Film
Góp phần nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh
Posted on January 19, 2018QĐND – “Chuyển thể văn học-điện ảnh (nghiên cứu liên văn bản)” là chuyên luận của Tiến sĩ Lê Thị Dương (Viện Văn học) do NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 2016. Có thể nói, đây là một trong số không nhiều những công trình chuyên sâu, có tính hàn lâm, nghiên cứu về mối liên hệ giữa văn học và điện ảnh ở Việt Nam những năm gần đây.
Áp dụng lý thuyết “liên văn bản” (intertextuality), tác giả chuyên luận đã có những khám phá ở chiều sâu của nghệ thuật, kỹ thuật trong quá trình chuyển vị từ loại hình nghệ thuật này (văn học) sang một loại hình nghệ thuật khác (điện ảnh).
Lý thuyết liên văn bản xuất hiện trên thế giới quãng những năm cuối thập niên 1960. Có thể xem xét nguồn gốc trực tiếp của lý thuyết này từ nhà bác học Nga M.Ba-khơ-tin với quan điểm về tính đối thoại, đa thanh, phức điệu trong tiểu thuyết; sau đó chính J.Krít-tê-va đề xuất khái niệm liên văn bản mở ra những nghiên cứu tiếp theo với các tên tuổi khác như: J.Đê-ri-đa, P.Ri-cô, R.Bát,… Cho đến giờ, lý thuyết liên văn bản không còn xa lạ với những người nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn ở Việt Nam. Trong cách hình dung đơn giản nhất, các nhà nghiên cứu liên văn bản đều tán đồng rằng, văn bản là những liên văn bản. Bất kỳ văn bản nào được viết ra cũng là những liên văn bản bởi sự liên hệ đến những văn bản đã có. Sự đan dệt của quá khứ lên những tạo tác đến sau luôn là một điều không thể tránh khỏi. Liên văn bản nói lên mối liên hệ nội tại của các văn bản (hiểu rộng hơn là văn hóa) trước sự dịch chuyển ngẫu nhiên hay hữu ý của lịch sử. Vận dụng lý thuyết này, tác giả chuyên luận đã hình dung được tính khả dụng của nó trong việc kiến giải hiện tượng chuyển thể từ văn học sang điện ảnh-như một mô hình sáng tạo, tái tạo phổ biến của nghệ thuật.
Nghiên cứu chuyển thể văn học-điện ảnh ở Việt Nam, theo quan sát của tác giả luận án, chưa có được sự quan tâm thỏa đáng, xứng tầm. Câu chuyện từ một loại hình nghệ thuật này đến một loại hình nghệ thuật khác vẫn được xem xét khá giản đơn, đôi khi máy móc, thậm chí xem nhẹ sự chuyển vị này. Chính vì thế, đặt mối quan tâm liên tục vào mối liên hệ của văn học và điện ảnh, Lê Thị Dương đã đem đến cái nhìn sâu hơn vào hiện tượng này. Chuyên luận có bố cục 4 phần kèm theo 3 phụ lục, thể hiện khá mạch lạc tư duy của tác giả.
Phần 1. Nghiên cứu về chuyển thể – những góc nhìn đa dạng. Phần này thể hiện cái nhìn bao quát của tác giả về lịch sử nghiên cứu vấn đề chuyển thể văn học-điện ảnh trên thế giới. Quan niệm chuyển thể là một hình thức dựng phim hầu như đã tìm được sự thống nhất. Điều này mở ra những vấn đề rộng lớn hơn bản thân văn học và điện ảnh. Đó là vấn đề mối liên hệ giữa các loại hình nghệ thuật. Chuyên luận đã trình bày một cách khái quát những nghiên cứu ở Nga, Trung Quốc, khu vực Âu-Mỹ, Việt Nam về vấn đề chuyển thể. Từ đó đi đến kết luận, chuyển thể là hiện tượng tất yếu và phổ biến trong mọi nền điện ảnh. Xoáy sâu vào hướng nghiên cứu liên văn bản, phần này của chuyên luận cũng chỉ ra những thành tựu nghiên cứu liên văn bản văn học-điện ảnh ở Việt Nam. Trong bối cảnh những quan tâm còn rời rạc, vấn đề này được lần nữa đặt ra cùng tham vọng kiến giải một cách thỏa đáng của tác giả.
