Browsing Tag

ngôn ngữ học

Tôn giáo học

Vấn đề từ ngữ : MẶC KHẢI hay MẠC KHẢI ?

 

Nt. Ma-ri A-mê-li Nguyễn thị Sang, CND, ngày 14 tháng 9 năm 2011

  1. Đặt vấn đề

Từ nhiều năm qua, người công giáo Việt Nam thắc mắc : phải dùngmạckhảihay làmặckhải, vì các sách đạo của chúng ta dùng các từ này chưa nhất quán. Nhiều sách dùngmạckhải, trong khi những sách khác lại dùngmặckhải. Phải chăng phần lớn các sách dùngmạckhảiđã chịu ít nhiều ảnh hưởng của nhà Kinh Thánh, Cha Nguyễn Thế Thuấn (x. bản dịch “Kinh Thánh” của Cha) ?

Tuy tương đối mới, nhưng từmạckhảiđã có thời gian đủ dài để trở thành quen thuộc, nhất là trong nhiều năm, bản dịch của Cha là bản dịch duy nhất được phổ biến khá rộng rãi trong nước. Nhưng cũng nên đặt tiếp câu hỏi : tính quen thuộc này là kết quả của một thói quen (được nghe dùng thường xuyên hơn), hay của một sự chọn lựa có tính khoa học ?

Trước khi có ý kiến, xin đưa ra những tư liệu khả dĩ soi sáng vấn đề, nhất là giúp cho thấy từ trước đến nay, người trong nước đã dùng từ như thế nào. Chúng tôi sẽ dựa vào các từ điển hiện có thể tham khảo tại TP Hồ Chí Minh (có ghi hai mục từ đang bàn tới), tuy có lẽ không đầy đủ nhưng cũng xét được là những chứng cứ đáng tin cậy, trải qua lịch sử văn học trong nhiều thập niên.

  1. Thống kê tư liệu

B.1. Các từ được ghi trong các từ điển

mặc khải (tôn) Từ điển Việt Nam Ban tu thư Khai Trí.

1971

mặc khải Việt Nam tân từ điển Thanh Nghị. 1967
mạc chiếu = mặc chiếu

= illuminer, révéler

mặc thị = révéler

Từ điển Việt-Pháp Génibrel. 1898
mặc chiếu

mặc khải       = révéler

mặc thị

Dictionnaire annamite-

chinois-francais

Hue. 1937
mặc chiếu

mặc khải       = révéler

mặc thị

Dictionnaire vietnamien-

chinois-francais

Gouin. 1957
khải thị

mặc thị

révéler           = (Relig.)

thần khải

thiên khải

Từ điển Pháp-Việt Đào Duy Anh. 1957
thần khải

khải thị         =  (Relig.) révéler

thiên khải

Từ điển Pháp-Việt Viện ngôn ngữ học.

2000

thiên khải

révéler          =  (Relig.)

mặckhải

Pháp-Việt tân từ điển Thanh Nghị.

1961 và 1967

khải thị       =  révéler

mặc thị lục  =  sách Khải

huyền

Sách Kinh Thánh

/ thần học

bằng tiếng

Trung Hoa

Kết luận : không có sách nào dùng mạc khải, chỉ có Génibrel cho mạc chiếu, nhưng là ở mục từ “mạc = mặc”, tức là mặc đọc trại ra.

B.2. Nghĩa chữ

  • khải  啓  : vén, mở (vd. khải báo, khải trí, khải huyền)
  • thị  : cho thấy (vd. chỉ thị, thị oai),

khác với  視  : thấy (vd. cận thị, khinh thị)

  • mặc默  : ngầm, lặng lẽ, âm thầm, không nói ra (vd. mặc niệm, mặc nhiên). Chỉ có Đức-Trụ cho mặc thị với nghĩa là “cách tự nhiên, không cần hình thức, không bày tỏ ra”. Có thể “thị” đây là thấy, xem như … dù không nói ra.
  • mặckhải  默 啓  :

a/ trong Thanh Nghị (Việt Nam tân từ điển), với ghi chú ‘tôn’ và

b/ trong Ban tu thư Khai Trí (Từ điển Việt Nam) : sự gợi cho biết một cách thầm kín và không thể lấy lý trí để giảng giải được.

Theo nghĩa đã được hai từ điển trên nêu ra, nên tham khảo thêm :

c/ trong cuốn “Dictionnaire Petit Robert” :

*  révéler  : 1. faire savoir. V.dévoiler, manifester, etc…2. Faire connaître, par une voie surnaturelle (ce qui était ignoré des hommes et inconnaissable par la raison);

d/ và trong từ điển Trung Hoa :

  • khải thị  啓示 : cho biết chỉ thị, để đưa đến hiểu biết.
  1. Góp ý

Thói quen ứng dụng một từ ngữ đã được một bậc thầy chế ra là một hiện tượng phổ biến. Nhưng, theo như Génibrel đã ghi,mạc chiếu= mặc chiếu, tức là có những trường hợpmặcđược đọc trại ra thànhmạc. Chuyện đọc trại một số chữ không có gì là mới lạ ở một vài địa phương hay một vài môi trường. Do đó cũng có thể giả thiết rằng Cha Thuấn không phải đã chế ramạc khải, mà chỉ dùng cách nói của địa phương nơi Cha ở, hoặc cách nói của người cùng môi trường với Cha thôi.

