Browsing Category

Literature

Film studies Văn học Trung Quốc Zhang YiMou 中文

CAO LƯƠNG ĐỎ – 《红高粱》

https://www.youtube.com/watch?v=9IjnwHdG-BQ

BỘ PHIM DỰA TRÊN TÁC PHẨM GIA TỘC CAO LƯƠNG ĐỎ CỦA MẠC NGÔN (TRUNG QUỐC).

 

用恶作剧的达观态度来演绎沉重得不能再沉重的历史

犹如一声霹雳,惊醒了西方人对中国电影所持的蔑视与迷幻

具有里程碑的意义,以极端的表现方法表现出过去电影中没敢表现的人的精神和张扬的个性

1987年出品

导 演:张艺谋

主 演:巩 俐

姜 文

滕汝骏

·第三十八届柏林国际电影节金熊奖

·第八届中国电影金鸡奖最佳故事片、最佳摄影奖等

·第十一届电影百花奖最佳故事片奖

·法国第六届蒙特利埃国际电影节银熊猫奖

·第八届香港电影金像奖十大华语片之一

Film studies Văn học Trung Quốc Zhang YiMou 中文

ĐÈN LỒNG ĐỎ TREO CAO CAO – 《大紅燈籠高高掛》

BỘ PHIM DỰA TRÊN TÁC PHẨM THÊ THIẾP THÀNH QUẦN CỦA TÔ ĐỒNG (TRUNG QUỐC).

91e90dee65740cfd41f08e282a54aaf0_300x450

  • Thể loại:                        Tâm Lý, Tình Cảm
  • Thời lượng:                 125 phút
  • Đạo diễn:                      Trương Nghệ Mưu
  • Diễn viên:                     Củng Lợi
  • Năm phát hành:          1992
  • Quốc gia:                      Trung Quốc
Film studies Văn học Trung Quốc Zhang YiMou 中文

SỐNG – TO LIVE – 《活著》

https://www.youtube.com/watch?v=ZB7HYhUpDz8

BỘ PHIM DỰA TRÊN TIỂU THUYẾT SỐNG CỦA DƯ HOA (TRUNG QUỐC)

 

■《活著》(英文:To Live),1994年中國電影,是一部改編自同名小說,由張藝謀執導,葛優、鞏俐領­­銜主演的電影。此片獲得1994年第47屆坎城電影節評審團大獎和最佳男演員獎。
■ 故事主角歷經中國近現代多個不同時代(從中國國民黨統治大陸末期的1940年代到文化­­大革命時期),歷經家國磨難坎坷,政治波動,父親、母親、兒子、女兒相繼離開人世,­而­始終頑強的活著。
■ 該片因涉及政治因素,對中國大陸解放後的若干政策多有諷刺,主人公的悲劇是在人民公社­­運動,大躍進運動的社會背景下產生的,有對中共諷刺的意味,所以未通過大陸有關管理­部­門的電影審查而至今未在大陸公映。

 

 

 

 

Literature Nguyễn Du Văn học

Mở rộng biên giới tiếp nhận “Truyện Kiều”

250 năm sinh thi hào Nguyễn Du:  Mở rộng biên giới tiếp nhận “Truyện Kiều”
  Dương Châu
Dấu mốc của việc diễn giải Nguyễn Du và  Truyện Kiều tại Hội thảo Di sản và các giá trị xuyên thời đại thể hiện rõ nhất ở hai khía cạnh: Sự mở rộng biên giới tiếp nhận Nguyễn Du tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các học giả nước ngoài; và tái diễn giải các diễn giải trước kia về Nguyễn Du, đặc biệt là  Truyện Kiều, trong sự mở rộng các văn bản văn hóa quy chiếu quá trình nhận thức và diễn dịch Nguyễn Du và  Truyện Kiều như là kết tinh giá trị và bản sắc văn hóa dân tộc.

Kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du, các hoạt động vinh danh và nghiên cứu thi hào đã chính thức được khởi động trong những ngày cuối tháng Bảy, đầu tháng Tám này, mở đầu cho hàng loạt sự kiện dự kiến sẽ được các trung tâm nghiên cứu, trường đại học, chính quyền và nhân dân Hà Tĩnh quê hương ông và nhiều địa phương khác tổ chức cho đến hết năm. Hội thảo quốc tế Đại thi hào dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du: Di sản và các giá trị xuyên thời đại do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và UBND tỉnh Hà Tĩnh phối hợp tổ chức ngày 8/8 vừa qua, với 108 tham luận, trong đó có 16 tham luận của học giả nước ngoài, được xem là biểu hiện rõ rệt nhất các khuynh hướng diễn giải Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều của ông sau hơn hai thế kỷ.

Theo quan sát của chúng tôi, dấu mốc của việc diễn giải Nguyễn Du và Truyện Kiều tại Hội thảo này thể hiện rõ nhất ở hai khía cạnh: 1) Sự mở rộng biên giới tiếp nhận Nguyễn Du tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các học giả nước ngoài; 2) Tái diễn giải các diễn giải trước kia về Nguyễn Du, đặc biệt là Truyện Kiều, trong sự mở rộng các văn bản văn hóa quy chiếu quá trình nhận thức và diễn dịch Nguyễn Du và Truyện Kiều như là kết tinh giá trị và bản sắc văn hóa dân tộc.

Ở vấn đề thứ nhất, vượt ra ngoài biên giới lãnh thổ, Nguyễn Du và Truyện Kiều được người Việt Nam ở nước ngoài ý thức một cách rộng khắp, trong các chiến lược quảng bá và thúc đẩy quá trình nhận thức về tác phẩm, ở cộng đồng các nước Anh ngữ, Đức ngữ, Nga ngữ, Hoa ngữ,… và ở một số quốc gia và ngôn ngữ ít phổ biến hơn, như Cộng hòa Czech, Hàn Quốc, Thái Lan,… Phổ biến Nguyễn Du và Truyện Kiều ở định dạng song ngữ là một nỗ lực tìm được tiếng nói chung của nhiều học giả góp mặt tại hội thảo này. Các học giả gốc Việt như Nguyễn Huy Hoàng (Việt kiều Nga), Trương Hồng Quang (Việt kiều Đức),… đã trình bày các dự án mà cộng đồng người Việt sở tại đã và đang tiến hành cho việc in ấn và quảng bá Truyện Kiều tới đông đảo kiều bào, ở cả thế hệ thứ hai, thứ ba, là những thế hệ ít có khả năng sử dụng tiếng Việt. Hội thảo cũng ghi dấu một thế hệ mới các học giả nước ngoài nỗ lực tìm biết Việt Nam qua đại diện là Nguyễn Du và kiệt tác của ông, trong đó một số nhà nghiên cứu nước ngoài có tuổi đời còn trẻ, đến từ khu vực Đông Á, Đông Nam Á (Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, Lào,…) hay ngoài khu vực văn hóa Hán hóa (Czech,…). Điều này cho thấy, bên cạnh những tiếp cận nhiều ít bị chi phối bởi ý thức hệ và chủ nghĩa dân tộc, chẳng hạn những trao đổi xung quanh bản dịch và nhận định của GS Triệu Ngọc Lan (Trung Quốc) – đánh giá đúng mức chất lượng bản dịch Truyện Kiều sang Hán ngữ của bà (bản dịch thứ tư tại Trung Quốc), những băn khoăn khi nhan đề Truyện Kiều ở bản dịch này lại được dùng đúng với tên Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân, là tác phẩm mà Nguyễn Du đã vay mượn để sáng tạo, có thể tạo ra những hiểu lầm trong quá trình tiếp nhận của bạn đọc Hoa ngữ,… thì sự quan tâm nghiên cứu của một số tác giả trẻ khác đến từ các nền văn hóa khác, chủ yếu lại xuất phát từ giá trị tự thân trong sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Du, lòng yêu mến và nỗ lực thấu thị văn hóa Việt Nam.

Ở vấn đề thứ hai, là nỗ lực giải hoặc các diễn giải trước kia về Nguyễn Du và Truyện Kiều, với hai điểm mốc: tranh luận về Truyện Kiều những năm 1920 và 1930, và sự trở lại của cuộc tranh luận ấy ở hai miền đất nước chia cắt những năm 1950 và 1960, có thể được coi là dấu mốc đánh dấu chu kỳ khoảng nửa thế kỷ cho mỗi tái nhìn nhận. Trong những nhận thức này, Nguyễn Du và Truyện Kiều hiện lên không chỉ như một giá trị, mà còn như một phương tiện dẫn truyền các chiến lược diễn ngôn của trí thức Việt Nam mỗi thời đoạn.

Ở thời điểm những năm 1920, Truyện Kiều và Nguyễn Du được huy động vào dự án dân tộc mà Phạm Quỳnh chủ trương. Đề cao Truyện Kiều trong tư cách là quốc ngữ, quốc văn, gây dựng và gìn giữ quốc học, quốc hồn, cải cách để hình thành một quốc gia mới trong tư tưởng, Phạm Quỳnh đã bị phản bác bởi lựa chọn bạo lực cách mạng của một xu thế khác, được đại diện bởi Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, trước khi Phan Khôi có được cái nhìn tương đối khách quan về mỗi chọn lựa. Cuộc tranh luận này xuất phát từ bài diễn thuyết của Phạm Quỳnh tại Hội Trí tri, trong đó có câu nói trở thành nổi tiếng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, dù thực chất chỉ là một bài phát biểu mang tính tưởng niệm là chính. Song với Ngô Đức Kế, việc Phạm Quỳnh xưng tụng Truyện Kiều và quảng bá việc dùng chữ Quốc ngữ được đặt trong một phối cảnh rộng hơn: Ngô Đức Kế cho rằng việc tán dương Truyện Kiều của Phạm Quỳnh nằm trong chủ trương “Pháp Việt đề huề”, một đường hướng trong việc hợp tác với thực dân của Phạm Quỳnh, sẽ dẫn tới việc ru ngủ người dân Việt Nam, khiến họ không còn ý thức đấu tranh đòi độc lập. Phạm Quỳnh đã không trả lời bài phản biện đăng báo Hữu thanh (tháng 9/1924) này của Ngô Đức Kế, dù cuộc tranh luận lúc đó đã kéo theo nhiều tiếng nói phẩm bình khác về Truyện Kiều. Chỉ đến khi Phan Khôi viết bài “cảnh cáo các nhà học phiệt” đăng trên Phụ nữ tân văn (tháng 7/1930), ép Phạm Quỳnh phải lên tiếng, ông mới lên tiếng phản bác Ngô Đức Kế vừa đúng lúc nhà chí sĩ này mới qua đời. Huỳnh Thúc Kháng đã lấy cái cớ ấy để lên tiếng tiếp tục đả phá Phạm Quỳnh và kết án Truyện Kiều, khẳng định quan điểm của Ngô Đức Kế, trong bài báo đăng Tiếng dân (tháng 9/1930)… Nếu kết nối cuộc tranh luận này vào trong chủ đích hoạt động của những người tham gia (chủ nghĩa quốc gia trong quan điểm của Phạm Quỳnh; cách mạng quốc gia trong quan điểm của “quốc sự phạm” Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng), rồi các quan điểm của họ cùng Phan Khôi về vấn đề “quốc học”, “quốc văn” như đã được họ trình bày ở các bài viết tham gia tranh luận (mở rộng đến bài “Nền quốc văn” trước đó trên Hữu thanh, tháng 4/1924 của Ngô Đức Kế; bài “Về cái ý kiến lập hội ‘Chấn hưng quốc học’ của ông Phạm Quỳnh” sau đó trên Phụ nữ tân văn, tháng 9/1930, như ý kiến phát biểu của Lại Nguyên Ân tại hội thảo), thì về thực chất, việc khen chê Truyện Kiều đã chỉ là phương tiện để người ta luận bàn về việc giáo dục ngôn ngữ và văn hóa dân tộc. Không ai trong cuộc tranh luận trực tiếp nói ra điều này, dù họ đều hiểu đối thủ định nói điều gì, làm cho cuộc tranh luận bị bỏ lửng, và cho hậu thế thấy được sự phân hóa phức tạp của trí thức trong việc kiến tạo ảnh tượng dân tộc và mô hình quốc gia Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Sau 1954, Truyện Kiều và Nguyễn Du tiếp tục được trưng dụng mạnh mẽ hơn khi hội với xu thế “tôn thờ thời khởi thủy” của trí thức Việt Nam hậu thuộc địa. Ở miền Bắc, tái nhìn nhận Nguyễn Du và cuộc tranh luận giữa phe chống Kiều và phe tán dương Kiều những năm 1920 nằm trong bối cảnh rộng lớn hơn của việc truyền bá các giá trị bình dân (chẳng hạn như việc phổ biến các tác phẩm Nôm trong loạt sách của Nhà xuất bản Phổ thông), việc kết án Phạm Quỳnh, đề cao khởi nghĩa của nhà Tây Sơn, góp vào nỗ lực tạo ra một phả hệ lịch sử mạch lạc mang tính giai cấp. Các nghiên cứu về “vụ án Truyện Kiều” được tập trung trên tờ Nghiên cứu văn học vào nửa đầu những năm 1960 chia sẻ với cuộc tranh luận những năm 1920-1930 ở việc lên án Phạm Quỳnh, song khác ở một điểm quan trọng, Truyện Kiều được ngợi khen chứ không bị phê phán nữa. Từ đây, Truyện Kiều từng bước được tấn phong như là kết tinh giá trị văn hóa dân tộc, và người sinh thành ra nó, nhà nho Nguyễn Du từng bước được mạch lạc hóa từ sự bác tạp các dữ kiện về mặt tiểu sử và thời đại, kết tinh ở “giá trị hiện thực” và “tinh thần nhân đạo”, một dòng sáng trong tiến trình văn học phong kiến Việt Nam, bên cạnh dòng chủ lưu là chủ nghĩa yêu nước.

Ở miền Nam, trong sự đa dạng các hướng tiếp cận, xu hướng nghiên cứu marxist với đại diện là Nguyễn Văn Trung cũng về “vụ án Truyện Kiều” những năm 1920 tạo nên một cuộc tranh luận nảy lửa, cho thấy sự phân hóa của trí thức khi gây dựng một hình mẫu quốc gia mới, với “Sài Gòn thủ đô văn hóa Việt Nam”, như cách gọi của một lứa văn nghệ sĩ trí thức. Cuộc tranh luận ở Sài Gòn cũng bắt đầu bằng một bài diễn thuyết của Nguyễn Văn Trung tại Trường Quốc gia Âm nhạc: “Văn học và Chính trị – Một quan điểm mới về cuộc tranh luận Phạm Quỳnh – Ngô Đức Kế qua Truyện Kiều” vào tháng 10/1962. Như tư liệu mà sau đó được Nguyễn Văn Trung công bố (Vụ án Truyện Kiều, tài liệu dành cho sinh viên Văn khoa Sư phạm lớp Lý luận văn học, 1972), bài diễn thuyết này đã làm nảy sinh cuộc tranh luận, trong đó có nhiều ý kiến chống lại quan điểm phê phán Phạm Quỳnh của Nguyễn Văn Trung. Nếu như Nguyễn Văn Trung tìm được tiếng nói tương đồng từ các nhà nghiên cứu miền Bắc (chẳng hạn như Nguyễn Văn Hoàn đã viết bài “Gửi một trí thức miền Nam” nhân vụ tranh luận về Truyện Kiều phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, sau có chỉnh sửa in Tạp chí Văn học), thì ông lại ít được chia sẻ bởi các nhà nghiên cứu và độc/thính giả ở ngay tại miền Nam. Khi thông tin về việc nghiên cứu Truyện Kiều và Nguyễn Du vẫn được kết nối đáng kể giữa hai miền, cuộc tranh luận về Truyện Kiều và các vấn đề hữu quan giữa các nhà nghiên cứu ở hai miền, giữa các nhà nghiên cứu có xu hướng khác nhau ở mỗi miền, đã trình hiện những ý hệ khác nhau trong việc trưng dụng một di sản văn hóa dân tộc vào nỗ lực mạch lạc hóa những tự sự khác nhau về truyền thống dân tộc và sự tiếp nối của truyền thống ấy trong các dự án về dân tộc đương thời đang được các chính thể và trí thức xây dựng.

Như vậy là, nhìn vào các tham luận và ý kiến trình bày tại hội thảo, dù không áp đảo về số lượng, song hai khía cạnh mới mà chúng tôi trình bày trên, có thể coi như chỉ dấu về một ngả quành trong tiếp nhận Nguyễn Du và Truyện Kiều. “Khảo cổ học” về Nguyễn Du và Truyện Kiều cùng lịch sử những cách đọc, mở rộng các phương diện của việc tiếp cận Nguyễn Du và Truyện Kiều từ phê bình giá trị đến nghiên cứu văn hóa,… là những hướng đi khả dĩ. Nếu điều này được phát triển, thì dịp kỷ niệm không đơn thuần chỉ là lễ tưởng niệm, mà còn là động lực cho sự phát triển của nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều, cho khoa học văn học ở Việt Nam nữa.

Nguồn:

http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=9000&CategoryID=41

Literature 中文

越南文化中的中国元素

越南文化中的中国元素

2014年05月19日 09:33    来源:搜狐文化   作者:朱玲 本军
编者按:中越两国,关系就这么紧张了起来。

相较政治局势而言,两国的文化交流总是脆弱的,但事实上,文化对日常生活的影响,又是更为恒定与深远的。

强势文化压制弱势文化,不是文化交流;某一文化对另一文化顺从、勉强接受,也绝非文化交流。交流,须有起始点与机会的均等。

在这样一个时刻,梳理中越文化交流史,并非刻意强调中国文化的影响——这与“认为凡是带有中国文化影子的东西都是侵略”一样不足取。
在这样一个时刻,搜狐文化独家对话中越文化交流史专家、广西民族大学教授刘志强,意在厘清越南文化中的中国元素、消除中越两国对彼此在文化层面的误会,寄望文化艺术——这一本无国界的人类美好所在,不再成为政治矛盾、极端民族主义的牺牲品。

北京紫禁城与越南顺化皇城对比
北京紫禁城与越南顺化皇城对比

喃字书法与汉字书法相近
喃字书法与汉字书法相近

越南阮朝皇帝玉玺—“皇帝之宝”
越南阮朝皇帝玉玺—“皇帝之宝”

 

汉字书法与越南

越南废除汉字,比中国废除科举还晚

搜狐文化:汉字,是何时传入越南的?

刘志强:汉字在越南的传播,可上溯至公元前214年,秦始皇平定岭南时,汉字就已经传入越南。

历史上越南不少皇帝、名儒也都擅长汉字书法。譬如,黎圣宗(1442—1497),是越南后黎朝的第四代国君,也是一位汉字书法家。

搜狐文化:古代,汉字在越南的传播有何特点?

刘志强:由于特殊的历史原因,古代中越书法交流具有三个明显的特点:

首先,在越南脱离中国独立以前,书法艺术在越南的内涵与在当时中国内地无异。

其次,越南在10世纪中叶脱离中国独立后,民族主义开始萌芽发展,但是由于仍然实行科举制度,书法的优劣又在一定程度上反映出文人的文化水平,书法好的人在科举中更容易“金榜题名”,所以在古代,越南人练习书法也包含一定的功利主义。

越南封建王朝不仅是在科举取士时看重书法,在招募士兵时也把书法作为考核的标准之一。

再次,古代汉字书法艺术在越南被本土化的表现是喃字书法的兴起。喃字书法艺术虽受到了汉字书法的巨大影响,但从现在保留下来的喃字碑文、庙宇对联等显示,喃字书法在越南同样曾登大雅之堂。

搜狐文化:你在文章中写道,“10世纪中叶,越南脱离宋朝独立,但汉字仍然是其官方文字”。

刘志强:越南在10世纪时脱离宋朝独立,但越南与中国的之间的“朝贡”关系一直延续着,汉字一直是越南的官方文字。

当时,越南与中国虽然保持着“朝贡”关系,但是在文化上,并没有强迫越南一定要接受汉文化。那时,与中国保持“朝贡”关系的周边国家不少,除韩、日、越三国外,其他的国家都没有把汉字作为官方文字使用。

不仅如此,越南还仿照中国,以汉字作为载体进行科举取士,直至1918年才下诏废除,比中国科举制度的废除时间还晚。

汉字书法艺术之所以得到古代越南各个阶层的接受,是因为汉字书法已经成为了一种为越南人所用、所享的艺术。

1945年,越南宣布将一种拉丁化“国语字”作为国家的正式文字,汉字在越南才逐渐停止使用。

搜狐文化: 越南推拉丁化“国语字”是什么背景?

