History of Eastern Thought

FILM STUDY

WORKSHOP

Do Thái giáo

Bí quyết thành công của người Do Thái: ‘Tôi đâu còn lựa chọn nào khác’

Nhìn lại lịch sử, những quốc gia với xuất phát điểm thấp nhưng biết cách “lựa chọn” thái độ trước thời cuộc đều đã thành công.

Nội dung nổi bật:

– Nghèo khổ, lang bạt, bị đối xử khinh thường, cuộc sống đầy rẫy bất ổn… nhưng cũng nhờ đó, người Do Thái học được bài học về sự sáng tạo, về lòng quả cảm, trí tưởng tượng phong phú và nỗ lực khẳng định vị thế dân tộc mình. Cho tới nay, khi những cống hiến của người Do Thái dần được công nhận, người ta mới nhìn họ với một con mắt khác. 

– Ví dụ cửa hiệu cầm đồ và cho vay lãi là sáng tạo độc đáo của người Do Thái cổ về sau gọi là hệ thống ngân hàng. Lịch sử cũng một lần nữa chứng minh tài năng của người Do Thái trong kinh doanh, với những cái tên như vua dầu mỏ John Rockefeller, trùm tài chính George Soros, huyền thoại thời trangRalph Lauren…

– Nhìn lại lịch sử, những quốc gia với xuất phát điểm thấp nhưng biết cách “lựa chọn” thái độ trước thời cuộc đều đã thành công.

Tôi cứ nghĩ mãi về điều gì khơi nguồn cho sự tỏa sáng của người Do Thái trong hầu hết khía cạnh cuộc sống, cho tới khi đọc lại Eran Katz:“Có lần, tôi gặp một người mù. Ông ấy có một trí nhớ phi thường. Ông ấy thuộc lòng số điện thoại, những cuộc hẹn của mình từ hàng tháng trước hoặc sẽ có trong hàng tháng sau đó, mà không hề cần sổ ghi chép hay sắp xếp các cuộc hẹn. Khi tôi hỏi ông ấy làm thế nào mà nhớ được, ông ấy có vẻ hơi ngạc nhiên và câu trả lời của ông ấy đến giờ vẫn văng vẳng trong tâm trí tôi: ‘Tôi đâu còn lựa chọn nào khác chứ?’ ”.

Và tôi tự hỏi, liệu có phải lý do của người Do Thái cũng bắt nguồn từ việc họ từng là một dân tộc “đâu còn sự lựa chọn nào khác”?

Từ 2000 năm lưu vong

Điều 1 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 tại Pháp ghi: “Mọi người đều được sinh ra tự do và bình đẳng”. Thế nhưng đó là câu chuyện của 1948.

2000 năm trước, có một dân tộc mà nhiều người từ khi sinh ra đã là một đứa trẻ mất nước, đi tới đâu cũng bị xua đuổi, tàn sát, người dân bị cấm sở hữu bất cứ tài sản nào… Họ chính là dân tộc Do Thái. Ngay từ những giai đoạn đầu tiên, người Do Thái đã phải sống lưu vong, bị cướp bóc tài sản do những quan niệm trái ngược về tôn giáo. Vào thời đại di chuyển khá hạn chế, người Do Thái trở thành những người tị nạn đầu tiên. Ngày xưa cũng như bây giờ, dân di cư luôn bị đối xử với sự nghi ngờ.

Tới Thế chiến II, khi Adolf Hitler với thuyết “người Đức là một dân tộc thượng đẳng”, vì sợ sự vượt trội của người Do Thái đã bắt họ phải sống trong các trại tập trung với ý đồ để họ chết dần chết mòn. Kết quả, không dưới sáu triệu người bao gồm cả phụ nữ, trẻ em đã bị sát hại dã man.

Nghèo khổ, lang bạt, bị đối xử khinh thường, cuộc sống đầy rẫy bất ổn… nhưng cũng nhờ đó, người Do Thái học được bài học về sự sáng tạo, về lòng quả cảm, trí tưởng tượng phong phú và nỗ lực khẳng định vị thế dân tộc mình. Cho tới nay, khi những cống hiến của người Do Thái dần được công nhận, người ta mới nhìn họ với một con mắt khác.

[Một giả thuyết thú vị], phải chăng quá trình chọn lọc tự nhiên quá dài và khắc nghiệt đã khiến chỉ những cá nhân xuất sắc nhất mới có thể tồn tại để tạo nên một dân tộc tinh hoa như vậy?

Kinh Talmud, tri thức và tiền

Đã có không ít nghiên cứu về công thức thành công của người Do Thái: Từ việc mang thai của người mẹ, việc đào tạo thanh niên trong quân đội, việc chính phủ cởi mở trước ý tưởng sáng tạo cho tới truyền thống của một dân tộc thông thái… Nhưng khởi điểm căn bản, không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của Kinh Talmud. Kinh Talmud là một văn bản trung tâm của giáo sĩ Do Thái giáo gồm 63 bài luận với độ dài hơn 6.200 trang thể hiện những ý kiến của hàng ngàn giáo sĩ Do Thái trong nhiều chủ đề như pháp luật, đạo đức, triết học, phong tục, lịch sử, thần học, truyền thuyết và nhiều chủ đề khác.

Kinh Talmud

Kinh Talmud viết: “Tài sản có thể bị mất, chỉ có tri thức và trí tuệ thì mãi mãi không mất đi đâu được”. Với phương châm đó, người Do Thái đặc biệt coi trọng giáo dục, dù khó khăn đến đâu cũng tìm cách cho con học hành. Nhìn toàn cục, đạo Do Thái coi trọng học vấn và phân tích. Họ không chấp nhận những giá trị bề ngoài, mà luôn đi sâu tìm hiểu “tại sao”, “như thế nào”. Với lịch sử, bộ óc thế kỷ Albert Einstein, nhà tâm lý học Sigmund Freud, cha đẻ Chủ nghĩa Cộng sản Karl Marx…hay thậm chí chúaJesus, tất cả đã chứng minh đóng góp tri thức vĩ đại của người Do Thái với nhân loại.

Chẳng con dê nào không có râu, chẳng người Do Thái nào không có tiền để dành”.

Ngạn ngữ Đức

Một điểm đặc biệt của Kinh Tadmud, khác với những tôn giáo khác như Phật giáo, Thiên chúa giáo là ở chỗ coi trọng giá trị của tiền bạc. Với người Do Thái: “Vàng ở xứ này rất quý”. Rõ ràng, không có tiền thì làm sao có thể tồn tại ở những quốc gia nơi người Do Thái sống nhờ ở đợ, chịu mọi chèn ép, khó khăn? Cũng chính trong hoàn cảnh đó, họ đã sáng tạo ra nhiều ý tưởng kinh doanh rất khôn ngoan.

Ví dụ cửa hiệu cầm đồ và cho vay lãi là sáng tạo độc đáo của người Do Thái cổ về sau gọi là hệ thống ngân hàng. Lịch sử cũng một lần nữa chứng minh tài năng của người Do Thái trong kinh doanh, với những cái tên như vua dầu mỏ John Rockefeller, trùm tài chính George Soros, huyền thoại thời trang Ralph Lauren

Tới hồi kết nở hoa

Nhìn lại lịch sử, những quốc gia với xuất phát điểm thấp nhưng biết cách “lựa chọn” thái độ trước thời cuộc đều đã thành công. Hoa Kỳ, sau cuộc nội chiến vươn lên trở thành một cường quốc quyền lực. Nhật Bản, dù hứng chịu không ít bom nguyên tử, động đất, sóng thần vẫn là nơi mặt trời luôn mọc. Singapore, từ một mảnh đất bé xíu thuộc về Malaysia, ô nhiễm, pha tạp, trở thành một đất nước xanh và năng động bậc nhất không chỉ tại châu Á.

Và tất nhiên, không thể không nhắc tới Israel, quê hương của những người con Do Thái, nơi đã viết nên câu chuyện rằng bất kể quá khứ của một dân tộc ra sao, với sự sáng tạo, cầu tiến của mình, họ đều có thể viết nên tương lai mới.

Hoa đã nở trên những cao nguyên cằn khô tại “quốc gia khởi nghiệp”, nơi mà toàn bộ diện tích bao phủ bởi sỏi đá, chỉ gần 1% là nước. Israel- quốc gia nhỏ bé chỉ gồm hơn 7 triệu dân, mỗi ngày trôi qua là một ngày đối diện với hàng trăm thế lực thù địch xung quanh, vẫn vươn mình phát triển trên hầu hết các lĩnh vực, nông nghiệp, kinh tế, khoa học… Như một tất yếu, người dân Israel rất giàu, GDP đầu người năm 2013 vào khoảng 34.900 USD(*)- xếp thứ 40 thế giới.

Hitler (nếu còn sống) hẳn sẽ buồn vì sức sống của người Do Thái sau chừng ấy thử thách, quả không thể nào dập tắt!

(*) Theo The World Factbook

 

Đàm Linh

Theo Trí Thức Trẻ

 

Do Thái giáo

Vì sao người Do Thái thông minh nhất thế giới?

Từ ngàn xưa, người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được.

Vì sao người Do Thái thông minh nhất thế giới?

Trong lịch sử, người Do Thái được biết đến là một sắc tộc tôn giáo có nguồn gốc từ Israel. Dù hiện nay người Do Thái sống rải rác tại nhiều quốc gia khác nhau, nhưng chỉ có Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái.

Dân số người gốc Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng gần 13,8 triệu người (khoảng hơn 0,19% dân số thế giới – số liệu năm 2013), tức là cứ khoảng 517 người thì có 1 người Do Thái. Thế nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy, có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài người chỉ do 0,19% dân số đảm nhiệm. Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, Otto Frisch… đều là người Do Thái.

Vậy tại sao các thế hệ người Do Thái lại có được trí tuệ như vậy (chỉ số IQ trung bình của người Do Thái là 110 so với chỉ số trung bình 100 của thế giới)? Trong cuốn “Bí mật người Do Thái dạy con làm giàu” có đưa ra lời giải thích cụ thể cho vấn đề này.

Vai trò của bà mẹ Do Thái

Bà mẹ Do Thái dạy con từ khi mang thai. Các bà mẹ thường nghe nhạc, chơi đàn, hát và… làm toán cho đến khi sinh con ra. Các thai phụ làm vậy vì tin rằng cách đó sẽ làm đứa bé sau này trở nên thông minh. Người mẹ chọn ăn hạnh nhân, chà là, uống dầu cá và ăn cá nhưng tránh ăn đầu cá vì tin rằng tất cả điều đó sẽ giúp cho con trở nên thông thái.

Từ lúc còn ẵm ngửa đứa bé, bà mẹ đã tạo cho con thói quen thích sách bằng cách dùng mẹo nhỏ vài giọt mật lên cuốn sách và cho bé liếm. Khi đó, trong nhận thức non nớt của đứa trẻ, sách là cái gì đó rất ngọt ngào, hấp dẫn.

Ủy ban công nghiệp thành phố New York (Mỹ) có cuộc điều tra nguồn nhân lực vào năm 1950 và nhận thấy có sự khác biệt lớn về việc đi làm công nhân giữa phụ nữ Ý với phụ nữ Do Thái. Phụ nữ Ý thường phải đi làm và còn bắt con nghỉ học để đi làm phụ cha mẹ, các bà mẹ Do Thái thì ngược lại. Dù kinh tế khó khăn, họ vẫn ở nhà để nuôi dạy con, dồn hết trách nhiệm kiếm sống cho chồng – người ban ngày đi làm nhưng tối về có nghĩa vụ học và dạy cho con học.

Nhờ sự chăm sóc, động viên của cha mẹ mà học sinh Do Thái nổi tiếng trong trường về thành tích học tập và tính chuyên cần, khác hẳn với học sinh nhiều dân tộc khác. Vào năm 1954, hệ thống trường công của thành phố New York thống kê được 28 học sinh có chỉ số IQ cực cao lên tới 170 điểm, thì trong đó 24 là học sinh Do Thái. Ngoài ra, những người này còn quan niệm điểm không quan trọng bằng cách học, mà đã học thì phải hỏi. Chính vì vậy, học sinh Do Thái được khuyến khích đặt thật nhiều câu hỏi cho giáo viên.

Cũng theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích bộ não và đó là lý do vì sao có rất nhiều thiên tài người Do Thái…

Hệ thống giáo dục phổ thông

Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em gồm kinh doanh, toán học, khoa học. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn súng, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác.

Ở trường trung học, học sinh sẽ giảm dần việc học khoa học mà sẽ học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào những kiểu bài tập thực tế như vậy. Dù một số dự án/bài tập có vẻ nực cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc đặc biệt nếu đó là những môn thuộc về vũ khí, y học, kỹ sư, ý tưởng sẽ được giới thiệu lên các viện khoa học hoặc trường đại học.

Khoa kinh doanh cũng được chú trọng ưu tiên. Trong năm cuối ở trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ hoàn thành nếu nhóm của họ (khoảng 10 người/nhóm) có thể tạo ra lợi nhuận 1 triệu USD. Đừng ngạc nhiên, đây là thực tế và đó là lý do vì sao một nửa hoạt động kinh doanh trên thế giới là của người Do Thái.

Xã hội Do Thái từ rất sớm đã coi trọng việc xóa mù chữ, sách và người có học thức

Dân tộc Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới – từ năm 64 đầu Công nguyên – mà nhà thờ quy định tất cả nam giới phải biết đọc viết và tính toán; sang thế kỷ thứ 2 thì bắt buộc mọi đàn ông phải có nghĩa vụ dạy con trai mình đọc, viết, tính toán. Như vậy họ đã thực hiện phổ cập giáo dục cho nam giới trước các dân tộc khác mười mấy thế kỷ.

Israel cũng là nước đứng đầu thế giới về dân số từ 14 tuổi đọc sách, đứng đầu về số đầu sách xuất bản theo đầu dân. Không một người Do Thái thành đạt nào lại không tranh thủ thời gian để đọc, để học, để làm giàu hiểu biết.

Như vậy, từ ngàn xưa người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được. Và đây nhân tố quan trọng giúp người Do Thái đạt được trí thông minh vượt bậc so với phần còn lại của thế giới.

Phương Linh (Tổng hợp)

Theo Trí Thức Trẻ

Ấn Độ giáo

Achuta không được là người

Mang thân phận ô uế ngay từ khi mới ra đời, 1/6 dân số Ấn Độ đang phải sống cuộc sống xa lạ với đồng loại. Tại Ấn Độ, những người dưới đáy xã hội vẫn bị tẩy chay, bị sỉ nhục, bị cấm đi vào đền thờ và nhà của những người tầng lớp cao. Họ bị hiếp, bị đốt, thậm chí bị bắn chết vì những lý do không chấp nhận được.

