The Wolf of Wall Street is a 2013 American biographical film, directed by Martin Scorsese. The screenplay by Terence Winter is adapted from the memoir of the same name by Jordan Belfort and recounts from Belfort’s perspective his career as a stockbroker in New York City and how his firm Stratton Oakmont engaged in rampant corruption and fraud onWall Street that ultimately led to his downfall. Leonardo DiCaprio (who also produced the film) stars as Belfort, with Jonah Hill as his business partner and friend Donnie Azoff, Margot Robbie as his second wife Naomi Lapaglia, and Kyle Chandler as Patrick Denham, the FBI agent who tries to bring him down. Matthew McConaughey, Rob Reiner, Jon Favreau, and Jean Dujardin are also featured. The film marks the director’s fifth collaboration with DiCaprio, after Gangs of New York (2002), The Aviator (2004), The Departed (2006), and Shutter Island (2010), as well as his second collaboration with Winter after the television series Boardwalk Empire (2010–14).
The Wolf of Wall Street premiered in New York City on December 17, 2013, and was released theatrically on December 25, 2013, in the United States, distributed by Paramount Pictures. The film was the first to have been released entirely through digital distribution. It was a major commercial success, grossing more than $392 million worldwide during its original theatrical run to become Scorsese’s highest-grossing movie to date and the 17th-highest-grossing film of 2013. The film was controversial for its morally ambiguous depiction of events, explicit sexual content, profanity, depiction of hard drug use, and the use of animals during production.
The film received mostly positive reviews from critics, with praise for Scorsese’s direction and the performances of DiCaprio and Hill, and was nominated for several awards, including five nominations at the 86th Academy Awards ceremony: Best Picture, Best Director for Scorsese, Best Writing (Adapted Screenplay) for Winter, and Best Actor and Best Supporting Actor nominations for DiCaprio and Hill, respectively. The film did not win in any category, although DiCaprio did win Best Actor – Motion Picture Musical or Comedy at the 71st Golden Globe Awards, where the film was also nominated for Best Picture – Musical or Comedy. It was also recognized by numerous other awards ceremonies, as well as guilds and critics’ associations.
.jpg)
Hai quyển hồi ký bán chạy khắp thế giới, một bộ phim chuyển thể từ Hollywood vẫn chưa thể mô tả hết những ngõ ngách sâu tối của nhân vật xuất chúng trong lĩnh vực bán hàng, Jordan Belfort.
Thiên tài bán hàng bẩm sinh
Belfort được sinh ra ở vùng Bronx thuộc thành phố New York, và lớn lên ở Bayside, Queens (Mỹ). Belfort đã bộc lộ khả năng kinh doanh từ năm 16 tuổi. Trong hội nghị tại Hunter Valley (Mỹ), ông đã kể lại phi vụ kinh doanh đầu tiên của mình.
“Năm đó, tôi đang ở New York và cùng một người bạn đi dạo dọc bãi biển địa phương, biển Jones. Đây là một bãi biển lớn cho đô thị 1 triệu dân”, Belfort cho biết.
Nhận thấy lượng khách nghỉ mát đông, trời nắng nóng và quãng đường từ bãi biển đến các xe bán nước mát lại xa, Belfort đã nảy ra ý định bán kem cho những du khách này.
Ngay hôm sau, Belfort ký hợp đồng với một nhà phân phối kem địa phương để mua một thùng kem 100 muỗng với giá 7 USD và bán lại với giá 1 USD/ly. Chỉ sau 45 phút bước xuống biển, Jordan đã kiếm được 100 USD đầu tiên. Kết thúc mùa hè năm đó, Jordan và bạn bè của mình đã kiếm được 25.000 USD.
Sói già Phố Wall
Sự nghiệp tại phố Wall của Belfort bắt đầu với công việc của một nhà môi giới chứng khoán tại Công ty L.F.Rothschild. Đến ngày 16/10/1987, thị trường chứng khoán của Phố Wall đột ngột giảm 580 điểm. Belfort và các đồng nghiệp bị thất nghiệp và phá sản.
Giữa những ngày tồi tệ này, ông phát hiện ra một loại cổ phiếu giá rẻ, penny, những cổ phiếu dùng để bán cho các nhà đầu tư ít tiền.
Bảy tháng sau đó, Belfort thành lập công ty riêng với đội ngũ nhân viên gồm 13 người. Đây là những người tin tưởng chắc chắn vào một kịch bản bán hàng hoàn hảo đã được ông soạn sẵn. Mục tiêu của công ty giai đoạn này là bán những cổ phiếu penny cho những người “giàu”.
Thời điểm đó, có 3 trở ngại lớn nhất đối với công ty của Belfort là công ty không có tên tuổi, các cổ phiếu chào bán không có thương hiệu và đối tác cũng không biết Jordan Belfort là ai.
“Vì vậy, tôi đã viết một kịch bản để các nhân viên của mình tuân theo. Đầu tiên, họ sẽ giới thiệu họ và công ty, giải thích vì sao đối tác chưa từng nghe đến chúng tôi. Ở lần đầu chào bán, chúng tôi rao một cổ phiếu giá 5 USD, sau đó, ở lần thứ hai chào bán chúng tôi đưa giá các cổ phiếu này lên 6 USD”, ông cho biết.
Kịch bản này đã thành công. Nhân viên bán hàng giỏi nhất của Jordan Belfort đã bán được tổng cộng 120.000 USD trong những năm đầu thập niên 2000. Theo tờ Telegragh, năm 26 tuổi, Jordan có thể kiếm được gần 1 triệu USD một tuần và đỉnh điểm là một lần kiếm được 12,5 triệu USD chỉ sau 3 phút giao dịch.
Thành công của “Sói già phố Wall” đến từ hai yếu tố. Thứ nhất là phương pháp tiếp thị theo đường thẳng, chính là kịch bản từng bước tiếp cận để bán trực tiếp sản phẩm đến khách mua hàng mà Jordan đã soạn ra cho nhân viên của mình.