刘志强: 近代,法国殖民者在越南逐渐推行拉丁化“国语字”,试图割断中越文化的密切关系。1884年后,越南成为了受法国保护的“保护国”,但是顺化朝廷作为法国的“傀儡政权”仍然苟延残喘。科举在中部和北部得以延续。当时越南精通汉字,谙熟汉字书法的知识分子还是不少。由于越南科举考试时必用汉字,而书法的优劣与金榜题名有密切关系,所以, 虽然到了近代,法国最先在越南南方推行法语、拉丁化国语的教育,但是越南中部和北部的传统教育仍然保留着。

应该说,在得知科举在越南被废除的消息之前,有“考取功名”思想的越南人仍然重视书法的学习。譬如,被称为“越南的孙中山”的潘佩珠,是越南近代著名的民主主义革命者,他同样参加过越南的科举考试,汉文功底深厚。1923年,潘佩珠在上海法租界出版其著作《天乎地乎》时,胡适、沈钧儒均为其题序。1925年,潘佩珠还曾为悼念孙中山写了两副汉字对联。

 

越南老百姓家最喜欢挂“福”、“寿”二字

搜狐文化:现在汉字书法在越南的现状如何?

刘志强:随着中越两国关系的发展,汉字书法艺术在越南方兴未艾。近年来,越南文化部门都会不定期地在首都河内的文庙举办汉字书法展览。越南各地还成立了汉字书法研习中心等机构用以推广汉字书法。很多越南普通老百姓家都喜欢把汉字书法挂在厅堂中作为装饰。每逢春节前夕,很多越南人都会到河内文庙里求字。汉字书法甚至成为了一些年轻人的一种信仰。

2006年11月,我曾经到河内西湖观光,发现沿着西湖岸边有一条满是书法铺面的街道。在那里,很多年轻人向精通汉字书法的老学者求字。年轻人喜欢求的字包括“成”、“达”、“福”、“禄”、“发”等。我不禁感叹越南人对于汉字文化艺术的深厚认同。

越南老百姓家中最喜欢悬挂的两个字是“福”和“寿”。其原因除了与中国普通家庭一样希望“多福多寿”以外,在越南,皇帝也喜欢在节日书写此二字。与中国一样,古代时,只有少数人才能得到皇帝的御赐亲笔作品……

 

喃字书法与汉字书法相近

“四大发明”进越南

搜狐文化:除了书法艺术,中越文化交流还有什么典型的例子?

刘志强:中越交流史由来已久,且两国由于在地理上相接等原因,中国的先进技术和优秀文化传入越南极为便利,这一方面有利于越南社会的进步,另一方面,也扩大了汉文化的影响。而直至今天,我们还能通过语言看到历史上这种交流的痕迹,其中一个典型的例子便是“四大发明”与“四大名著”传入越南的情况。

搜狐文化:您先说说“四大发明”吧。

刘志强:在现代越南语中,中国的“四大发明”被按照汉语之语法顺序音译为“Tú’?a.iph?tminh”,而对于“四大发明”的名称我们都能从越南语中找出类似的词语,例如:纸,有ch1?和giâ’y;印刷,有in和â’n;罗盘、指南针,有lab?n和kimch1?nam;火药,有thuô’csúng和ho?a?u’o’c)。这不仅仅只是汉语对越南语影响的原因,其实在历史上,两国交往过程中的确存在着这些领域的交流。

搜狐文化:造纸术,是什么时候传入越南的?

刘志强:公元前1世纪,中国历史文献上已经有记载使用纸,纸发明以后,不仅在中国本土很流行,并且向世界各地传播。在东方,纸在2世纪时传至朝鲜,3世纪时传至日本。在南方,3世纪时纸也传到了越南。

现在保存下来的越南汉文古籍,大多成书于10世纪以后。这些文献中并没有谈到纸从中国传入,其原因大概是因为那时越南已经能够自行造纸了。

但我认为,越南独立以前曾与中国混为一同,独立后文房四宝照用不换,自然无须专门提及。1370年,越南黎朝送给朱元璋的贡例中,规定有纸扇。

搜狐文化:那印刷术呢?

刘志强:虽然造纸传入越南的时间较早,但是由于印刷在技术上的高要求,所以越南印刷行业大约是在13世纪左右初具规模。中国使用雕版印刷书籍的开始一般认为是在公元6世纪的隋朝。唐和五代雕版印刷逐渐发展,北宋的印刷书籍几乎全部代替了手抄本。隋唐时期,安南与内地关系密切,两地之间的文化交流所受限制不大。10世纪以后,中国文化仍然受到越南人民和越南封建王朝的重视和推行,但在13世纪以前,尚未发现有文献涉及越南使用刻板印刷书籍的记载。

搜狐文化:火药呢?

刘志强:关于历史上制造火药的方法传入越南的情况,史籍并无明确记载。但历史上越南脱离宋朝独立以前两地有关火药的交流却是不断。

4世纪初期,中国的炼丹家就知道越南是供给炼丹原料的重要地方。14世纪,中国人已经把火药用在铜制或铁制的火炮中,作为重要武器了。 越南史籍关于越南制造和使用火药、火炮的记载不多,但是越南在14世纪初已经在战争中普遍使用火药了。

搜狐文化:还有指南针?

刘志强:现在中国人到越南久居时,有不少传统的东西是不用带去的,其中包括毛笔、象棋、墨汁和罗盘等。

越南史籍中关于指南工具传入越南的记载较早,传说在周朝周公就下令造指南车送来华朝贡的越裳国人返回。

我国在北宋时,指南针已经在航海上和军事上使用,而越南中、北部在很长的历史时期都是南中国海的海陆交通枢纽,特别是位于越南中部的广南港,在近代已经成为国际性的港口,福建、广东、潮州、海南、西洋、暹罗等商人都来往于此经商,当时赴越南最多的外国人便是中国人,中国人乘船到越南的历史可追溯到秦汉。此外,由于中越技术上的频繁交流,越南的造船技术也不断提高,1413年,明朝曾招请越南的造船工人到中国,越南官修汉文史籍《大越史记全书》载:“明永乐十一年(1413),黄福选取匠人及其家小送燕京造船。”当时造船必然需要安装指南针,这更能说明两国在造船技术上的交流。

 

越南阮朝皇帝玉玺—“皇帝之宝”

  “四大名著”在越南

搜狐文化: “四大名著”的影视改编作品,曾在越南播放?

刘志强: 在越南语中,“四大名著”完全按照汉语之语法顺序称为“Tù ?a.idanht?c”(四大名作)或“Tù’?aiky`thu’”(四大奇书),特别是中国的“四大名著”被改编成影视作品在越南播放产生了巨大影响。

搜狐文化:“四大名著”在越南的影响到底有多大?

刘志强: 根据我的亲身体验,现在在越南,中国古代四大名著《水浒传》、《三国演义》、《红楼梦》和《西游记》以及其中的人物,几乎无人不知,无人不晓。

20世纪90年代,根据四大名著拍摄的电视连续剧在越南上映后,自然也受到越南广大观众的欢迎。在越南电视台播放中国电视连续剧《西游记》的那段时间里,每天从开始播放到结束,河内市街道上的行人,特别是少年儿童,骤然减少。

而“四大名著”中的人物和称呼同样被直接借用到日常生活当中来。其中包括《西游记》中的“TônNgo.Không”或“TônH?nhG1?a”(孙悟空)、“SaTǎng”(沙僧)、“B?tGió’i”(八戒)、“Huyê`nTrang”(玄奘),《水浒传》中的“?a.ica”(大哥),《三国演义》中的“Lu’uBi.”(刘备),《红楼梦》中的“LâmDaiNgo.c”(林黛玉)等已经非常普遍地被运用到越南日常口语当中。

特别是《三国演义》在越南影响尤其深刻,所产生的影响可以从两个方面来概括:

其一是对关云长的崇拜。

越南许多地方都建有关帝庙(称协天护日忠义大帝),不少家庭还以图影供奉,并尊之为“关圣”或“德关圣”,不敢直呼其名。值得一提的是,在越南语中“Quan Công”与汉语的“关公”发音几乎完全一样,此外关公的木雕也已经成为当今越南一大特色产品。

其二是把《三国演义》中的人物事件当作修饰语流传于口语中,如“张飞脾气”(暴躁)、“是个貂蝉”(喜欢说谎)、“野董卓”(很阴险)、“像曹操”(性多疑)、“刘备借荆州”(久借不还),等等。现在,译成现代越南语的“四大名著”在越南的网站上随处可见,访问量亦相当之高,有关“四大名著”的出版物也不断再版。

此外有关“四大名著”的玩具、文化用品等都受到越南人的喜爱。

“四大名著”对越南的影响不仅仅是在文学界,在“四大名著”被改编成影视作品前,历史上越南人已经把“四大名著”的素材应用到自己的民族艺术形式当中去了。

搜狐文化:“四大名著”是如何传入越南的?

刘志强: 明末清初越南官方已经下令禁止购买中国的书籍了,再加上“四大名著”曾被中国列为禁书,所以中越正史并未有“四大名著”传入越南的确切记载。

但是我们知道,当时华人由于避乱而旅居越南的较多,特别是当时到越南中北部经商的两广商人也不少,他们对于“四大名著”传入越南起到了很大的作用。根据所发现的“四大名著”的版本,我们可以大概推断其传入的年代。

我尚未发现历史上传入越南的中文原版“四大名著”,我认为原版汉字书籍由于脱离越南平民的口语,很难产生平民化的巨大影响,但原版中文的“四大名著”当时在知识分子阶层应该是产生了较大影响。

搜狐文化:越南对“四大名著”的译介,始于何时?

刘志强:有关越南对中国古典文学的译介的研究,目前以马祖毅、任荣珍两位先生的研究最为深透。参考两位老师的研究成果,会发现,在“四大名著”中,《三国演义》和《西游记》传入越南的时间最早,而史书《三国志》传入越南较早。《三国演义》在越南的传播,是先有故事戏,后有译本。

同日本、朝鲜相比,《水浒传》传入越南的时间似乎晚了一些,但《水浒传》的越译却早于《三国演义》。1906年至1910年间,西贡出版了《水浒演义》的译本,译者是阮安姜。稍后,又有阮政瑟、阮杜牧、武明智的译本在西贡和河内两地问世。1960年,罗辰翻译的七十回本,由河内明日出版社推出,全书分三卷,附插图,译文实际上是六十九回,译者在序言中说道:“(《水浒》)不仅是中国人民的骄傲,也是亚洲人民的骄傲。”

《红楼梦》一百二十回全译本,1962年至1963年由河内文化出版社出版,共六册。前八十回的译者是武培煌和陈允泽,后四十回是阮育文和阮文煊,以人民出版社1957年版作为底本。卷首有当时越中友好协会会长裴杞于1959年(开译时间)4月所写的“前言”,“前言”除了对《红楼梦》进行介绍以外,还说“想要正确评价《红楼梦》,必须理解此书不只是讲爱情故事,而是在谴责封建社会,在此书中作者特意描写了被统治阶级毁灭的美好心灵”。

“四大名著”

越南的世界名著——《金云翘传》改编自中国作品

搜狐文化:在世界文坛享有地位的越南名著《金云翘传》,与中国也有渊源?

刘志强:“人生不满百,才命两相妨”,这是暨南大学黄轶球先生早年所译越南阮攸“六八体”诗传《金云翘传》的开篇首句。中国明末清初并非很有影响的言情小说《金云翘传》,到了18至19世纪,被越南汉学家阮攸成功地进行了再创作,从而成为了越南古典文学的经典。

越南的《金云翘传》通常被称为“Truy?n Ki?u”。在中国文学和中国小说上,中国《金云翘》虽然未能跃过龙门,登上大雅,但它对越南文学,特别是对越南喃字文学发展的贡献与影响,却是不能忽视的。18世纪中叶至19世纪初,越南文坛上崛起了一位文艺巨匠,他就是阮攸。阮攸根据青心才人编次的《金云翘传》,并使用越南喃字,对其内容和形式上进行了删改和创作,用越南独特之六八体诗歌形式完成了后来世界著名的《金云翘传》(又名《断肠新声》)。

《金云翘传》著作版本多。根据2004年越南国家图书馆数据显示,越南现存阮攸《金云翘传》版本一共有42种,其中喃字版本22种,拉丁国语字版本共20种。而其中最早的喃字版本是1866年河内柳文堂刻印的版本;最早的法文版本是1884年法国巴黎译本;当时由Abel des Michels翻译并注释;最早的越南拉丁国语字版本是由越南著名语言学家张永纪转写成的,1875年由西贡国家印刷厂印刷出版的版本。阮攸的《金云翘传》在法国影响最大,从1884年到2005年阮攸的《金云翘传》的法语翻译版本一共有10种。我国翻译阮攸所著《金云翘传》最早的是1959年由暨南大学黄轶球先生所译,人民文学出版社出版的版本,值得一提的是黄轶球先生是从法文译本再翻译成汉文译本的。

阮攸所著《金云翘传》为越南文学作品在世界文坛获得声誉。《金云翘传》与邓陈琨的《征夫吟曲》、阮嘉韶的《宫怨吟曲》和阮辉嗣的《花笺记》被列为“安南四大奇书”,其中《金云翘传》更被尊崇为“安南四大奇书”之首。“明乡人”潘石初有诗赞美道:“有明一代无双妓,大越千秋绝妙词”,我国早年著名越南史研究专家张秀民先生则把阮攸称为“越南的歌德”。 现在越南很多人都能诵读阮攸拉丁国语字版本的《金云翘传》,少则数句,多则几十句、上百甚至上千句。越南人民对于《金云翘传》的感情不仅仅是对于一种文学作品的感情,而是融入了个人的一种对于亲人、家庭、国家等信念在一起的感情,甚至上升成为一种信仰。阮攸的《金云翘传》是越南喃字文学发展到顶峰的代表作,也成为了越南古典文学的经典之作,它不仅仅奠定了其在越南文坛的地位,更是为越南文学在世界文学史上占有一席之地做出了贡献,现在中国所编的《世界文学史》多把阮攸的《金云翘传》列为了中古东南亚文学的代表之作。目前越南也成立了类似于中国“红学”的“翘学”。其作者阮攸更因该著作而在1956年被世界和平理事会列为应纪念的世界文化名人之一。胡志明还曾经用《金云翘传》的诗句鼓励越南人民从事革命斗争。

 《金云翘传》

对待两国文化的合适态度

搜狐文化:中越文化交流,受政治影响有多大?

刘志强:还以书法为例。

越南人民的伟大领袖胡志明主席擅长汉字书法,其所留墨迹以楷书居多。胡志明的楷书线条饱满,大方工整,用墨浓淡相间,略似启功先生墨法,但又有唐书法家虞世南楷书之风。擅长汉字书法也曾为胡志明早年在法国的生活提供了便利,根据台湾学者蒋永敬的研究,大约在1917年末,胡志明到巴黎定居下来。由于他具有汉文书法的训练,于是利用他的美妙笔法,以修润照片的收入来维持生活。

我认为,谙熟汉字书法对于胡志明个人的生活还是对于其寻求与中国政治关系的发展都是有利的。

20世纪中叶,中越关系曾经一度亲密至“同志加兄弟”的程度。当时书法交流也成为政治交往的一个内容。胡志明、黄文欢与董必武等人之间都曾进行过书法交流。

1959年8月,胡志明在游览中国庐山后,题有楷书三字“庐山好”。1961年5月,胡志明游桂林漓江时曾以楷书题诗一首,诗云:“桂林风景甲天下,如诗中画画中诗。山中樵父唱,江上客船归。”游桂林阳朔时又题楷书六字“阳朔风景好”。1965年,胡志明与时任中国国家副主席的董必武一同游黄山,董必武曾即兴泼墨,书《别黄山四绝》赠胡志明,胡志明又书《游黄山日记》诗六首赠董必武。

胡志明最著名的汉字书法作品当是1968年春所题词“越中友谊,万古长青”。胡志明于1969年9月逝世,此幅楷书当是胡志明逝世前最珍贵的墨迹。胡志明题此八个大字一反其用墨浓淡有致的常法,墨迹极其浓厚,连落款也一样。联系当时越南国内的政治和中越关系的形势,我们可以想象胡志明书写时的心情。

中越关系恶化后,两国文化交流也受到重大冲击,在越南各种中文报刊纷纷被取缔或改版,中越书法交流也受到阻碍。

令人欣慰的是,自1991年中越关系正常化以来,汉字书法艺术及其他形式的书法交流在越南再度逐渐兴起,这是令两国文化界欣慰的事情。

我认为,在很长一段历史时期内,越南人更多的是“仰慕华风”,而非全是被强制学习或者效仿中国。历史上,汉文化对越南的影响,更多时候是越南对汉文化的一种善意接受,而非强加。

搜狐文化:您似乎不认可越南是“小中国”的说法?

刘志强: 艺术无国界。但中越关系恶化时期,文化艺术会成为两国政治矛盾、极端民族主义的牺牲品。过分人为地强调中国文化的影响和认为凡是带有中国文化影子的东西都是侵略的一种形式的观点似乎都不可取。

当淡化这种政治矛盾,我们冷静地思考过后会发现,这些东西原来也可以互相包容,互相促进。过分强调“强势文化”的影响或者过分强调“文化的本土化”,恐怕我们的看法都很难相对客观。

越南文化中的不少中国的元素已经完全融入到越南本土文化中。以越南最经典的古典文学作品《金云翘传》为例,其蓝本、内容、情节均来源于中国明清小说《金云翘》,但自其作者阮攸改编成功至今,尽管中越关系起起伏伏,我们尚未发现其被剔除出越南文化之外,反而成为越南无人不知的作品。我认为这是中越文化关系中较为罕见的文化交流现象,这同样会让不少不了解越南文化的人费解,但是事实上又是如此。

使用现在国家间的领土边界来划分中越文化的界限是明显有缺陷的。历代越南王朝的建立者多是华人,根据史料记载,越南前黎朝(981—1009)创立者黎桓,本属广西籍,李朝(1010—1225)的创立者李公蕴、陈朝 (1225—1400)创立者陈日煚,本属福建籍,胡(1400—1407)的创立者胡季犛,本属浙江籍等。 但我们也不能因此而认为越南文化就是中国的,因为此“中”非彼“中”,此“越”非彼“越”。

我个人认为,越南对中国文化的误解似乎更深。在唐代,越南被中国称之为“安南”,属唐朝管辖,当时“安南”有三位学人考中唐朝进士,分别为姜公辅、姜公复和廖有方,过去越南学界(甚至现在)多认为为三位都是“越南人”,但根据现在最新发现的相关碑文和史料证明,三位进士的父亲都是从两广迁居至“安南”境内的。

同样,认为凡是汉字的东西都是中国人强加给越南人的观点也是站不住脚的,这种观点是文化关系被利用成为政治矛盾的工具。

实际上,越南中部以南大片地域在15世纪以前,多是占人统治的领土,我国史书多称之为“占城”(学界现在多称之为“占婆”),其文化也与越南现在的主体民族大相迥异。除此以外,越南现在是一个包含54个民族的多民族和多元文化的国家。

越南若对汉文化采取兼容并包的态度,越南的文化才可能得到更多国家的重视和兴趣。这同样也会极大地促进了越南与其他国家与地区之间的文化交流,从而也进一步丰富了越南的本土文化……[详细]

受访者:

刘志强,中山大学社会学博士后,北京大学文学博士,现任广西民族大学教授,东南亚研究所所长兼外国语学院副院长,曾留学于越南国家大学、并曾在厦门大学、法国远东学院吉隆坡中心访学。主持国家社科基金项目1项,出版学术专著5部,论文40余篇,代表作有《中越文化交流史论》(商务印书馆,2013年),《占婆与马来世界的文化交流》(社会科学文献出版社,2013年)曾获邀赴日本早稻田大学、马来亚大学等国外院校访学或参加国际学术会议,主要从事中越文化交流史、中越关系史的研究。

访问者:

朱玲,搜狐文化频道主编

 

http://crj.cpd.com.cn/n434739/c23093619/content_1.html

Literature 中文

赵玉兰:对《金云翘传》和《征妇吟曲》的文化诗学解析

赵玉兰:对《金云翘传》和《征妇吟曲》的文化诗学解析

● 赵玉兰
作者系北京大学外国语学院东语系

近年来,“文化诗学”研究的展开,为诗学与文化关系的研究开辟了一条新的路径。所谓“文化诗学”就是“从文化学的立场出发去解释文学的形成、文学的功能和文学的特质等,使文学与文化的互动过程体现出一种诗性的生命精神”。[1]这为受中国文化影响的“汉文化圈”国家的文学研究提供了一种新的思维方法。事实证明,在中国以外的几个“汉文化圈”国家中,如日本、韩国(包括朝鲜)和越南,其文学发展的历史都曾经历过“汉文学时期”,有的甚至是汉文学长期占据正统文学的地位。比如越南,汉诗不仅是越南成文文学的发端,在越南封建社会八百多年的历史时期一直被作为高雅文学而受到尊崇。过去,学者们对越南古代文学的研究,多偏重于揭示中国文学对越南文学的影响研究,当然也少不了从历史、文化等层面去寻根溯源,但主要还是为了证明这种影响本身所产生的作用,而很少从文化学的视域对越南文学中的不同文化质素的形成和发展及其文学功能进行具体分析,进而揭示越南文学是如何在与各种文化的互动和影响中来体现其“生命精神”特质的。本文拟以18-19世纪越南文坛的两朵奇葩《金云翘传》和《征妇吟曲》为例,从“文化诗学”的视域进行比较和解析,以求更为客观地审视中国文化、文学对越南文学的影响以及越南民族文化的“基因”对文学发展所滋生的强大内动力量。

一、《金云翘传》和《征妇吟曲》与中国文化的亲缘关系

《金云翘传》和《征妇吟曲》是越南古代文学作品中的两部经典之作。她们犹如两株争奇斗艳的奇芭,为越南古代诗坛增添了绚丽夺目的艺术光辉。

《金云翘传》是18世纪末至19世纪初越南著名诗人阮攸以中国明末清初时期靑心才人的小说《金云翘传》为蓝本,用喃字写成的一篇长达3254句的六八体叙事诗。原名《断肠新声》,后改名为《金云翘传》。靑心才人的《金云翘传》是一部以基本史实为素材,描写才子佳人爱情故事的章回小说。阮攸的《金云翘传》自问世以来始终受到人们的热切关注和尊崇,在越南民间广为传颂。可以说,《金云翘传》对越南文学、文化以及越南民族精神、心理等方面的影响程度之深,范围之广,已远远超过了任何一部文学作品。在越南,提起《金云翘传》可谓无人不知,无人不晓。普通的老百姓都不仅非常熟悉《金云翘传》的故事情节及人物形象,还能随口背诵诗中的不少段落或诗句,连一些不识字的文盲也能成段地背诵。越南人都为自己的民族能有《金云翘传》这样一部文学杰作而感到自豪。在越南曾经流行这样一句话:翘传在,越语在,越南在!由此可见《金云翘传》在越南人民心目中的地位之高,影响之大!

