Browsing Tag

Chiến tranh thế giới

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 7: Thi ca phản truyền thống Hoa Kỳ từ 1945

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai, một sự thay đổi lớn thoát khỏi quan niệm cho rằng các hình thức, nội dung truyền thống và lịch sử có thể mang lại ý nghĩa và tính liên tục cho cuộc sống con người đã hình thành trong trí tưởng tượng văn học đương đại khắp nơi trên thế giới, bao gồm cả Hoa Kỳ. Những biến cố từ Chiến tranh Thế giới Thứ hai đã sản sinh ra nhận thức về lịch sử như là một chuỗi không liên tục: mỗi hành động, cảm xúc, và khoảnh khắc đều được xem là độc nhất. Phong cách và hình thức giờ đây hình như chỉ là nhất thời, tạm bợ, tự phản chiếu quá trình sáng tạo và sự tự nhận thức của tác giả. Những loại hình diễn đạt quen thuộc trở nên đáng nghi ngờ, tính sáng tạo đang trở thành một truyền thống mới.

Không khó khăn gì trong việc tìm ra những nguyên nhân lịch sử cho những tính cách nhạy cảm bị phân hóa này ở Mỹ. Đó là Chiến tranh Thế giới Thứ hai, sự trỗi dậy của một đám đông vô danh và chủ nghĩa tiêu thụ trong một xã hội đô thị tập trung, những phong trào phản kháng vào thập niên 60, cuộc chiến tranh chống Việt Nam kéo dài cả thập kỷ, chiến tranh lạnh, những hiểm họa môi trường – bản liệt kê những cú sốc của nền văn hóa Mỹ còn dài và đa dạng. Tuy nhiên, chính các phương tiện truyền thông và nền văn hóa đại chúng đã thay đổi về căn bản xã hội Mỹ. Đầu tiên là đài phát thanh rồi phim ảnh và giờ đây là sự hiện diện toàn năng, đồng thời ở khắp nơi của vô tuyến truyền hình đã làm thay đổi cuộc sống người dân Mỹ tận gốc rễ. Từ một nền văn hóa trí tuệ, học vấn cao, mang dấu ấn cá nhân chỉ dựa vào sách vở, đôi mắt và việc đọc, Hoa Kỳ đã trở thành một nền văn hóa dựa vào những phương tiện truyền thông hòa theo cung giọng trên radio, theo dòng nhạc của đĩa compact và băng cassette, phim và hình ảnh trên màn hình tivi.

Thơ ca Mỹ cũng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những nguồn thông tin đại chúng và kỹ thuật điện tử. Phim ảnh, băng video và băng cassette ghi âm những bài thơ và những cuộc phỏng vấn các nhà thơ đều có bán sẵn và những phương pháp in ấn sao chụp mới mẻ và rẻ tiền đã khuyến khích các nhà thơ trẻ tự ấn hành tác phẩm và các chủ bút trẻ cho ra mắt các tạp chí văn học – nay có khoảng hơn 2000 tờ. Từ khoảng cuối thập niên 50 đến nay người dân Mỹ ngày càng ý thức được rằng kỹ thuật vốn hết sức có ích vẫn bộc lộ những hiểm nguy qua một loạt hình ảnh gây ấn tượng lệch lạc. Đối với những người dân Mỹ ưa tìm kiếm những điều mới lạ, thơ ca có vẻ như gần gũi hơn trước đây: Nó mang lại cho con người cách diễn đạt đời sống chủ quan và nói lên ảnh hưởng của kỹ thuật và xã hội đại chúng lên mỗi cá nhân.

Kết quả là có rất nhiều phong cách ra đời. Một vài phong cách mang tính chất địa phương, vài phong cách kết hợp với các trường phái hay những nhà thơ nổi tiếng, ganh đua quyết liệt để thu hút sự chú ý. Thơ ca Mỹ đương đại được phân tán thành nhiều dòng, thay đổi thật phong phú, và không thể tổng kết được. Tuy nhiên, để tiện trao đổi bàn luận, nó có thể được xếp theo một hình quang phổ, tạo ra ba phần giao nhau – phần truyền thống ở một phía, phần đặc dị ở giữa, và phần thể nghiệm ở phía kia. Những nhà thơ truyền thống duy trì hay làm sống lại những truyền thống thi ca. Những nhà thơ đặc dị sử dụng cả những kỹ thuật truyền thống lẫn cách tân trong việc tạo ra những giọng nói riêng. Những nhà thơ thể nghiệm cố gắng đạt được những phong cách văn hóa mới.

TRÀO LƯU TRUYỀN THỐNG

Những nhà thơ truyền thống bao gồm các nhà thơ được công nhận bậc thầy trong cả thể loại và phong cách diễn đạt truyền thống. Họ làm thơ với một kỹ năng dễ nhận biết, thường sử dụng vần điệu hay một kiểu hiệp vần nhất định. Họ thường xuất thân từ bờ biển phía Đông hay phía Nam nước Mỹ và thường giảng dạy ở các trường đại học. Đó là Richard Eberhart và Richard Wilbur; những nhà thơ lão thành trong nhóm Fugitive như John Crowe Ranson, Allen Tate và Robert Penn Warren; những nhà thơ trẻ đầy tài năng như John Hollander, Richard Howard và Robert Lowell ở thời kỳ đầu là những gương mặt nổi bật. Họ đã được công nhận và tác phẩm của họ thường được chọn vào các tuyển tập thơ.

Chương trước ta đã nói đến sự trau chuốt, thái độ trân trọng thiên nhiên, và những giá trị trường tồn sâu sắc của những nhà thơ trong nhóm Fugitive. Những tính chất này đã làm tăng giá trị cho thơ ca hướng về truyền thống. Thơ của phái truyền thống thường chính xác, hiện thực và dí dỏm thông minh, chẳng hạn như Richard Wilbur (1921 -…), họ chịu ảnh hưởng bởi những tôn chỉ của các nhà thơ siêu hình Anh thế kỷ 15 và thế kỷ 16 đã được sự ủng hộ của T. S. Eliot.

Bài thơ nổi tiếng nhất của Wilbur, “A World Without Objects Is a Sensible Emptiness” (Một thế giới không vật thể là một khoảng trống nhạy cảm – 1950), tựa đề bài thơ lấy từ ý tưởng của Thomas Traherne, một nhà thơ siêu hình. Đoạn mở đầu sinh động của nó minh họa cho sự trong sáng mà một vài nhà thơ đã tìm được trong nhịp điệu và tính đều đặn hợp quy.

Những con lạc đà cao lớn của linh hồn
Ồn ào vượt qua lùm cây cuối cùng tiến vào sa mạc
Cùng với tiếng kêu của con châu chấu bay đến bọng mật
của mảnh đất khô cằn
Mặt trời. Chúng chậm chạp, tự hào.

Những nhà thơ truyền thống, không giống với nhiều nhà thơ theo trào lưu thể nghiệm, những người không tin cậy vào sự diễn đạt “quá nên thơ”, đã hoan nghênh những câu có âm hưởng đầy chất thơ. Robert Penn Warren (1905 – 1989) kết thúc một bài thơ bằng những từ “để yêu say đắm cái thế giới mà cuối cùng chúng ta có thể tin tưởng vào Thượng Đế”. Allen Tate (1899 – 1979) kết thúc một bài thơ như sau: “Người lính canh nghĩa địa tính đến cả chúng ta”. Những nhà thơ truyền thống đôi lúc cũng dùng lối diễn đạt có phần khoa trương đầy những từ cổ và kỳ lạ, dùng nhiều hình dung từ (ví dụ “con cú thảm sầu”) và đảo ngữ, trong đó trật tự của ngôn ngữ nói tự nhiên bị thay đổi một cách gượng ép. Đôi lúc cũng đạt đến sự tao nhã, như trong câu thơ trên của Warren, đôi lúc thơ có vẻ cứng ngắc với những giới hạn của cảm xúc giả tạo như trong câu của Tate: “Chạm một cách viển vông vào đường viền áo của người giáo sĩ”.

Một đôi khi, như trong thơ của Hollander, Howard và James Merrill (1926 -…) sự diễn đạt mang tính cách tự nhận thức kết hợp với sự hóm hỉnh, lối chơi chữ và những điển tích. Merrill thực sự đổi mới trong những đề tài về đô thị của mình, những câu thơ không theo vần, những đề tài riêng tư và một giọng thơ trò chuyện nhẹ nhàng, chia sẻ cách diễn đạt hóm hỉnh với những nhà thơ theo phong cách truyền thống như trong “The Broken Heart” (Trái tim tan vỡ – 1966), viết về một cuộc hôn nhân như thể nó chỉ là một ly cốc-tai:

Vẫn là câu chuyện xưa cũ ấy
Cha Thời Gian và mẹ Đất Lành
Cuộc hôn nhân có nguy cơ tan vỡ.

Sự lưu loát minh bạch và kỹ thuật phô trương bằng lời được một số nhà thơ sử dụng, như Merrill và John Ashbery, khiến cho họ thành công nhìn theo góc độ truyền thống, mặc dù thơ của họ đã định nghĩa lại thơ ca theo những cách đổi mới triệt để. Phong cách cao nhã duyên dáng làm cho một số nhà thơ có vẻ như mang âm hưởng truyền thống hơn trong thực tế, như trường hợp Randall Jarrell (1914 – 1965) và A. R. Ammons (1926 -…). Ammoms tạo nên những đối thoại đầy kịch tính giữa con người và thiên nhiên, còn Jarrell khai thác lĩnh vực nhận thức bị vướng mắc của những người bị tước đoạt quyền lợi: phụ nữ, trẻ con, những người lính thất vọng, như trong “The Death of the Ball Turret Gunner” (Cái chết của người lính pháo binh tháp Tròn – 1945):

Từ giấc ngủ của mẹ tôi, tôi rơi xuống tiểu bang
Và tôi cúi xuống cái dạ dày của nó cho đến khi bộ lông ướt của tôi đông giá
Thả mình từ giấc mơ của cuộc đời, tôi rơi từ độ cao 6 dặm
Tôi thức dậy do tiếng súng đen ngòm và những chiến binh ác mộng
Khi tôi chết người ta sẽ dùng vòi nước xịt tôi bắn ra khỏi tháp

Mặc dù nhiều nhà thơ truyền thống sử dụng vần điệu nhưng không phải tất cả thơ có vần điệu đều có chủ đề và giọng thơ truyền thống. Nhà thơ Gwindolyn Brooks (1917 -…) viết về những khó khăn khi sống trong những khu ổ chuột ở thành phố – chứ đừng nói đến chuyện viết lách. Bài thơ “Kichenette Building” (Nhà chung cư – 1945) của bà đặt câu hỏi:

Có thể chăng một giấc mơ bay lên qua làn khói mùi hành
Màu trắng và tím của nó chiến đấu với khoai chiên
Và rác thải ngày hôm qua đang chín ở hành lang…

Nhiều nhà thơ bao gồm Brooks, Adrienne Rich, Richard Wilbur, Robert Lowell và Robert Penn Waren bắt đầu viết theo phong cách truyền thống, sử dụng vận luật, nhưng đã từ bỏ tất cả điều này vào thập niên 60 dưới áp lực của những biến cố xã hội và một khuynh hướng tiến dần đến những hình thức cởi mở.

Robert Lowell
(1917 – 1977)

Là nhà thơ hiện đại có nhiều ảnh hưởng nhất, Robert Lowell khởi đầu sự nghiệp theo khuynh hướng truyền thống nhưng dần dần bị ảnh hưởng bởi trào lưu thể nghiệm. Bởi vì cuộc sống và sáng tác của ông là nhịp cầu nối thời gian giữa những bậc thầy trong trường phái hiện đại như Ezra Pound với những nhà thơ đương thời, nên sự nghiệp thi ca của ông hướng các nhà thơ theo khuynh hướng thể nghiệm sau này vào trong một khoảng trời rộng lớn hơn.

Lowell là khuôn mẫu điển hình của một nhà thơ kinh viện: người Da trắng, phái mạnh, theo đạo Tin lành từ thuở lọt lòng, học vấn cao, và có quan hệ mật thiết với giới hoạt động xã hội và chính trị. Ông là hậu duệ của một dòng họ thuộc giới được gọi là Brahmin trâm anh thế phiệt rất được trọng vọng ở Boston, đã góp cho đời nhà thơ nổi tiếng thế kỷ 19 – — James Russel Lowell – và một viện trưởng gần đây của đại học Harvard. Tuy nhiên, Robert Lowell tự khẳng định mình mà không dựa vào gia thế và những ưu thế trời cho. Ông không học Harvard mà học đại học Kenyon ở Ohio, nơi ông chối bỏ tổ tiên Thanh giáo của mình và theo Công giáo. Bị tù một năm vì phản đối Chiến tranh Thế giới Thứ hai với lương tri của một nhà thơ nhân đạo. Sau này, ông công khai phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam.

Những cuốn sách đầu tiên của Lowell: Land of Unlikeness (Vùng đất của những điều kỳ lạ – 1944) và Lord Weary’s Castle (Lâu đài của ngài Weary – 1946), đoạt giải thưởng Pulitzer, thể hiện khả năng nắm vững các hình thức và phong cách truyền thống, những cảm nhận mạnh mẽ và cái nhìn tiên tri về lịch sử dù mang đậm dấu ấn cá nhân.

Sức mạnh phê phán và sự chính xác của các tác phẩm đầu tay của ông đặc biệt mạnh mẽ trong những bài thơ như “Children of Light” (Trẻ em của ánh sáng – 1946) là lời lên án gay gắt những người Thanh giáo đã giết hại những người Da đỏ còn con cháu của họ thì đốt hết lương thực thừa thay vì chở đến cho người đói khổ. Lowell viết:

Cha ông chúng ta moi bánh mì từ gông cùm và đá tảng
Rồi rào vườn mình bằng xương người Da đỏ.

Cuốn sách kế tiếp của Lowell, The Mills of the Kavanaughs (Máy xay bột của gia đình Kavanaughs – 1951) chứa đựng những độc thoại cảm động đầy kịch tính trong đó thành viên của gia đình này bộc lộ sự nhẫn nại dịu dàng và điểm yếu của họ. Vẫn luôn luôn là như vậy, phong cách của ông hòa trộn những gì thuộc về con người với những điều lớn lao vĩ đại. Ông thường sử dụng âm vận truyền thống, nhưng phong cách phổ thông của ông ngụy trang điều đó cho đến khi nó có vẻ như một giai điệu nền. Tuy vậy, loại thơ thể nghiệm này đã tạo cho Lowell bước đột phá để có được một bút pháp riêng đầy sáng tạo.

Trong một chuyến đi đọc thơ vào giữa những năm 50, Lowell lần đầu tiên được nghe một số bài thơ thể nghiệm: Bài Howl (Tiếng hú) của Allen Ginsberg và Myths and Texts (Huyền thoại và văn bản) của Gary Snyder, lúc đó còn chưa xuất bản, được đọc và ngâm đôi lúc có đệm nhạc Jazz trong những quán café ở North Beach, một vùng ở San Francisco. Lowell cảm thấy đặt cạnh những bài thơ này, những bài thơ hoàn hảo của ông quá khô cứng, khoa trương và đóng khung trong ước lệ sáo mòn. Khi nghe lại âm hưởng của chúng bằng cách đọc to lên, ông có dịp sửa chữa để làm cho chúng có được vẻ lấp lánh đời thường. “Những bài thơ của tôi có vẻ giống như những con quái vật thời tiền sử bị kéo xuống vùng lầy và bị chết bởi một bộ áo giáp rỗng tuếch của nó”, sau này ông đã viết như vậy, “tôi đang ngâm nga những điều mà chính tôi cũng không cảm được nữa”.

Vào thời điểm này, Lowell cũng như nhiều nhà thơ khác sau ông, chấp nhận sự thách thức: học hỏi từ truyền thống cạnh tranh ở Mỹ -đó là môn phái của William Carlos Williams. Lowell viết vào năm 1962: “Dường như không một nhà thơ nào, ngoại trừ Williams, đã thật sự nhìn thấy nước Mỹ hay nghe được ngôn ngữ của nó”. Từ đó, Lowell thay đổi cách viết của mình một cách triệt để, sử dụng “những thay đổi đột ngột của giọng điệu, không khí và tốc độ” mà Lowell thán phục nhất trong thơ của Williams.

Lowell cắt bỏ những ám chỉ tối nghĩa; âm vận của ông trở nên nhất quán với nội dung của bài thơ thay vì áp đặt lên nó. Cấu trúc những khổ thơ cũng bị phá bỏ; những hình thức ứng tác mới nảy sinh. Trong Life Studies(Những khám phá về cuộc đời – 1959), ông khởi xướng một lối thơ tự bạch, một phương thức mới mẻ trong đó ông phơi bày những vấn đề riêng tư dằn vặt nhất với sự chân thật hết mình và cảm xúc mãnh liệt. Thực chất, ông không chỉ khám phá ra con người thực của mình mà còn ca tụng nó trong những khía cạnh riêng tư khó nói nhất của nó. Ông đã biến đổi chính mình thành một con người mới, cảm thấy thoải mái với bản ngã của mình, một mảnh nhỏ và một cái gì đó trong tiến trình của cuộc sống.

Sự biến đổi của Lowell là một bước ngoặt trong thơ ca sau chiến tranh, mở ra một con đường mới cho nhiều tác giả trẻ hơn. Trong For the Union Dead(Họ hy sinh tất cả cho nền cộng hòa[1] – 1964), Notebook (Sổ tay – 1967-1969) và những cuốn sách sau này, ông tiếp tục những khám phá mang tính chất tiểu sử tự thuật và những đổi mới kỹ thuật của mình, sử dụng thành tựu của phân tâm học. Thơ tự bạch của Lowell đã gây ảnh hưởng một cách đặc biệt. Ta không thể hình dung được những tác phẩm của John Berryman, Anne Sexton và Sylvia Plath (hai người sau là sinh viên của ông) – xin đơn cử một vài người – mà không có Lowell.

NHỮNG NHÀ THƠ ĐẶC DỊ

Những nhà thơ phát triển những phong cách độc đáo, sử dụng truyền thống nhưng mở rộng nó vào những địa hạt mới mẻ với phong vị hiện đại đậm nét, bên cạnh Plath và Sexton còn có John Berryman, Theodore Roethke, Richard Hugo, Philip Levine, James Dickey, Elizabeth Bishop và Adrienne Rich.

Sylvia Plath
(1932 -1963)

Sylvia Plath có một khởi đầu đáng ao ước: được học bổng theo học đại học Smith, tốt nghiệp thủ khoa, rồi được học bổng Fulbright học tại đại học Cambridge, Anh. Tại đây bà gặp người chồng tương lai có sức cuốn hút lạ lùng của mình, thi sĩ Ted Hughes. Bà có với ông hai đứa con và sống trong một căn nhà miền quê ở nước Anh. Bên dưới sự thành công cứ như trong cổ tích, nhức nhối những vấn đề tâm lý không có lối thoát được gợi lên trong cuốn tiểu thuyết được ưa thích của bà The Bell Jar (Nắp chụp hình chuông – 1963). Ngoài một vài vấn đề riêng tư của bà còn có những vấn đề khác nảy sinh từ những thái độ áp bức phụ nữ vào thập niên 50. Trong những vấn đề này có những quan niệm được hầu hết phụ nữ chia sẻ -rằng phụ nữ không nên bộc lộ sự giận dữ, hoặc có tham vọng hoặc theo đuổi sự nghiệp của bản thân, mà hãy hoàn thành thiên chức của mình trong việc chăm sóc chồng con. Những người phụ nữ thành công như Plath đã sống trong nghịch lý như vậy.