Girdharrilal Maurya đang phất lên nhờ nghề thuộc da thì gặp họa, cái họa do chính tổ tiên anh gây ra. Tất cả chỉ vì anh sinh ra là một người Achuta, một thứ cặn bã dưới con mắt của đạo Hindu. Cái tội của Maurya là đã không cam chịu phận đã định như ông cha mình, dám dùng chung giếng làng – xưa nay vốn chỉ dành cho những người đẳng cấp trên.

Một đêm, trong khi Maurya đi vắng, nhà anh bị tấn công. Một nhóm người đã phá hàng rào, lấy đi máy kéo, đánh đập vợ và con gái anh rồi đốt rụi căn nhà. Thông điệp của họ rất rõ ràng: Hãy trở lại nơi thuộc về mày.

Những vết sẹo do bị tạt acid trên mặt Ramprasad và trên người Ramlakhan ở làng Uttar Pradesh là cái giá họ phải trả vì đã dám câu cá ở cái ao không phải dành cho những người Achuta.

Ở Ấn Độ, sinh ra là một tín đồ của đạo Hindu thì buộc phải tuân thủ những quy định ngặt nghèo về đẳng cấp xã hội của đạo này. Đạo Hindu chia xã hội thành những đẳng cấp khác nhau theo quan điểm đã tồn tại hơn 1.500 năm qua: mọi người sinh ra không phải ai cũng có quyền bình đẳng. Theo đó, như một cơ thể người, ở đẳng cấp cao nhất (từ miệng trở lên) là các Brahman: những thày tu và giáo sĩ; từ miệng xuống tay là Kshatrya: những người lãnh đạo và binh lính; từ tay xuống đùi là Vaisya: tầng lớp buôn bán; từ đùi đến chân là Sudra: người lao động. Những người như Maurya thì không được tính đến. Họ bị xếp vào dạng Achuta, nghĩa là những người dưới đáy xã hội. Họ bị khinh rẻ, ruồng bỏ và là một khái niệm đồng nghĩa với sự ô uế, không đáng được gọi là người.

“Luật Manu của đạo Hindu quy định rất rõ ràng, tầng lớp nào thì được ăn gì, vệ sinh ra sao, khi nào thì chiến đấu và kẻ nào thì phải tránh”, Umashaka Tripathy, một thày tu thuộc tầng lớp Brahman (Bà la môn), cho biết. Tổ tiên của Tripathy chính là những người đã lập ra luật Manu và bây giờ, đến lượt anh duy trì nó. Ngồi bắt chéo chân trong một ngôi đền ở Varanasi bên bờ sông Hằng, Tripathy vừa khua đôi bàn tay trắng mềm vừa nói về việc anh phải giữ thể xác và linh hồn mình trong sạch, không một tỳ vết như chiếc áo thụng dhoti truyền thống mà anh khoác trên người.

“Tôi kiêng thịt, rượu, không ăn gừng hay hành vì chúng trồng trên đất”. Câu chuyện của Tripathy chứa đầy sự tự kiêu của một người thuộc đẳng cấp cao nhất trong xã hội. Một người Brahman như Tripathy không được chạm vào chân của Gandhi, vì dù được tôn sùng như một vị thánh ở Ấn Độ, Gandhi vẫn thuộc về Vaisya – đẳng cấp thấp hơn anh những hai bậc. Và đương nhiên, Tripathy chẳng bao giờ bận tâm đến số phận của những người Maurya. Những câu chuyện về người Achuta bị tạt acid, hoặc vợ anh ta bị hiếp trước mặt chồng, vẫn xảy ra hằng ngày ở đâu đó trên đất Ấn Độ, không lấy nổi của Tripathy một cái nhíu mày.

Trong ký ức sống của ngày trước, người Achuta sẽ bị đánh nếu trót để bóng mình phủ lên một người ở đẳng cấp cao hơn vô tình đi qua đường. Họ phải mang chuông để người khác biết mà tránh. Họ phải mang ống nhổ theo mình để không được khạc nhổ làm ô uế mặt đất. Và đương nhiên là họ không bao giờ được phép ngồi gần ai ngoài những người cùng đẳng cấp với mình. Ngày nay, tuy những luật lệ này đã phần nào được nới lỏng, nhưng tình thân ngược đãi của nó với tầng lớp Achuta vẫn không khác trước là bao. Hiện có khoảng 160 triệu người Achuta ở Ấn Độ. Những người dưới đáy xã hội này vẫn bị tẩy chay, bị sỉ nhục, bị cấm đi vào đền thờ và nhà của những người ở tầng lớp cao hơn. Họ bị buộc phải ăn uống trong những cốc, bát riêng ở nơi công cộng. Họ bị hiếp, bị đốt, bị đánh thậm chí bị bắn chết vì những lý do phân biệt đẳng cấp không thể chấp nhận được.

Mặc dù luật pháp Ấn Độ nghiêm cấm những hành vi phân biệt đẳng cấp, nhưng ở một đất nước mà 80% dân số theo đạo Hindu thì thường là lệ (của chính giáo) vẫn lớn hơn luật (của quốc gia). Thế nên tất cả những nỗ lực của chính quyền để đổi đời cho người Achuta vẫn chỉ nằm chủ yếu trên giấy tờ. Không có cách nào để họ hòa nhập vào xã hội. Rào cản lớn nhất chính là nghề nghiệp của họ, những nghề luôn bị định kiến của đạo Hindu quay lưng.

Tôn giáo này quy định những công việc bẩn thỉu, phải tiếp xúc với rác, máu hay các chất thải của cơ thể, là để dành riêng cho người Achuta. Nghĩa là dù thông minh, tài giỏi tới đâu thì nghề của họ vẫn không nằm ngoài những việc như mai táng người chết, dọn nhà xí, cắt rốn trẻ con, thu lượm xác xúc vật trên phố, thuộc da, thông cống… may lắm mới được làm thuê việc đồng áng cho các địa chủ. Những công việc này thuộc dạng cha truyền con nối qua hàng bao thế hệ người Achuta.

Sinh thời, Mahatma Gandhi đã dũng cảm đối đầu với những điều luật mấy nghìn năm của đạo Hindu để lấy lại công bằng cho người Achuta. Ông nhận con gái của một gia đình Achuta làm con nuôi, khẩn cầu Ấn Độ thôi khinh mạt những người con cùng màu da, cùng sinh ra và lớn lên bên sông Hằng. Thậm chí ông còn đổi tên Achuta thành Harijan (Những đứa con của thượng đế). Ông cũng mở toang tất cả các cánh cửa đền cho họ vào hương khói và đi khắp Ấn Độ để nói về một xã hội mới không còn cái nhìn khinh rẻ đối với họ.

Tuy nhiên, Gandhi chỉ kêu gọi xóa bỏ Achuta mà không dám đánh đổ chế độ phân định đẳng cấp xã hội – đặc sản đáng buồn của Ấn Độ. Kết quả, cái ông mơ ước và cái ông nhìn thấy còn quá xa nhau. Người Achuta vẫn không được tôn trọng hơn. Tuy đã bớt bị khinh rẻ nhưng họ phải mang thêm những cái nhìn thương hại. Dù sao những gì Gandhi làm cũng mở đường cho Bhimrao Ramji Ambedkar lập ra đảng chính trị đầu tiên của người Achuta, thậm chí chiếm được ghế cho họ trong bộ máy lập pháp. Ambedkar mạnh tay hơn Gandhi và đáng tiếc là chính điều này đã đẩy họ sang hai chiến tuyến. Gandhi sợ rằng những gì Ambedkar làm sẽ phá tan đạo Hindu và ông đã đẩy người hùng đích thực của dân Achuta vào phía cuối của một con đường hầm không có ánh sáng. Thất bại, chán nản, Ambedkar cuối cùng đã cải giáo sang đạo Phật.

Gần 50 năm trôi qua kể từ khi Ambedkar trút hơi thở cuối cùng. Cũng từ đó, không còn lương tâm nào dằn vặt vì thân phận của người Achuta nữa. Và những người sống dưới đáy xã hội lại phải tiếp tục vác gánh nặng nghiệp chướng của quá khứ vào tương lai – tương lai không dành cho họ. Trong những năm gần đây, số vụ hành hung, ngược đãi người Achuta đã tăng lên tới 30% tại các bang họ tập trung như Bihar, Tamil Nadu. Xã hội làm ngơ và cảnh sát hãn hữu lắm mới tiến hành điều tra tội phạm. Trong kho tư liệu của phóng viên ảnh Krishnar Kishan ở thành phố Patna, thủ phủ Birha, tràn ngập hình xác người Achuta. “Mỗi tuần lại có vài người thiệt mạng. Nhưng chừng đó là quá ít để có thể đưa tin. Tòa soạn chỉ cử tôi đi chụp khi có những cuộc thảm sát Achuta lớn”.

Ở Ấn Độ, quốc gia luôn tự coi mình là điển hình cho một hình mẫu phát triển, nền dân chủ đông dân nhất thế giới, quyền lực mới trong công nghiệp phần mềm, một kẻ thách thức trong lĩnh vực liên lạc vệ tinh, một cường quốc tiềm năng với những nhà máy sản xuất năng lượng hạt nhân và bom nguyên tử – vẫn còn nguyên câu hỏi: Tại sao những người Achuta phải chết?

(Theo Sành Điệu)

Ấn Độ giáo

Why Julia Roberts Became a Hindu

 - Getty Images
Julia Roberts in India.

Academy Award winning Hollywood actor Julia Roberts, who recently converted to Hinduism, reconfirmed her faith in Hinduism while commenting that her “opting for Hinduism is not a religious gimmick”.

In an interview to The Hindu, “India’s National Newspaper” dated November 13, 2010, Roberts said: “It is similar to Patsy of Razor’s Edge by Somerset Maugham. We share a common aspect of finding peace and tranquility of mind in Hinduism, one of the oldest and respected religions of civilization”.

Clarifying that actual spiritual satisfaction was the real reason behind her converting to Hinduism, Julia Roberts said: “I have no intention of demeaning any other religion simply because of my fondness for Hinduism. I don’t believe in comparing religions or human beings. A comparison is a very mean thing to do. I have received real spiritual satisfaction through Hinduism.”

Roberts, who grew up with a Catholic mother and Baptist father, reportedly became interested in Hinduism after seeing a picture of the deity Hanuman and the Hindu guru Neem Karoli Baba, who died in 1973 and whom she never met.

She revealed in the past that the entire Roberts-Moder family went to temple together to “chant and pray and celebrate.” She then announced, “I’m definitely a practicing Hindu.”

According to reports, Roberts has been interested in yoga for quite some time. She was in the northern Indian state of Haryana (India) in September 2009 to shoot Eat, Pray, Love in an ‘ashram’ or hermitage. In January 2009, she was seen sporting a ‘bindi’ on her forehead during her trip to India.

Her film production company is called ‘Red Om Films,’ named after the Hindu symbol ‘Om’ which is considered the mystical syllable containing the universe. There were reports that she was trying to adopt a child from India and her kids shaved their heads during her last visit to India.

Hindu statesman Rajan Zed, who is President of Universal Society of Hinduism, interpreting wisdom of ancient Hindu scriptures, suggested Roberts to realize the Self or pure consciousness through meditation. Hindus believe that real happiness comes from within, and God can be found within one’s heart through meditation.

Quoting Shvetashvatara Upanishad, Zed pointed out to Roberts to be always aware that “worldly life is the river of God, flowing from him and flowing back to him.” Stressing the importance of meditation, he quoted Brihadaranyaka Upanishad, and pointed out that if one meditates upon the Self, and realizes it, they can come to understand the meaning of life.

Rajan Zed further said that seeing Roberts’ devotion, he would pray to lead her to the ‘eternal joy.’ If she needed any assistance in deeper Hinduism exploration, he or other Hindu scholars would be glad to help, Zed added.

This Diwali, Julia Roberts was in the news for her comment that ‘Diwali should be celebrated unanimously throughout the world as a gesture of goodwill’. Roberts equated Christmas with Diwali and said that both “are festivals of lights, good spirits and death of evil”. She further pointed out that Diwali “not only belongs to Hinduism but is universal in nature and in its essence too. Diwali ignites the values of self confidence, love for humanity, peace, prosperity and above all eternity which goes beyond all mortal factors… When I think of Diwali, I can never imagine a world broken into fragments by narrow feelings of communalism and religion which does not care for human benevolence.”Julia Roberts said: “Ever since I developed my liking and fondness for Hinduism, I have been attracted and deeply fascinated by many facets of the multi-dimensional Hinduism… spirituality in it transcends many barriers of mere religion”. Talking of India, she promised “to return to this sacred land again and again for the best of creativity.”

http://hinduism.about.com/od/artculture/a/Why-Julia-Roberts-Became-A-Hindu.htm

Do Thái giáo

Vì sao người Do Thái giỏi làm kinh tế?

 

Print Friendly

wedding_hats_2139761b

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Giỏi thực hành và giỏi cả lý thuyết kinh tế

Ai cũng biết người Do Thái từ xưa đến nay đều rất giỏi làm kinh tế. Nếu không thì họ không thể nào tồn tại nổi trong suốt 2.000 năm bị trục xuất ra khỏi tổ quốc mình, phải sống lưu vong khắp thế giới, phần lớn đi tới đâu cũng bị hắt hủi, xua đuổi thậm chí hãm hại, tàn sát, bị cấm sở hữu bất cứ tài sản cố định nào như nhà đất, tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, nguyên vật liệu …). Cho tới năm 1948 dân tộc lưu vong này mới được Liên Hợp Quốc chỉ định cho một “mảnh đất cắm dùi” rộng 20.770 km2 – tức nước Israel hiện nay, nơi tập trung khoảng 43% trong tổng số 13,9 triệu người Do Thái trên toàn thế giới.

Israel nghèo tài nguyên, thiếu cả nước ngọt, lại luôn luôn sống trong tình trạng bất ổn do bị các nước A Rập xung quanh đe dọa chiến tranh, nhưng người dân nước này đã vượt qua mọi khó khăn xây dựng được một nền kinh tế phát triển. GDP bình quân đầu người năm 2014 đạt 32.700 USD, cao thứ 50 trên thế giới, là nước có mức sống cao ở vùng Trung Đông và châu Á.[1] 

Cộng đồng Do Thái ở Mỹ có 5,7 triệu người, chiếm 40% tổng số người Do Thái trên toàn thế giới, là quần thể dân tộc thiểu số thành công nhất, có mức sống bình quân cao hơn mức trung bình của dân Mỹ. Dù chỉ chiếm khoảng 1,7~2,6% số dân nước Mỹ (số liệu 2012; tùy định nghĩa thế nào là người Do Thái) nhưng người Do Thái chiếm khoảng một nửa số doanh nhân giàu nhất Mỹ. Họ nắm giữ phần lớn nền kinh tế tài chính nước này, tới mức người Mỹ có câu nói “Tiền nước Mỹ nằm trong túi người Do Thái”. Nhờ thế trên vấn đề Trung Đông chính phủ Mỹ xưa nay luôn bênh vực và viện trợ Israel những khoản tiền khổng lồ.[2]

Trong 50 người giàu nhất thế giới hiện nay do tạp chí Forbes đưa ra (3/2015) có tới 10 người Do Thái.[3] Đó là :

  • Larry Ellison, tài sản 54,2 tỷ USD, nhà sáng lập và CEO Oracle Corp., giàu thứ 3 nước Mỹ
  • Michael Bloomberg, 35,5 tỷ USD
  • Mark Zuckerberg, 33,4 tỷ USD, tỷ phú trẻ nhất thế giới (sinh 1984)
  • Sheldon Adelson, 32,4 tỷ USD, vua casino
  • Sergey Brin và Larry Page (29,2 và 29,7 tỷ USD), đồng sáng lập Google
  • George Soros, 24,2 tỷ USD, nhà đầu tư và từ thiện
  • Carl Icahn, 23,5 tỷ USD, nhà đầu tư và từ thiện
  • Len Blavatnik, 20,2 tỷ USD, người giàu nhất nước Anh (sinh tại Liên Xô cũ),
  • Michael Dell, nhà sáng lập Dell Computer Founder.

