Lịch sử tư tưởng phương Đông
庄子说 Zhuangzi Speaks
老子「中国经典动画」
TAO TE CHING – The Book Of The Way
The Tao Te Ching was written in China roughly 2,500 years ago at about the same time
when Buddha expounded the Dharma in India and Pythagoras taught in Greece. The Tao
Te Ching is probably the most influential Chinese book of all times. Its 81 chapters have
been translated into English more times than any other Chinese document.
The Tao Te Ching provides the basis for the philosophical school of Taoism, which is an
important pillar of Chinese thought. Taoism teaches that there is one undivided truth at
the root of all things. It literally means:
= tao (the way)
= te (strength/virtue)
= ching (scripture)
The verses of the Tao Te Ching are written in ancient Chinese, which is very different from
English. Abstraction and logic are not distinguishing marks of the ancient Chinese
language, hence, it is less rigid than English and there are very few formal or grammatical
structures. The classical Chinese word does not stand for a single concrete idea, but it
evokes associations of different ideas and things. Quite a few Chinese words can be used
as nouns, adjectives and verbs at the same time. Thus sentences composed of various
signs have a sort of suggestive power, evoking emotions, ideas and pictures.
It is almost impossible to render an ancient Chinese text properly in English without
losing some part. Different translations of the Tao Te Ching may appear as completely
different texts. In order to understand the original text fully it is helpful to read various
translations that consummate each other. The alternative is, of course, to learn Chinese.
This document uses the translation of Tolbert McCarroll.
Confucius 1
Confucius 2
Confucius Chinese Dance/Musical
BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC QUA CÁC THỜI KỲ
Posted on September 18, 2015
Đạo diễn Kim Ki Duk: “Thế giới chúng ta đang sống là thực hay mơ?”
Posted on September 16, 2015Đạo diễn Kim Ki Duk: “Thế giới chúng ta đang sống là thực hay mơ?”
Kim Ki Duk (Kim Cơ Đức, sinh năm 1960) là đạo diễn Hàn Quốc nổi tiếng không xuất thân từ một trường đào tạo điện ảnh chính quy, với phong cách độc đáo mang lại bản sắc riêng không chỉ trong điện ảnh Hàn Quốc, mà cả thế giới. Phim của ông xoáy sâu vào tâm lý con người, đôi khi vượt quá sự cảm nhận thông thường. Nó cho thấy một cách nhìn, một thế giới quan khác lạ của Kim Ki Duk.
Ông làm phim đầu tay vào năm 1996, Crocodile, kể về một người đàn ông chuyên thu thập xác những người tự sát. Những bộ phim của Kim Ki Duk về đề tài phụ nữ luôn bị lên án mạnh mẽ.
Năm 2000 bộ phim The Isle miêu tả về cuộc sống, tình cảm của những cô gái điếm đã đoạt giải Quạ vàng của Liên hoan phim viễn tưởng quốc tế của Bỉ, giải Netpac cho Phim đáng chú ý nhất Liên hoan phim Venezia.
![]() |
|
Phim Bad guy |
Phim Address Unknown (2001) đoạt giải Đại Linh của điện ảnh Hàn Quốc cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất và nhận đề cử Sư tử vàng Liên hoan phim quốc tế Venice; phim Bad guy (2001) đoạt giải Đại Chung cho Nữ diễn mới xuất sắc nhất, giải Orient Express tại Liên hoan phim quốc tế Catalonia của Tây Ban Nha và nhận đề cử Gấu Vàng Liên hoan phim quốc tế Berlin; phimThe Coast Guard (2002) đoạt giải FIPRESCI, giải Netpac tại Liên hoan phim quốc tế Karlovy Vary, giải Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất cho Jang Dong Gun tại Liên hoan phim Châu Á – Thái Bình Dương; phim Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring (2003) đoạt giải C.I.C.A.E., Don Quixote và giải thưởng của Ban giám khảo trẻ tại Liên hoan phim quốc tế Locarno, giải thưởng Khán giả bình chọn của Liên hoan phim quốc tế San Sebastian, giải Đại Chung phim xuất sắc nhất 2004; phim Samaritan Girl (2004) đoạt giải Gấu Bạc cho Đạo diễn xuất sắc nhất Liên hoan phim quốc tế Berlin; phim 3-Iron(2004) đoạt giải Golden Spike tại Liên hoan phim quốc tế Valladolid, giải FIPRESCI, giải Sư tử vàng nhỏ, giải thưởng danh dự SIGNIS, giải Đạo diễn đặc biệt tại Liên hoan phim Venice….