Cuộc sống đẹp như trong tiểu thuyết của Plath bị phá vỡ khi bà và Hughes chia tay nhau và bà một mình nuôi các con nhỏ dại trong một căn hộ ở London vào một mùa đông lạnh lẽo chưa từng thấy. Bệnh tật, cô đơn và tuyệt vọng, Plath làm việc không tiếc sức để sáng tác một loạt bài thơ tuyệt vời trước khi tự tử trong nhà bếp bằng khí đốt. Những bài thơ này được tập hợp trong tập Ariel (1965) hai năm sau cái chết của bà. Robert Lowell, người viết lời giới thiệu, đã ghi nhận sự tiến bộ vượt bực của thơ bà từ thời bà và Anne Sexton còn dự những lớp thơ của ông năm 1958. Thơ của Plath buổi đầu được gọt giũa công phu và mang tính truyền thống, những bài thơ giai đoạn sau của bà tỏ ra táo bạo liều lĩnh và là tiếng kêu thống thiết đầy nữ tính. Trong bài “The Applicant” (Kẻ thỉnh cầu – 1966), Plath phơi bày sự trống rỗng, vô nghĩa của vai trò người vợ hiện đại (người được giảm xuống làm một sự vật gọi là “nó”):

Một con búp bê sống, anh nhìn thấy mọi nơi
Biết may vá thêu thùa và cơm nước
Và nói, nói thật nhiều, nói mãi.

Nó làm việc, chẳng có gì sơ xuất
Nếu anh bị trầy da, nó là thuốc dán.
Anh biết nhìn thì nó là hình ảnh.
Bạn của tôi ơi, nó là nơi trú ẩn cuối cùng của anh.
Anh có lấy nó không, lấy không, lấy không?

Plath mạnh dạn sử dụng một loại ngôn ngữ có vần vè của những bài đồng dao trẻ con với một sự bộc trực bạo liệt. Bà có biệt tài dùng những hình ảnh táo bạo của văn hóa đại chúng. Về trẻ thơ, bà viết “Tình yêu làm bé đi như một cái đồng hồ vàng tròn trịa”. Trong bài “Daddy” (Cha yêu) bà tưởng tượng cha mình là quỷ Dracula trong phim: “Có một cái cọc trong trái tim đen tối của cha và những người dân làng chẳng bao giờ thích cha”.

Anne Sexton
(1928 -1974)

Cũng như Plath, Anne Sexton là người phụ nữ nồng nhiệt, say mê đã cố gắng trong vai trò một người vợ, một người mẹ và một nhà thơ vào cái buổi giao thời ngay trước phong trào phụ nữ ở Mỹ. Cũng như Plath, bà bị bệnh tâm thần và cuối cùng đã phải tự vẫn. Thơ tự bạch của Sexton mang tính chất tự truyện hơn thơ của Plath và sự thiếu trau chuốt của thơ Plath trong thời kỳ đầu. Tuy vậy, những bài thơ của Sexton khêu gợi xúc cảm một cách mạnh mẽ. Chúng lao đầu vào tận ngõ ngách những đề tài cấm kỵ như tình dục, tội lỗi, và tự tử. Những bài thơ này thường bạo dạn đưa ra những chủ đề rất phụ nữ như sinh nở, thân thể người phụ nữ, hoặc hôn nhân nhìn từ góc độ của nữ giới. Trong những bài thơ như “Her Kind” (Đàn bà – 1960), Sexton coi mình như mụ phù thủy bị trói vào cọc để thiêu sống:

Ta ngồi trên xe của ngươi, gã tài xế,
vẫy chào làng quê đi qua bằng cánh tay trần
được biết những con đường tươi sáng cuối cùng, ngươi sống sót
nơi những ngọn lửa của ngươi còn ngấu nghiến đùi ta
và xương sườn ta vỡ vụn dưới bánh xe ngươi.
Một người đàn bà như thế không có gì xấu hổ khi phải chết
Ta cũng như bà ấy.

Tựa đề những bài thơ của bà cho thấy mối quan tâm đến sự điên loạn và cái chết. Trong đó, có những bài To Bedlam and Part Way Back (Nơi náo loạn và quãng đường quay lại – 1960), Live or Die (Sống hay chết – 1966), và cuốn sách in sau khi mất The Awful Rowing Toward God (Cuộc bơi xuồng dễ sợ về với Chúa – 1975).

John Berryman
(1914 -1972)

Cuộc đời của John Berryman có vài nét tương đồng với cuộc đời của Robert Lowell. Sinh ở Oklahoma, ông được dạy dỗ ở vùng Đông Bắc trước khi đến trường và học đại học Columbia, sau đó chuyển sang học đại học Princeton. Có thiên hướng về những hình thức thơ ca và vận luật truyền thống, ông lấy cảm hứng từ lịch sử ban đầu của đất nước và sáng tác những bài thơ mang tính cách tự trào, tự bạch trong tuyển tập Dream Songs (Những bài ca trong mơ – 1969) của mình. Tập thơ khắc họa một nhân vật kỳ cục tự kể về mình tên là Henry và những suy tư về chính công việc giảng dạy đơn điệu, chứng nghiện rượu kinh niên và tham vọng của mình.

Cũng giống như tác gia cùng thời với mình là Theodore Roethke, Berryman phát triển một phong cách uyển chuyển, tinh nghịch nhưng sâu sắc; sống động hẳn lên nhờ những cách nói trong văn học dân gian, đồng dao, đặc ngữ, tiếng lóng. Berryman viết về Henry: “Anh ta nhìn chăm chăm vào đổ nát. Đổ nát nhìn chăm chăm lại anh ta”. Một chỗ khác, ông viết một cách sắc sảo: “Ố la la! Khi sự thờ ơ đến, tôi rên xiết và nói năng ầm ĩ”.

Theodore Roethke
(1908 -1963)

Là con của một ông chủ nhà kính, Theodore Roethke phát triển một vốn ngôn ngữ đặc biệt gợi lại “thế giới nhà kính” của những côn trùng bé nhỏ và những dây mơ rễ má không nhìn thấy được: “Này sâu bọ, hãy đến sống cùng ta/ Đây là lúc ta gặp khó khăn”. Những bài thơ tình của ông trong tậpWords for the Wind (Lời gửi gió – 1958) ca ngợi vẻ đẹp và nỗi khát khao với những đam mê thơ ngây. Một bài thơ mở đầu như thế này: “Tôi biết một phụ nữ, xinh đẹp đến tận xương, Khi con chim nhỏ buồn, nàng thở dài với chúng”. Đôi lúc thơ của ông có vẻ giống những trang tốc ký của thiên nhiên hoặc những câu đố cổ xưa:

“Ai tung bụi vào tiếng động
Hỏi chuột đi, nó biết!”

Richard Hugo
(1923 -1982)

Richard Hugo, người thành phố Seattle – bang Washington, thuộc thế hệ đàn em của Theodore Roethke. Ông lớn lên nghèo khổ trong những khu phố tồi tệ nhưng có biệt tài truyền đạt niềm hi vọng, nỗi sợ hãi và sự thất vọng của tầng lớp lao động trong bối cảnh của miền Tây Bắc Hoa Kỳ.

Hugo viết những bài thơ hoài niệm, tự bạch với thể thơ iambic tiết tấu mạnh về những thị trấn nhỏ tồi tàn, bị bỏ quên trong vùng ông sống. Ông viết về sự nhục nhã, thất bại và những khoảnh khắc hiếm hoi chấp nhận được trong quan hệ con người. Ông hướng độc giả chú tâm vào những chi tiết thoáng qua, có vẻ như không gây một hiệu quả gì để tạo nên những điều có ý nghĩa hơn. Bài thơ “What Thou Lovest Well, Remains American” (Điều bạn yêu nhất vẫn là của Mỹ – 1975) kết thúc bằng hình ảnh một người mang những kỷ niệm về thị trấn quê nhà ngày xưa như thể chúng là cơm ăn thức uống.

Nếu mắc kẹt trong một
thị trấn cổ xưa
hoang vắng
bạn cần những người
yêu khát khao
tình bạn
và cảm thấy cần
được tiếp đón trong quán rượu bên đường
chúng đang đến đấy!

Philip Levine
(1928 -)

Philip Levine, sinh ở Detrort bang Michigan viết một cách bộc trực về những thua thiệt kinh tế của người công nhân với lối quan sát sắc sảo, sự phẫn nộ và mỉa mai đau xót. Giống như Hugo, ông xuất thân từ tầng lớp dân nghèo thành thị. Ông là tiếng nói của những cá thể cô đơn – nạn nhân của nền công nghiệp Mỹ. Phần lớn thơ ông mang âm hưởng ảm đạm và phản ánh một khuynh hướng vô chính phủ trong cái nhận thức rằng những hệ thống nhà nước sẽ bền vững.

Trong một bài thơ, Levine ví mình với một con cáo sống sót trong một thế giới hiểm nguy đầy những tay thợ săn chỉ nhờ vào lòng can đảm và sự tinh khôn của nó. Xét về cách sử dụng nhịp điệu, ông đã đi suốt con đường từ những kiểu âm vận truyền thống trong những bài thơ đầu tiên của mình đến những câu thơ tự do hơn, cởi mở hơn giai đoạn thơ sau này khi ông diễn đạt sự phản kháng đơn độc của mình chống lại những xấu xa của thế giới đương thời.

James Dickey
(1923 -)

James Dickey là một tiểu thuyết gia, một nhà viết tiểu luận đồng thời cũng là một nhà thơ. Ông là người tiểu bang Georgia. Bằng những suy ngẫm của mình, ông tin rằng đề tài chính của các tác phẩm ông là sự tiếp nối đang hiện hữu – hoặc phải hiện hữu – giữa bản ngã và thế giới. Phần lớn những gì ông viết đều xuất phát từ thiên nhiên – sông và núi, thời tiết và những hiểm họa ẩn chứa bên trong.

Vào cuối thập niên 60, Dickey bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết tựa đềDeliverance (Giải thoát) nói về mặt trái của mối quan hệ của cánh đàn ông. Một cuốn sách sau khi xuất bản và về sau được dựng thành phim, làm cho ông thêm nổi tiếng. Những tuyển tập thơ gần đây của ông nói về những đề tài khác nhau như là phong cảnh miền Nam (Jericho: the South Beheld – Miền Nam trong mắt ai – 1974) và ảnh hưởng của Kinh thánh trong cuộc sống của ông God’s Images (Hình ảnh Chúa – 1977). Dickey thường quan tâm tới sự cố gắng:

Vượt qua, thật vô vọng
Vượt qua cái đòi hỏi.

Elizabeth Bishop
(1911 -1979)

Adrienne Rich
(1929 -)

Trong số các nhà thơ nữ của nhóm các nhà thơ đặc dị, Elizabeth Bishop và Adrienne Rich đã đạt được sự trân trọng nhiều nhất trong những năm gần đây. Trí thông minh mẫn tiệp, sự quan tâm đến những phong cảnh đẹp ở những vùng xa xôi và những ẩn dụ về những cuộc du hành của Bishop lôi cuốn độc giả bởi sự chính xác và tinh tế. Cũng giống như thầy của bà, Marianne Moore, Bishop không lấy chồng, đã viết những bài thơ đạt đến trình độ nghệ thuật cao bằng một phong cách mô tả, lạnh lùng chất chứa những chiều sâu triết lý thầm kín. Sự mô tả biển Bắc Đại Tây Dương lạnh như băng trong bài “At the Fishhouses” (Tại làng đánh cá) có thể áp dụng cho thơ của Bishop. “Nó giống những điều ta tưởng tượng về kiến thức của ta/ Tối tăm, mặn mà, sáng trong, cảm động và tự do hoàn toàn”.

Cùng với Moore, Bishop có thể được đặt vào truyền thống thơ phụ nữ “lạnh lùng” quay trở lại với Emily Dickinson, nếu so sánh với những bài thơ “nóng bỏng” của Plath, Sexton, và Adrienne Rich. Dầu Rich bắt đầu sự nghiệp thơ ca bằng cách viết những bài thơ gắn với thể tài và âm vận truyền thống; những thi phẩm của bà, đặc biệt những bài thơ viết sau khi bà trở thành một nhà hoạt động tích cực vì nữ quyền vào thập niên 60, chứa đựng những cảm xúc mãnh liệt. Tài năng đặc biệt của bà thể hiện ở những ẩn dụ, như trong bài thơ kiệt xuất của bà “Diving Into the Wreck” (Lặn xuống con tàu đắm – 1973), gợi nhắc cuộc tìm kiếm bản sắc của một phụ nữ qua việc lặn xuống một con tàu bị đắm. Sự đắm chìm của con tàu cũng giống như việc tự đánh mất mình của người phụ nữ này. Một thông điệp được gửi tới, phụ nữ phải tìm cho mình một con đường riêng trong cái lãnh địa mà đàn ông làm chủ. Một bài thơ khác của Rich “The Roofwalker” (Người thợ làm mái nhà – 1961), đề tặng nhà thơ Denise Levertov, cho rằng việc làm thơ đối với phụ nữ là một nghề nguy hiểm. Cũng như đàn ông xây một mái nhà, bà cảm thấy “phải phơi bày ra, rộng lớn hơn đời thường, và bởi vì cổ tôi dễ bị gãy như chơi”.

THƠ CA THỂ NGHIỆM

Sức mạnh đằng sau thành quả chắc chắn của Lowell và phần lớn thơ đương đại nằm trong sự thể nghiệm bắt đầu vào thập niên 50 với nhiều nhà thơ. Donald Allen, tác giả của cuốn The New American Poetry (Thơ mới ở Mỹ) tuyển tập đầu tiên đã đưa tác phẩm của những nhà thơ trước đây bị các nhà phê bình và các tổ chức hàn lâm bỏ qua, đã chia một cách khái quát nhóm nhà thơ này thành 5 trường phái.

Lấy cảm hứng từ nhạc Jazz và hội họa trừu tượng, hầu hết những tác gia thể nghiệm trẻ hơn Lowell một thế hệ. Họ có khuynh hướng trở thành những trí thức tự do, phóng túng, phản lại văn hóa chính thống, không tuân theo những quy ước chung, thoát ly khỏi các học viện và phê bình một cách thẳng thắn xã hội “trưởng giả” Mỹ. Thơ của họ có tính dấn thân, độc đáo và đôi lúc gây chấn động. Trong khi kiếm tìm những giá trị mới, dòng thơ này bày tỏ mối quan tâm đối với thế giới cổ xưa của thần thoại, truyền thuyết, cũng như nếp sinh hoạt xã hội bộ lạc của người Mỹ Da đỏ. Hình thức thơ khoáng đạt hơn, tự nhiên hơn, có hệ thống hơn; phát triển từ chủ đề và cảm nhận tươi mới của nhà thơ khi đang làm bài thơ và từ những chỗ ngừng nghỉ tự nhiên của ngôn ngữ nói. Như Allen Ginberg ghi nhận trong “Improvised Poetics” (Thơ ứng tác), rằng “ý nghĩ đầu tiên là ý nghĩ hay nhất”.

TRƯỜNG PHÁI BLACK MOUNTAIN

Trường phái Back Mountain tập trung xung quanh đại học Black Mountain, một đại học về các loại nghệ thuật thử nghiệm ở Asheville bang Bắc Carolina, nơi các thi sĩ Charles Olson, Robert Duncan và Robert Creeley giảng dạy vào đầu thập niên 50. Ed Dorn, Joel Oppenheimer và Jonathan Williams học tập ở đó, còn Paul Blackburn, Larry Eigner và Denise Levertov công bố tác phẩm trên tạp chí nhà trường, Origin và Black Mountain Review. Trường phái Black Mountain gắn liền với lý thuyết “thơ dự phóng” của Charles Olson, nhấn mạnh đến hình thức cởi mở dựa trên nhịp điệu tự nhiên của sự ngắt nghỉ, lấy hơi trong khi nói và hàng chữ đánh máy ở dạng viết.

Robert Creeley (1926 -) theo phương châm ý tại ngôn ngoại, rất kiệm lời, là một trong những nhà thơ quan trọng của trào lưu Black Mountain. Trong bài “The Warning” (Lời cảnh tỉnh – 1955), Creeley hình dung ra một lối liên tưởng vừa đáng yêu, vừa dữ dội:

Vì tình yêu – Anh sẽ
chẻ dọc đầu em ra và đặt
ngọn đèn cầy
đằng sau đôi mắt.
Tình trong ta đã chết
nếu ta quên
đức hạnh của chiếc bùa
và sự ngạc nhiên chóng vánh.

TRƯỜNG PHÁI SAN FRANCISCO

Sáng tác của trường phái San Francisco -bao gồm hầu hết thơ ở vùng Bờ Tây nói chung -chịu rất nhiều ảnh hưởng của triết học và tôn giáo phương Đông cũng như thơ Nhật Bản và Trung Quốc. Điều này chẳng có gì đáng ngạc nhiên vì ảnh hưởng của phương Đông vẫn luôn mạnh mẽ ở vùng Bờ Tây nước Mỹ. Vùng đất quanh San Francisco -vùng núi Sierra Nevada và vùng bờ biển khúc khuỷu -luôn đáng yêu và hùng vĩ, và các nhà thơ ở vùng này có khuynh hướng có một cảm xúc sâu nặng với thiên nhiên. Nhiều bài thơ của họ có chất liệu từ phong cảnh rừng núi hay những chuyến ngao du sơn thủy. Thơ họ lấy thiên nhiên làm nguồn cảm hứng chủ đạo thay cho truyền thống văn học.

Các nhà thơ San Francisco gồm có Jack Spicer, Lawrence Ferlinghetti, Robert Duncan, Phil Whalen, Lew Welch, Gary Snyder, Kenneth Rexroth, Joanne Kyger và Diane diPrima. Nhiều người trong số các nhà thơ này gắn bó chặt chẽ và có mối đồng cảm với quần chúng lao động. Thơ họ thường đơn giản, dễ cảm thụ và lạc quan.

Ở giai đoạn cao trào, như có thể thấy trong tác phẩm của Gary Snyder (1930), thơ của trường phái San Francisco gợi lên được sự cân bằng tinh tế giữa cá nhân và vũ trụ. Trong bài “Above Pate Valley” (Trên thung lũng Pate – 1955) của Snyder, nhà thơ mô tả công việc của một nhóm làm đường trên núi cao và tìm ra những mảnh đầu mũi tên làm bằng đá nham thạch của những bộ lạc Da đỏ đã biến mất:

Trên một ngọn đồi tuyết phủ quanh năm trừ lúc hè
sang
Một vùng đất đầy nai mùa hạ béo vàng
Họ đến dựng lều. Trên những đường mòn của họ
Theo đường mòn của mình tôi lê bước tới đây
Nhặt lên đầu mũi tên này
Nhặt và bỏ vào trong giỏ
Những nham thạch
Mười ngàn năm về trước

CÁC NHÀ THƠ “BEAT”

Trường phái San Francisco hòa nhập thành một nhóm mới – các nhà thơ “Beat”, xuất hiện vào những năm 50. Hầu hết những nhà thơ quan trọng của nhóm Beat (Beatniks) từ Bờ Đông chuyển đến San Francisco. Chính ở California này họ đạt được thành công ban đầu trên cả nước ở California. Những thi sĩ chủ yếu của nhóm Beat gồm có Allen Ginsberg, Gregory Corso, Jack Kerouac, và William Burroughs. Thơ của nhóm Beat là để đọc, được lặp đi lặp lại và có hiệu quả rất lớn khi diễn đọc hay diễn ngâm, chủ yếu bởi vì nó được phát triển từ những buổi đọc thơ trong những câu lạc bộ ở tầng hầm. Nhiều người có lẽ nhận định đúng khi cho nó là ông tổ của loại nhạc Rap rất thịnh hành vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX.