Rất nhiều nhà lý thuyết kinh tế hàng đầu thế giới là người Do Thái, các lý thuyết họ xây dựng nên đã ảnh hưởng to lớn nếu không nói là quyết định tới tiến trình tiến hóa của nhân loại:

  • Karl Marx[4] người xây dựng học thuyết kinh tế chủ nghĩa cộng sản sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản, được gọi là một trong hai người Do Thái làm đảo lộn cả thế giới (người kia là Jesus Christ);
  • Trong tổng số 74 chủ nhân giải Nobel kinh tế thời gian 1969-2014, có 22 là người Do Thái, chiếm tỷ lệ gần 30%, dù người Do Thái chỉ chiếm 0,19 % số dân toàn cầu. Chẳng hạn Paul Samuelson (1970), Milton Friedman (1976) và Paul Krugman (2008)… là những tên tuổi quen thuộc trong giới kinh tế thế giới hiện nay, các lý thuyết của họ được cả thế giới thừa nhận và học tập, áp dụng…
  • Từ năm 1987 tới nay có ba người Do Thái kế tiếp nhau làm Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed, tức Ngân hàng Trung ương Mỹ), cơ quan nắm quyền sinh sát trong giới tài chính Mỹ và thống trị lĩnh vực tài chính tiền tệ toàn cầu. Đó là ông Alan Greenspan 19 năm liền (2/1987-2/2006) được 4 đời Tổng thống Mỹ tín nhiệm cử vào chức vụ này. Tiếp sau là ông Ben Bernanke (nhiệm kỳ 2/2006-2/2014) và bà Janet Yellen (từ 2/2014 tới nay).
  • Paul Wolfowitz cùng người tiền nhiệm James D. Wolfensohn, hai cựu chủ tịch Ngân hàng Thế giới, tổ chức tài chính có tác dụng rất lớn đối với các nước đang phát triển, đều là người Do Thái.

Nhiều nhà giàu nổi tiếng thế giới từng tác động không nhỏ tới chính trị, kinh tế nước Mỹ và thế giới là người Do Thái. Đơn cử vài người:

  • Jacob Schiff (1847-1920), chủ nhà băng ở Đức, sau sang Mỹ định cư; năm 1904 do căm ghét chính quyền Sa Hoàng giết hại hàng trăm nghìn dân Do Thái ở Nga, ông đã cho chính phủ Nhật vay 200 triệu USD (một số tiền cực kỳ lớn hồi ấy) để xây dựng hải quân, nhờ đó Nhật thắng Nga trong trận hải chiến Nhật-Nga năm 1905. Nhớ ơn này, trong Thế chiến II phát xít Nhật đã không giết hại người Do Thái sống ở Trung Quốc, tuy đồng minh số một của Nhật là phát xít Đức có nhờ Nhật “làm hộ” chuyện ấy. Schiff là người nước ngoài đầu tiên được Nhật Hoàng Minh Trị tiếp kiến tại Hoàng cung Nhật.
  • George Soros, nổi tiếng về ý tưởng đầu tư và làm từ thiện quy mô lớn, từng làm chao đảo thị trường tài chính toàn cầu.
  • Michael Blooomberg, sáng lập và sở hữu 88% Bloomberg L.P., một công ty truyền thông về tin tức tài chính và dịch vụ thông tin. Blooomberg từng trúng cử liền 3 khóa thị trưởng thành phố New York (2002-2013) với mức lương tượng trưng mỗi năm 1 USD và là chủ kênh truyền hình Bloomberg nổi tiếng trong giới kinh tế thế giới.

Nguyên nhân sâu xa

Vì sao người Do Thái lại giỏi làm kinh tế, tài chính trên cả hai mặt lý thuyết và thực hành như vậy?

Lịch sử cho thấy yếu tố quyết định thành công của một dân tộc bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của họ.

Để tìm hiểu truyền thống văn hóa của dân tộc này có lẽ ta cần tìm hiểu các nguyên tắc chính của đạo Do Thái (Judaism), tôn giáo lâu đời nhất thế giới còn tồn tại tới ngày nay và là chất keo bền chắc gắn bó cộng đồng, khiến dân tộc này giữ gìn được nguyên vẹn nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa mặc dù phải sống phân tán, lưu vong và bị kỳ thị, xua đuổi, hãm hại, tàn sát dã man trong suốt 2.000 năm qua. Có thể nói, nếu không có chất keo ấy thì từ lâu dân tộc Do Thái đã bị tiêu diệt hoặc đồng hóa và biến mất khỏi lịch sử. Đạo Do Thái là tôn giáo duy nhất thành công trên cả hai mặt: giữ được sự tồn tại của dân tộc và hơn nữa đưa họ vươn lên hàng đầu thế giới trên hầu hết các lĩnh vực trí tuệ.

Muốn vậy, ta thử điểm qua vài nét về Kinh thánh của người Do Thái (Hebrew Bible) – hơn 10 thế kỷ sau kinh điển này được đạo Ki-tô lấy nguyên văn làm phần đầu Kinh Thánh của họ và gọi là Cựu Ước, nhằm phân biệt với Tân Ước do các nhà sáng lập Ki-tô giáo viết. Cũng cần xem xét một kinh điển nữa của đạo Do Thái là Kinh Talmud, quan trọng hơn cả Cựu Ước, có đưa ra nhiều nguyên tắc cụ thể cho tới nay vẫn còn giá trị về kinh doanh, buôn bán.

Trước hết người Do Thái có truyền thống coi kiến thức trí tuệ là thứ quý nhất của con người. Kinh Talmud viết: Tài sản có thể bị mất, chỉ có tri thức và trí tuệ thì mãi mãi không mất đi đâu được. Các ông bố bà mẹ Do Thái dạy con: Của cải, tiền bạc của chúng ta đều có thể bị kẻ khác tước đoạt nhưng kiến thức, trí tuệ trong đầu óc ta thì không ai có thể cướp nổi. Với phương châm đó, họ đặc biệt coi trọng việc giáo dục, dù khó khăn đến đâu cũng tìm cách cho con học hành. Ngoài ra họ chú trọng truyền cho nhau các kinh nghiệm làm ăn, không bao giờ giấu nghề. Người Do Thái có trình độ giáo dục tốt nhất trong các cộng đồng thiểu số ở Mỹ.

Thứ hai, đạo Do Thái đặc biệt coi trọng tài sản và tiền bạc. Đây là một điểm độc đáo khác hẳn quan điểm của đạo Ki-tô, đạo Phật, đạo Khổng, ta cần phân tích thêm.

Có lẽ sở hữu tài sản là một trong các vấn đề quan trọng nhất của đời sống loài người, là nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa con người với nhau và chiến tranh giữa các quốc gia. Hegel, đại diện nổi tiếng nhất của triết học cổ điển Đức từng nói: “Nhân quyền nói cho tới cùng là quyền về tài sản.” Rõ ràng, chỉ khi nào mọi người đều có tài sản, đều giàu có thì khi ấy mới có sự bình đẳng đích thực, toàn dân mới có nhân quyền. Một xã hội có phân hóa giàu nghèo thì chưa thể có bình đẳng thực sự. Đạo Do Thái rất chú trọng nguyên tắc làm cho mọi người cùng có tài sản, tiền bạc, cùng giàu có, tức cùng có nhân quyền và thực sự bình đẳng với nhau.

Triết gia Max Weber viết: “Đạo Ki-tô không làm tốt bằng đạo Do Thái, vì họ kết tội sự giàu có.” Quả vậy, Chúa Jesus từng nói: “Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Chúa” (Tân Ước, Mathew 19:24), ý nói ai giàu thì khó lên thiên đường, ai nghèo thì dễ lên thiên đường hơn – qua đó có thể suy ra đạo Ki-tô thân cận với người nghèo khổ, là tôn giáo của người nghèo. Khổng giáo và đạo Phật lại càng khinh thường tài sản, tiền bạc, coi nghèo là trong sạch, giàu là bẩn thỉu.

Ngược lại Cựu Ước ngay từ đầu đã viết: “Vàng ở xứ này rất quý” (Genesis 2:12). Ý tưởng quý vàng bạc, coi trọng tài sản vật chất đã ảnh hưởng lớn tới người Do Thái, họ đều muốn giàu có.

Khái niệm tài sản xuất hiện ngay từ cách đây hơn 3.000 năm khi vua Ai Cập bồi thường cho Abraham vị tổ phụ của bộ lạc Do Thái, khiến ông này “có rất nhiều súc vật, vàng bạc” (Genesis 13:2). Thượng Đế yêu cầu Abraham phải giàu để có cái mà thờ cúng Ngài.

Thượng Đế Jehovah cho rằng sự giàu có sẽ giúp chấm dứt nạn chém giết nhau. Khi Moses dẫn dân Do Thái đi khỏi Ai Cập cũng mang theo rất nhiều súc vật. Những người xuất thân gia đình giàu có hồi ấy như Jacob, Saul, David … đều được Cựu Ước ca ngợi là có nhiều phẩm chất tốt, lắm tài năng, lập được công trạng lớn cho cộng đồng dân tộc và đều trở thành lãnh đạo, vua chúa.

Ngược lại, văn hóa phương Đông thường ca ngợi phẩm chất của những người nghèo.

Trọng tiền bạc là đặc điểm nổi bật ở người Do Thái. Họ coi đó là phương tiện tốt nhất để bảo vệ mình và bảo vệ dân tộc họ. Quả vậy, không có tiền thì họ làm sao tồn tại nổi ở những quốc gia và địa phương họ sống nhờ ở đợ, nơi chính quyền và dân bản địa luôn chèn ép, gây khó khăn. Hoàn cảnh ấy khiến họ sáng tạo ra nhiều biện pháp làm giàu rất khôn ngoan. Thí dụ cửa hiệu cầm đồ và cho vay lãi là sáng tạo độc đáo của người Do Thái cổ đại – về sau gọi là hệ thống ngân hàng. Buôn bán cũng là một biện pháp tồn tại khi trong tay không có tài sản cố định nào.

Người ta nói dân Do Thái có hai bản năng: thứ nhất là bản năng kiếm tiền; thứ hai là bản năng làm cho tiền đẻ ra tiền – họ là cha đẻ của thuyết lưu thông tiền tệ ngày nay mà chúng ta đều áp dụng với quy mô lớn.

Tuy vậy, sự quá gắn bó với tiền bạc là một lý do khiến người Do Thái bị chê bai. Ai từng đọc tiểu thuyết Ai-van-hô (Ivanhoe) của Walter Scott chắc còn nhớ mãi hình ảnh ông lão Do Thái Isaac (I-sắc) đáng thương, bố của nàng Rebecca xinh đẹp và thánh thiện, lúc nào cũng khư khư giữ túi tiền và bị hiệp sĩ Đầu Bò nhạo báng khinh bỉ thậm tệ. Các vở kịch của Shakespear đưa ra nhiều hình ảnh khiến người ta có cảm giác người Do Thái bần tiện, ích kỷ, xảo trá. Tập quán cho vay lãi của người Do Thái bị nhiều nơi lên án. Hệ thống cửa hiệu của người Do Thái ở Đức là đối tượng bị bọn Quốc Xã Hitler đập phá đầu tiên hồi thập niên 1930. Người Đức có câu ngạn ngữ “Chẳng con dê nào không có râu, chẳng người Do Thái nào không có tiền để dành.”

Karl Marx xuất thân gia đình khá giả, vợ ông cũng là con nhà quý tộc, nhưng ông không coi trọng đồng tiền. Marx từng nói: Đồng tiền là con đĩ của loài người.[5] Trong bài viết “Về vấn đề Do Thái” công bố năm 1843, ông mạnh mẽ công kích dân tộc Do Thái: “Sự sùng bái cá nhân của người Do Thái là gì? Lừa đảo. Đức Chúa Trời của họ là gì? Tiền!”.[6] Ông cho rằng tiền bạc là vị thần gắn bó với người Do Thái; xóa bỏ chủ nghĩa tư bản sẽ kéo theo sự xóa bỏ chủ nghĩa Do Thái. Như vậy nghĩa là Marx đã thừa nhận người Do Thái tham dự sáng lập ra chủ nghĩa tư bản, một chế độ xã hội mới thay thế chế độ phong kiến và làm nên phần chủ yếu trong cộng đồng quốc tế hiện nay. Quả thật, người Do Thái có đóng góp rất lớn về lý thuyết và thực hành trong việc xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Kinh Talmud viết: Mọi người phải yêu Thượng Đế với toàn bộ trái tim, cuộc đời và của cải của mình; mỗi người đều phải quan tâm tới tài sản; không ai được phép dùng tài sản của mình để làm hại kẻ khác và không ai được trộm cắp tài sản người khác; tài sản của một người nhưng không phải chỉ là của người đó mà phải dùng nó để giúp kẻ khác … Có thể hiểu “Yêu Thượng Đế với toàn bộ tài sản của mình” nghĩa là phải sử dụng tài sản riêng của mình theo lệnh Thượng Đế, nghĩa là phải chia bớt cho người nghèo. Quy ước này đã đặt nền móng cho tư tưởng nhân ái, bình đẳng của văn minh phương Tây. Từ đó ta dễ hiểu vì sao cộng đồng Do Thái ở đâu cũng giúp đỡ nhau để tất cả cùng giàu lên, không có ai nghèo khổ.

Đạo Do Thái coi làm giàu là bổn phận nặng nề của con người; nói “nặng nề” vì người giàu có trách nhiệm to lớn đối với xã hội: họ không được bóc lột người nghèo mà phải chia một phần tài sản của mình để làm từ thiện. Những người Do Thái giàu có luôn sống rất giản dị, tiết kiệm và năng làm từ thiện. Soros từng góp 4 tỷ USD (trong tổng tài sản 7 tỷ khi ấy) cho công tác từ thiện. Không một nhà giàu Do Thái nào không có quỹ từ thiện của mình. Từ đây có thể hiểu được tại sao cộng đồng Do Thái lại cùng giàu có như thế.

