kỳ niềm vui nào. Có lẽ đó là lý do những câu chuyện chiến tranh rùng rợn lôi cuốn tôi, là những câu chuyện “gore galore” [đẫm máu], từ dùng của nhà phê bình nghệ thuật Lucy Lippard. Nhưng những chuyện chiến tranh hay như vậy thì lại có lẽ lại không thật sự chân thật.

Một trong những lần đầu tiên tôi bắt gặp một câu chuyện chiến tranh chân thật là khi đọc Close Quarters của Larry Heinemann vào năm mười một, mười hai tuổi. Tôi bị sốc. Gần cuối cuốn tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam này, người lính Mỹ trẻ đưa khẩu súng vào đầu một cô gái điếm Việt Nam tên Claymore Face. Anh ta cho cô một lựa chọn: – hoặc anh ta và bạn bè của anh ta, hoặc tan xác. Cuốn tiểu thuyết không đưa ra lời phán xét nào về vụ cưỡng hiếp ấy, để tôi trơ trọi với cảm giác không thoải mái lẽ ra phải có nếu tác giả bảo hành động đó là sai. Tôi không thể tha thứ cho Heinemann vì đã gây cho tôi nỗi sợ về một cảnh xấu xí như vậy cho đến khi tôi tự viết một cuốn tiểu thuyết vài chục năm sau. Đó là khi tôi nhận ra rằng có một số điều thật đáng kinh tởm mà nhà văn chỉ nên đơn giản là miêu tả chúng như chúng là. Sự xấu xí là, và hẳn là, không thể quên được.

Cũng vậy, sẽ không thành vấn đề nếu Heinemann đặt sự đồng cảm vào Claymore Face, bởi vì câu chuyện thuộc về người lính Mỹ. Tôi lờ mờ nhận ra một số điều sẽ khiến tôi phải mất vài năm để ráp nối với nhau: Thứ nhất: làm người khác trở thành nạn nhân thì tốt hơn chính mình là nạn nhân. Đó là lí do vì sao các câu chuyện chiến tranh Việt Nam của Mỹ, vốn nhấn mạnh vào những điều xấu người Mỹ đã làm, thường biến người Việt Nam trở thành những diễn viên quần chúng. Như bất kì ngôi sao điện ảnh nào cũng sẽ thừa nhận, thà làm một nhân vật phản anh hùng chiếm trung tâm sân khấu còn hơn làm diễn viên quần chúng đức hạnh ở hai bên cánh gà. Đó là lí do vì sao những câu chuyện chiến tranh Việt Nam ảm đạm vẫn là tốt đối với một nước Mỹ mà đôi khi điều khó nhất là phủ nhận hành vi đôi khi kinh tởm của nó. Người Mỹ hoan nghênh những câu chuyện và những người kế tục kiểu như phim Zero Dark Thirty, ngay cả khi nếu chúng miêu tả người Mỹ tra tấn người khác, độc giả của chúng biết rằng tra tấn thì tốt hơn nhiều bị tra tấn. Hay là, như con quỷ Satan của Milton quan sát thấy, thà cai trị nơi Địa ngục còn hơn là phục dịch trên Thiên đàng.

Điều thứ hai tôi rút ra từ Heinemann: cưỡng hiếp thì thật khó để giải thích trong một loại truyện chiến tranh nhất định, loại mà độc giả khen “hay”. Trong một câu chuyện chiến tranh hay, nếu chiến tranh khiến cho bạn trở thành đàn ông, thì việc cưỡng hiếp có khiến cho bạn trở thành phụ nữ? Nếu việc cưỡng hiếp không làm người ta trở thành phụ nữ (như nạn nhân nam giới của cưỡng hiếp), thì Close Quarters cho thấy rằng loại người trở thành đàn ông bằng hành vi cưỡng hiếp không phải là loại người bất kì ai cũng muốn ở gần. Đó là lí do tại sao người Mỹ chào đón người lính của họ về nhà mà không muốn nghĩ quá nhiều về những gì những người lính này đã làm ở đó. Giết người thì không phải là vấn đề. Không ai bận tâm rằng Clint Eastwood, trong phim của mình, tán dương một tay bắn tỉa người Mỹ đã giết một trăm sáu mươi người theo cái cách khá quen thuộc, nhìn khuôn mặt nạn nhân qua tầm ngắm. Nhưng hãm hiếp ư? Quay chỗ khác đi. Đó là phe khác, không phải chúng tôi.