《征妇吟曲》是18世纪越南诗人邓陈昆以战争给妇女命运造成的悲剧为题材,用汉文写成的一篇古乐府杂言诗,全诗长476句。《征妇吟曲》成书于约1741年前后。作品面世后,得到越南文学界名家的高度评价和赞誉。作者笔下那些有如行云流水的字句,那一声声如泣如诉的话语,令人深深地感动和叹服。作品问世后所引发的翻译热经久不息。虽然《征妇吟曲》由于语言等方面的关系,没能象《金云翘传》那样深深地扎根于人民群众,在社会上广为流传,但在学界也得到高度评价,曾有“高情逸调霸词林,近来脍炙相传颂”的美誉。《征妇吟曲》已多次被人将其翻译成易于为越南人所接受的喃字“双七六八体”或“六八体”诗。其中,由与诗人同时代的才女段氏点翻译的喃字“双七六八体”诗《征妇吟演歌》是目前流传最广,也是最接近原诗的译作。

可以说,在越南文学发展历史中,《金云翘传》和《征妇吟曲》在艺术上都取得了前无古人的巨大成功,成为越南古典文学最具艺术价值的两颗明星。值得注意的是,这两部长诗的题材不同,体裁各异,在艺术风格上也各有千秋。但她们却有一个共同的特点,那就是都与中国文学、文化有着密不可分的亲缘关系。

二、《金云翘传》和《征妇吟曲》受容中国文化的基础和条件

乐黛云教授曾说过,“影响”须要一定的条件,而影响的种子只有播在那片准备好的土壤上才会萌芽生根。[2]无疑越南这片土壤是最适合汉文化影响的这粒“种子”“萌芽生根”的地方,因为“世界上没有任何一个国家与中国关系之密切有如越南者。”[3]

越南人民是一个酷爱诗歌的民族,而抑扬顿挫、音调丰富的民族语言又非常适合他们用对歌的方式来表达意愿,交流情感,因此民间不断的产生和流传着大量的民歌、民谣和俗语。这些丰富的民歌、民谣伴随着越南民族的成长和发展,是越南民族文学发展的“基因”。然而,在公元10世纪以前的一千多年中,由于越南尚未产生自己的民族文字,只能借用汉字作为语言的载体,而汉字与越南语又存在着音义脱节的矛盾,故越南的民间歌谣无法像中国的《诗经》和乐府民歌那样得到系统的搜集和整理,更谈不上用民族文字来写诗论诗了。即使在10世纪越南独立建国之后几百年的封建社会历史时期,汉字在越南仍保持着官方通用文字的地位,在客观上成为中国文化、文学在越南传播的重要载体和路径。从另外一个角度来看,这也是越南文学、文化从中国文化中得其精髓的重要条件。

中国诗歌大量传入越南始于唐代。王力先生在谈及汉字输入越南的过程时曾指出,“……唐代在越南设学校,强迫学习汉字,于是整套汉字都必须学会了。汉代的越南借用汉语的语汇只是口语的;唐代却须兼通文字。”[4]从目前所看到的资料证明,越南成文文学的出现是在越南独立建国之后(公元10世末)。关于这一点,越南学者已有明确论断,“直到十世纪末至十一世纪初,越南才有了第一首用汉语写成的诗歌……大师吴真流于987年为饯宋使李觉所作的《阮郎归》[5]一词成为我国文学发展历史上的一个重要标志”[6]这说明,汉字不仅是越南诗歌的第一文字载体,汉诗也成为了越南诗学的发端。

由于汉字的传入和使用,才使得越南人用汉语模仿中国诗歌进行创作成为可能。即使在13世纪越南产生了自己的民族文字——喃字之后,在诗歌创作上,汉诗仍被视为高雅文学,普遍受到越南文人以及上层社会的尊崇。其中唐诗对越南诗歌影响最深。在越南古代著名诗人中,可以说没有哪一位没有写过汉诗,从帝王将相到文人士子,他们或相互酬唱,或抒情言志,都以吟诵汉诗为最高雅的形式并留下了大量的汉文诗作,如黎贵惇、阮廌、阮秉谦、阮攸等学者、诗人都有汉文诗集流传于世。17-18世纪,越南的喃字文学得到迅速发展,文坛上开始出现大量叙事性较强的喃诗传。这些喃诗传虽然使用的文字是越南的民族文字,但从作品的题材到哲理思想等很多方面都与中国文学、文化有着非常直接的密切关系,如《二度梅》、《潘陈》、《苏公奉使》等。《金云翘传》和《征妇吟曲》正是在这样一种社会文化背景下产生的越南文坛两奇葩。

三、《金云翘传》、《征妇吟曲》对中国文学、文化的借鉴和吸收

如果说“文化诗学”可以“从文化学的立场出发去解释文学的形成、文学的功能和文学的特质”的话,那么,我们从“文化诗学”这一视域出发,对《金云翘传》和《征妇吟曲》这两部诗作进行比较和分析,就是企望通过这样一种新的角度和思维对外来(中国)文化、文学与本土(越南)文化、文学在“影响”与“接受”的过程中所产生的某些现象能从文化学的角度进行解析。

(一)、对中国文学题材的借鉴与模仿

中国明末清初年间,靑心才人写了一部名为《金云翘传》的章回小说。作品演绎了王翠翘与金重二人充满着坎坷曲折,悲欢离合的爱情故事,属才子佳人类的小说。阮攸以中国靑心才人的小说《金云翘传》为蓝本,用越南人民喜闻乐见的“六八体”写成了一部长达三千多句的喃文诗传。书名最初为《断肠新声》,后改为《金云翘传》,是从故事中三位主要人物“翠翘”、“翠云”和“金重”的名字中各取一字连缀而成的。

阮攸的《金云翘传》与靑心才人的《金云翘传》从题材到内容都基本相同或无大异。靑心才人作品中的所有人物、地点以及故事情节等,都被阮攸原封不动地将它们移植到自己的作品中来。对此中越学界从古至今不曾存在任何争论。只是在阮攸的《金云翘传》成书时间上,至今学者们仍有不同意见。有人认为,阮攸见到靑心才人的《金云翘传》应该是在他出使中国期间(1813-1814年),这就是说,成书的时间不应早于1814年;但也有人推测,《金云翘传》成书时间应该在1813年阮攸出使中国之前。持这一说法的重要推理依据是,阮攸在出使中国时已官位显赫,这决定了他不可能刻意跟朝廷作对,公然在自己的作品中无情地揭露、抨击社会的腐败和黑暗,特别是对被封建统治阶级视为心腹之患的代表人物徐海在作品中给予正面的描写。至于为什么他能在出使中国之前就看到靑心才人的小说的问题,这也并不难解释,因为在这个阮氏大家族中,早在他之前就已有人奉命出使中国,并从中国带回了不少书籍,阮攸自然有机会接触到大量的中国文学作品,包括靑心才人的《金云翘传》。关于这一争论,在未获得确凿的考证之前可暂作“存疑”。

邓陈昆的《征妇吟曲》虽不是象阮攸那样对某一篇作品进行“整体移植”,但在他的这部“吟曲”中随处可见中国古典诗歌的印痕。对此,越南学者赖玉疆明确指出,“邓陈昆的《征妇吟曲》在音调方面接受了汉乐府的影响,在构思方面多受中国有关战争、离别及爱情诗的影响。”[7]邓陈昆写《征妇吟曲》的社会背景是18世纪上半叶的越南。由于南北封建势力严重对峙,致使越南国内战祸连绵,社会动荡不安。作品中并没有具体的人物塑造,更无人物之间的对话,而是重墨对一位征妇在送别出征的丈夫之后不得不面对种种残酷的现实及其一系列复杂的内心感受进行了唯美唯真的细腻描写,强烈地控诉了战争制造者给人民的精神和物质生活造成的巨大痛苦和灾难。作品在文字上用的是汉字,在体裁上则采用古乐府间杂言诗的样式。凡熟悉中国诗歌的人读了《征妇吟曲》都会很自然地产生一种似曾相识的感觉,并且很难想象这样一篇汉文长诗竟是出自一位非中国诗人之手。越南著名学者潘辉注在分析《征妇吟曲》的创作时也认为,“作者大概是采用了古乐府和李白的诗,然后融合成篇。”[8]然而,当我们对《征妇吟曲》进行认真的研究后发现,除了汉乐府和李白之外,邓陈昆还从很多诗人、诗作那里借用了大量的表现战争、离别及边塞诗歌等题材的诗料、诗句,如古诗十九首中的“行行重行行”以及唐诗中王昌龄、杜甫、白居易、孟浩然等人的诗作都被邓陈昆大量地引用或借鉴。例如,我们在读到“老亲兮倚门,婴儿兮待哺。……”时,便会自然地想起杜甫的《石壕吏》中那位老妪发出的“室中更无人,唯有乳下孙”的凄婉哀诉;读到“相顾不相见,青青陌上桑。陌上桑,陌上桑,妾意君心谁短长?”,便知这是邓陈昆巧妙地借用了汉乐府的名篇《陌上桑》的诗句,来表达妻子对与丈夫离别时的种种复杂心绪,其中有深深的眷恋和期盼,更多的则是无助和不安。同样,当我们读到“今朝汉下白登城,明月胡窥青海曲”时,便很自然地联想起李白在《关山月》中描述的“汉下白登道,胡窥青海湾”的大漠征战景象;看到“古来征战几人还,班超归时鬓已斑”时,更会由衷地叹服这位越南诗人对唐诗绝句“醉卧沙场君莫笑,古来征战几人回”的谙熟并恰到好处地借以表达言者的幽思和哀怨……等等。

(二)、对中国诗歌语言的巧用与吸收

阮攸创作《金云翘传》用的是喃字,采用的形式是被越南人称之为纯民族体裁的六八体诗。也就是说,《金云翘传》无论是诗歌的载体还是表现形式都是很民族的。但是,读过《金云翘传》的人都会发现,,无论是原著还是中文译本,作品除了在题材上取材于中国文学作品之外,在诗歌的语言上也借鉴和吸收了大量的中国文学、文化精粹。在《金云翘传》中,阮攸对中国成语、典故和经典诗句的运用已达到了信手拈来,出神入化的境界。不仅象“倾国倾城”、“寸草春晖”、“结草衔环”、“合浦珠还”、“沧海桑田”、“红叶题诗”、“青鸟传书”、“精卫填海”等中国人耳熟能详的一些成语、典故都频频出现在他的六八体长诗中,甚至有不少完整的诗句也被阮攸“中为越用”,天衣无缝地镶嵌在自己的诗作里。如对“人面不知何处去,桃花依旧笑春风”这句诗,阮攸只作了一个字的“微调”,将“春风”变为“东风”,就将崔护的诗句移植到自己的作品中,并保持了六八体诗在字数、音韵上的丝毫不变,使诗的艺术境界发挥到了极至,收到了巧夺天功的艺术效果。类似的情况还有很多,如“庄生晓梦迷蝴蝶,望帝春心托杜鹃”(李商隐《锦瑟》)、“鸡声茅店月,人迹板桥霜”(温廷云《尚山早行》)、“铜雀春深锁二翘”(杜牧《赤壁》)等诗句都被阮攸或整句借用,或稍加改动,进行了大量的大胆借用。在《金云翘传》中,从《诗经》、《楚辞》到汉乐府、唐诗、宋词,从《春秋》、《左传》到《史记》、《汉书》、《晋书》等中国典籍中大量的历史典故、名言隽语都被阮攸信手拈来,运用自如。

  更难得的是,对一些连中国人也要费一番功夫查找的诗句、典故,阮攸也能需之取之,并且用得恰到好处。譬如,在《金云翘传》的尾声部分,有这样一个情节:金重劝翠翘答应与他履践前盟,结为夫妻,在翠翘坚持不肯的情况下,金重说了一句这样的话:“休再迟疑,忍把萧郎当路人?”这显然是阮攸借用唐朝诗人崔郊的“侯门一入深似海,从此萧郎是路人”这句诗巧妙而恰当地引用的一个典故。还有白居易《长恨歌》中的诗句“在天愿作比翼鸟,在地愿为连理枝”,“此恨绵绵无绝期”;杜牧《赤壁》中的“东风不与周郎便,同雀春深锁二乔”;杜甫《上白帝城》中的“取醉他乡客,相逢故国人”;孟郊《游子吟》中的“虽言寸草信,报得三春辉”,等等。这些脍炙人口的唐诗都在《金云翘传》中出现过,只不过这些原本为五言或七言的诗句,一经阮攸巧妙地略加“处理”,便被天衣无缝地镶嵌在他的六字句或八字句的诗中。对于懂越语的中国人,或懂汉语的越南人来说,读之自然都会知道这些诗句的出处,而对于不懂汉语或对中国文学不甚了解的越南人看来,这些出现在《金云翘传》中的精彩诗句或成语自然已都成为越南诗歌语言的美丽和精彩。阮攸用自己的母语将这些中国诗句的精妙之处表达得如此准确、自然和得体,这不能不归功于诗人的语言艺术才华。阮攸的《金云翘传》最重要的成功就是表现在语言艺术上,诗人对民族语言的发展作出了巨大的贡献.

在《征妇吟曲》中,邓陈昆对中国诗歌语言的娴熟运用以及对中国成语、典故的巧借妙引也无不显示出诗人对中国诗歌的深刻领悟和烂熟于胸。例如,作品在描写妻子送别丈夫的一节中有这样的诗句:“分程兮,河梁/徘徊兮,路旁/路旁一望斾央央/前军北细柳/后骑西长杨/骑军相拥君临塞/杨柳哪知妾断肠”。诗中的“河梁”便是出自李少卿(汉将李陵)的一首送别名篇《与苏武三首》中的诗句“携手上河梁,游子暮何之,徘徊蹊路侧,悢悢不得辞”。这里的“河梁”即“桥梁”,指送别之地,后用做咏别的典故;而“细柳”和“长杨”则指的都是地名,为军营或驻军地点。其中“细柳”即“细柳营”,为西汉周亚夫将军屯兵之地,在今咸阳西南,后因用咏军营的典故;而作者更进一步将表示地名的“杨”、“柳”二字连缀成“杨柳”,变成了时光景色的标志,读之不禁使人又自然想起王昌龄那脍炙人口的诗句“忽见陌头杨柳色,悔教夫婿封侯觅”(《闺怨》)。此外,谁又能断然否定邓陈昆也从陈淳祖《征妇吟》中“江边迤逦春无赖,杨柳枝垂人未还”[9]的诗句中受到了启迪呢?在《征妇吟曲》中,常可见到诗人或直接援引中国诗人的精典诗句,或依托某一首诗所表现的情景、意象,经诗人稍事调整便“加工”出了一个个寓意不同的新诗句。例如在描写丈夫出征后,妻子不得不承担起家庭的全部重担时,诗人只用了“供亲课子此一身”这一句诗便将征妇艰难无助(“供亲”、“ 课子”)和万般孤独(“此一身”)的复杂境遇和感情表达得尽致淋漓。邓陈昆不仅大量采撷汉乐府诗的精粹,吸纳唐诗的精华,还善于用诗人的真情,将它们巧联妙用,组成富有新义的诗章,形成诗人的独特风格。例如,诗人集中国边塞诗歌之精髓,写出了“古来征战人,性命轻如草”、 “征夫貌谁丹青? 死士魂谁凭吊?”的精辟诗句。这些质朴而沉重的文字明白无误地点出了征夫的悲剧命运,表达了征妇内心的愤懑。她终于大胆地向最高权威发出了“锦帐君王知也无?”的强烈谴责和质问。更令人玩味无穷的是,《征妇吟曲》的创作背景是连绵的战乱带给人民带来无尽的苦难和离乱的越南社会,而诗人在作品中,无论是描写征人与妻子的别离之地,还是征人出征的战场等几乎所有与战争或当事人相关的人、地、物的名称都是直接取自于中国,如“瀚海”、“楼兰”、“咸阳”、“潇湘”、“白城”、“汉宫钗”、“秦楼镜”……等等。这些词汇既带有金戈铁马的边塞风韵,也不乏汉乐府的悲音之美,它们都从不同的角度验证了邓陈昆的《征妇吟曲》与中国诗歌的亲缘关系。这种亲密的程度在世界各民族之间的文学和诗学比较研究中恐怕也并不多见。

四、民族文化“基因”是越南诗歌发展的内动力

周一良先生在对不同国家和民族之间的文化交流研究中,将文化分为三个层次,即狭义文化、广义文化和深意文化。并且,他认为,“在这三个层次的文化之中,狭义和广义的文化可以互相学习、引进,在对方国家生根、发芽、开花、结果;而深义的文化,由于是长期在特定的、自然的、历史的和社会的条件下所形成,成为民族精神的结晶。”[10] 通俗地解读这个“深义文化”就是带有某个民族自身特质的民族文化。在历史上,尽管越南从属于中国封建统治长达千余年,中国文化对越南的影响无所不及,不可谓不深,在文学、诗学方面也无一例外。这一点,我们在《金云翘传》和《征妇吟曲》这两部作品中已找到了肯定的脚注。这两部作品在题材、内容及语言等方面都从中国文学、文化中进行了大量的借鉴和吸收,与中国文学、文化有着无法摆脱的关系。然而,这两朵越南古典文学艺术的“并蒂莲”之“命运”却有很大的不同。无论是从它们在越南社会产生影响的深刻性和广泛性,还是被人民群众接受和认知的程度上看,《征妇吟曲》与《金云翘传》都有着明显的差距。

