Browsing Tag

Chiến tranh Thế giới Thứ hai

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 8: Văn xuôi Mỹ kể từ 1945: Chủ nghĩa hiện thực và sự thể nghiệm

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Văn chương tự sự từ Thế chiến thứ hai chống lại sự khái quát hóa bởi vì nó cực kỳ phong phú và đa diện. Nó được hồi sinh bởi các trào lưu văn học thế giới, như là chủ nghĩa hiện sinh châu Âu và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo châu Mỹ Latin, trong lúc kỷ nguyên điện tử đã biến thế giới rộng lớn thành một ngôi nhà chung. Ngôn ngữ nói trên truyền hình đã mang cuộc sống mới đến cho truyền thống văn học nói. Những thể loại truyền miệng, phương tiện thông tin đại chúng và văn hóa phổ thông ngày càng ảnh hưởng tới văn chương tự sự.

Trong quá khứ, nền văn hóa bác học đã ảnh hưởng đến văn hóa bình dân qua vị thế và mẫu mực của nó; điều ngược lại có vẻ đúng với nước Mỹ ngày nay. Những nhà văn nghiêm túc như Thomas Pynchon, Joyce Carol Oates, Kurt Vonnegut, Jr., Alice Walker và E. L. Dotorow đã vay mượn và bình luận về truyện bằng tranh trên báo, những cuốn phim, thời trang, những ca khúc và lịch sử.

Nói lên điều này không nhằm tầm thường hóa nền văn học đương đại: Các nhà văn ở Mỹ đang đặt nhiều câu hỏi nghiêm túc, nhiều câu trong đó có bản chất siêu hình. Họ có tinh thần đổi mới và tự nhận thức mình, hay “phản tỉnh”, rất cao. Thông thường họ thấy những kiểu cách truyền thống không mấy hiệu quả. Họ tìm kiếm sức sống trong chất liệu thông thường, rộng lớn hơn. Nói một cách khác: nhà văn Mỹ, trong những thập kỷ gần đây đã phát triển một cảm thức hậu – hiện đại. Việc điều chỉnh lại các quan điểm của các nhà văn theo chủ nghĩa hiện đại không còn phù hợp đối với họ; cái chính là điều kiện cho những quan điểm mới ra đời.

DI SẢN KẾ THỪA CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VÀ NHỮNG NĂM CUỐI CỦA THẬP NIÊN 40

Giống như tiểu thuyết trong nửa đầu thế kỷ 20, tiểu thuyết ở nửa sau của thế kỷ phản ánh đặc điểm của mỗi thập kỷ. Những năm cuối thập kỷ 40 đã chứng kiến hậu quả của Thế chiến II và sự bắt đầu của cuộc Chiến tranh Lạnh.

Chiến tranh Thế giới Thứ hai đã cung cấp những chất liệu cơ bản cho nhiều tác phẩm. Norman Mailer trong tác phẩm The Naked and the Dead (Kẻ trần truồng và người chết – 1948) và James Jones trong From Here to Eternity(Từ đây đến vô tận – 1951) là hai nhà văn đã sử dụng những chất liệu sống tốt nhất. Cả hai đều khai thác chủ nghĩa hiện thực rất gần với chủ nghĩa tự nhiên trần trụi; cả hai đều cố hết sức để không tôn vinh cuộc chiến. Điều này cũng xảy ra với The Young Lions (Sư tử non – 1948) của Irwin Shaw. Herman Wouk trong The Caine Mutiny (Cuộc tạo phản ở Caine – 1951), cũng cho thấy những nhược điểm của con người hiện rõ trong thời chiến cũng như trong cuộc sống dân sự. Về sau, Joseph Heller mô tả Chiến tranh Thế giới Thứ hai bằng những từ ngữ có tính cách châm biếm và phi lý, chẳng hạn như Catch-22[1] (Cạm bẫy – 1961), lập luận rằng chiến tranh luôn kết hợp với sự điên loạn. Thomas Pynchon trình bày một tình huống nổi bật, phức tạp nhại theo và thay thế những tình huống khác nhau trong thực tế trong cuốn Gravity’s Rainbow (Cầu vồng của trọng lực – 1973). Kurt Vonnegut, Jr., đã trở thành một trong những ngọn hải đăng của trào lưu phản văn hóa trong những năm đầu thập niên 70 sau khi xuất bản cuốnSlaughterhouse – Five: or, The Children’s Crusade (Lò sát sinh số 5 hoặc cuộc thập tự chinh của trẻ con – 1969). Cuốn tiểu thuyết chống chiến tranh của ông nói về cuộc đánh bom ở Dresden (Đức) của lực lượng Đồng minh trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai (cuộc ném bom mà ông đã chứng kiến từ dưới mặt đất khi là tù binh).

Thập niên 40 cũng chứng kiến sự lên ngôi của đội ngũ tài năng trẻ, bao gồm nhà thơ – tiểu thuyết gia – nhà viết tiểu luận Robert Penn Warren, hai nhà soạn kịch Arthur Miller và Tennessee Williams, những nhà văn viết truyện ngắn Katherine Anne Porte và Endora Welty. Tất cả đều là những nhà văn người miền Nam trừ Miller. Tất cả đều khám phá thân phận cá nhân trong gia đình hay cộng đồng và xoáy vào sự cân bằng giữa sự phát triển cá nhân và trách nhiệm đối với cộng đồng.

Robert Penn Warren
(1905-1989)

Robert Penn Warren, một trong những nhà văn nhóm Fugutive ở miền Nam, gặt hái được thành công mỹ mãn hầu như trong suốt thế kỷ 20. Suốt cuộc đời mình, ông quan tâm đến những giá trị dân chủ khi chúng xuất hiện trong các bối cảnh lịch sử khác nhau. Cuốn tiểu thuyết ngự trị lâu dài nhất của ông là All the King’s Men (Tất cả thần dân của vua – 1946), xoáy sâu vào những khía cạnh đen tối của giấc mơ Mỹ – được bộc lộ trong câu chuyện về con đường tiến thân đầy những uẩn khúc của một thượng nghị sĩ miền Nam khoe khoang và ranh mãnh – Huey Long.

Authur Miller
(1915- )

Nhà soạn kịch, viết tiểu thuyết, viết tiểu luận và viết tiểu sử người New York – Authur Miller – đạt đến đỉnh cao vào năm 1940, với cuốn Death of a Salesman (Cái chết của người chào hàng). Cuốn sách là một công trình nghiên cứu của một con người trong cuộc tìm kiếm danh dự và giá trị của anh ta trong cuộc sống và sự nhận thức rằng thất bại luôn chờ phía trước một cách chắc chắn. Chuyện xảy ra trong gia đình Loman, xoay quanh những mối quan hệ khập khiễng giữa người cha và những đứa con trai, giữa chồng và vợ. Nó là tấm gương phản chiếu tình hình văn học vào thập niên 40 – một sự kết hợp phong phú giữa chủ nghĩa hiện thực với hơi hướng của chủ nghĩa tự nhiên: các nhân vật được khắc họa cẩn thận, tròn trịa; và nhấn mạnh vào giá trị của mỗi cá nhân, mặc cho những thất bại và lỗi lầm.Death of a Salesman là một bài ca chiến thắng thật cảm động cho những con người bình thường – như bà góa phụ Willy Loman ca ngợi, “phải chú ý đến họ”. Thương tâm và ảm đạm, nó cũng là câu chuyện về những giấc mơ. Như một nhân vật ghi nhận một cách mỉa mai, “một người chào hàng cũng phải mơ ước, bé ạ. Nó đến cùng với đất đai”.

Death of a Salesman, một tác phẩm đặc sắc, vẫn chỉ là một trong nhiều vở kịch Miller viết qua nhiều thập kỷ, gồm All My Sons[2] (Tất cả đều là con tôi – 1947) và The Crucible[3] (Thử thách cam go – 1953). Cả hai đều mang tính chính trị – một vở về thời hiện đại, vở kia lấy bối cảnh thời thuộc địa.All My Sons nói về một nhà sản xuất dù biết rõ vẫn cho phép những phụ tùng không đạt yêu cầu được lắp ráp ở những công ty máy bay trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai, dẫn đến cái chết của chính đứa con trai của ông và những người khác. The Crucible khắc họa những phiên tòa xử phù thủy ở Salem (Massachusetts) vào thế kỷ 17 trong đó một số người định cư Thanh giáo đã chết oan vì bị cho là phù thủy. Tuy nhiên, thông điệp của nó – rằng “cuộc thanh trừng phù thủy” nhắm vào những người dân vô tội là con ghẻ của nền dân chủ – lại có liên quan đến giai đoạn trong đó vở kịch được dàn dựng, đó là những năm đầu thập niên 50, khi một chiến dịch chống cộng do thượng nghị sĩ Joseph Mc Carthy và những người khác lãnh đạo đã hủy hoại mạng sống của bao người dân vô tội.

Tennessee Williams
(1911 – 1983)

Tennessee Williams, người vùng Mississippi, là một trong những nhà văn khá phức tạp trên văn đàn nước Mỹ vào giữa thế kỷ 20. Tác phẩm của ông tập trung vào những xúc cảm xáo trộn, rối rắm và vấn đề tính dục chưa được giải quyết ổn thỏa trong đời sống gia đình – hầu hết là ở miền Nam. Ông nổi tiếng về những câu nói lặp đi lặp lại như thần chú, một cách diễn đạt đầy chất thơ của miền Nam, về những bối cảnh Gothic kỳ lạ, và những khám phá về những khát khao tình dục theo Freud. Là một trong những nhà văn Mỹ đầu tiên công khai sống như một người đồng tính luyến ái, Williams giải thích rằng đời sống tính dục của các nhân vật bị đọa đầy của ông diễn đạt sự cô đơn của họ. Những nhân vật của ông sống và chịu đau khổ một cách sâu xa.

Williams viết hơn 20 vở kịch dài, nhiều vở mang tính chất tiểu sử tự thuật. Ông đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp tương đối sớm – vào thập niên 40 – với The Glass Menagerie (Bầy thú bằng thủy tinh – 1944) và A Streetcar Named Desire (Chiếc xe điện mang tên Dục vọng – 1947). Không một tác phẩm nào trong suốt hơn 2 thập kỷ sau đó đạt được mức độ thành công và phong phú như hai vở kịch này.

Katherine Anne Porter
(1890 – 1980)

Cuộc đời và sự nghiệp dài lâu của Katherine Anne Porter trải qua nhiều mốc lịch sử. Tác phẩm thành công đầu tiên của bà, câu chuyện “Flowering Judas” (Judas Hoàn thiện – 1929), lấy bối cảnh ở Mexico trong thời kỳ cách mạng. Những truyện ngắn trau chuốt tuyệt vời mang lại danh tiếng cho bà qua những mảng đời được bộc bạch một cách tinh tế: “The Jilting of Granny Weatherall” (Người tình phụ bạc của bà ngoại Weatherall) chẳng hạn, đã chuyển tải những cảm xúc lớn lao một cách chính xác, ngắn gọn. Bà thường mô tả đời sống nội tâm của phụ nữ và sự lệ thuộc của họ vào đàn ông.

Những sắc thái biểu cảm của Porter chịu ảnh hưởng nhiều từ những câu chuyện của nhà văn sinh ở New Zealand, Katherine Mansfield. Những tập truyện của Porter bao gồm Flowering Judas (1930), Noon Wine (Rượu trưa – 1937), Pale HorsePale Rider (Ngựa còi, nài cọc – 1939), The Leaning Tower (Tháp nghiêng – 1944) và Collected Stories (Truyện ngắn chọn lọc – 1965). Vào đầu những năm 60, bà sáng tác một tiểu thuyết dài mang tính chất phúng dụ với một đề tài phi thời gian về trách nhiệm giữa người với người. Câu chuyện có tựa đề Ship of Fools (Con tàu của những người ngu – 1962) xảy ra trên boong một con tàu chở khách mang những con người thuộc xã hội thượng lưu Đức và những người dân tị nạn của Đức trốn chạy bọn phát xít Đức vào cuối những năm 30.

Tuy không viết nhiều, sáng tác của Porter vẫn ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nhà văn, trong số họ có những bạn văn miền Nam của bà là Eudora Welty và Flannery O’Connor.

Eudora Welty
(1909- )

Sinh ở Mississippi trong một gia đình khá giả sau này chuyển lên sống ở miền Bắc, Eudora Welty được Warren và Porter dẫn dắt vào nghề. Thật ra, Porter đã viết lời giới thiệu cho tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của Welty, A Curtain of Green (Màn cửa xanh lá cây – 1941). Welty nương theo khuôn mẫu của Porter để viết các tác phẩm của mình nhưng nữ văn sĩ trẻ quan tâm hơn đến những điều khôi hài và lập dị. Cũng như với Flannery O’Connor sau này, các nhân vật trung tâm của bà thường bất thường, quái dị hay ở những trường hợp ngoại lệ.

Mặc dù tác phẩm của bà có nhiều yếu tố bạo lực, trí thông minh của Welty tự bản chất mang tính nhân bản và lạc quan, ví dụ như trong câu chuyện thường được đưa vào các tuyển tập chính của bà: Why I Work at the P.O.(Tại sao tôi làm việc ở Bưu điện), nói về một đứa con gái bướng bỉnh và độc lập bỏ nhà đến sống trong một bưu điện nhỏ xíu. Những tập truyện của bà bao gồm The Wide Net (Mạng rộng – 1943), The Golden Apples (Những trái táo vàng – 1949), The Bride of the Innisfallen (Cô dâu của Innisfallen – 1955), và Moon Lake (Hồ Trăng – 1980). Welty cũng viết những cuốn tiểu thuyết như Delta Wedding (Đám cưới Delta – 1946), kể chuyện một gia đình ở một trang trại trong thời hiện đại và The Optimist’s Daughter (Con gái người lạc quan – 1972).

THẬP NIÊN 50 SUNG MÃN NHƯNG THA HÓA

Trong thập niên 50 người ta đã thấy rõ tác động của hiện đại hóa và kỹ thuật hóa trong cuộc sống hàng ngày, một ảnh hưởng còn sót lại từ thập niên 20 – trước cuộc Đại khủng hoảng kinh tế. Chiến tranh Thế giới Thứ hai đã đưa Hoa Kỳ thoát khỏi cuộc Đại khủng hoảng và thập niên 50 đã cung cấp cho hầu hết dân cư Mỹ thời gian tận hưởng sự giàu có vật chất đã chờ đợi từ lâu. Công việc kinh doanh, đặc biệt trong thế giới các công ty, hình như mang lại cuộc sống tốt đẹp (thường là ở ngoại vi đô thị), với những dấu hiệu thực sự và là biểu tượng của sự thành công – nhà cửa, xe hơi, truyền hình và đồ điện gia dụng.

Tuy nhiên, sự cô đơn trên hết vẫn như là một đề tài nổi bật, con người thuộc một đám đông không nhân mạo đã trở thành khuôn mẫu đặc trưng trong cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất của Sloan Wilson The Man in the Gray Flannel Suit (Người đàn ông mặc bộ đồ len xám – 1955). Sự tha hóa của nước Mỹ được khái quát trong một công trình nghiên cứu nghiêm túc của nhà xã hội học David Riesman – cuốn The Lonely Crowd (Đám đông đơn độc – 1950) – những công trình nghiên cứu khác ít hoặc nhiều tính khoa học tiếp nối nhau xuất hiện: từ cuốn The Hidden Persuaders (Người thuyết phục giấu mặt (1957) và The Status Seekers (Những kẻ chạy theo danh vọng – 1959) của Vance Packard, đến The Organization Man (Người của tổ chức 1956) của William Whyte và các cuốn White Collard (Viên chức – 1951) vàThe Power Elite (Giới tinh hoa quyền lực – 1956) có tính trí tuệ hơn của Wright Mill. Viện sĩ hàn lâm và nhà kinh tế học John Kenneth Galbraith đã đóng góp cuốn The Affluent Society (Một xã hội sung mãn – 1958). Hầu hết các tác phẩm này đều tán đồng các giả định có từ thập niên 50 rằng mọi người dân Mỹ cùng chia sẻ một lối sống chung. Những công trình nghiên cứu này dùng lối nói phổ thông chỉ trích những công dân đã đánh mất bản sắc cá nhân thời khai phá trở thành những kẻ sống quá rập khuôn theo tập tục chung của xã hội (ví dụ, Riesman và Mills) và khuyên mọi người trở thành thành viên của một “giai cấp mới” mà khoa học kỹ thuật và thời gian rảnh rỗi đã tạo nên (như có thể thấy trong các tác phẩm của Galbraith).

Thập niên 50 thật sự là thập niên của những áp lực trên mọi lĩnh vực và rất khó nhận biết. Những cuốn tiểu thuyết của John O’Hara, John Cheever và John Updike cố khám phá sự căng thẳng lẩn quất trong bóng tối của cảm giác thỏa lòng. Những tác phẩm hay nhất khắc họa những con người bị rớt đài trong cuộc vật lộn để đạt đến thành công, như trong Death of a Salesman của Authur Miller và tiểu thuyết Seize the Day (Sống qua ngày – 1956) của Saul Bellow. Có vài nhà văn đi xa hơn khi lần theo những con người bỏ cuộc như J.D. Salinger trong The Catcher in the Rye (Bắt trẻ đồng xanh – 1951), Ralph Ellison trong Invisible Man (Người vô hình – 1952) và Jack Kerouac trong On the Road (Trên con đường tự do[4] – 1957). Và trong những tháng ngày cuối cùng của thập kỷ, Philip Roth xuất hiện cùng với một loạt những truyện ngắn phản ánh sự tha hóa khỏi cội nguồn Do Thái của mình (Goodbye, Columbus – Vĩnh biệt, Columbus – 1959). Những suy ngẫm tâm lý của ông đã cung cấp chất liệu cho tiểu thuyết và về sau cho cả tiểu sử tự thuật của những năm 90.

Tiểu thuyết của những nhà văn Mỹ – Do Thái như Bellow, Bernard Malamud và Isaac Bashevis Singer – một vài gương mặt điển hình trong thập niên 50 và những năm tiếp theo sau – cũng là những tác phẩm thực sự có giá trị, một sự bổ sung hấp dẫn vào bản phác họa văn học Mỹ. Tác phẩm của ba nhà văn này nổi tiểng vì tính khôi hài, mối quan tâm đạo đức, và những miêu tả về cộng đồng Do Thái ở Cựu và Tân thế giới.

John O’Hara
(1905 – 1970)

Được đào tạo làm nhà báo, John O’Hara là nhà văn sung sức viết nhiều vở kịch, truyện ngắn và tiểu thuyết. Ngòi bút của ông thực sự điêu luyện trong việc xây dựng chu đáo các tình tiết và được độc giả nhớ đến nhiều nhờ một số cuốn tiểu thuyết hiện thực, hầu hết được viết vào thập niên 50, về những con người có bề ngoài thành đạt nhưng những lỗi lầm giấu kín và sự bất mãn sâu xa trong tâm hồn làm cho họ rất dễ bị tổn thương. Đó là những cuốn Appointment in Samarra (Hẹn gặp ở Samarra – 1934), Ten North Frederick (Mười người ở Bắc Frederick – 1955), và From the Terrace(Từ hiên nhà – 1958).

James Baldwin
(1924 – 1987)

James Baldwin và Ralph Ellison là tấm gương phản ánh cuộc sống của người Mỹ Da đen vào thập niên 50. Nhân vật của họ phải chịu đựng cảnh sống thiếu bản sắc, hơn là đau khổ vì quá cao vọng. Baldwin, lớn nhất trong chín anh em trong một gia đình ở Harlem, New York, là con nuôi của một mục sư. Khi còn trẻ, Baldwin đôi lúc cũng giảng đạo trong nhà thờ. Kinh nghiệm này giúp hình thành khả năng hùng biện hết sức cuốn hút trong văn xuôi của ông, thể hiện rõ nhất trong các bài tiểu luận như “Letter from a Region of My Mind” (Thư tự lòng tôi) trong tập The Fire Next Time(Ngọn lửa tương lai – 1963). Trong cuốn sách này, những lập luận gây xúc động sâu xa của ông là nhằm chấm dứt nạn phân biệt các chủng tộc.

