Browsing Tag

Adventures of Huckleberry Finn

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 5: Sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực thời kỳ 1860-1914

 

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Cuộc Nội chiến Hoa Kỳ (1861 – 1865) giữa miền Bắc công nghiệp và miền Nam nông nghiệp chiếm hữu nô lệ là một bước ngoặt lịch sử Mỹ. Sau chiến tranh, sự lạc quan ngây thơ của một quốc gia dân chủ non trẻ nhường bước cho một thời kỳ kiệt quệ. Chủ nghĩa lý tưởng Mỹ vẫn tồn tại nhưng đã rẽ sang một hướng khác. Trước cuộc Nội chiến, những người theo lý tưởng chủ nghĩa đã giành vòng nguyệt quế về nhân quyền, đặc biệt là việc bãi bỏ chế độ nô lệ. Sau chiến tranh, người Mỹ lại càng lý tưởng hóa về sự tiến bộ và con người tự lập. Đây là kỷ nguyên của những nhà sản xuất và đầu cơ triệu phú, khi mà thuyết tiến hóa của Darwin và “quy luật về sự đấu tranh sinh tồn” của ông dường như là sự phê chuẩn cho những biện pháp đôi khi trái với luân thường đạo lý của các ông trùm kinh doanh.

Thương mại bùng nổ sau chiến tranh. Ngành công nghiệp phục vụ chiến tranh đã đẩy nền công nghiệp ở phương Bắc đi lên và mang đến cho nó uy tín và quyền lực chính trị. Nó cũng mang lại cho những người lãnh đạo công nghiệp kinh nghiệm quý giá trong quản lý con người và máy móc. Những nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ – sắt, than đá, dầu lửa, vàng và bạc – của đất Mỹ mang lợi nhuận đến cho các ngành kinh doanh. Hệ thống xe lửa liên lục địa mới, khánh thành năm 1869, và hệ thống điện tín xuyên lục địa bắt đầu hoạt động năm 1861, cung cấp cho nền công nghiệp nguyên vật liệu thị trường và thông tin. Dòng người nhập cư chảy vào liên tục cũng mang lại nguồn cung ứng lao động rẻ mạt có vẻ như vô tận. Hơn 23 triệu người nước ngoài – người Đức, người Scandinavia và người Ireland trong những năm đầu, và rồi sau đó người Trung Âu và Nam Âu liên tục đổ vào nước Mỹ khoảng giữa 1860 và 1910. Những công nhân hợp đồng người Hoa, Nhật và Philippines cũng được các chủ đồn điền ở Hawaii, các công ty xe lửa, và các tập đoàn kinh doanh khác của Mỹ ở vùng bờ biển phía tây nhập cư vào Mỹ.

Vào năm 1860, hầu hết dân Mỹ sống trong những trang trại hay trong những làng nhỏ, nhưng khoảng trước 1919 nửa dân số tập trung vào khoảng 12 đô thị. Những vấn đề của việc đô thị hóa và công nghiệp hóa xuất hiện: nghèo đói và nhà ở quá chật chội, điều kiện sống kém vệ sinh, lương thấp (được gọi là “nô lệ ăn lương”), điều kiện làm việc khó khăn và những kềm hãm không phù hợp với hoạt động kinh doanh. Những nghiệp đoàn lao động phát triển và các cuộc đình công làm cả nước nhận thức được tình cảnh khốn khó của người lao động. Nông dân cũng tham gia đấu tranh chống lại “những tập đoàn tài chính” của miền Đông, những kẻ được gọi là những ông vua ăn cướp như J.P Morgan và John D. Rockefeller. Những ngân hàng ở miền Đông của họ kiểm soát chặt chẽ những tài sản thế chấp và tín dụng thiết yếu cho sự phát triển và nền nông nghiệp ở miền Tây, trong khi các công ty xe lửa tính giá vận chuyển nông sản ra thành phố rất cao. Nông dân dần dần trở thành một đối tượng lố bịch, bị chế giễu như là một anh chàng “quỷnh”, một anh nhà quê thô kệch. Người Mỹ lý tưởng của thời kỳ sau Nội chiến chính là những nhà triệu phú. Nếu vào năm 1860, có không đến 100 người là triệu phú; thì vào khoảng 1875, đã có hơn 1.000 người.