Phần 2. Tiếp cận vấn đề chuyển thể từ lý thuyết liên văn bản. Phần này, các vấn đề quan trọng được đề cập như: Khởi nguồn và phát triển (của liên văn bản); Liên văn bản-cách đọc mới; Quan niệm về chuyển thể; Cơ sở của chuyển thể; Chuyển thể như một phương thức liên văn bản; Chuyển thể và người đọc. Những trình bày về đường đi của lý thuyết liên văn bản đã đem đến cái nhìn bao quát quá trình từ cấu trúc đến giải cấu trúc những hệ thống tự trị khởi phát từ F.Xốt-xuy đến M.Ba-khơ-tin, J.Krít-tê-va, R.Bát. Dường như, trên mọi cấp độ của những hiện hữu văn bản (diễn ngôn), người ta đều có thể nhận ra những “kiếp trước” của nó. Đó là cơ sở cho những phân tách, luận giải về tính không biệt lập của các hiện tượng trong đời sống, mà văn học-điện ảnh chỉ là một sự hiện ra của mối liên hệ ấy. Tuy nhiên, vấn đề luôn đặt ra thử thách cho những kiến tạo đến sau là cái mới phải được xác lập trên cơ sở của những điều tưởng như đã cũ.
Phần 3. Chuyển thể “trung thành”: Cuộc tái sinh từ văn học. Phần này tập trung vào một hình thức chuyển thể căn bản: Chuyển thể trung thành. Có thể hiểu hình thức chuyển thể này bám sát nguyên tác, ít thay đổi về cấu trúc, cốt truyện, nhân vật, tình tiết,… Đi sâu vào hình thức chuyển thể này, chuyên luận tiến hành khảo sát trên các phương diện: Không gian; Cốt truyện/tình tiết; Nhân vật. Những dẫn liệu từ tác phẩm văn học, tác phẩm điện ảnh như: “Bến không chồng”, “Cánh đồng bất tận” đã đem đến hình dung khá sáng rõ về sự chuyển vị những không gian, cốt truyện/tình tiết và nhân vật văn học vào trong điện ảnh. Tỷ lệ văn bản nguồn được sử dụng trong văn bản phái sinh là cơ sở đánh giá sự trung thành. Tuy nhiên, như một tư tưởng duy trì xuyên suốt, “không thể có sự tương đương hoàn toàn” là điều có thể nhận ra ở hầu hết những chuyển thể (dù được gọi là trung thành).
Phần 4. Chuyển thể tự do: Cuộc kiến tạo từ văn học. Hình thức chuyển thể này dường như đang trở nên phổ biến hơn trong các hoạt động điện ảnh. Không phụ thuộc vào các hình thức cũ, trao cho nhà làm phim những quyền năng lớn hơn, chuyển thể tự do mang lại cơ hội cho trí tưởng tượng, những khả năng sáng tạo trên những gợi dẫn từ một hoặc nhiều tác phẩm nguồn. Như “những người đẹp không chung thủy”, chuyển thể tự do “bất chấp các phán xử về tính trung thành/chung thủy để chiếm lĩnh các sân khấu lớn của thời đại” (trang 183). Các hình thức liên văn bản thể hiện tính tự do trong chuyển thể được khảo sát đó là: Trích dẫn, cắt dán/từ nhiều văn bản/từ văn bản văn học và phi văn học (báo chí, lịch sử,…)/phóng tác. Chuyển thể tự do, như thế, hứa hẹn những phiêu lưu của con người trong một thế giới khác. Và điều đó, dường như là phẩm tính của thời hậu hiện đại, nơi mà chủ thể người đọc/xem, cái khác, sự sáng tạo được tôn trọng.
Ngoài 4 phần cô đọng, súc tích, chuyên luận “Chuyển thể văn học-điện ảnh (nghiên cứu liên văn bản)” còn có 3 phụ lục: Một số phim điện ảnh Việt Nam chuyển thể (từ 1986 đến nay); Mối quan hệ liên văn bản giữa trần thuật học văn học và trần thuật học điện ảnh-lấy điểm nhìn và phức điệu làm ví dụ; vận dụng lý thuyết liên văn bản trong phê bình điện ảnh. Phụ lục 1 đem đến cái nhìn cụ thể hơn về tình hình chuyển thể văn học-điện ảnh Việt Nam từ đổi mới đến nay. Hai phụ lục sau là những công trình nghiên cứu chuyển thể văn học-điện ảnh ở Trung Quốc được dịch sang tiếng Việt, vừa là những minh chứng về sự hiện diện của liên văn bản trong nghiên cứu chuyển thể văn học-điện ảnh, vừa là những tham chiếu cho lập luận của tác giả.