阮攸的《金云翘传》在越南民众中受尊崇和追捧的程度之深、之广及其影响之大,已远远超过了其它任何一部越南文学名著。作品中的很多精美练达的诗句已渗透到越南人的思想、观念以及他们的日常生活之中。越南民众对《金云翘传》的热爱和追捧程度已超出了人们的一般想象。《金云翘传》中的很多诗句、成语早已成为使用频率很高的大众语言。更有学者还研究总结了《金云翘传》在越南创下的若干个之“最”或“第一”。例如:《金云翘传》是第一部使作者跻身于世界文化名人之列的文学作品;第一部被搬上越南银幕的文学作品;拥有读者最多并最受群众喜欢吟诵的文学作品……等等。 可以说,在越南的文学作品中(包括古典文学和现代文学),没有任何一部作品像《金云翘传》这样地深入人心,传播得如此之广,产生的影响如此之大。相比之下,邓陈昆的《征妇吟曲》却远没有如此的“幸运”。实事求是地说,如果仅从中国文学的视角来评价这两篇文学作品的艺术价值以及两位作者所表现出的深厚的汉文化功底,实难分出高低上下。那么,为什么它们在越南的影响却有如此的差距呢?细细分析个中原因,最根本的一点恐怕还是在于阮攸始终将自己的创作置身于民族文化的土壤之中,并从中汲取永不枯竭的力量。在这一点上,显然阮攸胜过了邓陈昆。

首先,在诗的载体——文字上,邓陈昆的《征妇吟曲》采用的是汉字。诗人在创作中所展现的中国文化内涵和中国文学精粹,对于多数不懂汉文的越南人来说,难免成了曲高和寡之作。虽然后来有人用喃文将其翻译成双七六八体或六八体诗,并且有的译本已达到了相当高的水准,如段氏点用双七六八体诗翻译的《征妇吟演歌》受到越南学界及读者的普遍赞誉,然而,翻译毕竟不是创作,译作的水平再高也很难完全不折不扣地表现出原著的“原滋原味”;其次,《征妇吟曲》采用的体裁是古乐府,从诗的形式到诗的语言,除了少数有一定汉文化修养的知识分子之外,更因很难被越南人民接受而成为了脱离群众的“阳春白雪”。而阮攸的《金云翘传》则因为采用的是越南人民最为熟悉和喜爱的“六八体”诗,故作品具有庞大的受众群体。六八体诗在越南之所以如此地为人民喜爱,具有很强的民族性,其中一个重要因素就是这种六八字句相间的歌谣、俗语在越南古已有之。早在越南的民族文字产生之前,劳动人民就创造了大量六八字相间的民歌、民谣、谚语、俗语,以口头传颂的方式来表达感情,交流经验,内容十分丰富。直到15世纪末、16世纪初,这种民间歌谣的形式逐渐被文人运用于自己的诗歌创作之中后才逐渐成为一种正式的民族诗歌体裁。到18、19世纪,“六八体”诗得到迅速发展。这种六八字相间的诗体具有律诗所不具备的优点。在形式结构上,“六八体”诗与律诗的最大不同在于,虽然“六八体”也有一定的平仄、韵律规则,但并不像律诗那样在句数、声韵、对仗等方面都有严格的要求和限制。“六八体”不限句数,想长则长,想短则短;在押韵规则上“六八体”也有很大的灵活性,特别是在“六八体”诗的八字句中除了有脚韵,还有腰韵,并且只要八字句的第六个字(腰韵)能押上前面的六字句的脚韵即可,下一个八字句的脚韵则可根据作者的意愿而定,或需要进行换韵,也十分易于操作,非常适合越南语声调丰富(6个声调)、富于音乐美的特点,易于为群众接受,深受人民群众的喜爱。

更重要的是,阮攸时刻不忘将自己的创作植根于民族文学的沃土之中,从中吸取丰富的营养,并不断地将那些通过借鉴、采集到的中国文学精华进行“中为越用”的加工和处理,使其最大限度地“民族化”,以致一些没有汉文基础的越南人竟将《金云翘传》中原本是从中国成语或典故引进的“舶来品”当成了越南的“本地产”。 正是阮攸准确地驾驭了文学与文化的互动过程中所释放出的这种“诗性的生命精神”,使他的这部文学杰作《金云翘传》既不乏通俗,又不失高雅,被赋予了经久不衰的艺术生命力。而这一点正是邓陈昆的《征妇吟曲》所无法望其项背的。

从以上对《征妇吟曲》和《金云翘传》进行文化诗学的解读和分析,我们是否可以得出“民族文化是越南诗学发展的内动力”之结论呢?

(2007年7月)

[1] 李吟咏《诗学解释学》,上海人民出版社,2003年,第230页。

[2] 乐黛云《比较文学与比较文化十讲》,复旦大学出版社,2004年,179页。

[3] 戴可来、杨宝筠校点《岭南摭怪等史料三种》,中州古籍出版社,1991年,前言。

[4] 王力《汉语史论文集》,科学出版社,1958年,第299页。

[5] 另一名为“王郎归”,见《李陈诗文》第I集,河内科学出版社,1977年,第208页。

[6] (越)裴文元、何明德《越南诗歌》,河内社会科学出版社,1971年,第46页。

[7] (越)赖玉疆《〈征妇吟〉考释与介绍》,文学出版社,1964年,第14页。

[8] (越)《越南文学总集》卷13,社会科学出版社,2000年,第13页。

[9] 《全宋诗》卷六三,第39405页,陈淳祖。

[10] 周一良主编《中外文化交流史》,河南人民出版社,1987年,前言。

 

本文责编:jiangranting
发信站:爱思想(http://www.aisixiang.com),栏目:天益学术 > 语言学和文学 > 外国文学
本文链接:http://www.aisixiang.com/data/20567.html
文章来源:北京大学东方文学研究中心