Thứ hai chính là phương thức “pump and dump”. Đây là một thủ thuật gian lận thổi phồng giá trị các cổ phiếu giá rẻ bằng cách cung cấp các thông tin sai lệch.
Mặt khác, thông qua các mối quan hệ quen biết, ông chia lại cổ phiếu Công ty Stratton Oakmont cho bạn bè và đề nghị họ giam cổ phiếu lại. Nguồn cung hạn chế cũng góp phần đẩy giá cổ phiếu lên cao, sau đó ông bán lại cho những nhà đầu tư và thu lợi nhuận.
Bên cạnh đó, Belfort tạo dựng sự trung thành của nhân viên bằng lối sống sa đọa khi chấp thuận cho phục vụ rượu, ma túy và gái mại dâm trong văn phòng công ty.
Năm 1998, sau những điều tra của lực lượng đặc nhiệm đa quốc gia, công ty của Belfort cuối cùng phải đóng cửa. Ông bị kết án tù với tội danh gian lận chứng khoán và rửa tiền.
![]() |
Nhờ mối quan hệ với FBI, Belfort được thả ra sau 22 tháng và bị buộc phải bồi thường 110 triệu USD gian lận. Trong thời gian ngồi tù, Belfort đã viết lại những kinh nghiệm môi giới chứng khoán của mình và xuất bản quyển hồi ký The Wolf of Wall Street (Sói già phố Wall).Tay chơi làm lại cuộc đời
Trong một buổi nói chuyện tại Dubai vào ngày 19/5/2014, Belfort đã thú nhận: “Tôi đã từng rất tham lam. Trong kinh doanh, tham vọng và đam mê là tốt nhưng tham lam thì không. Sau những thất bại, mục tiêu hiện tại của tôi là tạo dựng một loại thành công bền vững hơn”.
Sau khi ra tù, Belfort xuất bản 2 cuốn tự truyện The Wolf of Wall Street (Sói già Phố Wall) và Catching the Wolf of Wall Street (Tóm gọn Sói già Phố Wall). Hai cuốn sách này được dịch ra 18 ngôn ngữ khác nhau, xuất bản ở trên 40 quốc gia. Câu chuyện đời của ông cũng được đạo diễn Scorsese chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh Hollywood.
Những trải nghiệm đã qua đưa Belfort trở thành một diễn giả danh giá. Ông là khách mời thường xuyên của các kênh CNN, CNBC, Sky News và BBC với mức phí 100.000 USD cho mỗi giờ phát biểu.
Mặt khác, Belfort xây dựng các chương trình diễn thuyết, tập huấn riêng cho các doanh nhân về đào tạo doanh nghiệp, tư vấn tư nhân sự và phương thức bán hàng thành công Straight Line Sales Psychology (Phương pháp bán hàng theo đường thẳng) do ông sáng tạo ra. Năm 2014 Belfort sẽ thực hiện hơn 45 buổi diễn thuyết ở Mỹ, Úc, châu Á, Việt Nam.
Belfort cho biết ông đã lên kế hoạch trả nốt những khoản bồi thường thông qua chi phí của những buổi diễn thuyết vào cuối năm 2014: “Mục tiêu của tôi là kiếm hơn 100 triệu đô la để có thể trả cho tất cả mọi người trong năm nay”.
The Reader is a 2008 German-American romantic drama film based on the 1995 German novel of the same name by Bernhard Schlink. The film was written by David Hare and directed by Stephen Daldry. Ralph Fiennes and Kate Winslet star along with the young actor David Kross. It was the last film for producers Anthony Minghella and Sydney Pollack, both of whom had died before it was released. Production began in Germany in September 2007, and the film opened in limited release on December 10, 2008.
It tells the story of Michael Berg, a German lawyer who as a mid-teenager in 1958 had an affair with an older woman, Hanna Schmitz, who then disappeared only to resurface years later as one of the defendants in a war crimes trial stemming from her actions as a guard at a Nazi concentration camp. Michael realizes that Hanna is keeping a personal secret she believes is worse than her Nazi past – a secret which, if revealed, could help her at the trial.
Winslet and Kross, who plays the young Michael, received much praise for their performances; Winslet won a number of awards for her role, including the Academy Award for Best Actress. The film itself was nominated for several other major awards, including the Academy Award for Best Picture.
OST Wolf Totem
“Zen” is a 2009 film directed by Banmei Takahashi and starring Nakamura Kantarō II as Dogen, and Yuki Uchida as Orin.
The film is a biography of Dōgen Zenji (道元禅師) (19 January 1200 – 22 September 1253), a Japanese Zen Buddhist teacher. After travelling to China to study, Dogen founded the Sōtō school of Zen in Japan.
‘Zen’ Buddhist teacher Dogen Zenji is a very important religious person during the Kamakura period, 750 years ago. After his mother died, he decides to move to China and settle as a Buddhist teacher. One bright morning, enlightened, Zenji returns to Japan as a devoted evangelist of the ‘new’ Buddhism. However, this new form of Buddhism is not accepted in all communities.
Sự trung thành về nội dung, sự “phản bội” về cảm xúc
Truyện Sắc, giới chỉ dài khoảng chưa đầy ba mươi trang, còn phim Sắc, giới dài đến một trăm năm mươi phút. Nếu tính theo cách tính phổ biến nhất của các nhà biên kịch, mỗi phút một trang, một trăm năm mươi phút tương đương với một trăm năm mươi trang. Đạo diễn Lý An cùng hai biên kịch Vương Huệ Linh – James Schamus đã phải nỗ lực rất nhiều để có thể vừa trung thành với nội dung chính ban đầu, vừa xây dựng được một bộ phim hấp dẫn. Rất nhiều tình tiết không có trong nguyên tác được thêm vào. Tuy nhiên, đây không phải là những sáng tạo hoàn toàn mới, mà có thể coi là phần cụ thể hóa những lời nói đầy ẩn ý của tác giả Trương Ái Linh, hoặc cũng có thể coi là một động tác chi tiết hóa những vấn đề chỉ được đề cập một cách hết sức sơ lược trong tác phẩm.