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Baldwin, cuốn Go Tell It On the Mountain (Đi mà kể trên núi – 1953) mang tính chất tự truyện, có lẽ là cuốn nổi tiếng nhất của ông. Đây là câu chuyện của một thiếu niên 14 tuổi trong cuộc tự tìm kiếm bản thân và niềm tin tôn giáo; như khi cậu bé vật lộn với những vấn đề cải đạo Thiên Chúa trong một tiền sảnh nhà thờ. Những tác phẩm quan trọng khác của Baldwin bao gồm Another Country (Xứ người – 1962), một cuốn tiểu thuyết đề cập đến vấn đề chủng tộc và đồng tính luyến ái và cuốn Nobody Knows My Name (Không ai biết tên tôi – 1961), một tuyển tập những tiểu luận mang dấu ấn cá nhân tràn đầy nhiệt tình về nạn kỳ thị chủng tộc, vai trò của người nghệ sĩ và văn học.

Ralph Waldo Ellison
(1914 – 1994)

Ralph Ellison, một người miền Trung Tây, sinh ở Oklahoma, học ở Học viện Tuskegee ở miền Nam Hoa Kỳ. Ông có một trong những sự nghiệp kỳ lạ nhất trong văn học Mỹ – chỉ với một cuốn sách duy nhất, ông đã có chỗ đứng trên văn đàn. Cuốn tiểu thuyết Invisible Man (1952) là câu chuyện về cuộc sống của một người Da đen chỉ là một sự tồn tại dưới mặt đất trong một cái hang được chiếu sáng bởi ánh điện ăn cắp của một công ty dịch vụ công cộng. Cuốn sách kể lại chuỗi sự kiện quái đản và những mộng đẹp tan tành của anh ta. Khi anh nhận được một học bổng ở một trường đại học dành cho người Da đen, anh đã bị những người Da trắng sỉ nhục; khi anh vào đại học, anh chứng kiến thầy hiệu trưởng người Da đen khinh bỉ bác bỏ những vấn đề bức xúc của người Mỹ Da đen. Cuộc sống cũng thối rữa bên ngoài trường đại học. Ví dụ, ngay cả tôn giáo cũng không phải là một sự an ủi: Một giáo sĩ giảng đạo thực ra lại là một tên tội phạm. Cuốn tiểu thuyết lên án xã hội đã hoàn toàn không trao cho các công dân – đen cũng như trắng – những lý tưởng cao đẹp để vươn tới và những thể chế khả dĩ có thể biến chúng thành hiện thực. Cuốn tiểu thuyết chứa đựng nội dung sâu sắc về chủng tộc bởi lẽ “con người vô hình” ấy trở nên trong suốt không phải do bản thân anh ta mà do những người khác, mù lòa vì định kiến, đã không thể nhìn thấy anh ta, không biết đến sự tồn tại của con người đó.

Flannery O’Connor 
(1925 – 1964)

Flannery O’Connor, người vùng Georgia, sống một cuộc đời ngắn ngủi vì bệnh Luput, một bệnh về máu dễ gây tử vong. Tuy vậy, bà từ chối những biểu hiện tình cảm ủy mị, điều đó được thể hiện rõ trong những câu chuyện cực kỳ khôi hài nhưng ảm đạm và không thỏa hiệp của bà. Không giống như Porter, Welty, và Hurston, O’Connor thường miêu tả nhân vật ở cự ly gần, không ngại ngần vạch ra các thiếu sót và ngu ngốc của họ. Những nhân vật miền Nam thất học trong những cuốn tiểu thuyết của bà thường gây ra tội ác và bạo lực bởi sự mê tín hoặc các hủ tục, như ta có thể thấy trong tiểu thuyết Wise Blood (Dòng máu khôn ngoan – 1952) của bà, kể về một kẻ cuồng tín tôn giáo, tự xây dựng giáo hội của riêng mình.

Đôi lúc bạo lực xuất phát từ thành kiến, như trong truyện “The Displaced Person” (Người bị thay thế) kể về một người mới nhập cư bị giết chết bởi những người dân quê dốt nát, ngu muội; những kẻ bị đe dọa bởi cung cách sống kỳ lạ và lao động siêng năng của anh ta. Thường thì những sự cố tàn bạo xảy ra một cách đơn giản với những nhân vật của bà, như trong “Good Country People” (Dân quê lương thiện), câu chuyện về một cô gái bị một người đàn ông dụ dỗ, rồi ăn cắp cái chân giả của cô.

Óc khôi hài mang đặc trưng Da đen của O’Connor rất gần gũi với Nathanael West và Joseph Heller. Những tác phẩm của bà bao gồm những tuyển tập truyện ngắn A Good Man is Hard to Find (Người tử tế thật khó tìm – 1955) và Everything That Rises Must Converge (Mọi thứ rốt cuộc đều giống nhau – 1965); cuốn tiểu thuyết The Violent Bear It Away (Bọn hung bạo mang nó đi – 1960); và một tuyển tập thư từ The Habit of Being (Thói quen hiện hữu – 1979). Cuốn Complete Stories (Toàn tập truyện ngắn) của bà ra đời vào năm 1971.

Saul Bellow 
(1915- )

Sinh ra ở Canada và lớn lên ở Chicago, Saul Bellow có gốc Nga-Do Thái. Ông theo học nhân chủng học và xã hội học ở trường đại học, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến tác phẩm của ông cho đến tận ngày nay. Ông đã biểu lộ lòng biết ơn sâu xa với Theodore Dreiser, vì các tác phẩm của Theodore Dreiser, đã hướng ông đi vào những kinh nghiệm đủ loại và sự dấn thân đầy xúc cảm của ông với nó. Được đánh giá rất cao, ông nhận giải Nobel văn học vào năm 1976. Những cuốn tiểu thuyết hiện sinh đầu tiên có phần u ám của Saul Bellow bao gồm Dangling Man (Người chờ đợi – 1944), một sự khảo sát mang phong cách Kafka về một người chờ đợi được tuyển mộ đi lính và The Victim (Nạn nhân – 1974), về quan hệ giữa người Do Thái và người không phải Do Thái. Vào thập niên 50, quan điểm của ông trở nên hài hước hơn: Ông sử dụng một loạt những người kể chuyện ngôi-thứ-nhất nhiệt tình và mạo hiểm trong The Adventures of Augie March (Cuộc phiêu lưu của Augie March – 1953) – một nghiên cứu về một nhà đầu tư ở thành phố giống như Huck Finn sau trở thành một tay bán chợ đen ở châu Âu – và trong Henderson the Rain King (Henderson vua Mưa – 1959), một cuốn tiểu thuyết xuất sắc nửa nghiêm túc nửa khôi hài về một nhà triệu phú đứng tuổi với những tham vọng không thỏa mãn cuối cùng đã đưa ông đến châu Phi. Những cuốn về sau của Bellow bao gồm Herzog (1964), về cuộc đời rắc rối của một giáo sư người Anh bị thần kinh với ám ảnh tìm cho ra ý nghĩa về cái tôi lãng mạn; Mr Sammler’s Planet (Hành tinh của ông Sammler – 1970); Humboldt’s Gift (Phần thưởng của Humboldt – 1975); và cuốn tự truyện The Dean’s December (Tháng 12 trong đời ông trưởng khoa – 1982).

Cuốn Seize the Day (Sống qua ngày – 1956) của Bellow là một cuốn tiểu thuyết sáng chói thường được giảng dạy trong chương trình trung học hoặc đại học bởi vì sự tuyệt vời và sự cô đọng của nó. Nhân vật trung tâm trong truyện là một thương gia thất cơ lỡ vận, Tommy Wilhelm, đã cố gắng che giấu cảm xúc đau đớn vì thất bại của mình bằng cách mang một bộ mặt mãn nguyện. Cuốn truyện bắt đầu một cách giễu cợt: “Khi phải che giấu những rắc rối của mình, Tommy Wilhelm tỏ ra chẳng kém cạnh ai cả. Vì thế ít nhất anh ta nghĩ…”. Sự tiêu hao năng lượng này, thật oái ăm chỉ dẫn đến sự xuống dốc của ông. Wilhelm quá day dứt với cảm giác bất cập đến nỗi ông trở nên hoàn toàn bất lực – thất bại với phụ nữ, với công việc, với máy móc và với thị trường hàng hóa, rồi cuối cùng ông ta mất hết tiền bạc. Ông ta là một ví dụ về một gã khờ khạo, vụng về luôn thất bại trong truyện dân gian Do Thái – một người luôn luôn gặp những điều xui xẻo. Seize the Daytổng kết lại nỗi sợ bị thất bại đã ám ảnh bao người Mỹ.

Bernard Malamud
(1914 – 1986)

Bernard Malamud sinh ở New York, cha mẹ là dân nhập cư Nga gốc Do Thái. Trong cuốn tiểu thuyết thứ hai The Assistant (Người phụ tá – 1957), Malamud đã tìm ra được những chủ đề đặc trưng của mình – cuộc đấu tranh sống còn chống lại mọi trở ngại và những nền tảng đạo đức của những người nhập cư Do Thái đương đại.

Tác phẩm xuất bản đầu tiên của Malamud là The Narural (Tự nhiên – 1952), một sự kết hợp của chủ nghĩa hiện thực và hoang tưởng, đặt trong thế giới kỳ bí của môn bóng chày chuyên nghiệp. Những tiểu thuyết khác bao gồm A New Life (Cuộc đời mới – 1961), The Fixer (Người hối lộ – 1966),Pictures of Fidelman (Những bức ảnh của Fidelman – 1969), và The Tenants(Những người thuê nhà – 1971). Ông cũng là một bậc đại gia sung mãn trong làng truyện ngắn. Qua những truyện ngắn của ông trong các tuyển tập như là The Magic Barrel (Chiếc thùng mầu nhiệm – 1958), Idiots First(Ưu tiên kẻ ngu ngốc – 1963), và Rembrandt’s Hat (Chiếc mũ của Rembrandt – 1973), ông truyền đạt – hơn tất cả những nhà văn khác sinh ra ở Mỹ một ý thức về hiện tại và quá khứ mang màu sắc Do Thái, cái thực và siêu thực, sự kiện và huyền thoại.

Một tác phẩm hoành tráng của Malamud – mà nhờ nó ông được giải thưởng Pulitzer và giải Sách quốc gia – cuốn The Fixer lấy bối cảnh ở Nga khoảng đầu thế kỷ 20, nó là cái nhìn chất chứa những bí ẩn về một trường hợp vu cáo bẩn thỉu – một chuyện có thật – vụ án tai tiếng của Mendel Beiliss năm 1913, một vết nhơ đen tối trong vụ bài Do Thái trong lịch sử hiện đại. Như trong nhiều tác phẩm của mình, Malamud nhấn mạnh sự chịu đựng của nhân vật của ông, Yako Bok và cuộc đấu tranh chống lại mọi trở ngại để tồn tại.

Isaac Bashevis Singer
(1904 – 1991)

Tiểu thuyết gia đoạt giải Nobel và bậc thầy truyện ngắn Isaac Bashevis Singer là một người Ba Lan di cư đến Mỹ năm 1935. Ông là con của một trưởng giáo sĩ Do Thái ở Warszawa. Suốt đời viết bằng tiếng Yiddish (ngôn ngữ pha trộn giữa tiếng Đức và Hebrew từng là ngôn ngữ thông dụng của người Do Thái trong nhiều thế kỷ qua), ông viết về những điều huyền bí và hiện thực của hai nhóm người Do Thái đặc biệt – kiều dân của các Shtetls (những làng nhỏ) ở Cựu thế giới và những di dân bị sóng gió đại dương vùi dập trước và sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai.

Các tác phẩm của Singer là tư liệu về hai thời kỳ trước và sau Chiến dịch Holocaust – việc tàn sát nhiều cộng đồng Do Thái châu Âu do Đức quốc xã và những kẻ hợp tác với chúng tiến hành. Một mặt, ông mô tả – trong những tiểu thuyết như The Manor (Thái ấp – 1967) và The Estate (Điền trang – 1969), lấy bối cảnh nước Nga thế kỷ 19, và The Family Moskat (Gia đình Moskat – 1950), xoay quanh một gia đình Do Thái – Balan giữa hai cuộc Thế chiến – cuộc sống của cộng đồng Do Thái ở châu Âu hiện không còn nữa. Mặt khác, một số tác phẩm của ông lấy bối cảnh sau chiến tranh, như Enemies, A Love Story (Những kẻ thù, một chuyện tình – 1972), mà nhân vật chính là những người sống sót sau cuộc khủng bố người Do Thái, tìm cách xây dựng cuộc đời mới cho chính mình.

Vladimir Nabokov
(1889 – 1977)

Cũng giống như Singer, Vladimir Nabokov là người di dân từ Đông Âu. Sinh ra trong một gia đình giàu có ở nước Nga Sa Hoàng, ông đến Mỹ năm 1940 và năm năm sau trở thành công dân Mỹ. Từ năm 1948 đến 1959 ông giảng dạy văn học ở Đại học Cornell ở phía bắc của tiểu bang New York; năm 1960, ông chuyển sang sống hẳn ở Thụy Sĩ. Ông nổi tiếng nhờ những tiểu thuyết của mình, trong đó có cuốn tự truyện Pnin (1957) – một câu chuyện về một giáo sư nhập cư người Nga không thành công và cuốn Lolita (xuất bản tại Mỹ năm 1958), về một người Âu trung niên, có học vấn si mê cuồng dại một cô bé người Mỹ 12 tuổi thơ ngây. Một tiểu thuyết mô phỏng của Nabokov, Pale Fire (Lửa tàn – 1962) lại là một sự mạo hiểm thành công khác, nói về một bài thơ dài do một nhà thơ tưởng tượng đã chết sáng tác và những lời bình về bài thơ do một nhà phê bình viết và những tác phẩm của nhà phê bình này thấm đẫm bài thơ bắt đầu sống cuộc đời đầy những bất ngờ của riêng chúng.

Nabokov là nhà văn có nhiều ảnh hưởng bởi bút pháp tinh tế, sự châm biếm sắc sảo và những cách tân độc đáo về mặt hình thức. Tất cả điều đó đã khơi nguồn cảm hứng cho những tiểu thuyết gia như John Barth. Nabokov ý thức được vai trò cầu nối của mình giữa hai thế giới văn học Nga và Mỹ; ông đã viết một cuốn sách về Gogol và dịch tiểu thuyết thơ Engene Onegin của Pushkin. Những chủ đề táo bạo, có phần ảnh hưởng của chủ nghĩa biểu hiện, như tình yêu kỳ quặc trong Lolita, góp phần giới thiệu những trào lưu biểu hiện châu Âu thế kỷ 20 vào truyền thống văn học mang nặng tính hiện thực của Mỹ. Giọng văn của ông, phần châm biếm phần hoài niệm, cũng gợi tới một kiểu mới để tái hiện cảm xúc nửa trang nghiêm nửa khôi hài, sau này rất hữu dụng cho các nhà văn như Pynchon, người phối hợp những mặt tương phản của trí thông minh và sợ hãi.

John Cheever
(1912 – 1982)

John Cheever thường được gọi là một “tiểu thuyết gia đa phong cách”. Ông nổi tiếng vì những truyện ngắn nhiều liên tưởng, tao nhã và tuyệt hay của mình, những truyện ngắn mổ xẻ giới kinh doanh của New York qua những ảnh hưởng của nó đối với các nhà kinh doanh, vợ con, bạn bè họ. Một khát khao gượng gạo, bi thiết có vẻ như vô vọng nhưng không bao giờ bị dập tắt về những đam mê hay sự xác tín siêu hình ẩn giấu trong bóng tối của những câu chuyện tinh tế của Cheever, theo phong cách Chekhov, tập hợp trong The Way Some People Live (Cách người ta sống – 1943), The Housebreaker of Shady Hill (Kẻ đột nhập ở Shady Hill – 1958); Some People, Places and Things That Will Not Appear in My Next Novel (Một vài người, vài địa điểm và vài chuyện sẽ không bao giờ xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết sắp tới của tôi – 1961), The Brigadier and the Golf Widow (Thiếu tướng và người góa phụ chơi golf – 1964), và The World of Apples (Thế giới những trái táo – 1973). Tựa đề những cuốn sách của ông bộc lộ sự lãnh đạm, đùa nghịch, một sự bất kính và một sự gợi ý về chủ đề, nội dung. Cheever cũng xuất bản nhiều cuốn tiểu thuyết – The Wapshot Scandal (Vụ tai tiếng của gia đình Wapshot – 1964), Bullet Park (Công viên đạn – 1969), và Falconer (Người luyện chim ưng – 1977) – cuốn sau cùng này mang nhiều yếu tố tự thuật.

John Updike
(1932 – )

Cũng như Cheever, John Updike được xem là nhà văn đa phong cách với những bức tranh về cuộc sống đô thị, chủ đề xoay quanh cuộc sống gia đình, phản ánh tâm trạng chán chường, tiếc nuối. Tiểu thuyết của ông thường xảy ra ở vùng Bờ Đông ở Massachusetts và Pennsylvania. Updike rất nổi tiếng với bốn tác phẩm loại Rabbit miêu tả cuộc sống của một người đàn ông tên là Harry “Rabbit” Angstrom với những thăng trầm trong cuộc đời ông qua bốn thập kỷ của lịch sử chính trị và xã hội Mỹ. Rabbit, Run(Rabbit, chạy – 1960) là tấm gương phản chiếu nước Mỹ thập niên 50, trong đó Angstrom là một anh chồng trẻ bất mãn; sống hoàn toàn không có mục đích. Rubbit Redux (Rubbit trở lại phong độ – 1971) tập trung làm nổi bật hiện tượng phản văn hóa của thập niên 60. Trong tập này, Angstrom vẫn không có một mục tiêu, hoặc lý tưởng rõ ràng trong cuộc sống hoặc là có một cách thức hợp lý để trốn khỏi sự nhàm chán, vô vị của nó. Trong Rabbit Is Rich (Rabbit giàu có – 1981), Harry trở nên giàu có nhờ của cải thừa hưởng trong bối cảnh thập niên 70 thịnh vượng và vị kỷ, khi mà cuộc chiến ở Việt Nam đã ở vào giai đoạn cuối. Tập cuối cùng Rabbit at Rest (Rabbit an nghỉ – 1990), lướt qua sự hòa giải của Angstrom với cuộc đời, và cái chết khinh suất của ông trong bối cảnh lịch sử những năm 80. Ngoài bộ tiểu thuyết trên, Updike còn viết các cuốn tiểu thuyết khác nhưThe Centaur (Con nhân mã – 1963), Couples (Những cặp vợ chồng – 1968) và Bech: A Book (Bech: Một cuốn sách – 1970). Updike có một thi pháp nổi bật, sáng chói của bất cứ nhà văn hiện đại nào và những truyện ngắn của ông là mẫu mực về sự lỗi lạc và sắc sảo xét cả về tầm vóc phản ánh và tính sáng tạo của chúng. Tuyển tập truyện ngắn của ông gồm có The Same Door (Cùng một cánh cửa – 1959), The Music School (Trường nhạc – 1966),Museums and Women (Bảo tàng và phụ nữ – 1972), Too Far To Go (Đường xa – 1979) và Problems (Những vấn đề – 1979). Ông cũng viết nhiều tập thơ và tiểu luận.

J.D. Salinger
(1919- )

Là người đưa tin của thập niên 60, J. D. Salinger đã khắc họa những cố gắng đào thoát ra khỏi xã hội. Sinh ở New York, ông đã đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp văn học nhờ vào việc xuất bản cuốn tiểu thuyết The Catcher in the Rye (Bắt trẻ đồng xanh – 1951) viết về một cậu bé nhạy cảm 16 tuổi, Holden Caulfield, đã trốn khỏi một trường nội trú danh giá để gia nhập vào thế giới bên ngoài của người lớn để sau đó phải vỡ mộng bởi cái chủ nghĩa vật chất và sự giả dối của nó.