Literature 中文

陈氏绒: 中越《金云翘传》《翘传》比较研究评议

中越《金云翘传》《翘传》比较研究评议

更多发布于:2014-10-27 21:13
陈氏绒
(湖南师范大学文学院  湖南  长沙  410081)
关键词:《金云翘传》;《翘传》;青心才人;阮攸;比较文学
摘要:中国明末清初青心才人的章回小说《金云翘传》与越南黎末阮初阮攸的喃传《翘传》的比较,历来受到中越学界的普遍关注。目前关于两者对比研究的成果已经相当丰硕,但由于各种原因,中越学界对作品的解读一直无法达成共识,对彼此的研究成果缺少足够的认知,所以,目前仍存在一些亟待解决的问题。
〔中图分类号〕I0-03 〔文献标识码〕A  〔文章编号〕1003-7535(2014)-121-05
一、越南的研究情况
因意识到青心才人《金云翘传》与阮攸《翘传》的关系以及对比两者的重要性,越南学者很早就对其进行了比较。19世纪,越南学者的研究主要是发表自己对《翘传》的读后感,不注重探讨两个作品的异同。从20世纪以来,两个作品的比较研究成为了热门课题,一时间出现了不少文章。纵观越南整个研究历史,对《金云翘传》与《翘传》的比较研究经历了三个阶段,不同阶段有不同的特点。
1. 第一阶段是20世纪初到1945年,此阶段的学界对《金云翘传》了解还不够。
20世纪初,一般学者都未能对两个作品进行深入比较,甚至有学者贬低《金云翘传》以及抬高阮攸《翘传》。代表学者有阮墩服、范琼、陈重金、吴德计等。阮墩服的《的文风和人物》一文除了主要探讨《翘传》的五个人物之外,还提到《金云翘传》和《翘传》的关系,但作者只是为了肯定《翘传》的优秀才提到前者。他赞扬《翘传》的卓著艺术,同时也承认《金云翘传》的生动人物、精彩情节、丰富情感范围就是《翘传》的来源。 〔1 〕 (P314-315 )1924年,范琼在高度赞扬《翘传》之余,也提到了《金云翘传》和《翘传》的区别。他指出:
《翘传》虽然浸透了中国文化精神、融合了中国文学材料,但是有一个中国文学没有的特色,那种特色就是结构。 〔2 〕 (P92 )
可见,范琼没有深入地比较这两个作品,他肯定的是《翘传》相对于原作的独特性,认为《翘传》在越南文坛有突出贡献,甚至对中国文学也有突出贡献。同一时段,陈重金发表了《的文风和阮攸传记》的演说。在演说中他认为青心才人《金云翘传》只是“文风平淡”的作品,而《翘传》则是杰出的文学作品,并且阮攸把青心才人的作品当作蓝本仅仅是因为阮攸和王翠翘有相同之感。 〔3 〕 (P99-100 )
吴德计在《国文正学和邪说——论阮攸》也谈到《金云翘传》,但他的目的是为了贬低原作:
青心才人是平淡的小说,没什么价值。在中国的爱情小说中,不乏更离奇的故事 〔4 〕 (P261 )。
陈重金和吴德计的观点导致后来很多学者对两个作品产生片面评价:《金云翘传》只是平淡的小说,而《翘传》是一个精致的作品。
1943年,陶维英学者第一次深入对照中越《金云翘传》与《翘传》,出版专著《关于考论》。他对《金云翘传》与《翘传》的异同做出了细致的分析,为后人探讨这类问题提供了很好的思路。在这本书中,陶维英考察、比较了两个作品的故事,他肯定阮攸保留了中国小说的故事内容,同时也强调:
原本叙事冗长、结构简单的程序,而阮攸却斟酌安排成有紧密骨架,脉络清晰的组织。 〔5 〕 (P51 )
阮攸已经将《金云翘传》脱胎换骨并造成全新的作品。 〔5 〕 (P76-77 )
他又指出两个作品的一些重要区别:关于人物的性格,他肯定《金云翘传》的人物是真实的,而阮攸却是谙练的心理学者,所以使《翘传》的人物变成世世代代到处都会出现的人。 〔5 〕 (P76-77 )关于细节刻画,陶维英肯定阮攸不侧重写实,而青心才人却详细描写情节。他的结论肯定了阮攸对原作的加工处理,否定原著的艺术价值,比如:
原本叙述冗长,关注不重要的情节以及常常真实描写容易激动的语境。阮攸则简短叙事、只叙述重要的事件,而一边叙述一边议论、让文风更有趣味。阮攸将原本中凡描写粗犷、冗长的篇幅都删除,但却特别注意描写情和景。 〔5 〕 (P76-77 )
总而言之,陶维英的细节对照方法对后人有很大启发。但值得注意的是,因对《金云翘传》的理解不够,导致他对《翘传》所作的论断都是正面积极的,而应从别的角度出发、进一步深入的解读《金云翘传》,才能使论证更准确、更充分、更具说服力。
2. 第二阶段是从1945年到1975年,大多学者都从社会角度研究《翘传》,强调《翘传》的社会意义而不关注《金云翘传》的本身意义。
1945年8月的革命让越南整个国家发生了巨大变化,其中也包括文学领域。革命是以打击封建主义、反对帝国主义、解放民族为目的,而这个目的影响了文学研究,所以《翘传》的社会意义受到学者的关注。怀青的《阮攸中的人之生存权利》是从革命角度研究《翘传》的一篇典型文章。由于受到当时思潮的影响,比较《金云翘传》和《翘传》时,他肯定了《翘传》的革命立场和文艺观点。对于两个作品的人物区别,怀青选择“徐海”这个人物作为分析对象。他肯定:
对青心才人,徐海只有临战时才非凡……虽然这是青心才人的用意,徐海仍然是在中国绿林好汉中的无数大王之一。而在阮攸,徐海不仅是一位大王,他已成为方方面面非凡的人。对青心才人,徐海兀自只是小说人物。对阮攸,徐海已成为英雄式的人物。 〔6 〕 (P25 )
他认为,因为“徐海有阮攸一辈子最大的梦想:英雄梦”,所以才有两个作品的区别。他也肯定作品中的封建社会也不尽相同,这些差异是从作家的思想情感而来:
青心才人也极力勾画出那个青皮社会,但青心才人的图画只是无神的图画、青心才人的人只是一些骨骼。阮攸已经把那些骨骼造成真人。阮攸已经把人物塑造成为爱、憎、慊、怨恨兼备的人,然而在青心才人中的作品只是爱意,憎意,歉意,恨意。 〔6 〕 (P48 )
可见怀青在热烈赞扬《翘传》时贬低了《金云翘传》,还把《金云翘传》当成陪衬的作品。
20世纪60年代,春妙诗人在《阮攸民族诗豪》一书中也比较过《金云翘传》与《翘传》。他首先着重关注阮攸对主角的情感,认为一个作家的成功,心比才更重要,作者的情感让作品增添了更多活力,使得《翘传》比《金云翘传》更为优越与成功。他说:
每一段是阮攸用艺术家的伟大心脏来惨痛悲哀,每一字是每一次阮攸关爱翠翘、关爱《翘传》中的人类命运……阮攸不仅是把自己的心放在人物上,阮攸自己就是人物;阮攸自己通过《翘传》说自己的苦楚、自己的磨难才有这样的充满诗意的声音。 〔7 〕 (P608-609 )
阮禄在《后半十八世纪到前半十九世纪的越南文学》 也曾经比较这两个作品。他肯定阮攸对青心才人作品的继承和在此基础上的创造,但总体也没有离开前者的局限:阮禄把《翘传》当标准,认为阮攸的删改和创造都合理而且《金云翘传》中被删改的细节都肤浅。像当时的一些研究者一样,阮禄解释阮攸的创造原因在于一个真正诗人的情感、心灵。他认为:
诗人已经删掉三分之一青心才人作品中烦琐冗长的情节,而加入比较大的其他细节。如一些自然主义、粗俗、对读者审美有害处、不能服务作品的思想主题的描写短文。同时诗人为了展示人物性格和心绪,增加了很多写情、写景的细节。阮攸的创作不论是削减还是加入,又或者留下青心才人的情节,也都不是完全保持,丝毫没有创新的。阮攸通过再感受、再认识、再安排,只留下适合之处,用真正诗家的充满情感的笔端来展示它。 〔8 〕 (P336 )
还有些学者如阮白科、黎亭忌、张酒等,都不太深入探讨《金云翘传》与《翘传》的关系和体裁本质,而只是赞扬《翘传》的社会意义,用阶级观点来分析人物,认为《翘传》反映越南西山起义,反映阮攸时代社会背景。这些学者所论作品之间的异同也许有一定的道理,但是他们贬低《金云翘传》是主观和片面的。如果换一个角度来研究,我们会可以理解这些学者的妥当之处和片面之处。
3. 第三阶段是从1975年到现在,此阶段的研究成果越来越丰硕,越来越深刻。
20世纪末,一些学者仍继续细节对照的方向。1984年,武亭翟在日本发表的一篇博士论文中指出中越两个作品的17个区别,认为这些区别体现了阮攸的人本思想,从而影响到具体情节的处理。比如,阮攸不直接描写在青楼里的灯红酒绿场面而只尽量地描写翠翘的薄命琴弓等。此外,他还发现一些新的点子,如:
金重和翠翘第一次幽会的夜晚,原著把翠翘描写成两人中的主动者,她不停地出言贫嘴并且迷惑地向金重传情,而阮攸却不是那样描写,他反而把佳人才智的清高禀性归还翠翘、按照“阳”征服“阴”的观念来让金重成为主动者。《金云翘传》中的抱怨带着渲染暴虐性,显着报仇者的邪心和人类社会的恶劣暴行。在阮攸笔下,作者只要能够全然表达因果报应的意思和人生的常情心理,因而他避开而不描写无人道的举止和行动而只描写需要起码的情节。 〔9 〕 (P253-254 )
运用细节对照方法来比较得最全面的专著是范丹桂的《对照》。作者按两个作品的回目来对照,提出一个结论:
阮攸已经很靠近青心才人的原本……但是他只选择主要事情,删略冗长的一些段文,并有时候把原作的很长段文撮要成一些句子。而基本区别在于:《金云翘传》中的事件是拼凑事件而《翘传》中的则是系统的事件。阮攸已经通过替换每个部分之间的数量关系而创新了《金云翘传》。 〔10 〕 (P16 )
黎春列的《从细节看与》仔细地对照两个作品的区别,比如:为什么在《翘传》王翁只有姓而没有名?王妈是谁?翠云谙不谙诗赋?翠翘的家乡在哪儿?等等。 〔11 〕 (P534 )阮石江、赵玉兰、卢尉秋在《与的一些评论》中发现:《金云翘传》总共有214页,阮攸已经删掉142页,只基于其中的72页来写《断肠新生》(1313诗句),所以《翘传》中的其余1941诗句是阮攸自己写的 〔12 〕。在越南,相似的比较相当多,他们所开列的对照表有助于后来的比较研究者减少工作量。但是这种研究手段往往局限于句与句之间、情节与情节之间的对比,忽略了整体性,忽略了作品的特色、作家的创造个性和深层审美等,显得比较粗糙。
21世纪以来,一些学者运用作诗法、叙事学、文化人类学理论研究《翘传》,使得比较《金云翘传》与《翘传》的研究有新的发展。首先是潘玉的《推求中的阮攸风格》专著。这本书运用作诗法理论,研究《翘传》的思想、叙事方法、诗句、语法、语言等。虽然依旧提到阮攸作品内容的删减、情节选择的问题,但是潘玉主张通过时代风格、体裁风格等来研究两个作品之异同,他肯定:
想考察《翘传》如同劳动产出的产品,需要针对《翘传》三个研究问题进行阐述:第一,阮攸从这个作品借鉴了什么、删除了什么、加入了什么。针对各个方面,我们都需要阐释理由。为什么阮攸借鉴这个事件、删除那个事件、加入别的事件?不同于青心才人,阮攸有自己的写作风格。第二,在阮攸加入的东西中,什么是阮攸自己的,什么是时代共同的特征?时代激发着他的选择,深刻地展示出他所在时代的艺术风格。第三,通过三方面对比《翘传》,一方面与青心才人对比;一方面和中国传统文学对比;一方面与时代文学对比,从而获取阮攸在写作上的独到贡献。 〔13 〕 (P37 )
潘玉认为阮攸已经变换作品的主题,将情和苦的主题换成才和命,阮攸用自己的思想来铺陈全文的故事而不是从青心才人那单纯地借鉴。他也对比了两个作品的叙事法。但是我们发现潘玉的专著有一点错误,因为他完全否认了阮攸受中国才命思想的影响而将《翘传》当标准来比较。毕竟要承认的是他的比较手法相当合适,带来了一些启发:为了更好地研究《金云翘传》和《翘传》之间的区别,需要研究两个作品的体裁风格。
陈亭史的《作诗法》立论洞悉幽微,涉及《翘传》与才子佳人小说的相关问题。他认为:
《翘传》是一种体裁的选择,《翘传》不同于章回小说,是属于喃传体裁,和中国章回小说之间存在差异。他肯定《金云翘传》具有深刻的独特性,不仅是才子佳人小说而又有世情风味,也肯定《翘传》多侧重心理描写、多用内心独白。 〔14 〕 (P57-58 )
这些结论对两个作品的比较研究有着重要的启发意义。从作诗法角度,他主张在广大的平面进行比较,把两个作品放到叙事理论轨道或体裁理论之中来进行比较:
目前《翘传》之比较研究不能局限在两个作品双方的比较范围之中,因为阮攸的借鉴和创造本身属于周围各个地区的文化轨道,《翘传》是有宽大文化背景的创作文化行为的产品。 〔14 〕 (P54 )
陈儒辰在《从十世纪到十九世纪的越南文学》中也提出这些问题,并提出比较时要深入研究中越两国的叙事传统,越南文学的传统文化背景。 〔15 〕 (P295 )阮有山在《从演变类型和体裁方面比较与》提到阮攸在《翘传》中对《金云翘传》处理的两个趋向:简略梗概人物、事件、情节和增加抒情性、描写人物内心、描写自然风景的取向。 〔16 〕 (P1107-1121 )以上各种观点都值得我们重视,《翘传》和《金云翘传》涉及的文学范围比较复杂,想真正比较两个作品,还应该对两国的文化审美与文学传统作更为深入的探究。
二、中国的研究情况
从《翘传》第一次被翻译成汉语时(1958年),青心才人《金云翘传》与阮攸《翘传》之间的关联便开始为中国学界所注意。20世纪80年代后,中越《金云翘传》与《翘传》得到了学界越来越深入的研讨。纵观此论题的研究文献,中国学界主要谈到以下几个方面:第一,如何评价中越两部作品?第二,这两部作品有何异同?第三,这两部作品的区别原因为何?
1. 《金云翘传》与《翘传》的关系已很明显,但如何对比它们的价值?学界存在两种观点:一种认为《翘传》无论在思想内容上,还是在艺术形式上均未超过青心才人的原作,另一种则认为阮攸的《翘传》优于青心才人《金云翘传》。
持第一观点的代表学者是辽宁大学的董文成教授。从1986年到1987年,他一直致力于研究《金云翘传》。从宏观角度出发,他认为:
中越两部《翘传》的主要人物和故事情节完全相同,就连叙事的结构都毫无变化。阮攸不仅仅是‘取材于中国小说’,而差不多是依样葫芦地移植了,他在叙述人物经历和编写故事方面没有任何新的创造。 〔17 〕 (P84 )
从微观角度比较,他认为阮攸在书中某些人物刻画上有了自己的主观意识,于一定程度上损害了人物性格的完整和统一。实际上,《翘传》的很多情节被越南学者极为赞扬,而董文成却极力批判,比如“翠翘报恩报怨”的情节,他认为:
这种报复虽然残酷些,但这是压迫者逼出来的,是奴隶反抗的正义行为。可是,上述活生生的阶级斗争内容,到了阮攸的笔下全被写得走了样儿;写到后来翠翘复仇,轻易放过了宦夫人,根本没有派人抓她。对待宦氏这位迫害翠翘的“首犯”则进行了网开一面的宽大。 〔17 〕 (P95 )
不久,董文成的文章被翻译成越南语,许多人反驳他的意见,造成两国学者的热烈争论。其中,王千宜的硕士论文《研究》引用了董文成观点。 〔18 〕 (P78 )明珠在《创作对两个版本的收容》也有这种观点,她认定:“阮攸《金云翘传》在情节上几乎完全移植青心才人《金云翘传》,就连在人物性格的塑造方面也体现不出太大的国别差异。” 〔19 〕 (P42 )王小盾则认为《翘传》“也属于翻译文学”,“此书完全保存了原作的人物和故事。” 〔20 〕 (P120 )
第二种观点逐渐得到认同。1958年,在《金云翘传》阮攸翻译本后记,黄轶球提到中国《金云翘传》与越南《翘传》之间的关系:
《金云翘传》原本是中国清初时流行的一部小说……阮攸的《金云翘传》,便是从这本汉文作品中汲取泉源,再加创造。他采取了民族的语言,民歌的形式,纯熟地运用中国文学的典故,完美无缺的熔铸在整齐的“六八诗句”里。 〔21 〕 (P154 )
在《越南诗人阮攸和他的杰作》一文中,他从多方面分析,认为阮攸的《翘传》是文学杰作。黄轶球因了解越南学界研究的动态,并能阅读越南语《翘传》,所以对《翘传》的体裁、文字技术、音乐气氛等问题作出了较为客观的评价。 〔22 〕刘世德、李修章在《越南杰出的诗人阮攸和他的》中也提到:
从小说《金云翘传》到长篇叙事诗《金云翘传》,诗人虽然没有着重地去更改小说的情节,但他并不是仅仅铺叙故事情节的进展,而是在许多地方用优美的诗的语言生动的、细致地抒发了作品中的人物的思想感情的活动。 〔23 〕 (P40 )
阮文环认定:
阮攸继承和发挥了原本的《金云翘传》中的优点,克服了它的一部分缺点和弱点,在青心才人的启发下,阮攸创作了一部全新的,光辉的杰作。 〔24 〕 (P81 )
1973年,陈光辉在《越南喃传与中国小说关系之研究》论文中探究《金云翘传》与《翘传》,通过情节、人物、思想、表达形式的比较,认为阮攸以《金云翘传》为蓝本,创造出了一个杰出作品。 〔25 〕20世纪90年代以后,中越两国的《金云翘传》和《翘传》之比较研究更为深入。大多学者都认为《翘传》不是一个简单的译本,而是真正的创造品。
李群认为:
阮攸的《翘传》虽然采用了中国小说的题材,但绝不是一本译作,更不是机械的生搬硬套之作,它经过阮攸这位语言巨匠的再创作,已成为一部适应于越南文学模式的,具有很高艺术价值的文学作品。 〔26 〕 (P234 )
罗长山认为:
《翘传》虽然取材自中国的同名小说,并且主要情节与原著大体相同,但绝非原著的翻版,他对原著进行了再构思,再创作,力求作品中的每个人物,每个情节,都能准确、生动地体现自己的审美价值取向。 〔27 〕 (P114 )
何明智认为:
阮攸的《翘传》虽然脱胎于中国的《金云翘传》,但他所选择的题材仍然具有一定的特殊性,显示了作者独到的眼光和所能达到的高度。 〔28 〕 (P110 )
2. 关于《金云翘传》与《翘传》之间的异同问题,学界对两个作品作了比较全面的分析,但大多只停留在概括的层次。
关于《金云翘传》与《翘传》的相同点,论者的观点是统一的。吕永在《中越两部的艺术成就与现实意义》中指出《金云翘传》与《翘传》的四个共同特点:虽写妓女,但不涉淫荡;戏剧性强、批判面广;首尾圆合,结构周密;人物性格其异如面。吕永还提到两个作品存在的“白璧微瑕”:它们都转播了“才命相妒”的宿命论观点;它们都画蛇添足,让翠翘投江之后,被未卜先知的觉缘道姑救起,让她与妹妹翠云意外相逢,同缘金重;徐海的原型,本是通倭扰边的海寇。将他改写为草莽英雄,似乎不如《秋虎丘》将他写成转变人物,以免艺术真实与基本史实相抵牾。 〔29 〕韦红萍指出三个相同点:两部作品的内容类似,都是在前人创作的基础上进行再加工创造的,成就也比前人飞跃;两个作品所处的时代背景也极为相似。 〔30 〕赵炎秋和宋亚玲指出:两部作品的故事框架基本相同、叙事结构周密;人物形象设置大体相同、人物性格典型突出;两部作品的作者发挥了创作的态度、彼此都有对前文本的吸收与创新;两部作品都反映出现实主义的批判精神和封建的宿命论。 〔31 〕马道法在其硕士论文中指出两个作品的三个相同点:两者的故事情节大致相同;作品人物的设置相同;两者在思想主题上也有相同之处。 〔32 〕宋亚玲在其《中越的比较研究》的硕士论文中指出阮攸承续了青传的四个方面:情节、女性观、人物塑造技巧和现实主义创作原则 〔33 〕。
关于《金云翘传》与《翘传》的差异点,学者主要从主题思想、人物塑造、体裁选择、所用文体、叙事、语言风格等方面来做比较。李群的《:从中国小说到越南名著》阐述了两部《金云翘传》的血缘关系,并从人物塑造、艺术表现和文学体裁等方面肯定了阮攸改写《金云翘传》的妙笔。 〔26 〕韦红萍指出两个作品的四个区别,认为每个作品的不同之处也就是对本国影响程度不同的根本原因:两者有着各自不同特点的文体,作品产生的年代不同以及作者所处地位与社会背景也不同。 〔30 〕祁广谋的《论越南喃字小说的文学传统及其艺术价值——兼论阮攸的艺术成就》肯定阮攸《翘传》的艺术成就突出地表现在人物形象的塑造上和出色地运用民族语言上。 〔34 〕王小林在《论越南对中国文化的改写》中着重通过分析四个方面,证明 “作者将一部具有明显的俗文化倾向的中国明清才子佳人小说演化为一首具有雅文化倾向的越南长篇叙事诗”的论题。 〔35 〕宋亚玲研究指出五个变异的方面包括形式,情节,女性理想载体,翠翘女性角色定位以及正统皇权观的变异。 〔33 〕笔者认为,这些学者的观点都有一定的道理。但是分析都还停留在概括层次,深入挖掘每个作品的独特性还不够。
何明智、韦茂斌在《中越两部写作比较》中指出两个作品的文化背景,肯定不同的创作动机决定了两部作品不同的命运。中式的《金云翘传》在描写过程当中,因不时穿插进一些带有感官刺激的“色性情”内容而成为清初淫词小说的代表作之一,更因作品中赞扬了反叛朝廷的大盗,为清政府所不容,最终遭到了彻底地禁毁。而阮攸的《翘传》利用了越南的喃字,把越南的语言之美发挥到淋漓尽致,所以《翘传》受到越南人的喜爱。 〔36 〕我们认为,这位学者的发现其实比较妥当,值得我们继续深入探讨。
就两个作品的主要思想,杨晓莲指出:
虽说《翘传》主旨在肯定忠孝仁义,可是,宣扬的重点倒是“天命观——宿命观”。 〔37 〕 (P69 )
赵炎秋,宋亚玲认为:
两位作者不同的内在思想文化决定了不同的爱情观和审美价值取向,与青本相比,阮本更符合儒家思想规范。 〔31 〕
这些学者的认定是对的,但还不够。因为,青心才人和阮攸的文学创作毕竟都属于儒家文化圈,只是彼此有相同点又有区别,所以需要继续深入寻找两者深层的文学背景来解释这个议题。
王玉玲的《中国理想女性之美——从中越 比较中看民族审美的差异》一文则以翠翘的女性形象为切入点,分析中越两个民族的审美差异及文学传统、社会现实、道德文化等深层原因。她认为:
中、越翠翘同是“才女”,但重点不同,中国偏“才”、越南偏“女”,原因是中国“才人”的形象掩盖了“女子”的特点;中国的翠翘身上也体现了明清时期“情”、“德”、“欲”相融的社会因素和中华民族“名实”并重的双重性格。” 〔38 〕 (P235,237 )
黄玲的《民族叙事与女性话语——越南阮攸的创作及的经典》从人类学角度研究得出:
“阮攸的翠翘与其中国原型有着本质差别:她不是明清之际文人个体心性的感性表达,缺乏中国翠翘那种傲视礼教和权威的勇气,翠翘作为儒家精神的理想典范……与青心才人之《金云翘传》相比,阮攸《翘传》的叙事重在翠翘的坚忍,读者看到的是善和义对理的彰显。 〔39 〕 (P42 )
赵炎秋、宋亚玲认为:
青本中人物个性更符合明清时代暗涌的解放思潮,而阮本中人物遵循儒家规范理想。而中越两国对理想男性的不同标准,也使两部作品中的形象产生了差异……越南的才子则是正直、坦荡、痴愚和憨实,在父权制社会里男性再如何不济,总是处于主导地位。女子的温良顺从则强化和确证了男性不可撼动的地位,她们终究只是男性的附庸。 〔31 〕
这些文章指出一些区别所在,但有些分析却不太适合《翘传》中的人物形象意义,还需进一步探究。
3. 最后,中国论者还提到造成这两部作品的差别的原因。前述学者分析中越两位创作者大同小异的文化身份、相似的创作动机和背景、不同体裁的转变、创新及迎合读者阅读习惯的意识、 〔31 〕写作动机、越南文化、文体特征 〔38 〕、阮攸的儒家精神与民族意识 〔39 〕、作者的生活经历和出身阶级等, 〔17 〕这些都是两部作品产生差异的原因所在。
总而言之,这两个作品的比较受到了众多学者关注,尤其最近20年来更是如此。越南学界对《金云翘传》与《翘传》的比较研究文献成果是丰硕的。然而,这些研究多少受到狭窄的民族主义影响,导致某些结论缺乏客观性,无意中贬低了《金云翘传》的价值。中国学界虽然掌握青心才人《金云翘传》的相关知识,但对喃传的作品(包括《翘传》)理解并不深入,只基于阮攸《翘传》的汉文译本来研究,会失去许多原著的风味。此外,中国学者主要只关注《金云翘传》和《翘传》的总体考察,忽略了一些要素,特别是体裁方面,对于阮攸的创新之处和《翘传》特色理解不太深,仍存在着进一步探讨的空间。
[参考文献]
〔1〕阮墩服.《翘传》中的文风和人物〔J〕.南风杂志.第10卷,1922(58).
〔2〕范琼.国语的演说〔J〕.南风杂志.第15卷,1924(86).
〔3〕陈重金.《翘传》的文风和阮攸传记〔J〕.南风杂志(第15卷),1924(86).
〔4〕吴德计.国文正学和邪说——论阮攸——《金云翘》〔Z〕.郑灞锭主编.阮攸、关于作家和作品〔C〕.河内:教育出版社,2001.
〔5〕陶维英.关于《翠翘传》考论〔M〕.河内:文化通讯出版社,2007.
〔6〕怀青.阮攸《翘传》中的人类之生存权利〔M〕.河内:越南文化会出版,1949.
〔7〕春妙.越南古典的诗家〔M〕.河内:青年出版社,1981.
〔8〕阮禄.后半十八世纪到前半十九世纪的越南文学〔M〕.河内:教育出版社,1999.
〔9〕武亭翟.阮攸的人本哲理〔R〕.哲学博士论文.东京:上智大学,1993.
〔10〕范丹桂.《翘传》对照〔M〕.海防:海防出版社,1999.
〔11〕黎春列.从细节角度看的《翘传》与《金云翘传》〔A〕.黎春列.两百年研究评论《翘传》〔C〕.河内:教育出版社,2005.
〔12〕阮石江.赵玉兰.卢尉秋.《金云翘传》与《断肠新生》的一些评论〔J〕.香江杂志,1994(2).
〔13〕潘玉.推求《翘传》中的阮攸风格〔M〕.河内:青年出版社,2003.
〔14〕陈亭史.《翘传》的作诗法〔M〕.河内:越南教育出版社,2012.
〔15〕陈儒辰.从十世纪到十九世纪的越南文学〔M〕.河内:教育出版社,2012.
〔16〕阮有山.从演变类型和体裁方面比较《翘传》与《金云翘传》〔A〕.阮春岚.20世纪初的《翘传》研究〔C〕.河内:教育出版社,2009.
汉语:
〔17〕董文成.杨爱群.《金云翘传》〔M〕.沈阳:春风文艺出版社,1999.
〔18〕陈益源.王翠翘故事研究〔M〕.北京:西苑出版社,2003.
〔19〕明珠.《女海盗金寡妇》创作对《金云翘传》两个版本的收容〔J〕.株洲师范高等专科学校学报,2007(4).
〔20〕王小盾.东干文学和越南古代文学的启示——关于新资料对文学研究的未来影响〔J〕.文学遗产,2001(6).
〔21〕黄轶球.《金云翘传》阮攸翻译本〔M〕.北京:人民文学出版社,1959.
〔22〕黄轶球.越南诗人阮攸和他的杰作《金云翘传》〔J〕.华南师范学院学报,1958(2).
〔23〕刘世德.李修章.越南杰出的诗人阮攸和他的《金云翘传》〔J〕.文学评论,1965(06).
〔24〕阮文环.越南古典文学中最伟大的诗人——阮攸〔J〕.人民文学出版社,1958(02).
〔25〕陈光辉.越南喃传与中国小说关系之研究〔D〕.台湾:国立政治大学,1973.
〔26〕李群.《金云翘传》:从中国小说到越南名著〔J〕.人文社会科学专辑,2001(S1).
〔27〕罗长山.越南大诗豪阮攸和他的《金云翘传》〔J〕.广西教育学院学报,2002(2).
〔28〕何明智.越南大文豪阮攸及其名作《金云翘传》〔J〕.新世界论丛,2006(2).
〔29〕吕永.中越两部《金云翘传》的艺术成就与现实主义〔J〕.湘潭大学社会科学学报,1997(5).
〔30〕韦红萍.中越《金云翘传》的对比〔J〕.东南亚纵横,2008(3).
〔31〕赵炎秋.宋亚玲.阮攸《金云翘传》对青心才人《金云翘传》的承继与变异〔J〕.越南国际研讨,胡志明市,2011.
〔32〕马道法.《金云翘传》研究〔D〕.济南大学,2010.
〔33〕宋亚玲.中越《金云翘传》的比较研究〔D〕.湖南师范大学,2013.
〔34〕祁广谋.论越南喃字小说的文学传统及其艺术价值——兼论阮攸《金云翘传》的艺术成就〔J〕.解放军外国语学院学报,1997(6).
〔35〕王小林.论越南《金云翘传》对中国文化的改写〔J〕.越南国际研讨.胡志明市,2011.
〔36〕何明智.韦茂斌.中越两部《金云翘传》写作比较〔J〕.电影文学,2007(4).
〔37〕杨晓莲.谈《金云翘传》的传承及主题思想〔J〕.四川师范大学学报,1993(2).
〔38〕王玉玲.中国理想女性之美——从中、越《金云翘传》比较中看民族审美的差异〔J〕.明清小说研究,2004(4).
〔39〕黄玲.民族叙事与女性话语——越南阮攸的创作及《金云翘传》的经典〔J〕.苏州科技学院学报,2011(6).
来源于学术猫   http://www.scimao.com/read/1262890
Literature 中文 論文

赋体与东方思想

赋体与东方思想

(论越南《玉井莲赋》与中国《子虚》、《上林》赋)

[越]潘秋云

无论是从形式还是内容上,《玉井莲赋》与《子虚》、《上林》二赋都南辕北辙,相差甚远。两者的搭配好比拿小大卫跟巨人歌利亚来作比较,也就是说,毫无可比性。那么,本文为什么要把这两篇赋作为第一对比较作品?其原因如下:

一、《玉井莲赋》历来被认为是越南独立文学史上现存的第一篇汉文赋,也是最富名气的赋之一。《子虚》、《上林》则是中国文学史上的第一篇全面体现汉赋特点的大赋,也是汉赋中影响最大的作品之一。在越南赋学史上《玉井莲赋》的地位跟《上林赋》在中国赋学史上的地位应该是同等的,所以笔者将两者比较而论。

二、《玉井莲赋》和《子虚》、《上林》都是体现“献赋”风气的最佳例子。莫挺之跟司马相如都因作赋而受到了王者的欣赏。这两篇赋的创作背景都比较特殊,从中透露出来的信息能够让我们了解到更多时代的文学风气以及文人和其作品在其所处时代中的地位和影响力。

三、在《越赋纵横》中,钟逢义曾经写道:“《玉井莲赋》,系陈朝莫挺智(之)所作,可以说是一篇汉赋的复制品。” [1]作者把《玉井莲赋》比作汉赋,但没进一步说明是哪一篇。本文试着把它跟汉赋的代表作《子虚》、《上林》进行比较,同时也参考其他汉赋作品的例子,以探讨越南汉文赋和汉赋之间的关系与其异同。

本文将通过对作者和作品创作背景的介绍与对作品本身的艺术特征的分析来进行探讨。

一.