Điều cuối cùng tôi nhận biết được từ Claymore Face là trong cô ấy, có và không có gương mặt của chính tôi. Cô là người Việt Nam và là một người da vàng mũi tẹt. Tôi cũng vậy, trong mắt một vài người Mỹ. Một loạt nhà biên kịch và đạo diễn Hollywood đã giết nhiều người Việt Nam trên màn ảnh cũng nhiều như số người chết trong chiến tranh. Nhưng tôi cũng là một người Mỹ. Những người như tôi, người Việt Nam chạy thoát đến Mỹ sau khi chiến tranh kết thúc, là nhân chứng sống cho sự thành công của một trong những ham muốn vĩ đại nhất của nước Mỹ, là thu phục trái tim và tâm trí của tha nhân. Khả năng ấy của nước Mỹ là thông điệp trung tâm của bộ phim tuyên truyền đặt bối cảnh tại Việt Nam, The Green Berets của John Wayne. Sự ngoan cố trong ham muốn này vô tình thể hiện ở cảnh phim cuối đầy tai tiếng. Wayne, một lính Mỹ, đi về phía hoàng hôn với một đứa trẻ mồ côi người Việt đang nương tựa vào lòng nhân từ phụ tử của anh ta. Mặt trời lặn xuống Biển Nam Trung Hoa, nhưng biển nằm ở phía Đông Việt Nam. Người Mỹ đôi khi không thể nhìn nhận đúng đắn lí do tại sao nhiều người nghĩ rằng Iraq đối xử với những kẻ xâm lược họ như những người đi giải phóng, mặc dù bản thân người Mỹ không bao giờ làm bất cứ điều gì như vậy.

Tôi nghe một kiểu truyện chiến tranh khác khi tôi lớn lên trong những người tị nạn Việt Nam. Đó là câu chuyện về một người đàn ông giữ cửa hàng trong một thị trấn nhỏ ở Việt Nam với một quả lựu đạn. Hay là chuyện về một bà mẹ chạy trốn khỏi thị trấn nhỏ khi cộng sản đến, mang theo những đứa con trai nhưng bỏ lại đằng sau đứa con gái nuôi đang tuổi thiếu niên để trông coi cửa hàng, tin là mình sẽ sớm trở về. Người mẹ và đứa con gái không còn thấy nhau nữa trong hai mươi năm. Hay còn là chuyện về khoảng thời gian mà người mẹ ấy và chồng bà mở một cửa hàng khác ở San Jose, California và bị bắn vào đêm Giáng Sinh trong một vụ cướp có vũ trang? Hay là về chuyện họ đã khóc như thế nào khi nhận được thư báo ba mẹ mình đã qua đời trên quê hương nay đã mất? Hay về chuyện họ làm việc mười hai giờ mỗi ngày trong năm trừ Giáng Sinh, Phục Sinh và Tết ra sao?