Khi được hỏi lớn lên cậu bé thích làm gì, Caulfield đã trả lời “thích làm người bắt trẻ ngoài đồng”, nhại theo một bài thơ của Robert Burns. Trong mơ ước của mình, ông muốn bản thân là hình ảnh hiện đại của một hiệp sĩ Da trắng, người bảo vệ duy nhất cho sự trong sáng, ngây thơ. Ông tưởng tượng ra một cánh đồng lúa mạch đen bao la, lúa cao đến nỗi không thể nhìn thấy một bầy trẻ con đang chạy nhảy vui đùa trong đám lúa. Ông là người lớn duy nhất ở đấy. “Tôi đang đứng trên bờ đá cao ghê hồn. Tôi phải làm gì? Tôi phải bắt bất cứ đứa trẻ nào toan vượt qua bờ đá đó”. Rơi xuống bên kia vách đá có nghĩa là đánh mất tuổi thơ và sự thơ ngây (đặc biệt là về tính dục) – một chủ đề trở đi trở lại trong thời kỳ này. Những tác phẩm khác của nhà văn ẩn cư và viết rất kén này gồm: Nine Stories (Chín câu chuyện – 1953), Franny and Zooey (1961) và Raise High the Roof – Beam, Carpenters (Cao cao trên xà nhà, Bác thợ mộc – 1963) một tuyển tập truyện ngắn từ báo The New Yorker. Sau khi một truyện ra mắt độc giả vào năm 1965, Salinger – sống ở New Hampshire – vắng bóng trên bầu trời văn học Mỹ.

Jack Kerouac
(1922 – 1969)

Là con trai của một gia đình gốc Pháp – Canada nghèo khổ, Jack Kerouac trăn trở với vấn đề ý nghĩa và giá trị cuộc sống của lớp người trung lưu. Ông đã có những cuộc giao lưu với nhóm văn nghệ Beat bí mật khi còn là sinh viên của Đại học Columbia ở New York. Tiểu thuyết của ông chịu nhiều ảnh hưởng của những tác phẩm mang ít nhiều yếu tố tự thuật của tiểu thuyết gia miền Nam – Thomas Wolfe.

Tiểu thuyết hay nhất của Kerouac là cuốn On the Road (Trên con đường tự do – 1957) miêu tả “các thành viên của nhóm Beat” lang thang khắp nước Mỹ tìm kiếm một giấc mơ lý tưởng về cuộc sống cộng đồng và cái đẹp. Cuốn The Dharma Bums (Phật pháp của những kẻ cầu bơ cầu bất – 1958) tập trung phản ánh về những trí thức phản văn hóa sống lang thang bất định và sự say mê nhất thời của họ đối với Thiền tông – Phật giáo. Kerouac cũng sáng tác một tập thơ Mexico City Blues (Điệu blues ở Mexico City – 1959) và những tập sách về cuộc đời ông với thành viên của nhóm Beat như nhà văn viết tiểu thuyết thể nghiệm William Burroughs và thi sĩ Allen Ginsberg.

THẬP NIÊN 60 RỐI REN NHƯNG ĐẦY SÁNG TẠO

Áp lực và sự tha hóa tiềm tàng trong thập niên 50 tìm được tiếng nói thích hợp vào thập niên 60 ở Mỹ trong phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng, phong trào đấu tranh cho quyền phụ nữ, chống chiến tranh, hoạt động của cộng đồng ít người và sự xuất hiện của phong trào phản văn hóa mà ảnh hưởng của nó vẫn còn dai dẳng trong xã hội Mỹ. Những tác phẩm về văn hóa xã hội và chính trị nổi bật trong thời kỳ này gồm có những bài diễn thuyết về quyền bình đẳng của nhà lãnh đạo Da đen, tiến sĩ Martin Luther King, những trước tác thời kỳ đầu của nhà lãnh đạo phong trào nữ quyền Betty Friedan (The Feminine Mystique – Sự huyền diệu của phụ nữ, 1963) và The Armies of the Night (Đội quân của bóng đêm – 1968) của Normal Mailer về cuộc biểu dương lực lượng chống chiến tranh năm 1967.

Những năm 60 được đánh dấu bởi sự xóa nhòa ranh giới giữa hư cấu và sự thật, giữa tiểu thuyết và phóng sự điều tra và điều này vẫn còn tiếp diễn cho đến tận ngày nay. Tiểu thuyết gia Truman Capote, một con người ăn nói huỵch toẹt từng làm độc giả choáng váng vào cuối thập niên 40 đầu thập niên 50 trong những tác phẩm như Breakfast at Tiffany (Ăn sáng ở Tiffany – 1958) – giờ lại làm độc giả sững sờ với In Cold Blood (Máu lạnh – 1966), một phân tích vô cùng hấp dẫn về một vụ tàn sát tập thể hết sức tàn bạo xảy ra ở một vùng trung tâm nước Mỹ, lôi cuốn bạn đọc như một cuốn tiểu thuyết trinh thám. Cùng lúc đó, “phong cách báo chí mới” nổi lên, 268 269 những tác phẩm không có yếu tố hư cấu kết hợp với phong cách viết báo và kỹ thuật viết tiểu thuyết hoặc là sử dụng thường xuyên các dữ kiện thật, nhào nặn chúng lại để tạo tính xác thực và ly kỳ cho câu chuyện được kể. Cuốn The Electric Kool – Aid Acid Test. (Cuộc thử nghiệm của dân hippy([5])) của Tom Wolfe (1968) ca ngợi những chuyện ngộ nghĩnh, dễ thương trong những đam mê phiêu bồng phản văn hóa của tiểu thuyết gia Ken Kesey. Còn cuốn Radical Chic and Mau – Mauing the Flak Catchers cười nhạo nhiều khía cạnh của phong trào cánh tả. Sau này Wolfe viết một cuốn lịch sử hết sức sâu sắc và phong phú về giai đoạn đầu của chương trình không gian Hoa Kỳ, cuốn The Right Stuff (Chuyện tào lao – 1979) và tiểu thuyết The Bonfire of the Vanities (Ngọn lửa của sự phù hoa – 1987) là bức tranh toàn cảnh về xã hội Mỹ trong thập niên 80.

Vào những năm 60, văn học cũng nhập cuộc với những rối ren trong thời kỳ này. Một cái nhìn mỉa mai, bỡn cợt cũng xuất hiện, phản ánh trong phong cách ngụ ngôn của một số nhà văn, trong số đó có truyện One Flew Over the Cuckoo’s Nest (Bay qua tổ chim cúc cu – 1962) – một truyện hài hước ảm đạm của Ken Kesey về cuộc sống trong một nhà thương điên trong đó các nhân viên y tế lại còn quậy phá điên rồ hơn cả bệnh nhân.Trout Fishing in America (Câu cá hồi ở Mỹ – 1967) của Richard Brautigan là một cuốn tiểu thuyết tưởng tượng đến mức quái dị. Hài hước và tưởng tượng kết hợp để tạo ra một phong cách mới nửa siêu hình nửa khôi hài trong các cuốn tiểu thuyết hoang tưởng, xuất sắc của Thomas Pynchon nhan đề V (1963) và The Crying of Lot 49 (Tiếng khóc than của lô 49), cuốn Giles Goat – Boy (Giles – Cậu bé chăn dê – 1966) của John Barth và những truyện ngắn kỳ dị của Donald Bartheme trong tuyển tập truyện ngắn đầu tiên Come Back, Dr Calogari (Trở lại đi, Tiến sĩ Calogari) xuất bản vào năm 1964.

Trong lãnh vực sân khấu, Edward Albee sáng tác một loạt vở kịch tâm lý phi truyền thống: Who’s Afraid of Virginia Woolf[6]? (Ai sợ Virginia Woolf? – 1962), A Delicate Balance (Sự thăng bằng mong manh – 1966) vàSeascape (Phong cảnh biển – 1975). Những vở kịch phản ánh cuộc dò tìm nội tâm và cách tiếp cận đầy nghịch lý của tác giả.

Đồng thời, thập niên 60 cũng chứng kiến sự ra đời muộn màng của một tài năng văn học trong độ tuổi 40 – Walker Percy – một bác sĩ và một mẫu mực của phong cách tao nhã miền Nam. Trong loạt tác phẩm của mình, Percy đã dùng địa phương quê nhà của ông như một tấm thảm trang trí để ông trải lên đó những màn kịch tâm lý ly kỳ hấp dẫn. The Moviegoer (Dân nghiền xinê – 1961) và The Last Gentleman (Chính nhân quân tử cuối cùng – 1966) là hai vở kịch nổi bật trong những tác phẩm được đánh giá cao của ông.

Thomas Pynchon
(1937 – )

Thomas Pynchon là tác giả u huyền, không thích khoa trương tên tuổi. Ông sinh ở New York, tốt nghiệp Đại học Cornell năm 1958, nơi có lẽ ông đã tiếp nhận ảnh hưởng của Vladimir Nabokov. Có một điều chắc chắn là, những tưởng tượng có tính cách tân của ông, sử dụng những chủ đề về việc diễn giải những mấu chốt, những trò chơi, và các mật mã có thể xuất phát từ Nabokov. Giọng văn linh hoạt của Pynchon có thể hòa nhập chứng hoang tưởng vào trong thi ca.

Tất cả những tiểu thuyết của Pynchon đều có kết cấu giống nhau. Luôn có ít nhất một nhân vật chính không biết gì về dòng diễn biến phức tạp của câu chuyện, rồi sau đó trọng trách của hắn là sắp xếp lại trật tự của cái mớ bòng bong các sự kiện và giải mã thế giới. Công việc này, chính là nhiệm vụ của người nghệ sĩ truyền thống, được chuyển giao cho người đọc, họ phải dõi theo các sự kiện, tìm ra những điểm mấu chốt và lý giải về mọi sự. Quan điểm hoang tưởng này phổ biến khắp các lục địa và chính thời đại này, bởi vì Pynchon đã sử dụng ẩn dụ “entropy”[7] về sự suy tàn dần dần của vũ trụ. Ông là bậc thầy trong việc tiếp thu và chuyển hóa văn hóa dân gian – đặc biệt là trong tiểu thuyết khoa học viễn tưởng và tiểu thuyết trinh thám.

Tiểu thuyết mang tựa đề V được cấu trúc lỏng lẻo xung quanh Benny Profane – một kẻ thất bại lại lao vào những cuộc phiêu lưu vô mục đích với những công việc làm ăn kỳ cục luôn thay đổi và đối thủ của anh ta, Herbert Stencil, một trí thức có nhiệm vụ truy tìm một nữ điệp viên bí mật V (có thể là Venus, Virgin hay Void). The Crying of Lot 49 (Tiếng khóc than của lô 49), là một truyện vừa, đề cập đến một hệ thống bí mật liên quan đến dịch vụ bưu điện Mỹ. Gravity’s Rainbow (Cầu vồng của trọng lực – 1973) viết về những sự kiện xảy ra ở London trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ II, vào lúc mà đạn bom tưới xuống thành phố này. Nội dung xuyên suốt cuốn truyện là cuộc tìm kiếm nửa khôi hài nửa biểu trưng những tên phát xít Đức và các nhân vật đội lốt khác. Sự mãnh liệt trong biểu cảm, tính khôi hài và sự nhạy bén với những cái mới đã gắn chặt tên tuổi của Pynchon với thập niên 60.

John Barth
(1930- )

John Barth quê ở Maryland là nhà văn quan tâm đến cách kể lại một câu chuyện như thế nào hơn là nội dung của nó. Nhưng trong khi Pynchon tung hỏa mù đưa độc giả vào con đường với những dấu vết giả tạo và những đầu mối khả dĩ vượt ra ngoài một cuốn tiểu thuyết trinh thám, thì Barth lại mời bạn đọc bước vào một ngôi nhà vui tươi của lễ hội, nơi chứa đầy những tấm gương dị dạng, phóng đại một số nét này trong khi lại thu nhỏ một số đặc điểm khác. Chủ nghĩa hiện thực là kẻ thù của Barth, tác giả của tuyển tập truyện ngắn Lost in the Funhouse (Lạc lối trong ngôi nhà của niềm vui – 1968) gồm 14 truyện về quá trình viết văn và đọc sách. Mục đích của Barth là nhắc nhở và cảnh báo cho độc giả về bản chất nhân tạo của việc đọc và viết văn, và hơn nữa ngăn cản người đọc đừng bị lôi cuốn vào câu chuyện như thể câu chuyện ấy là có thật trên đời. Để làm nổ tung cái ảo tưởng về chủ nghĩa hiện thực, Barth đã dùng toàn bộ công cụ phản tỉnh để nhắc nhở bạn đọc rằng chính là họ đang đọc sách.

Những tác phẩm đầu tay của Barth cũng như của Saul Bellow chứa đựng rất nhiều vấn đề và mang tính hiện sinh rõ nét, có những chủ đề của thập niên 50 về sự tẩy chay xã hội và sự lang thang bất định của số phận con người. Cuốn truyện The Floating Opera (Nhạc kịch lưu động – 1956) viết về một con người toan tính tự tử. The End of the Road (Đoạn cuối của con đường – 1958) miêu tả một cuộc tình phức tạp. Những tác phẩm vào thập niên 60 của ông trở nên hài hước hơn và càng ít hiện thực hơn nữa. The Sot – Weed Factor (1960) nhại theo thể loại tiểu thuyết giang hồ thế kỷ 18, trong khi với Giles Goat Boy (Giles – Cậu bé chăn dê – 1966), thế giới được thu nhỏ một cách hài hước thành một trường đại học. Cuốn Chimera (Quái vật tưởng tượng – 1972) kể lại những câu chuyện cổ của thần thoại Hi Lạp và trong Letters (Những lá thư – 1979) thì chính Barth trở thành một nhân vật như là Normal Mailer đã làm trong The Armies of the Night. TrongSabbatical: A Romance (Kỳ nghỉ của giáo sư: Một truyện tình – 1982) Barth sử dụng một motif hư cấu quen thuộc về điệp viên, đấy là câu chuyện về một nữ giáo sư dạy đại học và chồng nàng, một điệp viên đã giải nghệ sau trở thành một tiểu thuyết gia.

Normal Mailer
(1923- )

Normal Mailer được dư luận rộng rãi công nhận là đại biểu cho những thập kỷ vừa qua, một tác gia có khả năng thay đổi phong cách, nội dung và mối quan tâm khá nhiều lần. Có xu hướng viết về những kinh nghiệm sống với cá tính mãnh liệt và tính cách của một con người tham gia hoạt động xã hội đầy kịch tính, Mailer đi theo con đường truyền thống của Ernest Hemingway. Tư tưởng của ông hết sức mạnh bạo và đổi mới. Ông là tác giả trái ngược hẳn với Barth, bởi vì đối với Barth, nội dung phản ánh không quan trọng bằng cái cách mà nó được diễn đạt. Cũng không giống với Pynchon khó xác định, Mailer luôn tranh thủ và đòi hỏi một sự chú tâm. Là nhà văn viết tiểu thuyết, một nhà viết tiểu luận, đôi khi cũng là một chính khách, một nhà hoạt động văn hóa và thỉnh thoảng còn là diễn viên, Mailer là nhân vật trung tâm của “sân khấu” xã hội. Từ những tác phẩm mang phong cách “báo chí mới” như Miami and the Siege of Chicago (Miami và việc vây hãm thành Chicago – 1968), một phân tích về những hội nghị đề cử ứng viên tổng thống Mỹ năm 1968 và sự nghiên cứu hết sức hấp dẫn của ông về vụ hành quyết những kẻ bị kết tội sát nhân trong cuốn The Excutioner’s Song (Bài ca của kẻ tử tội – 1979) ông chuyển sang viết những cuốn tiểu thuyết nặng ký và đầy tham vọng như Ancient Evenings (Những buổi chiều xưa – 1983) lấy bối cảnh ở Ai Cập cổ đại và cuốn Harlot’s Ghost(Hồn ma Harlot – 1992) về những vấn đề xoay quanh cơ quan tình báo trung ương Hoa Kỳ.

THẬP NIÊN 70 VÀ 80 NHỮNG HƯỚNG ĐI MỚI

Vào khoảng giữa thập niên 70, kỷ nguyên của sự củng cố bắt đầu. Chiến tranh ở Việt Nam đã kết thúc, tiếp sau đó là việc nước Mỹ công nhận Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và việc kỷ niệm 200 năm lập quốc. Chẳng bao lâu sau là những năm 80, “thập kỷ vì tôi” tiếp bước, trong đó mỗi cá nhân có khuynh hướng tập trung vào những mối quan tâm riêng tư của mình hơn là những vấn đề xã hội lớn lao hơn.

Trong văn học, các trào lưu cũ vẫn còn tồn tại, nhưng cái sức mạnh đằng sau sự thể nghiệm đơn thuần đã giảm dần. Các tiểu thuyết gia trẻ như John Gardner, John Irving (với tiểu thuyết The World According to Garp – Thế giới dưới con mắt của Garp, 1978), Paul Theroux (Trong The Mosquito Coast – Bờ biển Mosquito, 1982), William Kennedy (Ironweed – Hạt sắt, 1983) và Alice Walker (The Color Purple – Màu tím, 1982) lên ngôi với những tiểu thuyết nổi bật rất có cá tính khắc họa những tấn kịch cảm động về con người. Việc quan tâm tới hoàn cảnh, nhân vật và những chủ đề kết hợp với chủ nghĩa hiện thực đã trở lại. Chủ nghĩa hiện thực, bị bỏ rơi bởi các nhà văn thể nghiệm vào thập niên 60, đã quay trở lại thường kết hợp với những yếu tố sáng tạo hết sức táo bạo – một cấu trúc mới mẻ, đột phá như một “tiểu thuyết trong tiểu thuyết” có thể thấy trong truyện của John Garner October Light (Ánh sáng tháng Mười – 1976) hoặc là tiếng Anh của người Mỹ – Da đen trong The Color Purple của Alice Walker. Văn học của các cộng đồng ít người bắt đầu đua nở. Kịch nói đã chuyển từ chủ nghĩa hiện thực sang những kỹ xảo điện ảnh và tốc độ hơn. Tuy vậy, cùng lúc đó, “Thập kỷ vì tôi” cũng được phản ánh trong các tài năng trẻ khoa trương như Joy Mclnerny với Bright LightsBig City, (Ánh sáng rực rỡ nơi đô thị, 1984), Bret Easton Ellis với Less Than Zero (Nhỏ hơn số không, 1985) và Tama Janowits với Slaves of New York (Nô lệ của New York, 1986).

John Gardner
(1933-1982)

John Gardner xuất thân từ một nhà nông ở bang New York, là người phát ngôn quan trọng nhất cho những giá trị đạo đức trong văn học cho đến khi cái chết đã chấm dứt cuộc sống khá ngắn ngủi của ông bằng một tai nạn môtô. Ông là giáo sư văn học Anh chuyên về giai đoạn Trung đại. Cuốn tiểu thuyết Grendel (1971) nổi tiếng nhất của ông kể lại sử thi cổ đại Anh về Beowulf nhìn từ góc độ hiện sinh của con quái vật. Cuốn tiểu thuyết ngắn gọn, sinh động và thường vang lên tiếng cười trào lộng này là một cuộc tranh luận tinh tế chống lại chủ nghĩa hiện sinh đã dồn các nhân vật của nó vào nỗi tuyệt vọng tự hủy diệt và một thái độ khuyển nho, yếm thế.

Là một nhà văn sung sức và hết sức nổi tiếng, Gardner sáng tác theo phương pháp hiện thực nhưng lại sử dụng các kỹ thuật mới mẻ như hồi tưởng, truyện trong truyện, kể lại các huyền thoại và những câu chuyện tương phản – để phát hiện chân lý về tình cảnh của con người. Sức mạnh của ông chính là sự đặc trưng hóa (đặc biệt là trong những bức chân dung đầy cảm thông về những con người bình thường) và phong cách đa dạng.

Những tác phẩm lớn của ông gồm The Resurrection (Phục sinh – 1966), The Sunlight Dialogues (Cuộc đối thoại dưới ánh mặt trời – 1972), Nickel Mountain (Núi Nickel – 1973), October Light (Ánh sáng tháng Mười – 1976) và Mickenson’s Ghosts (Những bóng ma của Mickenson – 1982).

Các kiểu tiểu thuyết của Gardner gợi tả cái sức mạnh trị liệu của tình bằng hữu, bổn phận và trách nhiệm gia đình và xét theo ý nghĩa này, Gardner là một tác giả bảo thủ và truyền thống hết sức sâu sắc. Ông đã cố gắng chứng minh rằng một số hành động và các giá trị nhất định sẽ dẫn đến một cuộc sống viên mãn. Cuốn tiểu thuyết của ông On Moral Fiction (Tưởng tượng đạo lý – 1978) kêu gọi tiểu thuyết nên chuyển tải những giá trị đạo đức hơn là lòe bịp độc giả với những cách tân kỹ thuật trống rỗng. Cuốn sách đã gây nên một làn sóng phẫn nộ, chủ yếu bởi vì Gardner đã phê phán thẳng thừng những cây cao bóng cả trong làng văn đương đại đã thất bại trong việc phản ánh những mối quan tâm đạo đức.