莫挺之(1280-1350),字节夫原为谅江南策州平河县兰溪人后移居海阳省南策县南新社陇洞村。他是黎朝莫显绩的后代。莫挺之是越南历史上的一个文化名人。他一生经历了陈朝的四代陈英宗( 1293-1314)陈明宗( 1314-1329)陈宪宗( 1329-1341) 和陈裕宗( 1341-1369)莫朝的开国皇帝莫登庸是他的第七代子孙。有关莫挺之的生平没有更多记载。我们现在只能通过其留下的寥寥几篇作品来了解作者的情怀与其创作宗旨。

莫挺之凭其才华在越南文学史上脱颖而出,同时,凭其机智在越南文化史上留下不少佳话。其中,广为流传的两部作品都缘于王者因他长相欠佳而给他不公平的对待时的当庭献赋,至今传为美谈。

第一次是陈朝英宗朝(公元1304年)时,莫挺之应试获状元。相传当英宗接见状元时,看他个子矮小,其貌不扬,有不悦之意,甚至想把他降为榜眼,让第二人选来作状元。莫挺之便当场写了《玉井莲赋》。

客有:隐几高斋,夏日正午。临碧水之清池,芙蓉之乐府。忽有人焉。野其服,黄其冠。迥出尘之仙骨,凛辟榖之癯颜。问之何来,曰从华山。乃授之几,乃使之座。破东陵之瓜,荐瑶池之果。载言之琅,载笑之瑳。既而目客曰:非爱莲之君子耶。我有异种,藏之袖间。非桃李之粗俗,非梅竹之孤寒。非僧房之枸杞,非洛土之牡丹。非陶令东篱之菊,非灵均九畹之兰。乃泰华峰头玉井之莲。客曰:异哉。岂所谓藕如船兮花十丈,冷比霜兮甘比蜜者耶。昔闻其名,今得其实。道士欣然,乃袖中出。客一见之,心中郁郁。乃拂十样之笺,泚五色之笔。以为歌曰:架水晶兮为宫,金凿琉璃兮为户。碎玻璃兮为泥,洒明珠兮为露。香馥郁兮层霄,帝闻风兮女慕。桂子冷兮无香,素娥纷兮女妒。采瑶草兮芳洲,望美人兮湘浦。蹇何为兮中流,盍相返兮故宇。岂濩落兮无容,叹婵娟兮多误。苟予柄之不阿,果何伤乎风雨。恐芳红兮摇落,美人来兮岁暮。道士闻而叹曰:子何为哀且怨也。独不见凤凰池上紫薇,白玉堂前之红药。敻地位之清高,蔼声明之昭灼。彼皆见贵於圣明之朝。子独何之乎骚人之国。於是有感斯言起敬起慕。哦诚斋亭上之诗,赓昌黎峰头之句。叫阊阖以披心,敬献玉井连之赋。

《玉井莲赋》作为应制之作,引用了大量的中国诗歌入诗,从《诗经》、《离骚》中的词语至陶渊明、韩愈、刘禹锡、杨诚斋等诗歌中的意境和韵味。其中心意思在“叹婵娟兮多误。苟予柄之不阿,果何伤乎风雨。恐芳红兮摇落,美人来兮岁暮。”作者在“客”的角色中叹息婵娟之坎坷多误,芳红谢落,倘得“美人”青眯,恐已年岁迟暮了。这里用隐喻手法道出作者渴望圣上垂恩的心愿。而更巧妙的是下文接着用“道士”的角色来缓解气氛并转向曾赞君主:“彼皆见贵於圣明之朝。子独何之乎骚人之国”。其含义也是英明的统治者不该让贤臣怀才不遇,终身遗憾。

此赋让陈英宗马上对他另眼相看,并赐官位。莫挺之在朝廷中可说是如鱼得水,平步青云。

第二次是当莫挺之奉君命出使元朝时(年月尚未详),元朝内外文武官员一看到他就有藐视的表情。此时正逢外国有使者进奉扇子,元帝命莫挺之作铭,他马上写了这首《扇子铭》。

大火流金,天地为炉。汝于是时,伊、周大儒。北风其凉,风雪载途。汝于是时,夷、齐饿夫。噫!用之则行,舍之则藏,唯吾与汝有是夫!

此铭一出,马上受到元朝君臣的赞美,把他视为才子。传说元朝皇帝还给他“两国状元”的美称。后来有人把这首铭当做被永乐皇帝“夷十族”的方孝孺的作品,因在方孝孺(1357-1402)著作《逊志斋集》当中,有一首《扇子铭》。因为这首铭在越南的《大越史记全书•本纪》卷六有记载,而且莫挺之比方孝孺(1357-1402)大75岁。莫挺之出使中国时,方孝孺还没有生。认为此铭为方所作的说法是以讹传讹的。

莫挺之的《玉井莲赋》和《扇子铭》在相似的背景和动机之下创作出来。虽然两篇作品属于不同的体裁和题材,但所表达的意思基本相同,就是做人做事要学古人不以大才而傲,不以貌丑而悲,是金子总会发亮的,是奇花异草总会有人发现和欣赏的,看人不能以貌取人,君主更应该任人唯贤。然而,《玉井莲赋》因是为本国君主写的而少几分讽谏多几分赞美,同时灌注更多的个人情怀;《扇子铭》则因是为外国统治者写的,既要证明实力、维护尊严又要营造和气,而多几分气势少几分情感。

二.

司马相如(约前179年—前117年)是汉代最重要的文学家之一。在司马迁的《史记》中,专为文学家立的传只有两篇:一篇是《屈原贾生列传》,另一篇就是《司马相如列传》,就此可看出司马相如在太史公心目中的重要地位。班固《汉书》中的《司马相如传》虽然基本上是《史记•司马相如列传》的照录,但从其记载中也可以看到班固对司马相如的肯定。从《史记》和《汉书》当中的记载来看,我们可以知道司马相如虽然才华洋溢,也热爱文学,但人生追求却非以文学家为终。据《史记》、《汉书》所记载,司马相如是蜀郡成都人,字长卿,少年时喜欢读书,也学习剑术,他父母给他取名犬子,后来因仰慕蔺相如的为人而自己改名为相如。

蔺相如是战国时期著名的历史人物。司马迁为他与廉颇所写《廉颇蔺相如列传》,表彰了他的大智大勇和高尚品德,并始终认为“其处智勇,可谓兼之”。我们现在读《司马相如传》可推测出他仰慕蔺相如的原因有三:

其一,蔺相如的大无畏精神使他战胜了强秦的威逼凌辱,维护了赵国尊严。他的机智与果敢,很值得任何渴望攻出声名的大丈夫景仰与学习。其二,蔺相如与其“先国家之急而后私仇”的高尚品格,跟廉颇在“负荆请罪”的故事中生动地体现了中国古人的品德与胸襟,对司马相如有着显明的教育激励作用。其三,蔺相如凭三寸舌取得赵国君臣的信任,又说服秦王,“完璧归赵”而垂名青史,而司马相如却“口吃” [2]。由于自身缺陷而仰慕别人身上的优点,并渴望拥有同样的能力正是人之常情。《司马相如传》里面有一段记载:

以赀为郎,事孝景帝,为武骑常侍,非其好也。会景帝不好辞赋,是时梁孝王来朝,从游说之士齐人邹阳、淮阴枚乘、吴严忌夫子之徒,相如见而说之,因病免,客游梁,得与诸侯游士居,数岁,乃著《子虚之赋》。[3]

创作《子虚赋》的过程反映了司马相如不得不回到现实生活的一面。他所生活的时代是汉文帝、景帝、武帝三代,正是统一的封建大帝国日益巩固和发展的时代。战国时群雄割据的现象已经逝去,蔺相如的辉煌业绩难以重演,而司马相如本身能力也难以往这方面发展。因此,司马相如的聪明才智渐渐地转向了文学。《司马相如传》中收录了司马相如的三篇赋和四篇散文。其赋有《天子游猎赋》(一般称之为《子虚赋》或《子虚·上林赋》)、《哀二世赋》、《大人赋》。其散文有《谕巴蜀檄》、《难蜀父老》、《谏猎疏》、《封禅文》。这些文章体现了司马相如丰富多彩的文学造诣,内容与形式上不断地变化、不断地创新。不过,无论其赋还是散文,都有一个共同点,就是为汉武帝而写。连最后一篇文章《封禅》也是他去世之前准备好,以供使者给皇帝献上的,且仍然是一篇颂扬国家的兴盛强大,体现中央王朝的尊严声威的作品。《汉书》载其事:

问其妻,对曰:“长卿固未尝有书也。时时著书,人又取去,即空居。长卿未死时,为一卷书,曰有使者来求书,奏之。无他书。” 其遗札书言封禅事,奏所忠。忠奏其书,天子异之。[4]

这样,说他是个勇于创新、锐意开拓的文学家,不如说他是个雄心勃勃、不断想办设法把自己推荐给最高权力者的在大统一文化中还带着游士精神的文人。汉武帝接纳他富赡的才华,但并不接纳他雄放的气魄。他在政治上郁郁不得志。终其一生,除了出使西南临时挂过“中郎将”衔以外,长期担任的不过是“郎”、“孝文园令”等低级闲职。因此,后来“其仕宦,未尝肯与公卿国家之事,常称疾闲居,不慕官爵。” [5]

在司马相如的心目中,一生最重要的事情还是为皇帝进言、为封建制度服务,而并不是文学。他并没有刻意追求创建如何伟大的文学事业。文学对他来说只是一种展示自我的工具,一种毛遂自荐的手段而已。他没有那种后来文学界中常见的用文学来表达自己内心,以求解脱的创作冲动,也从来没有为自己写作。这跟我们现代心目中的文学家着实相差太远。

总之,司马相如的个人抱负跟其文学事业并不一致。他一生并未达到自己的政治愿望,但却在无意中为自己建立了如此伟大的文学事业。笔者认为如果文坛上和政坛上有的可相比较之处,那么司马相如在中国文学史上的成就完全可以跟蔺相如在中国历史上所建立的功绩与名声相媲美。

关于司马相如代表作《子虚》、《上林》二赋,《汉书•司马相如传》的篇幅里有一半用来记录这篇天子游猎之赋。这篇赋是司马相如作品当中最重要之一,也是《司马相如传》中的亮点。

我们先看看其内容。赋的前半部分记叙楚使子虚出使齐国,应邀参与齐王的出猎,不服齐王的“矜而自功”,从而向齐国之君臣——代表者是乌有先生——夸耀楚国的云梦泽和楚王在此游猎的情况;接着轮到乌有先生不服,便夸称齐国的宏大以压倒之,然后说出一番道德教训,作为这部分的收结。赋的后半部分记叙当时亡是公——天子的发言人——也在场,在齐楚面前铺陈天子上林苑的壮丽和天子游猎的盛举,表明诸侯不能与天子相提并论,最后又说出一番提倡节俭的道德教训。这一作品前一半被称为《子虚赋》,后一半被称为《上林赋》。

值得注意的是,如果把《子虚赋》视为一篇独立、完整的作品,那么“亡是公”这个人物从开头到结束没有任何言行,只是“存焉”。这显然是文章中不该有的多余。然而司马相如为何被称为“赋圣”?《子虚赋》与《上林赋》为何被称为司马相如的代表作?应该有其道理。

据《史记•司马相如列传》和《汉书•司马相如传》所记载,这两篇赋,或者可以说这篇天子游猎赋的前后部分,其创作时间不同。《子虚》是司马相如早年从枚乘游历时的创作,而《上林》则是后来司马相如被汉武帝接见时,趁机献上的。这件事情在《汉书》中有详细的记载:

上读《子虚赋》而善之,曰:“朕独不得与此人同时哉!”得意曰:“臣邑人司马相如自言为此赋。”上惊,乃召问相如。相如曰:“有是。然此乃诸侯之事,未足观,请为天子游猎之赋。”上令尚书给笔札,相如以“子虚”,虚言也,为楚称;“乌有先生”者,乌有此事也,为齐难;“亡是公”者,亡是人也,欲明天子之义。故虚借此三人为辞,以推天子诸侯之苑囿。其卒章归之于节俭,因以风谏。奏之天子,天子大说。[6]

当武帝读《子虚赋》时,认为写得好并感叹:“我偏偏不能与这个作者同时。”,而杨得意乘机推荐其同乡人司马相如的时候,说的是:“自言为此赋”,表示不敢肯定相如即是作者,并为相如展示才华留个机会。武帝当然很惊喜,就召来相如询问。相如承认了,但怎能让汉武帝完全相信他呢?只有一个办法就是在汉武帝面前表现一下自己。在这种情况下,如果不能挥手成章的话,也不能让皇帝等得太久。然而《上林》大赋不是一篇好写的文章,应该需要花很大的功夫来完成。司马相如在创作《子虚赋》时,应该对下一篇已经有所准备。而且在写《子虚赋》的过程中,也有其意图在里面。具体的表现就是先把一个“亡是公”摆在那里,等着展示作者的才华与思想的机会。

在这里有个问题:该不该把《子虚赋》与《上林赋》视为一篇完整的作品?

在《史记》和《汉书》中,对这两篇赋的划分好像也不太明显。一开始所记载的是司马相如“客游梁,得与诸侯游士居,数岁,乃著《子虚之赋》”。后来,到上面所引用“上读《子虚赋》而善之”的那一段,作者对司马相如赋作了一些介绍,然后把全文照录下来。全文是《子虚》与《上林》的结合。《司马相如传》最后提到这篇赋的时候在作品的名字和内容上也不分《子虚》与《上林》。

上既美《子虚》之事,相如见上好仙,因曰:上林之事未足美也,尚有靡者。臣尝为《大人赋》,未就,请具而奏之。相如以为列仙之儒居山泽间,形容甚臞,此非帝王之仙意也,乃遂奏《大人赋》。 [7]

这样,司马迁和班固都有意无意地把《子虚》与《上林》这两篇赋视为一篇完整的作品。因而后来有不少文学家和从事文学研究工作者把这两篇赋合起来,命名为《子虚上林赋》。

但是笔者认为《上林赋》并不能跟《子虚赋》融为一体。其原因有二:

其一,《上林赋》虽然跟《子虚赋》有关,但事实是,《子虚赋》早已经完成并成为一篇独立作品,而《上林赋》的创作是一种续写。而跟几乎所有的续写作品一样,它会给作者带来一时的名声,但在文学价值上是一种失败。《上林赋》显然重复了《子虚赋》的题材,结构与思想。我们现在读这篇赋时会感到很乏味,因为从中看不到什么新鲜的东西,也看不到它跟前面作品比起来有什么进步,除非词语更加繁冗会被视为一种进步。虽然,《上林赋》的出现与其立即被赞赏的现象还引起了新的潮流:一方面是以赋取宠,另一方面则是堆砌辞藻的习惯,深深地影响到后来的历代文学家。但在文学上并没有特出价值。

其二,《上林赋》与《子虚赋》虽然有很多共同点,但其精神气脉却已大不同。如上面所说,《子虚赋》极富游说色彩,由双方来不断地辩论、反驳,以自己夸张宏肆的语言来压倒对方。而《上林赋》则表现了作者已经深深地体会大统一文化的滋味,里面完全看不到战国时代精神的余澜了。如果把作品放回其时代另一眼看,《上林赋》会体现出其价值的另一面。汉代是一个文学开始被重视的时代。但是这一时代所重视的文学跟我们现代人心目中的文学根本不同。汉武帝对辞赋文学特别喜好,即位后,便大力收罗这一类文人到中央宫廷来。这些人的主要任务是以文学活动为君王提供精神享受,同时在政治上提供一些建议、批评。这样,赋以其特殊形式和表现手法,一边赞颂帝国的强盛,一边为王者加以讽谏,成为这一时代的主流。用这些标准来评价,《上林赋》还的确值得处于汉赋的最高峰,因为它彻底地体现了汉代与汉代文学的所谓“大统一时代”的文化精神。

因此,我们可以说《子虚赋》与《上林赋》当中有种微妙的关系。这两篇赋都是司马相如的代表作,都处于汉大赋的最高峰。然而《子虚赋》应该是西汉大赋对前面的总结和完善的作品,《上林赋》却标志着作者本身对赋的创作与汉大赋在其时代处于最高峰的同时,已经面临衰落之势。司马相如之后的作者与作品,比较杰出的如:杨雄的《长杨》、班固的《两都》、张衡的《二京》,晋代左思的《三都》等等都沿用了由荀、宋开创,由司马相如定形的赋的正宗体式,虽有些成就,但都无法跟司马相如相比。时代已经过去了,有些东西永远不能重复。

司马相如的文学事业与其对后代文人重大的影响是不可否认的。在《史记•贾生列传》中,司马迁主要是把贾谊当作和屈原一样关心国事而不遇其君的进步作家来尊敬和同情的,而对贾谊的文学作品,只收录了《吊屈原赋》和《鹏鸟赋》,著名的《过秦论》则附于《秦始皇本纪》之后。而在《史记•司马相如列传》中,司马迁全文收录了他的三篇赋、四篇散文,以致《司马相如列传》的篇幅大约相当于《贾生列传》的六倍。可见司马迁对司马相如文章的欣赏与重视高于贾谊。而班固在其《汉书》里面全部把它照录下来,同样表达了他的肯定。

笔者认为司马相如之所以伟大是因为他身上拥有代表一代文学的绝技与才华的同时,也具备这一代文人最典型的光荣与悲哀,正如鲁迅先生在《汉文学史纲要》中所说:“武帝时文人,赋莫若司马相如,文莫若司马迁,而一则寂寥,一则被刑。盖雄于文者,常桀骜不欲迎雄主之意,故遇合常不及凡文人。”

三.

汉赋多用主客对话的方式构成赋文。一般分首中尾三部分。首部相当于引子,道出写赋原由。中部高谈阔论。尾部点题,抒发个人情怀。《玉井莲赋》的主客问答体跟汉大赋较为相似,都主要以一方的高谈阔论展开赋的主要内容;但同时也具有宋代文赋主客问答体的韵味,即主客之间不仅有逻辑性或哲理性的语言表达,而且有直接影响和间接启发的情感互动。

汉赋在创作手法上有三个特点。其一是描写事物面面俱到,以求穷形尽相。其二是通过大力夸张、对比,铺叙所描绘的事物。其三是大量用排比、对偶技巧来组织夸丽的文辞,层层铺垫。

《子虚赋》在描写云梦泽时已把赋面面俱到的特点发挥得淋漓尽致:

云梦者,方九百里,其中有山焉。其山则盘纡岪郁,隆崇嵂崒,岑崟参差,日月蔽亏。交错纠纷,上干青云。罢池陂陀,下属江河。其土则丹青赭垩,雌黄白坿,锡碧金银。众色炫耀,照烂龙鳞。其石则赤玉玫瑰,琳珉昆吾,瑊瓑玄厉,碝石碔砆。其乐则有蕙圃:蘅兰芷若,芎藭菖浦,江蓠蘼芜,诸柘巴苴。其南侧有平原广泽:登降陁靡,案衍坛曼,缘似大江,限以巫山;其高燥则生葳菥苞荔,薛莎青薠;其埤湿则生藏茛蒹葭,东蘠雕胡。莲藕觚卢,菴闾轩于。众物居之,不可胜图。其西则有涌泉清池:激水推移,外发芙蓉菱华,内隐钜石白沙;其中则有神色蛟鼍,瑇瑁鳖鼋。其北则有阴林:其树楩柟豫章,桂椒木兰,檗离朱杨樝梨梬栗,橘柚芬芬;其上则有鹓鶵孔弯,腾远射干;其下则有白虎玄豹,曼蜓貙犴。

这段例子可称为汉赋描写手法的经典之一。作者不仅用尽词语描写了云梦泽本身和其构成元素(山、石、土等等),而且还顾及其上下东西南北等有关事物。其夸张程度简直口若悬河,正如篇中人物乌有先生曰:“是何言之过也!”。到了《上林赋》,夸张罗列手法更上一层楼,足以让人对着那“字林”而目瞪口呆。

《玉井莲赋》全面体现了这三特点。首先,他的确把玉井莲描写得穷形尽相,只是莫挺之改换一种手法,连续用了六个排比否定“非……”,用否定以收肯定之效。“非桃李之粗俗,非梅竹之孤寒。非僧房之枸杞,非洛土之牡丹。非陶令东篱之菊,非灵均九畹之兰。”玉井莲其形其相,美不胜收,妙不可言。桃李梅竹,牡丹菊兰,均为人们所欣赏的名花贵卉,然均不可以以之比拟,于是最后只能得出“A就是A”的断言判断:“乃泰华峰头玉井之莲。

这一段“非……”排比否定正好也体现了《玉井莲赋》身上汉赋的第二特点。其铺叙了玉井莲一切名花贵卉都不是,又远胜这一切。这正是大力夸张类比所展现的效果。

上面这一段“非……”既是排比又是对偶。这种排比对偶技巧之运用,往往可以造成波澜壮阔的场面,充沛的气势,又如:

架水晶兮为宫,金凿琉璃兮为户。碎玻璃兮为泥,洒明珠兮为露。香馥郁兮层霄,帝闻风兮女慕。桂子冷兮无香,素娥纷兮女妒。采瑶草兮芳洲,望美人兮湘浦。蹇何为兮中流,盍相返兮故宇。岂濩落兮无容,叹婵娟兮多误。苟予柄之不阿,果何伤乎风雨。恐芳红兮摇落,美人来兮岁暮。

这种层层铺垫的对比、对偶主要是为了组织更多夸丽的文辞,呈现出更好的夸张、铺陈效果,跟汉赋相同。然而,他那种较为工整的文字和对声色和谐的追求就是后来的俳赋,比汉大赋的艺术手法要雕琢精细得多。

总体来说,《玉井莲赋》的“外貌”给人的第一印象仿佛像汉赋的“小样品”,不过在细节上,它体现出很大的不同。他其实也是越南“综合体”的产物之一,集各种赋体的特点于一身,写得极为漂亮,穷极越南汉语文学之美,散发出与众不同的韵味。

四。

越南在十世纪和十一世纪刚取得独立时,由于与中国文化传统暂时割裂,以及长期战争造成社会的不稳定,统治者尚无暇顾及文化建设,所以这个时期越南的文化面貌比较贫乏。直到李朝1009-1225时期,政治长期稳定,经济日益繁荣,越南文化与思想才得以兴起。