Người Do Thái luôn nghĩ rằng Thượng Đế giao cho họ nghĩa vụ và quyền làm giàu. Đây là động lực chủ yếu khiến họ ở đâu cũng lo làm giàu, không bao giờ chịu nghèo khổ. Hai nghìn năm qua, dù sống lưu vong ăn nhờ ở đợ các quốc gia khác và ở đâu cũng bị cấm sở hữu mọi tài sản cố định nhưng dân tộc này vẫn nghĩ ra nhiều cách kinh doanh hữu hiệu bằng các dịch vụ như buôn bán, dành dụm tiền để cho vay lãi …

Muốn làm giàu, điều cơ bản là xã hội phải thừa nhận quyền tư hữu tài sản.

Kinh Talmud viết: Ai nói “Của tôi là của tôi, của anh là của anh” (mine is mine and yours is yours) thì là người bình thường (average); nói “Của tôi là của anh, của anh là của tôi” thì là kẻ ngu ngốc; nói “Của tôi là của anh và của anh là của anh” thì là ngoan đạo (godly); ai nói “Của anh là của tôi và của tôi là của tôi” là kẻ xấu (evil). Nghĩa là họ thừa nhận quyền tư hữu tài sản là chính đáng, không ai được xâm phạm tài sản của người khác.

Tuy thừa nhận quyền sở hữu tài sản và luật pháp bảo vệ quyền đó, nhưng đạo Do Thái không thừa nhận quyền sở hữu tài sản tuyệt đối và vô hạn, cho rằng tất cả của cải đều không thuộc về cá nhân mà thuộc về Thượng Đế, mọi người đều chỉ là kẻ quản lý hoặc kẻ được ủy thác của cải đó. Tài nguyên thiên nhiên do Thượng Đế tạo ra là để ban cho tất cả mọi người, không ai có quyền coi là của riêng mình. Đây là một quan niệm cực kỳ tiến bộ và có giá trị hiện thực cho tới ngày nay: tài nguyên thiên nhiên, sự giàu có của đất nước là tài sản của toàn dân, tuyệt đối không được coi là của một số nhóm lợi ích hoặc cá nhân.

Kinh Talmud viết nhiều quy tắc hữu dụng về kinh doanh. Chẳng hạn: – Vay một quả trứng, biến thành một trại ấp gà;  – Mất tiền chỉ là mất nửa đời người, mất lòng tin (tín dụng) là mất tất cả;  – Nghèo thì đáng sợ hơn 50 loại tai nạn;  – Giúp người thì sẽ làm tăng tài sản; ki bo chỉ làm nghèo đi;  – Chỉ lấy đi thứ gì đã trả đủ tiền cho người ta;  – Biết kiếm tiền thì phải biết tiêu tiền;  v.v…

So sánh Cựu Ước và Talmud với Tân Ước, có thể thấy đạo Do Thái là tôn giáo của người muốn làm giàu, còn đạo Ki-tô là tôn giáo của người nghèo. Khác biệt căn bản ấy là một trong các lý do khiến Giáo hội Ki-tô ngày xưa khinh ghét người Do Thái (hy vọng trong một dịp khác chúng tôi sẽ trình bày về vấn đề này).

Từ sự phân tích sơ qua về quan điểm đối với tài sản và tiền bạc nói trên, có thể thấy hệ thống tư tưởng của đạo Do Thái rất phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và chính vì thế nó tạo dựng nên truyền thống văn hóa bất hủ của dân tộc Do Thái – nền móng vững chắc làm cho dân tộc này dù phải sống lưu vong không tổ quốc hàng nghìn năm nhưng cuối cùng vẫn là dân tộc thành công nhất trên hầu hết các hoạt động của loài người.

Đồng thời các nguyên lý chính của đạo Do Thái đã tác động không nhỏ tới giáo lý đạo Ki-tô và đạo Islam; hai tôn giáo lớn này đều có nguồn gốc từ đạo Do Thái.

Cuối cùng, nhờ có những điểm độc đáo nói trên, văn minh Do Thái của phương Đông trong quá trình giao lưu kết hợp với văn minh Hy-lạp của phương Tây đã sinh ra một nền văn minh mới – văn minh Ki-tô giáo, cuối cùng trở thành nền văn minh phương Tây rực rỡ mấy nghìn năm nay. Có lẽ đây là thành tựu đáng kể nhất mà nền văn minh Hebrew đã đóng góp cho nhân loại. Điều đáng nói là, do các nguyên nhân lịch sử phức tạp, lâu nay người ta đã coi nhẹ nền văn minh ấy, và bây giờ đã đến lúc loài người nên xem lại quan điểm này./.

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.

Xem thêm: Giải mã sự thành công của Israel và người Do Thái

——————–

[1] Theo The CIA World Factbook.

[2] Tham khảo: http://www.wrmea.org/2013-october-november/congress-watch-a-conservative-estimate-of-total-u.s.-direct-aid-to-israel-more-than-$130-billion.html

[3] Theo http://www.timesofisrael.com/10-jews-in-forbes-top-50-billionaires/  March 3, 2015

[4] K. Marx là một trong hai lãnh tụ cộng sản người Do Thái phủ nhận nguồn gốc này của mình [người kia là Lev Davidovich Trotsky, tức Лев Давидович Троцький, 1879-1940, lãnh tụ Đảng Cộng sản Bôn-sê-vich Nga]. Cha và mẹ Marx đều là người Do Thái. Cha ông có nguồn gốc nhiều đời là giáo sĩ Do thái, về sau đã cải đạo sang Tin Lành vì nếu không sẽ không được hành nghề luật sư (ở nước Phổ).

[5] Theo http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/con-di-cua-nhan-loai-da-ngu-tri-trai-dat-ra-sao

[6] Theo http://nghiencuuquocte.net/2014/05/20/marx-chong-lai-chu-nghia-tu-ban-p1/

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/10/12/vi-sao-nguoi-do-thai-gioi-lam-kinh-te/#sthash.Qx5fzjiK.dpuf

Văn học Nhật Bản 中文

狼 灾 记 
 (日/井上靖) 






秦始皇三十二年(公元前二一五年),将军蒙恬率三十万大军讨伐北方的匈奴。

这是统一了中国本土的秦国与强大的北方游牧民族之间首次对抗。蒙恬在各地打破匈奴部队,终于夺取了多年遭受其劫掠的鄂尔多斯地区,在此地施行郡县制,自己居于上郡(陕西省绥德县),统辖全边境守备军。



接着蒙恬承担了自临洮郡到辽东郡长达万里的长城修筑工程,挖山填谷,修筑大路,在各要冲处配备麾下精兵。秦始皇的长子扶苏也作为监军居于上郡,与蒙恬协力讨伐匈奴。因此匈奴不再像以往那样兴师于秦国边境,而只能不断进行小规模骚扰。



三十七年(公元前二一〇年),秦始皇驾崩,这是蒙恬讨伐匈奴后的第六年。宰相李斯与宦官赵高立秦始皇次子胡亥为二世皇帝,图谋自己擅断专权,便假传圣旨,发出除掉太子扶苏及将军蒙恬的敕令。被赐死的扶苏自刎身亡,蒙恬饮毒死于阳周。此事件过后仅仅四年,秦就遭到亡国的悲惨命运,其原因即发端于此。



慑于太子扶苏及将军蒙恬被赐死的事件影响,当局对北部边境守备军一直严守秘密。但是事情过后半年,这个消息传到离上郡最近的鄂尔多斯地区的一部分长城守备军的耳中。一旦消息传来,便化作两条报信的火龙,一条向东、一条向西,沿着蜿蜒不断的长城,慢慢的、然而的的确确传播开去。它如同燎原之火在蔓延。 


各地都发生了混乱。将军蒙恬及太子扶苏的自杀对边境的官兵们来说是比秦始皇驾崩更为重大、更为切身的事件,特别是官兵们由于将军蒙恬自裁而引起的感受是复杂的。由天下的无赖汉和犯罪者组成的奴卒且当别论,至少对成百上千的老兵来说,离开对将军蒙恬的敬畏,或者说是畏惧之心,就不能想象他们在异域与匈奴战斗的日日夜夜。对某些人来说,蒙恬是神。他对部下的慈爱和平等、他的廉洁、他的勇猛、他的忠诚,这些证实他们在北部边疆生存的护身符。然而,在另一些人看来,蒙恬却是可诅咒的恶魔。他为了建立自己的功绩,曝万人尸骨而不悔;为讨伐戎狄,肆无忌惮的多年将军队抛置于境外;恪守军纪而过分严厉,常因执行一条军阀而断送十多名士兵的性命。



有人为蒙恬之死而悲伤,有人因蒙恬之死而产生一种亟欲返回远方故国的强烈情绪。但是,由此而产生的混乱只是以混乱而告终。各种臆测和疑惑在各地卷起的漩涡,没有以任何具体的形式表现出来。他们的防地离京城太远,无法了解事情的真相,而且历史将如何发展亦完全不可预测。 

如要举出蒙恬之死的消息直接影响部队行动的事例,那要数驻守在最边远地区阴山脚下的一支部队了。




那天陆沈康率领的一支一千人的部队在长城以北五百里的地点屯驻下来,结束了历时一月有余的与匈奴的苦战,终于得以休息一天。匈奴向北逃窜,附近不见敌人踪影,但是陆沈康并不打算让部队在此逗留很久,部队自明日起就应再次向北进发。他虽然了解长途追击的危险,但不去袭击并烧毁匈奴的据点——北面二百里外的一个山中村落,这次战斗是不会结束的。这是上面给他下达的命令,只有这样做,才是杜绝此地区匈奴反复袭扰的唯一方法。加之此时正当进入初冬季节,不知哪天会遇到大雪,一切都必须在下雪之前解决。



这天陆沈康接待了来自张安良部队的使者。他们是一支友邻部队,虽同处塞外,但驻在很远的后方。使者带来三百张羊皮和大量羊肉以及张的书信。据说使者为找寻陆沈康部队的驻地,在北风呼啸的初冬原野上走了十几天。 


陆沈康眼前浮现出久未相见的朋友的面容,感到无限怀念。对于必须在阴山地区越冬的部队来说,毛皮和羊肉均是非常难得的礼物。陆沈康在幕舍前设酒宴热情款待使者。席上他拆阅张安良的来信。陆沈康怀疑自己的眼镜是否看错了,因为竹简上的几行文字告诉他蒙恬将军被赐死之事。 


对陆沈康来说,蒙恬是一种绝对的存在。秦始皇二十六年,蒙恬进攻齐国建立大功时,陆沈康作为一支小部队的头目参加了这次战斗。自那时至今,他一直作为蒙恬麾下的一名战士,从三十岁到四十岁,在与戎狄的战斗中度过了十年岁月。陆沈康的地位固然尚未到可拜谒将军的程度,然而,有一次将军曾亲切的同他谈过话。那是秦始皇三十三年的秋天,夺取鄂尔多斯地区的秦军隔黄河与匈奴军队对峙之时,他作为渡河先头部队的一员渡过黄河,经过三天三夜的激战,结果保住了对岸的一处据点。这时蒙恬赶来,慰抚一番尚存的少数士兵。或许是因为相貌魁伟而引人注目,当将军看到陆沈康时,只问他一人叫什么名字。陆沈康回答自己的名字后,蒙恬使劲点着头,只说一句:你的名字是勇士的名字。陆沈康难忘当时的激动心情。他本来就是一个勇士,自那以后,便以双倍的勇猛而闻名。陆沈康历任百卒之长、五百卒之长、千卒之长,但经常只被派往战斗最艰苦的地方。当然此事与将军蒙恬并无关系,但是陆沈康总是把它当作是蒙恬下达的命令。只要是为了蒙恬将军,生命可以在所不惜,任何艰苦的任务也能承担。 



对这样一个陆沈康来说,将军蒙恬被无故赐死,是无论如何也难以理解的。他怎么能相信,顿时感到天昏地暗,山摇地动。 



那一晚陆沈康夜不成寐,反复考虑之后下了决心:停止与匈奴的战斗,班师回国。他既看不到与匈奴交锋再有什么意义,也找不出在戎狄之地过冬的任何理由。一切都因蒙恬的存在而存在,而现在这个蒙恬却不复存在了。他对班师回国之后的事情丝毫未加考虑,因此而受惩罚也好,被赐死也好,一切都随他去,连将军蒙恬都无故被赐死呢,何况自己现在不过是边境部队的一队之长。在自己轻如鸿毛的身上发生任何情况都是微不足道的。 



陆沈康给张安良写了封感谢其深情厚意的书信,把前一天刚刚收下的礼物重新装上马匹,让使者带回。他派部下一百人,将使者一行护送到一百里外的地方。 



陆沈康等候护送士兵归来,才在第二天向自己部队的全体士兵披露了返回故国的决定。士兵们当然不会有任何异议,之时他们没有想到结束在境外与匈奴作战生活的时刻来得如此之快,过了相当长的时间他们才理解陆沈康讲话的正确意义。他们仿佛现在才明白,不断走向无底苦难深渊的各人不幸的命运,竟然也出现了转机。 

张安良的使者启程后的第三天早晨,陆沈康带领部队离开宿营地向南进发。预计七八天后到达黄河岸畔、第十或十一天抵达长城一线。时隔三年之后,陆沈康的部队将又一次望见长城。 



行军从一开始就极其艰难,整天被刺骨的寒风劲吹,从第三天起,寒风开始夹杂着雪花,潮湿的雪块重重的砸在士兵和马匹的头上。 
第四天风势减弱,但雪却一刻不停的飘落,并且越下越大,布满整个天空。部队不得不停止行军,以寻找前进的道路。对陆沈康的一千名部下来说,虽然这曾是往来多次,非常熟悉的原野,然而他们也感到由于下雪而使这片原野一夜之间变得陌生和可怕。 



这天黄昏十分,陆沈康取道向右前进,奔向位于无名丘陵脚下、稀稀落落的建有土房的铁勒族村落。离预定作为当天宿营地的部落还有一多半的路程,如果再勉强走,不是出现众多的冻伤病号,便是增加被大风雪卷走的危险。因此陆沈康决定进入铁勒族的村落,在那里等候雪过天晴。 



当然,陆沈康从未进入过铁勒族的村落,就连接近它,也是第一次。铁勒族在散布于此地的部落中被看作是最卑贱的特殊民族,他们和其他种族丝毫没有来往。男人们以畜牧为业,女人们从事农耕,生活无一例外的都很穷困。男人在嘴边刺上花纹,女人将棕色的卷发束起来,长长的垂在背后。走近他们,就会闻到一种特殊气味,其他种族的人认为这是死臭而表示厌恶。 