Đó là cha mẹ tôi. Câu chuyện của họ là điển hình của người tị nạn, mặc dù khi tôi kể về họ với những người Mỹ khác, một sự im lặng không thoải mái thường xảy ra, vì những điều này không xảy ra với hầu hết người Mỹ. Nhưng không phải những câu chuyện này cũng là chuyện chiến tranh sao? Với nhiều người, và theo định nghĩa của O’Brien, thì không. Không có gì vui trong chuyện mất nhà, mất việc, gia đình, sức khỏe, tinh thần, hay đất nước, một số hoặc tất cả những điều này đã xảy ra đối với nhiều người Việt Nam mà tôi biết. Bạn không được nhận huy chương cho những điều này, ít nhiều cũng là một cuộc diễu hành hay tưởng niệm muộn, và khó lòng được dựng thành phim. Những gì bạn nhận được là những câu chuyện chiến tranh kể về những người lính đã đến đất nước bạn và cứu thoát bạn khỏi chủ nghĩa cộng sản, cũng giống như những câu chuyện chúng ta nhận được về những người lính đã đến Iraq và Afghanistan. Tiểu thuyết của Heinemann là một phần của toàn bộ làn sóng những câu chuyện về chiến tranh Việt Nam lại lần nữa chiến đấu trên trang giấy và màn ảnh. Những câu chuyện này là cách mà hầu hết khán giả toàn cầu biết về cuộc chiến này, cuộc chiến đầu tiên trong lịch sử mà kẻ bại trận đã viết nên lịch sử cho thế giới. Trong khi đó người Việt Nam cũng viết lịch sử, nhưng những câu chuyện của họ ít có cơ hội chống lại cú sốc và nỗi kinh sợ của nền công nghiệp phức hợp quân sự-điện ảnh Hoa Kỳ. Nhưng như tiểu thuyết gia Gina Apostol đã nói về phức cảm này: “Chẳng phải nó cho thấy không chỉ một trật tự kinh tế mà còn là một rối loạn tâm thần đó ư?”.

 

Hành trình đến Xứ Chưa biết, Denise Duong

Rối loạn này phát triển mạnh do sự kích động từ những câu chuyện chiến tranh hay, là những câu chuyện như O’Brien, bỏ qua ít nhất hai điều của cuộc chiến. Thứ nhất: chiến tranh sinh lợi. Ít người kể chuyện muốn bàn về điều này bởi vì chiến tranh giúp người ta thu một số tiền khổng lồ, thực tế ấy làm hỗn loạn hầu hết người Mỹ hoặc không gây xáo động chút nào, do sự rối loạn đã nói ở trên. Thứ hai, chiến tranh là một việc buồn tẻ. Cuốn sách American Sports, 1970: Or How We Spent the War in Vietnam (Thể thao Mỹ, 1970: Hay là cách chúng ta đã trải qua cuộc chiến tại Việt Nam) của nhiếp ảnh gia Tod Papageorge, cho thấy chiến tranh là tầm thường như thế nào đối với nhiều người Mỹ. Các bức ảnh chỉ đơn giản là chụp lại cảnh người Mỹ chơi hay xem các sự kiện thể thao. Duy có bức ảnh cuối chụp Đài tưởng niệm Chiến tranh tại Indianapolis ghi công về cuộc chiến với chú thích trên trang đối diện: “Năm 1970, 4221 lính Mỹ đã bị giết tại Việt Nam”. Ngay cả khi lính Mỹ chết ở nước ngoài, cuộc sống vẫn tiếp diễn tại nhà. Cũng như vậy với cuộc chiến của Mỹ tại Trung Đông, cũng na ná như một sự kiện thể thao với những người Mỹ không trực tiếp tham gia, là nói đa số vậy [which is to say the overwhelming majority]. Ảnh của Papageorge là những câu chuyện chiến tranh chân thật về cuộc sống bên trong cỗ máy chiến tranh của những thường dân, mà hầu hết họ, nếu không nói là tất cả, không chú tâm nhiều đến các cuộc chiến chiến đấu nhân danh họ. Điều đáng lo ngại nhất trong loạt ảnh này là ngụ ý rằng nếu chiến tranh là địa ngục, thì địa ngục trông như thế này đây, người Mỹ dường như đang thưởng thức trò giải trí vô tội.

Trở nên thích ứng với địa ngục là một phần trong sự rối loạn của chúng ta. Nhưng hãy lắng nghe cẩn thận. Bạn không thể nghe thấy tiếng rền ảm đạm của cỗ máy chiến tranh mà chúng ta đang sống trong đó, tiếng ồn trắng[1] của một cơ chế đồ sộ được bôi trơn bởi những điều sáo rỗng, kết hợp với nhau bởi những điều tầm thường và được kích hoạt bởi sự tán thành thụ động sao? Trong “The Brother Who Went to Vietnam” từ cuốn China Men, Maxine Hong Kingston viết:

Bất cứ khi nào chúng ta ăn một thanh kẹo, khi nào chúng ta uống nước ép nho, mua bánh mì (ITT làm ra bánh mì Wonder[2]), bọc thực phẩm bằng nhựa, gọi điện thoại, gửi tiền vào nhà băng, làm sạch lò, rửa bằng xà phòng, bật điện, trữ lạnh thức ăn, nấu nó, sử dụng máy tính, lái xe, đi máy bay, phun thuốc trừ sâu, chúng ta đã hỗ trợ các tập đoàn để chế tạo xe tăng và máy bay ném bom, napalm, chất độc hóa học và bom. Cho chiến dịch ném bom trải thảm.