Từ năm 1860 đến 1914, Hoa Kỳ đã biến đổi từ một cựu thuộc địa nông nghiệp, non trẻ, nhỏ bé trở thành một đất nước công nghiệp, hiện đại, khổng lồ. Từ một đất nước vay nợ vào năm 1860, vào khoảng trước năm 1914 nó trở thành một quốc gia giàu có nhất thế giới, với một số dân tăng hơn gấp đôi, từ 31 triệu trong năm 1860 đến 76 triệu trong năm 1900. Trước Thế chiến thứ I, Hoa Kỳ đã trở thành một cường quốc chính trên thế giới.

Khi nền công nghiệp hóa phát triển, sự tha hóa bắt đầu. Những cuốn tiểu thuyết đặc trưng Mỹ của thời Kỳ đó là: Maggie – A Girl of the Streets(Maggie, cô gái điếm) của Stephen Crane, Martin Eden của Jack London và sau này An American Tragedy (Một bi kịch Mỹ) của Theodore Dreiser – đã đặc tả những tổn thất của nền kinh tế và sự tha hóa của mỗi cá nhân yếu ớt và dễ bị tổn thương. Những kẻ sống sót, như Huck Finn của Twain, Humphrey Vanderveyden trong The Sea-Wolf (Hải tặc sói biển) của London và dì Carrie cơ hội chủ nghĩa của Dreiser, chịu đựng được khó khăn nhờ sức mạnh bên trong như lòng tốt, sự linh hoạt mềm dẻo và trên hết là tính cách cá nhân.

Samuel Clemens (Mark Twain)
(1835 – 1910) 

Samuel Clemens nổi tiếng với bút danh Mark Twain, lớn lên ở thị trấn biên giới Hannibal bên sông Mississippi bang Missouri. Câu nói nổi tiếng của Ernest Hemingway: tất cả nền văn học Mỹ xuất phát từ một cuốn sách vĩ đại, cuốn Adventures of Huckleberry Finn (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) của Twain, cho thấy vị trí cao vời vợi của nhà văn này trong truyền thống văn học. Đầu thế kỷ 19, nhiều nhà văn Mỹ có khuynh hướng quá hoa Mỹ, quá duy cảm, hoặc quá khoa trương – một phần vì họ vẫn nỗ lực chứng tỏ mình cũng có thể viết sang trọng như người Anh. Phong cách của Twain, trái lại dựa trên tiếng Mỹ bình dân, sống động, khỏe khoắn đã làm cho các nhà văn Mỹ có một cái nhìn mới, một sự trân trọng đối với tiếng nói dân tộc. Twain là nhà văn vĩ đại đầu tiên xuất thân từ vùng đất nội địa nước Mỹ và ông nắm bắt được thứ tiếng lóng khôi hài, độc đáo và tinh thần giải thiêng của xứ sở này([1]).

Đối với Twain và những tác giả Mỹ khác cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa hiện thực không thuần túy chỉ là một kỹ thuật văn học: nó là một cách nói lên sự thật và làm nổ tung những quy ước sáo mòn. Vì vậy nó tự do một cách sâu sắc và tiềm tàng sức mạnh phản kháng xã hội. Ví dụ nổi tiếng nhất là Huck Finn, một cậu bé nghèo quyết định đi theo tiếng nói của lương tâm và giúp đỡ một người nô lệ Da đen bỏ trốn tìm tự do, mặc dù Huck nghĩ rằng việc này có nghĩa là anh ta sẽ bị đày xuống địa ngục vì đã phá bỏ luật lệ.