Thế giới là những ký hiệu. Chuyển thể, về bản chất là sự dịch chuyển từ hệ thống ký hiệu này sang hệ thống ký hiệu khác. Những nghiên cứu chuyển thể văn học-điện ảnh đặt hai hệ thống ký hiệu ấy trong mối liên hệ “trung thành” hoặc “tự do” để trình hiện những bản chất vốn có của một thế giới không tách rời, biệt lập hay đông cứng. Như thế, cái gợi lên từ một chuyên luận, ngoài những gì có thể thu nhận về tri thức, thái độ đối với đời sống xem ra lại là điều hữu ích căn bản đối với tất cả chúng ta.
Tiến sĩ NGUYỄN THANH TÂM
http://www.qdnd.vn/van-hoa-giao-duc/van-hoc-nghe-thuat/gop-phan-nghien-cuu-moi-quan-he-giua-van-hoc-va-dien-anh-502152
Từ những tác phẩm đầu tiên, vị đạo diễn họ Trương đã luôn đề cao nghị lực, sức sống tiềm tàng của con người khi đối diện với nghịch cảnh.
Trương Nghệ Mưu là một trong những đạo diễn thành công nhất của điện ảnh Hoa ngữ. Sự nghiệp của ông trải dài suốt bốn thập kỷ với 21 bộ phim đủ thể loại từ chính kịch (Cao lương đỏ, Cúc đậu, Đèn lồng đỏ treo cao) đến tân hiện thực (Không thiếu một em), phim lấy đề tài xã hội đen (Hội Tam Hoàng Thượng Hải), phim hài (Thời gian hạnh phúc, Vụ án ba phát súng) và phim sử thi võ thuật (Anh hùng, Thập diện mai phục, Hoàng kim giáp).
Trương Nghệ Mưu đã nhiều lần “đem chuông đi đánh xứ người” và giành được hàng loạt giải thưởng điện ảnh danh giá: hai đề cử Oscar cho “Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất”, giải Sư Tử Vàng và Sư Tử Bạc tại LHP Venice, Giải Grand Prix tại LHP Cannes, giải Gấu Vàng tại LHP Berlin… Những bộ phim của ông cũng là bệ phóng giúp Củng Lợi và Chương Tử Di trở thành những ngôi sao điện ảnh đẳng cấp thế giới.
![]() |
|
Đạo diễn Trương Nghệ Mưu. |
Chủ đề chính trong những bộ phim của đạo diễn họ Trương là sức sống của người dân Trung Hoa. Từ bộ phim đầu tay Cao lương đỏ(1987) đến bộ phim gần đây nhất là Quy lai (2014), Trương Nghệ Mưu đều thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến số phận con người khi phải đối diện với nghịch cảnh. Họ bị đày đọa, lăng nhục, thử thách, chịu đựng mất mát, song vẫn không bao giờ gục ngã hay đầu hàng. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, những nhân vật của Trương Nghệ Mưu cũng luôn tìm cách phản kháng, vươn lên, đòi hỏi quyền sống, quyền được làm người.
Những bộ phim đầu tiên của ông tập trung vào đả phá chế độ phong kiến tàn nhẫn hà khắc. Nhân vật chính trong những bộ phim ấy thường là những người phụ nữ bị mua về làm vợ bởi những gã nhà giàu keo kiệt, độc ác. Họ không được trân trọng, đối xử như một con người mà bị hành hạ, đánh đập, bị biến thành một thứ nô lệ tình dục, một kiểu máy đẻ. Bị đè nén trăm bề, nhưng những người phụ nữ trong phim của Trương Nghệ Mưu vẫn luôn vùng lên, phản kháng mãnh liệt. Đặc biệt, họ đều là những người có khao khát ái ân rất mạnh. Những phim thời kỳ đầu của đạo diễn họ Trương đều gắn liền với Củng Lợi – nàng thơ và người tình lâu năm của ông.
Cao lương đỏ (1987) xoay quanh nhân vật chính là Cửu Nhi, cô gái đương tuổi thanh xuân thì bị ép gả cho một gã chủ xưởng rượu mắc bệnh phong. Ngày lên xe hoa, cô gái xinh đẹp tràn đầy khát vọng yêu đương đã phải lòng người phu kiệu khỏe mạnh, vạm vỡ. Trong lần cô gái về thăm nhà, người phu kiệu đã cướp cô chạy vào rừng cao lương đỏ. Cả hai đã có ba ngày ân ái mặn nồng trên “chiếc giường cưới” làm bằng thân cây cao lương, giữa bối cảnh thiên nhiên rộng lớn.