Thơ của nhóm Beat là thể loại văn học chống lại văn học chính thống quyết liệt nhất ở Hoa Kỳ, nhưng thực chất bên dưới những ngôn từ gây chấn động của nó ấp ủ một tình yêu đất nước. Thơ của họ là tiếng kêu gào của khổ đau và cuồng nộ cho cái điều mà các nhà thơ coi như sự đánh mất đi nét thơ ngây của nước Mỹ và sự phung phí kinh khủng những nguồn tài nguyên nhân lực và vật lực của nó.

Những bài thơ như Howl (1956) của Allen Ginberg thực sự đã làm một cuộc cách mạng trong thơ ca:

Tôi chứng kiến những bộ óc siêu việt nhất
của thế hệ chúng tôi hủy hoại
bởi chứng khùng điên, đói khát cuồng dại trần truồng
lê tấm thân dọc phố Da đen
trong ánh bình minh
tìm liều thuốc cho cơn giận dữ
những kẻ biết mình như những thiên thần lao vào ngọn lửa
cho một thiên đường cổ xưa
liên kết các vì sao
năng lượng
trong bộ máy của đêm.

TRƯỜNG PHÁI NEW YORK

Khác với nhóm các nhà thơ Beat và những nhà thơ San Francisco, các nhà thơ của trường phái New York thể hiện sự bàng quan đối với những vấn đề đạo lý một cách công khai, và nói chung họ lẩn tránh chính trị. Họ có được một nền giáo dục chính thống hơn bất kỳ một nhóm thơ nào.

Những nhân vật cự phách của trường phái New York gồm: John Ashbery, Frank O’Hara, và Kenneth Koch -gặp nhau lúc họ còn chưa tốt nghiệp Đại học Harvard. Họ cực kỳ tân tiến, điềm đạm, không có tín ngưỡng, thông minh sắc sảo có pha chút khinh bạc và thời thượng một cách cao nhã. Thơ của họ có tiết tấu nhanh, nội dung xoay quanh cuộc sống đô thị, thiếu một sự hài hòa, hầu như có thể cảm nhận được ý nghĩa về niềm tin hết sức chông chênh của họ.

Thành phố New York là trung tâm mỹ thuật của nước Mỹ và là cái nôi của chủ nghĩa Biểu hiện Trừu tượng, là nguồn cảm hứng chủ yếu cho dòng thơ này. Hầu hết những nhà thơ này đều là những nhà phê bình nghệ thuật hoặc những nhà quản lý các bảo tàng nghệ thuật, hoặc hợp tác với cánh họa sĩ. Có thể là do cảm nhận của họ với nghệ thuật trừu tượng, một trường phái nghệ thuật vốn không tin vào những hình thể chân thực và ý nghĩa rõ ràng, tác phẩm của các nhà thơ này thường khó hiểu, như trong những tác phẩm sau này của John Ashbery (1927 -…), có lẽ là thi sĩ đương đại có ảnh hưởng lớn nhất ngày nay.

Mạch thơ dào dạt của Ashbery ghi lại những suy nghĩ và niềm xúc cảm khi chúng tràn nhanh qua đầu óc khó có thể trực tiếp phát thành lời. Bài thơ dài, lắng sâu của ông Self-Portrait in a Convex Mirror (Chân dung tự họa trong một tấm gương lồi – 1975), đoạt 3 giải thưởng lớn; lướt đi như một cánh chim từ ý nghĩ này qua ý nghĩa khác, thường chiêm nghiệm lại chính nó:

Một con tàu
Treo những màu sắc không ai biết đã
đi vào cảng
Bạn đang để cho những chuyện không đâu
ngoài lề
phá vỡ một ngày của bạn…

CHỦ NGHĨA SIÊU THỰC VÀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH

Trong tuyển tập nhằm xác định những trường phái thi ca mới, Donald Allen đã đưa ra nhóm thứ năm ông không thể gọi tên được bởi vì nó không có một địa điểm địa lý rõ ràng. Nhóm thơ khó xác định này bao gồm các trào lưu và những thể nghiệm hiện đại.

Nổi bật trong số này là những nhà thơ siêu thực, diễn đạt vô thức qua những hình ảnh sống động như trong mơ và rất nhiều thơ do phụ nữ và những cộng đồng thiểu số sáng tác đã phát triển rực rỡ trong những năm gần đây. Mặc dầu có những nét khác biệt bề ngoài rất lớn, các nhà thơ siêu thực, các nhà thơ đấu tranh cho quyền phụ nữ và các nhà thơ thuộc cộng đồng thiểu số tỏ ra rằng họ cùng chia sẻ với nhau một ý thức thoát ly khỏi nền văn học “chính thống”, của người Da trắng và của người đàn ông.

Cho dù T. S. Eliot, Wallace Stevens và Ezra Pound đã cố công đưa những kỹ thuật của trào lưu tượng trưng vào thi ca Mỹ vào thập niên 20, chủ nghĩa siêu thực – dòng chảy chính trong thi ca và tư tưởng ở châu Âu trong và sau Thế chiến II, đã không bén rễ được ở Mỹ. Mãi cho đến những năm 60 chủ nghĩa siêu thực (cùng với chủ nghĩa hiện sinh) mới trở nên quen thuộc với người Mỹ dưới áp lực của cuộc chiến ở Việt Nam. Trong những năm 60, nhiều tác giả Mỹ như -W. S. Merwin, Robert Bly, Charles Simic, Charles Wright và Mark Strand cùng những người khác đã quay về với chủ nghĩa Siêu thực Pháp và đặc biệt là Tây Ban Nha để tìm lại những xúc cảm thuần khiết, những hình tượng lý tưởng, và những kiểu mẫu, bất an mang tính hiện sinh và phi lý của nó.

Những nhà thơ siêu thực như Merwin có khuynh hướng châm biếm sắc sảo như trong những câu thơ sau: “Thánh thần muốn thành người nhưng không được/ Nếu anh thấy mình chẳng còn tin nữa thì hãy mở rộng đền thờ”.

Chủ nghĩa siêu thực có khuynh hướng chính trị của Bly phê phán một cách gay gắt những giá trị Mỹ và chính sách đối ngoại của chính phủ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam như trong bài thơ “The Teeth Mother Naked at Last”:

Chỉ vì chúng ta có bao bì mới cho
sò hun khói
mà những hố bom hiện ra trên những
ruộng lúa.

Ảnh hưởng lan rộng của thơ ca siêu thực đã dịu đi và đầy suy tư hơn như Charles Wright mô tả trong “The New Poem” (Thơ mới – 1973):

Nó sẽ không tham dự vào nỗi buồn của chúng ta
Cũng chẳng an ủi
con cái chúng ta
Và sẽ không giúp gì cho ta cả.

Chủ nghĩa Siêu thực của Mark Strand, cũng như của Merwin, thường ảm đạm; nó nói đến một sự tước đoạt cực độ. Với ông, truyền thống, giá trị, niềm tin chả là gì cả, nhà thơ chẳng có gì ngoài tâm hồn tăm tối như hang động của mình:

Trong tay có chìa khóa
Tôi mở cửa bước vào
Tối tăm tôi bước vào
Thẳm đen tôi bước tiếp.

CÁC NHÀ THƠ NỮ VÀ CÁC NHÀ THƠ ĐA CHỦNG TỘC

Nền văn học của phái nữ, cũng như văn học của các cộng đồng thiểu số và chủ nghĩa siêu thực, lần đầu tiên nhận thức được vai trò của chính mình là một động lực trong đời sống nước nhà trong những năm cuối thập niên 60. Các dòng thơ này đã nở rộ trong phong trào nữ quyền cũng phát sinh trong thời kỳ đó.

Văn học ở Mỹ, cũng như ở hầu hết các quốc gia khác, từ lâu đặt cơ sở quá nhiều trên những tiêu chuẩn của phái nam đến độ thường bỏ qua sự đóng góp của phái nữ. Tuy vậy, có nhiều nhà thơ nữ nổi bật trong thi đàn Mỹ. Không phải họ đều là những người ủng hộ nữ quyền, cũng không phải những chủ đề của họ nhất loạt nói lên những mối quan tâm của phụ nữ. Chẳng qua, họ chỉ là những nhà thơ của nỗi buồn nhân thế. Những khác biệt về địa lý, chính trị và chủng tộc cũng góp phần hình thành nên tác phẩm của họ và đặt ra cho họ những vấn đề để suy nghĩ. Những nhà thơ nữ nổi bật gồm có Amy Clampitt, Rita Dove, Louise Glück, Jorie Graham, Carolyn Kizer, Maxine Kumin, Denise Levertov, Audre Lorde, Gjertrud Schnackenberg, May Swenson và Mona Van Duyn.

Nửa sau thế kỷ 20 đã chứng kiến sự hồi sinh của văn học đa chủng tộc. Khởi đầu vào thập niên 60, theo sự mở đường của người Mỹ Da đen, những tác giả thuộc các chủng tộc khác ở Mỹ bắt đầu tạo được sự chú ý của công chúng. Trong thập niên 70, những chương trình nghiên cứu nhân chủng học được triển khai. Trong những năm 80, một số tạp chí hàn lâm, các tổ chức chuyên ngành, và sách báo văn học dành cho những chủng tộc khác nhau được ra đời. Còn vào thập kỷ 90, các hội nghị nghiên cứu về văn học các sắc tộc riêng biệt đã bắt đầu và danh sách chính thức của các tác phẩm kinh điển đã được mở rộng để đưa thêm những tác gia thuộc các dân tộc ít người vào trong các tuyển tập và giáo trình. Những vấn đề quan trọng trong nền văn học này bao gồm chủng tộc chống lại sự xếp loại sắc tộc, chủ nghĩa vị chủng tộc chống lại chủ nghĩa đa chủng tộc, chủ nghĩa một ngôn ngữ chống lại đa ngôn ngữ, sự kết hợp chống lại sự loại bỏ. Sự phá bỏ kết cấu (giải cấu)([2]), áp dụng cho cả ngữ cảnh chính trị lẫn văn học, đã thường xuyên đặt nghi vấn với nguyên trạng (tình trạng hiện tại).

Thơ ca của cộng đồng thiểu số cũng chia sẻ với văn học của phụ nữ sự phong phú và đôi khi sự giận dữ của nó với xã hội. Nó nảy nở trong những năm gần đây giữa những người Mỹ gốc Tây Ban Nha như Gary Soto, Alberto Rios và Lorna Dee Carvantes; giữa những người Mỹ gốc Da đỏ như Leslie Marmon Silko, Simon Ortiz và Louise Erdrich; giữa những người Mỹ gốc Phi châu như Amiri Baraka (LeRoi Jones), Michael Harper, Rita Dove, Maya Angelou và Nikki Giovanni; và trong số những nhà thơ Mỹ gốc châu Á như Cathy Song, Lawson Inada và Janice Mirikitani.

THƠ CA CỦA NGƯỜI MỸ GỐC LATIN, TÂY BAN NHA VÀ MEXICO

Thơ ca ảnh hưởng Tây Ban Nha bao gồm tác phẩm của nhiều nhóm khác nhau. Trong số này có những người Mỹ – Mexico, từ thập niên 50 quen gọi là Chicano, đã sống qua nhiều thế hệ ở những tiểu bang Tây Nam mà Hoa Kỳ chiếm của Mexico trong cuộc chiến tranh Mỹ – Mexico kết thúc vào năm 1848. Trong số cư dân vùng Caribbean nói tiếng Tây Ban Nha, người Mỹ gốc Cuba và người Puerto Rico vẫn duy trì và phát triển truyền thống văn học đầy sức sống và độc đáo của họ. Ví dụ, những người Mỹ gốc Cuba rất tài năng với thể loại hài kịch đã tự tách ra khỏi thể thơ trữ tình bi thương của những tác giả gốc Mexico như Rudolfo Ayana. Những nhà văn di cư gần đây từ Mexico; Trung, Nam Mỹ và Tây Ban Nha đến, liên tục bổ sung và làm lớn mạnh thêm dòng văn học này.

Thơ ca người Mỹ-Chicano hay gốc Mexico có một truyền thống truyền miệng phong phú bằng thể loại corrido hay ballad. Những tác phẩm gần đây nhấn mạnh sức mạnh truyền thống của cộng đồng Mexico và sự kỳ thị họ gặp phải với người gốc châu Âu. Đôi lúc, các nhà thơ pha trộn những từ tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha với nhau thành một sự pha trộn rất nên thơ, như trong thơ của Alurista và Gloria Anzaldúa. Thơ của họ chịu nhiều ảnh hưởng của truyền thống truyền khẩu và có âm hưởng rất mạnh mẽ khi đọc thành tiếng.

Nhiều nhà thơ viết chủ yếu bằng tiếng Tây Ban Nha theo một truyền thống bắt nguồn từ thiên sử thi đầu tiên được viết ra trong nước Mỹ hôm nay. Bài thơ Historia de la Nueva Mexico (Lịch sử Mexico mới) của Gaspar Pérez de Villagrá ca ngợi trận chiến năm 1598 giữa những kẻ xâm lược Tây Ban Nha và người Da đỏ ở Acoma bang New Mexico. Một tác phẩm quan trọng trong thơ ca người Mỹ gốc Mexico gần đây, tập thơ I Am Joaquin (Tôi là Joaquin) của Rodolfo Gonzales (1928 – ), than vãn về tình cảnh của người Mỹ gốc Mexico:

Lạc loài trong thế giới hỗn mang
Bị cuốn theo cơn xoáy lốc một xã hội ngoại bang
Những luật lệ rối rắm,
Những thái độ rẻ khinh
Và mánh khóe, dối lừa
Bị hủy hoại bởi cái được gọi là xã hội hiện đại.

Tuy nhiên, nhiều tác giả Mỹ gốc Mexico tìm thấy nguồn sống trong cội nguồn Mexico cổ xưa của mình. Nghĩ về thời xưa huy hoàng của Mexico, Lorna Dee Cervantes (1954-…) viết rằng “một corrido sử thi” đang ngân nga trong huyết quản của bà, còn Luis Omar Salinas (1937-…) cảm thấy mình là “một thiên thần Aztec”. Phần lớn thơ ca người Mỹ -Mexico rất người, nói lên những cảm xúc và quan hệ gia đình hay về những thành viên trong cộng đồng. Gary Soto (1952-…) dựa vào truyền thống cổ xưa ca tụng tổ tiên đã ra đi. Những lời thơ này, viết vào năm 1981, mô tả hiện trạng đa văn hóa của tất cả người Mỹ hôm nay:

Một ngọn nến thắp lên cho người đã khuất
Trước mặt ta hai thế giới đón chờ

Trong những năm gần đây, thơ ca của người Mỹ -Mexico đã tiến một bước rất xa và những tác phẩm của Cervantes, Soto và Alberto Rios đã được giới thiệu rộng rãi trong các tuyển tập.

THƠ CA CỦA NGƯỜI MỸ DA ĐỎ

Người Mỹ Da đỏ đã có một nền thi ca trau chuốt, có lẽ do truyền thống sáng tác những bài ca ngợi ca linh vật đóng một vai trò tối quan trọng trong di sản văn hóa của họ. Tác phẩm của họ vượt trội lên bởi sự khơi gợi đầy hình ảnh sống động về thế giới tự nhiên, mà đôi khi gây hiệu quả hầu như huyền bí. Các thi sĩ Da đỏ cũng lên tiếng về một cảm thức bi đát việc đánh mất di sản phong phú không gì bù đắp nổi của dân tộc mình.

Simon Ortiz (1914 -…), một cư dân tộc Acoma, viết nhiều bài thơ có sức tác động sâu xa dựa vào lịch sử khám phá những nghịch lý của việc là một người Mỹ Da đỏ trong nước Mỹ ngày nay. Thơ của ông thách thức các độc giả gốc Anglo -Saxon vì nó thường nhắc nhở họ về sự bất công và tàn bạo mà một thời cha ông họ đã dành cho người Mỹ Da đỏ. Những bài thơ của ông cũng là một tri kiến về sự hòa hợp chủng tộc dựa trên sự thông hiểu sâu sắc lẫn nhau.

Trong tập thơ Star Quilt (Tấm chăn dệt bằng các vì sao), Roberta Hill Whiteman (1947- ), một người bộ lạc Oneida, hình dung một tương lai đa văn hóa như là “một tấm chăn dệt bằng những vì sao trong ánh rạng đông”, còn Leslie Marmon Silko (1948 -…), có một phần gốc gác là bộ lạc Laguna, sử dụng ngôn ngữ nói và những câu chuyện truyền thống để sáng tác những bài thơ trữ tình, có sức ám ảnh khó quên. Trong bài “In Cold Storm Light” (Trong ánh sáng cơn bão tuyết – 1981), Silko tạo được hiệu quả như trong thơ haiku:

Những con nai tuyết
hiện ra trên trời tuyết băng dày đặc
phóng như bay
chạy nhanh
xoáy quanh những ngọn cây
Gió bão
bài ca màu trắng
lướt đi, lướt đi
trên những cành cây.

Louise Erdrich (1954-…) là một tiểu thuyết gia như Silko, sáng tạo những đoạn độc thoại mạnh mẽ giàu kịch tính có thể xem là những vở kịch được nén lại. Chúng mô tả một cách không khoan nhượng những gia đình phải đương đầu với tệ nghiện rượu, thất nghiệp và nghèo khổ trong “vùng bảo tồn” Chippewa.

Trong bài thơ “Family Reunion “ (Gia đình sum họp – 1984), một ông chú nghiện rượu, thô lỗ trở về sau nhiều năm sống ở thành phố. Vì ông bị đau tim, người cháu bị hành hạ và là người kể chuyện, nhớ lại cảnh ông chú đã giết một con rùa lớn cách đây nhiều năm bằng cách nhét pháo vào con rùa đó. Đoạn cuối bài thơ gắn chú Ray với con rùa nạn nhân của ông:

Rồi chúng ta tìm lại đường về
Chú Ray
hát bài ca xưa cho người
kéo chú
về nhà. Đôi tay ông đã thành
vây xám
ghì siết vào bảng đồng hồ.
Khuôn mặt ông
mang vẻ kiên nhẫn lạ kỳ, lặng lẽ của
một đứa trẻ luôn luôn
bỏ mặc những vết thương, hay của một
sinh vật đã sống
thời gian dài dưới nước. Và
những thiên thần bay đến
hạ thòng lọng và cáng xuống.

THƠ CA MỸ DA ĐEN

Người Mỹ Da đen đương đại đã sáng tác nhiều bài thơ tuyệt mỹ với nhiều chủ đề và giọng điệu phong phú. Đây là dòng thơ sắc tộc phát triển nhất ở Mỹ và cực kỳ đa dạng. Amiri Baraka (1934 -…) nhà thơ Mỹ Da đen nổi tiếng nhất, cũng viết nhiều vở kịch và đóng vai trò tích cực trong hoạt động chính trị. Những sáng tác của Maya Angelou bao quát nhiều thể loại, trong đó có nhiều vở kịch, một hồi ký nổi tiếng I know Why the Caged Bird Sings(Tôi biết vì sao chim hót trong lồng – 1970), và một tuyển tập thơ Just Give Me a Cool drink of Water ’fore I Diiie (Hãy cho tôi một hớp nước mát trước khi tôi chết – 1971). Angelou đã được mời sáng tác một bài thơ cho lễ nhậm chức của Tổng thống Bill Clinton vào năm 1993.