Cả truyện và phim đều bắt đầu và kết thúc bằng cảnh chính là đánh mạt chược. Tóm tắt nội dung không có gì khác biệt. Phim còn cố tình trung thành với truyện đến từng chi tiết rất nhỏ: chiếc rèm cửa dày in hình cỏ phượng vĩ trong phòng khách, kiểu tóc và kỳ bào lụa xanh óng ả của nhân vật chính, quán Thục Du, đường Phúc Khai Sâm v.v… Dù vậy, cảm xúc nghệ thuật được thể hiện trong hai tác phẩm truyện và phim hoàn toàn không giống nhau. Nếu về mặt nội dung, phim được coi như “trung thành” với nguyên tác, thì trên phương diện cảm xúc, đó là sự “phản bội”.
Sự phản bội về cảm xúc ở đây, trước hết là cảm xúc của nhân vật chính Vương Giai Chi.
Vương Giai Chi của Lý An thuần khiết, yếu đuối, đơn giản và chân thành. Nàng có yêu tên Hán gian không? Câu trả lời dường như chắc chắn. Nàng chẳng qua cũng chỉ là một trong những cánh hồng bạc phận giữa sóng gió thời đại. Tất cả những quyết định của nàng, đều do dòng đời đưa đẩy. Dòng đời đẩy nàng từ Quảng Châu đến Hương Cảng, đưa nàng tới nhóm kịch sinh viên ái quốc với những vai diễn non nớt, rồi cuốn nàng vào màn kịch định mệnh: quyến rũ tên Hán gian họ Dị. Chính vì non nớt, nên nàng không thể tách bạch giữa kịch và đời. Nàng yêu hắn, như một điều hiển nhiên. Rất nhiều tình huống trong phim đã được dựng lên, chỉ để hợp lý hóa tình yêu giữa người đẹp và Hán gian. Vương Giai Chi của Lý An chưa bao giờ có sự chủ động trong cuộc sống của mình. Nhưng khi yêu, nàng bắt đầu tự quyết định. Nàng chủ động trong việc thả Dị tiên sinh đi, dùng cái chết của mình cùng nhiều người khác để bảo vệ tình yêu.
Vương Giai Chi của Trương Ái Linh lại hoàn toàn khác. Sắc sảo và khờ dại, tỉnh táo và huyễn hoặc, khao khát hư vinh và cảm giác tự ti… Vương Giai Chi của Trương Ái Linh mang trong mình tất cả những mâu thuẫn của chính tác giả. Nàng có yêu ngài Dị không? Câu trả lời là chính nàng cũng không biết. Nàng không chắc về mỗi cảm xúc mình có, mỗi hành động mình làm, mỗi điều đang diễn ra… Nàng lạc lõng giữa thế giới và thời đại của nàng. Nàng muốn làm điều gì đó để chứng tỏ mình, nhưng nàng lại không hề biết được ý nghĩa của nó. Nàng tự huyễn hoặc mình trong sự hy sinh và tình yêu mơ hồ. Tình yêu của nàng đối với ngài Dị không mạnh bằng mong muốn ngài Dị yêu nàng, và nàng tự đánh lừa cảm xúc của mình. Trong trái tim nàng chỉ có hai sắc thái rõ rệt nhất: chìm đắm trong những ảo tưởng về mình, cùng nỗi cô đơn.
Sự “phản bội” cũng thể hiện trong sự phản ánh cảm xúc của ngài Dị.
Đàn ông nông nổi giếng thơi,
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.
Câu ca dao quen thuộc này của Việt Nam, thú vị thay, lại có thể giúp chúng ta khái quát “ván bài” “Sắc, giới” của Vương Giai Chi và ngài Dị qua ngòi bút của Trương Ái Linh.
“Nàng trước lúc chết nhất định hận ông ta. Nhưng “vô độc bất trượng phu”. Nếu ông ta không tàn nhẫn, nàng chưa chắc đã yêu. (…) Ông ta không lạc quan về thời cuộc. Biết tương lai ra sao? Có một người tri kỷ, chết cũng không nuối tiếc. Ông ta cảm thấy bóng dáng nàng sẽ mãi mãi ở bên cạnh, an ủi mình. Dù nàng hận ông, nhưng tình cảm cuối cùng nàng dành cho ông mạnh đến mức vượt qua tất cả các tình cảm khác, không liên quan gì đến những tình cảm khác, chỉ đơn thuần là tình cảm. Quan hệ giữa họ là quan hệ nguyên thủy của thợ săn với vật bị săn, giữa hổ với trành, là quan hệ chiếm hữu cực điểm. Như nàng mới đúng sống là người của ông, chết là ma của ông.”1 Mật vụ họ Dị không hề yêu Vương Giai Chi. Ông ta chỉ muốn dùng nàng để chứng minh sức hấp dẫn ở độ tuổi ngoài tứ tuần của mình, trong khi trên thực tế, ông ta chỉ là một người đàn ông trung niên, thấp, gầy và hói. Hành động của nàng khiến ông ta hoan hỉ say sưa với chính mình trong chiến thắng, chứ không hề cảm động. Trành là gi? Theo truyền thuyết xưa, người đầu tiên bị hổ cắn chết sẽ hóa thành trành, một dạng quỷ theo giúp hổ hại thêm người khác. Vương Giai Chi chính là “trành” của ông ta, bị ông ta cắn chết, đồng thời cũng nộp thêm mạng sống của đồng đội. Dưới ngòi bút sắc sảo của Trương Ái Linh, sự tàn nhẫn, ích kỷ, vô tình, thậm chí là vô sỉ của mật vụ họ Dị đã bị đẩy lên đến cực điểm.