Cũng chịu chung số phận bị gả bán, nhưng nhân vật Cúc Đậu trong bộ phim cùng tên lại có phần bi thảm, khốn khổ hơn. Mang tiếng là vợ của một chủ xưởng nhuộm, nhưng ban ngày Cúc Đậu phải làm việc cực nhọc như một con ở. Đêm đến, cô lại bị gã chồng vũ phu đánh đập, hành hạ vì không thể sinh cho hắn ta một cậu con trai nối dõi tông đường. Đau khổ, tuyệt vọng, Cúc Đậu dan díu với người cháu ruột của chồng tên là Dương Thiên Thanh. Cô biết Thanh vẫn thường ngắm trộm cô tắm qua lỗ thủng của chuồng ngựa nhưng vẫn để yên, thậm chí còn nhiều lần “gợi ý”, “bật đèn xanh” cho chàng ta vượt rào. Hai người ái ân vụng trộm bên bể nhuộm vải, ở ngoài đồng hoang, lò gạch, giếng nước cạn – bất cứ nơi nào tránh được con mắt dòm ngó, soi mói của thiên hạ.
Tương tự, Đèn lồng đỏ treo cao (1991) cũng kể về một cô gái phải lấy lẽ cho một lão gia giàu có. Lão gia này trước đó đã có ba bà vợ, mỗi người sống trong một tòa nhà biệt lập. Họ tìm mọi thủ đoạn để hãm hại nhau và tranh giành sự ân sủng từ người chồng. Bộ phim đem lại cảm giác căng thẳng và nghẹt thở trong màu đỏ nhức nhối của những chiếc đèn lồng cùng tiếng búa gõ chân đầy ma mị. Đây cũng là bộ phim tố cáo chế độ phong kiến cùng những hủ tục của nó một cách mạnh mẽ và ấn tượng nhất.
Cách mạng Văn hóa cũng là một đề tài trở đi trở lại trong phim của Trương Nghệ Mưu. Ông từng chia sẻ với báo giới “Nhiều năm qua, tôi muốn làm phim về Cách mạng Văn hóa, để được kể về những nỗi khổ đau, về số phận và những quan hệ của con người trong một thế giới đầy hận thù, nơi con người không có khả năng tự chủ. Tôi không chỉ muốn làm một mà là nhiều phim về thời kỳ này, những bộ phim mang tính tự truyện hoặc là câu chuyện của người khác”.
Trương Nghệ Mưu đã có ít nhất ba phim đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến Cách mạng Văn hóa là Phải sống (1994), Chuyện tình cây táo gai(2010) và gần đây nhất là Quy lai (2014). Ông đã rất “tỉnh” và khôn ngoan khi không đi sâu vào việc phân tích nguyên nhân hay hậu quả từ những quyết định sai lầm của các nhà cầm quyền.
Khi kể lại lịch sử, ông cố gắng tránhphán xét, đổ lỗi cho bất cứ ai. Thay vào đó, vị đạo diễn họ Trương tập trung tôn vinh tình yêu, nghị lực sống, lòng vị tha của những con người Trung Hoa bình thường. Nhân vật chính trong những bộ phim ấy thường là một cặp vợ chồng hoặc một đôi tình nhân trẻ. Bất chấp mọi oan ức phải chịu, mọi nỗi đau mất người thân hay mất danh dự phải trải qua, họ vẫn luôn tìm được sức mạnh để cùng nhau đi qua thế kỷ 20 đầy bão tố.
![]() |
|
Những bộ phim tiêu biểu trong sự nghiệp đến nay của đạo diễn Trương Nghệ Mưu. |
Ông cũng dành nhiều sự quan tâm đến những số phận bé mọn, sống ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, ít được mọi người biết tới. Thu Cúc đi kiện (1992) kể về một người phụ nữ nông dân, bụng chửa vượt mặt, vẫn lặn lội khắp nơi để đòi lại công bằng cho chồng mình. Không thiếu một em(1999) kể về một cô giáo vùng cao lên thành phố, quyết tâm tìm lại đứa học trò nghèo. Đường về nhà (1999) là câu chuyện tình yêu giữa một thôn nữ và một thầy giáo làng. Đặc điểm chung của những nhân vật này đều là những người phụ nữ ít học, ngây thơ, thô mộc. Sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo khổ, họ vẫn luôn rực rỡ, mạnh mẽ và hồn nhiên như cây cỏ.
Đề cập đến những vấn đề lớn lao như số phận con người, vận mệnh của một dân tộc, song Trương Nghệ Mưu rất ít dùng đại cảnh hoành tráng, hoặc nhiều tuyến nhân vật. Ông ưa thu câu chuyện lại nhỏ gọn trong cuộc đời của một con người hoặc một gia đình. Nhân vật chính trong phim của Trương Nghệ Mưu chưa bao giờ là một đám đông hay một thứ lý tưởng nào đó mà đều là những con người với tên gọi, hình hài cụ thể và những câu chuyện riêng tư xúc động lòng người.