Kiệt tác này của Twain, xuất hiện vào năm 1884, lấy bối cảnh ngôi làng St.Peterburg bên dòng sông Missippi. Huck là con trai của một gã lông bông nát rượu. Khi cậu vừa được một gia đình khả kính nhận làm con nuôi, thì cha cậu trong một cơn say điên loạn đã đe dọa giết cậu. Sợ mất mạng, Huck bỏ trốn, dựng lên cái chết giả của mình. Trên đường trốn chạy Huck gặp một kẻ bị ruồng bỏ, một nô lệ tên Jim. Chủ của anh, cô Watson đang nghĩ cách bán anh cho một vùng nô lệ khắc nghiệt hơn ở vùng hạ lưu sông Mississippi ở sâu dưới miền Nam. Huck và Jim trôi nổi trên một cái bè xuôi dòng Mississippi hùng vĩ, rồi bị một con tàu chạy bằng hơi nước nhận chìm, lạc mất nhau và về sau gặp lại nhau. Họ trải qua những cuộc phiêu lưu trên bộ đầy bất trắc, tức cười, phản ánh tính nhiều mặt, lòng quảng đại, và đôi lúc sự phi lý tàn ác của xã hội. Cuối cùng, người ta khám phá ra rằng chính cô Watson đã trả tự do cho Jim và một gia đình đáng kính muốn đùm bọc cho chú bé Huck hoang dã. Nhưng Huck trở nên bực mình với Xã hội văn minh và dự định trốn thoát đến lãnh địa của người Da đỏ. Đoạn kết mang đến cho độc giả phiên bản trái ngược với huyền thoại cổ điển về thành công của nước Mỹ: đó là con đường rộng mở dẫn đến miền đất hoang dã chưa bị xâm phạm, cách xa những ảnh hưởng suy đồi đạo đức của cái gọi là “văn minh”. Tiểu thuyết của James Fenimore Cooper, những bài tụng ca về con đường rộng mở của Walt Whiman, The Bear (Con gấu) của William Faulkmer; và On the Road (Trên đường) của Jack Kerouac là những ví dụ văn học khác.

Huckleberry Finn mang lại nguồn cảm hứng cho vô số những lý giải văn chương. Rõ ràng cuốn tiểu thuyết là một câu chuyện về cái chết, sự tái sinh và sự khởi đầu. Người nô lệ bỏ trốn – Jim, trở thành một người cha tinh thần đối với Huck. Khi quyết định cứu Jim, Huck, về mặt đạo đức, đã vượt ra khỏi những ràng buộc của xã hội chiếm hữu nô lệ. Chính những cuộc phiêu lưu của Jim đã dẫn dắt Huck làm cho anh thấu hiểu sự phức tạp của bản chất con người và cho anh lòng can đảm.

Cuốn tiểu thuyết cũng kịch hóa lý tưởng của Twain về một cộng đồng hòa hợp “Cái anh muốn, hơn tất cả mọi thứ trên đời lúc ở trên bè là làm cho mọi người hài lòng, cảm thấy mình đúng đắn và tử tế với người khác”. Cũng như con tàu Pequod của Melville, cái bè đã bị chìm, cùng với nó là cái xã hội đặc biệt ấy. Cái thế giới đơn giản, trong lành trên chiếc bè cuối cùng cũng bị nhận chìm bởi sự tiến bộ – con tàu chạy bằng hơi nước – nhưng hình ảnh huyền diệu của con sông vẫn còn ở lại, cũng mênh mông và thay đổi như chính cuộc đời.

Cái quan hệ không bền vững giữa thực tế và ảo tưởng là chủ đề mang tính cách Twain, là cái điều cơ bản lớn lao trong óc khôi hài của ông. Hình ảnh con sông hùng vĩ nhưng đầy cạm bẫy, luôn luôn thay đổi cũng là nét chính trong bức tranh phong cảnh giàu tưởng tượng của ông. Trong Life of the Mississippi (cuộc sống trên dòng sông Mississippi) Twain nhớ lại lúc ông được huấn luyện làm hoa tiêu trên tàu hơi nước, ông đã viết: “Giờ tôi đi làm để nắm được địa thế của con sông. Tôi cố chú tâm và cố gắng điều khiển những gì luôn trôi nổi, khó nắm bắt và đấy là những điều chính yếu”.

Ý thức đạo đức của Twain với tư cách là một nhà văn là âm vang của cái trách nhiệm hoa tiêu của ông lái con tàu đến nơi an toàn. Bút hiệu của Samuel Clemens, “Mark Twain”, là cụm từ mà các thủy thủ trên sông Mississippi dùng để chỉ 2 122 123 sải nước (3,6 mét) là độ sâu cần thiết cho tàu đi an toàn. Mục đích nghiêm túc của Twain, kết hợp với văn óc trào lộng của một thiên tài hiếm có, giữ cho các tác phẩm của ông còn nguyên vẻ tươi trẻ và hấp dẫn.