从前,只有僧侣才是知识阶层,他们不但在朝廷中有着重要的地位,而且也为越南文学史创出不可忽视的一部分。随着李朝正统的教育和科举制度的制定于发展,越南社会中出现了一个按照儒教意识形态培养出来的儒士阶层。儒士成为越南封建阶级中新的知识阶层,其产生是为了适应中央集权制度发展的需要。从李朝起,儒教在社会上开始居于重要地位,它成为服务中央集权政体、巩固等级制度和培养忠于皇帝思想的得力工具。

然而,在李朝时期,按照儒教思想意识进行教育和推行科举制度仅仅是个开始,培养出来的儒生人数相对较少。在社会文化层面上,佛教仍占优势,僧侣们仍对文化传播起着重要的作用。

到了陈朝(1225-1400),儒士阶层的人数日益众多,他们在政治和思想领域中逐渐取代了僧侣势力。在政权机构中,儒士出身的官吏日益取得优势并担当了朝廷重要职务。此时文学创作也完全由儒士阶层承担起来。

在李朝的基础上,陈朝的学习制度和科举制度越来越有条理和趋于正规化。据史书记载,陈朝的考试内容开始有赋。具体时间为公元1304年,陈英宗设定考试形式为四期:第一次考暗写,第二次考经义、诗、赋,第三次考诏、制、表,第四次考文策。后来考试内容在每一代都有所改变,但考赋这一项目一直留存。

儒教大力发展,并且有逐渐压倒佛教的趋势。陈初,佛教还盛行,但僧侣正逐渐失去在国家生活中的巨大影响作用。到了陈朝末年,儒教和佛教发生了冲突。黎文休、黎括、张汉超等当时有名的儒士对佛教进行了批判和排斥。佛教的优势逐渐减弱,随后让位给儒教。

在加强中央集权政体的同时,统治阶级一方面想依靠儒教和中国封建统治者培养人才的制度来控制人民的思想和精神生活。但另一方面,由于陈朝历史伴随着抵抗元、明侵略军的抗战并连续取得巨大胜利这一过程,生活在生气勃勃地抗击外来侵略的时代,使统治阶级也不得不服从于民族精神和国家自强意识的强大威力。越南民族在争取民族独立自由的斗争中不断地培养民族的爱国主义、自豪感和英雄气魄的精神。这种精神和意识渗透到各阶层人民中,并广泛地反映在当时的文学作品中。

越南儒学由中国传入,与越南本土传统思想相结合,产生了某些变异。越南儒、释、道三教合一或三教融合的色彩比中国浓厚得多。越南人称之为“三教同源”。从丁朝到陈朝,越南社会思想基本上是三教同尊而以佛教为主。儒学发展到陈朝取得主导地位,到后黎朝形成独尊之势。在阮朝,儒学仍然处于正统地位。可以说,儒家学说与越南封建社会相伴始终。在这一过程中,儒家文化与越南的民族文化相辅相成,构成了越南民族的精神支柱和民族心理,成为越南传统文化的主流。

赋是封建集权社会的文艺产品。儒家在越南的兴起和兴盛同样给越南汉文赋提供了思想基础。在越南汉文赋的形成与发展的过程中,我们可以看到带有越南特色的儒家、道家及“三教同源”等思想在越南汉文赋上留下深深的痕迹。在《玉井莲赋》中,这种东方特殊的思想内涵同样有所表现。

五。

可以说西汉时期是文学为王者服务的时代,而汉武帝时期是最典型的体现。汉武帝喜欢辞赋,司马相如便不断地献赋。因为汉武帝喜欢游猎,所以才有了《上林赋》。因为汉武帝好仙,所以才有了《大人赋》。因为有这样的汉武帝,所以才有了这样的西汉文学面貌。

然而,当文学为某些少数的人服务的时候,哪怕这些人多么喜爱文学,文学也不会如看起来得那么有前途,她的发展的空间反而会更狭小。因为个人爱好不管怎么广泛也是有限的,个人眼光不管怎么透彻也会有偏见的。再加上至高的权力因素,文学的发展其实是限制多过生机。因此,虽然说一代有一代之文学,但跟唐诗、宋词、元曲、明清小说比起来,汉赋的文学价值显得有所不及。在文学思想与意义上,是逊于其他朝代的文学。

陈朝也是一个文学开始走向为王者服务的时代,越南士大夫也可以通过献赋以自荐。不同的是,陈朝的君主不是喜欢辞赋,而是喜欢能够创作好作品的贤才。赋凭其容量和艺术特点,是一种能充分体现作者学力和笔力的文学工具,因此在科举制度及荐举制度上有用武之地。

虽然都是献赋,但司马相如赋是以帝王及其霸业为中心,赞美的是一统天下的时代,而莫挺之赋是以自己为中心,赞美的是自己,或在更大程度上,是国家栋梁之才。这两种创作思想的不同导致两篇作品在其自己国家的文学史上有不同的命运。至今《玉井莲赋》仍然耐人寻味并照样有多人问津,而《子虚》、《上林》早已失去了现实意义,其存在价值只是文学博物馆中一个时代的展品。

《玉井莲赋》的确在艺术手法方面受到了汉赋很大的影响,但其并不是一种复制品,而更像一种越南“综合体”赋的表现。他们之间的差别并不仅仅在于“量”,而“质”方面也有很大的变化。《子虚》、《上林》华丽宏大,《玉井莲赋》清晰娇小。《子虚》、《上林》的腔调是浑厚而充满理性的,《玉井莲赋》则是优柔而富有感情的。《子虚》、《上林》的效果是震撼人心的,《玉井莲赋》则是耐人寻味的。这些是《子虚》、《上林》和《玉井莲赋》的区别,同时也是越南汉文赋跟中国汉赋的基本不同。

注释与参考材料:

[1] 钟逢义越赋纵横J解放军外语学院学报,1995年,第5期(总第76):96

[2] 《史记》和《汉书》中都记载:“相如口吃而善著书。”

[3] 班固. 汉书 [M] 第八册.北京: 中华书局19622529

[4] 班固. 汉书 [M] 第八册.北京: 中华书局19622600

[5] 班固. 汉书 [M] 第八册.北京: 中华书局19622589

[6] 班固. 汉书 [M] 第八册.北京: 中华书局19622533

[7] 班固. 汉书 [M] 第八册.北京: 中华书局19622592

中国韵文学刊

2015年第二期 (总第七十三期),第26-31页

ISSN 1006 - 2491. CN: 43- 1014/H

Literature 中文 論文

越南《后白藤江赋》、《续赤壁赋》与中国《前、后赤壁赋》之联系

(越)潘秋云

摘要:

《后白藤》、《续赤壁》都是越南汉文赋在题材与思想主题上借鉴了中国赋的好例子。与之同时,这两篇赋再次体现了越南文人的审美观念和创作习惯,即其对历史性和真实性的追究,大大不同于中国作家。

越南作家跟“赤壁” 似乎有着不解之缘。不管何时何地,只要跟战争战场有关,越南作家就会联想到赤壁之战,并常拿来作比较:“彼合淝之风声鹤唳,曷足以喻其捷;赤壁之片帆不返,奚足以参其能也哉!”(李子晋《昌江赋》),“呼声振天而山嶽为动,溺尸涨海而鱼鳖充饥。气焰凌於赤壁,风声溢於淮肥。”(阮梦荀《后白藤江赋》)。阮梦荀创作了《后白藤江赋》和《续赤壁赋》,一篇隐隐约约地体现了《后赤壁赋》的影响,另一篇则堂堂皇皇地紧跟着《前、后赤壁赋》的影踪,想用自己的见识与情感来续前人之端。

赤壁究竟为什么对越南文人那么有吸引力?应该有如下三种原因:其一,赤壁战本身是一个传奇大捷。经过这场大战,魏、吴、蜀三国鼎立的局面基本形成,开始了中国历史上精彩万分的三国时期。就其意义足以称得上“历史的拐点”。而在越南人眼中,其更重要的意义在于赤壁之战是历史上以弱胜强的著名战例。越南历代跟中国交战的情景都好比螳臂当车,但最后总能摆脱困境,获得胜利。因此,在越南汉文作品中,赤壁之战往往是个寓意深远的比较对象。其二,《三国演义》在汉文化圈中广为流传。这场战争的过程, 经过后世文学作品的夸张和改造, 凭添了诸多神奇之处。其文学意义足以俘获任何热爱中国历史文化的心灵。其三,越南汉文赋之所以那么钟爱“赤壁”,跟苏东坡出色的两篇《前、后赤壁》脱不了干系。前、后《赤壁》是姐妹篇,写得极为精致,情感表达极为洒脱,而越南民族一向对精致和洒脱这两个审美观念比较敏感,且十分认同。苏轼本身的赤壁情结已打动了不少人的心弦。在越南赋作家接受和学习中国赋的过程中,前、后《赤壁》无疑在他们心中留下了很深的印记。这种印象有时不知不觉,有时顺理成章地体现在历代越南赋作家的作品之中。

因此,越南的《后白藤江》、《续赤壁》和中国的《后赤壁》三赋之比较不全是为了求其异同,而更多的是为了凸显借鉴成分和本色因素在文化思想中的结合。

一.

《后白藤江赋》应该属于不知不觉地被感染的那种类型。《前白藤江赋》作者张汉超(?-1354)跟《后白藤江赋》作者阮梦荀(1380-14?)是不同时代的人,相差大约一百多年,跟同一个作者在同一年之内所创作出来的前、后《赤壁》之情况大大相反。因此,前、后《白藤江》其实没有很多可比较之处,反而《后白藤江赋》跟《后赤壁赋》是值得放在一起加以讨论的作品。当然,作为“后续”作品,《后赤壁》与《后白藤》都无法摆脱“前任”的影响。在比较的过程中难免会参杂跟《前》者的对照与参考。

同样是文赋,苏轼《后赤壁赋》是一篇幽远深邃的文赋:

是岁十月之望,步自雪堂,将归於临皋。二客从予,过黄泥之坂。霜露既降,木叶尽脱。人影在地,仰见明月。顾而乐之,行歌相答。已而叹曰:“有客无酒,有酒无肴,月白风清,如此良夜何?”客曰:“今者薄暮,举网得鱼,巨口细鳞,状如松江之鲈。顾安所得酒乎?”归而谋诸妇。妇曰:“我有斗酒,藏之久矣,以待子不时之需。”

於是携酒与鱼,复游於赤壁之下。江流有声,断岸千尺,山高月小,水落石出。曾日月之几何,而江山不可复识矣!予乃摄衣而上,履巉岩,披蒙茸,踞虎豹,登虬龙,攀栖鹘之危巢,俯冯夷之幽宫,盖二客不能从焉。划然长啸,草木震动,山鸣谷应,风起水涌。予亦悄然而悲,肃然而恐,凛乎其不可留也。反而登舟,放乎中流,听其所止而休焉。时夜将半,四顾寂寥。适有孤鹤,横江东来,翅如车轮,玄裳缟衣,戛然长鸣,掠予舟而西也。

须臾客去,予亦就睡。梦一道士,羽衣蹁跹,过临皋之下。揖予而言曰:“赤壁之游乐乎?”问其姓名,俯而不答。“鸣呼噫嘻!我知之矣!畴昔之夜,飞鸣而过我者,非子也耶?”道士顾笑,予亦惊寤。开户视之,不见其处。

而阮梦荀《后白藤江赋》则是一篇情感表达坦率而强烈的文赋:

九霄日丽,六合尘空。抚长江之天堑,想兴道之威风。此白藤所以壮海东之一道,而程(陈)家所以成不世之骏功也。思昔蒙哥既殂,薛禅继统。相滦桓而定都,奄江淮而平宋。锐气乘破竹之余,愤兵用韩馥之众。唆都迤海而欢爱绎骚,乌马夺州而谅山惊动。入海辨两宫之舟,深山避三峙之洞。凛国势之春冰,赖人心之铁瓮。伟英宗之人杰,辅圣庙之天纵。人百其勇,士皆为用。巘岘庆余,奋其瓜牙。上相国公,蔚为辰楝,加以天神。尽其怒,雨涝老其师,瘟疫於军璧,虮虱生於铁衣。铁面弢而英威雷厉,复仇榖而义气风飞。揭先声以走脱欢,不遗镞而扲戾。既南风之不竞,遂东海而遁归。惟元老之壮猶,胸万甲而出奇。波涛一色,而误浅深之路;舳舻千艘,而伏至险之机。知成扲之在目,料制胜之得基。推成功而不居,奉庙算之指挥。卒之乌马路穷而自毙,夺鲸罩纲而无遗。呼声振天而山嶽为动,溺尸涨海而鱼鳖充饥。气焰凌於赤壁,风声溢於淮肥。致北虏之夺气,而定一代重兴之也。予尝夜月泛舟,徘徊四顾,酹万劫之灵,诵鸦江之赋。残霞蘸空,恍腥血之杂州,髑髅,号风,疑悲螺之率部。想折戟沉沙,叹胡元之遗臭。淘淘惊涛,如哭如怒。虽程(陈)迹之已空,尚江山之如故。陋刘之事至微,恨胡氏之椿无措。然后知险为国设,才本天生。幸中天之日月,扫孛气之欃槍。吾知此江之水,先海岱而顺导,助银河而洗兵。镇鲸波之不摇,又何羡乎战争。

虽然越南汉文赋作家欣赏《前、后赤壁赋》的精致文字和洒脱的情感,但他们借鉴最多的还是一种怀古韵味。苏轼在其《念奴娇——赤壁怀古》中道:“大江东去,浪淘尽,千古风流人物”,这正是作者《念奴娇——赤壁怀古》和前、后《赤壁赋》这一鼎足三立的贯穿情怀。前、后《白藤江赋》同样也是以“怀古”情怀为出发点。不同的是《前白藤江》是兴“怀”以引发议论的话题,而《后白藤江》则完全陶醉在怀古之中。

从内容看,《后白藤》与《后赤壁》都是由景生情的。《后白藤》写作者中秋身临白藤江,观其形状就想起陈朝时兴道王陈国峻破元朝水兵,联想到黎朝刚过去的抗明战争,心中百感交集。作者为自己国家史上显赫的战绩而自豪“伟英宗之人杰,辅圣庙之天纵。人百其勇,士皆为用”,为那些对发生战争有责任的人而嗤之以鼻“想折戟沉沙,叹胡元之遗臭。淘淘惊涛,如哭如怒……陋刘之事至微,恨胡氏之椿无措”,同时也为在战场牺牲的战士而伤感“予尝夜月泛舟,徘徊四顾,酹万劫之灵,诵鸦江之赋。”。最后,赋尾献上作者厌恶战争渴求和平的心声。《后赤壁》写作者初冬携友带酒和鱼复游赤壁,看景色草木萧瑟,岩崖峻峭,山高月小而发出“曾日月之几何,而江山不可复识矣!”之感。途中虽有酒有朋友但当初“行乐相答”的心态已消失得无影无踪。瘦硬的景色、紧张的旅途,加上作者夜梦道士化鹤虚无缥缈之境都表露作者出世与人世复杂矛盾心情。

从情感上看,两赋处处都表现了作者的亲身经历和真实感情。两赋所流露出来的情感在某种程度上都超越其《前》者,如《后白藤》所表达对历史的感触更强烈更自我,既“悲”又“恨”,边叹气,边徘徊;而《后赤壁》的作者则“悄然而悲,肃然而恐”,之后是慌忙“惊寝”。可见两赋都从其《前》者吸取了一些主要的思想成分,并把这一点涂抹的更为浓重。阮梦荀抓住了张汉朝的历史情怀,并用更多的铺陈和描写的艺术手法来演绎。苏东坡延续了自己借酒酹月,寻梦自慰的情怀,不同的是《前赤壁》清晰直白而《后赤壁》深幽莫测。

不过,对于后续品,在发挥《前》者的特点上是否能够超越前者或与其媲美,把握好一个“度”是关键。《前、后赤壁》的结合可说是前后连贯,一脉相承,天衣无缝。而《后白藤江》因太注重演绎历史事件,而疏忽情感的演变及景与情的结合而显得太沉重无味,从而在艺术成就上远远逊于《前》者。

从形式看,《后白藤》跟《赤壁》都以记叙、描写、抒情相结合。跟各自《前》者多议论,夹以绘景抒情的不同,这两篇赋则不求议论,不设主客问答,以记叙描写为主。《后白藤》和《后赤壁》中的主人公始终只随着眼前汩汩滔滔的江水进行着心灵之旅程。《后赤壁》开头的问答不过是个“引入”,跟主题没有多大关系,而最后跟道士的对话也是个“引出”,带读者走出文章的主题到另外一种境界,让作品意味深远。这两种问答都不是严格意义上的主客问答体。

二.

阮梦荀《续赤壁赋》属于顺理成章地表达越南作家赤壁情结的类型。

火井欲熄,当涂方兴。官渡扼吭,而本初疽死;钟繇镇泷,而三辅气增。大下江陵,谓将席卷,谁料土崩。昧兵家之至戒,犯天气之炎蒸。岂知舍陆而舟,英雄无用武之地。恶逆助顺,江陵有设险之征。况紫髯固一辰之雄,周瑜亦谋国之能。斫案而起,愤张昭之失计;唇亡则惧,赖孔明之得朋。呜呼噫嘻,谓由人耶,则火攻特出下策;谓在天耶,则霸图因以定基。挫用兵如神之势,鼓士卒百勇之机。卒之成江东之业,奋益州之威。以为气数之适然,抑亦吴蜀之一奇。子常舣舟夏口,抵掌昔辰。酹江神以一杯,歌坡仙之遗词。乌林雪消,想千艘之星散。黄岡霞落,疑列之灰飞。江风洶洶,意余怒之未已,鬼火熠熠,愁溺卒之含悲。世变已往,感事依依。英雄之泪,随江流之滚滚;故宫之址,歌禾忝之离离。风火消霸图之气,乌鹊绕明月之枝。岁月逝矣,城郭俱非。忍水落而石出,想玄裳与缟衣。然后知天地之间,惟英雄风义气为不朽;江山之跡,惟天造地设为难移。但见清风明月,为乾坤无尽之藏;前后二赋,为骚人千古之思。彼三国之陈迹,曾不满夫一欷。

阮梦荀《续赤壁赋》这篇小赋很明显地借鉴了苏东坡的前赤壁、后赤壁二赋。第一,在体裁上,其行文随意,借鉴了苏东坡文赋的风格。不过,还是讲究押韵和对仗,不完全向《前、后赤壁》那样散文化。第二,在内容上,用了同样的题材和素材。第三,在思想上,也是怀古。第四,在艺术手法上,借鉴了一些修辞,如《群贤赋集》中所注:“苏东坡有前赤壁、后赤壁二赋。水落石出、玄裳缟衣、清风明月,皆赋中之语。” 作者在篇尾也特意向苏轼致敬“酹江神以一杯,歌坡仙之遗词”,并直接道出苏轼的作品“但见清风明月,为乾坤无尽之藏;前后二赋,为骚人千古之思。” 阮梦荀不仅仅跟苏东坡怀古精神有了共鸣,而且还强调了其文学功能:文学跟自然一样也能够长存,能够动人心弦,让人在其中思考,在其中陶醉。

这篇赋明显体现了越南作家偏向写实和入世的一面。虽其名为《续赤壁赋》,是续苏轼《前、后赤壁赋》并在很多方面受了这两篇赋的影响,但并没有所谓释然脱俗之情,反而更着重於历史事件和人物的真实性。孙权、周瑜、孔明等人物都被一一“点名”。这一特点历来是越南赋作家的强项,同时也是其最大的缺点。越南汉赋最大功能之一是记叙历史事件。他讲究历史的真实性和对历史事件的描写,但正因过于追求真实与细节,往往会失去文学应有的朦胧美和想象空间。

 

Phan Thu Vân, Mối liên hệ giữa hai bài “Hậu Bạch Đằng giang phú” và “Tục Xích Bích phú” của Việt Nam với hai bài “Xích Bích Phú” của Trung Quốc, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc tế Vận văn học  Trung Quốc lần thứ sáu tại Tô Châu, Trung Quốc. (第六届中国韵文学国际学术研讨会,苏州-中国) Tháng 11/ 2013.