Toni Morrison
(1931 – )

Nữ văn sĩ người Mỹ gốc Phi Toni Morrison sinh ở bang Ohio trong một gia đình gia phong mà mối quan tâm chính là những giá trị tinh thần. Bà theo học Đại học Howard ở thủ đô Washington, là biên tập cao cấp của một nhà xuất bản lớn ở Washington và là giáo sư nổi tiếng của nhiều trường đại học.

Tiểu thuyết đan kết phong phú của Morrison làm cho bà nổi tiếng thế giới. Trong những cuốn tiểu thuyết phóng khoáng và cuốn hút của mình bà đã xử lý những tính cách phức tạp của người Da đen bằng một cách thức phổ quát. Trong tác phẩm đầu tay The Bluest Eye (Mắt biếc – 1970) của bà, một cô gái Da đen trẻ giàu nghị lực đã kể lại câu chuyện về Pecola Breedlove, người rốt cuộc đã trốn thoát cuộc sống với một ông bố cục súc, thô bạo. Pecola tin rằng đôi mắt đen của cô đã biến thành màu xanh da trời một cách kỳ diệu và chúng làm cô trở nên dễ thương hơn. Morrison có nói rằng bà đã sáng tạo nên cái ý thức về diện mạo văn học riêng của riêng bà với tư cách là một nhà văn qua cuốn tiểu thuyết này “Tôi là Pecola, là Claudia, là mọi người”.

Tác phẩm Sula (1973) miêu tả tình bạn thắm thiết mặn nồng giữa hai người phụ nữ. Morrison khắc họa phụ nữ Mỹ gốc Phi như là những nhân vật đầy cá tính, đơn nhất hơn là những con người điển hình. Cuốn Song of Solomon (Bài ca của Solomon) của Morrison viết vào năm 1977 đã nhận được nhiều giải thưởng. Nó tái hiện cuộc đời của một người Da đen tên là Milkman Dead và những mối quan hệ phức tạp của anh ta với gia đình và cộng đồng Da đen. Trong cuốn Tar Baby (Bé con – 1981) Morrison khai thác các vấn đề của mối quan hệ giữa người Da trắng và người Da đen. Beloved(1987) là một câu chuyện về nỗi thống khổ của một người đàn bà thà giết chết những đứa con mình còn hơn là để chúng sống như những kẻ nô lệ. Cuốn tiểu thuyết sử dụng những kỹ thuật như trong một giấc mơ của chủ nghĩa hiện thực huyền bí trong việc phác họa một nhân vật huyễn hoặc, Beloved, cô gái trở lại sống với người mẹ đã cắt cổ mình.

Morrison cho rằng mặc dầu các tiểu thuyết của bà thuần túy là những tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo, chúng vẫn chứa đựng những ý nghĩa chính trị: “Tôi không quan tâm đến việc nuông mình trong những tưởng tượng riêng tư… Vâng, một tác phẩm nghệ thuật phải có ý nghĩa chính trị”. Năm 1993, Morrison được trao giải Nobel văn chương.

Alice Walker
(1944- )

Alice Walker là một người Mỹ Da đen và là con của một gia đình nhà nông ăn chia theo mùa vụ ở vùng thôn quê Georgia. Bà tốt nghiệp Đại học Sarah Lawrence, nơi có một trong những người thầy của bà là nữ thi sĩ có khuynh hướng làm chính trị, bà Muriel Rukeyser. Những người khác có ảnh hưởng đến sự nghiệp văn chương của bà là Flannery O’Connor và Zora Neale Hurston.

Là một nhà văn “rất nữ tính” như bà tự nhận; Walker từ lâu đã rất gắn bó với phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ, bà trình bày về sự hiện hữu của người Da đen dưới cái nhìn của người phụ nữ. Cũng như Toni Morrison, Jamaica Kincaid, Toni Cade Bambara và các tác giả Da đen đương đại thành công khác, Walker sử dụng chủ nghĩa hiện thực trữ tình ở trình độ nghệ thuật cao để phản ánh về những giấc mơ và thất bại của những con người đáng tin cậy có thực. Tác phẩm của bà khắc họa đậm nét cuộc tìm kiếm phẩm giá trong đời người. Bà là một nhà văn có văn phong rất mực tinh tế, mượt mà đặc biệt thể hiện trong cuốn tiểu thuyết mang phong cách ngôn ngữ thánh thư The Color Purple (Màu tím), tác phẩm của bà có ý hướng giáo dục. Ở điểm này, Walker cũng giống như một tiểu thuyết gia Mỹ đen khác là Ishmael Reed, tác giả của những tác phẩm trào phúng phơi bày những vấn đề chủng tộc và xã hội.

The Color Purple của Walker là một câu chuyện về tình yêu giữa hai chị em người Da đen sống sót sau những tháng năm xa cách. Gắn bó với câu chuyện này, bằng một cách nào đó trong cùng một thời điểm là việc một trong hai chị em, một cô gái xấu xí, nhút nhát và thất học khám phá ra sức mạnh tiềm tàng của mình nhờ sự giúp đỡ của một người bạn gái. Chủ đề về sự nâng đỡ giữa những người phụ nữ gợi nhớ tiểu sử tự thuật của Maya Angelou I Know Why the Caged Bird Sings ( Tôi biết vì sao chim hót trong lồng – 1970) ngợi ca tình cảm giữa mẹ và con gái và tác phẩm của các nhà văn Da trắng ủng hộ phong trào phụ nữ như Adrienne Rich. The Color Purple mô tả đàn ông như là những con người về căn bản không nhận thức được nhu cầu và sự hiện diện thực tế của người phụ nữ.

Những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 chứng kiến sự kiện ngoạn mục các tác phẩm của các cộng đồng ít người trở thành một bộ phận quan trọng trong văn đàn Mỹ. Điều này cũng xảy ra với sân khấu cũng như văn xuôi. August Wilson – người vẫn tiếp tục sáng tác và chứng kiến hàng loạt vở kịch của mình về cuộc đời người Da đen ở thế kỷ 20 được đưa lên sân khấu (trong đó có những vở đoạt giải Pulitzer như Fences (Rào cản – 1986) và The Piano Lesson (Bài học dương cầm – 1989) và tạo được chỗ đứng cho mình bên cạnh các tiểu thuyết gia nổi tiếng như Alice Walker, John Edgar Wideman và Toni Morrison.

Các nhà văn Mỹ gốc châu Á cũng chiếm lĩnh vị trí của họ trên văn đàn: Maxine Hong Kingston với The Woman Warrior (Nữ chiến binh, 1976) đã mở ra một con đường cho các nhà văn nữ gốc châu Á của bà. Trong số họ có Amy Tan, tác giả của những tác phẩm sáng chói về cuộc sống của người Hoa di cư sang Mỹ sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai như cuốn The Joy Luck Club (Phúc lạc hội, 1989) và cuốn The Kitchen God’s Wife (Vợ ông đầu rau, 1991) chinh phục được đông đảo bạn đọc. Còn David Henry Hwang con của một gia đình người Hoa sinh ra ở California đã làm nên tên tuổi của mình trong làng kịch nghệ với những vở kịch như là F.O.B (Giao hàng lên tàu – 1981) và M. Butterfly (Ông Butterfly – 1986).

Một nhóm các nhà văn khá mới mẻ xuất hiện trên chân trời văn học là những tác gia gốc Nam Mỹ, gồm tiểu thuyết gia gốc Cuba đoạt giải Pulitzer mang tên Oscar Hijuelos, tác giả cuốn The Mambo Kings Play Songs of Love(Các ông vua Mambo chơi nhạc tình yêu – 1989); nhà văn chuyên viết truyện ngắn Sandra Cisneros (Women Hollering Creek and Other Stories – Chuyện phụ nữ – 1991)[8] và Rudolfo Anaya, tác giả của cuốn Bless Me, Ultima (Phù hộ cho tôi, Ultima) bán được 300.000 bản chủ yếu ở miền Tây nước Mỹ.

VĂN HỌC PHONG CÁCH ĐỊA PHƯƠNG MỚI

Chẳng có gì mới mẻ về truyền thống văn học địa phương trong văn chương Mỹ. Nó cũng xa xưa như những truyền thuyết của người Da đỏ, cũng khơi gợi trí tưởng tượng như các tác phẩm của James Fenimore Cooper và Bret Harte, cũng nhiều âm vang như tiểu thuyết của William Faulkner và các vở kịch của Tennessee Williams. Mặc dầu vậy, có một thời, vào khoảng sau Chiến tranh thế giới thứ II, truyền thống đó dường như biến mất trong bóng chập choạng của thời đại – trừ phi người ta nhận định, mà có lẽ là rất đúng, rằng tiểu thuyết về đô thị cũng là một dạng của chủ nghĩa địa phương. Tuy nhiên, trong thập kỷ vừa qua hay vào khoảng ấy, văn học địa phương đã thực hiện một sự trở về ngoạn mục, vang dội trong nền văn học Mỹ khiến cho độc giả có ý thức về không gian cũng như là có ý thức về thời gian và thân phận con người. Và nó cũng trở nên thịnh hành trong các thể loại tiểu thuyết phổ biến như là truyện trinh thám chẳng hạn, cũng như trong văn học cổ điển với tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch nói.

Ở đây có một vài lý do khả dĩ cho sự tái xuất hiện này. Cái chính là, tất cả các loại hình nghệ thuật ở Mỹ đã trở nên phi tập trung trong các thế hệ qua. Sân khấu, âm nhạc, múa có xu hướng phát triển mạnh ở các vùng đô thị ở miền Nam, Tây Nam và Tây Bắc nước Mỹ cũng như những thành phố lớn như New York và Chicago. Các công ty điện ảnh làm phim trên khắp đất Mỹ hoặc vô số nơi khác. Văn học Mỹ cũng vậy. Các nhà xuất bản nhỏ hơn tập trung vào tiểu thuyết đua nở rực rỡ bên ngoài “dãy phố xuất bản” của thành phố New York. Các cuộc hội thảo và hội nghị của các nhà văn trở thành mốt thời thượng hơn bao giờ hết, trong khi các lớp dạy viết văn và học văn cũng trở thành cơn sốt ở khắp các trường đại học trong nước. Chẳng có gì lạ khi các tài năng chớm nở có thể khai hoa bất cứ ở đâu. Tất cả những cái mà người ta cần để viết văn chỉ là một cây bút chì, giấy và quan điểm.

Những nét khỏe khoắn, thanh tân nhất của trào lưu văn học địa phương mới là sự bành trướng và đa dạng của nó. Nó tràn qua khắp nước Mỹ từ Đông sang Tây. Một cuộc hành trình văn học xuyên suốt lục địa được bắt đầu ở vùng Đông Bắc ở Albany, New York với trung tâm điểm của sự chú ý là người con của vùng đó, William Kennedy, đã một thời là nhà báo. Kennedy, tác giả của những tiểu thuyết về Albany trong số đó có các tiểu thuyết Ironweed (1983) và Very Old Bones (Chuyện rắc rối cũ rích – 1992) là bức tranh ảm đạm về cuộc sống của các cư dân ở các phố chợ và các quán rượu ở thủ phủ của bang New York.

Là một nhà văn viết tiểu thuyết, viết truyện ngắn, viết tiểu luận và cũng làm thơ rất sung mãn, giàu sức sáng tạo, Joyce Carol Oates cũng xuất thân từ vùng Đông Bắc nước Mỹ. Trong các tác phẩm đáng nhớ của bà, nỗ lực của các nhân vật bị ám ảnh phải đạt cho được thành công trong những môi trường méo mó kỳ cục của họ cuối cùng đã dẫn họ đến sự hủy hoại. Những tác phẩm hay nhất của bà được tuyển chọn trong các tuyển tập như là The Wheel of Love (Bánh xe của tình yêu 1970) và Where Are you Going, Where Have You Been? (Anh đi đâu, anh ở đâu? – 1974). Stephen King, bậc thầy của thể loại tiểu thuyết kinh dị bán chạy, thường lấy bối cảnh cho các tác phẩm kinh dị của ông tại Maine – trong cùng một khu vực. Xuôi theo ven biển, trong vùng phụ cận Baltimore bang Maryland, nhà văn Anne Tyler trình bày bằng cái giọng giản dị, điềm tĩnh về những cuộc đời phi thường và những nhân vật kiệt xuất. Những tiểu thuyết như Dinner at the Homesick Restaurant (Ăn tối ở nhà hàng Nhớ nhà – 1982), The Accidental Tourist(Người du khách bất ngờ – 1985), Breathing Lessons (Bài học hô hấp – 1988) và Saint Maybe (Thánh có thể – 1991) đã làm tên tuổi của bà vang dội trong làng văn và trong lòng công chúng rộng rãi.

Cách Baltimore không xa là thủ đô Washington cũng có truyền thống văn học của riêng mình, nếu không muốn nói là một dòng văn học còn giấu mình trong bóng tối ở giữa cái thành phố mà mối quan tâm chủ yếu là chính trị. Trong số những nhà văn vẽ được những bức tranh rõ ràng về cuộc sống ở trong và vành ngoài guồng máy chính phủ và quyền lực của đất nước, có tiểu thuyết gia Ward Just – một cựu phóng viên quốc tế đã theo đuổi sự nghiệp thứ hai của mình là viết về cái thế giới mà anh biết từng chân tơ kẽ tóc: thế giới của các phóng viên báo chí, các chính trị gia, các nhà ngoại giao, và giới binh nghiệp. Cuốn sách Nicholson at Large(Nicholson tự do – 1975) một khảo cứu về giới làm báo trong và sau nhiệm kỳ của tổng thống John F. Kenedy vào đầu những năm 1960, In the City of Fear (Ở thành phố của nỗi sợ hãi – 1982) một phác thảo về Washington trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam; và Jack Gane (1989), một cái nhìn tỉnh táo về một chính khách Chicago và sự thăng tiến của ông ta đến chức vụ Thượng nghị sĩ Mỹ, là vài cuốn tiểu thuyết trong số những tác phẩm gây ấn tượng của Ward Just.

Cuốn truyện Children of Power (Con cái của giới quyền lực – 1979) của Susan Richards Shreve mổ xẻ cuộc sống riêng tư của nhóm con cái của các quan chức chính phủ, trong khi tiểu thuyết gia nổi tiếng Tom Clancy, một công dân bang Maryland đã dùng bối cảnh của giới chính trị – quân sự ở Washington làm bệ phóng cho một loạt các câu chuyện ly kỳ mang tính sử thi hoành tráng của ông.

Hướng về phía Nam, Reynolds Price và Jill McCorkle xuất hiện trong tầm nhìn của chúng ta. Price, chính là bậc thầy của Tyler, đã được một nhà phê bình mô tả hồi thập niên 70 là giữ một vị trí lỗi thời của “nhà văn nội trú miền Nam”[9]. Ông gây được sự chú ý của dư luận lần đầu tiên với cuốn A Long and Happy Life (Một cuộc đời dài lâu và hạnh phúc – 1962) đề cập con người và mảnh đất về miền Đông bang Bắc Carolina và đặc biệt là nhân vật nữ trẻ tuổi tên là Rosacoke Mustian. Ông tiếp tục viết những câu chuyện về nữ nhân vật này nhiều năm sau đó, rồi lại chuyển mối quan tâm của ông sang các chủ đề khác trước khi quay trở lại với người phụ nữ này trong tác phẩm Kate Vaiden (1986) khá nổi tiếng – tác phẩm duy nhất viết ở ngôi thứ nhất. Tác phẩm mới nhất của Price, Blue Calhoun (Ông Calhoun sầu muộn – 1992) khám phá ảnh hưởng của một cuộc tình say đắm, định mệnh qua nhiều thập kỷ trong đời sống của một gia đình.

McCorkle sinh năm 1958 và vì vậy là đại biểu cho thế hệ các nhà văn mới đã sáng tác các tiểu thuyết và truyện ngắn của cô trong bối cảnh là những thị trấn nhỏ của bắc Carolina, để khám phá những bí ẩn của tuổi vị thành niên (Cuốn The Cheer Leader – Người xướng giọng hoan hô – 1984), những mối ràng buộc giữa các thế hệ (trong cuốn Tending to Virginia – Hướng về Virginia – 1987) và đặc biệt là sự nhạy cảm của phụ nữ miền Nam hiện đại (Crash Diet – Ăn kiêng bằng mọi giá – 1992).

Một nhà văn cũng của vùng đó là Pat Conroy, tác giả của những cuốn tiểu thuyết mang tính tự thuật đầy kích thích về tuổi thơ của ông lớn lên ở nam Carolina và người cha độc đoán, thô bạo của mình (Trong cuốn The Great Santini – Santini vĩ đại – 1976) và The Prince of Tides (Ông hoàng của các trào lưu – 1986). Đó là những cuốn truyện đầy ý thức về vẻ đẹp thiên nhiên của vùng đất trũng ở bang Nam Carolina. Shelby Foote, một người dân vùng Mississippi sống ở Memphis bang Tennessee một thời gian dài, là nhà viết biên niên sử lâu năm của miền Nam. Những cuốn tiểu thuyết và lịch sử của ông đã đem lại cho ông một vai diễn trong một loạt phim truyền hình thành công về thời kỳ Nội chiến.

Vùng trung tâm của nước Mỹ ấp ủ trong lòng nó rất nhiều tài năng văn chương, trong số đó có Jane Smiley, một giáo sư dạy viết văn ở Đại học bang Iowa. Smiley đoạt giải thưởng Pulitzer năm 1992 về tiểu thuyết cho cuốn A Thousand Acres (Một ngàn mẫu đất – 1991), một tiểu thuyết đã chuyển Vua Lear của Shakespeare đến một nông trại ở miền Trung Tây nước Mỹ và ghi lại mối xung đột gia đình hết sức cay đắng lại bùng lên khi ông chủ nông trại già nua quyết định giao lại đất đai của mình cho ba cô con gái.

Người viết biên niên sử của bang Texas – Larry McMurtry đặc tả tiểu bang quê hương của mình cùng với đời sống tình cảm của nó ở nhiều thời điểm khác nhau từ miền Tây đã biến mất ở thế kỷ 19 (Trong Lonesome Dove – Bồ câu cô đơn – 1985) đến sự bốc hơi của những thị trấn nhỏ thời hậu chiến (The Last Picture Show – Triển lãm tranh lần cuối – 1966).

Cormac McCarthy, phản ánh những cuộc chinh phục các sa mạc ở vùng Tây Nam nước Mỹ trong các cuốn tiểu thuyết Blood Meridian (Đường kinh tuyến máu – 1985) và Anything for Billy (Bất cứ thứ gì dành cho Billy – 1998), All The Pretty Horses (Tất cả những con ngựa đẹp – 1992) và The Crossing(Vượt tuyến – 1994) là một nhà văn có cuộc sống ẩn dật nhưng đặc biệt giàu trí tưởng tượng, cũng mới nhận được sự chú ý của dư luận. Được giới nghiên cứu công nhận là người thừa kế đúng mực của truyền thống văn học Gothic miền Nam, McCarthy đã để cho tính chất hoang sơ của vùng đất này mê hoặc cũng như là ông đã bị cuốn hút bởi sự man rợ của con người và những điều bất trắc.

Lấy phong cảnh tuyệt đẹp của quê hương New Mexico làm bối cảnh cho tiểu thuyết Ceremony (Nghi lễ – 1977) vốn được giới phê bình đánh giá rất cao, nữ văn sĩ người Mỹ – Da đỏ Leslie Marmon Silko đã mê hoặc được đông đảo bạn đọc. Giống như cuốn tiểu thuyết giàu chất thơ của N. Scott Momaday The Way to Rainy Mountain (Đường đi đến núi Mưa – 1969), Ceremony là một cuốn “tiểu thuyết đầy nhạc tính” được cấu trúc trên nền các nghi thức chữa bệnh của người Da đỏ. Một cuốn tiểu thuyết khác của Silko, cuốn The Almanac of the Dead (Niên lịch của người chết – 1991) là bức tranh toàn cảnh vùng Tây Nam từ những cuộc di dân của các bộ lạc cổ xưa cho đến những tên buôn lậu ma túy và những nhà đầu tư bất động sản vô lương tâm đồi bại sử dụng đất đai để kiếm lợi nhuận cho riêng mình. Nhà văn viết truyện hình sự bán rất chạy Tony Hillerman sống ở Santa Fe bang New Mexico cũng viết về vùng đất Tây Nam này của nước Mỹ, chọn hai viên cảnh sát Navajo siêng năng, khiêm tốn làm nhân vật chính.