Hyong Shin Kim & Carl Wakamoto thực hiện phỏng vấn
Câu chuyện trong bộ phim 3-Iron (Nhà rỗng) được chia thành 3 phần. Có thể nhận thấy rõ hơn kiểu chia thành nhiều phần trong các phim gần đây của ông,Samaritan Girl và Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi lại Xuân – vì những tựa đề ẩn trong những bộ phim này?
Với tôi, mỗi cảnh quay chiếc ghe đánh cá trong The Isle (Đảo) giống như một phần vậy. Phần đầu của bộ phim này nói về những ngôi nhà trống và được chủ nhân của chính chúng tìm ra. Phần thứ hai là tiếp diễn chứ không phải khám phá, bằng cảnh huấn luyện trong nhà tù, và phần cuối cũng không phải là sự khám phá mặc dù có nhiều người xuất hiện. Bằng cách này, tôi chia hình ảnh phim thành 3 cấp độ. Đây là quá trình thuyết phục dần dần khán giả. Chia nó thành 3 phần là cần thiết vì mỗi yếu tố sẽ dẫn dắt khán giả bằng cách giúp họ nghĩ “à, cái này có thể xảy ra lắm chứ”. Thông qua những mẩu chuyện và bộ phim này, tôi muốn chỉ ra rằng ranh giới giữa thực tại và tưởng tượng là rất mơ hồ.
Ông có từng nghĩ đến việc sử dụng tựa đề trong bộ phim 3-Iron?
Không, tôi không nghĩ đến điều đó. Nếu tôi dùng tựa đề, có thể phần đầu là “ những ngôi nhà rỗng”, phần sau “làm ma” và phần thứ ba là “hồn ma”. Nhưng tôi không nghĩ điều đó là cần thiết.
Cảnh nhà tù nơi Tae-suk “tập luyện làm ma” thật là đẹp. Mục đích chính của ông trong cảnh này là gì?
![]() |
|
Đạo diễn Kim Ki Duk |
Tôi muốn hình dung thấy qua phim ảnh, liệu một người có khả năng giấu mình sau lưng người khác được hay không. Và nếu đúng là có thể, người đó có thể vào một ngôi nhà mà những người khác đang ở. Trước khi Tae-suk nhận ra khả năng đó, anh ta phải lẻn vào những ngôi nhà trống để không bị người ta phát giác. Nhưng sau đó trong phần còn lại của bộ phim, Tae-suk viếng những ngôi nhà khác, hết nhà này đến nhà kia một cách thứ tự thậm chí cả khi có người trong nhà, và anh có thể tránh bị dòm thấy. Bởi vì anh ta đoan chắc là anh ta vô hình trước mắt mọi người trong nhà, và anh ta có thể đến ngôi nhà của Sun-hwa vào hồi kết. Cảnh trong tù là cần thiết và quan trọng như một mốc chuyển tiếp đến cảnh ngôi nhà của Sun-hwa ở hồi kết.
Tôi có một số câu hỏi về hành động của Sun-hwa. Đầu tiên, lý do để chặn cú đánh golf của Tae-suk là gì?
Đó là bạo lực. Vì Sun-hwa chặn anh ta lại, anh ta thay đổi góc độ và dẫn đến chuyện một người bị thương. Nếu Sun-hwa không chặn anh ta thì ắt chuyện đã không xảy ra. Nhưng vì hành động của Sun-hwa, thay đổi hướng đánh mà dẫn đến chuyện này. Thật khôi hài. Những ngẫu nhiên có thể phá ngang mọi ý định. Đó là cuộc sống thôi, dù ý định có hay ho gì chăng nữa.