陆沈康派出部下去铁勒族进行交涉,希望给自己的部队腾出五十间土房。五十间土房容纳一千名士兵不能算是宽裕的,但是再高的要求,就会使铁勒族的人要在雪地上露宿。即使只有五十间土房,但从都有房顶这一点看,对此刻的士兵们来说,也是难得可贵的厚礼了。

另一方面,对铁勒族的土著居民来说,腾出五十间房子,也是个可以接受的要求。此地本是个百来户的村落,这次只征用其中的一半。房子被部队占用的五十户村民,若被未腾房屋的其他五十户收容,那么,也不会有什么困难的。 



部队在村落的入口处停留了半小时,随即排好队伍走进被大雪掩埋了一半的铁勒族村落。向导是该村落的五名男子,士兵们按照他们的指示,每一排人进入一间空荡荡的土房,有的是几个人一间,也有三十多人挤在一间屋子里的。队伍一边在逐渐的减少着士兵的人数,一边以缓慢的速度沿着硕大的白色土馒头般的丘陵向前移动。丘陵上没有一棵树从积雪上露出树枝。 



陆沈康看到部下全部进入五十间土房以后,便走进一间分给自己的同样的土房。尽管土房完全被雪覆盖,但堂屋炉边木柴的余烬还在冒烟,表明主人离开这里并没多久。 

堂屋的右手有个狭窄的房间,地上铺着密密的一层枯苇,一看就知道这像是主人的卧房,但陆沈康没有迈进这房间。这里弥漫着一股一样的臭气,为其他部落的人所厌恶的所谓死臭也许是这般臭气吧。一个士兵进来,在堂屋的炉子里生起火。待士兵离去后,陆沈康便在炉边的一把粗糙的木制椅子上坐下来,打算就这样在这里坐到天明。过了约莫一个小时,两名士兵端来饭菜,然后立即离开。送来的是一个馒头和一碗漂着亮晶晶羊油的清汤。陆沈康凝视着炉火,默默的将这些食物送进嘴里。 



从得知蒙恬死去的消息后,陆沈康就没有接近过任何部下,现在已经结束作战,陆沈康就没有接近过任何部下,现在已经结束作战,再没有必须与他们商量或交谈的事情。部下们也明白,自己不主动去靠近变得不高兴的队长也更保险些。陆沈康曾经让匈奴俘虏站在自己面前,一言不发的把他们的胳膊一条条砍掉。这种情景即使看过几十次,仍然令人目不忍睹。部下们知道,此时的陆沈康是可怕的。虽然陆沈康对部下比其他任何队长都显得仁慈,但是,部下们却仍因残杀匈奴俘虏一事未能消除对他的恐惧心理。 



陆沈康用过简单的晚饭后,依然保持前倾的姿势凝视着火光。不知为什么,在来收拾碗筷的士兵看来,这时的队长比起他四十岁的实际年龄似乎一下子衰老了许多。然而,陆沈康绝没有衰老,他身体前倾,凝视着火光,心中的狂涛越来越汹涌澎湃。他以这种姿势勉强抑制着由于蒙恬之死而产生的、不可遏制的狂暴情绪。寒风卷着雪花不时从大门的缝隙刮进来,每刮进一次,炉边就铺上一层白雪,然而他全不介意。 



陆沈康坐着打盹。背后寒气袭来,他睁开眼睛,然后往火堆上添柴。柴草很湿,不容易燃烧。过一段时间炉中便腾起一股红色的火苗。陆沈康重闭上眼睛,寒气又使他醒来。在这样多次反复的过程中,有一次陆沈康突然粘起来,厉声叫道: 

“谁?” 



他觉得身边有声音,跟风声不同。 

陆沈康站在炉边仔细倾听片刻,便手握长矛,拉开卧室对面菜窖的门,这里也铺满枯苇,到处是破烂东西。陆沈康用长矛挑开入口处的枯苇,看见露出一层木板,马上就用长矛的前段刺去,大喝一声: 

“出来!” 



地窖里传出响动声,一会儿,地面的一块盖板被推起来。陆沈康仍然端着长矛屏气凝神的注视着。 

从地窖出来的是个女子,看不出有多大年纪。看到她是个女人,陆沈康便径直走上前去,揪着她的上衣拉到炉边站好。陆沈康刚要说话,那女人却先开腔。 



我已经死了,你想再一次杀死我吗?” 

那个女人用口音很重的土话说道。 



你为什么藏起来?”陆沈康问。 



我并不是藏起来,而是不愿离开这所房子。我的丈夫今年秋天去世了,除了丈夫灵魂安眠的这个家,我不能在其他地方睡觉。” 
女人继续说道: 



我的丈夫是今年秋天死的。我虽然现在仍在呼吸,但活着只不过是个样子,其实已经死去了。我的心不再为任何事情而欢乐,也不为任何事情而悲伤。我已经是个死人。你要再一次杀死我吗?” 



炉边的火光淡淡的映出她的半边脸,看上去这女人还年轻,肯定不过二十多岁,眼睛里充满这个部族的女人所特有的猜疑。 



你说你是死人吗?那么我也是死去的人了。不为任何事情而欢乐,也不为任何事情而悲伤。”陆沈康接着提高嗓子说道: 

“死者无用,回你的卧室去!” 

那女子将头发甩到背后,倔强的抬起头反抗道: 

“我要出去。” 

“去哪儿?” 

“这你还不明白吗?到外面去。” 

“到外面去,这意味着什么,你知道吗?” 



陆沈康朝门口看了一眼,外面仍在下着大雪。在这深夜里,到大雪里去,只能意味着死亡。 



我已经说过,我是死去的人。为什么要怕死呢?” 

女子说着,立即转过身朝门口走去。陆沈康又抓住女子的上衣将她拉回,说道: 



我饶了你,你回到自己的卧室去!” 



这时女子严肃的抬起头说: 

“我从来不愿与自己丈夫以外的男人在一个屋顶下睡觉。要么我出去,要么你出去。” 



陆沈康用锐利的目光凝视着女子的脸。完全出乎意料,这时陆沈康突然产生一种被面前这个女人挑逗的感觉。长期忘掉了女人的陆沈康仿佛清醒过来,目不转睛的盯着站在自己面前的年青女子的脸。 
他走近女子,第三次抓住她的上衣,这次他想把女子拉到卧室里去。女子拼命反抗,但是当她被扔到卧室的枯苇上时,大概是认命了吧,后来就像死去一样毫不反抗的任凭陆沈康摆布。 



陆沈康拂晓时分醒来时,知道自己在弥漫着死臭的屋子里,怀抱散发着死臭的女人的身体。寒气袭人,但是只要抱着女人的身体,并不感到寒冷。女子睡着了,她的身体像火一样烫。 



陆沈康起身,将放在堂屋的刀拿来,插入枕边的枯苇中,然后又抱起女人。心想,有人进屋来,就立即杀死,若有别人看到自己怀抱女人,就不应该让他活着。那女子一醒来,还是拼命反抗,当她停止反抗听任摆布后,就一直冷漠的睁着眼睛,一动也不动。 



天大亮时,陆沈康将刀入鞘,把女子引到她曾藏过身的地窖前,让她进去。 



这一天,雪仍然下个不停。陆沈康坐在炉边,就这样度过一天。他把自己的一半饭菜给了地窖中的女子,女子默默的接受。夜色降临,他知道,这个时候士兵们已经不会再到自己的住处,便从地窖中拉出那女子,拖到铺着枯苇的卧房。这一夜陆沈康仍然将出鞘的刀立在枕边,然后搂抱着女子那异常温暖的身体睡觉。 



第三天、第四天、部队都没能离开铁勒族的村落继续前进。雪虽然时下时停,但天仍然是阴沉沉的。陆沈康每天夜里搂着那女子,以出鞘的刀护卫着自己的行径。他虽然搂抱着女人,但对任何细小的声音都很敏感,心想,凡是进入房间目睹自己这种行为的人,无论士兵,或是队长,都必须立即杀掉。 



白天独自呆在炉边时,陆沈康经常用鼻子嗅着自己的胳膊,担心那女人死臭一般的体臭传到自己身上。然而一到夜晚,他却不得不依旧在大刀的保护下搂抱散发着这种死臭的女人的身躯。 



第五天夜里,那女子才开腔道: 

“你为什么将刀立在枕边呢?” 



如果有人看到我们在一起睡觉,就必须杀掉他。”陆沈康回答道。 



这是为什么?”女子又问。 



陆沈康没有回答。于是女子说道: 

“我丝毫不想勉强你说出这个理由。你把与我发生关系认为是耻辱。但是,在这件事上我也一样。对我们种族的人来说,同其他种族的人发生关系,还不如选择死为好。我也要以刀来维护自己的耻辱,如果有人进入这房间,我要在你之前拿起刀来。” 



女子对陆沈康仍然投以充满仇恨的冷漠目光。但这时的陆沈康对身有死臭的女人初次产生了一种类似爱情的感情。陆沈康未曾娶妻,因此他想到,所谓妻子,大概就是这个样子吧。 



第六天,持续多天的雪才停住。陆沈康本应向部队下达出发的命令,但又拖延了一天。这天夜里,陆沈康搂着女子,感到难舍难分。女子听任他亲热一番以后,用冷静的语气说: 



我们的事情必须在今天夜里结束,明天请你离开这个村庄继续前进。” 



即使你不说,我自己也要这样做的。除了大雪,没有任何东西能够阻止部队开拔,而这场雪已经停了。” 



陆沈康说完,女子接着他的话说道: 

“阻拦部队开拔的,为什么只有雪呢?如果我愿意的话,挽留你多少天都可以吧。但是我不能这样做。” 



女子说着大哭起来,一直哭个不停,以至陆沈康以为她是否有什么毛病。女子哭罢以后说: 



我之所以不阻拦你,是因为不忍心让你变成野兽。在我们种族中很早以前就传说,如果与其他种族的人作七夜夫妻,就要变成野兽。今夜是第六夜,如果你再在这里住一天,那么你我都将变成野兽。” 



陆沈康听了她的话,大吃一惊。他并不是因为自己将要变成野兽而吃惊,而是因为从这番话中感到女子对自己的爱情。这天夜里,与以往不同,他从女子身上感受到一种温情。 



你说要变成野兽,我们会变成什么野兽呢?”陆沈康问。 



那女子说: 

“我们除了变成狼,再没有其他可变。我们一直是用刀维护自己的这种行为,倘若真的有人进来,你我也许都会向对方扑去吧。据说狼也是这样,当雌雄交配时如果被看到的话,不论对方是什么,都要扑上去,直到咬死对方才肯罢休。你也许想让我们变成其他什么动物,但我们只能变成狼,因为我们的心已经变成狼心了。” 



这天夜里,女子在天未亮时,就离开陆沈康身边,回到自己的土窖中去了。临走时她让陆沈康离开时不要叫自己。陆沈康答应了,他也觉得这样最妥当。 



次日,部队离开逗留六天的贫穷而肮脏的铁勒族村庄。这是一个雪停风息的平静日子。陆沈康在部队的最前面策马前进,骑兵与步兵交错编队,在具有光泽的、宛如坚硬的白珐琅质般的雪原中行军。 
当部队行进到距铁勒族村落二十里左右的地方时,突然停止前进。雪原上发生了异常情况,在队伍遥远的右前方,雪被卷成巨大的圆柱刮向天空,刮到高空的雪如同雪崩似的落下,朝着队伍降下来。战马跳跃着、嘶鸣着,要挣脱出去。 



一直守在陆沈康身旁的李幕僚,将自己所骑的马靠近陆沈康的马旁,在飞落下来的雪花中叫道: 



远处有狼嚎声!” 

对于李来说,狼群的袭击比旋风更为严重。 



两人立刻策马拉开距离。陆沈康一边观察队伍的混乱状态,一边侧耳细听,他想证实一下是否真有狼嚎。在这短暂的一刻,几股旋风接二连三的把雪卷向天空,像瀑布似的倾泻下来。 

全身披雪、骑马巡视的陆沈康这时忽然听见声音了,但传到他耳里的不是狼的咆哮,而是那个铁勒族女子的恸哭声。 



是狼!听见狼嚎了!”显然不是李,而是其他幕僚在附近叫喊着。 



陆沈康仍然侧耳细听,声音来自大雪纷飞的灰色天空,依然是那女子悲哀的恸哭声。 



一切恢复正常后,部队又重新整队出发。陆沈康整整一天都听到女子的哭声,这声音萦绕在耳旁,无论如何都摆脱不掉。 



这天一过正午,陆沈康就把队伍带进一个村子,在那里宿营,然后给一位幕僚下达命令:我身体不适,即将就寝,任何人都不得来打扰。 

黑夜来临时,陆沈康牵出战马,跨上马背,朝着早晨离开的铁勒族村庄驰去。他在倾泻着蓝色月光的广阔雪原上,不停的策马前进。因为非常惦记那个铁勒族女子,他想再一次见到她,并在天亮以前将她带回部队宿营地。宿营地安排在与铁勒族村子相隔不甚远的地方,看来完全来得及。 



陆沈康深夜走进静悄悄的铁勒族村庄。他在曾经住过六天的土房前停住马,将马拴在后门的树上,马上跑到这家门口。屋里露出灯光。陆沈康在此度过的六个夜晚从未有过灯火,因此觉得这所房子的样子仿佛与以前不同。 



一推门,蹲在路旁的女子的背影立即映入他的眼帘。陆沈康叫了一声。女子似乎吓了一跳,回过头来凝视一阵陆沈康。 



我一直希望你不要回来,总在向天祷告。可是,现在你又回到这里来了。” 



女子以深有感慨的口吻冷静的说道。然后她站起来依偎在陆沈康胸前,用手掌拍着他的胸脯表示爱抚。 



我本应为丈夫而死,可是由于前世的因缘,现在我想为你活下去,即使变成野兽也要活下去。” 



女子说罢,便第一次主动邀陆沈康到卧室去。陆沈康和以前一样抽刀插在枕边的地板上。女子的身体仍旧散发着死臭,然而陆沈康今天对此毫不在意。对自己抱有爱情的女子是那么可爱,以至陆沈康热烈的拥抱了第一次将自己的模样暴露在昏暗灯光下的她的身体。 



黎明时,陆沈康醒来。灯光已熄灭,但是看得见枕边的刀在拂晓的白色晨曦中闪着寒光。当他知道已经睡过头时,想起部队,便立即要坐起来,但总觉得自己身体的动作与往常有些不同。他一起来,就想去取刀,刚把脸凑过去,手还没伸出来,刹时间就发现自己的嘴里已经衔着那把刀。 



陆沈康扫了一眼自己的身体,手、脚以及躯干都被黑褐色的毛覆盖着。他这时才知道自己已变成一只狼。他又朝躺在自己身旁的女子看去。那女子的模样也和从前不同,他分明变成了一只母狼。 