Về phía Bắc, ở bang Montana, nhà thơ James Welch đặc tả cuộc vật lộn của người Mỹ Da đỏ để thoát khỏi cuộc sống gian khổ khắc nghiệt trong khu bảo tồn, một cuộc sống ngập ngụa trong rượu chè và đói nghèo, trong những tác phẩm ngắn gọn hầu như toàn bích của ông như Winter in the Blood (Mùa đông máu lửa – 1974), The Dead of Jim Loney (Xác chết của Jim Loney – 1979), Fools Crow (Bọn ngốc nghếch huênh hoang – 1986) vàThe Indian Lawyer (Luật sư Da đỏ – 1990). Một nhà văn khác là đồng hương của James Welch là Thomas McGuane, tác giả của những cuốn tiểu thuyết luôn luôn tập trung vào những vấn đề của đàn ông như Ninety-Two in the Shade (Chín hai độ trong bóng râm – 1973) và Keep the Change(Hãy giữ lấy tiền lẻ – 1989) kể lại giấc mơ về những cội nguồn trong lúc đã bị xa lìa nguồn cội. Louise Erdrich, có một phần dòng máu của bộ lạc Da đỏ Chippewa thì cho ra đời một loạt tiểu thuyết về tiểu bang láng giềng với Montana là Bắc Dakota. Trong những tác phẩm như Love Medicine (Thuốc yêu – 1984) bà đã miêu tả sâu sắc cuộc sống rối rắm của các gia đình không còn đủ chức năng ở các khu vực bảo tồn bằng một sự hòa trộn đau xót giữa chủ nghĩa khắc kỷ và tính trào lộng.

Có hai nhà văn điển hình cho vùng Viễn Tây trong một thời kỳ. Một người là Wallace Stegner quá cố, sinh năm 1909 ở vùng Trung Tây và chết trong một tai nạn xe cộ vào năm 1993. Stegner phiêu bạt đó đây ở miền Tây trong suốt cuộc đời, ông có được một tri kiến về bản sắc địa phương thậm chí còn trước khi nó trở thành thời thượng. Tác phẩm lớn nhất của ông The Big Rock Candy Mountain (Núi kẹo đá lớn – 1943) kể lại lịch sử một dòng họ ấp ủ giấc mơ Mỹ bởi cái vẻ ngoài cám dỗ của miền Tây vào cái lúc mà đường biên giới hầu như biến mất. Câu chuyện trải ra khắp nước Mỹ, từ tiểu bang Minesota đến tiểu bang Washington, và những mối quan tâm của nó, như Stegner đã nêu là “vùng đất của những vẻ đẹp phi phàm đã lôi kéo cả đất nước đi về phía Tây”. Tác phẩm đoạt giải Pulitzer của ông (Angle of Repose – 1971) chan chứa tinh thần của vùng đất trong bức chân dung về một nữ văn sĩ và họa sĩ minh họa của miền Tây xưa. Trong thực tế, sức mạnh trong ngòi bút của ông chính là những nét điển hình hóa, cũng như là sự gợi tả sâu sắc về sự khắc nghiệt của cuộc sống miền Viễn Tây.

Joan Didion, vừa viết báo vừa viết tiểu thuyết là người có tầm tưởng tượng rất xa trong những năm gần đây, đã đặt bản đồ California hiện thời vào bộ sách của bà vào năm 1968 Slouching Toward Bethlehem (Lê bước về Bethlehem[10]) và trong một cuốn tiểu thuyết hết sức sắc sảo, gây chấn động của bà về tính vô mục đích của màn ảnh Hollywood, cuốn Play It As It Lays (Chơi y như đã sắp xếp – 1970).

Vùng Tây Bắc Thái Bình Dương, một trong những vùng đất khá màu mỡ về văn học nghệ thuật trong toàn cảnh văn hóa vào đầu những năm 90, đã sản sinh ra Raymond Carver, một cây viết truyện ngắn xuất sắc. Carver chết một cách bi thảm vào năm 1988 ở tuổi 50, chẳng bao lâu sau khi ông nổi tiếng trên làng văn. Văn của ông là tấm gương phản chiếu thái độ và quan điểm của giai cấp lao động sống trong vùng của ông trong những tuyển tập như What We Talk About When We Talk About Love (Chúng tôi nói gì khi chúng tôi bàn về tình yêu – 1974) và Where I’m Calling From (Tôi đang gọi từ đâu – 1986). Trong những truyện ngắn này ông đã đặt các nhân vật của mình vào khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp mà phần lớn vẫn còn giữ nguyên cái vẻ trinh nguyên của nó.

Thành công của trào lưu sân khấu địa phương – các công ty có tôn chỉ nâng cao chất lượng nghệ thuật một cách vô vụ lợi đã trở thành các địa điểm của nền văn hóa đương đại ở hết thành phố này đến thành phố khác khắp trên nước Mỹ. Từ những năm đầu thập niên 60, những cơ sở này đã bồi dưỡng và đào tạo nên những tài năng soạn kịch trẻ tỏa sáng rực rỡ trong sân khấu hiện đại. Người ta tự hỏi văn chương và sân khấu của Mỹ ngày nay sẽ ra sao nếu thiếu đi cái xã hội tan vỡ thành nhiều mảnh, sáng chói và những mối quan hệ tàn bạo của nó với Sam Shepard (trong Buried Child – Đứa trẻ bị chôn vùi – 1979); A Lie of the Mind (Lời nói dối của tâm trí – 1985); những nhân vật vô đạo và những lời thoại rời rạc gây kinh hoàng của nhà soạn kịch Chicago, David Mamet (trong American Buffalo – Trâu rừng Bắc Mỹ – 1976); Glengarry Glen Ross (1982); sự thâm nhập của các giá trị truyền thống vào cuộc sống miền Trung Tây và những mối bận tâm được phản ánh trong tác phẩm của Lanford Wilson (5th of July – Ngày 5 tháng 7 – 1978; Talley’s Folly – Sự ngu xuẩn của Talley – 1979) và phong cách lập dị miền Nam của Beth Henley (trong Crimes of the Heart – Trái tim tội lỗi – 1979).

Văn học Mỹ đã trải qua một con đường dài, quanh co từ buổi đầu thành lập thuộc địa cho đến nay. Xã hội, dòng lịch sử, và sự phát triển khoa học kỹ thuật, tất cả đều có tác động mạnh đến nó. Mặc dầu vậy, rốt cuộc vẫn có một điều vĩnh hằng đó là con người, với tất cả vẻ đẹp rực rỡ và xấu xa của nó, với những truyền thống và điều hứa hẹn của nó.


[1] Cuốn truyện này xoay quanh nhân vật phản diện John Sossarian, một sĩ quan đồn trú ở một sân bay tại một hòn đảo ở Địa Trung Hải trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai. Tác phẩm khắc họa những nỗ lực tuyệt vọng của anh ta để sống sót. Từ Catch trong Catch – 22, liên quan đến một điều lệ bí mật của không quân cho rằng một phi công cho là mất trí nếu anh ta sẵn lòng thực hiện một chuyến bay nguy hiểm. Nhưng nếu anh ta chính thức yêu cầu được rút khỏi nhiệm vụ này thì điều đó có nghĩa là anh ta còn tỉnh táo và không đủ tư cách để được cứu trợ. Tựa đề của cuốn sách đã góp mặt trong từ vựng tiếng Anh như một ám chỉ đến tiền đề của những chuyến đi không có ngày về.

[2] Vở kịch này đã được dịch ra tiếng Việt và trình diễn trên các sân khấu ở ta.

[3] Crucible: còn có nghĩa là nồi nấu kim loại (của những người hành nghề phù thủy).

[4] On the Road dõi theo bước đường rong ruổi của hai nhân vật chính “Sal Paradise” và “Dean Moriarty”, trên lục địa Bắc Mỹ, suốt từ bờ biển phía Đông sang bờ biển phía Tây và đến Mexico. Trên những nẻo đường này họ thoát khỏi những bổn phận nhàm chán, tự do với mọi thứ đàn bà, âm nhạc, rượu và những cuộc đàm luận. Chúng tôi dịch thoát tựa sách này thành Trên con đường tự do.

[5] Cuốn truyện kể về tiểu thuyết gia Ken Kesey từng có biệt danh là “Chàng trai vàng”, một trong những tiểu thuyết gia hàng đầu trong thế hệ của ông, ngoài ra ông còn là một nhà bác học, một nghệ sĩ một siêu sao trong thể thao. Ken đã dẫn đầu một nhóm hippy đi khắp nước Mỹ trong một chiếc xe buýt vào đầu những năm 60. Electric Kool – Aid còn được gọi là LSD, một loại ma túy gây ra ảo giác.

[6] Virginia Woolf (1882 – 1941): nữ nhà văn Anh có những cống hiến đặc biệt cho thể loại tiểu thuyết và đồng thời là một nhà phê bình văn học xuất sắc.

[7] Entropy: có nghĩa là tình trạng trơ lì đồng nhất của vũ trụ hoặc sự suy tàn dẫn tới hủy hoại mọi hình thức, kiểu mẫu và khác biệt.

[8] Women Hollering Creek and Other Stories là một tuyển tập truyện ngắn về các cảnh đời của phụ nữ ở hai bên đường biên giới Mexico. Phụ nữ trong các truyện ngắn này kể về những khám phá đầy thú vị bất ngờ với một sự khôn ngoan kín đáo. Chúng tôi xin tạm dịch là Chuyện phụ nữ.

[9] Nhà văn nội trú (Writer Inresidence): nhà văn ăn ở tại cơ sở (trường đại học hoặc cộng đồng) được trả lương để họ làm việc tại đó một thời gian. Chúa Jesus Christ sinh ra ở Bethlehem.

[10] Chúa Jesus Christ sinh ra ở Bethlehem.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_viii.html

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 7: Thi ca phản truyền thống Hoa Kỳ từ 1945

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai, một sự thay đổi lớn thoát khỏi quan niệm cho rằng các hình thức, nội dung truyền thống và lịch sử có thể mang lại ý nghĩa và tính liên tục cho cuộc sống con người đã hình thành trong trí tưởng tượng văn học đương đại khắp nơi trên thế giới, bao gồm cả Hoa Kỳ. Những biến cố từ Chiến tranh Thế giới Thứ hai đã sản sinh ra nhận thức về lịch sử như là một chuỗi không liên tục: mỗi hành động, cảm xúc, và khoảnh khắc đều được xem là độc nhất. Phong cách và hình thức giờ đây hình như chỉ là nhất thời, tạm bợ, tự phản chiếu quá trình sáng tạo và sự tự nhận thức của tác giả. Những loại hình diễn đạt quen thuộc trở nên đáng nghi ngờ, tính sáng tạo đang trở thành một truyền thống mới.

Không khó khăn gì trong việc tìm ra những nguyên nhân lịch sử cho những tính cách nhạy cảm bị phân hóa này ở Mỹ. Đó là Chiến tranh Thế giới Thứ hai, sự trỗi dậy của một đám đông vô danh và chủ nghĩa tiêu thụ trong một xã hội đô thị tập trung, những phong trào phản kháng vào thập niên 60, cuộc chiến tranh chống Việt Nam kéo dài cả thập kỷ, chiến tranh lạnh, những hiểm họa môi trường – bản liệt kê những cú sốc của nền văn hóa Mỹ còn dài và đa dạng. Tuy nhiên, chính các phương tiện truyền thông và nền văn hóa đại chúng đã thay đổi về căn bản xã hội Mỹ. Đầu tiên là đài phát thanh rồi phim ảnh và giờ đây là sự hiện diện toàn năng, đồng thời ở khắp nơi của vô tuyến truyền hình đã làm thay đổi cuộc sống người dân Mỹ tận gốc rễ. Từ một nền văn hóa trí tuệ, học vấn cao, mang dấu ấn cá nhân chỉ dựa vào sách vở, đôi mắt và việc đọc, Hoa Kỳ đã trở thành một nền văn hóa dựa vào những phương tiện truyền thông hòa theo cung giọng trên radio, theo dòng nhạc của đĩa compact và băng cassette, phim và hình ảnh trên màn hình tivi.

Thơ ca Mỹ cũng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những nguồn thông tin đại chúng và kỹ thuật điện tử. Phim ảnh, băng video và băng cassette ghi âm những bài thơ và những cuộc phỏng vấn các nhà thơ đều có bán sẵn và những phương pháp in ấn sao chụp mới mẻ và rẻ tiền đã khuyến khích các nhà thơ trẻ tự ấn hành tác phẩm và các chủ bút trẻ cho ra mắt các tạp chí văn học – nay có khoảng hơn 2000 tờ. Từ khoảng cuối thập niên 50 đến nay người dân Mỹ ngày càng ý thức được rằng kỹ thuật vốn hết sức có ích vẫn bộc lộ những hiểm nguy qua một loạt hình ảnh gây ấn tượng lệch lạc. Đối với những người dân Mỹ ưa tìm kiếm những điều mới lạ, thơ ca có vẻ như gần gũi hơn trước đây: Nó mang lại cho con người cách diễn đạt đời sống chủ quan và nói lên ảnh hưởng của kỹ thuật và xã hội đại chúng lên mỗi cá nhân.

Kết quả là có rất nhiều phong cách ra đời. Một vài phong cách mang tính chất địa phương, vài phong cách kết hợp với các trường phái hay những nhà thơ nổi tiếng, ganh đua quyết liệt để thu hút sự chú ý. Thơ ca Mỹ đương đại được phân tán thành nhiều dòng, thay đổi thật phong phú, và không thể tổng kết được. Tuy nhiên, để tiện trao đổi bàn luận, nó có thể được xếp theo một hình quang phổ, tạo ra ba phần giao nhau – phần truyền thống ở một phía, phần đặc dị ở giữa, và phần thể nghiệm ở phía kia. Những nhà thơ truyền thống duy trì hay làm sống lại những truyền thống thi ca. Những nhà thơ đặc dị sử dụng cả những kỹ thuật truyền thống lẫn cách tân trong việc tạo ra những giọng nói riêng. Những nhà thơ thể nghiệm cố gắng đạt được những phong cách văn hóa mới.

TRÀO LƯU TRUYỀN THỐNG

Những nhà thơ truyền thống bao gồm các nhà thơ được công nhận bậc thầy trong cả thể loại và phong cách diễn đạt truyền thống. Họ làm thơ với một kỹ năng dễ nhận biết, thường sử dụng vần điệu hay một kiểu hiệp vần nhất định. Họ thường xuất thân từ bờ biển phía Đông hay phía Nam nước Mỹ và thường giảng dạy ở các trường đại học. Đó là Richard Eberhart và Richard Wilbur; những nhà thơ lão thành trong nhóm Fugitive như John Crowe Ranson, Allen Tate và Robert Penn Warren; những nhà thơ trẻ đầy tài năng như John Hollander, Richard Howard và Robert Lowell ở thời kỳ đầu là những gương mặt nổi bật. Họ đã được công nhận và tác phẩm của họ thường được chọn vào các tuyển tập thơ.

Chương trước ta đã nói đến sự trau chuốt, thái độ trân trọng thiên nhiên, và những giá trị trường tồn sâu sắc của những nhà thơ trong nhóm Fugitive. Những tính chất này đã làm tăng giá trị cho thơ ca hướng về truyền thống. Thơ của phái truyền thống thường chính xác, hiện thực và dí dỏm thông minh, chẳng hạn như Richard Wilbur (1921 -…), họ chịu ảnh hưởng bởi những tôn chỉ của các nhà thơ siêu hình Anh thế kỷ 15 và thế kỷ 16 đã được sự ủng hộ của T. S. Eliot.

Bài thơ nổi tiếng nhất của Wilbur, “A World Without Objects Is a Sensible Emptiness” (Một thế giới không vật thể là một khoảng trống nhạy cảm – 1950), tựa đề bài thơ lấy từ ý tưởng của Thomas Traherne, một nhà thơ siêu hình. Đoạn mở đầu sinh động của nó minh họa cho sự trong sáng mà một vài nhà thơ đã tìm được trong nhịp điệu và tính đều đặn hợp quy.

Những con lạc đà cao lớn của linh hồn
Ồn ào vượt qua lùm cây cuối cùng tiến vào sa mạc
Cùng với tiếng kêu của con châu chấu bay đến bọng mật
của mảnh đất khô cằn
Mặt trời. Chúng chậm chạp, tự hào.

Những nhà thơ truyền thống, không giống với nhiều nhà thơ theo trào lưu thể nghiệm, những người không tin cậy vào sự diễn đạt “quá nên thơ”, đã hoan nghênh những câu có âm hưởng đầy chất thơ. Robert Penn Warren (1905 – 1989) kết thúc một bài thơ bằng những từ “để yêu say đắm cái thế giới mà cuối cùng chúng ta có thể tin tưởng vào Thượng Đế”. Allen Tate (1899 – 1979) kết thúc một bài thơ như sau: “Người lính canh nghĩa địa tính đến cả chúng ta”. Những nhà thơ truyền thống đôi lúc cũng dùng lối diễn đạt có phần khoa trương đầy những từ cổ và kỳ lạ, dùng nhiều hình dung từ (ví dụ “con cú thảm sầu”) và đảo ngữ, trong đó trật tự của ngôn ngữ nói tự nhiên bị thay đổi một cách gượng ép. Đôi lúc cũng đạt đến sự tao nhã, như trong câu thơ trên của Warren, đôi lúc thơ có vẻ cứng ngắc với những giới hạn của cảm xúc giả tạo như trong câu của Tate: “Chạm một cách viển vông vào đường viền áo của người giáo sĩ”.

Một đôi khi, như trong thơ của Hollander, Howard và James Merrill (1926 -…) sự diễn đạt mang tính cách tự nhận thức kết hợp với sự hóm hỉnh, lối chơi chữ và những điển tích. Merrill thực sự đổi mới trong những đề tài về đô thị của mình, những câu thơ không theo vần, những đề tài riêng tư và một giọng thơ trò chuyện nhẹ nhàng, chia sẻ cách diễn đạt hóm hỉnh với những nhà thơ theo phong cách truyền thống như trong “The Broken Heart” (Trái tim tan vỡ – 1966), viết về một cuộc hôn nhân như thể nó chỉ là một ly cốc-tai:

Vẫn là câu chuyện xưa cũ ấy
Cha Thời Gian và mẹ Đất Lành
Cuộc hôn nhân có nguy cơ tan vỡ.

Sự lưu loát minh bạch và kỹ thuật phô trương bằng lời được một số nhà thơ sử dụng, như Merrill và John Ashbery, khiến cho họ thành công nhìn theo góc độ truyền thống, mặc dù thơ của họ đã định nghĩa lại thơ ca theo những cách đổi mới triệt để. Phong cách cao nhã duyên dáng làm cho một số nhà thơ có vẻ như mang âm hưởng truyền thống hơn trong thực tế, như trường hợp Randall Jarrell (1914 – 1965) và A. R. Ammons (1926 -…). Ammoms tạo nên những đối thoại đầy kịch tính giữa con người và thiên nhiên, còn Jarrell khai thác lĩnh vực nhận thức bị vướng mắc của những người bị tước đoạt quyền lợi: phụ nữ, trẻ con, những người lính thất vọng, như trong “The Death of the Ball Turret Gunner” (Cái chết của người lính pháo binh tháp Tròn – 1945):

Từ giấc ngủ của mẹ tôi, tôi rơi xuống tiểu bang
Và tôi cúi xuống cái dạ dày của nó cho đến khi bộ lông ướt của tôi đông giá
Thả mình từ giấc mơ của cuộc đời, tôi rơi từ độ cao 6 dặm
Tôi thức dậy do tiếng súng đen ngòm và những chiến binh ác mộng
Khi tôi chết người ta sẽ dùng vòi nước xịt tôi bắn ra khỏi tháp

Mặc dù nhiều nhà thơ truyền thống sử dụng vần điệu nhưng không phải tất cả thơ có vần điệu đều có chủ đề và giọng thơ truyền thống. Nhà thơ Gwindolyn Brooks (1917 -…) viết về những khó khăn khi sống trong những khu ổ chuột ở thành phố – chứ đừng nói đến chuyện viết lách. Bài thơ “Kichenette Building” (Nhà chung cư – 1945) của bà đặt câu hỏi:

Có thể chăng một giấc mơ bay lên qua làn khói mùi hành
Màu trắng và tím của nó chiến đấu với khoai chiên
Và rác thải ngày hôm qua đang chín ở hành lang…

Nhiều nhà thơ bao gồm Brooks, Adrienne Rich, Richard Wilbur, Robert Lowell và Robert Penn Waren bắt đầu viết theo phong cách truyền thống, sử dụng vận luật, nhưng đã từ bỏ tất cả điều này vào thập niên 60 dưới áp lực của những biến cố xã hội và một khuynh hướng tiến dần đến những hình thức cởi mở.