Sao cô ấy lại đem khảm bức hình của mình?
Cô ấy muốn thoát khỏi quá khứ. Cô ấy muốn tự thay đổi hình ảnh của chính mình.
Cô ấy đã làm vỡ cái cân/mức cân bằng mà Tae-suk sửa lại lúc trước?
Cô ấy nghĩ rằng tình trạng vượt khỏi tầm kiểm soát sẽ tốt hơn. Vì khi ngoài kiểm soát, mức cân bằng sau đó có thể là con số 0. Mặc dù chúng ta cố gắng nhận biết cái ý nghĩa, nhưng nghĩa này có thể không còn quan trọng khi thời gian đã trôi qua. Sun-hwa có lẽ nhận ra điều đó, vì thế trọng lượng chẳng còn quan trọng với cô nữa. Do đó, trọng lượng của 2 người có thể sẽ chỉ là con số 0.
Với tôi, tăng thêm sức tưởng tượng của cô ấy là một cố gắng.
Có thể giải thích theo cách đó. Ý nghĩa có thể rất khác nhau với mỗi khán giả tùy thuộc vào thế giới quan của chính bản thân họ.
Lần đầu khi xem bộ phim này, tôi nghĩ có lẽ đó là sự tưởng tượng của Sun-hwa. Nếu đúng thế, có 3 cách suy diễn khác nhau có thể chấp nhận được. Có thể từ lúc bắt đầu cho đến kết thúc phim là sự tưởng tượng của cô, hay là tưởng tượng sau chuyến viếng thăm đầu tiên của Tae-suk tới thăm nhà cô, hoặc sau cái cảnh sở cảnh sát.
Mỗi cách diễn dịch của người xem đều có thể đúng. Nhưng với tôi, cũng có thể là sự tưởng tượng của Tae-suk. Sự tưởng tượng xuất hiện từ ý nghĩ cầu mong người ta sẽ ở trong những ngôi nhà trống.
Tôi tò mò về ý nghĩa những vật thể trong bộ phim này. Bộ phim bắt đầu với cảnh quay một bức tượng người phụ nữ (được thấy qua những cú đập bóng golf). Một bức tượng sư tử cũng được quay trong cảnh ngôi vườn nơi chồng Sun-hwa đang tập golf. Thêm nữa, những bức tượng đó cũng có trên sàn khi Sun-hwa và chồng đang ngồi trên trường kỷ trong phòng khách.
Những bức tượng điêu khắc có sẵn trong ngôi nhà nơi chúng tôi quay phim.
Không có ý nghĩa gì đặc biệt sao?
Không hẳn. Tôi chọn những vật thể mà tôi muốn quay giữa những thứ có sẵn trong các ngôi nhà, chỗ chúng tôi chọn quay phim. Ngôi nhà rất sang trọng và giàu có, và có những bức điêu khắc cẩm thạch. Tôi thấy chúng rất đẹp, hợp với khung cảnh và làm cho ngôi nhà trở nên quý phái hơn.
Tôi có cảm tưởng bức tượng người phụ nữ là hình ảnh của Sun-hwa.
Tùy người xem thôi. Ngay cả khi nó mang hình ảnh đó, tôi chỉ quay nó như thế thôi.
Tôi không muốn đi quá sâu vào chi tiết vì có người chưa được xem bộ phim, nhưng kết thúc phim ám chỉ một “chỗ sống chung kì dị”. Những ngôi nhà, gia đình và việc kết hôn có ý nghĩa gì với ông?