Ngay từ việc chọn Lương Triều Vỹ vào vai Dị tiên sinh đã cho thấy đạo diễn Lý An lý giải nhân vật này theo cách hoàn toàn khác. Một người đàn ông lạnh lùng song không dấu được vẻ phong lưu đa tình. Những chi tiết như Dị tiên sinh cố tình cho Vương Giai Chi thắng trên bàn mạt chược, sau đó hẹn nàng đến chỗ vắng người để tiện bề tâm sự; Dị tiên sinh rơi nước mắt khi nghe nàng hát; Dị tiên sinh tặng nàng một bất ngờ khi đưa danh thiếp cho nàng đến tiệm kim hoàn chọn nhẫn… và đặc biệt chi tiết cuối cùng, Dị tiên sinh thẫn thờ vuốt tấm khăn trải giường trong căn phòng của Vương Giai Chi sau khi nàng bị hành quyết đã cho thấy Hán gian cũng có tình người. Điều này khác hẳn với thái độ trơ trẽn của ngài Dị trong tiểu thuyết: “Ông ta nhắc nhở mình phải bảo vợ nói năng cẩn thận: cái cô “Mạch phu nhân” kia nhà có việc gấp, đã vội trở về Hương Cảng. Đều do bà đưa sói vào nhà!(…) Phải dọa cho bà ấy sợ, đỡ việc sau này nghe cái miệng Mã phu nhân hớt lẻo, quay ra làm mình làm mẩy với ông ta.”2
Sự “phản bội” về cảm xúc của hai nhân vật chính đã khiến cảm xúc của đối tượng tiếp nhận nghệ thuật – độc giả và khán giả – đối với tác phẩm cũng hoàn toàn thay đổi.
Ranh giới giữa văn học và điện ảnh
2.1. Thế giới quan, nhân sinh quan:
Tiểu thuyết luôn thể hiện thế giới quan của người viết, tác phẩm điện ảnh lại thể hiện nhân sinh quan của đạo diễn. Để một tác phẩm chuyển thể thành công, cần rất nhiều yếu tố, nhưng để tác phẩm chuyển thể trung thành với nguyên tác, yếu tố đầu tiên chính là sự tuơng đồng về thế giới quan, nhân sinh quan của tác giả và đạo diễn.
Lý An trong một lần trả lời phỏng vấn đã cho biết: “Đọc xong tiểu thuyết, có thể thấy sát khí rất nặng nề, làm sao để có được tình cảm từ trong bầu không khí ấy, làm sao để có thể bước ra một cách toàn vẹn, đây là một vấn đề hoàn toàn không dễ dàng. Sát khí cũng là một trong những nguyên nhân thu hút chúng ta, chúng ta bước vào đó, như dạo một vòng trong địa ngục rồi đi ra, cảm thấy cuộc sống này vẫn còn hy vọng, con người vẫn còn có tình người, đây là một vấn đề hoàn toàn không dễ dàng.” 3Nhà văn nữ Tu Lan từng viết về Thượng Hải và những người con gái Thượng Hải trong thập niên 30 của thế kỷ XX như sau: “Những người con gái của năm 1930 đều mang những cái tên đẹp đẽ. Tôi thích nhất là Quách An Từ và Lý Thụy Sơ. Điều kỳ lạ là nhìn họ lúc nào cũng có chút sát khí, có thể vẻ đẹp cũng chính là một duyên cớ. Thượng Hải là một thành phố mang sát khí. Vũ khí của nó không phải là binh khí sắc bén, mà là những ống trúc chọc thủng các cửa sổ bằng giấy để thổi mê hương vào căn phòng trong các bộ tiểu thuyết cổ, hoặc như loại độc dược mà Lam Phượng Hoàng đã dùng trong “Tiếu ngạo giang hồ”. Lam Phượng Hoàng trong tiểu thuyết giống như một sát thủ chuyên nghiệp. Quách An Từ là thiên kim tiểu thư của tổng giám đốc công ty Vĩnh An, một cô gái rất thời thượng; còn Lý Thụy Sơ là một cô gái thường dân. Nhưng họ đều bị nhiễm vẻ đẹp cũng như sát khí của thành phố này. ” 4
Lý An dường như đã lĩnh hội được cái “sát khí” trong văn Trương Ái Linh – một phụ nữ Thượng Hải điển hình, cũng như cảm nhận được “sát khí” trong bầu không khí của đô thị hoa lệ Thượng Hải, chính vì vậy mà ông xây dựng bộ phim theo một màu sắc âm u – những sắc màu trung và âm tính, chỉ duy nhất viên kim cương hồng lóe lên như một biểu tượng của hy vọng và tình yêu, trước khi tắt hẳn trong màn đêm.
Dị tiên sinh (Lương Triều Vỹ đóng) trong phim đã từng nói với Vương Giai Chi (Thang Duy): “Tất cả những người tôi đã gặp… trong mắt họ, tôi đều thấy hiện lên một điều giống nhau – Sợ hãi. Cô không giống những người khác, không sợ hãi, phải vậy không?” (Phút thứ 51:25) Bản thân Lương Triều Vỹ cũng đã diễn rất thành công nỗi sợ hãi trong lòng một tên Hán gian: dáng đi khom khom, vai rút lại, luôn di chuyển với tốc độ nhanh nhất; mỗi lời nói ra đều phải đắn đo một vài giây để thăm dò đối phương; đầu mày cau lại, kìm nén sự căng thẳng bên trong, ngay cả khi chơi bài, uống trà, trong xe hơi, hay trên giường ngủ… Đặc biệt là ánh mắt sâu thẳm lúc nào cũng bất an… Sau ba năm gặp lại, ngài Dị nói cùng Vương Giai Chi: “Em cũng đã khác xưa”. Đôi mắt Vương Giai Chi ba năm sau cũng trở thành một đôi mắt thăm thẳm ẩn chứa nhiều tâm sự. Đó là những lợi thế hình ảnh đập vào mắt người xem mọi lúc mọi nơi mà tiểu thuyết không bao giờ có được. Lý An đã tốn nhiều công sức để dựng nên từng chi tiết nhỏ nhất góp phần hoàn thiện những màn kịch làm thót tim khán giả, từ từ dẫn khán giả vào sống cùng với tâm trạng nhân vật trên màn ảnh.