Một nhà thơ Mỹ Da đen khác được ca ngợi gần đây là Rita Dove (1952- ) người được phong tặng là nhà thơ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1993. Dove, một nhà văn viết tiểu thuyết và kịch, đoạt giải thưởng Pulitzer 1987 nhờ cuốn Thomas and Beulah (Thomas và Beulah), trong đó bà ca ngợi ông bà của mình qua một loạt bài thơ trữ tình. Bà nói rằng bà viết tác phẩm này để thể hiện cuộc sống nội tâm phong phú của quần chúng vô sản.

Micheal Harper (1938- ) đã viết những vần thơ tương tự phơi bày cuộc sống phức tạp của người Mỹ Da đen đối mặt với sự phân biệt chủng tộc và bạo lực. Những bài thơ cô đọng, bóng gió của ông thường tái hiện những khung cảnh đông đúc, đầy kịch tính của chiến tranh hay đời sống đô thị. Chúng sử dụng hình ảnh của ngành y với cố gắng chữa lành bệnh tật. Bài thơ “Clan Meeting: Births and Nation: A Blood Song” (Cuộc họp mặt bè đảng: Những con người ra đời và những quốc gia: Bài ca máu (1971) của ông, ví việc nấu nướng với phẫu thuật, “đan kết thịt cùng chất lỏng” mở đầu như sau: “Chúng ta tái tạo mạng sống trong khu chăm sóc đặc biệt, gắn kết vào nhau trong một quán ăn…”. Bài thơ kết thúc bằng cách xâu lại những hình ảnh về bệnh viện, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong bộ phim Mỹ thời kỳ đầu Birth of a Nation (Sự ra đời của một quốc gia) phong trào Ku Klux Klan[3], biên tập phim và kỹ thuật X-quang:

Chúng ta lại chất đầy óc như chiếc máy quay phim,
cuộn phim phơi bày quá độ
dưới tia X-quang,
khóa chặt với hai lớp cửa
nhịp phách nhẹ nhàng: chủng tộc và giới tính
cuộn vào và bao vây trong một trò tiêu khiển
chúng ta ôm khăn gói rồi về nhà.

Lịch sử, nhạc Jazz, và văn hóa đại chúng mang lại cảm hứng cho nhiều nhà văn Mỹ Da đen, từ Harper (giáo sư đại học) đến chủ nhà xuất bản kiêm nhà thơ ở Bờ Tây Ishmael Reed (1938 -), nổi tiếng do việc đi tiên phong trong nền văn học đa văn hóa qua tổ chức Before Columbus Foundation và một loạt tạp chí như YardbirdQuilt và Konch. Nhiều nhà thơ Mỹ Da đen như Audre Lorde (1934 – 1992) tìm thấy nguồn sáng tạo ở chủ nghĩa vị châu Phi, xem Phi châu là trung tâm của nền văn minh từ thời cổ đại. Trong những bài thơ đầy xúc cảm như “The Women of Dan Dance with Swords in Their Hands to Mark the Time When They Were Warriors (Những người phụ nữ của Dan nhảy múa với lưỡi kiếm trong tay đánh dấu cái thời họ là các chiến binh), bà nói như một người nữ chiến binh của Dahomey cổ đại, “làm ấm áp bất cứ cái gì ta chạm đến” và chỉ “tiêu hóa” “những gì đã chết”.

THƠ CA CỦA NGƯỜI MỸ GỐC CHÂU Á

Cũng như thơ ca của những tác giả Mỹ gốc Mexico và Tây Ban Nha, thơ ca của người Mỹ gốc Á cực kỳ đa dạng. Người Mỹ gốc Nhật, Trung Quốc, Philipines có lẽ đã sống đến bảy đời ở Mỹ, còn người Mỹ gốc Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam là những người di cư mới gần đây. Mỗi nhóm phát xuất từ một truyền thống văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ riêng. Những tiến bộ gần đây trong văn học Mỹ gốc Á châu bao gồm trong việc nhấn mạnh đến những công trình nghiên cứu Vành đai Thái Bình Dương và văn học phụ nữ. Các nhà văn Mỹ gốc châu Á nói chung chối bỏ mẫu mực chủng tộc có tính cách Đông phương hóa như một thiểu số “xa lạ” và “tốt đẹp”. Các nhà mỹ học đang bắt đầu so sánh các truyền thống văn học Á và Âu -chẳng hạn so sánh khái niệm đạo (tao) của phương Đông và luận lý (logos) của Hy Lạp cổ.

Các nhà thơ Mỹ gốc Á đã tiếp thu từ nhiều nguồn văn hóa, từ ca kịch của Trung Quốc đến Thiền. Những truyền thống văn học châu Á, đặc biệt là Thiền, tạo nguồn cảm hứng cho nhà thơ không phải gốc châu Á, như có thể thấy trong tuyển tập Beneath a Single Moon: Buddhism in Contemporary American Poetry (Dưới vầng trăng lẻ: Phật Giáo trong thi ca Mỹ đương đại – 1991). Những nhà thơ Mỹ gốc châu Á trải rộng như một quang phổ, từ vị thế tưởng như không tín ngưỡng như Frank Chin, đồng chủ biên cuốnAiiieeeee! (một tuyển tập đầu tiên của văn học Mỹ châu Á), cho đến các tác giả vận dụng truyền thống một cách rộng rãi như nhà văn Maxine Hong Kingston (1940- ). Janice Mirikitani – một sansei (người Mỹ gốc Nhật thế hệ thứ 3), làm sống dậy lịch sử Mỹ – Nhật và đã xuất bản nhiều tuyển tập nhưThird World Women (Phụ nữ thế giới thứ 3), Time to Greez (Thời gian đến Greez), và Ayumi: Four Generations of Japanese in American (Ayumi: Thế hệ người Nhật thứ 4 ở Mỹ).

Tuyển tập thơ trữ tình Picture Bride (Bức ảnh cô dâu – 1983) của Cathy Song người Mỹ gốc Hoa (1955- ) cũng kịch hóa lịch sử qua những cuộc đời trong gia đình bà. Nhiều nhà thơ Mỹ châu Á khám phá sự đa dạng văn hóa. Trong “The Vegetable Air” (Không gian rau quả – 1988) của Song, một thị trấn tồi tàn với đàn bò thả trên quảng trường, một quán ăn Tàu, một tấm bảng quảng cáo Coca-Cola treo lệch trở thành biểu tượng của cuộc sống đương đại đa văn hóa không cội rễ 238 239 chỉ có thể chịu đựng được nhờ nghệ thuật, trong trường hợp này là vở opera trong một băng cassette:

Rồi một bản aria quen thuộc
vươn lên như một vầng trăng,
nâng chính anh ra khỏi xác thân này
đưa anh đến một miền đất khác
nơi, trong phút giây, anh bay lượn nhẹ nhàng.

NHỮNG HƯỚNG ĐI MỚI

Những hướng mới trong thơ ca Mỹ bao gồm “những nhà thơ ngôn ngữ” được gán một cách dễ dàng với tạp chí Temblor. Họ gồm có Bruce Andrews, Lyn Hejinian, Douglas Messerli (chủ biên cuốn “Language” Poetries: An Anthology (Tuyển tập thơ ca “ngôn ngữ” – 1987), Bob Perelman và Barret Watten, tác giả cuốn Total Syntax (Cú pháp tổng thể – 1985), một tuyển tập tiểu luận. Họ kéo dãn ngôn ngữ để thể hiện tiềm năng của nó trong tính mơ hồ, sự phân đoạn và tự khẳng định bên trong những mớ bòng bong chua cay và hậu hiện đại; họ chối bỏ những lối văn “siêu kể chuyện” – những ý thức hệ, những giáo điều, những quy ước -và hoài nghi sự hiện hữu của thực thể siêu nhiên. Michael Palmer viết:

Đây chính là Thiên đường, một cuốn sách mốc meo bỏ quên quá lâu trong căn nhà

Bài “Chronic Meanings” ( Những nét nghĩa tồi tệ) của Bob Perelman mở đầu như thế này:

Mỗi dữ kiện riêng tư là một vấn đề
Chỉ năm từ để nói
Bầu trời đen trong đêm, hợp lý hoàn toàn
Chỉ có tôi phần dư thừa phi lý.

Xem phê bình văn học và nghệ thuật thực chất là mang tính cách ý thức hệ, họ chống lại những hình thức khép kín của chủ nghĩa hiện đại, những tôn ti trật tự, những ý tưởng về sự hiển thánh và sự siêu phàm, phạm trù của thể loại và những áng văn được chính thức thừa nhận (những tác phẩm văn học được chấp nhận). Thay vì thế, họ đề nghị những hình thức cởi mở và lối viết đa văn hóa. Họ đánh giá cao tính hình tượng trong văn học đại chúng, các phương tiện truyền thông, thiết kế và tái thiết kế chúng. Giống như thơ công diễn, những bài thơ ngôn ngữ thường phản đối sự giải thích và mời gọi một sự tham gia.

Thơ ca hướng tới công diễn (kết hợp với những cuộc trình diễn như những trường hợp của nhà soạn nhạc John Cage), ứng tác nhạc Jazz, tác phẩm đa phương tiện, và chủ nghĩa siêu thực châu Âu đã ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ Mỹ. Trong những tác gia nổi tiếng có Laurie Anderson, tác giả của bài thơ nổi tiếng thế giới United States (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1984), sử dụng phim, video, âm học, âm nhạc, vũ ballet và kỹ thuật kỷ nguyên không gian. Thơ ca âm thanh, nhấn mạnh tiếng nói và nhạc cụ, do các nhà thơ David Antin (nhà thơ trình diễn ứng khẩu) và các nhà thơ gốc New York như George Quasha (chủ nhà xuất bản Station Hill Press), Armand Schwerner và Jackson MacLow thực hiện. MacLow cũng trình làng một loại thơ giàu hình ảnh cụ thể và tạo ra lối nói đầy hình ảnh bằng cách sử dụng sự xếp đặt và sắp chữ. Thơ công diễn của các sắc tộc đi vào cùng dòng chảy với nhạc Rap, trong khi khắp nước Mỹ “hội thơ” – những cuộc thi đọc thơ mở rộng tổ chức xen kẽ trong những phòng tranh và hiệu sách -tạo cơ hội cho quần chúng tham gia giải trí có giá trị tinh thần cao, ít tốn kém.

Ở đầu kia của quang phổ mang tính chất lý thuyết là những nhà thơ tự phong là Tân hình thức chủ nghĩa, những 240 241 người chủ trương quay trở về hình thức, vần và vận luật. Tất cả mọi nhóm đều phản ứng lại cùng một vấn đề – một sự bằng lòng có tính trung dung với hiện trạng một giọng điệu cẩn thận và quá trau chuốt, thường là sản phẩm của những cuộc hội thảo thơ, và sự nhấn mạnh thái quá đến thi ca bộc lộ cá tính như là một cách chống lại động thái xã hội. Trường phái hình thức gắn liền với nhà xuất bản Story Line Press; Dana Gioia (một nhà thơ – thương gia); Philip Dacey và David Jauss, các nhà thơ và các chủ biên của cuốn Strong Measures: Contemporary American Poetry in Traditional Forms (Phân loại chuẩn mực: Những hình thức truyền thống trong thơ ca hiện đại Mỹ – 1986); Brad Leithauser; và Gjertrud Schnackenburg. Cuốn The Direction of Poetry: Rhymed and Metered Verse Written in English Since 1977 (Hướng đi của thi ca: thơ cách luật trong tiếng Anh từ năm 1977) của Robert Richman là một tuyển tập mới xuất hiện gần đây. Mặc dầu các nhà thơ này được xem là quay về với những đề tài thế kỷ 19, họ thường sử dụng những quan niệm và hình tượng đương đại, cùng với ngôn ngữ giàu nhạc tính và những hình thức truyền thống, khép kín.


[1] Bài thơ này lấy cảm hứng từ Robert Gould Shan (1837-1863), người lãnh đạo trung đoàn Da đen đầu tiên của miền Bắc trong cuộc nội chiến. Ông hy sinh trong một cuộc tiến công ở nam Caroline. Dưới một bức phù điêu bằng đồng do nhà điêu khắc Augustus Saint Gaudens thực hiện để tưởng niệm những người chết ở trụ sở tiểu bang Massachusetts có một dòng chữ Latin “Omnia Reliquit Servave Rem Publicam” có nghĩa là “Anh nằm xuống cho một nền cộng hòa” Lowell đã thay đổi một chút trong lời đề từ cho bài thơ thành “Họ đã hy sinh tất cả cho nền cộng hòa.” Chúng tôi lấy ý này để tạm dịch tựa đề bài thơ trên.

[2] Giải cấu trúc (Deconstruction): một phương pháp phân tích văn học ở Pháp giữa thế kỷ 20 dựa trên lý thuyết rằng không có văn bản nào có ý nghĩa cố định, do bản chất của ngôn ngữ và cách sử dụng ngôn ngữ đó.

[3] Còn được gọi là 3K, một tổ chức khủng bố.
Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_vii.html
Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 6: Trào lưu hiện đại và thể nghiệm thời kỳ 1914-1945

 

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Nhiều sử gia nêu rõ đặc điểm của nước Mỹ trong khoảng thời gian giữa hai thế chiến như là một sự khủng hoảng tâm lý, mặc dù thời gian Mỹ dính líu trực tiếp đến chiến tranh tương đối ngắn (1917 – 1918) và thiệt hại của nó ít hơn nhiều so với những đồng minh châu Âu và những kẻ thù của nó. John Dos Passos đã diễn tả cái ảo tưởng tan vỡ của Mỹ sau chiến tranh trong cuốn tiểu thuyết Three Soldiers (Ba người lính – 1921), trong đó ông cho rằng nền văn minh là một “công trình khổng lồ của sự giả dối và chiến tranh, thay vì là đống tro tàn của nó, lại là sự diễn đạt sau cùng và đầy đủ nhất của cái gọi là văn minh”. Bị chấn động và đã vĩnh viễn thay đổi, người lính Mỹ trở về nhà nhưng không bao giờ lấy lại được sự ngây thơ trong sáng của mình.

Cả những người lính ra đi từ những miền quê của nước Mỹ cũng không dễ dàng trở về với cái trước đây đã là cội rễ trong cuộc sống của họ. Sau khi bôn ba khắp thế giới, nhiều người trong số họ giờ đây ước ao có được một cuộc sống tiện nghi hiện đại nơi thị thành. Những máy móc mới dùng trong nông nghiệp như máy trồng lúa, máy gặt, và máy bó đã giảm thiểu đáng kể nhu cầu về lao động nông nghiệp, tuy vậy dù sản phẩm gia tăng, nông dân vẫn nghèo. Giá nông sản, cũng như lương công nhân, tùy thuộc vào sức mạnh thị trường tự 150 151 do chịu ảnh hưởng nặng nề của các tập đoàn kinh doanh: trợ cấp của chính phủ cho nông dân và những nghiệp đoàn công nhân thực sự chưa được thiết lập. “Công việc chủ yếu của người dân Mỹ là kinh doanh”, tổng thống Calvin Coolidge tuyên bố vào năm 1925, và hầu hết mọi người đã đồng ý với ông.

Trong thời kỳ “bùng nổ lớn” sau chiến tranh, thương mại nở rộ, các nhà đầu tư gặt hái những thành công và tiền bạc còn vượt xa giấc mơ hoang đường nhất của họ. Lần đầu tiên, nhiều người dân Mỹ đăng ký học đại học, vào những năm 20, sinh viên đại học tăng gấp dôi. Tầng lớp trung lưu phát đạt; người dân Mỹ bắt đầu được hưởng lợi tức trung bình quốc gia cao nhất thế giới vào thời kỳ đó. Và nhiều người đã mua cho được vật tượng trưng cho địa vị xã hội cao nhất: chiếc xe hơi. Ngôi nhà của các gia đình Mỹ bậc trung điển hình ở thành phố đã sáng ánh điện và họ huênh hoang về chiếc radio đã nối nhà mình với thế giới bên ngoài. Ngoài ra, họ còn có thể có một cái điện thoại, một máy ảnh, một máy đánh chữ, hay một cái máy may. Giống như nhân vật thương gia trong cuốn Babbitt (1922) của Sinclair Lewis, các công dân Mỹ tán thưởng những cái máy này bởi vì chúng tân tiến và bởi vì hầu hết chúng là phát minh của người Mỹ và được sản xuất ở Mỹ.

Người dân Mỹ của “thập niên 20 sôi nổi” say mê các phương tiện giải trí hiện đại. Hầu như tất cả mọi người đều đi xem phim mỗi tuần một lần. Mặc dù có luật cấm sản xuất, vận chuyển và bán rượu được ban hành qua tu chính án thứ 18 – có hiệu lực vào đầu năm 1919, các quán rượu lậu và hộp đêm nơi trình diễn nhạc Jazz, bán cocktail, trình diễn các mốt quần áo táo bạo và những vũ điệu bốc lửa vẫn mọc lên như nấm. Xem phim, lái xe du ngoạn, khiêu vũ và máy thu thanh là những say mê điên cuồng của cả nước. Đặc biệt phụ nữ ở Mỹ cảm thấy được tự do. Nhiều người đã rời trang trại, làng quê làm nhiệm vụ cho tiền tuyến ở những thành phố lớn ở Mỹ trong Thế chiến I và đã lột xác hoàn toàn. Họ cắt tóc ngắn, mặc váy ngắn “phất phơ”, và hân hoan được quyền bỏ phiếu nhờ vào tu chính Hiến pháp thứ 19 được thông qua vào năm 1920. Họ mạnh dạn phát biểu những gì mình nghĩ và tham gia những công việc chung của xã hội.

Trong khi đó, thế hệ trẻ phương Tây thì nổi loạn, giận dữ và vỡ mộng với cuộc chiến tàn khốc, với thế hệ đi trước có trách nhiệm trong cuộc chiến tranh này, và với những điều kiện kinh tế khó khăn sau chiến tranh mà oái ăm thay lại cho phép người dân Mỹ với một ít đô la – như các nhà văn F. Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway, Gertrude Stein, và Ezra Pound sống ở nước ngoài một cách phong lưu, vương giả. Những trào lưu tri thức, đặc biệt là phân tâm học của Freud và ở một chừng mực ít hơn chủ nghĩa Mác (giống như thuyết tiến hóa thời kỳ đầu của Darwin), hướng tới một thế giới quan “vô thần” đã góp phần vào cuộc lật đổ những giá trị truyền thống. Người Mỹ ở hải ngoại tiếp thu những quan điểm này, đem chúng về Mỹ, nơi chôn rau cắt rốn của họ, kích thích trí tưởng tượng của các nhà văn và nghệ sĩ trẻ. Chẳng hạn William Faulkner, một tiểu thuyết gia Mỹ thế kỷ 20 đã sử dụng những yếu tố phân tâm học của Freud trong tất cả những tác phẩm của mình, cũng như hầu hết những nhà văn Mỹ nghiêm túc sau Thế chiến thứ I. Mặc dù có một vẻ bên ngoài sôi động, hiện đại và một cuộc sống vật chất dồi dào chưa từng có, giới trẻ Mỹ thập niên 20 vẫn thuộc về một “thế hệ lạc lõng” như Gertrude Stein – một người chuyên viết chân dung văn học – đã đặt tên. Thiếu một cơ cấu truyền thống, bền vững về giá trị làm người, người ta đánh mất luôn cái ý thức về bản thân. Một chỗ dựa của tổ ấm gia đình; một môi trường xã hội thân thuộc, ổn định; thiên nhiên và cái nhịp điệu vĩnh cửu của nó đã hướng dẫn việc gieo trồng và gặt hái trong các nông trại; ý thức yêu nước được bồi dưỡng thường xuyên; những giá trị 152 153 đạo đức được nhấn mạnh bởi niềm tin tôn giáo và sự chiêm nghiệm cá nhân -tất cả những điều đó dường như đã bị Chiến tranh thế giới thứ I và hậu quả của nó làm băng hoại.