辽东学院学报,社会科学版,第16卷,总第95期,2014年2月,第40-42页。

ISSN 1672 – 8572

Literature 中文 論文

《白藤江赋》与《前赤壁赋》之比较

《白藤江赋》与《前赤壁赋》之比较

Comparison of the “Descriptive Prose of Baiteng River”

and the “First Descriptive Prose of Red Cliff”

(越南)Phan Thu Vân 潘秋云

摘要:中国宋代文豪苏东坡的《前赤壁赋》与越南陈朝作家张汉超的《白藤江赋》都是描写历史胜迹之汉文赋。其题材、体裁、主题思想等方面皆有相似之处。当然,这两篇赋也因文化、历史及作者背景的不同在其韵味和文学意义上呈现出明显的南辕北辙之态。本文试图从比较文学的角度探讨这两篇作品在体裁、艺术手法、内容等方面的相同与差异,并进一步了解历史文化背景对作家和作品所产生的影响。

Abstract: The “First Descriptive Prose of Red Cliff” by Su Dongpo, the famous writer from the Chinese Song Dynasty, and the “Descriptive Prose of Baiteng River” by the famous Vietnamese writer Zhang Hanchao from the Chen Dynasty, are both prose written based upon the well-known scenic spots in the writers’ home country. They resemble each other in terms of themes, genres, contents, and etc. It is doubtless that due to the differences found in the culture, history and backgrounds of the writers, the literature meaning and the lingering charm of these descriptive proses are presented very differently. This paper seeks to discuss their similarities and differences from their genre, the artistic method applied, and their contents through comparative literature and then hope to explore the influence of history and culture have on the writers.

关键词:《白藤江赋》,《前赤壁赋》,比较文学。

Key words: “First Descriptive Prose of Red Cliff”, “Descriptive Prose of Baiteng river”, comparative literature.

在文学艺术领域中,比较往往是权宜之计。但当我们遇到既存同又有异的作品时,文学比较还是一件值得尝试的事。通过比较,我们可以较为直观地体会到这二者身上的共性与个性。尤其是在某个国家某一段历史中,当它的文学作品受外国文化多方面的影响时,文学比较在此时会显得更有意义。从接受方而言,我们上可以溯源,下也可求末,从中洞察出接受方的个性特色;从输出方来看,探究文学在传播过程中的发展变化以及反馈也会对其文学发展史得到较为全面的认知。在中越古代文学的比较研究中,应该说这两者的相较而看并非是为了与中国文学一分上下,而是为了丰富对其本身的审美认识,再而达到对宏大繁复的文学现象的一种总体认知。

越南古代文学受中国文化多方面的影响,包括语言、体裁、艺术观和人生观等方面。《白藤江赋》是一篇既能体现越南作家在创作过程中有意无意地对中国文化进行借鉴,同时也能流露出本国文化的特色和文学的创造的赋中佳作。其情感丰富、意境优美、用韵自由、故事性和历史性、哲学性充分结合的成就往往让人想起中国赋之名篇《前赤壁赋》。

把越南赋最有名之一《白藤江赋》跟中国赋最有名之一《前赤壁赋》进行比较是本文的一种尝试。通过这一尝试,笔者试图具体而微地讨论越南赋在中国赋的基础上所进行的借鉴与改造。

一.

苏轼的《前赤壁赋》因其杰出艺术手段的使用和普遍情感的充分表达被认为是中国文赋的代表。

壬戌之秋,七月既望,苏子与客泛舟游于赤壁之下。清风徐来,水波不兴。举酒属客,诵明月之诗,歌窈窕之章。少焉,月出于东山之上,徘徊于斗牛之间。白露横江,水光接天。纵一苇之所如,凌万顷之茫然。浩浩乎如冯虚御风,而不知其所止;飘飘乎如遗世独立,羽化而登仙。

于是饮酒乐甚,扣舷而歌之。歌曰:“桂棹兮兰桨,击空明兮溯流光。渺渺兮于怀,望美人兮天一方。”客有吹洞萧者,倚歌而和之,其声呜呜然:如怨如慕,如泣如诉;余音袅袅,不绝如缕;舞幽壑之潜蛟,泣孤舟之嫠妇。

苏子愀然,正襟危坐,而问客曰:“何为其然也?”客曰:“月明星稀,乌鹊南飞,此非曹孟德之诗乎?西望夏口,东望武昌。山川相缪,郁乎苍苍;此非孟德之困于周郎者乎?方其破荆州,下江陵,顺流而东也,舳舻千里,旌旗蔽空,酾酒临江,横槊赋诗;固一世之雄也,而今安在哉?况吾与子,渔樵于江渚之上,侣鱼虾而友糜鹿,驾一叶之扁舟,举匏樽以相属;寄蜉蝣与天地,渺沧海之一粟。哀吾生之须臾,羡长江之无穷;挟飞仙以遨游,抱明月而长终;——知不可乎骤得,托遗响于悲风。”

苏子曰:“客亦知夫水与月乎?逝者如斯,而未尝往也;盈虚者如彼,而卒莫消长也。盖将自其变者而观之,而天地曾不能一瞬;自其不变者而观之,则物于我皆无尽也。而又何羡乎?且夫天地之间,物各有主。苟非吾之所有,虽一毫而莫取。惟江上之清风,与山间之明月,耳得之而为声,目遇之而成色。取之无禁,用之不竭。是造物者之无尽藏也,而吾与子之所共适。”

客喜而笑,洗盏更酌,肴核既尽,杯盘狼藉。相与枕藉乎舟中,不知东方之既白。 

张汉超的《白藤江赋》则是越南汉赋中的名篇:

客有:挂汗漫之风帆,拾浩荡之海月。朝戛舷兮沅湘,暮幽探兮禹穴。九江五湖,三吴百粤。人迹所至,靡不经阅。胸吞云梦者数百,而四方壮志犹阙如也。

乃举楫兮中流,纵字长之远游。涉大滩口,溯东朝头。抵白藤江,是泛是浮。接鲸波於无际,蘸鹞尾之相缪。 水天一色,风景三秋。渚荻岸芦,瑟瑟飕飕。折戟沉江,枯骨盈邱。惨然不乐,立凝眸。念豪杰之已往,叹踪迹之空留。江边父老,谓我何求。或扶藜杖,或棹孤舟。

揖余而言曰:此重兴二圣擒乌马儿之战地,与昔时吴氏破刘弘操之故洲也。当其:舳舻千里,旌旗旖旎。貔貅六军,兵刃蜂起。雌雄未决,南北对垒。日月昏兮无光,天地凛兮将毁。彼必烈之势强,刘龚之计诡。自谓投鞭,可扫南纪。既而:皇天助顺,寇徒披靡。孟德赤壁之师,谈笑飞灰。符坚合淝之阵,须臾送死。至今江流,终不雪耻。再造之功,千古称美。

虽然:自有宇宙,固有江山。信天堑之设险,赖人杰以奠安。盟津之会,鹰杨若吕。潍水之战,国士如韩。惟此江之大捷,由大王之贼闲。英风可想,口碑不刊。怀古人兮陨涕,临江流兮厚颜。

行且歌曰:大江兮滚滚,洪涛巨浪兮朝宗,无尽。仁人兮闻名。匪人兮俱泯。客从而赓歌曰:二圣兮并明,就此江兮洗甲兵。胡尘不感动兮,天古升平。信知:不在关河之险兮,惟在懿德之莫京。

在形式上,《白藤江赋》和《前赤壁赋》都是文赋,拥有文赋的共同特征。

从不厌其烦而征引的两篇赋中,我们把握到,做为赋的重要特征之一,骈偶句的应用,即四六句的出现在文赋中是必然的。《前赤壁》中的骈偶句如“纵一苇之所如,凌万顷之茫然”,“舞幽壑之潜蛟,泣孤舟之嫠妇”,“哀吾生之须臾,羡长江之无穷”,“耳得之而为声,目遇之而成色”,“取之无禁,用之不竭”等对偶、骈俪的句子在行文中触目可及;《白藤江》中的骈偶句如“挂汗漫之风帆,拾浩荡之海月”,“朝戛舷兮沅湘,暮幽探兮禹穴”,“九江五湖,三吴百粤”等等,也是处处可见。不过,较之稍显华丽的《前赤壁赋》,《白藤江赋》即使是骈偶句,也表现出写实、朴素的作风,与《前赤壁赋》的灵动流丽还是有很大的不同。

散文化的倾向也是文赋的特点之一。《前赤壁》和《白藤江》的句式虽以四、六言为主,但大量的长句、散句也夹杂文中,使文气更为流宕,而富有气势。除连接词语外,“之”、“也”、“乎”等虚词的使用也都强化了上述特点。同时,这两篇赋都吸收了当时古文的章法,起承转合脉络鲜明。在一般的创作中,赋往往会省略某些结构成分,但这两篇赋显然追求结构和内容上的完整。《前赤壁赋》的首段几乎全以散文叙事,交待时间、地点、人物、事情,在意境的形成、说理的铺垫上起到了极大的作用。而《白藤江赋》也有条理地表达了出发、观景、怀古、兴怀的线索,且每个部分篇幅适当,并无突出夸张描写的章节,使文章的结构更为合理。

不过,从行文上看,《前赤壁》中散文的成分加多,诗歌的成分减少。《白藤江》中诗歌的成分加多,散文的成分减少。然而,《前赤壁》因其丰富的内涵、洋溢的情感、复杂的内心世界及梦与实的交错而显得更有诗意,《白藤江》则因较强的故事性和戏剧性,明朗的腔调,豪迈的思想和明显的劝诫意味使其更接近正文的一面。

在用韵上,《前赤壁》和《白藤江》都较为自由。《前赤壁》所用的韵依次如下:

第一段有“天”、“然”、“仙”相押,入下平“先”韵;第二段的“归”跟第三段的“飞”相协,入上平“微”韵。

第一段的“望”“章”连着第二段的“光”、“方”到第三段的“昌”、“苍”都相押,入下平“阳”韵。

第三段后半段的“穷”、“终”、“风”相押,入上平“东”韵。

第四段的“主”跟“取”相协,入上声“雨”韵;“月”、“竭”相协入入声“月”韵。

第四与第五段有“适”和“白”相押,入入声“陌”韵。

从上面的分析可见,《前赤壁》押的韵较少且较随意,让文赋半文半诗的性质更为凸显,读起来“飘飘乎”、“羽化而登仙”的感觉也溢纸而出。

《白藤江赋》用的韵为:

第一段的“月”、“粤”、“阙”相押入入声“月”韵;“穴”、“阅”相协,入入声“屑”。

第二段的“游”、“头”、“浮”、“缪”、“秋”、“飕”、“邱”、“眸”、“留” 、“求”、“舟”与第三段前一句的“洲”相押,入下平“尤”韵。

第三段的“旎”、“起”、“垒”、“毁”、“诡”、“纪”、“靡”、“死”、“耻”、“美”入上声“纸”韵。当中唯一“灰”是入上平“灰”韵。

第四段的“山”、“闲”、“颜”入上平“删”韵;“安”、“韩”、“刊”入上平“韩”韵。唯一“吕”是别韵,入上声“语”韵。

第五段的“尽”、“泯”入上声“轸”韵;“明”、“兵”、“平”、“京”入下平“庚”韵。

相较看来,《白藤江赋》用的韵较多,押的韵也较密集。不过,仔细分析并没有很严密的用韵规律。这种以韵的交叉和互换如波浪般向前发展的用韵方式使其远离呆板和一成不变的文风,变得更生动更流丽,好比江上的涟漪水波轻轻地摇荡读者心灵之舟。

在形象塑造上,两篇作品都采用“主、客”问答形式。这是汉代赋易见的模式存留。客体一般是被创造出来的人物,以跟主体进行对白,其间的对白是赋的脉络与主要内容。不同的是,《前赤壁》中的主和客更像作者的“分身”以展示其内心的矛盾和心灵解脱的渴求,而《白藤江》中的“客”则是一个真正的客体。应该说和《前赤壁赋》中的“客”只起引子作用相比,这里的“客”与“主”分开,跟“主”进行较为客观的对白,对作品的主题思想的表达有比较重要的作用。

都选用了文赋这样一种具有散文化特征的文学体裁,而放弃长篇大论、堆砌词语、极尽铺陈排比的古赋,也都放弃了题目、字数、韵式、平仄各方面都受到严格限制的律赋,可以说,这跟苏轼、张汉超要表达无羁绊的思想和豪迈的感情是密切相关的。

二.

《白藤江赋》和《前赤壁赋》都是用汉文来创作的作品。在拥有同样的文学体裁和艺术手法的同时,他们也体现出相似的叙事性和抒情性。把两篇赋放在一起,其内容相同之处十分明显。然而,在相同的外表下,其内在存在微妙的区别。

两篇文章的展开背景都在水面,给人“水面一色、风景三秋”之感。两篇赋的主体人物,即作者,都尽情欣赏自然景色之美。在《白藤江赋》中,一开始时间、地点以及人物都较为模糊。作者所创造出来的空间从远到近,从模糊到具体,从浪漫到现实。读者在阅读的过程中可敞开胸怀地跟作者一同浪游,然后渐渐地从幻想中走到作者的真实世界。与此不同,《前赤壁赋》时间、地点、人物都在开篇第一句一一呈现。“壬戌之秋,七月既望,苏子与客泛舟游于赤壁之下”已详细交待了时间、地点和人物。读者不用跟着作者的想象力到处漂泊,而要相随进入一段情感与心灵之旅。

两篇赋中人物起初的心情都是怀古。白藤江与赤壁都是从前的著名战地。越南人心目中的白藤江的地位和中国人心目中的赤壁的地位相同。当两篇赋的作者来到了自己国家的历史圣地,他们的历史兴之的感触达成共鸣。过去的场景通过客体的诉述历历在目:“方其破荆州,下江陵,顺流而东也,舳舻千里,旌旗蔽空,酾酒临江,横槊赋诗;固一世之雄也,而今安在哉?”(《前赤壁赋》),“当其:舳舻千里,旌旗旖旎。貔貅六军,兵刃蜂起。雌雄未决,南北对垒。日月昏兮无光,天地凛兮将毁”(《白藤江赋》)。然而,一切都已烟消云散。再盖世的英雄,再显赫的战绩最终都属于过往。人生如此的渺小和脆弱,让人“哀吾生之须臾,羡长江之无穷”,“惨然不乐”。

不过,怀古只是抒发情感的引子,这两篇赋思想情感的演变和表达方式越来越不同,最后简直是南辕北辙。

读《前赤壁》时老庄思想的痕迹溢于纸端:“客亦知夫水与月乎?逝者如斯,而未尝往也;盈虚者如彼,而卒莫消长也。盖将自其变者而观之,而天地曾不能一瞬;自其不变者而观之,则物于我皆无尽也”。大自然拥有绝对纯洁之美,是凡夫俗子只能欣赏和顺其自然而无法用意志去影响。当人学会顺其自然时,得失之虑不再充盈心间,人感到的全然是满足和快乐。因此,在《前赤壁》中,怀古只不过是一个借口,以引发更为抽象的话题,那就是人生的意义并非取得而在顺应。苏轼在这里追究的是心灵的解脱而非怀古之惆怅。

都是回头望着过去,但苏轼看到的是世事之虚无,而张汉超看到的是功名的永恒。

在《白藤江》中,怀古既是个引子,又是一个重点。张汉超用江边父老的话来介绍和概括越南历史上极其显赫的一段。白藤江见证了越南民族多次战胜了北方势力的侵略。公元938年在越南民族英雄吴权的领导下,越南军民在白藤江大捷中打败南汉弘操之兵,从此完全结束了越南延续一千多年的亡国时期,揭开了民族长期独立的序幕。 公元981年,越南前黎朝黎桓直接组织和领导抗战,击退了宋朝的水兵。公元1288年,越南大将陈国峻选择白藤江作为一个埋伏陈地,消灭元朝水军,让敌军侵略越南的野心被粉碎。白藤江的历史性胜利屡次为越南历史上添上灿烂辉煌的一页。《白藤江赋》中“此重兴二圣擒乌马儿之战地”提到了陈朝重兴年号时陈圣宗和陈仁宗(被称为“二圣”)领导全国人民抗元并在白藤江之战生擒元朝将乌马儿的历史事件,与“昔时吴氏破刘弘操之故洲也”重温了吴权破南汉兵,为民族赢得了自主权的重要历史转折点.

怀古让人感到悲伤,同时也让人感到自豪。张汉超把白藤江视为山河社稷长存的象征,经过风风雨雨,面临屡次威胁,最后还是从容坦荡地自由奔流。重温历史,从历史事件中吸取经验和找到真理:“自有宇宙,固有江山。信天堑之设险,赖人杰以奠安”,“信知:不在关河之险兮,惟在懿德之莫京”。怀古贯串了《白藤江》的整个内容,其目标是在说明如何以古治今,以仁为政,取得政治上的久安。

表面上相似的两篇作品,其更深一层所表达的思想却大相径庭。在作品中,苏轼和张汉超的感情都经历了三次变化:“乐——悲——乐”。其思想也有较明显的转变。不同的是,苏轼的感情思想经历了一个由平静到苦闷,再由苦闷而得到解脱的发展过程;而张汉超的思想经历了由愉悦到惨然,再由惨然到快乐和富有信心的发展过程。从其中可看出苏轼豁达淡然的人生态度,也可看出张汉超的乐观向上的人生观。苏东坡是中国古代文学中把儒道佛融合得最好的作家。他从老庄中走出来,又要用佛教的人生观开拓出去,把道教的“自然”跟佛教的“空”结合得很完美,塑造了最为理想的中国士人形象。而张汉超对政治的抱负始终没有被淡化,这篇赋充分体现了他积极“入世”的观点,这也是当时越南文人士大夫的主要思想。

三.

更耐人寻味的是,通过其差别能看到作者不同的人生观和处世态度,而个人的人生观和处世态度往往是在不知不觉中受到文化与历史很大的影响。

《前赤壁赋》写于苏轼一生最为困难的时期之一――贬谪黄州期间。元丰二年(1079年),苏轼因“乌台诗案”被扣上诽谤朝廷的罪名,被捕入狱,惨遭折磨。后经多方营救,于当年十二月释放,贬为黄州团练副使,过着被管制的生活。他在黄州作的诗中,曾经痛苦地描写过此时的忧郁苦闷的心情。1082年壬戌,苏轼作《前赤壁赋》。赋这种介于诗、文之间的文体应该是拥有更大的空间以抒发个人的感情与思想。赋中流露作者的悲哀、无奈、豁达以及跟现实妥协的一面。

在《前赤壁赋》之后,苏轼还创作了《后赤壁赋》,但《前赤壁赋》的结构和表达方式跟《白藤江赋》更为相似。十五世纪,越南作家阮梦旬把自己写白藤江赋的赋命名为《后白藤江赋》,可见越南古代作家当中有人也对苏轼和张汉超这两篇赋之间的关系有所联想。

迄今越南研究界还是不能确定张汉超的出生年月。据史书残留的记载,他是知识渊博、性格耿直的人。他在越南陈朝陈英宗当过翰林学士与若干重要职位。1354年,他去世并被追封太宝的尊贵职称。1372年,陈朝陈艺宗把他灵位送进文庙,世世享受香火,这是当时统治者对文人士大夫极其尊重的表现。张汉超一生的平步青云与其爽快的性格大大影响到其作品的气势与人生观,同时也决定了他文学创作的主旨,即并非只为抒发个人情怀,而是要更为积极地干预现实生活。

如果说《前赤壁》如一只蚕吐出其如梦如幻的丝,那么《白藤江》却好比一片蒙蒙的纱帘挂在眼前,当纱帘突然卷起,一幅真实的风景便呈现于目前。

其实这是很典型的越南文学跟中国文学之间的差别:中国古代文学往往从现实出发向往精神的升华,而越南文学则不管前面飞得多高,最后还是回到现实当中来。越南文学的真实性和历史性往往胜于虚构性和神话性,而中国文学则不一定如此。

参考文献:

  1. 章培恒、骆玉明 ,《中国文学史》,上海:复旦出版社,20019月版。

  1. 越南社会科学委员会 编著,《越南历史》,北京:人民出版社,19776月。

  1. Lê Trí Viễn (chủ biên), Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San, Đặng Chí Huyền. Cơ sở ngữ văn Hán Nôm. Hà Nội: Nhà xuất bản giáo dục. 1984.

作者简介Phan Thu Vân(潘秋云),越南人,女,越南胡志明市师范大学讲师,复旦大学中文系古代文学专业博士。

复旦外国语言文学论丛,复旦大学外文学院,  秋季号 ,第58 - 62页

Fudan Forum on Foreign Languages and Literature, Autumn 2009

ISBN 978 – 7 – 309 – 04998 – 5 / H.984