Tuy vậy, thời đại khác nhau khiến điểm nhìn của tác giả và đạo diễn không hoàn toàn thống nhất. Trương Ái Linh nhìn thời đại của Vương Giai Chi với tư cách một người trong cuộc, còn Lý An lại nhìn với tư cách một người chiêm nghiệm lịch sử.
Trong trang viết của Trương Ái Linh quả có thấm đẫm không khí nặng nề u uất mà nhiều người gọi là “sát khí”, song hoàn toàn không có nỗi sợ hãi. Chúng tôi tin rằng, trong thời đại rối ren mà bà đã sống, sinh mệnh con người hết sức mỏng manh, vận mệnh con người cũng vô cùng khó lường, nhưng cuộc sống vẫn diễn ra như nó vốn thế, và mỗi người vẫn sẽ sống với đầy đủ các sắc thái cảm xúc của mình, chứ không chỉ có nỗi sợ hãi. Trịnh Bình Như, nhân vật được coi là nguyên mẫu của Vương Giai Chi trong truyện, là người rất biết thưởng thức cuộc sống qua từng chi tiết. Theo như lời nhân chứng kể lại, trước khi bị hành quyết, cô ngửa đầu lên ngước nhìn bầu trời xanh thăm thẳm, sau đó nói với người cầm súng – đặc vụ tên Lâm Chi Giang: “Thời tiết đẹp thế này, địa điểm đẹp thế này, thanh thiên bạch nhật, hồng nhan bạc mệnh, đành nhắm mắt xuôi tay! Chi Giang, chúng ta cũng có thể coi là người quen biết. Nay nếu muốn cùng chạy trốn, hãy còn kịp. Còn nếu anh đã nhẫn tâm, thì cứ nổ súng đi! Nhưng tôi xin anh, đừng hủy hoại dung nhan mà tôi bấy lâu gìn giữ!” Chỉ mấy lời cuối này cũng đủ khắc họa chân dung tính cách một cô gái Thượng Hải điển hình bên trong người nữ tình báo dũng cảm – một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, yêu cái đẹp.
Với Vương Giai Chi của Trương Ái Linh, dù đang làm một nhiệm vụ sinh tử, nhưng cái nàng chú ý đến vẫn là những chi tiết rất đời thường: phong vị của một quán cà phê, mùi thơm của nước hoa, lời người đàn ông hứa sẽ mua cho nàng chiếc nhẫn (và nàng băn khoăn mãi, không biết có nên nhắc nhở về lời hứa ấy hay không), cái nhìn của người xa lạ, ma-nơ-canh trong tủ kính bên đường, chong chóng đủ màu trên chiếc xe kéo v.v… Nàng sống cuộc sống của nàng, với những mối quan tâm riêng, nhỏ bé, nhưng quan trọng, quan trọng hơn cả đại cuộc.
Thời gian trong mắt Vương Giai Chi của Trương Ái Linh vừa là thời gian thực tại, vừa là thời gian trong quá khứ. Nàng dùng thực tại để chứng tỏ chính mình trong quá khứ, để gỡ gạt những sai lầm tưởng như không còn có thể cứu vãn… Trong cùng một hành động của nàng, có thể thấy cùng một lúc bóng dáng của quá khứ và hiện tại, với những sắc thái tâm lý tình cảm phức tạp. Lý An, với tư cách một người chiêm nghiệm lịch sử, lại diễn giải thời gian theo chiều vốn có, lấy quá khứ làm nền tảng để lý giải cho hiện tại.
Hình ảnh nhân vật Vương Giai Chi của Lý An có thể coi như hình mẫu người tình lý tưởng trong mắt nam giới: thuần khiết, xinh đẹp, gợi cảm, thông minh nhưng không cơ trí, sống chết vì tình yêu. Vương Giai Chi của Trương Ái Linh lại khó hiểu và có phần đỏng đảnh như chính một nửa còn lại của nhân loại, với những mâu thuẫn nội tâm gay gắt song xét cho cùng lại chẳng đâu vào đâu. Hình ảnh mật vụ họ Dị trong tác phẩm của Lý An dường như đã trở nên hấp dẫn hơn so với nguyên tác, là người hiểu thời cuộc song bị chi phối bởi thời cuộc, có cảm xúc song phải buộc lòng kìm nén cảm xúc. Trong khi đó, ngài Dị dưới ngòi bút Trương Ái Linh hoàn toàn khác: mưu mô, máu lạnh, thậm chí là không còn nhân tính.
Lý An thương cảm cho sự bất lực của con người, Trương Ái Linh giễu cợt sự ngây thơ của con người. Lý An tin vào tình yêu, cảm xúc, lương tri. Trương Ái Linh lại như muốn lật tẩy và phơi bày những góc tối tăm nhất của tâm hồn. Về phương diện này, có thể nói Sắc, giới của Lý An và Sắc, giới của Trương Ái Linh là hai thế giới khác hẳn nhau.
2.2. Ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ điện ảnh:
Ranh giới giữa văn học và điện ảnh không chỉ thể hiện qua yếu tố thời đại hay góc nhìn, quan trọng hơn, nó thể hiện qua những điều có thể và không thể phản ánh bằng ngôn ngữ văn học hay điện ảnh.
Hình ảnh sống động là ưu thế lớn của điện ảnh. Trong phần trên, chúng tôi đã giới thiệu sơ qua về những hình ảnh trực tiếp đập vào mắt người xem, khiến bộ phim không cần giải thích dài dòng cũng có thể đưa tới những thông điệp đặc biệt về cảm xúc hiện hữu của nhân vật. Tuy vậy, điện ảnh lại gặp thách thức lớn trong việc phản ánh những mâu thuẫn và xung đột tâm lý bên trong nhân vật. Cần rất nhiều tình huống và tình tiết để diễn giải vấn đề. Trong khi đó, thông qua bút pháp, văn học có thể cùng một lúc kết hợp cả tâm lý, cảm xúc, hồi ức lẫn sự bổ trợ tương tác của cảnh sắc hay khung cảnh xung quanh nhân vật để thể hiện sự giằng xé hay bứt phá nội tâm.