Chúng dường như tạo ra một cái khung lớn cho sự giao tiếp. Tôi nghĩ sống trong một gia đình là quá trình thực hiện những cuộc kiểm nghiệm cơ bản với tư cách một con người; đối xử với nhau như thế nào, làm thế nào, duy trì mối quan hệ trong một thời gian rất dài như thế, và làm thế nào hiểu được cấu trúc một gia đình mới khi xuất hiện thêm một đứa bé… cuộc kiểm nghiệm dựa trên mong muốn một cấu trúc bền vững chứ không hẳn là tái tạo lại cấu trúc. Tôi nghĩ gia đình kiểm tra được khả năng điều đó xảy ra như thế nào.
Thế thì, kết thúc phim có thể là một dạng khởi đầu mới hơn là một sự tái cấu trúc.
Có thể. Nhưng tôi không hoàn toàn đảm bảo nếu kết thúc là hạnh phúc hay bất hạnh. Từ quan điểm người chồng, đó là bất hạnh, và với những người muốn cái kết cục như thế, kết thúc có thể là hạnh phúc. Do đó, những cảnh vậy đôi khi có thể nghĩ theo cách nào đó tùy ý thôi.
Một số cảnh trong phim 3-Iron gợi cho tôi nhớ đến các bộ phim trước kia của ông (cảnh dòng sông Hàn bẩn thỉu trong The Crocodile (Cá sấu), ngôi nhà nổi trên nước trong 2 phim The Isle (Đảo) và Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi lại Xuân – cảnh chủ đạo, tên của Sun-hwa trong Bad Guy (Thằng tồi), v.v…). Bộ phim này có liên hệ nào với những bộ phim trước vậy?
Có vài cảnh tương tự vì tôi tạo ra chúng. Tôi nghĩ những điều tương tự đó là một dạng phong cách – phong cách xuất hiện thường xuyên trong phim của tôi. Trong Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi lại Xuân có thể có những cảnh ấn tượng và đặc biệt, và cũng tương tự như phim Bad Guy và các phim khác. Cũng như trong 3-Iron, có những cảnh tôi muốn diễn tả ý mình một cách sáng tạo hơn, theo cách riêng của tôi. Tôi nghĩ những cảnh tương tự như thế xuất phát từ phong cách mà tôi dùng làm phim.
Ông muốn gởi gắm điều gì thông qua bộ phim?
À, có thể là những lời nói ở cuối phim: “ Rất khó nói rằng thế giới chúng ta đang sống là thực hay chỉ là mơ”. Như trong phòng này, ngay bây giờ. Cuộc sống của chúng ta mơ hồ về những gì là đúng và những gì là sai. Thật ra, không có ranh giới rõ rệch giữa hai điều này, và đó chính là cách chúng ta sống. Những gì tôi muốn gởi gắm, là tình trạng lẫn lộn giữa việc tôi làm điều đúng hay điều gì đó sai vào một lúc nào đó.
Một khuynh hướng tranh luận trong những bài phê bình gần đây về các bộ phim của ông ở Hàn Quốc là liệu Kim Ki Duk có thay đổi hay không. Ông có nghĩ rằng phim ông sẽ thay đổi, hay ông nghĩ điều thay đổi là những bài phê bình chỉ trích ông?
Tôi nghĩ tranh luận là công việc của các nhà phê bình và giới báo chí. Theo ý tôi, những bài viết này theo cái lý luận là họ cần phát biểu ý kiến về điều này điều kia và gì gì sao đó, đó là công việc của họ và là tác phẩm của họ. Mặc dù tôi rất ít khi đọc các bài báo ấy, điều quan trọng là suy nghĩ của họ. Thậm chí tôi không biết liệu tôi có thay đổi hay không. Dù sao, cũng chẳng quan trọng. Với tôi chẳng cần phải rõ ràng là cái gì thay đổi hay tôi thay đổi.
Xin Ông nói đôi điều về bản thân và những bộ phim của ông trước khi chúng ta kết thúc cuộc phỏng vấn tại đây. Đối với ông làm phim là gì?