Tuy nhiên, dù có theo giả thuyết này, chúng ta còn có thể nghĩ vấn đề nằm ở một tầm sâu hơn : để dùng dạngmạcthay vìmặc, một tác giả có thể có hai thái độ :

1/ đơn sơ dùng chữ thông dụng tại địa phương, tức là đọc trại chữmặcramạc;

2/ dùng âmmạccủa địa phương, với một chủ ý nhất định.

Vậy chúng ta có thể đặt câu hỏi : Cha Thuấn đã “đơn sơ” hay có chủ ý ?

Hãy giả thiết là Cha có chủ ý, vì nếu chỉ là việc “đọc trại” thì khi in thành sách, chỉ cần chỉnh lại thôi ; trường hợp có chủ ý mới cần xét đến vấn đề ngôn ngữ. Vậy giả thiết là Cha đã chọn dùngmạc, cố tình gán cho nó một nghĩa mới là “màn”, để sát với chữ La-tinhrevelarethuộc gốc chữvelumcó nghĩa là “màn”. Do đó,mạcở đây rất sáng giá về mặt nghĩa chữ, và thoạt tiên, từmạckhảinày rất là hấp dẫn, vì nó hàm ý cái “màn”, cho phép hiểumạc khảicó nghĩa là “vén màn”.

Nhưng lại có vấn đề về mặt khác.

Trước hết, xét theo ngữ pháp. Trong tiếng quốc ngữ, nghĩa này không đặt vấn đề, vì chữmạc- dạng đọc trại của chữmặc-và chữmạccó nghĩa là màn cũng đều viết như nhau và đọc như nhau. Nhưng viết theo Hoa ngữ thì có hai chữ khác nhau:

chữmạcdạng đọc trại củamặcviết là 

trong khi chữmạccó nghĩa là “màn” thì viết 

Vậy theo Hán Việt,mạc幕  vớimặc

là hai chữ có hai nghĩa hoàn toàn không ăn nhằm gì với nhau, không thể gán ghép bên này với bên nọ được.

Đàng khác, theo cấu trúc Hoa ngữ, Hán Việt, ghép từmạckhảitheo chủ ý của Cha Thuấn thật ra không chỉnh. Chúng ta vẫn nóikhaimạc(mở màn) vàbế mạc(đóng, hạ màn), tức là dùng công thứcđộng từ + danh từ bổ túc (=khai / bế+mạc). Vậy tại sao ở đây lại dùng công thứcdanh từ bổ túc + động từ? Nóimạckhảilà đảo ngược hẳn thứ tự bình thường các từ ngữ. Hoá ra như thể thay vì nóikhai mạc,bế mạc, nay nóimạckhai,mạcbế cũng được hay sao ?

Vả lại, bản thân Cha Thuấn cũng không dịch từ Hy-lạpapocalypsismột cách nhất quán :

  • tựa sách “Apocalypsis” thì Cha dịch là “Sách Khải huyền”,
  • liền sau đó, từ mở đầu cuốn sách, cũng là từ Hy-lạp đó, thì Cha lại dịch ra “Mạc khải” (Kh 1,1).

Thêm một bước nữa : từ La-tinhrevelatiodịch từ Hy-lạpapokalypsis, nghĩa làaction de découvrir… và nhấn mạnh ýđể lộ rahơn là nhấn mạnh các từ bổ túc. Tự điển Bailly còn cho thêm phần chú :fig., particul. révélation divine, có thể hiểu là nhấn mạnh khía cạnh siêu phàm hơn là cái màn vật chất. Như vậy chúng ta gặp lại định nghĩa của Thanh Nghị, Ban tu thư KT, và nghĩa 2 của Petit Robert, như nói trên (x. B.2).

Gần đây hơn, trong hai số bán nguyệt san “Kiến thức ngày nay”, tác giả An Chi đã trả lời bạn đọc về vấn đề này, và kết luận rằngmặc khảilà từ thích đáng (x. số 141 và 154, năm 1994).

Từ những lý lẽ trên, chúng ta có thể đề nghị rút ra những điểm sau đây :

  • muốn nhấn mạnh nghĩamàncủa từ La-tinhrevelare, revelatio, thì có thể giữmạc, nhưng nên dùng cho đúng cấu trúc từ, nghĩa là dùngkhải mạcthay chomạc khải,
  • muốn nhấn mạnh khía cạnh siêu nhiên trong tôn giáo (transcendance) mà Ban tu thư Khai Trí, Thanh Nghị và Petit Robert đã nêu, thì giữmặc khải.

Tuy nhiên, nhìn chung lại, từmặc khải đã có từ lâu trong văn chương tôn giáo nước nhà. Ngoài ra, nó còn có giá trị từ nguyên, nói lên ý nghĩa linh hứng và nội tâm (Giê-rê-mi-a 31,33-34 ; Giô-en 3,1-2 ; thông điệp “Divino afflante Spiritu”, EB 551, 553, 556, 567) và ý nghĩa siêu phàm nữa, hợp với quan niệm đặc thù của Ki-tô giáo là một đạo không do lý trí người phàm suy ra, mà được thông ban từ trời (Gio-an 1,18 ; hiến chế “Dei Verbum”, ch. 1 và 2, đặc biệt số 6). Vì thếmặc khảicó phần trội hơn tất cả những từ đã được các từ điển nêu ra.

 

Nt. Ma-ri A-mê-li Nguyễn thị Sang, CND

Nguồn: https://ktcgkpv.org/articles/get-article?id=57