Một trong những chi tiết đắt giá nhất chỉ có thể diễn tả bằng ngôn ngữ, đó chính là những giây phút cuối cùng ngài Dị ở bên Vương Giai Chi: “Cái cười của ông ta lúc này không chút nhạo báng, chỉ là vương một nỗi buồn. Bóng ông nghiêng nghiêng trước ngọn đèn, ánh nhìn không đặt vào đâu, làn mi như cánh con ngài trắng ngà đang đậu xuống nghỉ ngơi trên khuôn mặt xương xương. Trong mắt nàng, đó là một vẻ dịu dàng đáng thương. Người đàn ông này yêu mình. Nàng chợt nghĩ. Trong tim chấn động, như mất đi cái gì.”5 Vương Giai Chi, trong giờ phút quan trọng nhất, chợt nhận ra tình yêu (song đáng thương thay, đó cũng chỉ là sự tự huyễn hoặc mình của một con người lạc lõng giữa thời cuộc). Tính bất ngờ của câu chuyện cũng như giá trị nghệ thuật của tiểu thuyết đã được được thể hiện rõ nét. Những xao động và xung đột tâm lý dễ dàng hiện ra trên trang giấy qua vài nét bút, nhưng lại là một việc cần nhiều công phu đối với điện ảnh. Để có thể diễn tả được tính hợp lý trong quyết định của Vương Giai Chi – thả mật vụ họ Dị chạy thoát, khiến tất cả bạn bè cùng chính nàng sa lưới, Lý An đã phải thêm thắt rất nhiều tình huống không có trong nguyên tác. Trong truyện, Vương Giai Chi chủ động đưa ngài Dị đến tiệm kim hoàn được chọn sẵn làm địa điểm mưu sát để sửa hoa tai, sau đó họ Dị mới đề nghị mua luôn một chiếc nhẫn kim cương tặng nàng làm kỷ niệm. Mọi việc diễn ra bình thường, vẫn là một màn kịch, cho đến phút quyết định không lường trước được của Vương Giai Chi. Trong phim, họ Dị đã tặng cho người tình một sự bất ngờ, khi bảo nàng đưa danh thiếp của mình đến tiệm kim hoàn, sau đó chủ tiệm kim hoàn mới giới thiệu món quà mà Dị tiên sinh muốn nàng nhận – một cách đầy kịch tính. Có thể thấy những biến đổi tình cảm phức tạp của Vương Giai Chi, từ lo lắng, sợ hãi đến bất ngờ và cảm động. Để có được trường đoạn này, bộ phim đã phải đệm thêm nhiều cảnh khác trước đó với mục đích lý giải mạch cảm xúc của nhân vật chính. Ba cảnh nóng của phim chính là để phục vụ cho mục đích này. Thông qua tư thế, xúc cảm của hai nhân vật trong những cảnh nóng, đạo diễn gửi gắm một thông điệp: mật vụ họ Dị đã dần dần cởi bỏ sự sợ hãi, căng thẳng, đề phòng của mình để mở cửa lòng cho Vương Giai Chi bước vào; ngược lại, Vương Giai Chi từ thế bị động đã dần trở nên chủ động trong quan hệ với kẻ thù, thậm chí ngay cả lúc có cơ hội, nàng cũng không giết hắn. Tuy vậy, yếu tố then chốt bộc lộ tình cảm thật của hai người không nằm ở những cảnh nóng, mà thể hiện trong cảnh Vương Giai Chi hát cho mật vụ họ Dị nghe. Lời hát Thiên nhai ca nữ vừa kết thúc cũng là lúc họ Dị ứa nước mắt và đưa tay nắm lấy tay nàng. Có thể thấy sau những cố gắng hòa hợp về mặt thể xác, cuối cùng hai nhân vật chính trong phim cũng đã đạt đến sự hòa hợp cả về tinh thần. Quyết định cuối cùng của Vương Giai Chi là kết quả của một quá trình dài suy nghĩ, đấu tranh và cuối cùng chấp nhận số phận. Tất cả diễn ra một cách hợp tình hợp lý.
Tiếc thay, những nỗ lực của đạo diễn khi lý giải bút pháp của nhà văn, cuối cùng lại đẩy bộ phim đi càng lúc càng xa ý đồ nghệ thuật ban đầu. Đó là vấn đề của hầu hết các bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết, đặc biệt từ những tiểu thuyết mang giá trị văn học cao như Sắc, giới. Chung quy cũng do điện ảnh và văn học luôn được diễn đạt bởi thứ ngôn ngữ nghệ thuật khác hẳn nhau. Tinh hoa của bộ phim thường là những khoảnh khắc làm rung động lòng người. Tinh hoa của tiểu thuyết lại nằm trong những ngôn từ khắc họa tâm lý nhân vật tinh tế và sắc nét.
Cùng là Sắc, giới, nhưng Trương Ái Linh nhấn mạnh vào “Giới”, còn Lý An tập trung vào “Sắc”.
“Giới” của Trương Ái Linh, không phải chỉ là thận trọng, đề phòng, mà còn có một nghĩa khác là “chiếc nhẫn”. Chiếc nhẫn xuyên suốt tác phẩm, là một lời hứa, là một giấc mơ, là một đạo cụ đắt tiền nhưng chỉ được sử dụng trong phút giây ngắn ngủi trên sàn diễn, là ánh hào quang trong thoáng chốc, như một minh chứng cho những cảm thức vinh hoa vô nghĩa trong đời người. “Giới” ở đây, nếu được hiểu như một động từ có nghĩa “đề phòng”, thì cũng không phải là đề phòng “sắc”, mà là đề phòng những dục vọng nói chung trong sâu thẳm lòng người.
“Sắc” của Lý An là yếu tố xuyên suốt tác phẩm điện ảnh. Đó là nỗi khát khao, là những âm mưu, là sự giải thoát. Không thể phủ nhận yếu tố “Sắc” đã khiến cho sản phẩm mang tính thương mại cao hơn hẳn. Tuy vậy, sự diễn giải mang đậm tính chất cá nhân của đạo diễn đã biến Sắc, giới điện ảnh thành một sản phẩm có phần xa lạ với tiểu thuyết ban đầu.