Robert Lowell
(1917 – 1977)

Là nhà thơ hiện đại có nhiều ảnh hưởng nhất, Robert Lowell khởi đầu sự nghiệp theo khuynh hướng truyền thống nhưng dần dần bị ảnh hưởng bởi trào lưu thể nghiệm. Bởi vì cuộc sống và sáng tác của ông là nhịp cầu nối thời gian giữa những bậc thầy trong trường phái hiện đại như Ezra Pound với những nhà thơ đương thời, nên sự nghiệp thi ca của ông hướng các nhà thơ theo khuynh hướng thể nghiệm sau này vào trong một khoảng trời rộng lớn hơn.

Lowell là khuôn mẫu điển hình của một nhà thơ kinh viện: người Da trắng, phái mạnh, theo đạo Tin lành từ thuở lọt lòng, học vấn cao, và có quan hệ mật thiết với giới hoạt động xã hội và chính trị. Ông là hậu duệ của một dòng họ thuộc giới được gọi là Brahmin trâm anh thế phiệt rất được trọng vọng ở Boston, đã góp cho đời nhà thơ nổi tiếng thế kỷ 19 – — James Russel Lowell – và một viện trưởng gần đây của đại học Harvard. Tuy nhiên, Robert Lowell tự khẳng định mình mà không dựa vào gia thế và những ưu thế trời cho. Ông không học Harvard mà học đại học Kenyon ở Ohio, nơi ông chối bỏ tổ tiên Thanh giáo của mình và theo Công giáo. Bị tù một năm vì phản đối Chiến tranh Thế giới Thứ hai với lương tri của một nhà thơ nhân đạo. Sau này, ông công khai phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam.

Những cuốn sách đầu tiên của Lowell: Land of Unlikeness (Vùng đất của những điều kỳ lạ – 1944) và Lord Weary’s Castle (Lâu đài của ngài Weary – 1946), đoạt giải thưởng Pulitzer, thể hiện khả năng nắm vững các hình thức và phong cách truyền thống, những cảm nhận mạnh mẽ và cái nhìn tiên tri về lịch sử dù mang đậm dấu ấn cá nhân.

Sức mạnh phê phán và sự chính xác của các tác phẩm đầu tay của ông đặc biệt mạnh mẽ trong những bài thơ như “Children of Light” (Trẻ em của ánh sáng – 1946) là lời lên án gay gắt những người Thanh giáo đã giết hại những người Da đỏ còn con cháu của họ thì đốt hết lương thực thừa thay vì chở đến cho người đói khổ. Lowell viết:

Cha ông chúng ta moi bánh mì từ gông cùm và đá tảng
Rồi rào vườn mình bằng xương người Da đỏ.

Cuốn sách kế tiếp của Lowell, The Mills of the Kavanaughs (Máy xay bột của gia đình Kavanaughs – 1951) chứa đựng những độc thoại cảm động đầy kịch tính trong đó thành viên của gia đình này bộc lộ sự nhẫn nại dịu dàng và điểm yếu của họ. Vẫn luôn luôn là như vậy, phong cách của ông hòa trộn những gì thuộc về con người với những điều lớn lao vĩ đại. Ông thường sử dụng âm vận truyền thống, nhưng phong cách phổ thông của ông ngụy trang điều đó cho đến khi nó có vẻ như một giai điệu nền. Tuy vậy, loại thơ thể nghiệm này đã tạo cho Lowell bước đột phá để có được một bút pháp riêng đầy sáng tạo.

Trong một chuyến đi đọc thơ vào giữa những năm 50, Lowell lần đầu tiên được nghe một số bài thơ thể nghiệm: Bài Howl (Tiếng hú) của Allen Ginsberg và Myths and Texts (Huyền thoại và văn bản) của Gary Snyder, lúc đó còn chưa xuất bản, được đọc và ngâm đôi lúc có đệm nhạc Jazz trong những quán café ở North Beach, một vùng ở San Francisco. Lowell cảm thấy đặt cạnh những bài thơ này, những bài thơ hoàn hảo của ông quá khô cứng, khoa trương và đóng khung trong ước lệ sáo mòn. Khi nghe lại âm hưởng của chúng bằng cách đọc to lên, ông có dịp sửa chữa để làm cho chúng có được vẻ lấp lánh đời thường. “Những bài thơ của tôi có vẻ giống như những con quái vật thời tiền sử bị kéo xuống vùng lầy và bị chết bởi một bộ áo giáp rỗng tuếch của nó”, sau này ông đã viết như vậy, “tôi đang ngâm nga những điều mà chính tôi cũng không cảm được nữa”.

Vào thời điểm này, Lowell cũng như nhiều nhà thơ khác sau ông, chấp nhận sự thách thức: học hỏi từ truyền thống cạnh tranh ở Mỹ -đó là môn phái của William Carlos Williams. Lowell viết vào năm 1962: “Dường như không một nhà thơ nào, ngoại trừ Williams, đã thật sự nhìn thấy nước Mỹ hay nghe được ngôn ngữ của nó”. Từ đó, Lowell thay đổi cách viết của mình một cách triệt để, sử dụng “những thay đổi đột ngột của giọng điệu, không khí và tốc độ” mà Lowell thán phục nhất trong thơ của Williams.

Lowell cắt bỏ những ám chỉ tối nghĩa; âm vận của ông trở nên nhất quán với nội dung của bài thơ thay vì áp đặt lên nó. Cấu trúc những khổ thơ cũng bị phá bỏ; những hình thức ứng tác mới nảy sinh. Trong Life Studies(Những khám phá về cuộc đời – 1959), ông khởi xướng một lối thơ tự bạch, một phương thức mới mẻ trong đó ông phơi bày những vấn đề riêng tư dằn vặt nhất với sự chân thật hết mình và cảm xúc mãnh liệt. Thực chất, ông không chỉ khám phá ra con người thực của mình mà còn ca tụng nó trong những khía cạnh riêng tư khó nói nhất của nó. Ông đã biến đổi chính mình thành một con người mới, cảm thấy thoải mái với bản ngã của mình, một mảnh nhỏ và một cái gì đó trong tiến trình của cuộc sống.

Sự biến đổi của Lowell là một bước ngoặt trong thơ ca sau chiến tranh, mở ra một con đường mới cho nhiều tác giả trẻ hơn. Trong For the Union Dead(Họ hy sinh tất cả cho nền cộng hòa[1] – 1964), Notebook (Sổ tay – 1967-1969) và những cuốn sách sau này, ông tiếp tục những khám phá mang tính chất tiểu sử tự thuật và những đổi mới kỹ thuật của mình, sử dụng thành tựu của phân tâm học. Thơ tự bạch của Lowell đã gây ảnh hưởng một cách đặc biệt. Ta không thể hình dung được những tác phẩm của John Berryman, Anne Sexton và Sylvia Plath (hai người sau là sinh viên của ông) – xin đơn cử một vài người – mà không có Lowell.

NHỮNG NHÀ THƠ ĐẶC DỊ

Những nhà thơ phát triển những phong cách độc đáo, sử dụng truyền thống nhưng mở rộng nó vào những địa hạt mới mẻ với phong vị hiện đại đậm nét, bên cạnh Plath và Sexton còn có John Berryman, Theodore Roethke, Richard Hugo, Philip Levine, James Dickey, Elizabeth Bishop và Adrienne Rich.

Sylvia Plath
(1932 -1963)

Sylvia Plath có một khởi đầu đáng ao ước: được học bổng theo học đại học Smith, tốt nghiệp thủ khoa, rồi được học bổng Fulbright học tại đại học Cambridge, Anh. Tại đây bà gặp người chồng tương lai có sức cuốn hút lạ lùng của mình, thi sĩ Ted Hughes. Bà có với ông hai đứa con và sống trong một căn nhà miền quê ở nước Anh. Bên dưới sự thành công cứ như trong cổ tích, nhức nhối những vấn đề tâm lý không có lối thoát được gợi lên trong cuốn tiểu thuyết được ưa thích của bà The Bell Jar (Nắp chụp hình chuông – 1963). Ngoài một vài vấn đề riêng tư của bà còn có những vấn đề khác nảy sinh từ những thái độ áp bức phụ nữ vào thập niên 50. Trong những vấn đề này có những quan niệm được hầu hết phụ nữ chia sẻ -rằng phụ nữ không nên bộc lộ sự giận dữ, hoặc có tham vọng hoặc theo đuổi sự nghiệp của bản thân, mà hãy hoàn thành thiên chức của mình trong việc chăm sóc chồng con. Những người phụ nữ thành công như Plath đã sống trong nghịch lý như vậy.

Cuộc sống đẹp như trong tiểu thuyết của Plath bị phá vỡ khi bà và Hughes chia tay nhau và bà một mình nuôi các con nhỏ dại trong một căn hộ ở London vào một mùa đông lạnh lẽo chưa từng thấy. Bệnh tật, cô đơn và tuyệt vọng, Plath làm việc không tiếc sức để sáng tác một loạt bài thơ tuyệt vời trước khi tự tử trong nhà bếp bằng khí đốt. Những bài thơ này được tập hợp trong tập Ariel (1965) hai năm sau cái chết của bà. Robert Lowell, người viết lời giới thiệu, đã ghi nhận sự tiến bộ vượt bực của thơ bà từ thời bà và Anne Sexton còn dự những lớp thơ của ông năm 1958. Thơ của Plath buổi đầu được gọt giũa công phu và mang tính truyền thống, những bài thơ giai đoạn sau của bà tỏ ra táo bạo liều lĩnh và là tiếng kêu thống thiết đầy nữ tính. Trong bài “The Applicant” (Kẻ thỉnh cầu – 1966), Plath phơi bày sự trống rỗng, vô nghĩa của vai trò người vợ hiện đại (người được giảm xuống làm một sự vật gọi là “nó”):

Một con búp bê sống, anh nhìn thấy mọi nơi
Biết may vá thêu thùa và cơm nước
Và nói, nói thật nhiều, nói mãi.

Nó làm việc, chẳng có gì sơ xuất
Nếu anh bị trầy da, nó là thuốc dán.
Anh biết nhìn thì nó là hình ảnh.
Bạn của tôi ơi, nó là nơi trú ẩn cuối cùng của anh.
Anh có lấy nó không, lấy không, lấy không?

Plath mạnh dạn sử dụng một loại ngôn ngữ có vần vè của những bài đồng dao trẻ con với một sự bộc trực bạo liệt. Bà có biệt tài dùng những hình ảnh táo bạo của văn hóa đại chúng. Về trẻ thơ, bà viết “Tình yêu làm bé đi như một cái đồng hồ vàng tròn trịa”. Trong bài “Daddy” (Cha yêu) bà tưởng tượng cha mình là quỷ Dracula trong phim: “Có một cái cọc trong trái tim đen tối của cha và những người dân làng chẳng bao giờ thích cha”.

Anne Sexton
(1928 -1974)

Cũng như Plath, Anne Sexton là người phụ nữ nồng nhiệt, say mê đã cố gắng trong vai trò một người vợ, một người mẹ và một nhà thơ vào cái buổi giao thời ngay trước phong trào phụ nữ ở Mỹ. Cũng như Plath, bà bị bệnh tâm thần và cuối cùng đã phải tự vẫn. Thơ tự bạch của Sexton mang tính chất tự truyện hơn thơ của Plath và sự thiếu trau chuốt của thơ Plath trong thời kỳ đầu. Tuy vậy, những bài thơ của Sexton khêu gợi xúc cảm một cách mạnh mẽ. Chúng lao đầu vào tận ngõ ngách những đề tài cấm kỵ như tình dục, tội lỗi, và tự tử. Những bài thơ này thường bạo dạn đưa ra những chủ đề rất phụ nữ như sinh nở, thân thể người phụ nữ, hoặc hôn nhân nhìn từ góc độ của nữ giới. Trong những bài thơ như “Her Kind” (Đàn bà – 1960), Sexton coi mình như mụ phù thủy bị trói vào cọc để thiêu sống:

Ta ngồi trên xe của ngươi, gã tài xế,
vẫy chào làng quê đi qua bằng cánh tay trần
được biết những con đường tươi sáng cuối cùng, ngươi sống sót
nơi những ngọn lửa của ngươi còn ngấu nghiến đùi ta
và xương sườn ta vỡ vụn dưới bánh xe ngươi.
Một người đàn bà như thế không có gì xấu hổ khi phải chết
Ta cũng như bà ấy.

Tựa đề những bài thơ của bà cho thấy mối quan tâm đến sự điên loạn và cái chết. Trong đó, có những bài To Bedlam and Part Way Back (Nơi náo loạn và quãng đường quay lại – 1960), Live or Die (Sống hay chết – 1966), và cuốn sách in sau khi mất The Awful Rowing Toward God (Cuộc bơi xuồng dễ sợ về với Chúa – 1975).

John Berryman
(1914 -1972)

Cuộc đời của John Berryman có vài nét tương đồng với cuộc đời của Robert Lowell. Sinh ở Oklahoma, ông được dạy dỗ ở vùng Đông Bắc trước khi đến trường và học đại học Columbia, sau đó chuyển sang học đại học Princeton. Có thiên hướng về những hình thức thơ ca và vận luật truyền thống, ông lấy cảm hứng từ lịch sử ban đầu của đất nước và sáng tác những bài thơ mang tính cách tự trào, tự bạch trong tuyển tập Dream Songs (Những bài ca trong mơ – 1969) của mình. Tập thơ khắc họa một nhân vật kỳ cục tự kể về mình tên là Henry và những suy tư về chính công việc giảng dạy đơn điệu, chứng nghiện rượu kinh niên và tham vọng của mình.

Cũng giống như tác gia cùng thời với mình là Theodore Roethke, Berryman phát triển một phong cách uyển chuyển, tinh nghịch nhưng sâu sắc; sống động hẳn lên nhờ những cách nói trong văn học dân gian, đồng dao, đặc ngữ, tiếng lóng. Berryman viết về Henry: “Anh ta nhìn chăm chăm vào đổ nát. Đổ nát nhìn chăm chăm lại anh ta”. Một chỗ khác, ông viết một cách sắc sảo: “Ố la la! Khi sự thờ ơ đến, tôi rên xiết và nói năng ầm ĩ”.

Theodore Roethke
(1908 -1963)

Là con của một ông chủ nhà kính, Theodore Roethke phát triển một vốn ngôn ngữ đặc biệt gợi lại “thế giới nhà kính” của những côn trùng bé nhỏ và những dây mơ rễ má không nhìn thấy được: “Này sâu bọ, hãy đến sống cùng ta/ Đây là lúc ta gặp khó khăn”. Những bài thơ tình của ông trong tậpWords for the Wind (Lời gửi gió – 1958) ca ngợi vẻ đẹp và nỗi khát khao với những đam mê thơ ngây. Một bài thơ mở đầu như thế này: “Tôi biết một phụ nữ, xinh đẹp đến tận xương, Khi con chim nhỏ buồn, nàng thở dài với chúng”. Đôi lúc thơ của ông có vẻ giống những trang tốc ký của thiên nhiên hoặc những câu đố cổ xưa:

“Ai tung bụi vào tiếng động
Hỏi chuột đi, nó biết!”

Richard Hugo
(1923 -1982)

Richard Hugo, người thành phố Seattle – bang Washington, thuộc thế hệ đàn em của Theodore Roethke. Ông lớn lên nghèo khổ trong những khu phố tồi tệ nhưng có biệt tài truyền đạt niềm hi vọng, nỗi sợ hãi và sự thất vọng của tầng lớp lao động trong bối cảnh của miền Tây Bắc Hoa Kỳ.

Hugo viết những bài thơ hoài niệm, tự bạch với thể thơ iambic tiết tấu mạnh về những thị trấn nhỏ tồi tàn, bị bỏ quên trong vùng ông sống. Ông viết về sự nhục nhã, thất bại và những khoảnh khắc hiếm hoi chấp nhận được trong quan hệ con người. Ông hướng độc giả chú tâm vào những chi tiết thoáng qua, có vẻ như không gây một hiệu quả gì để tạo nên những điều có ý nghĩa hơn. Bài thơ “What Thou Lovest Well, Remains American” (Điều bạn yêu nhất vẫn là của Mỹ – 1975) kết thúc bằng hình ảnh một người mang những kỷ niệm về thị trấn quê nhà ngày xưa như thể chúng là cơm ăn thức uống.

Nếu mắc kẹt trong một
thị trấn cổ xưa
hoang vắng
bạn cần những người
yêu khát khao
tình bạn
và cảm thấy cần
được tiếp đón trong quán rượu bên đường
chúng đang đến đấy!

Philip Levine
(1928 -)

Philip Levine, sinh ở Detrort bang Michigan viết một cách bộc trực về những thua thiệt kinh tế của người công nhân với lối quan sát sắc sảo, sự phẫn nộ và mỉa mai đau xót. Giống như Hugo, ông xuất thân từ tầng lớp dân nghèo thành thị. Ông là tiếng nói của những cá thể cô đơn – nạn nhân của nền công nghiệp Mỹ. Phần lớn thơ ông mang âm hưởng ảm đạm và phản ánh một khuynh hướng vô chính phủ trong cái nhận thức rằng những hệ thống nhà nước sẽ bền vững.

Trong một bài thơ, Levine ví mình với một con cáo sống sót trong một thế giới hiểm nguy đầy những tay thợ săn chỉ nhờ vào lòng can đảm và sự tinh khôn của nó. Xét về cách sử dụng nhịp điệu, ông đã đi suốt con đường từ những kiểu âm vận truyền thống trong những bài thơ đầu tiên của mình đến những câu thơ tự do hơn, cởi mở hơn giai đoạn thơ sau này khi ông diễn đạt sự phản kháng đơn độc của mình chống lại những xấu xa của thế giới đương thời.

James Dickey
(1923 -)

James Dickey là một tiểu thuyết gia, một nhà viết tiểu luận đồng thời cũng là một nhà thơ. Ông là người tiểu bang Georgia. Bằng những suy ngẫm của mình, ông tin rằng đề tài chính của các tác phẩm ông là sự tiếp nối đang hiện hữu – hoặc phải hiện hữu – giữa bản ngã và thế giới. Phần lớn những gì ông viết đều xuất phát từ thiên nhiên – sông và núi, thời tiết và những hiểm họa ẩn chứa bên trong.

Vào cuối thập niên 60, Dickey bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết tựa đềDeliverance (Giải thoát) nói về mặt trái của mối quan hệ của cánh đàn ông. Một cuốn sách sau khi xuất bản và về sau được dựng thành phim, làm cho ông thêm nổi tiếng. Những tuyển tập thơ gần đây của ông nói về những đề tài khác nhau như là phong cảnh miền Nam (Jericho: the South Beheld – Miền Nam trong mắt ai – 1974) và ảnh hưởng của Kinh thánh trong cuộc sống của ông God’s Images (Hình ảnh Chúa – 1977). Dickey thường quan tâm tới sự cố gắng:

Vượt qua, thật vô vọng
Vượt qua cái đòi hỏi.

Elizabeth Bishop
(1911 -1979)

Adrienne Rich
(1929 -)

Trong số các nhà thơ nữ của nhóm các nhà thơ đặc dị, Elizabeth Bishop và Adrienne Rich đã đạt được sự trân trọng nhiều nhất trong những năm gần đây. Trí thông minh mẫn tiệp, sự quan tâm đến những phong cảnh đẹp ở những vùng xa xôi và những ẩn dụ về những cuộc du hành của Bishop lôi cuốn độc giả bởi sự chính xác và tinh tế. Cũng giống như thầy của bà, Marianne Moore, Bishop không lấy chồng, đã viết những bài thơ đạt đến trình độ nghệ thuật cao bằng một phong cách mô tả, lạnh lùng chất chứa những chiều sâu triết lý thầm kín. Sự mô tả biển Bắc Đại Tây Dương lạnh như băng trong bài “At the Fishhouses” (Tại làng đánh cá) có thể áp dụng cho thơ của Bishop. “Nó giống những điều ta tưởng tượng về kiến thức của ta/ Tối tăm, mặn mà, sáng trong, cảm động và tự do hoàn toàn”.