Từ thảm đến ném bom trải thảm, chiến tranh được dệt thành tấm vải của xã hội, mà không ai là không tìm thấy chiến tranh ngay dưới chân mình, dù ở trong nhà. Đối với nhiều người, đây không phải là câu chuyện chiến tranh hay, mà là một câu chuyện tệ hại họ muốn tránh. Câu chuyện này nói rằng toàn bộ chiến tranh, trong cùng một ý nghĩa, là một cuộc chiến tranh tổng thể. Mở tủ lạnh là có một câu chuyện chiến tranh chân thật. Việc trả thuế của người ta cũng vậy. Đồng phạm [complicity] là câu chuyện chiến tranh chân thật nhất, đó là lí do tại sao một bộ phim đẫm máu như Apocalypse Now chỉ kể một nửa câu chuyện chân thật về chiến tranh. Đó là về trái tim của bóng tối ở nơi đó, trong khu rừng nơi một người da trắng phát hiện ra rằng anh ta cũng là một kẻ man rợ, trái tim đen tối đập trong lồng ngực anh ta. Nhưng nửa kia của câu chuyện chân thật về chiến tranh sẽ cho thấy rằng trái tim đen tối cũng là nơi chúng ta trú ngụ, ở đây, tất cả xung quanh ta. Người Mỹ không muốn đối mặt trực tiếp với điều khủng khiếp bên trong này, đó là lí do tại sao họ thay nó bằng những truyện về xác sống và kẻ giết người hàng loạt và những thứ tương tự. Bạo lực hư cấu và sự kinh dị quái dị thì dễ tiêu hóa hơn là việc hiểu làm thế nào mà mở tủ lạnh hay xem bóng đá lại kết nối ta đến chiến tranh, không li kì chút nào. Câu chuyện chiến tranh chân thật không chỉ cho thấy chiến tranh là địa ngục, một khẳng định không bao giờ ngăn cản chúng ta dấn vào cuộc chiến mà luôn khiến ta chạy đến rạp chiếu phim hay chọn một quyển sách. Câu chuyện chiến tranh chân thật cũng cho thấy chiến tranh là bình thường, đó là lí do tại sao chúng ta luôn đi vào cuộc chiến. Chiến tranh là tẻ ngắt, một câu chuyện tồi mà hầu hết mọi người đều muốn nghe. Chiến tranh liên quan đến tất cả chúng ta, và nó làm ta bối rối hơn bất kì câu chuyện kinh dị nào ở đây hay câu chuyện ác liệt nào ở kia.

Sự thật là câu chuyện về gia đình tị nạn của tôi trở thành bằng chứng sống của Giấc mơ Mỹ cũng là một câu chuyện chiến tranh chân thật, cha mẹ tôi giàu có, anh tôi là bác sĩ ở một ủy ban Nhà Trắng, và tôi là một giáo sư và tiểu thuyết gia. Đối với nhiều người Mỹ, chúng tôi là bằng chứng cho thấy chiến tranh là đáng giá vì nó cho chúng tôi cơ hội trở thành người Mỹ tốt hơn nhiều người Mỹ khác. Nhưng nếu chúng tôi là minh chứng cho câu chuyện nhập cư, thì chúng tôi ở đây vì Hoa Kỳ đã chiến đấu một cuộc chiến giết chết hàng triệu người Việt Nam (không kể đến ba triệu người khác đã chết ở nước láng giềng Lào và Campuchia trong và ngay sau chiến tranh). Người Philippines ở đây vì chiến tranh Hoa Kỳ đã giết chết một triệu người Philippines năm 1898. Người Triều Tiên ở đây vì chiến tranh Triều Tiên đã giết chết ba triệu người. Chúng ta có thể tranh luận về trách nhiệm, nhưng danh sách vẫn tiếp tục, như Junot Díaz cũng hiểu vậy. Trong The Brief Wondrous Life of Oscar Wao, anh kể với chúng ta:

Ngay khi Mỹ đẩy mạnh sự can thiệp vào Việt Nam, LBJ[3] lao vào cuộc xâm lược bất hợp pháp nước Cộng hòa Dominica (28 tháng Tư, 1965) (Santo Domingo[4] là Iraq trước khi Iraq thành Iraq). Đó là một thành công lớn về quân sự đối với Hoa Kỳ, và trong các đơn vị và các nhóm tình báo tham gia vào việc “dân chủ hóa” Santo Domingo, nhiều người đã ngay lập tức được lên tàu chuyển đến Sài Gòn.

Nhiều người Mỹ đã quên hay chưa từng biết câu chuyện chiến tranh thật sự này. Nếu người Mỹ có nghĩ đến sự xuất hiện của người Dominica ở Mỹ, thì có lẽ họ nghĩ đó là một câu chuyện nhập cư.

Nhưng nếu chúng ta hiểu chuyện nhập cư chính là chuyện chiến tranh? Và nếu chúng ta hiểu rằng những câu chuyện chiến tranh còn làm xáo động nhiều hơn ngay cả khi chúng không đề cập về người lính, khi chúng cho thấy chiến tranh bình thường như thế nào, và cách mà chiến tranh chạm đến và biến đổi mọi thứ và mọi người, bao gồm, hầu như tất cả, thường dân? Những chuyện chiến tranh li kì có thể là thật, nhưng chúng chỉ làm cho chiến tranh lôi cuốn hơn, cái gì đó xảy ra ở đâu đó khác, ở đằng kia. Một loại  truyện chiến tranh chân thật khác nhắc nhở ta về điều gì đó khó chịu hơn nhiều: rằng chiến tranh bắt đầu, và kết thúc, ở đây, với sự hỗ trợ của người dân cho cỗ máy chiến tranh, với sự xuất hiện của những người tị nạn sợ hãi, chạy trốn khỏi cuộc chiến mà chúng ta đã xúi giục. Kể loại chuyện này, hay học cách đọc, xem và nghe những chuyện nhàm chán như chuyện chiến tranh, là một cách quan trọng để điều trị rối loạn phức cảm quân sự-công nghiệp của chúng ta, thay vì bị rối trí với ý tưởng rằng chiến tranh là địa ngục, là cái mà loại phức cảm này đã dựa vào để phát triển.

 

[1] Tiếng ồn trắng (white noise) là dạng âm thanh được tạo ra bằng cách kết hợp nhiều loại âm thanh với tần số khác biệt lại với nhau, dùng để che đậy những tiếng ồn không mong muốn. (ND)

[2] ITT là một tổ hợp công ty khổng lồ của Hoa Kỳ, thành lập năm 1920, sản xuất nhiều thứ, trong đó có bánh mỳ. ITT từng làm ăn với chế độ Hitler, thậm chí có cổ phần trong các công ty sản xuất máy bay, radar của Đức Quốc xã. ITT còn dính líu vào các vụ đảo chính năm 1964, lật đổ Tổng thống Brasil João Goulart, năm 1973 lật đổ tổng thống Chile Salvador Allende. (ND)

[3] Viết tắt của Lyndon Baines Johnson, Tổng thống Hoa Kỳ từ năm 1963 đến năm 1969. (ND)

[4] Thủ đô của Cộng hòa Dominica. (ND)

 

Thời sự văn học

Nguyễn Thanh Việt: Ca tụng sự nghi ngờ và vô ích

Nguyễn Thanh Việt, The L os Angeles Times, 14/4/2017

Hồng Anh dịch

 

(Ảnh Patrick T. Fallon / Dành cho The LA Times)

 