Thiết nghĩ, lằn ranh giữa văn học và điện ảnh tuy mong manh, song lại khó vượt qua hơn cả trùng trùng thành lũy. Cuối cùng, cái đọng lại trong lòng người không phải là “sắc” hay “giới”, mà chính là những cảm xúc thăng hoa sau khi thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật. Đó mới thực sự là điều quan trọng.
Tài liệu tham khảo:
Ấn khắc văn học sinh hoạt chí, Đài Loan, tháng 8/2007.
Tu Lan, Ván cờ của hồ ly, đăng trong tạp chí Vạn Tượng, Thượng Hải, tháng 11/1998.
Trương Ái Linh, (Phan Thu Vân dịch), Sắc, giới, NXB Trẻ, Tp.HCM, tháng 1/2009.
Sắc, giới (Lust, Caution), Haishang Films phát hành (liên kết với Focus Features và River Road Entertainment), 2007.
1 Trích trong “Sắc, giới”, NXB Trẻ, Tp. HCM, 2009.
2 Trích trong “Sắc, giới”, NXB Trẻ, Tp. HCM, 2009.
3 Trích trong “Ấn khắc văn học sinh hoạt chí”, Đài Loan, tháng 8/2007.
4 Trích trong “Ván cờ của hồ ly”, đăng trong tạp chí “Vạn Tượng”, Thượng Hải, tháng 11/1998.
5 Trích trong “Sắc, giới”, NXB Trẻ, Tp. HCM, 2009.
Phan Thu Vân, Nhìn lằn ranh giữa văn học và điện ảnh qua Sắc, giới, Hội thảo quốc tế “Những lằn ranh văn học”, NXB Đại học Sư Phạm TP.HCM, 23/12/2011.
Phan Thu Vân, Lằn ranh giữa văn học và điện ảnh qua Sắc, giới, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 1 (491) tháng 1/2013, trang 116 – 125.
http://hcmup.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=6769%3Anhin-ln-ranh-gia-vn-hc-va-in-nh-qua-sc-gii&catid=4130%3Avan-hoc-nuoc-ngoai&Itemid=7244&lang=zh&site=30


![]() |
| Một cảnh trong phim Spring, Summer, Fall, Winter… to Spring (Xuân, Hạ Thu, Đông rồi lại Xuân) |
![]() |
| Samaritan Girl kể câu chuyện về hai cô bé tuổi teen chỉ vì muốn đi du lịch châu Âu mà sẵn sàng làm gái điếm để kiếm tiền. Cuối cùng một tự tử chết, một tiếp tục trở thành gái mại dâm để thực hiện giấc mơ còn dang dở. |
![]() |
| Đôi giày của Kim Ki Duk khi đến dự Lễ trao giải Liên hoan phim Venice (2012). |
![]() |
| Nấm mồ của Pieta |
![]() |
| Kim Ki Duk trong 1 lần chụp ảnh để giới thiệu bộ phim mới One on one năm 2014 |
TTO – Kim Ki Duk đã từng tự làm những vai trò quan trọng nhất trong quá trình sản xuất một bộ phim: đạo diễn, biên kịch, dựng phim, chỉ đạo nghệ thuật, âm nhạc…
Với bộ phim mới nhất “Arirang” (phim tài liệu tự thuật, đoạt giải “Un Certain Regard” tại Cannes 2011), Kim Ki Duk còn đảm nhận vai trò như là một diễn viên và quay phim.
![]() |
| Ảnh: festival-cannes.com |
15 năm, 16 phim, một quá trình sáng tạo nghệ thuật đáng khâm phục và Kim Ki Duk có lẽ là đạo diễn được đánh giá cao nhất của điện ảnh Hàn Quốc đương đại.
Từ bộ phim dài đầu tiên “Crocodile” (Cá sấu, 1996) cho đến bộ phim dài gần đây nhất, “Dream” (Ảo mộng, 2008), dường như Kim Ki Duk chưa từng đi chệch khỏi con đường của mình về phong cách làm phim cũng như mục đích làm phim.
Có nhiều ý kiến cho rằng càng về sau này Kim Ki Duk càng lặp lại chính mình, điều này có lẽ đúng nhưng đây là điều khó tránh khỏi khi một tác giả muốn giữ mình trong một môi trường làm phim đầy biến động, chịu nhiều chi phối của tiền bạc.
Và không quá lời khi gọi Kim Ki Duk là một tác giả cực đoan.
Kim Ki Duk đã gây dựng nên một phong cách hoàn toàn riêng biệt, không thể trộn lẫn. Những bộ phim của Kim Ki Duk đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm vốn làm cho không ít người khó chịu, kinh hãi. Nhưng nếu chúng ta nhìn gần hơn, gạt bỏ những thành kiến cá nhân, chúng ta sẽ thấy rằng điện ảnh của Kim Ki Duk tràn đầy tình người và hơi thở của cuộc sống.
Tự nghiệm đời mình với Arirang
![]() |
| Đạo diễn Kim Ki Duk |
Với “Arirang”, Kim Ki Duk đã tự nghiệm lại cuộc đời cũng như sự nghiệp của mình, ông tâm sự rằng: “Một nữ diễn viên gần như đã gặp một tai nạn chết người trong lúc quay phim “Dream”. Khi quay cảnh tự sát, người nữ diễn viên bị treo lên và không ai có thể làm gì. May mắn là chúng tôi có một cái thang 50 cm ở bên dưới để đề phòng. Nếu tôi không nhanh chân leo lên thang và tháo dây thì….Lúc đó tôi hầu như lạc lối và đã khóc mà không một ai biết. Giây phút đó tôi không bao giờ muốn nhớ lại, đã làm tôi nhìn lại 15 bộ phim mà tôi đã điên cuồng làm trong suốt 13 năm sự nghiệp”.