Mặc dù ngày nay có vô số thể loại phim, phim của tôi không thuộc loại hành động, bi kịch, hay thậm chí là phim nghệ thuật. Một người không mang một diện mạo duy nhất mà có một vẻ ngoài đa dạng. Tôi luôn quan tâm đến những diện mạo khác nhau của một con người. Giống như bóc một củ hành vậy, làm phim đối với tôi là một quá trình khám phá từng tầng từng lớp của từng người một. Tôi hi vọng khán giả thích suy nghĩ “đúng rồi, điều đó có thể xảy ra lắm” khi xem phim của tôi.
![]() |
|
Phim 3.Iron |
Sự thật về Kim Ki Duk
Nhà làm phim nổi tiếng đáng ghê tởm và gây nhiều hiểu lầm nhất của xứ Hàn có lẽ đang trong thời kỳ sung sức nhất. Giá mà bây giờ thế giới này thôi quấy nhiễu ông. APA bám sát từng bước đi của con người có motip [trong phim] quán xuyến từ cái lưỡi câu cá cho đến các câu lạc bộ chơi golf.
Kim Ki Duk bắt đầu sự nghiệp như là một họa sĩ, và sau đó trở thành nhà viết kịch bản phim nhận được nhiều giải thưởng, nhưng ông nổi tiếng nhất với tư cách là đạo diễn phim độc lập hàng đầu của Hàn Quốc. Ông lớn lên ở một làng quê nhỏ, và khi ông 9 tuổi gia đinh chuyển đến Seoul. Ông phải sớm nghỉ học, và làm việc trong nhà máy trước khi gia nhập hải quân, được đào tạo trở thành nhà truyền giáo, và sau đó đến Paris để vẽ tranh. Những tác phẩm đầy tính chất trải nghiệm của ông khám phá mặt đáy tối tăm của xã hội Hàn Quốc, đặc biệt tập trung vào mối quan hệ phức hợp giữa tình dục, bạo hành và quyền lực. Các tác phẩm của ông thường xuyên gây nên nhiều tranh cãi kích động và cũng nhận được không ít lời ngợi ca thán phục, và luôn luôn có tác động mạnh mẽ rõ rệt, căng thẳng và xáo động khác thường. Mặc dù được tiếp thu rất ít nền giáo dục ở trường cũng như không hề qua bất cứ khoá đào tạo đạo diễn nào, ông đã vươn lên trở thành một trong những đạo diễn quan trọng nhất ở Đông Á, giành được vô số giải thưởng cho tác phẩm của mình. Việc Kim tập trung vào những chủ đề đầy tính khiêu khích và phong cách độc nhất vô nhị đã làm ông trở nên xa cách với khán giả Hàn Quốc đương thời, nhưng lại biến ông thành đứa con cưng tại các đại nhạc hội, đặc biệt ở châu Âu. Đồng thời với những xáo động, sống sượng và đậm tính bản năng, các bộ phim của ông cũng được sản xuất bằng cảm thức phi thường về tính chất đặc biệt ở các chủ đề phim. – Jennifer Flinn
Các bộ phim của Kim Ki Duk, có căn cứ vào nghĩa trong tiếng Hàn:
Breath (Thở; 2007)
Time (Thời nay; 2006)
The Bow (Cánh cung; 2005)
3-Iron (Nhà rỗng; 2004)
Samaritan Girl (Nữ thánh Samarita; 2003)
Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring (Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi lại Xuân; 2003)
The Coast Guard (Hải ngạn tuyến; 2002)
Bad Guy (Thằng tồi; 2001)
Address Unknown (Địa chỉ không thừa nhận; 2001)
Real Fiction (Hiện trạng; 2000)
The Isle (Đảo; 2000)
Birdcage Inn (Đại hồng môn; 1998)
Wildlife Reservation Zone (Khu bảo tồn động vật hoang dã; 1996)
The Crocodile (Cá sấu;1996)
Theo TGDA
3-Iron (2004) – Hoang mang cuộc đời
Phim ảnh về cơ bản cũng là phản chiếu tâm hồn con người, có khi là sự sôi nổi, hào hứng, có khi là sự lắng đọng, suy tư. 3-Iron là một trong những phim của Kim Ki Duk và hầu hết những phim của đạo diễn này đều cần người xem lắng tâm hồn mình lại để hiểu được một phần rất nhỏ thông điệp trong phim, thậm chí mỗi lần xem lại ngẫm ra được những điều hay.