Gần 20 năm trước, tôi đến Los Angeles vào tháng Sáu. Tôi nhận bằng tiến sĩ ở đại học California-Berkeley vào tháng Năm và đã tròn 26 tuổi vào tháng Hai. Mùa hè năm đó, tôi tìm thấy một căn hộ nhỏ ở Silver Lake và bắt đầu chuẩn bị sự nghiệp mới là giáo sư tại Đại học Nam California (USC). Tôi nhìn lại chính mình bằng sự sửng sốt và cảm thông vì có nhiều điều tôi đã không biết khi 26 tuổi. Sự ngây thơ đã bảo vệ tôi khi tôi ngồi viết nơi bàn bếp nhỏ và trong mùa hè nóng nực, ngột ngạt đầu tiên ở Los Angeles đó, một tập truyện ngắn đã khởi sự. Nếu tôi biết phải mất đến 17 năm để hoàn thành nó, ba năm nữa để xuất bản, thì có lẽ tôi đã không bao giờ bắt đầu.

Nhưng đôi khi, không phải luôn luôn như vậy mà chỉ đôi khi thôi, sự bất khả tri cũng có ích như tri thức. Bất khả tri là có ích khi chúng ta nhận thức được nó. Trong trường hợp của tôi, khi miêu tả một cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chẳng hạn, tôi biết là tôi không biết điều gì, và tôi biết là tôi muốn biết điều đó, nhưng tôi không biết làm sao để biết. Tôi biết rằng tôi muốn viết tác phẩm hư cấu, và tôi biết rằng tôi muốn đem lại sự sáng tạo uyên bác, nhưng tôi không biết làm thế nào thực hiện cả hai. Tôi cũng biết rằng các trường đại học không tán thưởng sự bất khả tri, hay thú nhận mình thiếu hiểu biết, vì vậy tôi giữ lại điều không biết đó cho mình và vờ rằng tôi biết tôi đang làm gì.

Nhờ thành công của cuốn tiểu thuyết mà sáu năm sau, tôi được bổ nhiệm chức danh giáo sư đại học vĩnh viễn (tenure). Để nhận chức danh này, tôi đã làm những gì tôi biết phải làm thế nào. Tôi trở thành một chuyên gia học thuật và viết một quyển sách học thuật, là điều mà tôi được thuê để làm với tư cách là học giả. Trong sự ngây thơ của mình, tôi đã tự nhủ rằng một khi tôi đã viết cuốn sách đó và đạt được quyền tự do học thuật [*], tôi sẽ viết truyện. Sẽ chỉ mất vài năm để kết thúc tập truyện ngắn này, và rồi nó sẽ được bán và xuất bản và thắng giải và tôi sẽ nổi tiếng. Tôi mơ hồ biết rằng, chứ không thật sự hiểu, tôi cần viết bao nhiêu, cần bao nhiêu để tôi trở nên chuyên nghiệp, bao nhiêu cho nỗi đau buồn của chính tôi nhưng sau hết, cho tôi trở thành một nhà văn và một học giả tốt hơn.

Trong chín năm tiếp theo, tôi nhận thức được nỗi buồn đau khi viết tập truyện ngắn đáng tội đó. Tôi không biết mình đang làm gì và trong khi đối mặt với màn hình máy tính và bức tường trắng đang dần nhợt màu, tôi cũng không biết rằng mình đang trở thành một nhà văn. Trở thành nhà văn khi gặt hái được kĩ thuật viết là một phần của vấn đề, phần quan trọng là tinh thần và thói quen tư duy. Đó là khi ta sẵn sàng ngồi trên ghế trong hàng ngàn tiếng đồng hồ, chỉ nhận được sự công nhận một cách thưa thớt và yếu ớt, chịu đựng nỗi đau của nghiệp viết bằng niềm tin rằng bằng cách nào đó, mặc cho sự bất khả tri của tôi, một điều biến đổi nào đó đang diễn ra.

Đó là một đức tin, và đức tin sẽ không là đức tin nếu nó không khó khăn, nếu nó không phải là một bài kiểm tra, nếu nó không phải là một hành động bất khả tri có chủ ý, tin vào điều gì đó không thể tiên đoán và cũng không thể chứng minh bằng bất kì chỉ số khoa học nào.