Nhiều cuốn tiểu thuyết, đáng chú ý là The Sun Also Rises (Rồi mặt trời cũng mọc – 1925) của Hemingway và This Side of Paradise (Phía bên này thiên đường – 1920) của Fitzgerald vẽ ra sự phí phạm và những ảo mộng tan tành của thế hệ lạc lõng. Trong bài thơ dài gây nhiều ảnh hưởng của T. S. Eliot, The Waste Land (Cõi hoang tàn – 1922), một sa mạc trơ trụi cầu mưa trong tuyệt vọng (sự phục sinh tâm linh) là biểu tượng của nền văn minh phương Tây.

Cuộc khủng hoảng thế giới vào thập niên 30 đã tác động đến hầu hết dân chúng Mỹ. Công nhân mất việc làm, nhà máy đóng cửa, doanh nghiệp và ngân hàng vỡ nợ; nhà nông không thể gặt hái, vận chuyển, hay bán được nông sản, đã không thể trả nợ và đành để mất trang trại của mình. Hạn hán ở miền Trung Tây biến “vựa lúa” này của nước Mỹ thành một vùng sa mạc khổng lồ. Nhiều nông dân bỏ xứ đến California kiếm việc, như John Steinbeck mô tả một cách sống động trong The Grapes of Wrath (Chùm nho uất hận – 1939). Ở đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế, một phần ba người Mỹ bị mất việc. Cơm bố thí, những khu ổ chuột và những đoàn quân tìm việc – những người thất nghiệp đi lậu theo những chuyến tàu chở hàng để kiếm việc làm – trở thành một mảng trong đời sống đất nước. Nhiều người cho rằng cuộc khủng hoảng là sự trừng phạt cho tội sùng bái vật chất thái quá và lối sống buông thả. Họ tin rằng những cơn bão làm đen tối bầu trời miền Trung Tây tạo nên ngày phán xét trong Cựu ước: “Những cơn xoáy lốc giữa ban ngày và bóng đêm bao phủ giữa ban trưa”.

 Cuộc đại khủng hoảng làm đảo điên cả thế giới. Nước Mỹ đã rao truyền một kiểu Kinh thánh kinh doanh vào thập niên 20. Giờ đây nhiều người Mỹ ủng hộ một vai trò tích cực hơn của chính phủ thể hiện trong chương trình Biện pháp mới của Tổng thống Franklin Roosevelt. Tiền của liên bang tạo nên công việc ở các công trình công cộng, việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và điện khí hóa nông thôn. Nghệ sĩ và trí thức được trả lương để sáng tác những bích họa, và những cẩm nang cho các bang. Những biện pháp này đã có hiệu quả, nhưng chỉ có sự gia tăng đều đặn các ngành công nghiệp của Chiến tranh Thế giới Thứ hai mới làm sống lại sự thịnh vượng. Sau khi Nhật tấn công Mỹ ở Trân Châu cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, những xưởng đóng tàu và nhà máy trước đó đã phải đóng cửa lại sống dậy nhộn nhịp sản xuất hàng loạt tàu chiến, máy bay, xe Jeep và quân trang, quân dụng. Sản xuất và thử nghiệm phục vụ chiến tranh dẫn đến những kỹ thuật mới, gồm cả bom nguyên tử. Chứng kiến vụ thử nổ bom nguyên tử đầu tiên, Ropert Oppenheimer, người lãnh đạo nhóm các nhà khoa học nguyên tử quốc tế trích dẫn một bài thơ tiếng Hindi một cách đầy tiên tri: “Tôi đang biến thành Tử thần, kẻ đập tan tành thế giới”.

TRÀO LƯU HIỆN ĐẠI

Làn sóng văn hóa lớn của trào lưu Hiện đại diễn đạt ý thức về cuộc sống hiện đại qua các loại hình nghệ thuật như là một sự đoạn tuyệt dứt khoát với quá khứ cũng như là với các truyền thống cổ điển của nền văn minh phương Tây, đã từ từ trỗi dậy ở châu Âu và Mỹ vào những năm đầu của thế kỷ 20. Cuộc sống hiện đại hình như khác biệt một cách cơ bản với lối sống truyền thống – khoa học hơn, tốc độ hơn, kỹ thuật hơn và máy móc hơn. Chủ nghĩa hiện đại bao gồm luôn cả những thay đổi này.

Trong văn học, Gertrude Stein (1874 – 1946) đã phát triển một sự tương đồng với nghệ thuật hiện đại. Là một cư dân 154 155 Paris và một nhà sưu tập nghệ thuật (bà và người em trai Leo đã mua các tác phẩm của Paul Cézanne, Paul Gauguin, Pierre August Renoir, Pablo Picasso, và nhiều họa sĩ khác), Stein đã từng giải thích rằng bà và Picasso đang làm một công việc giống nhau, ông ta trong lĩnh vực hội họa và bà trong văn học. Sử dụng từ vựng cụ thể, đơn giản thay thế, bà phát triển một loại thơ văn xuôi thử nghiệm, trừu tượng. Tính chất trẻ thơ trong từ vựng đơn giản của Stein gợi nhớ những màu nguyên, tươi sáng trong hội họa hiện đại, còn sự lặp lại của bà âm vang những hình thể được lặp đi, lặp lại của những bố cục tạo hình trừu tượng. Bằng cách bố trí sai ngữ pháp và dấu chấm câu, bà đạt được những ý nghĩa “trừu tượng” mới như trong tập thơ gây nhiều ảnh hưởng của bà là Tender Buttons (Những chiếc cúc áo dịu dàng – 1914), nhìn sự vật từ các góc độ khác nhau, như trong một bức tranh lập thể:

Một cái bàn một cái bàn không phải của tôi
trìu mến nó nghĩa là tất cả sự đều đặn
Nó giống như một sự đổi thay. Một cái bàn.
có ý nghĩa nhiều hơn một cái ly
hơn cả một tấm gương soi cao vòi vọi

Ý nghĩa, trong tác phẩm của Stein, thường lệ thuộc vào kỹ thuật, cũng như chủ đề thì ít quan trọng hơn cái hình thức trong nghệ thuật tạo hình trừu tượng. Chủ đề và kỹ thuật trở nên không thể tách rời nhau trong nghệ thuật tạo hình lẫn văn học thời đó. Luận điểm cho rằng hình thức như là một cái gì tương đương với nội dung là một hòn đá tảng đặt nền móng cho văn học và nghệ thuật sau Thế chiến II, được kết tinh trong chính thời kỳ này.

Sự cải tiến kỹ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp và cơ giới đã khơi gợi cảm hứng cho sự quan tâm mới đến kỹ thuật trong nhiều ngành nghệ thuật. Một thí dụ: Ánh sáng và đặc biệt là ánh sáng điện đã lôi cuốn nhiều nghệ sĩ và nhà văn hiện đại.

Bích chương quảng cáo thời kỳ này tràn ngập những hình ảnh về các ngôi nhà chọc trời rực rỡ ánh đèn và những chùm tia sáng chiếu ra từ đèn xe ô tô, rạp chiếu bóng, và những tháp canh để rọi sáng một không gian tối tăm bị cấm đoán bên ngoài, ám chỉ sự ngu dốt và truyền thống lỗi thời.

Nhiếp ảnh bắt đầu có được vị trí của một ngành nghệ thuật đi liền với những phát triển khoa học mới nhất. Nhiếp ảnh gia Alfred Stieglitz mở một phòng triển lãm ở New York. Và khoảng trước 1908 ông trưng bày các tác phẩm châu Âu mới nhất, bao gồm tranh của Picasso và những người bạn châu Âu khác của Gertrude Stein. Phòng triển lãm của Stieglitz tác động đến nhiều nhà văn và nghệ sĩ trong đó có William Carlos Williams, một trong những nhà thơ Mỹ nổi tiếng của thế kỷ 20. Williams đã tiếp nhận và phát triển độ trong sáng của nghệ thuật nhiếp ảnh trong hình tượng. Châm ngôn nghệ thuật của ông là “không có tư tưởng trừ phi là trong sự vật”.

Tầm nhìn và quan điểm cũng đã trở thành một khía cạnh thiết yếu của tiểu thuyết theo trào lưu hiện đại. Không còn phù hợp nữa cái lối kể thẳng tuột một câu chuyện dùng nhân vật ngôi thứ ba (hoặc tệ hơn) người kể chuyện can thiệp một cách vô nghĩa lý vào mọi chuyện. Cách kể chuyện trở nên cũng quan trọng như chính câu chuyện vậy.

Henry James, William Faulkner và nhiều nhà văn Mỹ khác thử nghiệm những quan điểm hư cấu (nhiều người vẫn còn đang làm như vậy). James thường hạn chế thông tin trong cuốn tiểu thuyết vào những gì mà một nhân vật riêng lẻ có lẽ đã biết. Cuốn tiểu thuyết The Sound and the Fury(Âm thanh và cuồng nộ – 1929) của Faulkner phân chia câu chuyện thành 4 156 157 phần, mỗi phần đưa ra cái nhìn của một nhân vật khác nhau (trong đó có một cậu bé tâm thần chậm phát triển).

Để phân tích tiểu thuyết và thơ ca trào lưu hiện đại, một trường phái “phê bình mới” xuất hiện ở Mỹ. Với cách sử dụng ngôn ngữ phê bình mới, các nhà phê bình này săn lùng “sự chứng ngộ” (một khoảnh khắc trong đó một nhân vật đột nhiên ngộ ra chân lý siêu phàm của một tình huống, “sự chứng ngộ” (epiphany) là một từ xuất phát từ sự xuất hiện của một vị thánh trước mắt những kẻ phàm trần); họ “nghiên cứu” và “làm sáng tỏ” một tác phẩm, hi vọng “soi sáng “ nó qua khả năng “thấu thị” của họ.

THƠ CA THỜI KỲ 1914 – 1945 NHỮNG THỂ NGHIỆM HÌNH THỨC

Ezra Pound 
(1885 – 1972)

Ezra Pound là một trong những nhà thơ Mỹ có nhiều ảnh hưởng nhất trong thế kỷ này. Từ năm 1908 đến 1920, ông sống ở London, giao du với nhiều văn sĩ, trong đó có William Butler Yeats – nhà thơ Anh nổi tiếng mà ông từng làm thư ký và T. S. Eliot, tác giả của cuốn The Waste Land mà ông biên tập và hiệu đính một cách nghiêm túc. Ông là cầu nối giữa nước Mỹ và nước Anh với tư cách là một chủ bút cộng tác cho tờ tạp chí Poetry quan trọng ở Chicago của Harriet Monroe. Ông cũng là con chim đầu đàn của một trường phái mới trong thơ ca được biết đến dưới tên gọi Chủ nghĩa hình tượng ủng hộ một lối biểu đạt rõ ràng, sinh động có tính hình tượng cao. Sau Chủ nghĩa hình tượng, ông là người đi đầu ở nhiều lối tiếp cận thơ ca khác nhau. Cuối cùng ông sang Ý sống, rồi bị mắc kẹt dưới chế độ Phát xít Ý.

Pound phát triển lý luận về chủ nghĩa hình tượng trong thư từ, tiểu luận, và trong một tuyển tập. Trong lá thơ gửi cho Monroe vào năm 1915, ông tranh luận cho một trường phái thơ có âm hưởng hiện đại, giàu chất tạo hình, tránh “rập khuôn và sáo ngữ” (1913). Trong “A Few Don’ts of an Imagiste” (Một số điều không nên làm đối với một tác giả theo chủ nghĩa hình tượng – 1913), ông định nghĩa “hình tượng” như một cái gì đó diễn đạt sự phức hợp tri thức và xúc cảm trong một khoảnh khắc thời gian. Tuyển tập năm 1914 tựa đề Des Imagistes (Các nhà thơ theo trường phái Hình tượng) của Pound về 10 nhà thơ đã giới thiệu những ví dụ về thơ hình tượng của những nhà thơ nổi tiếng như William Carlos Williams, H. D. (Hilda Doolittle) và Amy Lowell.

Mối quan tâm và tầm hiểu biết của Pound hết sức rộng lớn, bao quát nhiều lĩnh vực. Các tác phẩm phóng tác, các bản dịch xuất sắc của ông dù đôi chỗ còn sai sót, đã giới thiệu tiềm năng văn học mới từ các nền văn hóa cho các nhà văn trẻ. Tác phẩm mà ông dành trọn đời mình để viết và xuất bản cho đến tận ngày chết là The Cantos (Những bài ca). Cuốn sách có những đoạn xuất sắc, nhưng những điển tích văn chương và nghệ thuật của nhiều thời kỳ và nhiều nền văn hóa đã khiến tác phẩm trở nên rối rắm, khó hiểu. Thơ của Pound nổi tiếng về những hình tượng sống động rõ ràng, có tính chất tạo hình cao, tiết tấu mới mẻ, và những dòng thơ bất thường, thông minh và mạnh mẽ, chẳng hạn như câu sau đây trong bài “Canto LXXXI”, “Con kiến là một quái vật nhân mã đầu trong thế giới rồng của nó”, hoặc trong những bài thơ lấy cảm hứng từ thơ haiku, Nhật Bản, như là “In a Station of the Metro” (Ở một ga điện ngầm – 1916):

Sự xuất hiện những khuôn mặt này trong đám đông;
Tựa những cánh hoa trên một cành cây đen, ẩm ướt.

T.S. Eliot
(1888 -1965)

Thomas Stearn Eliot sinh ở St. Louis bang Missouri trong một gia đình danh gia vọng tộc ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ. Ông được hưởng một nền giáo dục tốt nhất so với bất cứ nhà văn lớn nào cùng thời. Ông học ở Đại học Harvard, Sorbonne và trường Merton của Đại học Oxford. Ông còn học tiếng Phạn và triết học phương Đông, một hệ tư tưởng ảnh hưởng nhiều đến thơ ông. Giống như Pound, một người bạn của mình, ông đến London rất sớm và trở thành chủ soái của Tao đàn văn chương ở đây. Ông là một trong những nhà thơ được trọng vọng nhất lúc sinh thời. Thơ ông hiện đại, có vẻ như phi lý và trừu tượng, thực sự là một dòng thơ dấn thân, lật đổ mọi khuôn vàng thước ngọc và có tác động cách mạng trong thơ ca. Ông cũng viết tiểu luận và kịch gây nhiều ảnh hưởng. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của các truyền thống xã hội và văn học đối với nhà thơ hiện đại.

Với tư cách là một nhà phê bình, Eliot nổi tiếng với công thức của ông về “mối liên hệ khách quan” mà ông đã mô tả trong cuốn The Sacred Wood (Rừng thiêng) như là một phương tiện diễn đạt cảm xúc thông qua “một tập hợp các sự vật, một tình huống và một chuỗi các sự kiện”, có thể trở thành công thức cho cảm xúc đặc biệt đó. Những bài thơ như “The Love Song of J. Alfred Prufrock” (Bản tình ca của J. Anfred Prufrock – 1915), thể hiện cách tiếp cận này. Lúc Prufrock già nua, vô dụng, ông cho rằng ông đã “đong lượng cuộc đời mình bằng những chiếc muỗng café”. Vậy đấy, người ta có thể dùng muỗng café để phản ánh sự tồn tại hẩm hiu, ảm đạm về một đời người lãng phí như thế đấy.

Trong đoạn mở đầu nổi tiếng của bài thơ “Prufrock”, Eliot đưa độc giả vào các lối ngõ hào nhoáng, cũng giống như cuộc sống hiện đại, không có câu trả lời cho những vấn đề mà chính cuộc đời đặt ra.

Nào chúng ta đi, anh và tôi.
Khi bóng chiều lan tỏa khắp bầu trời
Như một bệnh nhân bị gây mê trên bàn mổ,
Nào chúng ta đi, qua những con đường gần như hoang vắng,
Những nơi ẩn cư lặng lẽ
Của những đêm không ngủ trôi qua trong những khách sạn rẻ tiền
chỉ trọ một đêm
Và những quán ăn đầy mùn cưa với những vỏ sò;
Những con đường chạy như một cuộc tranh luận dài buồn tẻ
Có ý định xảo quyệt
Đưa anh đến một vấn đề nan giải
Ồ, đừng hỏi, “Cái gì đấy?”
Nào chúng ta hãy đi thăm!

Những hình tượng tương tự như vậy cũng tràn ngập trong The Waste Land (Cõi hoang tàn[1] – 1922) vọng lại cái âm hưởng địa ngục của Dante ám chỉ những con đường đông đúc của London trong khoảng thời gian Thế chiến I:

Thành phố không có thật,
Dưới màn sương nâu một bình minh mùa đông
Đám đông tràn qua cầu London, sao nhiều thế
Tôi đã không nghĩ rằng cái chết đã tàn hủy nhiều
đến thế…
(I, 60-63)

Cái nhìn của The Waste Land thực chất có tính cách tiên tri và tầm bao quát khắp thế giới:

Những rạn nứt những cải tổ và bùng nổ
trong không gian tím nhạt
Đổ sụp những tháp cao
Ở Jerusalem, Athens và Alexandria
Vienna, London.
Đâu có thật
(V, 373 -377)

Những bài thơ quan trọng khác của Eliot gồm có “Gerontion” (Cảnh già – 1920), dùng hình ảnh một ông lão làm biểu tượng cho sự cằn cỗi, già nua của xã hội châu Âu. “The Hollow Men” (Những con người rỗng – 1925) là một bài ca truy điệu hết sức cảm động về cái chết tinh thần của nhân loại đương thời. Ash-Wednesday (Ngày thứ tư lễ tro – 1930) thể hiện tư tưởng của ông dứt khoát hướng về Giáo hội Anh giáo để tìm ý nghĩa trong cuộc sống con người. Và Four Quartets (Bốn tứ tấu khúc – 1943) là một suy ngẫm thử nghiệm phức tạp và chủ quan cao độ về những chủ đề muôn thuở như thời gian, bản chất của cái tôi và nhận thức tâm linh. Thơ của ông, đặc biệt là những tác phẩm táo bạo, cách tân thời kỳ đầu đã ảnh hưởng đến nhiều thế hệ sau đó.

Robert Frost
(1874 -1963)

Robert Lee Frost sinh ở California nhưng lớn lên ở một trang trại vùng Đông Bắc Hoa Kỳ cho đến năm 10 tuổi. Cũng như Eliot và Pound, ông sang Anh, bị lôi cuốn bởi các phong trào mới mẻ trong làng thơ ở đó. Là một nhà thơ đọc thơ trước công chúng có tài năng bẩm sinh, ông gặt hái nhiều thành công qua những chuyến đi của mình. Ông đã đọc một bài thơ độc đáo trong lễ nhậm chức của Tổng thống Kennedy vào năm 1961 góp phần làm bùng lên sự quan tâm đến thi ca trong cả nước. Sự nổi danh của ông cũng dễ giải thích, ông viết về đời sống trang trại truyền thống, khêu gợi hoài niệm về những gì đã qua. Thơ của ông quan tâm đến mọi tạo vật trong đời sống –hái táo, những bức tường đá, hàng rào, những con đường quê. Thi pháp của Frost trong sáng và biểu cảm: ông hiếm khi dùng những ám chỉ bóng gió rởm đời hay sự tỉnh lược. Thơ ca có vần điệu của ông cũng là một yếu tố lôi cuốn được độc giả đại chúng.