3-Iron là một bức tranh sáng tối thể hiện một cách mập mờ cuộc sống hoang mang vô định của một kiểu người, những cá biệt lạc lõng giữa cuộc đời ô trọc. Ở bất cứ xã hội nào, trong quá trình vận động và phát triển luôn có những con người đứng tách biệt, không tham gia vào guồng máy. Có thể họ thù hận, có thể họ chán nản, có thể họ thờ ơ, có thể họ mệt mỏi … dù vì lý do gì thì họ vẫn chọn kiểu sống nhờ nhờ, như những con sứa trong suốt, mờ ảo trôi lãng đãng trong đại dương bao la. Đối với họ, quá khứ không có, tương lai không cần suy nghĩ và hiện tại chỉ là chốn tạm mờ ảo như sương như khói.
Một cuộc đời hoang mangNhân vật chính trong phim của Kim Ki Duk luôn là một cá biệt độc đáo, u tối và phảng phất đâu đó mặt trái, sự tiêu cực của xã hội. Một chàng trai khỏe mạnh, trong độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời nhưng không hề có ý muốn sống một cuộc sống như những người bình thường. Chọn một cách sống phù du, sống tạm trong những ngôi nhà của người khác. Mỗi ngôi nhà tượng trưng cho một cuột đời và cuộc đời ngắn ngủi này kết thúc sau một đêm.
Chúng ta không biết vì sao nhân vật chính lại chọn kiểu sống như vậy, nhưng thực tế là anh đã chọn kiểu sống “mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”. Mỗi ngày anh lại hòa vào một cuộc đời khác nhau, diễn cái vai trong thế giới tự quy của bản thân mình. Khi ta cái gì cũng chọn cũng có nghĩa là ta không chọn cái gì cả. Kiểu sống của nhân vật chính là biểu hiện cho sự hoang mang, không xác định được phương hướng, không biết bắt đầu từ đâu và nên kết thúc như thế nào.
Tuy nhiên, mỗi “cuộc đời” của anh đều được anh thực hiện theo những trình tự nhất định và những thói quen nhất định, thói quen dọn dẹp và sửa chữa. Việc dọn dẹp và sửa chữa không chỉ đơn thuần là công việc ưa thích mà nó là sự phản ánh những mong muốn sâu kín, muốn dọn dẹp và sửa chữa lại cuộc đời mình. Những công việc lặp đi lặp lại mà không nhằm phục vụ cho mục đích gì thường là do những vết hằn trong tâm hồn gây ra.
Một cuộc tình vô vọng
Một nhân vật chính khác cũng có một cuộc đời hoang mang như chàng trai kia, một người vợ sống trong một ngôi nhà to lớn và đó cũng là cuộc đời tăm tối không lối thoát. Không như chàng trai là chọn kiểu mỗi ngày một cuộc đời, cô gái lại chọn kiểu cuộc đời ngày nào cũng như ngày nào. Và họ có điểm chung là chẳng có mong muốn gì cho tương lai của mình. Và nếu đã có điểm chung thì chắc chắn một lúc nào đó họ sẽ gặp nhau.
Cuộc tình trong phim không phải là cuộc tình đẹp nhưng nó lại hợp lý, mỗi bên đều tìm thấy thứ để an ủi cho trái tim mình. Dù là sự kết hợp này không phải là hoàn hảo, thậm chí còn mang màu sắc đáng thương nhưng nó vẫn có một giá trị, một ý nghĩa nào đó, để bổ sung, sửa lỗi cho những khiếm khuyết trong linh hồn đang dày vò chẳng hạn.