Nếu để ý một chút, chúng ta sẽ nhận ra rằng khoảng thời gian từ lúc làm “Dream” cho đến “Arirang” là 3 năm (2008 đến 2011), trong khi những phim trước đây được làm với một cường độ liên tục, năm nối năm, có khi một năm làm hai phim (năm 2000 là: “Real Fiction” và “The Isle” (Hoang đảo), năm 2001 là “Address unknown” (Thư nhầm địa chỉ) và “Bad guy” (Kẻ xấu).
“Arirang” dường như là một chặng dừng, một điểm nghỉ chân để Kim Ki Duk tiếp tục bước tiếp trên con đường nghệ thuật.
“Tôi không hối tiếc vì trải đời mình vào phim, nhưng tôi vẫn chưa thể sống thiếu phim.
Tôi muốn sát cánh trong cuộc đời cùng với phim.
Arirang…”
Kim Ki Duk
Một phong cách dị biệt: tình dục và bạo lực
Khi nhắc đến phim của Kim Ki Duk, có hai điều đầu tiên mà đa số khán giả sẽ nghĩ đến: tình dục và bạo lực. Và quả đúng như vậy, hiếm có bộ phim nào của Kim Ki Duk không xuất hiện hai yếu tố này, nếu có khác chăng chỉ là việc tình dục và bạo lực được ngụy trang dưới những hình thái khác mà thôi.
Trong “Samaritan Girl” (Tuổi thơ lạc lối, 2004), Kim Ki Duk đã dẫn ra một hành trình bi kịch của tội ác, bắt nguồn từ sự “ ngây thơ” của hai nữ sinh trong việc bán dâm với đủ hạng đàn ông cho đến sự giận dữ báo thù của người cha.
Bạo lực trong phim mang một ý nghĩa sâu hơn hẳn những phim khác khi người gây ra tội ác lại là một người cha đồng thời là một cảnh sát, và căn nguyên của bạo lực suy cho cùng là sự bất lực của một người cha khi bảo vệ con gái mình, rộng hơn đó là sự bất lực của một con người trước sự vô cảm của xã hội.
Xuất hiện trong phim là những người đàn ông đủ mọi thành phần nghề nghiệp tuổi tác: từ công chức, trí thức, lao động, cho đến nghệ sĩ…những người đàn ông này ngủ với hai cô nữ sinh chưa đủ tuổi thành niên một cách tỉnh táo và bình thường, với những người đàn ông này, mục đích duy nhất của họ là thỏa mãn ham muốn xác thịt bất chấp người con gái ngủ với họ là ai? bao nhiêu tuổi?. Bạo lực trong “Samaritan Girl” như một cách đáp trả vô vọng đối với sự vô tâm/ vô cảm của con người trong một xã hội hiện đại.
Kim Ki Duk đã đẩy tình dục và bạo lực thành một thứ bản năng tự nhiên và đơn giản nhất của con người. Bản năng tính dục đã thôi thúc chàng sư trẻ phá giới từ bỏ cuộc sống tu hành gia nhập cõi đời trần tục, để rốt cuộc gây ra tội ác giết người (Springs, Summer, Fall, Winter…and Springs – “Xuân, hạ, thu, đông,…rồi lại xuân”, 2003). Tình dục trong phim Kim Ki Duk còn là ẩn dụ cho ý chí sự sống của nhân vật, điều này thể hiện rõ trong “Breath” (Hơi thở, 2007).
“Breath” là câu chuyện về một nữ nghệ sỹ mất hết ý chí và niềm vui sống, cô tìm đến một người tử tù xa lạ đã nhiều lần tự sát để kể cho anh ta câu chuyện cuộc đời cô, ca hát, trang trí phòng giam của anh ta bằng những bức tranh phong cảnh theo mùa. Trong lúc làm tình với người tử tù, người phụ nữ đã bóp mũi anh ta, quyết định sống và chết chỉ tồn tại trong giây phút, và người tử tù đã chọn sống, anh ta vùng ta khỏi người phụ nữ.
Cũng trong chính giây phút đó, người phụ nữ tìm lại được ý chí sống cho bản thân mình: một tử tù chắc chắn sẽ chết còn khao khát thở huống chi mình. Cô rời bỏ nhà tù trong trời đông trắng xóa như ẩn dụ cho sự kết thúc và đồng thời cũng là sự khởi đầu cho một hành trình mới.
Tình dục và bạo lực tồn tại trong phim Kim Ki Duk biến cuộc sống thành một khối rubic nhiều mặt đa sắc. Khối rubic ấy không trật tự về màu sắc, mà đó là sự đan xen lẫn lộn. Nó hỗn loạn như chính cuộc sống này, nó mập mờ giữa trắng-đen cũng như sự mơ hồ giữa cái thiện và cái ác trong cuộc đời.
Điện ảnh của Kim Ki Duk đã cho chúng ta nhìn con người từ những gì đen tối nhất, xấu xa nhất và bằng cách này cuộc đời hiện lên một cách trần trụi, chân thực, không chút sơn phết.
|
Một ngày trước khi diễn ra lễ trao giải Cành cọ vàng, liên hoan phim Cannes đã trao giải Một góc nhìn (Un Certain Regard) cho hai nhà làm phim Kim Ki Duk với bộ phim Arirang và Andreas Dresen với Stopped on Track (Ngừng theo dõi). Tuy nhiên, việc trao giải cho nhà làm phim Hàn Quốc Kim Ki Duk với bộ phim về chính mình đã vấp phải nhiều ý kiến trái chiều trong giới phê bình. Trong phim, Kim Ki Duk một mình vào ba vai người phỏng vấn, người được phỏng vấn và cái bóng của chính mình. Cách làm phim này đã được một số nhà phê bình hoan nghênh là sáng tạo và độc đáo. Tuy nhiên, số khác lại cho Kim quá “mạnh tay” trong việc chỉ trích các đồng nghiệp xứ Hàn chạy theo đồng tiền, làm ra những bộ phim câu khách rẻ tiền. Điều đó khiến cho bộ phim trở nên khá khá nặng nề và nhạy cảm. (trích từ tin kết quả giải Cannes 2011 trên Tuổi Trẻ Online) |