Đặc biệt, ngay từ những bộ phim đầu tiên, Trương Nghệ Mưu đã rất ý thức về việc “xuất khẩu” văn hóa Trung Hoa ra thế giới. Nếu Lý An là một đạo diễn quốc tế và khán giả xem Brokeback Mountain hay Life of Pi của ông sẽ rất khó xác định đây là phim của nước nào thì Trương Nghệ Mưu lại khác hẳn. Phim của ông mang tính địa phương rất rõ, tính dân tộc rất đậm. Một nét đặc sắc trong phim ông là những phong tục của người Hoa luôn được đạo diễn họ Trương giới thiệu hoặc “cài cắm” một cách khéo léo.
Trong Cao lương đỏ, đó là tục nấu rượu thủ công mà đáng nhớ nhất là màn tế rượu đầy hào sảng. Với Cúc Đậu, khán giả được làm quen với nghề nhuộm truyền thống. Cảnh những phiến vải lớn được treo trên cao rủ xuống hay cảnh bể nhuộm đỏ rực đều để lại những ấn tượng thị giác rất mạnh. Gầy đây, Trương Nghệ Mưu có tham vọng mở rộng thị trường phim quốc tế nên bắt đầu sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ chính và những diễn viên hạng A của Hollywood.
Kim lăng thập tam thoa và dự án Vạn lý trường thành là những ví dụ tiêu biểu cho xu hướng này. Tuy vậy, trong nhiều bài phỏng vấn, ông vẫn khẳng định: “Tôi chỉ nhận những dự án có câu chuyện liên quan đến Trung Hoa và có các yếu tố Trung Hoa trong đó. Nếu không, thì tôi cũng sẽ chẳng làm được nhiều nhặn gì”.
Giới phê bình cũng dành nhiều lời khen ngợi cho việc sử dụng màu sắc trong phim của Trương Nghệ Mưu. Những phim thời kỳ đầu của ông rất hay sử dụng màu đỏ – tông màu mà theo đạo diễn Lý An thì là “khó xử lý nhất trong sản xuất phim”. Đó là màu đỏ từ mặt trời, màu đỏ của rượu, của máu (Cao lương đỏ), màu đỏ của bể nhuộm, của lửa (Cúc Đậu), màu đỏ từ lồng đèn treo cao, từ váy cưới truyền thống của các cô dâu (Lồng đèn đỏ treo cao).
Đến Đường về nhà, Anh hùng, Thập diện mai phục, Hoàng kim giáp… thì bảng màu đã được mở rộng hơn: đỏ, lam, lục, trắng, vàng. Phim của Trương Nghệ Mưu luôn là một cuộc chơi với màu sắc, để lại những ấn tượng thị giác đậm nét trong lòng người xem.
![]() |
|
Trương Nghệ Mưu và “nàng thơ” Củng Lợi thời trẻ. |
Ông cũng tỏ ra là một đạo diễn thức thời và nắm bắt nhanh thị hiếu khán giả. Trương Nghệ Mưu hiểu rằng người trẻ không thích xem những phim quá nặng nề. Họ thích những phim có chủ đề đơn giản, thiên về giải trí nhiều hơn. Từ năm 2000 ông bắt đầu chuyển sang dòng phim võ thuật, tiêu biểu là Anh hùng (2002), Thập diện mai phục (2004), Hoàng kim giáp(2006), Kim Lăng Thập tam thoa (2011)… Hai bộ phim đầu nhận được nhiều lời khen ngợi từ các nhà phê bình, đồng thời cũng thắng lớn ở phòng vé. Tuy nhiên, hai bộ phim sau lại thiếu thuyết phục vì câu chuyện trong phim hời hợt, tham lam.
Trương Nghệ Mưu từng nhiều lần chia sẻ mong muốn được “đi bằng hai chân”: sẽ đồng thời sản xuất những phim bom tấn thương mại nhưng cũng vẫn theo đuổi dòng phim nghệ thuật kinh phí thấp. Giữa các quãng nghỉ của các phim bom tấn, ông lại quay trở về với những câu chuyện riêng tư, giản dị về số phận con người. Nhưng giới mộ điệu khó tính vẫn chưa thực sự hài lòng vì dường như gần đây Trương Nghệ Mưu đã “chiều” khán giả quá.
Phim của ông đã có đôi chút thỏa hiệp, dễ dãi. Ngay cả Chuyện tình cây táo gai và Quy lai, hai phim gần đây được đánh giá cao của Trương Nghệ Mưu cũng có vẻ gì đó sạch sẽ, đỏm dáng, khác xa vẻ thô mộc, chân chất, thuyết phục trong những tác phẩm thời kỳ đầu.