Họ đến với nhau và bắt đầu một cuộc sống vô định nhưng mang màu sắc mới. Tuy nhiên, màu sắc mới này vẫn không thể thay đổi được toàn cảnh gam màu u tối trước đây của họ. Một mối quan hệ không có gì đảm bảo và bắt nguồn từ những khiếm khuyết thì đều dẫn đến kết cục không mong đợi. Nhưng điều mà ta nhận thấy ở cuộc tình này dù là nó vô vọng nhưng không thiếu niềm tin, tin vào cái gì thì không biết nhưng họ vẫn tin, để có thể tiếp tục cuộc sống bên nhau. “Hôm nay ta cứ vui biết đâu ngày mai vẫn thế”.
Những hình ảnh ẩn dụ
Trong phim nào của Kim cũng có đầy các hình ảnh ẩn dụ, trong phim này cũng thế. Hình ảnh cả nhà kia đi du lịch về, đứa con cầm cây súng do chàng trai đã làm lại bắn vào người mẹ, mang ý nghĩa về tác hại của hành động là không thể lường trước được, có khi mục đích là vô hại nhưng hậu quả gây ra thì chính người tạo ra nó cũng không để ý đến. Và kiểu ẩn dụ này còn lặp lại một lần nữa với hậu quả gây ra khi đánh quả bóng golf.
Hình ảnh sửa lại cái cân để bước lên cân như thể hiện sự tìm kiếm con người thực của mình, đích xác là ở đâu, có tồn tại hay không. Hình ảnh cô gái dùng kéo cắt bức tranh và dán nó lại theo kiểu rất hỗn loạn nhưng lại có mục đích như thể hiện sự gay gắt và mong muốn sắp sếp lại các chi tiết cho phù hợp với cuộc sống của mình và bức tranh cũng thể hiện sự vỡ rách và chắp vá trong tâm hồn cô.
Một hình ảnh ẩn dụ xuyên suốt bộ phim là hình ảnh chàng trai cầm gậy đánh gôn đánh vào quả banh được cột chặt quanh thân cây, khi đánh nó cứ xoay vòng vòng thể hiện sự bế tắc trong cuộc đời của chàng trai, dù vùng vẫy cỡ nào cũng không thoát được mà cứ xoay vòng vòng lặp lại như thế. Hay là hình ảnh chàng trai trong trại giam cứ tìm cách trốn người giám thị, thể hiện sự mong mỏi thoát khỏi ánh mắt của người đời, sống một cuộc sống mà không ai có thể nhìn thấy mình, như người vô hình. Và còn nhiều hình ảnh ẩn dụ khác trong phim.
Một cái kết mơ màng
Với những phim như thế này, không thể nào có được một cái kết đóng và hợp lý mà thay vào đó là một cái kết gợi mở. Một cái kết vừa thực vừa mơ, có thể nó xảy ra hoặc có thể nó không xảy ra mà chỉ phản chiếu ước muốn của 2 nhân vật chính. Và ngay cả khi nó thực sự kết thúc như thế thì đó vẫn phảng phất sự hoang mang dù là lần tái hợp này có được những “nền tảng” tốt hơn. Một cái kết không khẳng định điều gì và nó cứ mơ màng trôi đi như thế, mặc cho ta phải suy nghĩ, suy đoán.
Không như những phim khác của Kim Ki Duk thường mang màu sắc dữ dội, gai góc, phim này ít có những vấn đề gây sốc mà nó như một góc nhìn bi thương về những con người lạc lõng không phương hướng và cách mà họ giải quyết vấn đề của mình trong tuyệt vọng. Có những lúc ta như lặng người đi để theo dõi câu chuyện không hồi hết của các nhân vật trong phim và có đôi khi ta tự hỏi, có nên chọn cuộc sống như thế không?
anbui@hdvietnam.comhttp://hdvietnam.vnhide.net/diendan/107-binh-luan-tu-do/883773-3-iron-2004-hoang-mang-cuoc.html
Khổng Tử – Confucius (2010) – by Hu Mei
Posted on September 14, 2015Confucius (2010 film)
Confucius (Chinese: 孔子) is a 2010 Chinese biographical drama film written and directed by Hu Mei, starring Chow Yun-fat as the titular Chinese philosopher. The film was produced by P.H. Yu, Han Sanping, Rachel Liu and John Shum.