Cùng với Moore, Bishop có thể được đặt vào truyền thống thơ phụ nữ “lạnh lùng” quay trở lại với Emily Dickinson, nếu so sánh với những bài thơ “nóng bỏng” của Plath, Sexton, và Adrienne Rich. Dầu Rich bắt đầu sự nghiệp thơ ca bằng cách viết những bài thơ gắn với thể tài và âm vận truyền thống; những thi phẩm của bà, đặc biệt những bài thơ viết sau khi bà trở thành một nhà hoạt động tích cực vì nữ quyền vào thập niên 60, chứa đựng những cảm xúc mãnh liệt. Tài năng đặc biệt của bà thể hiện ở những ẩn dụ, như trong bài thơ kiệt xuất của bà “Diving Into the Wreck” (Lặn xuống con tàu đắm – 1973), gợi nhắc cuộc tìm kiếm bản sắc của một phụ nữ qua việc lặn xuống một con tàu bị đắm. Sự đắm chìm của con tàu cũng giống như việc tự đánh mất mình của người phụ nữ này. Một thông điệp được gửi tới, phụ nữ phải tìm cho mình một con đường riêng trong cái lãnh địa mà đàn ông làm chủ. Một bài thơ khác của Rich “The Roofwalker” (Người thợ làm mái nhà – 1961), đề tặng nhà thơ Denise Levertov, cho rằng việc làm thơ đối với phụ nữ là một nghề nguy hiểm. Cũng như đàn ông xây một mái nhà, bà cảm thấy “phải phơi bày ra, rộng lớn hơn đời thường, và bởi vì cổ tôi dễ bị gãy như chơi”.

THƠ CA THỂ NGHIỆM

Sức mạnh đằng sau thành quả chắc chắn của Lowell và phần lớn thơ đương đại nằm trong sự thể nghiệm bắt đầu vào thập niên 50 với nhiều nhà thơ. Donald Allen, tác giả của cuốn The New American Poetry (Thơ mới ở Mỹ) tuyển tập đầu tiên đã đưa tác phẩm của những nhà thơ trước đây bị các nhà phê bình và các tổ chức hàn lâm bỏ qua, đã chia một cách khái quát nhóm nhà thơ này thành 5 trường phái.

Lấy cảm hứng từ nhạc Jazz và hội họa trừu tượng, hầu hết những tác gia thể nghiệm trẻ hơn Lowell một thế hệ. Họ có khuynh hướng trở thành những trí thức tự do, phóng túng, phản lại văn hóa chính thống, không tuân theo những quy ước chung, thoát ly khỏi các học viện và phê bình một cách thẳng thắn xã hội “trưởng giả” Mỹ. Thơ của họ có tính dấn thân, độc đáo và đôi lúc gây chấn động. Trong khi kiếm tìm những giá trị mới, dòng thơ này bày tỏ mối quan tâm đối với thế giới cổ xưa của thần thoại, truyền thuyết, cũng như nếp sinh hoạt xã hội bộ lạc của người Mỹ Da đỏ. Hình thức thơ khoáng đạt hơn, tự nhiên hơn, có hệ thống hơn; phát triển từ chủ đề và cảm nhận tươi mới của nhà thơ khi đang làm bài thơ và từ những chỗ ngừng nghỉ tự nhiên của ngôn ngữ nói. Như Allen Ginberg ghi nhận trong “Improvised Poetics” (Thơ ứng tác), rằng “ý nghĩ đầu tiên là ý nghĩ hay nhất”.

TRƯỜNG PHÁI BLACK MOUNTAIN

Trường phái Back Mountain tập trung xung quanh đại học Black Mountain, một đại học về các loại nghệ thuật thử nghiệm ở Asheville bang Bắc Carolina, nơi các thi sĩ Charles Olson, Robert Duncan và Robert Creeley giảng dạy vào đầu thập niên 50. Ed Dorn, Joel Oppenheimer và Jonathan Williams học tập ở đó, còn Paul Blackburn, Larry Eigner và Denise Levertov công bố tác phẩm trên tạp chí nhà trường, Origin và Black Mountain Review. Trường phái Black Mountain gắn liền với lý thuyết “thơ dự phóng” của Charles Olson, nhấn mạnh đến hình thức cởi mở dựa trên nhịp điệu tự nhiên của sự ngắt nghỉ, lấy hơi trong khi nói và hàng chữ đánh máy ở dạng viết.

Robert Creeley (1926 -) theo phương châm ý tại ngôn ngoại, rất kiệm lời, là một trong những nhà thơ quan trọng của trào lưu Black Mountain. Trong bài “The Warning” (Lời cảnh tỉnh – 1955), Creeley hình dung ra một lối liên tưởng vừa đáng yêu, vừa dữ dội:

Vì tình yêu – Anh sẽ
chẻ dọc đầu em ra và đặt
ngọn đèn cầy
đằng sau đôi mắt.
Tình trong ta đã chết
nếu ta quên
đức hạnh của chiếc bùa
và sự ngạc nhiên chóng vánh.

TRƯỜNG PHÁI SAN FRANCISCO

Sáng tác của trường phái San Francisco -bao gồm hầu hết thơ ở vùng Bờ Tây nói chung -chịu rất nhiều ảnh hưởng của triết học và tôn giáo phương Đông cũng như thơ Nhật Bản và Trung Quốc. Điều này chẳng có gì đáng ngạc nhiên vì ảnh hưởng của phương Đông vẫn luôn mạnh mẽ ở vùng Bờ Tây nước Mỹ. Vùng đất quanh San Francisco -vùng núi Sierra Nevada và vùng bờ biển khúc khuỷu -luôn đáng yêu và hùng vĩ, và các nhà thơ ở vùng này có khuynh hướng có một cảm xúc sâu nặng với thiên nhiên. Nhiều bài thơ của họ có chất liệu từ phong cảnh rừng núi hay những chuyến ngao du sơn thủy. Thơ họ lấy thiên nhiên làm nguồn cảm hứng chủ đạo thay cho truyền thống văn học.

Các nhà thơ San Francisco gồm có Jack Spicer, Lawrence Ferlinghetti, Robert Duncan, Phil Whalen, Lew Welch, Gary Snyder, Kenneth Rexroth, Joanne Kyger và Diane diPrima. Nhiều người trong số các nhà thơ này gắn bó chặt chẽ và có mối đồng cảm với quần chúng lao động. Thơ họ thường đơn giản, dễ cảm thụ và lạc quan.

Ở giai đoạn cao trào, như có thể thấy trong tác phẩm của Gary Snyder (1930), thơ của trường phái San Francisco gợi lên được sự cân bằng tinh tế giữa cá nhân và vũ trụ. Trong bài “Above Pate Valley” (Trên thung lũng Pate – 1955) của Snyder, nhà thơ mô tả công việc của một nhóm làm đường trên núi cao và tìm ra những mảnh đầu mũi tên làm bằng đá nham thạch của những bộ lạc Da đỏ đã biến mất:

Trên một ngọn đồi tuyết phủ quanh năm trừ lúc hè
sang
Một vùng đất đầy nai mùa hạ béo vàng
Họ đến dựng lều. Trên những đường mòn của họ
Theo đường mòn của mình tôi lê bước tới đây
Nhặt lên đầu mũi tên này
Nhặt và bỏ vào trong giỏ
Những nham thạch
Mười ngàn năm về trước

CÁC NHÀ THƠ “BEAT”

Trường phái San Francisco hòa nhập thành một nhóm mới – các nhà thơ “Beat”, xuất hiện vào những năm 50. Hầu hết những nhà thơ quan trọng của nhóm Beat (Beatniks) từ Bờ Đông chuyển đến San Francisco. Chính ở California này họ đạt được thành công ban đầu trên cả nước ở California. Những thi sĩ chủ yếu của nhóm Beat gồm có Allen Ginsberg, Gregory Corso, Jack Kerouac, và William Burroughs. Thơ của nhóm Beat là để đọc, được lặp đi lặp lại và có hiệu quả rất lớn khi diễn đọc hay diễn ngâm, chủ yếu bởi vì nó được phát triển từ những buổi đọc thơ trong những câu lạc bộ ở tầng hầm. Nhiều người có lẽ nhận định đúng khi cho nó là ông tổ của loại nhạc Rap rất thịnh hành vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX.

Thơ của nhóm Beat là thể loại văn học chống lại văn học chính thống quyết liệt nhất ở Hoa Kỳ, nhưng thực chất bên dưới những ngôn từ gây chấn động của nó ấp ủ một tình yêu đất nước. Thơ của họ là tiếng kêu gào của khổ đau và cuồng nộ cho cái điều mà các nhà thơ coi như sự đánh mất đi nét thơ ngây của nước Mỹ và sự phung phí kinh khủng những nguồn tài nguyên nhân lực và vật lực của nó.

Những bài thơ như Howl (1956) của Allen Ginberg thực sự đã làm một cuộc cách mạng trong thơ ca:

Tôi chứng kiến những bộ óc siêu việt nhất
của thế hệ chúng tôi hủy hoại
bởi chứng khùng điên, đói khát cuồng dại trần truồng
lê tấm thân dọc phố Da đen
trong ánh bình minh
tìm liều thuốc cho cơn giận dữ
những kẻ biết mình như những thiên thần lao vào ngọn lửa
cho một thiên đường cổ xưa
liên kết các vì sao
năng lượng
trong bộ máy của đêm.

TRƯỜNG PHÁI NEW YORK

Khác với nhóm các nhà thơ Beat và những nhà thơ San Francisco, các nhà thơ của trường phái New York thể hiện sự bàng quan đối với những vấn đề đạo lý một cách công khai, và nói chung họ lẩn tránh chính trị. Họ có được một nền giáo dục chính thống hơn bất kỳ một nhóm thơ nào.

Những nhân vật cự phách của trường phái New York gồm: John Ashbery, Frank O’Hara, và Kenneth Koch -gặp nhau lúc họ còn chưa tốt nghiệp Đại học Harvard. Họ cực kỳ tân tiến, điềm đạm, không có tín ngưỡng, thông minh sắc sảo có pha chút khinh bạc và thời thượng một cách cao nhã. Thơ của họ có tiết tấu nhanh, nội dung xoay quanh cuộc sống đô thị, thiếu một sự hài hòa, hầu như có thể cảm nhận được ý nghĩa về niềm tin hết sức chông chênh của họ.

Thành phố New York là trung tâm mỹ thuật của nước Mỹ và là cái nôi của chủ nghĩa Biểu hiện Trừu tượng, là nguồn cảm hứng chủ yếu cho dòng thơ này. Hầu hết những nhà thơ này đều là những nhà phê bình nghệ thuật hoặc những nhà quản lý các bảo tàng nghệ thuật, hoặc hợp tác với cánh họa sĩ. Có thể là do cảm nhận của họ với nghệ thuật trừu tượng, một trường phái nghệ thuật vốn không tin vào những hình thể chân thực và ý nghĩa rõ ràng, tác phẩm của các nhà thơ này thường khó hiểu, như trong những tác phẩm sau này của John Ashbery (1927 -…), có lẽ là thi sĩ đương đại có ảnh hưởng lớn nhất ngày nay.

Mạch thơ dào dạt của Ashbery ghi lại những suy nghĩ và niềm xúc cảm khi chúng tràn nhanh qua đầu óc khó có thể trực tiếp phát thành lời. Bài thơ dài, lắng sâu của ông Self-Portrait in a Convex Mirror (Chân dung tự họa trong một tấm gương lồi – 1975), đoạt 3 giải thưởng lớn; lướt đi như một cánh chim từ ý nghĩ này qua ý nghĩa khác, thường chiêm nghiệm lại chính nó:

Một con tàu
Treo những màu sắc không ai biết đã
đi vào cảng
Bạn đang để cho những chuyện không đâu
ngoài lề
phá vỡ một ngày của bạn…

CHỦ NGHĨA SIÊU THỰC VÀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH

Trong tuyển tập nhằm xác định những trường phái thi ca mới, Donald Allen đã đưa ra nhóm thứ năm ông không thể gọi tên được bởi vì nó không có một địa điểm địa lý rõ ràng. Nhóm thơ khó xác định này bao gồm các trào lưu và những thể nghiệm hiện đại.

Nổi bật trong số này là những nhà thơ siêu thực, diễn đạt vô thức qua những hình ảnh sống động như trong mơ và rất nhiều thơ do phụ nữ và những cộng đồng thiểu số sáng tác đã phát triển rực rỡ trong những năm gần đây. Mặc dầu có những nét khác biệt bề ngoài rất lớn, các nhà thơ siêu thực, các nhà thơ đấu tranh cho quyền phụ nữ và các nhà thơ thuộc cộng đồng thiểu số tỏ ra rằng họ cùng chia sẻ với nhau một ý thức thoát ly khỏi nền văn học “chính thống”, của người Da trắng và của người đàn ông.

Cho dù T. S. Eliot, Wallace Stevens và Ezra Pound đã cố công đưa những kỹ thuật của trào lưu tượng trưng vào thi ca Mỹ vào thập niên 20, chủ nghĩa siêu thực – dòng chảy chính trong thi ca và tư tưởng ở châu Âu trong và sau Thế chiến II, đã không bén rễ được ở Mỹ. Mãi cho đến những năm 60 chủ nghĩa siêu thực (cùng với chủ nghĩa hiện sinh) mới trở nên quen thuộc với người Mỹ dưới áp lực của cuộc chiến ở Việt Nam. Trong những năm 60, nhiều tác giả Mỹ như -W. S. Merwin, Robert Bly, Charles Simic, Charles Wright và Mark Strand cùng những người khác đã quay về với chủ nghĩa Siêu thực Pháp và đặc biệt là Tây Ban Nha để tìm lại những xúc cảm thuần khiết, những hình tượng lý tưởng, và những kiểu mẫu, bất an mang tính hiện sinh và phi lý của nó.

Những nhà thơ siêu thực như Merwin có khuynh hướng châm biếm sắc sảo như trong những câu thơ sau: “Thánh thần muốn thành người nhưng không được/ Nếu anh thấy mình chẳng còn tin nữa thì hãy mở rộng đền thờ”.

Chủ nghĩa siêu thực có khuynh hướng chính trị của Bly phê phán một cách gay gắt những giá trị Mỹ và chính sách đối ngoại của chính phủ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam như trong bài thơ “The Teeth Mother Naked at Last”:

Chỉ vì chúng ta có bao bì mới cho
sò hun khói
mà những hố bom hiện ra trên những
ruộng lúa.

Ảnh hưởng lan rộng của thơ ca siêu thực đã dịu đi và đầy suy tư hơn như Charles Wright mô tả trong “The New Poem” (Thơ mới – 1973):

Nó sẽ không tham dự vào nỗi buồn của chúng ta
Cũng chẳng an ủi
con cái chúng ta
Và sẽ không giúp gì cho ta cả.

Chủ nghĩa Siêu thực của Mark Strand, cũng như của Merwin, thường ảm đạm; nó nói đến một sự tước đoạt cực độ. Với ông, truyền thống, giá trị, niềm tin chả là gì cả, nhà thơ chẳng có gì ngoài tâm hồn tăm tối như hang động của mình:

Trong tay có chìa khóa
Tôi mở cửa bước vào
Tối tăm tôi bước vào
Thẳm đen tôi bước tiếp.

CÁC NHÀ THƠ NỮ VÀ CÁC NHÀ THƠ ĐA CHỦNG TỘC

Nền văn học của phái nữ, cũng như văn học của các cộng đồng thiểu số và chủ nghĩa siêu thực, lần đầu tiên nhận thức được vai trò của chính mình là một động lực trong đời sống nước nhà trong những năm cuối thập niên 60. Các dòng thơ này đã nở rộ trong phong trào nữ quyền cũng phát sinh trong thời kỳ đó.

Văn học ở Mỹ, cũng như ở hầu hết các quốc gia khác, từ lâu đặt cơ sở quá nhiều trên những tiêu chuẩn của phái nam đến độ thường bỏ qua sự đóng góp của phái nữ. Tuy vậy, có nhiều nhà thơ nữ nổi bật trong thi đàn Mỹ. Không phải họ đều là những người ủng hộ nữ quyền, cũng không phải những chủ đề của họ nhất loạt nói lên những mối quan tâm của phụ nữ. Chẳng qua, họ chỉ là những nhà thơ của nỗi buồn nhân thế. Những khác biệt về địa lý, chính trị và chủng tộc cũng góp phần hình thành nên tác phẩm của họ và đặt ra cho họ những vấn đề để suy nghĩ. Những nhà thơ nữ nổi bật gồm có Amy Clampitt, Rita Dove, Louise Glück, Jorie Graham, Carolyn Kizer, Maxine Kumin, Denise Levertov, Audre Lorde, Gjertrud Schnackenberg, May Swenson và Mona Van Duyn.

Nửa sau thế kỷ 20 đã chứng kiến sự hồi sinh của văn học đa chủng tộc. Khởi đầu vào thập niên 60, theo sự mở đường của người Mỹ Da đen, những tác giả thuộc các chủng tộc khác ở Mỹ bắt đầu tạo được sự chú ý của công chúng. Trong thập niên 70, những chương trình nghiên cứu nhân chủng học được triển khai. Trong những năm 80, một số tạp chí hàn lâm, các tổ chức chuyên ngành, và sách báo văn học dành cho những chủng tộc khác nhau được ra đời. Còn vào thập kỷ 90, các hội nghị nghiên cứu về văn học các sắc tộc riêng biệt đã bắt đầu và danh sách chính thức của các tác phẩm kinh điển đã được mở rộng để đưa thêm những tác gia thuộc các dân tộc ít người vào trong các tuyển tập và giáo trình. Những vấn đề quan trọng trong nền văn học này bao gồm chủng tộc chống lại sự xếp loại sắc tộc, chủ nghĩa vị chủng tộc chống lại chủ nghĩa đa chủng tộc, chủ nghĩa một ngôn ngữ chống lại đa ngôn ngữ, sự kết hợp chống lại sự loại bỏ. Sự phá bỏ kết cấu (giải cấu)([2]), áp dụng cho cả ngữ cảnh chính trị lẫn văn học, đã thường xuyên đặt nghi vấn với nguyên trạng (tình trạng hiện tại).

Thơ ca của cộng đồng thiểu số cũng chia sẻ với văn học của phụ nữ sự phong phú và đôi khi sự giận dữ của nó với xã hội. Nó nảy nở trong những năm gần đây giữa những người Mỹ gốc Tây Ban Nha như Gary Soto, Alberto Rios và Lorna Dee Carvantes; giữa những người Mỹ gốc Da đỏ như Leslie Marmon Silko, Simon Ortiz và Louise Erdrich; giữa những người Mỹ gốc Phi châu như Amiri Baraka (LeRoi Jones), Michael Harper, Rita Dove, Maya Angelou và Nikki Giovanni; và trong số những nhà thơ Mỹ gốc châu Á như Cathy Song, Lawson Inada và Janice Mirikitani.

THƠ CA CỦA NGƯỜI MỸ GỐC LATIN, TÂY BAN NHA VÀ MEXICO

Thơ ca ảnh hưởng Tây Ban Nha bao gồm tác phẩm của nhiều nhóm khác nhau. Trong số này có những người Mỹ – Mexico, từ thập niên 50 quen gọi là Chicano, đã sống qua nhiều thế hệ ở những tiểu bang Tây Nam mà Hoa Kỳ chiếm của Mexico trong cuộc chiến tranh Mỹ – Mexico kết thúc vào năm 1848. Trong số cư dân vùng Caribbean nói tiếng Tây Ban Nha, người Mỹ gốc Cuba và người Puerto Rico vẫn duy trì và phát triển truyền thống văn học đầy sức sống và độc đáo của họ. Ví dụ, những người Mỹ gốc Cuba rất tài năng với thể loại hài kịch đã tự tách ra khỏi thể thơ trữ tình bi thương của những tác giả gốc Mexico như Rudolfo Ayana. Những nhà văn di cư gần đây từ Mexico; Trung, Nam Mỹ và Tây Ban Nha đến, liên tục bổ sung và làm lớn mạnh thêm dòng văn học này.