女子将前后肢并起,做出要前伸的姿势,接着睁开眼睛,蓦地起身。她只是外表变成狼的样子,陆沈康还是觉得这只母狼的姿态与从前的女子没有两样。 



你知道你已变成狼了吗?”陆沈康问。 



知道。我是半夜醒来才发现的。那时吃了一惊,可现在我不再叹息,也不再悲伤了。因为不论怎样悲伤叹息都已不可挽回。”女子说道。 

对陆沈康来说,问题并不像她说的那样简单。但是既然已经变成狼,便正如女子所说,已经毫无办法。 



陆沈康离开土房。他不知道自己为什么离开房门,不过很快便明白自己是想猎取食物。女子也跟着来。当陆沈康来到外面的雪地上时,看到跟在自己后面出来的是一只母狼,才觉得自己是在以狼心爱着女子。为着怜恤自己所爱,保护她不受外敌侵犯,陆沈康炯炯闪光的眼睛一直警惕的望着广阔雪原的尽头。 



汉高祖七年(公元前二〇〇年),即秦灭亡后六年,陆沈康从部队失踪后过了十年。时代已由秦变为汉,但是曾经向陆沈康赠送兽皮及羊肉的张安良仍然在境外担任长城守备军的一名队长。因秦末的内乱,国内四分五裂,许多守备长城的士兵逃散了。在这期间,张安良却一直没有离开自己的岗位,因此,虽然这时已经成了汉高祖的天下,他还是像秦朝时候一样被安排在同样的位置上。 



这天张安良为拜谒新到此地担任长城守备队队长之职的武将,带领三名士兵离开自己的驻地,踏上需走四天三夜的行程。二三年前匈奴已远迁北方,所以此地已从匈奴的威胁下解放出来。 

第一天在荒地的一个小沼泽旁过夜。因为正值初夏,白天大地被烤的灼热,但一到夜晚,气温骤然下降,犹如隆冬一般。尽管如此,这个时期还是此地最好的季节。 



张安良正准备在营帐内就寝,一名部下从帐外归来报告说,附近山丘上有两只狼在嬉戏。张安良和另外两名士兵立即走出帐篷。月光如水,将大地映成一片蓝色。他们果然看到右面不远的山丘上有两只狼在嬉戏,它们无疑正在交欢,可是在毫无遮拦的原野上,再加上月光照耀的缘故,那种情景看上去令人无比惊恐。一名士兵用箭瞄准狼射击,箭落在山坡上,同时两只狼向左右飞奔而去。 



次日拂晓,在营帐中安睡的张安良被一种异乎寻常的叫声惊醒。他迅即走出帐篷,负责做饭的士兵倒在帐篷前,已经断了气,身上的肉被撕成碎片,喉咙及侧腹被咬得惨不忍睹。一看便知是遭受狼的袭击。 

张安良失去了三名部下中的一人,这天牵着失去驭手的一匹马来到附近的村子,向这个部落的人说明遭狼袭击的士兵尸体的位置,请他们埋葬。然后张安良与两名士兵立即离开这个村子。 



但是,当天晚上他们三人还是在丘陵上的宿营地遭遇到同样的灾难。这次是深夜,一名士兵到营帐外边小便,一去不复返。张安良在次日早晨才发现士兵失踪了。在营帐附近寻找一番,没有找到,只见草丛中到处是人肉的碎片。 



由于第二次的事件,张安良和剩下的那名士兵知道自己在被狼追踪,感到很害怕。这一次两人还是到距离有半日行程左右的一个村子落脚,请他们帮助寻找失踪的士兵,然后就出发了。 



第三天决定不搭帐篷而到村庄里去寻找住处,二人骑马走了整整一天。中午和傍晚,他们两次听见远处的狼嚎声。当晚一进村里,那名士兵便发高烧卧床不起,也许是被狼吓坏了。 



第四天张安良一人骑马前进。半夜应该能够到达目的地——长城沿线的一个村子。张安良是个胆大的人,丝毫不怕恶狼的袭击。然而不带一兵一卒赶赴营地,的确使他伤透了脑筋。 



黄昏时分,张安良在被岩石覆盖的丘陵脚下停住马,打算让不停蹄的走了整整一天的马休息一下。当他下马做到地上时,听到不远的地方传来狼嚎声。因为接二连三发生事件,张安良立即站起来,注视着这一片原野。原野上低矮的丘陵如同波浪一般绵延起伏,血红的太阳正要落山,无论是山丘、田野,还是草木,都染成一片红色。 

张安良坐下来。这时听到更远的地方传来狼嚎声,声音拖得很长,使人毛骨悚然。 



张安良一站起来,看见所站的高地上突然窜出一只狼。狼垂着拖到地上的尾巴。它斜穿过高地,藏身于一块岩石后面,向张安良这边张望,还张着大口,细长的舌头在抖动。 



张安良拔出刀来,准备待它一走近,就一刀结束它。他为了不向对方示弱,目光一直盯着这只凶猛的野兽。 



不知过了多久,张安良突然看到狼从岩石后面露出全身,前肢并齐蹲在地上。 

“是张安良吗?” 



张安良辨不清呼唤自己的声音来自何方。 

“好久没见了。” 



张安良有生以来从未如此惊骇过,因为这时他才知道声音出自狼之口。由于过分的惊恐,一时说不出话来,片刻之后,他才大喊一声: 

“你是什么人!” 



狼仍旧抖动着舌头,喘着粗气说道: 

“我这样一说,你一定会吃惊的。我是陆沈康,因故变成这般可怜相。我是你的老朋友陆沈康呀。” 



张安良没有作声。虽然狼这么说,这种事情也令人无法置信。过一会儿,对方似乎留意到张安良的这种心情。 



朋友,听听我的声音。对这个声音你还有印象吧。外面不是曾经多次在一起彻夜饮酒交谈吗?你未必会忘掉这声音吧。” 



听到这番话,张安良果然觉得狼发出的声音仿佛是往昔亲密同僚的熟悉的声音。 



你怎么会变成这副样子?”张安良问。 



这件事,请你不要打听。无论发生什么情况,恐怕我也不会说的。一切都是天意。变成这种样子,我是多么想死啊。但寿数已定,即使想死也死不了。所以,我就变成这副模样,一直活到今天。不过我想,幸好自己没死而活了下来,才能够和你这样谈话。” 



这番话的悲切情调,打动了张安良的心。他不禁对朋友罕见的命运产生了同情。 

“陆沈康!” 



张安良呼唤旧友的名字时,远处又传来狼嚎。于是陆沈康用力伸展狼的两只前腿,站起来,说: 



许久以来我第一次恢复了人心,但是已经不行了。一听到那个伙伴的叫声,我的心又变成狼心。过一会儿,我就要变成狼了。变成狼就会袭击你的。” 



张安良看见陆沈康的狼眼中渐渐发出残忍的凶光。 

“我要变成狼,正在变成狼。张安良,我不得不袭击你。因为你看到了我和妻子的不能让任何人看的行为。这时狼的本性所不能允许的。张安良,我要变成狼袭击你了。你杀掉我吧,不要低下身去。低下身子,我们就胜了。” 



变成狼的陆沈康说完最后一句话时,抬头向天大吼一声。接着听到另外一声狼嚎,它来自比刚才更近的地方。 



张安良望着已经完全被残暴的本性所武装起来的狼——陆沈康。是早已和昔日的朋友没有丝毫关系的一只野兽。张安良握刀准备砍向陆沈康这只狼,必须杀掉眼前这只凶狠的野兽。他感到心中的杀机在威逼着对手。 



张安良看着与自己所站的山丘隔一小块洼地而相对的另一山丘。一只狼正沿着那山丘的斜坡飞也似的直冲过来。这只狼刚刚消失在洼地里,就以令人难以置信的速度跑上张安良所站的山丘。 



后来的那只狼在跑上高地的同时跳了一大步。恰恰像等待这一时机似的,陆沈康这条狼也跃身一跳。张安良感到一只狼从头上,一只狼从侧面扑过来。他避开袭击过来的狼,挥刀向左右横砍过去。两只狼为了避开刀锋,窜起又落下,跳跃着扑过来。 



拼死搏斗并没有持续多久。张安良被岩石绊倒,一条腿跪在地上。紧接着,两只狼同时全力扑上来,一只狼咬住张安良的喉管,一只狼咬住他的大腿,这时一种死也不松口的咬法。 



落日映红的高地上,张安良流出大量鲜红的血,眨眼功夫,就渗进了高地。 


此事过后半年,汉朝廷向长城守备军发出布告:今日狼灾频繁,塞外官兵万勿大意,切记结扎腹带。 



所谓腹带是何物,它对狼的袭击有何防御能力,时过境迁,现在谁也不知道了。



—完—

Ấn Độ giáo

Gandhi: the mortal demi-god

Người ta tôn sùng Gandhi như một vị thánh, tuy nhiên con người đa diện của ông chưa được biến đến rộng rãi. Tất cả được mô tả trong cuốn tiểu sử gây tranh cãi gần đây về Gandhi của Joseph Lelyveld, tác giả từng đoạt giải Pulitzer

Joseph Lelyveld đã viết một cuốn sách đáng ngưỡng mộ về Mohandas Gandhi, người được công nhận đã dẫn dắt Ấn Độ đến độc lập từ Anh năm 1947. Nó cũng đem đến độc giả đầy đủ thông tin để nhận thức rằng ông là một người lập dị tính dục, không có năng lực chính trị, và có những sở thích cuồng nhiệt kỳ cục (vì thế ông thường xuyên thẳng thừng nghiệt ngã với những người xung quanh).

Trong phong trào Swaraj (Tự trị) mà Gandhi thực hiện suốt đời, Ấn Độ có thể đã độc lập sớm hơn nhiều năm nếu ông không liên tiếp từ bỏ chiến dịch bất tuân lệnh dân sự ngay khi nó bắt đầu thành công. Với 300 triệu dân bị nhúm nhỏ người Anh (0,1% số đó) cai trị, tiểu lục địa đã có thể kết thúc ách đô hộ với chỉ một cái nhún vai nếu đạt được sự thống nhất chính trị. Tuy nhiên, việc không ngại ngần chọc tức và làm nhà lãnh đạo 90 triệu dân Hồi giáo Ấn Độ Muhammad Ali Jinnah (người ông gọi là “gàn dở”) thất vọng – đã phá nát bất cứ hy vọng sớm giành độc lập nào. Ông xa lánh B. R. Ambedkar, người đại diện cho 55 triệu dân thuộc tầng lớp thấp nhất ở Ấn Độ (Candala – tiếng Anh gọi là Untouchables, tiện dân, họ bị xã hội khinh rẻ và không được chạm vào bốn đẳng cấp trên, kể cả cái bóng của bốn đẳng cấp trên cũng không được giẫm đạp lên). Ambedkar gọi Gandhi là “thủ đoạn và bất tín”. Từ 1900 đến 1922, Gandhi chấm dứt những nỗ lực của ông không ít hơn ba lần, bỏ rơi hơn 15.000 người ủng hộ, những người vì đại nghĩa đã bị giam cầm.

Là một người không ngừng tự khuếch trương bản thân, Gandhi đưa ra bộ tiểu sử thần thánh đầy đủ đầu tiên về mình để gửi tới mọi người và đảm bảo sẽ tái bản. Chúng ta chưa thể rõ liệu ông có thực sự tạo ra mọi chi tiết về mình hay không, vì theo Lelyveld, Gandhi khăng khăng rằng đám nhà báo sắp xếp “những từ ngữ không phải từ miệng ông mà là bản ông cho phép in sau khi chỉnh sửa rất nhiều”.

Chúng ta đều biết chắc rằng ông khuyên người Séc và Do Thái lựa chọn bất bạo động với phát xít Đức, ông nói “một người Do Thái đứng lên và từ chối tuân theo các sắc lệnh của Hitler” là đủ để “làm trái tim hắn tan chảy”. (Bất bạo động, theo quan điểm của Gandhi, cũng có thể có tác dụng trong trường hợp người Trung Quốc chống phát xít Nhật). Mở đầu bức thư gửi Adolf Hitler với lời chào “Anh bạn của tôi”, Gandhi tự cao hỏi: “Anh có lắng nghe lời kêu gọi của một người dứt khoát tránh xa chiến tranh mà không phải là không có thành công đáng kể?” Ông khuyên người Do Thái ở Palestine “dựa vào thiện chí của người Ả rập” và chờ đợi một nhà nước Do Thái “đến khi ý kiến người Ả rập chín muồi”.

Tháng 8.1942, khi phát xít Nhật đang ở cửa ngõ Ấn Độ và đã chiếm gần hết Miến Điện, Gandhi phát động một phong trào nhằm cản trở nỗ lực chiến tranh và bắt người Anh “rời Ấn Độ”. Nếu chế độ diệt chủng Nhật Bản nắm được đông bắc Ấn Độ, và chắc chắn làm được nếu không có quân Anh ngăn chặn, hậu quả đối với nhân dân Ấn Độ đã rất thảm khốc. Không dưới 17% dân số Philippines thiệt mạng dưới ách đô hộ Nhật Bản, và không có lý do gì để nói Ấn Độ sẽ rơi vào tình trạng tốt hơn. May mắn là thống chế Lord Wavell đã giam giữ Gandhi và 60.000 người ủng hộ và tiếp tục chiến tranh với Nhật.

Dù chủ nghĩa bất bạo động của Gandhi khiến ông trở thành biểu tượng cho phong trào dân quyền Hoa Kỳ, Lelyveld cho thấy ông kiên quyết phân biệt chủng tộc với người da đen ở Nam Phi. “Chúng tôi bị dẫn tới một nhà tù được dành cho người da đen” (nguyên văn: Kaffir – một từ mang tính phân biệt chủng tộc nặng nề với người da đen Nam Phi), Gandhi phàn nàn trong một trong những chiến dịch vận động cho quyền lợi của người Ấn Độ sinh sống ở đó. “Có thể hiểu được khi không được xếp chung với người da trắng, nhưng bị đặt ngang hàng với người da đen thì thật là quá quắt. Họ (Kaffir) là chủng tộc chưa được khai hóa – những người tù thậm chí còn tệ hơn thế nhiều. Họ thật rắc rối, bẩn thỉu và sống như động vật.”

Trong một bức thư ngỏ gửi đến cơ quan lập pháp tỉnh Natal ở Nam Phi, Gandhi viết về cách “người Ấn Độ bị dìm xuống đẳng cấp của người da đen mọi rợ”, sau đó ông nói về một người da đen nào đó “với nghề nghiệp là săn bắn, khát vọng duy nhất là thu lượm một vài gia súc để mua một cô vợ, và sống cuộc đời biếng nhác và trần truồng”. Về người da trắng Nam Phi và người Ấn Độ, ông viết: “Chúng tôi tin vào sự thuần khiết của những giống nòi này như họ vốn vậy”. Đó cũng có thể là lý do ông không cho phép con trai Manilal lấy cô gái Hồi giáo Fatima Gool, mặc dù chính ông cổ súy sự thống nhất Hồi giáo – Hindu.