Tuy gần đây có đôi chút giảm sút phong độ, nhưng nhìn lại tất cả những gì mà vị đạo diễn hơn 60 tuổi này làm được, Trương Nghệ Mưu vẫn xứng đáng được coi là một huyền thoại của điện ảnh Trung Hoa. Vẫn luôn khát khao đổi mới và tràn đầy tham vọng, đạo diễn họ Trương là một tấm gương sống về lao động hết mình trong nghệ thuật.
Anh Trâm
Nguồn:
http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/sau-man-anh/truong-nghe-muu-va-bon-thap-ky-lam-phim-3117627.html
10 bộ phim xuất sắc của điện ảnh Hoa ngữ
Posted on September 11, 2015“Anh hùng”, “Vô gian đạo, “Ngọa hổ tàng long” đều nằm trong danh sách danh giá này.
10. Anh hùng (Hero – 2002)
Anh hùng được cho là bộ phim mở đường cho điện ảnh Trung Quốc bước vào kỷ nguyên mới. Được thực hiện theo quy trình sản xuất phim của Hollywood và đầu tư lên tới 30 triệu USD, đây là bộ phim đắt giá nhất của Trung Quốc vào thời điểm đó.
Bộ phim đã làm sống lại nền điện ảnh của Trung Quốc, kéo khán giả đến rạp chiếu và thu về hơn 30 triệu USD tiền vé nội địa. Đây cũng là bộ phim đầu tiên có được doanh thu “khủng” trong nhiều thập kỷ qua.
Không chỉ thành công ở Trung Quốc, Anh hùng còn được thế giới đón nhận. Ngay trong tuần đầu tiên công chiếu ở Mỹ, Anh hùng ngay lập tức có được vị trí số 1 về doanh thu. Tính ở thị trường nước ngoài, bộ phim thu về hơn 120 triệu USD.
Anh hùng cũng được coi là bộ phim tiên phong cho những bộ phim toàn sao và đầu tư khủng ở Trung Quốc sau này. Tuy nhiên, bộ phim này không được đánh giá cao về mặt nội dung.
9. Đại thoại tây du (A Chinese Odyssey Duology – 1994)
Đây là bộ phim của đạo diễn Lưu Trấn Vĩ với sự tham gia “vua hài” Châu Tinh Trì, Mạc Văn Úy và Ngô Mạnh Đạt.
Lưu Trấn Vĩ và Châu Tinh Trì đã sử dụng 4 thày trò Đường Tăng trong cuốn tiểu thuyết kinh điển Tây du ký để tạo nên câu chuyện cho Đại thoại tây du. Phim có sự kết hợp của các yếu tố như tình cảm, kungfu và du hành thời gian.
Ra mắt năm 1995, Đại thoại tây du thất bại thảm hại. Không chỉ bị chê tơi bời, doanh thu của phim cũng quá thấp so với kỳ vọng. Tuy nhiên, 3 năm sau đó, Đại thoại tây du bất ngờ trở thành chủ đề “hot” của giới trẻ. Một số người thậm chí còn gọi đây là “tác phẩm kinh điển của thời hậu hiện đại“. Vào thời điểm đó, Đại thoại tây du được nhắc đến nhiều hơn bất kỳ bộ phim nào và thậm chí rất nhiều câu thoại của phim trở thành tuyên ngôn của giới trẻ Trung Quốc.
Xem lại Đại thoại tây du vào lúc này, người ta có thể chê kỹ xảo thô sơ chứ khó thể phủ nhận tính hài hước và những khoảnh khắc vô cùng xúc động của phim.
8. Vô gian đạo (Infernal Affairs – 2002)
Bộ phim sản xuất năm 2002 của cặp đôi đạo diễn Mạch Triệu Huy và Lưu Vĩ Cường được đánh giá là bước đột phá cho dòng phim cảnh sát của Hong Kong. Cũng như Anh hùng, Vô gian đạo, tác phẩm điện ảnh này khơi lại tình yêu của khán giả và kéo họ đến với các rạp chiếu đang phủ bụi.
Vô gian đạo được ca ngợi ở nhiều điểm, đầu tiên là một cốt truyện hay, gay cấn với những nhân vật hấp dẫn, bất ngờ ở cả hai tuyến: tội phạm và cảnh sát. Hai diễn viên chính Lương Triều Vỹ và Lưu Đức Hoa đã hoàn thành xuất sắc vai diễn. Đặc biệt là Lưu Đức Hoa, chưa bao giờ người hâm mộ được thấy thiên vương Hong Kong tỏa sáng đến như thế. Nhạc phim cũng được liệt vào danh sách kinh điển.