Đồng thời, tôi đã kiểm nghiệm bản thân mình với tư cách một học giả. Tôi bắt đầu viết một quyển sách học thuật khác. Quá trình viết sách chạy song song với công việc sáng tác của tôi, và nếu biết rằng cuốn sách học thuật về ký ức chiến tranh Việt Nam này mất đến 14 năm để xuất bản, thì có lẽ tôi đã chọn một chủ đề khác. Một nguyên nhân khiến nó kéo dài như vậy là vì những khảo sát về văn học, phim ảnh, bảo tàng, đài tưởng niệm, chính trị, triết học và lịch sử. Nhưng thử thách nhiều hơn dành cho tôi là tôi muốn cuốn sách trở thành một tác phẩm phê bình mang tính sáng tạo, cũng như tôi muốn tiểu thuyết của tôi trở thành một tác phẩm sáng tạo có tính phê bình vậy. Nhưng tôi không biết làm điều đó như thế nào, và không ai chỉ bảo tôi, và phải giữ kỉ luật khi ngồi vào ghế vô số giờ trên 20 năm trước khi tôi chạm được vào cả tính phê bình và tính sáng tạo.

Chuyện tôi kể đây là về sự bất khả tri và sự ngây thơ của tôi, về cuộc đấu tranh và nghi ngờ của tôi, vì hầu hết độc giả chỉ nhận biết sản phẩm cuối cùng sau nỗ lực của nhà văn hay học giả. Sản phẩm cuối đó, quyển sách, xuất hiện tràn đầy niềm tin và tri thức. Niềm tin và tri thức, và các “thước đo” định giá, thước đo tiến bộ vốn thấm nhuần trong cuộc sống của chúng ta trong nhà trường, công ty, tổ chức quan liêu, đã che mờ đi những con đường huyền nhiệm, trực giác và chậm rãi – đôi khi rất chậm – mà nghệ thuật và sự uyên bác thường đưa đến. Vào lúc mà yêu cầu về năng suất và tiêu chuẩn đánh giá đầu ra gia tăng ở trường đại học – thực ra là, ở mọi nơi – điều quan trọng là phải thừa nhận vấn đề trọng yếu trong công việc của chúng ta là gì, có thể không phải là số lượng hay tốc độ, dù lĩnh vực của chúng ta là gì đi nữa.

Trong trường hợp của tôi, ai đó nhìn vào tôi và thấy rằng tôi đã xuất bản ba quyển sách trong ba năm qua và nghĩ tôi là nhà văn viết nhiều và viết nhanh, mà không nhận ra rằng tôi đã mất 20 năm để suy nghĩ chậm – rất chậm – và lao động gian khổ để tạo ra những quyển sách này. Điều giá trị mà thế giới nghệ thuật và nhân văn của tôi tạo ra là không gian cho loại tư duy chậm này. Và bằng cách đó, tôi muốn nói rằng chúng ta đánh giá các ngành nghệ thuật và nhân văn không đơn giản vì những khả thể vật chất và phần thưởng chúng mang lại, như giải Pulitzer. Thay vào đó, ta nên đánh giá nghệ thuật và nhân văn vì đặc quyền mang tính huyền ảo và trực giác của chúng để tạo nên những khoảnh khắc mặc khải và khả năng đổi mới.

Tôi nghĩ về tiểu thuyết gia Haruki Murakami, khi ông so sánh việc viết tiểu thuyết với chuyện đào một cái lỗ xuyên qua tầng đá sâu để chạm đến nguồn nước. Để tiếp cận sự huyền bí và trực giác, đòi hỏi làm việc nặng nhọc và đó là một canh bạc, vì không có gì đảm bảo rằng ta sẽ tìm thấy nguồn nước. Chúng ta cần các trường đại học và chính phủ đầu tư vào các ngành nghệ thuật và nhân văn để ta có thể dạy sinh viên về tầm quan trọng của tính huyền bí và trực giác, và cần liều lĩnh, đánh bạc với niềm tin và giá trị của con người. Và chúng ta cần các trường đại học và chính phủ bảo vệ và nuôi dưỡng nhà nghệ sĩ và học giả – ngay cả khi tác phẩm của họ mất nhiều thập niên để tạo tác, ngay cả khi người nghệ sĩ và học giả bị che phủ trong sự vô danh trong quá trình lao động, ngay cả khi canh bạc không phải lúc nào cũng được trả hết.