Quan niệm xấu về sự trần truồng của Gandhi thật mỉa mai thay, khi ông ở độ tuổi bảy mươi và sắp dẫn dắt Ấn Độ đến độc lập, lại khuyến khích cô chắt họ mười bảy tuổi Manu lõa thể “âu yếm hàng đêm” với ông. Sau khi sa thải vài thành viên trung thành lâu năm trong đội tùy tùng 100 người, những người có thể bất đồng với hành vi tâm linh trên, ông bắt đầu ngủ lõa thể với Manu và những phụ nữ trẻ khác. Một lần ông nói với một phụ nữ: “Bất chấp mọi nỗ lực, bộ phận của tôi vẫn bị kích thích. Thật kỳ lạ và đáng xấu hổ.”

Nhưng ông cũng có thể tàn nhẫn với Manu, một lần ông bắt cô đi qua một khu rừng rậm hay xảy ra hiếp dâm để lấy lại một viên đá bọt mà ông hay dùng để cọ chân. Khi cô trở lại trong nước mắt, Gandhi phá lên cười và nói: “ Nếu có tên côn đồ nào đó mang cháu đi và cháu dũng cảm đối mặt với cái chết, thì con tim ta sẽ nhảy nhót vì sung sướng.”

Giống như Lelyveld đã làm quá rõ, bộ phận của Gandhi có thể chỉ hiếm khi bị kích thích vì những cô gái trẻ trần truồng, vì tình yêu của đời ông là kiến trúc sư kiêm lực sỹ Đức gốc Do Thái, Hermann Kallenbach, người khiến ông bỏ vợ năm 1908. Ông viết cho Kallenbach: “ông đã hoàn toàn chiếm giữ thân thể tôi, đây là kiếp nô lệ với một sự báo thù”. Gandhi gọi mình là “Nhà trên” và Kallenbach là “Nhà dưới”, và ông hứa với “Nhà dưới” sẽ không “nhìn bất cứ phụ nữ nào với ánh mắt thèm khát”. Cà hai đều hứa “yêu nhiều, và nhiều hơn nữa… tình yêu mà họ hy vọng thế giới chưa từng có”.

Họ chia tay khi Gandhi trở về Ấn Độ năm 1914, vì kiến trúc sư người Đức không được phép đến Ấn Độ trong thời chiến – dù vậy Gandhi không bao giờ từ bỏ giấc mơ gặp lại ông ta, Gandhi viết “ông luôn luôn trong tâm trí tôi”. Về sau, ở trong tu viện, Gandhi nói: “Tôi không thể hình dung ra một thứ xấu xí như giao phối giữa nam và nữ”.

Trong tiểu luận Hind Swaraj (Độc lập của Ấn Độ), Gandhi kịch liệt phản đối luật sư, đường sắt, và chính trị nghị trường, mặc dù ông đã là một luật sư chuyên nghiệp thường xuyên di chuyển bằng tàu hỏa để đến các cuộc họp tranh luận cho chính phủ riêng của Ấn Độ. Sau khi thề không dùng sữa vì nó chứa các thành phần kích dục, ông mắc bệnh trĩ, vì thế ông cho rằng ông chỉ thề bỏ sữa bò, chứ không phải sữa dê (Gandhi về cuối đời bắt đầu uống sữa dê theo lời khuyên của bác sỹ). Sự chống đối hoàn toàn của ông với kiểm soát sinh đẻ trừ kiêng khem tình dục, ở một đất nước ngày nay có ngày càng nhiều người sống với dưới 1,25 đô la một ngày so với thời của ông, còn nguy hiểm hơn.

Ông nói về những người Hồi giáo chịu trách nhiệm trước những cuộc thảm sát hàng ngàn người Hindu ở Đông Bengal năm 1946 rằng Hồi giáo “là một tôn giáo hòa bình”. Với một người Hindu hỏi ông rằng làm sao những người đồng đạo lại có thể trở về những ngôi làng mà ở đó tôn giáo của họ đã bị quét sạch, Gandhi vô tư đáp: “Tôi không thấy phiền nếu một gia đình hay tất cả 500 gia đình trong khu vực của ông bị giết”. Điều có ý nghĩa với ông là phương châm bất bạo động. Dù sao, như ông nói với một tín đồ Bà La Môn chính giáo, ông tin vào hồi sinh.

Sự ủng hộ của Gandhi với chính quyền Hồi giáo (Caliphate) trong những năm 1920 (vì nó mà ông nói “sẵn sàng hy sinh vợ, con gái, và bạn bè”) – theo như Lelyveld cho thấy, chỉ là một cuộc vận động định kỳ để giữ chân Liên đoàn Hồi giáo trong liên minh của ông càng lâu càng tốt. Khi chiến dịch vì sự thống nhất thất bại, ông đổ lỗi cho thế lực tối cao, năm 1927: “Tôi quần quật vì nó, tôi hành xác cho nó, nhưng ông trời không hài lòng. Ông trời không muốn tôi có được thành quả nào từ công việc.”

Gandhi sẵn lòng đứng lên vì tầng lớp tiện dân Candala, nhưng không phải ở khoảnh khắc sống còn khi họ đòi quyền cầu nguyện trong đền thờ năm 1924-1925. Ông e ngại sẽ làm các tầng lớp Hindu cao cấp xa lánh. “Liệu bạn có dạy Kinh phúc âm cho một con bò?”, “Ồ, vài Candala còn tệ hơn cả bò theo cách hiểu của họ.”

Mùa Ăn Chay Lớn đầu tiên của Gandhi – được thực hiện năm 1932 bất chấp niềm tin của ông rằng nạn đói là “hình thức áp bức tệ hại nhất, điều cản trở những nguyên tắc cơ bản của bất bạo động” – nhằm ngăn cản những người Candala không có ghế trong bất kỳ chính phủ Ấn Độ tương lai nào. Ông nói đó là “tôn giáo, không phải một câu hỏi chính trị”, và không chấp nhận tranh luận về vấn đề này. Ông cũng khẳng định ở đâu đó rằng “sự thủ tiêu tình trạng phân biệt với đẳng cấp Candala không bao gồm việc các đẳng cấp cao Hindu phải dùng chung bữa với những người từng thuộc Candala”. Trong những cuộc mít tinh lớn chống lại tình trạng phân biệt trong những năm 1930, với hàng chục ngàn người tham dự, bản thân những người Candala bị giữ ở những bãi rào kín cách xa các tầng lớp Hindu.

Đương nhiên, bất cứ phong trào liên minh nào cũng dính líu ở một mức độ nhất định về tính thỏa hiệp và đạo đức giả. Nhưng hình ảnh thần thánh của Gandhi, cái chết của ông vì tay một kẻ cuồng tín theo đạo Hindu năm 1948, và sự lựa chọn hình ảnh Gandhi của Martin Luther King Jr. làm hình mẫu cho phong trào dân quyền Hoa Kỳ đã bảo vệ ông khỏi những soi xét chỉ trích. Nhà văn Pháp Romain Rolland gọi Gandhi là “một á thần không bất tử” năm 1924 trong một “tiểu sử các vị thánh”, tóm lược tinh thần của tất cả các bài viết về ông. Người ta thường lấy những hạt cát bám vào chân của Gandhi như thánh tích, và các nhà tiểu sử học hiện đại cũng có vẻ tôn kính ông như thế. Lelyveld không là ngoại lệ, ông bào chữa cầu kỳ cho Gandhi qua từng giai đoạn của cuốn sách được nghiên cứu kỹ và diễn giải rất tốt này.

Bốn chiến dịch lớn của đời Gandhi: thống nhất Hồi giáo – Hindu, chống nhập khẩu vải sợi Anh, chấm dứt phân biệt đẳng cấp Candala, và đuổi người Anh khỏi tiểu lục địa – chỉ có điều cuối cùng thành công, đơn giản chỉ vì Đế chế Anh đã gần sụp đổ – lúc đó lãnh đạo bởi Clement Attlee, người vốn chống chủ nghĩa thực dân – và dù sao đi nữa cũng thực sự muốn rời bỏ Ấn Độ sau Thế chiến mệt mỏi.

Không phải là một kỷ lục cho ai đó, người được dành cho “quyền quyết định duy nhất” ở Đảng Quốc Đại Ấn Độ từ tháng 12.1921, nhưng không như các chính trị gia khác, Gandhi không thể bị đánh giá bởi kết quả thực tế, vì ông là “Linh hồn Vĩ đại” (Mahatma tiếng Hindi nghĩa là Linh hồn Vĩ đại, cái tên do nhà thơ R. Tagore đặt cho ông).

https://hoangduongnt.wordpress.com/2011/04/28/gandhi-the-mortal-demi-god/

Phật giáo Thinking Việt Nam học

Tạp chí Heritage của Vietnam Airlines có “làm nhục trái tim người Myanmar”?

Tà áo dài trên bìa Tạp chí Heritage của Vietnam Airlines gây tranh luận.
Tà áo dài trên bìa Tạp chí Heritage của Vietnam Airlines gây tranh luận.

Sự việc diễn ra từ ngày 18-11, một nickname có tên Venerable Nayaka đăng tải trên trang facebook cá nhân của mình sự bức xúc về trang bìa tạp chí tạp chí Heritage.

“Gửi các hãng hàng không Việt Nam, các nhà thiết kế và những người mẫu. Người Myanmar chúng tôi thực sự rất khó chịu về bức ảnh này. Shwedagon là nơi tôn giáo linh thiêng của chúng tôi và các phật tử, và có những di tích cần được tôn trọng.

Các bạn làm ơn chấm dứt ngay việc cư xử thiếu tôn trọng xúc phạm tới văn hóa và tín ngưỡng của người khác. Làm ơn đừng dùng bức ảnh về Shwedagon để in lên áo dài cho  phụ nữ mặc. Các bạn thực sự làm nhục trái tim người Miến Điện.

Các bạn có thể nhìn cách chúng tôi tôn trọng tôn giáo ở mọi nơi. Chúng tôi không thể cho phép mọi người, những người mặc quần áo ngắn để lên chùa, thậm chí là người địa phương hay du khách.

Còn bây giờ, những cô gái Việt Nam các bạn lại mặc trang phục áo dài truyền thống có hình chùa Vàng. Thật là lố lăng. Những người Miến Điện chúng tôi luôn tôn trọng mọi người Việt Nam khi chúng tôi gặp ở mọi nơi nhưng các bạn thì lại không.

Làm kinh doanh hay thương mại thì phải rất nhạy cảm để thu hút sự chú ý của mọi người. Bởi vậy, nhân danh người Miến Điện, tôi thực sự rất khó chịu và sẽ báo cáo với đại sứ Việt Nam tại Yangon cũng như báo cáo lãnh sự quán của chúng tôi tại Việt Nam và các đại lý của hãng hàng không của Vietnam Airlines ở Yangon.

Làm ơn hãy hành động ngay để chấm dứt việc này. Thực sự thấy xấu hổ cho việc tiếp thị của hãng. Tôi không thể nói lên lời nào nữa”.

Cùng với những lời chỉ trích trên, Venerable Nayaka đăng kèm 9 hình ảnh bìa tạp chí Heritage Fashion và một số trang bên trong có hình người mẫu Việt Nam mặc áo dài có hình chùa Vàng.

Theo thông tin ghi trên tạp chí, thì bộ trang phục trên, do người mẫu Hồng Quế mặc, được thiết kế bởi Thái Tuấn, chụp tại Mù Cang Chải, Yên Bái. Tạp chí được phát hành tháng 11-2015.

Cộng đồng mạng chia sẻ thông tin này. Đến ngày 20-11, có gần 2.200 lượt chia sẻ thông tin của Venerable Nayaka.

Như Tuổi Trẻ đã đưa tin, ngày 20-11, Ban biên tập tạp chí Heritage đã có thư ngỏ gửi các cơ quan truyền thông, giải thích về sự việc, thừa nhận “việc chọn lựa hình ảnh chùa tháp trên áo dài truyền thống đã làm cho một bộ phận độc giả không hài lòng và có những phản ứng trái chiều không tích cực trên trang facebook của một số cá nhân”.

Đồng thời Ban biên tập Heritage cũng “nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc sử dụng các hình ảnh mang tính biểu tượng tôn giáo”.

Chùa Shwedagon ở Yangon (Myanmar) có lịch sử 2.500 năm, được coi là ngôi chùa linh thiêng nhất Myanmar. Tại đây còn lưu giữ những báu vật thiêng liêng đối với các tín đồ Phật giáo.

V.V.TUÂN

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20151120/tap-chi-heritage-cua-vietnam-airlines-co-lam-nhuc-trai-tim-nguoi-myanmar/1006372.html
Dear Vietnamese Airlines ,
designers and models.
We Myanmar people really got upset for this photo.
Shwedagon is Holy place of a religion and Buddha hair ,robes,and other relics were enshrined ..
Plz avoid the disrespectful behavior which insult other people’s culture and beliefs..
Plz don’t use the pictures of Shwedagon
Pagoda for women wearing.
is that your inflight magazine?????
You guys really fuck to all our burmese people heart.
U can see how we respect on religious in everywhere
We can’t allow everyone who wears short skirts and pants to climb up to the pagoda even u r local or tourist
Now your vietnamese girl wear pagoda as your traditional dress.
it’s very ridiculous
We burmese respect each and everyone of vietnamese when we meet everywhere but you guys are not.
Doing business or marketing is very sensitive to attract people.
So I really upset on behalf of Burmese and will report to your vietnam embassy in Yangon as well as report our embassy in Vietnam more over your airline office in Yangon.
please do some action in urgent for this matter.
Really shameful for your company marketing
Speechless
Venerable Nayaka

Đại diện Ban biên tập tạp chí Heritage cho biết bộ sưu tập áo dài mang tên gọi “Nét đẹp Á Đông” được đăng trang bìa và trong nội dung trên số Heritage Fashion tháng 11-2015 là do Lụa Thái Tuấn thiết kế, với tình cảm trân trọng tà áo dài Việt Nam cũng như trân trọng những danh lam thắng cảnh của châu Á nói chung.

Hình ảnh chùa tháp trên áo dài truyền thống cũng là cách giới thiệu đặc trưng tín ngưỡng văn hóa Phật Giáo của các vùng đất Châu Á.

Ý thức được sự khác biệt trong văn hoá thể hiện qua những góp ý này, ban biên tập tạp chí thu hồi tất cả ấn bản Heritage Fashion số tháng 11-2015, đồng thời gửi thông điệp xin lỗi tới các độc giả đã quan tâm góp ý.

Theo đó, Ban biên tập Tạp chí Heritage nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc sử dụng các hình ảnh mang tính biểu tượng tôn giáo. Tạp chí Heritage khẳng định “luôn đặt sự kính ngưỡng và tôn trọng tất cả thánh tích thờ tự của các tôn giáo cũng như những tín ngưỡng tâm linh và văn hóa của mỗi quốc gia trên thế giới trong tôn chỉ hoạt động”.