Vô gian đạo còn ảnh hưởng tới cả Hollywood. Năm 2007, đạo diễn Martin Scorsese đã làm lại bộ phim này với cái tên The Departed. Phim đã đem về 2 giải Oscar quan trọng là Phim xuất sắc nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất.
7. Ngọa hổ tàng long (Crouching tiger, Hidden Dragon – 2000)
Bộ phim sản xuất năm 2000 của đạo diễn Lý An đã nhận được những phản ứng trái chiều ở Mỹ và Trung Quốc. Nếu ở thị trường Bắc Mỹ, Ngọa hổ tàng long thu về hơn 130 triệu USD tiền vé từ và đưa cái tên Chương Tử Di gia nhập hàng sao quốc tế thì ở Trung Quốc, bộ phim lại nhận được sự thờ ơ của khán giả.
Tuy nhiên, việc khán giả ở những nền văn hóa khác nhau phản ứng không đồng nhất trước một bộ phim không phải là điều khó hiểu. Với người Trung Quốc, việc thấy những diễn viên chính trong một bộ phim hành động có quá nhiều cảnh tình cảm vô nghĩa và bay qua bay lại như siêu nhân suốt thời lượng của phim không có gì hấp dẫn. Trong khi đó, với khán giả phương Tây, những rắc rối tình cảm lại là phần bổ sung hoàn hảo cho những cảnh chiến đấu trong phim.
Trên thực tế, các nhân vật trong phim dù xuất chúng nhưng vẫn rất đời thường, đủ để ai xem cũng có thể nhìn thấy bản thân mình trong đó. Bên cạnh đó, từ âm nhạc, phục trang cho đến quay phim củaNgọa hổ tàng long đều được đánh giá là xuất sắc. Những yếu tố này giúp bộ phim vượt trội hơn so với các tác phẩm đi trước.
6. A phi chính truyện (Days of being wild – 1990)
Bộ phim do chính Vương Gia Vệ viết kịch bản và đạo diễn này kể về câu chuyện tình của 6 người trẻ ở Hong Kong. Bên cạnh cái tên Vương Gia Vệ, phim còn có một dàn diễn viên “hoành tráng” gồm Trương Quốc Vinh, Trương Mạn Ngọc, Lưu Gia Linh, Trương Học Hữu và Lưu Đức Hoa.
A Phi chính truyện được coi là bộ phim mở đầu cho dòng phim nghệ thuật của Vương Gia Vệ. Đây cũng là tác phẩm đầu tiên mà đạo diễn họ Vương hợp tác cùng nhà quay phim Christopher Doyle. Sau này, Vương Gia Vệ còn có thêm 7 bộ phim khác với nhà quay phim người Úc.
Sự xuất sắc của A Phi chính truyện được ghi nhận bằng hàng loạt giải thưởng lớn như Diễn viên chính xuất sắc nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất và Quay phim xuất sắc nhất tại giải Kim Tượng năm 1991. Phim cũng đứng thứ 3 trong danh sách 100 bộ phim Trung Quốc xuất sắc nhất từ trước tới nay do các nhà phê bình phim Hong Kong bình chọn năm 2005.
5. Bi tình thành thị (A city of sadness – 1989)
Được “nhào nặn” dưới bàn tay của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền, Bi tình thành thị là câu chuyện về một gia đình dưới thời Quốc dân đảng tiến hành Khủng bố trắng. Đây là bộ phim đầu tiên đề cập đến sự kiện ngày 28/2/1947 – một dấu tích khó phai trong lịch sử Đài Loan khi có hàng ngàn người bị giết hại.
Đạo diễn Hầu đã rất giỏi khi vẽ ra bức tranh toàn cảnh của xã hội Đài Loan vào thời điểm đó thông qua bi kịch của một gia đình. Bi tình thành thị phản ánh sự xung đột giữa người bản xứ với người nhập cư, giữa những người dân địa phương với Quốc dân đảng.
Bi tình thành thị là bộ phim đầu tiên trong serie phim về lịch sử của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền, sau này làThe Puppet Master (1993) và Good men, good women (1995). Phim đã giành giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice lần thứ 46 năm 1989 và là bộ phim tiếng Trung đầu tiên có được vinh dự này.