Production on the film began in March 2009 with shooting on location in China’s Hebei province and in Hengdian World Studios in Zhejiang.
The film was scheduled to screen later in 2009 to commemorate the 60th anniversary of the founding of the People’s Republic of China, as well as the 2,560th birthday of Confucius himself. However, the release date was later moved to January 2010.
透視北京故宮紫禁城 Inside the Forbidden City, Beijing
Posted on September 12, 2015TÀI LIỆU MÔN LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG
Posted on September 9, 2015A. TÀI LIỆU BẮT BUỘC:
- Luận ngữ
- Lão Tử – Đạo Đức kinh
- Trang Tử – Nam Hoa kinh
- MAHABHARATA Sử Thi Ấn Độ
- Kinh Torah
- Kinh Koran
Các sách trên đều có nhiều bản dịch khác nhau, sinh viên tìm được bản nào có thể dùng bản đó.
B. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Trần Đình Hượu, Các bài giảng về tư tưởng Phương Đông (Lại Nguyên Ân biên soạn), Nxb ĐHQG , HN. 2001
- Lịch sử triết học Phương Đông, Nxb Chính trị Quốc gia . HN, 1998
- N . Konrat, Phương Đông và Phương Tây, những vấn đề triết học, lịch sử , văn học , Nxb Giáo dục . HN, 1997
- Edward .W. Said, Đông phương học, Nxb Chính trị Quốc gia .HN , 1998
- Will Durant, Lịch sử văn minh Ấn Độ, Trung tâm TT . ĐHSP , Tp HCM . 1989
- Will Durant, Lịch sử văn minh Trung Quốc, Trung tâm TT . ĐHSP , Tp HCM . 1989
- Will Durant, Di sản phương Đông, Công ty sách Thời đại và Nhà xuất bản Hồng Đức, 2014
- Lê Xuân Khoa, Nhập môn triết học Ấn Độ cổ đại, Trung tâm học liệu Bộ GD, Sài gòn , 1972
- Cao Xuân Huy, Tư tưởng Phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb Văn học . HN,
1995 - Trần Trọng Kim, Đại cương triết học Trung Quốc, Nxb Tp HCM , 1972
- Doãn Chính ( chủ biên ), Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại, Nxb CTQG. HN, 1998
- Doãn Chính ( chủ biên ), Giải thích các danh từ triết học sử Trung Quốc, Nxb GD.Tp HCM.1994
- Nguyễn Hiến Lê, Bài học Israel, Nxb Văn hóa, 1994
- Nguyễn Hiến Lê, Bán đảo Ả Rập, Nxb Văn hóa, 1994
- Phan Thu Hiền, Sử thi Ấn Độ tập 1, Nxb Giáo Dục, 1999
- Lê Phụng Hoàng (chủ biên), Lịch sử văn minh Thế giới, Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh, 1998
- Lê Phụng Hoàng (chủ biên), Lịch sử văn minh Thế giới, Nxb Giáo dục, 1999, 2000
- Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Hồng Bích, Nguyễn Văn Sơn, Lịch sử Trung Cận Đông, Nxb Giáo dục, 2000
- Paul Theroux, Phương Đông lướt ngoài cửa sổ (Dịch giả: Trần Xuân Thủy), Công ty phát hành: Nhã Nam, Nhà xuất bản: NXB Thế Giới, 2012
- Paramanhasa Yogananda, Tự truyện của một Yogi (Dịch giả: Thiên Nga), Công ty phát hành: Nhã Nam, Nhà xuất bản: NXB Lao Động, 07- 2014
- Baird T. Spalding, Hành Trình Về Phương Đông, Nxb Văn hóa Thông tin, 2015
- Bá Dương, NGƯỜI TRUNG QUỐC XẤU XÍ (Người dịch : Nguyễn Hồi Thủ)




