Tác phẩm của Frost thường có vẻ bề ngoài rất đơn giản. Nhiều bài thơ gợi lên ý nghĩa sâu xa. Ví dụ, bằng một sự phối hợp vần gần như thôi miên trong mô tả về một chiều tối đầy tuyết rơi, yên tĩnh, Frost đã gợi nên bước đi hoàn toàn không phải là không được chờ đợi của cái chết. Đây là một đoạn trong “Stopping by Woods on a Snowy Evening” (Dừng chân bên cánh rừng một chiều tuyết rơi – 1923):

Cánh rừng này của ai mà ta nghĩ rằng mình đã biết.
Dù cho nhà của ông ta ở giữa làng;
Ông sẽ chẳng thấy ta nghỉ lại nơi đây
Để nhìn cánh rừng ông tuyết phủ đầy
Con ngựa nhỏ của ta chắc nghĩ rằng ta thật lạ
Dừng chân nơi đây không thấy bóng một ngôi nhà
Giữa cánh rừng và mặt hồ băng giá
Vào một buổi chiều đen tối nhất trong năm.
Nó rung những cái chuông trong bộ yên cương
Như muốn hỏi xem có sự bất thường
Chỉ có một âm thanh nhẹ lướt
Của ngọn gió chiều và những đóa tuyết rơi
Cánh rừng sao mà đáng yêu, thẳm sâu dần sẫm lại
Nhưng ta còn nhiều lời hứa phải giữ mãi
Còn nhiều dặm đường phải đi, trước khi ta ngủ lại
Còn nhiều dặm đường phải đi, trước khi ta ngủ lại.

Wallace Stevens
(1879 -1955)

Sinh ra ở Pennsylvania, Wallace Stevens được đào tạo ở Đại học Harvard và trường Luật, Đại học New York. Ông hành nghề luật sư ở New York từ năm 1904 đến 1916, cũng là khoảng thời gian ông tham gia các hoạt động nghệ thuật và thi ca ở đó. Khi dời đến Hartford bang Connecticut, để làm một nhà điều hành bảo hiểm ở đây vào năm 1916, ông lại tiếp tục làm thơ. Cuộc đời của ông quả là khác thường vì sự phân thân của nó: Đồng sự của ông trong công ty bảo hiểm không hề biết ông là một nhà thơ lớn. Trong đời sống riêng tư, ông tiếp tục phát triển những tư tưởng cực kỳ phức tạp về một trật tự thẩm mỹ, một công việc ông đã tiến hành suốt cuộc đời được thể hiện trong những cuốn sách được đặt tên một cách thích hợp nhưHarmonium (Đàn đạp hơi, ấn bản năm 1931 được bổ sung thêm), Ideas of Order (Ý tưởng của trật tự – 1935), và Parts of a World (Các phần của thế giới – 1942). Những bài thơ hay nhất của ông là “Sunday Morning” (Sáng chủ nhật), “Peter Quince at the Clavier” (Peter Quince[2] bên phím đàn), “The Emperor of Icecream” (Hoàng đế kem), “Thirteen Ways of Looking at a Blackbird” (Mười ba cách ngắm nhìn một con chim đen) và “The Idea of Order at Key West” (Ý tưởng về trật tự ở Key West[3]).

Thơ của Stevens đào sâu những chủ đề của trí tưởng tượng, sự cần thiết của hình thức thẩm mỹ và niềm tin rằng trật tự của nghệ thuật tương hợp với một trật tự trong tự nhiên. Từ ngữ của ông phong phú và đa dạng: bút pháp của ông vẽ được những cảnh sắc nhiệt đới rực rỡ trăm hoa khoe sắc nhưng cũng tạo ra được những hình trang trí nhỏ khô khan, khôi hài và mai mỉa.

Một số bài thơ của ông sử dụng văn hóa dân gian, trong khi những bài thơ khác chế giễu giới quý phái hoặc bay thẳng lên thiên đường trí thức. Ông nổi tiếng bởi lối chơi chữ vui nhộn của mình. “Rồi, với âm thanh như của cái trống lục lạc, đám dân Byzantine tùy tùng của cô xuất hiện”.

Thơ của Stevens dồi dào những chiêm nghiệm nội tâm, sâu sắc một cách đáng kinh ngạc. Đôi lúc ông còn trêu đùa độc giả, như trong “Disillusionment of Ten O’Clock” (Vỡ mộng lúc 10 giờ – 1931):

Những ngôi nhà ma ám
Bởi những chiếc áo ngủ trắng
Không có cái nào màu xanh lá cây
Hay màu tím với những vòng tròn xanh
Hay màu xanh với những vòng tròn vàng
Hay màu vàng với những vòng tròn xanh da trời
Chúng chẳng xa lạ gì
Với những chiếc vớ ren
Những dây lưng tua rủ
Người ta sẽ không
Mơ về những con khỉ chó và đóa hoa nhạn lai hồng
Chỉ có đây kia một thủy thủ già
Say xỉn và ngủ vùi trong khoang hành lý
Bắt những con cọp to
Trong tiết trời rực đỏ

Bài thơ này có vẻ như than phiền về những cuộc đời quá trần tục thiếu hẳn tính bay bổng tưởng tượng (những chiếc áo ngủ trắng trơn), nhưng lại khơi dậy những hình ảnh sinh động trong đầu độc giả. Cuối cùng anh chàng thủy thủ say, chẳng biết gì đến phép tắc lại “bắt được những con hổ” – ít nhất thì cũng trong giấc mơ của anh. Bài thơ cho thấy óc tưởng tượng của con người – của độc giả hay thủy thủ – sẽ luôn tìm được một lối đi đầy sáng tạo.

William Carlos Williams
(1883 – 1963)

William Carlos Williams là một bác sĩ nhi khoa hành nghề trong suốt cuộc đời. Ông giúp hơn 2000 đứa trẻ chào đời và làm thơ trên giấy kê đơn thuốc. Williams là bạn học của nhà thơ Ezra Pound và Hilda Doolittle, và những bài thơ đầu tay của ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Hình tượng. Sau này ông tiếp tục đi đầu trong việc sử dụng ngôn ngữ nói trong thi ca. Khả năng thẩm âm tuyệt vời của ông đối với nhịp điệu tự nhiên của tiếng Anh – Mỹ đã giúp thơ ca Mỹ thoát khỏi nhịp iambic[4] thống trị thơ ca tiếng Anh kể từ thời Phục hưng. Sự cảm thông của ông đối với người lao động bình thường, trẻ con và những chuyện đời thường trong những khung cảnh đô thị hiện đại khiến cho thơ của ông đặc biệt lôi cuốn và dễ cảm thụ. Bài thơ The Red Wheelbarrow (Chiếc xe đẩy màu đỏ 1923), giống như một bức tranh tĩnh vật Hà Lan, tìm thấy sự thú vị và vẻ đẹp trong những đồ vật bình dị hàng ngày:

Quá nhiều phụ thuộc
vào
chiếc xe đẩy
màu đỏ
phủ một lớp nước
mưa
bên cạnh con gà
trắng

Williams phát triển phong cách thơ tự nhiên, nhẹ nhàng như hơi thở. Dưới ngòi bút của ông, thơ ca không trở thành một tác phẩm nghệ thuật toàn bích như trong thơ Stevens, hay cẩn thận tái tạo lại những biến cố theo phong cách Wordsworth như trong thơ Frost. Đối với ông, mỗi bài thơ sẽ nắm bắt một khoảnh khắc trong đời như một tấm hình chụp ngẫu hứng – một khái niệm ông có từ những nhiếp ảnh gia và họa sĩ ông đã gặp ở những phòng tranh như của Stieglitz ở New York. Cũng như tác phẩm nhiếp ảnh, những bài thơ của ông thường gợi ý tới những khả năng và sự quyến rũ tiềm ẩn của cuộc sống, như trong bài “The Young Housewife” (Bà nội trợ trẻ – 1917).

Mười giờ sáng, người vợ trẻ đi qua lại trong
tấm áo ngày thường sau bức vách gỗ
trong ngôi nhà của đấng phu quân
Tôi lướt qua trong chiếc xe hơi, nghe lòng cô đơn lạ.
Rồi nàng ta ra phố
gọi một anh bán kem, một người bán cá
lại đứng chờ
Rụt rè, không áo nịt, tay cố giữ những lọn tóc rối bay
và tôi ngầm so nàng
với một chiếc lá rơi.
Xe tôi lao đi không tiếng động làm vỡ
một chiếc lá khô khi tôi cúi chào
nàng và lướt đi
với một nụ cười.

Ông cho rằng thơ mình hết sức “khách quan” nhằm đề cao tầm quan trọng của những vật thể sinh động, cụ thể. Thơ ông thành công trong nắm bắt và thể hiện những sự kiện gây xúc cảm, tác động tức thời và tạo ảnh hưởng đến phong cách “Beat” vào đầu thập niên 50.

Cũng như Eliot và Pound, Williams cũng thử viết sử thi, nhưng trong lúc sử thi của họ sử dụng nhuần nhuyễn các điển tích hướng đến một số ít độc giả có học vấn cao, thì Williams lại ưa viết cho độc giả phổ thông hơn. Dù từng học tập ở nước ngoài, ông đã quyết định sống ở Mỹ. Thiên sử thi Paterson (5 tập, 1946 – 1958) ca ngợi thành phố quê hương Paterson, bang New Jersey của ông, được xem như tiểu sử tự thuật của “bác sĩ Parteson”. Trong tác phẩm, Williams xếp đặt cạnh nhau những đoạn tình ca, văn xuôi, thư từ, tiểu sử tự thuật, những bài báo và những sự kiện lịch sử. Lối trình bày với nhiều khoảng trống để giấy trắng, gợi nên chủ đề về con đường rộng mở của văn học Mỹ và một ý niệm về những viễn cảnh mới mở rộng ngay cả với những người nghèo đi dạo chơi trong công viên vào ngày chủ nhật.

Cũng như nhân vật hóa thân của Whitman trong Leaves of Grass, bác sĩ Paterson cảm thấy hoàn toàn thoải mái giữa những người lao động:

·        mùa xuân muộn
một chiều chủ nhật!
theo lối mòn đến bờ vách đá
chính anh ta giữa những người xa lạ
·        dẫm lên đây cũng những tảng đá này
và trên đó, họ trượt chân khi bước
168 169
những con chó của họ đuổi theo!
cười la, gọi nhau í ới
Chờ tôi với!
(II, i, 14 – 23)

VĂN HỌC GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI

Robinson Jeffers
(1887 – 1962)

Phần lớn các nhà thơ Mỹ vào loại tầm cỡ và có nhãn quan thiên tài đều xuất hiện vào những năm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, trong số họ có các nhà thơ từ vùng Bờ Tây, phụ nữ, và người Mỹ Da đen. Giống như nhà văn John Steinbeck, Robinson Jeffers sống ở California và viết về những người Tây Ban Nha làm thuê trong các trang trại, dân Da đỏ và những truyền thống pha trộn của họ và về vẻ đẹp mê hoặc của vùng đất này. Học hỏi từ những tác phẩm cổ điển và đọc nhiều về Freud, ông đã khai thác và tái tạo những chủ đề dựa trên bi kịch cổ đại Hy Lạp lấy bối cảnh là phong cảnh hoang sơ vùng duyên hải. Ông rất nổi tiếng với những bi kịch tự sự như Tamar (1924), Roan Stallion (1925), The Tower Beyond Tragedy (Tháp vượt ngoài bi kịch – 1924) – một sự tái tạo vở bi kịch Agamemnon[5] của Aeschylus – và Medea[6] (1946), dựa vào bi kịch của Euripides.

Edward Estlin Cummings 
(1894 – 1962) 

Edward Estlin Cummings, thường được biết đến dưới tên e. e. cummings – người đã viết những vần thơ lôi cuốn, mới mẻ hết sức nổi bật bởi tính hài hước, sự duyên dáng, niềm hân hoan đối với tình yêu, sự lãng mạn đa tình, và sự thể nghiệm với cách chấm câu và kiểu cách tạo hình trên trang giấy. Cũng là một họa sĩ, ông là nhà thơ Mỹ đầu tiên nhận ra rằng thơ ca chủ yếu là một nghệ thuật để nhìn bằng mắt chứ không phải thứ để đọc bằng miệng. Những bài thơ của ông sử dụng nhiều khoảng trống và cách xuống dòng bất thường, cũng như việc bỏ hết những chữ viết hoa.

Cũng như Williams, Cummings cũng dùng ngôn ngữ nói, hình tượng sắc sảo mạnh bạo, và kho ngôn từ của nền văn hóa bình dân. Và cũng như Williams, ông có một cách trình bày sáng tạo, tự do. Bài thơ “in Just” của ông (1920) mời gọi độc giả điền vào nó những ý tưởng bị rơi mất:

mùa xuân khi thế giới ngập bùn –
ngọt ngào người bán bóng bay bé nhỏ
chân khập khiễng
huýt sáo xa và nhỏ
rồi bọn trẻ con chạy đến
[7]
chơi trò bắn bi và bắt cướp
và thế là
xuân đến

Hart Crane
(1899 -1932)

Hart Crane là một nhà thơ trẻ bị dày vò đau khổ đến mức phải tự tử vào tuổi 33 bằng cách nhảy xuống biển. Ông để lại những bài thơ xuất sắc trong đó có một sử thi The Bridge (Cây cầu – 1930), lấy cảm hứng từ cây cầu Brooklyn, trong đó ông cố gắng một cách đầy tham vọng để điểm lại toàn bộ nền văn hóa Mỹ và viết lại về nó bằng những lời lẽ xác tín. Phong cách quyến rũ, đầy nhiệt tình của ông đạt hiệu quả cao nhất trong những bài thơ ngắn như là “Voyages” (Những chuyến du hành – 1923, 1926) và “At Melville’s Tomb” (Bên ngôi mộ của Melville – 1926), mà những câu kết trong bài thơ cũng là một câu thích hợp khắc ghi trên chính bia mộ của Crane:

bài ai điếu không đánh thức được người
thủy thủ
Bóng mát hoang đường này chỉ biển khơi giữ được

Marianna Moore
(1887 -1972)

Marianna Moore từng viết rằng thơ ca là “những khu vườn tưởng tượng trong đó có những con ếch thật”. Những bài thơ của bà là một cách để bà đàm đạo, nhưng lại khéo léo và tinh tế trong cách gieo vần, cực kỳ chính xác trong mô tả và trong việc tái hiện các sự kiện khoa học và lịch sử. Được mệnh danh là “nhà thơ của nhà thơ”, bà ảnh hưởng đến các nhà thơ đi sau, trong đó có người bạn trẻ của bà là Elizabeth Bishop.

Langston Hughes
(1902 -1967)

Một trong nhiều nhà thơ tài năng của trường phái Phục hưng Harlem vào thập kỷ 20 -cùng với James Weldon Johnson, Claude McKay, Countee Cullen và những người khác – là Langston Hughes. Ông đưa vào thơ mình nhịp điệu nhạc Jazz của người Mỹ Da đen và là một trong những tác gia Da đen đầu tiên sống khá giả nhờ viết lách. Thơ của ông là sự kết hợp tuyệt vời giữa nhạc Blue, thánh ca, ngôn ngữ trò chuyện và truyền thống dân gian.

Là một nhà hoạt động văn hóa có nhiều ảnh hưởng, Hughes xuất bản nhiều tuyển tập của các tác giả Da đen và khởi xướng các nhóm kịch nghệ Da đen ở Los Angeles và Chicago cũng như ở New York. Ông cũng viết nhiều bài báo có tác động sâu sắc, sáng tạo ra nhân vật Jesse B. Semple (“đơn giản”) để bày tỏ những luận điểm phê phán xã hội. Một trong những bài thơ đáng yêu nhất của ông, bài “The Negro Speaks of Rivers” (Người Da đen nói chuyện với các dòng sông – 1921, 1925) là một trường ca lớn, cuộn chảy trong lòng nó di sản châu Phi và của toàn nhân loại. Bài thơ ngụ ý rằng như những con sông lớn trên thế giới, nền văn hóa Phi châu sẽ tồn tại và ngày càng sâu thẳm:

Tôi biết những dòng sông:
Tôi biết những dòng sông cổ xưa như trái đất và
già hơn dòng máu của nhân gian trong
huyết quản con người

Tâm hồn tôi trở nên sâu thẳm như những dòng sông
Tôi tắm trong dòng sông Euphrates trong bình minh son trẻ
Và dựng lều tôi gần dòng Congo
rồi nó ru tôi vào giấc ngủ
Tôi nhìn xuống dòng sông Nile và
dựng lên những Kim tự tháp trên chính dòng sông
Tôi đã nghe tiếng hát con sông Mississippi
Khi Abe Lincoln xuôi dòng xuống New Orleans,
và tôi thấy lòng sông bùn lầy
trở nên vàng óng ả bởi hoàng hôn.

Tôi biết những dòng sông
Những dòng sông cổ xưa và mờ tối
Tâm hồn tôi bỗng trở nên sâu thẳm như những dòng sông

VĂN XUÔI 1914 – 1945 CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC MỸ

Mặc dầu văn xuôi Mỹ giữa hai cuộc đại chiến trải qua nhiều cuộc thử nghiệm với quan điểm và hình thức mới, nhìn toàn cục, người Mỹ có xu hướng viết văn bằng một cái nhìn hiện thực hơn các nhà văn châu Âu. Tiểu thuyết gia Ernest Hemingway viết về chiến tranh, săn bắn, và những theo đuổi khác nhau của giới mày râu với một văn phong trong sáng gần như giản đơn. William Faulkner lấy bối cảnh của vùng Mississippi nóng bỏng và cát bụi để đào sâu các vấn đề của nhiều thế hệ và nhiều nền văn hóa trong những cuốn tiểu thuyết miền Nam đầy sức mạnh của ông, và Sinclair Lewis miêu tả cuộc sống trưởng giả với sự trong sáng mỉa mai.

Tầm quan trọng của việc đối mặt với thực tế trở thành một chủ đề nổi bật vào những thập kỷ 20 và 30. Những nhà văn như Scott Fitzgerald và nhà viết kịch Eugene O’Neil mô tả trở đi trở lại cái bi kịch chờ đợi những ai sống với những giấc mơ hời hợt, nông cạn.

F. Scott Fitzgerald
(1896 – 1940)

Cuộc đời của Francis Scott Key Fitzgerald giống như một câu chuyện cổ tích. Trong thời gian thế chiến thứ I, ông gia nhập bộ binh Hoa Kỳ và say mê một cô gái vừa đẹp, vừa giàu có tên là Zenda Sayre, sống gần Montgomery, Alabama, nơi ông đóng quân. Một thời gian sau Zelda hủy bỏ việc đính hôn vì ông nghèo. Sau chiến tranh ông giải ngũ và đến New York tìm kiếm cơ may ở nghiệp văn chương để có thể cưới người trong mộng.

Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông This Side of Paradise (Phía bên này Thiên đàng 1920), gây được tiếng vang, bán rất chạy và ở vào tuổi 24 họ lấy nhau. Cả hai người đều không có khả năng chịu đựng được những sức ép của sự thành công và danh tiếng. Họ thi nhau ném tiền qua cửa sổ. Rồi họ sang Pháp năm 1924 để tiết kiệm chi tiêu và bảy năm sau trở về Mỹ. Thần kinh Zelda trở nên bất ổn và phải nhập viện điều trị; bản thân Fitzgerald trở thành một kẻ nát rượu và chết trẻ trong khi đang viết kịch bản phim.