Trong khi đó, việc các nhà thiết kế trang phục (không riêng gì áo dài) lấy cảm hứng và đưa hình ảnh các công kiến trúc nổi tiếng, di sản văn hóa thế giới lên mẫu thiết kế của mình không phải là chuyện lạ.

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20151120/in-hinh-ao-dai-phan-cam-vietnam-airlines-thu-hoi-tap-chi-heritage/1006330.html

Lịch sử tư tưởng phương Đông Phật giáo

NIẾT BÀN

Nguyễn Chính Kết, Việt Nam

Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan

Sáu cảnh giới trên hay lục đạo là những cảnh giới có sướng có khổ, có vui có buồn, có cảnh sướng nhiều khổ ít, có cảnh vui ít buồn nhiều. Ðó là vòng luẩn quẩn như một mê cung hết sức phức tạp, làm cho các chúng sinh trong đó muôn đời hết leo lên lại lộn xuống, hết lộn xuống lại leo lên, từ kiếp này sang kiếp khác. Cho tới một kiếp nào đó, do tu tập trí tuệ trước đó nhiều kiếp, có chúng sinh giác ngộ được mình đang sống trong cái vòng đảo điên ấy và muốn tìm đường thoát khỏi. Những chúng sinh đã thoát khỏi vòng đảo điên ấy là các vị Phật. Và tình trạng hay cảnh giới mà các vị Phật ấy đang sống là Niết Bàn. Vậy Niết Bàn là gì?

Trước hết, Niết Bàn là một “trạng thái”, tạm gọi như thế, có thực, không phải là trạng thái hư vô (néant). Vì là một thực tại chỉ có những người đắc đạo mới chứng ngộ được, và không có một kinh nghiệm nào tương đương với những kinh nghiệm của người thường, nên Ðức Phật chỉ có thể diễn tả thực tại nay bằng những phủ định: nó không phải là cái này hay cái kia, chứ không thể xác định nó là cái gì. Do đó, những người chưa hiểu nhiều về Ðạo Phật thường quan niệm Niết Bàn là một cái gì tiêu cực, thậm chí đồng hóa nó với hư vô nữa. Ta thử minh họa điều đó bằng một thí dụ. Ðối với ai có mắt sáng như chúng ta, thì mầu sắc là một thực tại hết sức thiết thực, hoàn toàn tích cực. Nhưng nếu ta lạc vào một xứ gồm toàn những người mù từ lúc bẩm sinh, mù từ thời tổ tiên bao đời trước. Vì thế, không ai có một kinh nghiệm gì về màu sắc cả. Nếu ta phải diễn tả cho họ về màu sắc thì ta phải nói màu sắc là gì? cái gì tương đối tích cực để diễn tả về màu sắc thì đều vượt khỏi tất cả những kinh nghiệm họ có được. Và họ sẽ có khuynh hướng nghĩ màu sắc là cái này cái nọ mà họ có thể quan niệm được theo kinh nghiệm họ đã có. Như vậy chắc chắn họ sẽ quan niệm sai về màu sắc, khiến ta phải phủ nhận rắng màu sắc không hề là những thứ đó, ta không thể làm khác hơn. Thế là họ bắt đầu nghĩ rằng màu sắc là hư vô, là một cái gì hết sức tiêu cực. Rất nhiều “nhà Phật học” Tây Phương khi thấy Phật Tổ diễn tả Niết Bàn bằng cách phủ nhận tất cả, liền có thái độ tương tự như những người mù trên.

Vậy Niết Bàn là một thực tại có thực, rất tích cực, nhưng siêu thế, siêu nghiệm, không thuộc bình diện hiện tượng, nên bất biến, vĩnh cửu, bất khả tư nghị. Ðức Phật đã mô tả Niết Bàn bằng các từ ngữ như: Vô Tận, Bất Tùy Thế, Vô Song, Tối Cao, Tối Thượng, Bỉ Ngạn (đến bờ bên kia), Chỗ Nương Tựa Tối Thượng, Chu Toàn, Ðảm Bảo, Hạnh Phúc, Duy Nhất, Phi Nhân, Bất Khả Diệt, Tuyệt Ðối Thanh Tịnh, Siêu Thế, Vĩnh Cửu, Giải Thoát, Vắng Lặng, v.v… Nếu đem so sánh những thuộc tính mà Ðức Phật dùng để diễn tả Niết Bàn với những thuộc tính mà người Kitô hữu dùng để diễn tả Thiên Chúa, ta thấy có sự trùng hợp rõ rệt. Ðương nhiên ta đừng vội đồng hóa hai Thực tại đó, vì cũng có những thuộc tính khác biệt. Nếu ta cho rằng Thiên Chúa là tích cực, thậm chí tích cực hơn tất cả những gì tích cực nhất, thì rõ ràng một thực tại có những đặc tính tương tự như thế không thể là tiêu cực được.

Niết Bàn là mục tiêu cứu cánh của Ðạo Phật, cũng là cứu cánh của tất cả mọi chúng sinh. Niết Bàn khác với Thiên Ðàng của Kitô Giáo ở chỗ: Mọi chúng sinh, dù hiện tại có độc ác hay thấp kém tới đâu, thì cuối cùng cũng đạt tới Niết Bàn, sau khi đã được tôi luyện qua hằng hà sa số kiếp trong lục đạo. Thật vậy, Phật Tổ đã định nghĩa: “Chúng sinh là Phật sẽ thành”, nghĩa là chúng sinh đều sẽ là thành viên của Niết Bàn. Còn Thiên Ðàng của Kitô Giáo chỉ dành cho những người sống tốt lành xứng đáng là Con Cái Chúa ở trong kiếp sống duy nhất này, hoặc vào giây phút cuối cùng của đời sống đã trở nên như thế. Quan niệm xưa của Giáo Hội còn hạn chế số người vào Thiên Ðàng hơn nữa: “Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ”. Số phận của những ai không được vào Thiên Ðàng thì thật là tuyệt vọng. Còn những ai chưa đạt được Niết Bàn thì không chỉ hy vọng mà còn chắc chắn sẽ có ngày đạt được như một điều tất yếu xảy ra. Cho dù mức độ trọn hảo phải có để đạt được Niết Bàn cũng rất cao, cao đến độ không có chúng sinh nào chỉ tu luyện trong một vài kiếp sống mà đạt được. Thiên Ðàng là một phần thưởng do Thiên Chúa ban do lòng nhân lành và đại độ của Ngài. Còn Niết Bàn không do ai ban thưởng và cũng không tùy thuộc ơn huệ của ai cả, mà là do định luật tất yếu của tự nhiên, tương tự như hễ ăn thì no, không ăn thì không no: no là kết quả tất yếu của việc ăn chứ không do ai ban cả.

Bản chất Niết Bàn thế nào không được Phật Tổ định rõ vì ngôn ngữ của loài người không đủ ý niệm để diễn tả, chỉ biết đó là một thực tại tốt đẹp vô song, là mục tiêu tối thượng của Phật Giáo. Tuy nhiên, nguyên nghĩa của tiếng Niết Bàn mang hình thức phủ định, do tiếng Bắc Phạn là NIR-VANA. NIR là không (phủ định), VANA là ái dục, là sợi dây nối liền hai đời sống. Nirvana hay Niết Bàn là sự dứt bỏ, tách rời (NIR) ra khỏi ái dục (VANA), sự thèm khát nhục dục. Ngày nào chúng sinh còn bị ái dục hay luyến ái trói buộc, làm động lực cho mọi hành động của mình, ngày đó chúng sinh còn tạo thêm nghiệp mới, và nghiệp này tất yếu phải trổ sinh quả, khiến cho chúng sinh phải tiếp tục sinh tử tử sinh để có điều kiện cho quả ấy trổ sinh. Theo giáo lý Phật Giáo, ái dục chính là đầu mối, là yếu tố quan trọng nhất khiến cho hành động của họ trở thành nghiệp, nghiệp tốt cũng như nghiệp xấu. Cả hai loại nghiệp đều làm cho vòng sinh tử tiếp tục mãi. Chỉ khi nào không còn ái dục nữa thì hành vi của chúng sinh không còn tạo nghiệp, không còn tiếp tục được nữa, tức ra khỏi vòng sinh tử luân hồi, lúc đó ta thành đạt đạo quả Niết Bàn. Như vậy, nguyên nghĩa của từ NIẾT BÀN hay NIRVANA không nói lên bản chất của Niết Bàn, chỉ nói phương thế để đi đến Niết Bàn là diệt trừ ái dục.

Theo Phật Giáo, ái dục hay lòng ham muốn là nguồn phát sinh ra mọi đau khổ trên trần gian. Ham muốn đòi hỏi phải được thỏa mãn. Nếu không được thỏa mãn thì đau khổ. Nếu được thỏa mãn thì cảm thấy hạnh phúc, nhưng hạnh phúc này không kéo dài, vì ham muốn không dừng lại ở một chỗ. Tâm lý con người cũng như mọi chúng sinh là “được voi thì đòi tiên”, “lòng tham không đáy”. Không ai được thỏa mãn ham muốn rồi mà hạnh phúc lâu dài cả, vì họ lại mong muốn một cái khác và nghĩ rằng mình chỉ được hạnh phúc khi được thỏa mãn điều đó. Cứ như vậy mãi. Vả lại, khi đã đạt được điều mong muốn nào thì phải lo bảo vệ và giữ nó, đó cũng là một điều khổ. Giữ không được mà phải để cho mất lại còn đau khổ hơn nữa. Chính vì vậy mà các nhà hiền triết đông cũng như tây đều khuyên con người nên giảm bớt ham muốn thì cuộc sống sẽ dễ có hạnh phúc hơn. Về vấn đề giảm bớt lòng ham muốn, Phật Giáo còn triệt để hơn nữa. Không phải chỉ là giảm bớt mà là tiêu diệt mọi ham muốn, thậm chí cả lòng ham muốn vào Niết Bàn nữa. Vì ham muốn này đòi hỏi được tiếp nối bởi một ham muốn khác, nên chúng tạo nên một nghiệp lực lôi kéo chúng sinh tái sinh hết kiếp này sang kiếp khác để những ham muốn đó được thỏa mãn. Chúng ta có thể cảm nghiệm lực đó khi ta ham muốn điều gì. Rõ ràng lòng ham muốn đó có năng lực thúc đẩy ta chịu khó, và cố gắng tạo mọi điều kiện để được thỏa mãn. Ta không bao giờ muốn chết khi đang ham muốn và khi ham muốn chưa được thỏa mãn. Phải sống để được thỏa mãn đã. Do đó, ham muốn khiến chúng sinh cứ luẩn quẩn mãi trong vòng sinh tử luân hồi. Vì thế, muốn thoát khỏi vòng đó, phải diệt trừ ham muốn.

Nhưng muốn đi đến Niết Bàn, tức muốn giải thoát, thì chúng sinh phải mong muốn điều đó cách mãnh liệt. Phải ham muốn thật mãnh liệt sự giải thoát đó, người ta mới có động lực để dẹp đi mọi ham muốn khác, và thực hiện con đường tu tập. Nếu không có lòng ham muốn mãnh liệt đó, người ta sẽ không bao giờ dẹp được các ham muốn khác. Nhưng cuối cùng ham muốn đó cũng phải bị tiêu diệt mới có thể giải thoát được. Ham muốn Giải Thoát hay Niết Bàn là hình thức cao đẹp nhất của Ái Dục, và ái dục này vẫn tác động như bất kỳ một ái dục nào khác. Nhưng nhờ ham muốn Niết Bàn, ta mới trừ khử được tất cả mọi ái dục đến mức chỉ còn có một. Do đó mong muốn Niết Bàn là mong muốn cuối cùng, cao thượng nhất. Khi chỉ còn một mong muốn duy nhất này, trí huệ ta sẽ phát triển tới mức độ rất cao do tâm trí không còn bị những ham muốn tầm thường chi phối. Lúc đó ta sẽ giác ngộ và từ bỏ ham muốn cuối cùng đó. Và khi đã được Niết Bàn rồi thì lòng ham muốn đó cũng như mọi ham muốn khác không thể hồi sinh.

Chúng sinh sở dĩ luẩn quẩn mãi trong vòng luân hồi đảo điên là vì chúng sinh đã để tâm trí mình trụ vào những sự vật vô thường, chóng qua, có sinh có tử. Ðó là những thực tại trong thế giới hiện tượng mà người ta cảm nghiệm được, thấy được nên cho rằng có. Và người ta sống và ham muốn với những thực tại đó. Vì những thực tại này hay thay đổi, nay này mai khác, khi thì phù hợp với những ước muốn của chúng sinh, khi thì ngược lại, nên chúng sinh cũng bị thay đổi đảo điên theo: khi vui khi buồn, khi sướng khi khổ rất thất thường, tâm trí không được ổn định an lạc, tất cả mọi niềm vui đều chóng qua, sớm nhường chỗ cho những buồn phiền đau khổ. Còn chạy theo những thực tại vô thường bằng những ham muốn của mình, chúng sinh còn phải ngụp lặn trong vô thường, sẽ trôi lăn mãi trong lục đạo. Muốn hiện hữu của mình an định, không còn trôi lăn trong những cái vô thường, tâm trí chúng sinh phải an trụ nơi Thực Tại Thường Hằng Bất Biến, trong chính bản thân mình cũng như trong thế giới vạn vật, đồng thời hiệp nhất, trở nên một Thực Tại đó. Càng hiệp nhất với Thực Tại Vô Sinh Bất Diệt ấy, chúng sinh càng ít bị những thực tại vô thường chi phối, ảnh hưởng. Càng sống với Thực Tại Duy Nhất ấy, càng hiệp nhất với Thực Tại ấy, chúng sinh càng nhận ra rằng nơi bản thân mình, chỉ còn có một Thực tại ấy duy nhất sống động, hiểu biết, hành động, còn “cái tôi” mà từ trước đến giờ mình vẫn tự nhận là mình thì chưa từng hiện hữu bao giờ. Ðó là “vọng ngã” (cái tôi giả). Nơi bản thân, cái thực sự hiện hữu từ xưa đến giờ chỉ là Chân Ngã (Cái Tôi đích thực). Cái “vọng ngã” và Chân Ngã chỉ là một, chưa bao giờ là hai. Nhưng sự thật đó chỉ mới được giác ngộ sau một thời gian tu tập trí tuệ, và sống hết mình với Thực Tại Bất Biến Thường Hằng ấy. Giác ngộ như thế gọi là “kiến tánh”, là thấy được bản tánh đích thực của mình, tức “bản lai diện mục” của mình. Phải trải qua một quá trình như thế, chúng sinh mới có thể ra khỏi vòng luân hồi luẩn quẩn và đi vào cảnh giới Niết Bàn, cảnh giới vô sinh bất diệt.