Tất nhiên, tiểu thuyết Cảm tình viên (The Sympathizer) của tôi không chìm vào bóng tối lúc này nhờ giải thưởng Pulitzer. Nhưng tiểu thuyết cũng có thể đã không được đón nhận, cũng có thể đã bị rơi vào lãng quên khi nó thiếu một giải thưởng, ngay cả khi nó không có gì khác biệt với lúc nhận được giải thưởng. Số phận may mắn của cuốn tiểu thuyết chỉ thay đổi cách mà người ta nhìn về nó, chứ không phải chính bản thân nó. Tôi suy nghĩ về những cuốn tiểu thuyết khác có khả năng thắng giải, và tất cả cuốn tiểu thuyết đã không thắng giải trong những năm trước đã có thể hoặc lẽ ra nên đạt giải. Một số tác phẩm không được công nhận, sẽ đạt được vinh quang trong lịch sử văn học, như thời gian sẽ chứng minh. Vấn đề là, giải thường này và toàn bộ các giải thưởng khác, vốn tượng trưng cho khẩu vị của chúng ta, xét đoán của chúng ta, hư danh và định kiến của chúng ta, đều là tạm thời. Những gì ta không nhận biết trong hiện tại có thể đạt giá trị ở tương lai.

Hiểu biết về sự bất khả tri này đưa đến sự khiêm tốn, và cũng để nhận thức rằng, những gì dường như vô ích, vì không được trao thưởng và ghi nhận, có thể một ngày nào đó mang lại lợi ích lớn lao. Dù những công trình có vẻ vô ích bị xét đoán nhiều trong các ngành khoa học tự nhiên, gánh nặng về tính vô ích giảm đáng kể trong các ngành nghệ thuật và nhân văn, trong một thế giới ngày càng coi trọng tính hữu ích. Khi tôi học chuyên ngành kép về tiếng Anh và dân tộc học ở đại học 27 năm trước, tôi đã liều lĩnh nghiên cứu những điều mà nhiều người nghĩ là vô ích. Có lẽ chính cha mẹ tôi, những người chủ cửa hàng tị nạn sang đây chưa từng học đại học và làm việc 12 đến 14 tiếng gần như mỗi ngày trong năm, đã nghĩ rằng nghiên cứu của tôi là vô dụng. Nhưng họ đã đè nén mọi nghi ngờ và hỗ trợ những nghiên cứu có thể là vô dụng của tôi, bằng lòng tín nhiệm. Họ bất khả tri cũng như tôi bất khả tri về tương lai của mình, nhưng họ có niềm tin vào tôi.

Đây là điều mà tôi nghĩ rằng rất nhiều người trong chúng ta làm việc trong ngành nghệ thuật và nhân văn hi vọng nhận được từ trường đại học của chúng ta, chính phủ của chúng ta, từ những sinh viên đôi khi hoài nghi và cha mẹ của họ: kiên nhẫn và tin tưởng vào chúng ta khi chúng ta kiểm nghiệm những giới hạn của sự bất khả tri trong ta, khi ta theo đuổi những gì có thể rất vô ích, khi ta đi tìm điều bí ẩn và trực giác vốn tồn tại trong tất cả chúng ta.

Nguyễn Thanh Việt là một trong những nhà phê bình tự do của The Times. Ba tác phẩm ông đã xuất bản trong ba năm qua là tập truyện ngắn “The Refugees” (2017), tác phẩm lịch sử văn hóa “Nothing Ever Dies: Vietnam and the Memory of War” (2016) và tiểu thuyết “The Sympathizer” (2015), thắng giải Pulitzer.


[*] Quy chế tenure cho phép giáo sư đại học có quyền tự do học thuật, tức được quyền theo đuổi, nghiên cứu, phát biểu… những vấn đề mình yêu thích mà không bị bất cứ sự ràng buộc nào, bất chấp ý tưởng đề tài đó có trái với quan điểm của lãnh đạo nhà trường, chính phủ và xã hội hay không (chú thích của người dịch).

Nguồn: http://vanviet.info/gap-go-va-tro-chuyen/ca-tung-su-nghi-ngo-v-v-ch/