Fitzgerald có được vị trí vững vàng trong văn đàn Mỹ chủ yếu nhờ vào cuốn tiểu thuyết The Great Gatsby (Gatsby vĩ đại – 1925), một câu chuyện được viết bằng một ngòi bút trác tuyệt với cấu trúc chặt chẽ về giấc mơ Mỹ của một người muốn đạt đến thành công bằng chính sức mình. Nhân vật chính, Jay Gatsby bí ẩn, đã nhận ra cái giá đắt kinh khủng của thành công hiểu theo nghĩa thành đạt cá nhân và tình yêu. Các tác phẩm thuộc vào loại hay khác bao gồm Tender Is the Night (Đêm dịu dàng – 1934), về một nhà phân tâm học trẻ bị đày đọa trong cuộc sống vợ chồng với một người đàn bà tính khí thất thường, và một vài truyện ngắn trong tuyển tập Flappers and Philosophers (Những cô gái tân tiến và các nhà triết học – 1920), Tales of the Jazz Age (Truyện kể về thời đại nhạc Jazz – 1922) và All the Sad Young Men (Tất cả những chàng trai sầu thảm – 1926). Hơn bất kỳ một nhà văn nào khác, Fitzgerald nắm bắt được cuộc sống vô vọng, bất định của thập niên 20. Cuốn tiểu thuyết The Side of Paradise của ông báo hiệu tiếng nói của giới trẻ hiện đại Mỹ. Cuốn tiểu thuyết thứ hai của ông The Beautiful and Damned (Người đẹp và kẻ đọa đầy – 1922), tiếp tục khám phá sự ngông cuồng tự hủy hoại mình của con người trong thời đại ông.

Những phẩm chất đặc biệt của Fitzgerald bao gồm một phong cách chói sáng hoàn toàn thích hợp với chủ đề của ông về sự hào nhoáng cám dỗ. Một đoạn nổi tiếng từ The Great Gastby đã tóm tắt một cách tài tình một khoảng thời gian dài:

“Nhạc vọng lại từ ngôi nhà của người hàng xóm trong suốt những đêm hè. Trong những khu vườn xanh tốt của ông, những người đàn ông và các cô gái đến và đi như đàn mối giữa tiếng thầm thì, rồi rượu sâm banh và những ngôi sao”.

Ernest Hemingway
(1899 -1961)

Ít có nhà văn nào sống cuộc đời sống động, thú vị và nhiều mặt như Ernest Hemingway, một người mà sự nghiệp cứ như thoát thai từ một trong những cuốn tiểu thuyết phiêu lưu của mình. Cũng như Fitzgerald, Dreiser và nhiều tiểu thuyết gia tài năng khác của thế kỷ 20, Hemingway xuất thân vùng Trung Tây Hoa Kỳ. Sinh ở Illinois, Hemingway trải qua thời thơ ấu tươi vui với những chuyến đi săn và câu cá trong những kỳ nghỉ hè ở Michigan. Ông tình nguyện vào một đơn vị cứu thương ở Pháp trong Thế chiến I, rồi bị thương và phải điều trị sáu tháng. Sau chiến tranh ông làm phóng viên thời chiến thường trú ở Paris. Ở đây ông đã gặp nhiều nhà văn Mỹ xa xứ như Sherwood Anderson, Ezra Pound, F. Scott Fitzgerald, và Gertrude Stein. Đặc biệt, Stein đã ảnh hưởng lớn đến phong cách viết văn giản dị của ông.

Sau cuốn The Sun Also Rises (1926) mang lại thành công vang dội, ông viết bài tường thuật về cuộc nội chiến Tây Ban Nha, Chiến tranh thế giới thứ II, và chiến sự ở Trung Quốc vào thập niên 40. Trong một cuộc đi săn ở một hoang mạc châu Phi, chiếc máy bay của ông bị tai nạn và ông bị thương nặng. Tuy thế, ông vẫn ham thích săn bắn và câu cá thể thao, những hoạt động tạo nguồn cảm hứng cho những tác phẩm xuất sắc của ông. The Old Man and The Sea (Ông già và biển cả – 1952), một cuốn tiểu thuyết ngắn, thi vị về một ông lão đánh cá nghèo, dũng cảm bắt được một con cá khổng lồ rồi nó bị đàn cá mập rỉa sạch thịt, đã mang lại cho ông giải thưởng Pulitzer vào năm 1953; năm sau ông nhận được giải Nobel. Bệnh tật, nền tảng gia đình chông chênh và cái ý nghĩ ám ảnh rằng ông đã mất hết khả năng sáng tạo, khiến ông mất tinh thần. Hemingway đã dùng súng tự sát năm 1961.

Có lẽ Hemingway là nhà văn Mỹ nổi tiếng nhất của thế kỷ này. Những tình cảm của ông về căn bản, là rất nhân bản và phi chính trị, và với ý nghĩa này, ông thuộc về nhân loại. Văn phong cực kỳ đơn giản làm cho những cuốn tiểu thuyết của ông trở nên dễ cảm thụ dù chúng thường được đặt trong những khung cảnh xa lạ với độc giả Mỹ. Là một người tin vào “sự tôn thờ kinh nghiệm”, Hemingway thường để cho nhân vật của mình vướng vào những tình huống nguy hiểm để bộc lộ bản chất bên trong của họ; trong những tác phẩm sau này của ông, mối hiểm nguy đôi lúc cũng là một cơ hội để khẳng định tính cách nam nhi của nhân vật.

Cũng như Fitzgerald, Hemingway trở thành người phát ngôn cho thế hệ mình. Nhưng thay vì vẽ ra sự cám dỗ chết người như Scott Fitzgerald, người chưa từng tham gia Thế chiến I đã làm, Hemingway viết về chiến tranh, cái chết, và về cái “thế hệ lạc lõng” của lớp người sống sót bi quan, yếm thế sau chiến tranh. Nhân vật của ông không phải là những người mơ mộng mà là những tay đấu bò can trường, những người lính và vận động viên. Nếu là trí thức, họ thường mang những vết thương chí mạng và không còn ảo tưởng gì cả.

Điểm đặc trưng trong cá tính sáng tạo của ông là một văn phong trong sáng, không có lấy một từ thừa. Ông thường sử dụng cách nói giảm nhẹ. Trong A Farewell to Arms (Giã từ vũ khí – 1929), nhân vật nữ chết lúc sinh con đã nói “Em chả sợ chút nào. Nó chỉ là trò đùa đê tiện”. Ông đã từng so sánh những gì mình viết với những tảng băng trôi: “Có đến bảy phần tám của nó ở dưới nước để một phần có thể phô bày”. Đôi tai tinh tường với ngôn ngữ đời thường và sự mô tả chính xác của Hemingway bộc lộ trong những truyện ngắn đặc sắc của ông, chẳng hạn “The Snows of Kilimanjaro” (Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro) và “The Short Happy Life of Francis Macomber” (Hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber”. Thật ra, các ý kiến phê bình thường xem những truyện ngắn của ông ngang hàng hoặc cao hơn những cuốn tiểu thuyết của ông. Những cuốn tiểu thuyết hay nhất của ông gồm The Sun Also Rises, về cuộc sống suy đồi của những người lưu vong sau Thế chiến I; A Farewell to Arms, về một chuyện tình bi đát của một người lính Mỹ và một nữ y tá người Anh trong chiến tranh; For Whom the Bell Tolls (Chuông nguyện hồn ai – 1940) trong bối cảnh cuộc nội chiến Tây Ban Nha và The Old Man and The Sea.

William Faulkner
(1897 – 1962)

Sinh ra trong một gia đình miền Nam lâu đời, William Harrison Faulkner lớn lên ở Oxford bang Mississippi, nơi ông sống hầu như suốt cả cuộc đời. Faulkner đã tạo nên một vùng đất hoàn toàn hư cấu, quận Yoknapatawpha, được nhắc đến trong nhiều tiểu thuyết, cùng với nhiều dòng họ, có những quan hệ đan xen kéo dài nhiều thế hệ. Quận Yoknapatawpha, với thủ phủ “Jefferson”, lấy khuôn mẫu của Oxford bang Mississippi và vùng phụ cận của nó. Faulkner tái tạo lịch sử của vùng đất và nhiều chủng tộc – người Da đỏ, người Mỹ Da đen, người Mỹ gốc Âu và những người pha trộn nhiều dòng máu khác sống trên vùng đất ấy. Là một nhà văn cách tân táo bạo, Faulkner thử nghiệm một trình tự kể chuyện với những quan điểm và giọng điệu khác nhau (bao gồm cả những người ngoài lề xã hội, trẻ con và những người thất học) một cách xuất sắc và một phong cách baroque đạt trình độ nghệ thuật cao và phong phú, xây dựng trên những câu rất dài đầy những thành phần phụ phức tạp.

Những cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của Faulkner bao gồm The Sound and the Fury (Âm thanh và cuồng nộ – 1929) và As I Lay Dying (Khi tôi hấp hối – 1930), hai tác phẩm thuộc trào lưu hiện đại thể nghiệm quan điểm và tiếng nói điều tra về những gia đình miền Nam sống dưới sức ép của việc mất đi một thành viên trong gia đình; Light in August (Ánh sáng tháng Tám – 1932), viết về những quan hệ phức tạp và tàn bạo giữa một người đàn bà Da trắng và một người đàn ông Da đen; và Absalom, Absalom! (1936), có lẽ là cuốn sách hay nhất của ông, viết về sự vươn lên của một người chủ trang trại mang ý hướng tự lập và sự sụp đổ bi đát của anh bởi thành kiến chủng tộc và đổ vỡ trong tình yêu.

Hầu hết các tiểu thuyết này xây dựng những nhân vật khác nhau để kể lại từng phần của câu chuyện và chứng minh ý nghĩa hiện diện thế nào trong cách kể chuyện cũng như trong đề tài sử dụng. Việc đưa ra những quan điểm khác nhau làm cho tác phẩm Faulkner mang tính tự tham chiếu, hay “tự chiêm nghiệm” hơn là của Hemingway và Fitzgerald. Mỗi cuốn tiểu thuyết của ông phản ánh lên chính nó, trong khi đồng thời mở ra một câu chuyện khác với mối quan tâm rộng lớn khái quát hơn. Những đề tài chính của Faulkner là truyền thống miền Nam, gia đình, cộng đồng, đất đai, lịch sử và quá khứ, chủng tộc và những đam mê tham vọng và tình yêu. Ông cũng sáng tạo ba tiểu thuyết tập trung vào sự vươn lên của một dòng họ đang suy sụp, dòng họ Snopes: The Hamlet (Xóm quê – 1940), The Town(Thị trấn – 1957), và The Mansion (Ngôi nhà – 1959).

TIỂU THUYẾT NHẬN THỨC XÃ HỘI

Kể từ thập niên 90 của thế kỷ 19, một dòng ý thức phản kháng xã hội đã âm thầm luân lưu trong nền văn học Mỹ, khi thì trào lên trong chủ nghĩa Tự nhiên với Stephen Crane và Theodofe Dreiser và trong những thông điệp rõ ràng của những nhà văn thuộc trường phái “khuấy bùn” chuyên phanh phui những vụ bê bối. Sau này, nổi lên những nhà văn dấn thân vào các vấn nạn xã hội bao gồm: Sinclair Lewis, John Steinbeck, John Dos Passos, Richard Wright và nhà viết kịch Clifford Odets. Họ gắn liền với thập niên 30 trong mối quan tâm đến phúc lợi của người dân bình thường và chú ý đến những nhóm người cụ thể: những người có nghề chuyên môn, như trong cuốn tiểu thuyết dựa theo nguyên mẫu Arrowsmith (Về cuộc đời bác sĩ Arrowsmith) hay Babbitt (một thương nhân địa phương) của Sinclair Lewis, về các gia đình, như trong The Grapes of Wrath của Steinbeck; hoặc quần chúng đô thị, như Dos Passos đã đạt được qua 11 nhân vật chính trong tiểu thuyết bộ ba U.S.A. (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) của ông.

Sinclair Lewis
(1885 – 1951)

Harry Sinclair Lewis sinh ra ở Sauk Centre, bang Minnesota, tốt nghiệp Đại học Yale. Ông dùng thời gian không phải tới lớp để làm việc ở một tổ chức xã hội, Helicon Home Colony, do nhà văn chuyên phanh phui những chuyện bê bối Upton Sinclair tài trợ. Cuốn Main Street (Phố chính 1920) của Lewis châm biếm cuộc sống tỉnh lẻ đơn điệu, đạo đức giả ở thảo nguyên Gopher, bang Minnesota. Ngòi bút bén nhọn trong mổ xẻ về đời sống thị dân ở Mỹ và sự phê phán chủ nghĩa vật chất, sự hẹp hòi, đạo đức giả kiểu Mỹ của ông mang lại danh tiếng cho ông cả trong nước và trên trường quốc tế. Vào năm 1926, ông được trao tặng nhưng lại từ chối giải Pulitzer cho cuốnArrowsmith (1925), một cuốn tiểu thuyết khắc họa những nỗ lực của một bác sĩ để giữ được lương tâm thầy thuốc giữa kỷ nguyên của lòng tham và sự băng hoại. Năm 1930, ông là người Mỹ đầu tiên đoạt giải Nobel văn học.

Trong những tác phẩm quan trọng khác của Lewis còn có Babbitt (1922). George Babbitt là một thương nhân bình thường sống và làm việc ở Zenith, một thị trấn bình thường ở Mỹ. Babbitt đạo đức, giàu nghị lực và là người tin tưởng rằng công việc kinh doanh là một phương cách khoa học mới của cuộc sống hiện đại. Trở nên bất ổn, ông ta tìm kiếm thành đạt nhưng rồi vỡ mộng bởi mối tình với một người đàn bà bohêmian, sau cũng trở về với vợ, và chấp nhận số phận. Cuốn tiểu thuyết này đã thêm một từ mới vào tiếng Anh-Mỹ – “Babbittry” có nghĩa là những kiểu cách trưởng giả, tự mãn, hẹp hòi. Cuốn Elmer Gantry (1927) mô tả tôn giáo theo phái thức tỉnh niềm tin ở Mỹ (Revivalism), còn cuốn Cass Timberlane (1945) đi sâu phân tích những căng thẳng phát sinh trong cuộc hôn nhân giữa một quan tòa già nua và người vợ trẻ.

John Dos Passos
(1896 – 1970)

Cũng như Sinclair Lewis, John Dos Passos bắt đầu là một nhà hoạt động cánh tả cấp tiến rồi chuyển sang cánh hữu khi về già. Dos Passos viết văn theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tác phẩm hay nhất của ông đạt được tính khách quan một cách khoa học và gần như có hiệu quả tư liệu. Dos Passos triển khai một kỹ thuật cắt dán thử nghiệm cho tác phẩm kiệt xuất U.S.A (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) của mình, bao gồm The 42nd Parallel (Vĩ tuyến 42 – 1930), 1919 (Năm 1919 – 1932), và The Big Money(Đại tài phiệt – 1936). Tuyển tập này bao quát lịch sử xã hội của Hoa Kỳ từ 1900 đến 1930 và phơi bày sự xuống cấp đạo đức của xã hội Mỹ bởi chủ nghĩa vật chất qua những trang đời các nhân vật.

Những kỹ thuật mới của Dos Passos gồm nhũng đoạn “phim thời sự” lấy từ những tiêu đề báo chí đương thời, những bài hát ưa thích, và những mẫu quảng cáo, cũng như “những tiểu sử” giới thiệu ngắn gọn cuộc đời của những nhân vật VIP đương thời, chẳng hạn như nhà phát minh Thomas Edison, nhà hoạt động công đoàn Eugene Debs, ngôi sao màn bạc Rudolph Valentino, nhà tài phiệt J. P Morgan, và nhà xã hội học Thorstein Veblen. Cả những đoạn phim thời sự lẫn tiểu sử đều mang lại cho tiểu thuyết của Dos Passos một giá trị tư liệu; kỹ thuật thứ ba của ông, “con mắt ống kính”, bao gồm những bài thơ văn xuôi có ý thức tạo ra một phản ứng chủ quan đối với những biến cố được mô tả trong cuốn sách.

John Steinbeck
(1902 – 1968)

Cũng như Sinclair Lewis, ngày nay John Steinbeck được giới phê bình nước ngoài đánh giá cao hơn là ở trong nước chủ yếu do ông đã nhận giải Nobel văn học năm 1963 và cùng với nó là danh tiếng trên trường quốc tế. Trong cả hai trường hợp, Ủy ban Nobel đã chọn lựa những nhà văn Mỹ tự do, nổi bật vì những phê phán xã hội của họ.

Steinbeck, người California, tái hiện thung lũng Salinas, gần San Francisco trong nhiều tác phẩm của mình. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là cuốn tiểu thuyết đoạt giải Pulitzer The Grapes of Wrath (1939), dõi theo những công việc nhọc nhằn của một gia đình nghèo ở Oklahoma bị mất hết ruộng đất trong cuộc khủng hoảng kinh tế và phải đến California kiếm việc. Những người trong gia đình chịu đựng những điều kiện sống áp bức theo kiểu phong kiến của những chủ đất giàu có. Những tác phẩm khác cũng lấy bối cảnh ở California gồm Tortilla Flat (1935), Of Mice and Man (Của chuột và người – 1937), Cannery Row (Dãy đồ hộp – 1945), và East of Eden (Phía Đông vườn địa đàng – 1952).

Steinbeck kết hợp chủ nghĩa Hiện thực với chủ nghĩa Lãng mạn mang tính cách nguyên sơ để tìm kiếm đức hạnh ở những nông dân nghèo bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Tiểu thuyết của ông minh chứng cho các khía cạnh dễ bị tổn thương của những con người đó, họ có thể bị nhổ tận gốc bởi những cơn hạn hán và là những người đầu tiên phải chịu đựng đau khổ trong những giai đoạn bất ổn chính trị và khủng hoảng kinh tế.

PHONG TRÀO PHỤC HƯNG HARLEM

Trong suốt thập niên 20 hưng thịnh của thế kỷ này, Harlem, cộng đồng Da đen tọa lạc ngoại vi thành phố New York, tràn đầy một không khí đam mê và sáng tạo. Nhạc Jazz của người Mỹ Da đen tràn ngập và thành công khắp đất nước, những nhạc công và những nhà soạn nhạc Jazz như Duke Ellington trở thành những ngôi sao được hâm mộ không chỉ ở Mỹ mà trên toàn thế giới. Bessie Smith và những ca sĩ nhạc Blues khác trình bày những lời ca chân thành, đa cảm, mộc mạc với nhiều xúc cảm. Thánh ca của người Mỹ Da đen được tán thưởng một cách rộng rãi như là một loại âm nhạc tôn giáo hay tuyệt vời và độc đáo vô song. Ethel Waters, nữ diễn viên Da đen chiếm lĩnh trên sân khấu Broadway rồi những điệu múa và nghệ thuật Mỹ Da đen nở rộ cùng âm nhạc và kịch nghệ.

Trong vườn tài năng muôn màu muôn vẻ ở Harlem, nhiều nhãn quan nghệ thuật cùng nhau tồn tại. Cuốn tiểu thuyết đầy sức lay động viết năm 1926 về Harlem của Carl Van Vechten mở ra cánh cửa sự thật về cuộc sống phức tạp, vừa ngọt ngào vừa cay đắng của người Mỹ Da đen trong cuộc đối đầu với những khó khăn về sự bất bình đẳng kinh tế và xã hội.

Thi sĩ Countee Cullen (1903 – 1946), một người Harlem đã có một cuộc hôn nhân ngắn ngủi với con gái của W. E. Du Bois đã sáng tác những bài thơ có vần rất tài tình, theo những hình thức khả dĩ rất được người Da trắng ngưỡng mộ. Ông tin tưởng rằng một nhà thơ không nên để cho màu da ấn định các chủ đề và phong cách của một bài thơ. Còn ở thái cực phía bên kia là những người Mỹ gốc Phi châu đã chối bỏ nước Mỹ, ủng hộ phong trào “Trở về cội nguồn châu Phi” của Marcus Garvey. Đâu đó ở giữa hai khuynh hướng này là tác phẩm của Jean Toomer.