4. Nhất Nhất (Yi Yi: A One and a Two – 2000)
Bộ phim dài gần 3 tiếng đồng hồ của đạo diễn Dương Đức Xương là câu chuyện kể một gia đình trung lưu ở Đài Loan với 3 thế hệ sống bên nhau. Nhất Nhất có tiết tấu chậm và dường như thiếu cao trào nhưng lại là bức tranh chân thực về cuộc sống hàng ngày của những con người nơi đây.
Với Nhất Nhất, đạo diễn Dương đã giành được giải Đạo diễn xuất sắc nhất tại liên hoan phim Cannes năm 2000. USA Today, New York Times, Newsweek và Hiệp hội Phê bình phim đồng loạt trao cho Nhất Nhất danh hiệu một trong những bộ phim hay nhất 2001. Năm 2002, tạp chí Sight and Sound của Hiệp hội điện ảnh Anh quốc còn bình chọn Nhất Nhất là một trong những bộ phim đáng xem nhất trong vòng 25 năm qua.
3. Bá vương biệt cơ (Farewell My Concubine – 1993)
Bá vương biệt cơ của đạo diễn Trần Khải Ca vẫn được nhắc đến như một đỉnh cao của nền điện ảnh Trung Quốc. Đây là bộ phim duy nhất của Trung Quốc cho đến thời điểm này giành được Cành cọ vàng danh giá của Liên hoan phim Cannes.
Được chuyển thể từ tiểu thuyết của Lý Bích Hoa, Bá vương biệt cơ có một dàn diễn viên đáng mơ ước với những cái tên như Trương Quốc Vinh, Củng Lợi, Cát Ưu. Phim là câu chuyện về cuộc đời sóng gió của 2 diễn viên Kinh Kịch trước những rối loạn của chính trường và xã hội Trung Quốc trong giai đoạn 1920 – 1970. Bá vương biệt cơ có nói tới cuộc cách mạng văn hóa (1966 – 1976) ở Trung Quốc. Đây cũng là sự kiện dẫn đến cái kết bi thảm của phim. Bên cạnh đó, Bá vương biệt cơ còn nhắc tới chủ đề đồng tính – một chủ đề vẫn còn hiếm hoi với điện ảnh Hoa ngữ cho đến thời điểm này.
2. Tiểu thành chi xuân (Spring in a small town – 1948)
Bộ phim về một chuyện tình tay ba này được xây dựng dựa trên vở kịch ngắn của Lý Thiên Tể, do Phí Mục đạo diễn và công ty Văn Hoa Thượng Hải sản xuất.
Không có một cốt truyện phức tạp nhưng Tiểu thành chi xuân lại hấp dẫn người xem ở cảm xúc của từng nhân vật. Đây cũng là bộ phim được coi là tiên phong trong việc vận dụng ngôn ngữ thơ vào điện ảnh.
Tiểu thành chi xuân được đánh giá cao ở cả trong nước lẫn nước ngoài. Các nhà làm phim Trung Quốc đều nhất trí liệt bộ phim vào dạng kinh điển. Đạo diễn Trương Nghệ Mưu cũng khẳng định đây là bộ phim Trung Quốc mà ông yêu thích nhất. Năm 2005, Hiệp hội giải thưởng điện ảnh Hong Kong tôn vinhTiểu thành chi xuân là bộ phim Trung Quốc xuất sắc nhất. Năm 2012, tờ Winnipeg Free Press của Canada cũng xếp bộ phim ở vị trí số 1 trong danh sách 10 phim Trung Quốc hay nhất.
1. Sông xuân nước chảy hướng về đông (A spring river flows east – 1947)
Bộ phim dài hơn 3 tiếng và được chia làm 2 phần của đạo diễn Sái Sở Sinh và Trịnh Quân Lý là một trong những cột mốc đáng nhớ của điện ảnh Trung Quốc.
Phim là câu chuyện xúc động về một gia đình Thượng Hải trong thời chiến tranh Trung – Nhật (1930s – 1940s) và cuộc biến đổi của nhân vật chính từ một người chàng thanh niên trẻ trung đầy hoài bão, có triển vọng thành một viên chức xảo trá và lóa mắt vì tiền.
Ngay khi ra đời năm 1947, bộ phim đã thu hút sự chú ý đặc biệt của công chúng Thượng Hải. Phim được chiếu rạp hơn 3 tháng và có hơn 700.000 khán giả. Con số này tương đương với 15% dân số Thượng Hải lúc bấy giờ. Sông xuân nước chảy hướng về đông vẫn được coi là bộ phim thành công nhất của điện ảnh Hoa ngữ trước khi nhà nước Trung Quốc được thành lập năm 1949.
Theo Infonet
http://thvl.vn/?p=222129#

