Thơ ca người Mỹ-Chicano hay gốc Mexico có một truyền thống truyền miệng phong phú bằng thể loại corrido hay ballad. Những tác phẩm gần đây nhấn mạnh sức mạnh truyền thống của cộng đồng Mexico và sự kỳ thị họ gặp phải với người gốc châu Âu. Đôi lúc, các nhà thơ pha trộn những từ tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha với nhau thành một sự pha trộn rất nên thơ, như trong thơ của Alurista và Gloria Anzaldúa. Thơ của họ chịu nhiều ảnh hưởng của truyền thống truyền khẩu và có âm hưởng rất mạnh mẽ khi đọc thành tiếng.

Nhiều nhà thơ viết chủ yếu bằng tiếng Tây Ban Nha theo một truyền thống bắt nguồn từ thiên sử thi đầu tiên được viết ra trong nước Mỹ hôm nay. Bài thơ Historia de la Nueva Mexico (Lịch sử Mexico mới) của Gaspar Pérez de Villagrá ca ngợi trận chiến năm 1598 giữa những kẻ xâm lược Tây Ban Nha và người Da đỏ ở Acoma bang New Mexico. Một tác phẩm quan trọng trong thơ ca người Mỹ gốc Mexico gần đây, tập thơ I Am Joaquin (Tôi là Joaquin) của Rodolfo Gonzales (1928 – ), than vãn về tình cảnh của người Mỹ gốc Mexico:

Lạc loài trong thế giới hỗn mang
Bị cuốn theo cơn xoáy lốc một xã hội ngoại bang
Những luật lệ rối rắm,
Những thái độ rẻ khinh
Và mánh khóe, dối lừa
Bị hủy hoại bởi cái được gọi là xã hội hiện đại.

Tuy nhiên, nhiều tác giả Mỹ gốc Mexico tìm thấy nguồn sống trong cội nguồn Mexico cổ xưa của mình. Nghĩ về thời xưa huy hoàng của Mexico, Lorna Dee Cervantes (1954-…) viết rằng “một corrido sử thi” đang ngân nga trong huyết quản của bà, còn Luis Omar Salinas (1937-…) cảm thấy mình là “một thiên thần Aztec”. Phần lớn thơ ca người Mỹ -Mexico rất người, nói lên những cảm xúc và quan hệ gia đình hay về những thành viên trong cộng đồng. Gary Soto (1952-…) dựa vào truyền thống cổ xưa ca tụng tổ tiên đã ra đi. Những lời thơ này, viết vào năm 1981, mô tả hiện trạng đa văn hóa của tất cả người Mỹ hôm nay:

Một ngọn nến thắp lên cho người đã khuất
Trước mặt ta hai thế giới đón chờ

Trong những năm gần đây, thơ ca của người Mỹ -Mexico đã tiến một bước rất xa và những tác phẩm của Cervantes, Soto và Alberto Rios đã được giới thiệu rộng rãi trong các tuyển tập.

THƠ CA CỦA NGƯỜI MỸ DA ĐỎ

Người Mỹ Da đỏ đã có một nền thi ca trau chuốt, có lẽ do truyền thống sáng tác những bài ca ngợi ca linh vật đóng một vai trò tối quan trọng trong di sản văn hóa của họ. Tác phẩm của họ vượt trội lên bởi sự khơi gợi đầy hình ảnh sống động về thế giới tự nhiên, mà đôi khi gây hiệu quả hầu như huyền bí. Các thi sĩ Da đỏ cũng lên tiếng về một cảm thức bi đát việc đánh mất di sản phong phú không gì bù đắp nổi của dân tộc mình.

Simon Ortiz (1914 -…), một cư dân tộc Acoma, viết nhiều bài thơ có sức tác động sâu xa dựa vào lịch sử khám phá những nghịch lý của việc là một người Mỹ Da đỏ trong nước Mỹ ngày nay. Thơ của ông thách thức các độc giả gốc Anglo -Saxon vì nó thường nhắc nhở họ về sự bất công và tàn bạo mà một thời cha ông họ đã dành cho người Mỹ Da đỏ. Những bài thơ của ông cũng là một tri kiến về sự hòa hợp chủng tộc dựa trên sự thông hiểu sâu sắc lẫn nhau.

Trong tập thơ Star Quilt (Tấm chăn dệt bằng các vì sao), Roberta Hill Whiteman (1947- ), một người bộ lạc Oneida, hình dung một tương lai đa văn hóa như là “một tấm chăn dệt bằng những vì sao trong ánh rạng đông”, còn Leslie Marmon Silko (1948 -…), có một phần gốc gác là bộ lạc Laguna, sử dụng ngôn ngữ nói và những câu chuyện truyền thống để sáng tác những bài thơ trữ tình, có sức ám ảnh khó quên. Trong bài “In Cold Storm Light” (Trong ánh sáng cơn bão tuyết – 1981), Silko tạo được hiệu quả như trong thơ haiku:

Những con nai tuyết
hiện ra trên trời tuyết băng dày đặc
phóng như bay
chạy nhanh
xoáy quanh những ngọn cây
Gió bão
bài ca màu trắng
lướt đi, lướt đi
trên những cành cây.

Louise Erdrich (1954-…) là một tiểu thuyết gia như Silko, sáng tạo những đoạn độc thoại mạnh mẽ giàu kịch tính có thể xem là những vở kịch được nén lại. Chúng mô tả một cách không khoan nhượng những gia đình phải đương đầu với tệ nghiện rượu, thất nghiệp và nghèo khổ trong “vùng bảo tồn” Chippewa.

Trong bài thơ “Family Reunion “ (Gia đình sum họp – 1984), một ông chú nghiện rượu, thô lỗ trở về sau nhiều năm sống ở thành phố. Vì ông bị đau tim, người cháu bị hành hạ và là người kể chuyện, nhớ lại cảnh ông chú đã giết một con rùa lớn cách đây nhiều năm bằng cách nhét pháo vào con rùa đó. Đoạn cuối bài thơ gắn chú Ray với con rùa nạn nhân của ông:

Rồi chúng ta tìm lại đường về
Chú Ray
hát bài ca xưa cho người
kéo chú
về nhà. Đôi tay ông đã thành
vây xám
ghì siết vào bảng đồng hồ.
Khuôn mặt ông
mang vẻ kiên nhẫn lạ kỳ, lặng lẽ của
một đứa trẻ luôn luôn
bỏ mặc những vết thương, hay của một
sinh vật đã sống
thời gian dài dưới nước. Và
những thiên thần bay đến
hạ thòng lọng và cáng xuống.

THƠ CA MỸ DA ĐEN

Người Mỹ Da đen đương đại đã sáng tác nhiều bài thơ tuyệt mỹ với nhiều chủ đề và giọng điệu phong phú. Đây là dòng thơ sắc tộc phát triển nhất ở Mỹ và cực kỳ đa dạng. Amiri Baraka (1934 -…) nhà thơ Mỹ Da đen nổi tiếng nhất, cũng viết nhiều vở kịch và đóng vai trò tích cực trong hoạt động chính trị. Những sáng tác của Maya Angelou bao quát nhiều thể loại, trong đó có nhiều vở kịch, một hồi ký nổi tiếng I know Why the Caged Bird Sings(Tôi biết vì sao chim hót trong lồng – 1970), và một tuyển tập thơ Just Give Me a Cool drink of Water ’fore I Diiie (Hãy cho tôi một hớp nước mát trước khi tôi chết – 1971). Angelou đã được mời sáng tác một bài thơ cho lễ nhậm chức của Tổng thống Bill Clinton vào năm 1993.

Một nhà thơ Mỹ Da đen khác được ca ngợi gần đây là Rita Dove (1952- ) người được phong tặng là nhà thơ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1993. Dove, một nhà văn viết tiểu thuyết và kịch, đoạt giải thưởng Pulitzer 1987 nhờ cuốn Thomas and Beulah (Thomas và Beulah), trong đó bà ca ngợi ông bà của mình qua một loạt bài thơ trữ tình. Bà nói rằng bà viết tác phẩm này để thể hiện cuộc sống nội tâm phong phú của quần chúng vô sản.

Micheal Harper (1938- ) đã viết những vần thơ tương tự phơi bày cuộc sống phức tạp của người Mỹ Da đen đối mặt với sự phân biệt chủng tộc và bạo lực. Những bài thơ cô đọng, bóng gió của ông thường tái hiện những khung cảnh đông đúc, đầy kịch tính của chiến tranh hay đời sống đô thị. Chúng sử dụng hình ảnh của ngành y với cố gắng chữa lành bệnh tật. Bài thơ “Clan Meeting: Births and Nation: A Blood Song” (Cuộc họp mặt bè đảng: Những con người ra đời và những quốc gia: Bài ca máu (1971) của ông, ví việc nấu nướng với phẫu thuật, “đan kết thịt cùng chất lỏng” mở đầu như sau: “Chúng ta tái tạo mạng sống trong khu chăm sóc đặc biệt, gắn kết vào nhau trong một quán ăn…”. Bài thơ kết thúc bằng cách xâu lại những hình ảnh về bệnh viện, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong bộ phim Mỹ thời kỳ đầu Birth of a Nation (Sự ra đời của một quốc gia) phong trào Ku Klux Klan[3], biên tập phim và kỹ thuật X-quang:

Chúng ta lại chất đầy óc như chiếc máy quay phim,
cuộn phim phơi bày quá độ
dưới tia X-quang,
khóa chặt với hai lớp cửa
nhịp phách nhẹ nhàng: chủng tộc và giới tính
cuộn vào và bao vây trong một trò tiêu khiển
chúng ta ôm khăn gói rồi về nhà.

Lịch sử, nhạc Jazz, và văn hóa đại chúng mang lại cảm hứng cho nhiều nhà văn Mỹ Da đen, từ Harper (giáo sư đại học) đến chủ nhà xuất bản kiêm nhà thơ ở Bờ Tây Ishmael Reed (1938 -), nổi tiếng do việc đi tiên phong trong nền văn học đa văn hóa qua tổ chức Before Columbus Foundation và một loạt tạp chí như YardbirdQuilt và Konch. Nhiều nhà thơ Mỹ Da đen như Audre Lorde (1934 – 1992) tìm thấy nguồn sáng tạo ở chủ nghĩa vị châu Phi, xem Phi châu là trung tâm của nền văn minh từ thời cổ đại. Trong những bài thơ đầy xúc cảm như “The Women of Dan Dance with Swords in Their Hands to Mark the Time When They Were Warriors (Những người phụ nữ của Dan nhảy múa với lưỡi kiếm trong tay đánh dấu cái thời họ là các chiến binh), bà nói như một người nữ chiến binh của Dahomey cổ đại, “làm ấm áp bất cứ cái gì ta chạm đến” và chỉ “tiêu hóa” “những gì đã chết”.

THƠ CA CỦA NGƯỜI MỸ GỐC CHÂU Á

Cũng như thơ ca của những tác giả Mỹ gốc Mexico và Tây Ban Nha, thơ ca của người Mỹ gốc Á cực kỳ đa dạng. Người Mỹ gốc Nhật, Trung Quốc, Philipines có lẽ đã sống đến bảy đời ở Mỹ, còn người Mỹ gốc Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam là những người di cư mới gần đây. Mỗi nhóm phát xuất từ một truyền thống văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ riêng. Những tiến bộ gần đây trong văn học Mỹ gốc Á châu bao gồm trong việc nhấn mạnh đến những công trình nghiên cứu Vành đai Thái Bình Dương và văn học phụ nữ. Các nhà văn Mỹ gốc châu Á nói chung chối bỏ mẫu mực chủng tộc có tính cách Đông phương hóa như một thiểu số “xa lạ” và “tốt đẹp”. Các nhà mỹ học đang bắt đầu so sánh các truyền thống văn học Á và Âu -chẳng hạn so sánh khái niệm đạo (tao) của phương Đông và luận lý (logos) của Hy Lạp cổ.

Các nhà thơ Mỹ gốc Á đã tiếp thu từ nhiều nguồn văn hóa, từ ca kịch của Trung Quốc đến Thiền. Những truyền thống văn học châu Á, đặc biệt là Thiền, tạo nguồn cảm hứng cho nhà thơ không phải gốc châu Á, như có thể thấy trong tuyển tập Beneath a Single Moon: Buddhism in Contemporary American Poetry (Dưới vầng trăng lẻ: Phật Giáo trong thi ca Mỹ đương đại – 1991). Những nhà thơ Mỹ gốc châu Á trải rộng như một quang phổ, từ vị thế tưởng như không tín ngưỡng như Frank Chin, đồng chủ biên cuốnAiiieeeee! (một tuyển tập đầu tiên của văn học Mỹ châu Á), cho đến các tác giả vận dụng truyền thống một cách rộng rãi như nhà văn Maxine Hong Kingston (1940- ). Janice Mirikitani – một sansei (người Mỹ gốc Nhật thế hệ thứ 3), làm sống dậy lịch sử Mỹ – Nhật và đã xuất bản nhiều tuyển tập nhưThird World Women (Phụ nữ thế giới thứ 3), Time to Greez (Thời gian đến Greez), và Ayumi: Four Generations of Japanese in American (Ayumi: Thế hệ người Nhật thứ 4 ở Mỹ).

Tuyển tập thơ trữ tình Picture Bride (Bức ảnh cô dâu – 1983) của Cathy Song người Mỹ gốc Hoa (1955- ) cũng kịch hóa lịch sử qua những cuộc đời trong gia đình bà. Nhiều nhà thơ Mỹ châu Á khám phá sự đa dạng văn hóa. Trong “The Vegetable Air” (Không gian rau quả – 1988) của Song, một thị trấn tồi tàn với đàn bò thả trên quảng trường, một quán ăn Tàu, một tấm bảng quảng cáo Coca-Cola treo lệch trở thành biểu tượng của cuộc sống đương đại đa văn hóa không cội rễ 238 239 chỉ có thể chịu đựng được nhờ nghệ thuật, trong trường hợp này là vở opera trong một băng cassette:

Rồi một bản aria quen thuộc
vươn lên như một vầng trăng,
nâng chính anh ra khỏi xác thân này
đưa anh đến một miền đất khác
nơi, trong phút giây, anh bay lượn nhẹ nhàng.

NHỮNG HƯỚNG ĐI MỚI

Những hướng mới trong thơ ca Mỹ bao gồm “những nhà thơ ngôn ngữ” được gán một cách dễ dàng với tạp chí Temblor. Họ gồm có Bruce Andrews, Lyn Hejinian, Douglas Messerli (chủ biên cuốn “Language” Poetries: An Anthology (Tuyển tập thơ ca “ngôn ngữ” – 1987), Bob Perelman và Barret Watten, tác giả cuốn Total Syntax (Cú pháp tổng thể – 1985), một tuyển tập tiểu luận. Họ kéo dãn ngôn ngữ để thể hiện tiềm năng của nó trong tính mơ hồ, sự phân đoạn và tự khẳng định bên trong những mớ bòng bong chua cay và hậu hiện đại; họ chối bỏ những lối văn “siêu kể chuyện” – những ý thức hệ, những giáo điều, những quy ước -và hoài nghi sự hiện hữu của thực thể siêu nhiên. Michael Palmer viết:

Đây chính là Thiên đường, một cuốn sách mốc meo bỏ quên quá lâu trong căn nhà

Bài “Chronic Meanings” ( Những nét nghĩa tồi tệ) của Bob Perelman mở đầu như thế này:

Mỗi dữ kiện riêng tư là một vấn đề
Chỉ năm từ để nói
Bầu trời đen trong đêm, hợp lý hoàn toàn
Chỉ có tôi phần dư thừa phi lý.

Xem phê bình văn học và nghệ thuật thực chất là mang tính cách ý thức hệ, họ chống lại những hình thức khép kín của chủ nghĩa hiện đại, những tôn ti trật tự, những ý tưởng về sự hiển thánh và sự siêu phàm, phạm trù của thể loại và những áng văn được chính thức thừa nhận (những tác phẩm văn học được chấp nhận). Thay vì thế, họ đề nghị những hình thức cởi mở và lối viết đa văn hóa. Họ đánh giá cao tính hình tượng trong văn học đại chúng, các phương tiện truyền thông, thiết kế và tái thiết kế chúng. Giống như thơ công diễn, những bài thơ ngôn ngữ thường phản đối sự giải thích và mời gọi một sự tham gia.

Thơ ca hướng tới công diễn (kết hợp với những cuộc trình diễn như những trường hợp của nhà soạn nhạc John Cage), ứng tác nhạc Jazz, tác phẩm đa phương tiện, và chủ nghĩa siêu thực châu Âu đã ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ Mỹ. Trong những tác gia nổi tiếng có Laurie Anderson, tác giả của bài thơ nổi tiếng thế giới United States (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1984), sử dụng phim, video, âm học, âm nhạc, vũ ballet và kỹ thuật kỷ nguyên không gian. Thơ ca âm thanh, nhấn mạnh tiếng nói và nhạc cụ, do các nhà thơ David Antin (nhà thơ trình diễn ứng khẩu) và các nhà thơ gốc New York như George Quasha (chủ nhà xuất bản Station Hill Press), Armand Schwerner và Jackson MacLow thực hiện. MacLow cũng trình làng một loại thơ giàu hình ảnh cụ thể và tạo ra lối nói đầy hình ảnh bằng cách sử dụng sự xếp đặt và sắp chữ. Thơ công diễn của các sắc tộc đi vào cùng dòng chảy với nhạc Rap, trong khi khắp nước Mỹ “hội thơ” – những cuộc thi đọc thơ mở rộng tổ chức xen kẽ trong những phòng tranh và hiệu sách -tạo cơ hội cho quần chúng tham gia giải trí có giá trị tinh thần cao, ít tốn kém.

Ở đầu kia của quang phổ mang tính chất lý thuyết là những nhà thơ tự phong là Tân hình thức chủ nghĩa, những 240 241 người chủ trương quay trở về hình thức, vần và vận luật. Tất cả mọi nhóm đều phản ứng lại cùng một vấn đề – một sự bằng lòng có tính trung dung với hiện trạng một giọng điệu cẩn thận và quá trau chuốt, thường là sản phẩm của những cuộc hội thảo thơ, và sự nhấn mạnh thái quá đến thi ca bộc lộ cá tính như là một cách chống lại động thái xã hội. Trường phái hình thức gắn liền với nhà xuất bản Story Line Press; Dana Gioia (một nhà thơ – thương gia); Philip Dacey và David Jauss, các nhà thơ và các chủ biên của cuốn Strong Measures: Contemporary American Poetry in Traditional Forms (Phân loại chuẩn mực: Những hình thức truyền thống trong thơ ca hiện đại Mỹ – 1986); Brad Leithauser; và Gjertrud Schnackenburg. Cuốn The Direction of Poetry: Rhymed and Metered Verse Written in English Since 1977 (Hướng đi của thi ca: thơ cách luật trong tiếng Anh từ năm 1977) của Robert Richman là một tuyển tập mới xuất hiện gần đây. Mặc dầu các nhà thơ này được xem là quay về với những đề tài thế kỷ 19, họ thường sử dụng những quan niệm và hình tượng đương đại, cùng với ngôn ngữ giàu nhạc tính và những hình thức truyền thống, khép kín.


[1] Bài thơ này lấy cảm hứng từ Robert Gould Shan (1837-1863), người lãnh đạo trung đoàn Da đen đầu tiên của miền Bắc trong cuộc nội chiến. Ông hy sinh trong một cuộc tiến công ở nam Caroline. Dưới một bức phù điêu bằng đồng do nhà điêu khắc Augustus Saint Gaudens thực hiện để tưởng niệm những người chết ở trụ sở tiểu bang Massachusetts có một dòng chữ Latin “Omnia Reliquit Servave Rem Publicam” có nghĩa là “Anh nằm xuống cho một nền cộng hòa” Lowell đã thay đổi một chút trong lời đề từ cho bài thơ thành “Họ đã hy sinh tất cả cho nền cộng hòa.” Chúng tôi lấy ý này để tạm dịch tựa đề bài thơ trên.

[2] Giải cấu trúc (Deconstruction): một phương pháp phân tích văn học ở Pháp giữa thế kỷ 20 dựa trên lý thuyết rằng không có văn bản nào có ý nghĩa cố định, do bản chất của ngôn ngữ và cách sử dụng ngôn ngữ đó.

[3] Còn được gọi là 3K, một tổ chức khủng bố.
Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_vii.html