Jean Toomer
(1899 – 1967)

Giống như Cullen, nhà văn viết tiểu thuyết và nhà thơ Mỹ gốc Phi châu – Toomer tin tưởng và xây dựng một tính cách Mỹ vượt qua cái ngưỡng chủng tộc. Có lẽ vì lý do này, ông sử dụng những truyền thống thi ca có vần điệu và không tìm kiếm những hình thức “Da đen” mới cho thơ mình. Tuy nhiên, tác phẩm quan trọng Cane (Lau sậy – 1923) của ông đầy tham vọng và rất đổi mới. Như Paterson của Williams, Cane kết hợp những bài thơ, những đoạn văn xuôi ngắn, những câu chuyện và những ghi chép có tính cách tiểu sử tự thuật. Trong đó, một người Mỹ Da đen đấu tranh để khám phá bản thân mình trong giới hạn và vượt ra ngoài những cộng đồng Da đen ở vùng quê Georgia, Washington D.C., và Chicago bang Illinois với tư cách là một thầy giáo Da đen ở miền Nam. Trong Cane, những người dân Da đen quê mùa ở Georgia của Toomer có tâm hồn rất nghệ sĩ:

Giọng hát họ cất lên… những cây thông là những cây đàn ghita,
Tiếng đàn bập bùng, những chiếc lá thông rơi như những làn mưa…
Giọng hát họ cất lên… dàn đồng ca của lau sậy
Đang hát một bài kinh chiều mừng đón các vì sao…
(I, 21 – 24)

Cane là hình ảnh tương phản với nhịp sống nhanh của người Mỹ Da đen ở thành phố Washington:

Tiền đốt cháy túi, túi đau,
Mặc áo lụa, những tay buôn rượu lậu
Phình to, những chiếc Cadillac kêu vù vù,
Rít lên, rít lên lao tới dòng xe
(II, 1 – 4)

 

Richard Wright
(1908 – 1960) 

Richard Wright sinh ra trong một gia đình nghèo làm lĩnh canh ở Mississippi bị cha bỏ rơi lúc lên năm. Wright là tiểu thuyết gia Mỹ gốc Phi đầu tiên được đông đảo bạn đọc đón nhận, mặc dầu ông chưa học hết lớp 9. Thời thơ ấu gian khổ khắc nghiệt của ông được mô tả trong một trong những cuốn tự truyện hay nhất của ông, cuốn Black Boy (Cậu bé Da đen – 1945). Sau này ông nói rằng ý thức về nỗi đau xót của tuổi thơ bị tước đoạt, do sự kỳ thị chủng tộc, lớn đến nỗi chỉ có đọc sách mới giúp cho ông sống được.

Sự phê phán xã hội và chủ nghĩa hiện thực của Sherwood Anderson, Theodore Dreiser, và Sinclair Lewis đã khơi nguồn hứng khởi sáng tạo đặc biệt cho Wright. Trong suốt thập niên 30, ông tham gia Đảng Cộng sản; vào thập niên 1940, ông sang Pháp, có mối quan hệ với Gertrude Stein và Jean Paul Sartre rồi trở thành một người chống cộng. Lối viết bộc trực của ông mở đường cho những tiểu thuyết gia Mỹ Da đen đi sau.

Tác phẩm của ông gồm Uncle Tom’s Children (Con cháu của chú Tom – 1938), một tập truyện ngắn và một cuốn tiểu thuyết nhan đề Native Son(Con của đất Mẹ – 1940) mạnh mẽ có phần tàn nhẫn, trong đó Bigger Thomas, một thanh niên Da đen thất học, lỡ tay giết chết con gái của ông chủ Da trắng của mình, rồi tàn nhẫn đốt xác để phi tang và giết luôn cô bạn gái Da đen của mình vì sợ cô ta sẽ tố cáo hắn. Mặc dầu nhiều người Mỹ Da đen phê phán Wright vì đã xây dựng một nhân vật Da đen là một kẻ giết người ghê tởm như vậy, tiểu thuyết của Wright góp một tiếng nói cần thiết dù chậm trễ về tệ phân biệt chủng tộc đã là chủ đề của quá nhiều cuộc tranh luận ở Hoa Kỳ.

Zora Neale Hurston
(1903 – 1960)

Sinh ra trong thành phố nhỏ Eatonville bang Florida, Zora Neale Hurston được đánh giá là một trong những lá cờ đầu của thời kỳ Phục hưng Harlem. Bà đến New York lần đầu khi mới 16 tuổi – với tư cách là thành viên của đoàn kịch nói lưu động. Là người kể chuyện tài năng trác tuyệt có khả năng hớp hồn khán thính giả, bà theo học Đại học Barnard, và được thụ giáo với nhà nhân chủng học Franz Boaz và đi đến chỗ nắm vững bộ môn dân tộc học, hứa hẹn một triển vọng khoa học. Boaz khuyến khích bà sưu tập văn hóa dân gian từ vùng quê Florida của bà. Nhà folklore học nổi tiếng Alan Lomax gọi cuốn Mules and Men (Lừa và người – 1935) của bà là cuốn sách được viết một cách điêu luyện, chân thành và dấn thân nhất trong lĩnh vực folklore.

Hurston cũng có một thời gian sống ở Haiti, học pháp thuật và sưu tầm văn hóa dân gian vùng Caribbe, những điều này được đưa vào tuyển tập Tell My Horse (Bảo con ngựa của tôi – 1938). Việc nắm vững một cách tự nhiên tiếng Anh thông dụng đưa bà đến với truyền thống lớn lao của Mark Twain. Lối viết của bà tỏa sáng với một ngôn ngữ đầy màu sắc trong những câu chuyện khôi hài – hay bi thảm – lấy từ văn hóa truyền miệng của người Mỹ Da đen.

Hurston là nhà văn gây ấn tượng sâu sắc. Tác phẩm quan trọng nhất của bà, Their Eyes Were Watching God (Đôi mắt họ ngước lên thành kính Chúa – 1937), là một bức tranh mới mẻ, cảm động về sự trưởng thành và về niềm hạnh phúc lại trở về với một người phụ nữ đẹp mang trong mình hai dòng máu đen trắng khi cô trải qua 3 cuộc hôn nhân. Cuốn tiểu thuyết khơi dậy một cách sống động cuộc sống của người lao động Mỹ – Phi châu trên vùng đất hoang sơ miền Nam. Là cánh chim báo tin của phong trào phụ nữ, Hurston gợi cảm hứng và gây ảnh hưởng đến những nhà văn đương đại như Alice Walker và Toni Morrison qua những cuốn tiểu thuyết mang tính tự thuật của bà như Dust Tracks on a Road (Dấu bụi trên đường – 1942).

TRÀO LƯU VĂN HỌC FUGITIVES VÀ NHÓM PHÊ BÌNH MỚI

Từ sau cuộc Nội chiến đến thế kỷ 20, miền Nam nước Mỹ vẫn còn là một miền đất lạc hậu về chính trị, kinh tế cùng với nạn kỳ thị chủng tộc và tệ mê tín dị đoan, nhưng đồng thời lại là vùng đất có một nền văn hóa dân gian phong phú và một ý thức mạnh mẽ về lòng tự hào và truyền thống nhất. Nó đã mang tiếng một cách hơi bất công là một vùng đất khô cằn, thấp kém về văn hóa, mang phong cách tỉnh lẻ và ngu dốt.

Oái ăm thay, trào lưu văn học địa phương quan trọng nhất của thế kỷ 20 chính là trào lưu Fugutives – có nghĩa là hoạt động của những kẻ Đào tẩu – do nhà lý luận kiêm phê bình và đồng thời là thi sĩ John Crowe Ransom, nhà thơ Allen Tate và nhà văn viết tiểu luận, tiểu thuyết và làm thơ Robert Penn Warren lãnh đạo. Trường phái văn học miền Nam này chối bỏ những giá trị thương mại đô thị của “miền Bắc” mà họ cảm thấy đang bành trướng khắp nước Mỹ. Fugitives kêu gọi trở về với đất đai và với những truyền thống Mỹ chỉ có thể tìm thấy ở miền Nam. Trào lưu này lấy tên từ một tạp chí văn học, The Fugitive, xuất bản từ 1922 đến 1925 của Đại học Vanderbilt, ở Nashville bang Tennessee, với sự hợp tác của Ransom, Tate, và Warren. Ba nhà văn chủ yếu của trào lưu Fugitive cũng kết hợp với nhóm Phê bình mới đề xuất một lối tiếp cận văn học qua cách đọc kỹ lưỡng, sự chú ý đến cách viết đúng quy phạm (về hình ảnh, ẩn dụ, vận luật, âm thanh và biểu tượng) và những ý nghĩa hàm ẩn của chúng. Ransom, lý thuyết gia hàng đầu của phong trào Phục hưng miền Nam giữa hai thế chiến, xuất bản một cuốn sách mang tên The New Criticism (Chủ nghĩa phê bình mới – 1941) bàn về phương pháp này, đưa ra một cách tiếp cận khác cho những phương pháp phê bình ngoài văn học trước đây vốn dựa trên các yếu tố lịch sử và tiểu sử tác giả. Trào lưu phê bình Mới trở thành phương pháp phê bình thống trị trong những thập niên 40 và 50 ở Mỹ bởi vì nó tỏ ra rất thích hợp với những nhà văn theo trào lưu Hiện đại như là Eliot và có thể tiếp thu lý thuyết của Freud (đặc biệt những phạm trù cấu trúc của nó như là vô thức, bản ngã và siêu ngã) và các phương pháp dựa trên những kiểu mẫu huyền thoại.

KỊCH NÓI MỸ THẾ KỶ 20

Kịch nói Mỹ mô phỏng sân khấu Anh và châu Âu mãi cho đến tận thế kỷ 20. Thông thường những vở từ nước Anh hay được dịch từ những ngôn ngữ châu Âu chiếm lĩnh mùa biểu diễn. Một đạo luật chưa hoàn chỉnh về bản quyền đã không thể bảo vệ và nâng đỡ những nhà viết kịch Mỹ hoạt động cho một nền nghệ thuật sân khấu đích thực. Các nam nữ 196 197 nghệ sĩ trong “hệ thống các ngôi sao” cũng vậy, họ được hâm mộ tán thưởng hơn là chính nội dung các vở kịch. Dân Mỹ đổ xô đi xem những diễn viên Cựu lục địa lưu diễn ở Mỹ. Thêm vào đó, những vở kịch nước ngoài, cũng như rượu ngoại, luôn được đánh giá cao hơn hẳn những vở kịch nội địa.

Suốt thế kỷ 19, những vở kịch ướt át, ủy mị với những nhân vật dân chủ mẫu mực và sự tương phản rõ rệt giữa cái tốt và cái xấu đã thành phổ biến. Những vở kịch về những vấn đề xã hội như chế độ nô lệ cũng lôi kéo được phần lớn khán giả; đôi lúc cũng có những vở kịch được chuyển thể từ tiểu thuyết như Uncle Tom’s Cabin. Cuối thế kỷ 19, những vở kịch nghiêm túc mới cố gắng đạt được sự đổi mới về mặt nghệ thuật. Tuy nhiên, văn hóa đại chúng đã có những tiến triển quan trọng, đặc biệt kịch vaudeville (thể loại sân khấu tạp kỹ bình dân gồm hài kịch ngắn, hề, nhạc và những thứ tương tự). Sân khấu tạp kỹ, dựa trên âm nhạc và văn hóa dân gian Mỹ Da đen, do những diễn viên Da trắng hóa trang “mặt đen” trình diễn cũng phát triển những hình thức và cách thể hiện rất sáng tạo.

Eugene O’Neill
(1888 – 1953)

Eugene O’Neill là đỉnh cao của kịch nói Mỹ. Rất nhiều vở kịch của ông kết hợp sáng tạo kỹ thuật lớn lao cùng với một cái nhìn tươi sáng và một cảm xúc sâu lắng. Những vở kịch đầu tay của O’Neill quan tâm đến tầng lớp lao động và người nghèo khổ; những tác phẩm về sau tập trung khám phá những lĩnh vực chủ quan, như những nỗi ám ảnh và tính dục. Đó cũng chính là những vở kịch ghi lại dấu ấn của việc O’Neill chịu ảnh hưởng sâu sắc của Freud và những cố gắng đau thương khắc khoải của ông trong việc chấp nhận cái chết của cha, mẹ và anh trai. Vở kịch Desire Under the Elms(Khao khát dưới rặng cây du – 1924) đã tái hiện niềm đam mê thầm kín trong một gia đình. Vở The Great God Brown (Vị thần tối linh thiêng Brown – 1926) bóc trần thế giới tiềm thức của một thương gia giàu có. Còn vởStrange Interlude (Quãng lặng kỳ lạ – 1928) – đoạt giải Pulitzer -thì lần theo dấu vết những cuộc tình rối rắm của một người đàn bà. Những vở kịch có sức tác động sâu xa này thể hiện những tính cách cá nhân khác nhau quay về với những xúc cảm nguyên sơ hoặc sự bấn loạn bởi tác động của các xung đột căng thẳng.

O’Neill tiếp tục khai thác các áp lực mang tính phân tâm học của tình yêu và sự thống trị trong các gia đình trong một vở kịch bộ ba cùng mang tênMourning Becomes Electra (Khóc thương vốn bản tính nàng Electra – 1931) dựa trên vở bi kịch bộ ba cổ điển Oedipus của Sophocles[8]. Những tác phẩm cuối đời của ông bao gồm những vở được dư luận công nhận là kiệt tác The Iceman Cometh (Người bán kem đã tới – 1946), một tác phẩm kiệt xuất với đề tài về cái chết, Long Day’s Journey Into Night (Cuộc hành trình trọn ngày dài để đi vào bóng đêm – 1956) – một tiểu sử tự thuật đầy sức mạnh bao quát nhiều vấn đề đầy kịch tính lấy chính những thành viên trong gia đình ông làm nhân vật và sự hủy hoại của họ về mặt tâm lý và thể xác làm trọng tâm; tất cả điều đó chỉ xảy ra trong vòng một đêm. Tác phẩm này là một phần của một chuỗi các vở kịch O’Neill sáng tác trong giai đoạn cuối đời cho đến khi ông chết.

O’Neill đã định nghĩa lại nghệ thuật sân khấu bằng cách dẹp bỏ sự phân chia theo truyền thống thành màn, cảnh (Strange Interlude có 9 màn, còn Mourning Becomes Electra phải mất 9 giờ để diễn); sử dụng mặt nạ như trong những vở kịch ở châu Á và Hy Lạp cổ đại; đưa vào kịch những đoạn thơ theo kiểu Shakespeare, dàn đồng ca Hy Lạp; và tạo ra những hiệu quả đặc biệt qua ánh sáng và âm thanh. Ông được mọi người công nhận là tác giả viết kịch hàng đầu của Hoa Kỳ. Vào năm 1936, ông được nhận giải Nobel văn học và cũng là nhà soạn kịch Hoa Kỳ đầu tiên nhận được vinh dự này.

Thorton Wilder
(1897 – 1975)

Thorton Wilder nổi tiếng vì những vở kịch Our Town (Thị trấn của chúng tôi – 1938) và The Skin of Our Teeth (1942), và vì cuốn tiểu thuyết The Bridge of San Luis Rey (Cây cầu ở San Luis Rey – 1927) của ông.

Vở Our Town chuyển tải những giá trị Mỹ tích cực. Nó chứa đựng mọi yếu tố tình cảm và hoài niệm về một thị trấn nhỏ miền quê theo truyền thống mẫu mực, các bậc cha mẹ đôn hậu và những đứa con ngỗ nghịch, cùng những cặp tình nhân son trẻ. Vẫn có đây đó những yếu tố cách tân như những hồn ma, giọng nói từ phía khán giả, những chuyển đổi thời gian táo bạo khiến cho vở kịch lôi cuốn hơn. Thực ra, đây là một vở kịch về cuộc sống và cái chết, trong đó những người chết được tái sinh, ít nhất thì cũng trong chốc lát.

Clifford Odets
(1906 – 1963)

Clifford Odets, một bậc thầy về kịch xã hội, là người Do Thái di cư từ Đông Âu. Lớn lên ở New York, ông trở thành một trong những thành viên đầu tiên của nhóm kịch the Group Theatre do Harold Churman, Lee Strasberg và Cheryl Crawford điều hành, chỉ dàn dựng những vở kịch trong nước. Vở kịch nổi tiếng nhất của Odets là Waiting for Lefty (Đợi chờ người cánh tả – 1935), vở kịch thể nghiệm một màn này ủng hộ một cách nhiệt tình chủ nghĩa nghiệp đoàn lao động.

Vở Awake and Sing! (Hãy thức dậy và ca hát!) của ông, một khúc ca hoài niệm về gia đình là một vở kịch thành công vang dội, tiếp theo là vở Golden Boy (Cậu bé vàng), câu chuyện một thanh niên di cư gốc Ý tự hủy hoại tài năng âm nhạc của mình (anh là một nhạc sĩ vĩ cầm) bị tiền bạc cám dỗ rồi trở thành một võ sĩ quyền Anh và rồi bị thương ở tay. Cũng như The Great Gatsby của Fitzgerald và An American Tragedy của Dreiser, vở kịch là hồi chuông cảnh tỉnh những tham vọng vô độ và chủ nghĩa vật chất.


[1] Theo các nhà nghiên cứu, tựa đề và tư tưởng của bài thơ ngụ ý đến nền văn minh hiện đại và bài thơ đã nắm bắt một cách chính xác thực trạng nền văn minh và xã hội Phương Tây sau chiến tranh thế giới thứ 1. Chiến tranh, được giả thiết là để cứu vãn châu Âu lại là một cái gì có sức tàn phá và hủy diệt nhất trong lịch sử, vậy thì sau nó loại văn minh nào diễn ra trên thế giới? Đó là vấn đề được đặt ra trong bài thơ. The Waste Land chứa đựng nhiều những cách tân táo bạo và nó đánh dấu một sự thay đổi lớn lao trong nghệ thuật thi ca của nhân loại.

[2] Leter Quince là người dàn cảnh cho các nghệ sĩ mộc mạc trong vở hài kịch Giấc mộng đêm hè của Shakespear, một cái tên gợi lên hình ảnh về những niềm vui và sự thơ ngây nơi thôn dã.

[3] Key West: tên một thành phố trung tâm của quận Monroe, tây nam bang Florida.

[4]

[5] Agamennon: trong thần thoại Hy Lạp là vị vua của Argos, có vợ là Clytemnestra. Sau khi Paris con trai vua Priam của thành Troy bắt người đẹp Helen, Agamemnon đã đứng lên kêu gọi hoàng tử của đất nước khởi chiến chống lại thành Troy. Aeschylus đã dựa vào truyền thuyết để viết kịch Agamemnon.

[6] Medea: một phụ nữ quyến rũ đã giúp Jason chiếm được bộ lông cừu vàng của cha nàng, vua Aeetes ở Colchis. Vở bi kịch Medea của Euripides viết về giai đoạn sau, khi Jason phản bội Medea yêu công chúa con vua Creon. Medea đã giết vua Creon, kẻ tình địch và hai con trai để trả thù Jason.

[7] Nguyên văn câu này là and eddieandbill come eddieandbill là tên của hai đứa trẻ Eddie và Bill được ghép lại, chúng tôi tạm dịch là bọn trẻ con.

[8] Electra: trong thần thoại Hi Lạp là con gái của Agamemnon và Clytemnestra đã cứu thoát người em trai khi cha nàng bị giết. Khi người em trở về nàng cũng giúp em giết mẹ và người tình của bà. Trong vở kịch bộ ba của O’Neil nhân vật chính cũng hành động tương tự Electra, chỉ có khác là người em trai sau đó tự sát.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_vi.html