VĂN HỌC HIỆN THỰC VÀ TRÀO PHÚNG VÙNG BIÊN THÙY

Hai trào lưu văn học chủ yếu ở Mỹ thế kỷ 19 hòa quyện trong Mark Twain đó là trào lưu khôi hài vùng biên cương và văn học mang màu sắc địa phương, hay “văn học địa phương”. Những dòng văn học có quan hệ với nhau này được bắt đầu vào những năm của thế kỷ trước – nhưng đã có mầm mống sớm hơn từ những truyền thồng văn chương truyền miệng của địa phương. Trong những ngôi làng tồi tàn ở biên giới, trên những chiếc tàu chạy đường sông, trong những lều trại ở vùng mỏ và quanh đống lửa trại của những chàng chăn bò cách biệt với những thú vui đô thị, nghệ thuật kể chuyện này bắt rễ và đơm hoa rực rỡ. Sự cường điệu, những truyện tiếu lâm, những lời khoác lác không thể tin được và những nhân vật lao động ngộ nghĩnh đem lại sức sống cho văn học vùng biên giới. Những hình thức trào phúng này được tìm thấy ở nhiều vùng biên thùy (bây giờ là vùng Nam nội địa và hạ Trung Tây), vùng mỏ biên giới và vùng bờ biển Thái Bình Dương. Mỗi vùng có riêng những nhân vật đặc biệt, thú vị và nhiều câu chuyện được góp nhặt về họ: Mike Fink, một người ưa lý sự trên những con tàu xuôi ngược dòng Mississippi; Casey Jones, kỹ sư xe lửa quả cảm; John Henry, người Mỹ Phi châu – một tay lái vững vàng như thép; Paul Bunyan, người thợ xẻ khổng lồ mà tên tuổi được quảng cáo khắp nơi; những người miền Tây như Kit Carson, một chiến binh người Da đỏ, và Davy Crocket, người hướng đạo. Những chiến công phi thường của họ được cường điệu và làm phong phú thêm những khúc ballad, trên các trang báo và tạp chí. Đôi lúc, như với Kit Carson và DaVy Crockett, những câu chuyện này được kết nối lại với nhau thành sách.

Twain, Faulkner, và nhiều nhà văn khác, đặc biệt là người miền Nam đều chịu ơn sâu sắc những cây viết hài thời trước Nội chiến ở vùng biên thùy như Johson Hooper, George Washington Harris, Augustus Longstreet, Thomas Bangs Thorpe và Joseph Baldwin. Từ những nhà văn này và dân cư vùng biên giới rộ lên một sự sinh sôi nảy nở nhanh chóng những từ đặc Mỹ vừa mới, vừa ngộ nghĩnh: “absquatulate” (ra đi), “Flabbergasted” (kỳ lạ), “rampagious” (bất trị, tàn bạo). Những người khoác lác ở địa phương, hay là “những kẻ ầm ĩ có đuôi kêu”, kẻ một mực khẳng định rằng mình là nửa ngựa, nửa cá sấu, tất cả là để nhấn mạnh cái nguồn lực vô hạn của vùng biên giới. Họ lấy thêm sức mạnh từ những hiểm họa của thiên nhiên có thể làm cho người yếu bóng vía kinh sợ. “Tôi là một cơn lốc thực sự, một người khoác lác nói, cứng rắn như gỗ hồ đào và dai như gió Tây Bắc. Tôi có cú đấm thôi sơn và quét một cú có thể bạt đi một đám đông để lại một khoảng trống một hecta”.

CÁC NHÀ VĂN THUỘC TRÀO LƯU VĂN HỌC ĐỊA PHƯƠNG

Cũng như văn học trào phúng phổ biến ở vùng biên cương, dòng văn học mang màu sắc của từng miền cũng có những gốc rễ xa xưa nhưng chỉ cho ra đời những tác phẩm hay nhất một thời gian dài sau Nội chiến. Hiển nhiên, nhiều tác giả thời tiền chiến, từ Henry David Thoreau và Nathaniel Hawthorne cho đến John Greenleaf Whittier và James Russell Lowell, vẽ nên những bức chân dung nổi bật về nhiều vùng đất đặc biệt của Mỹ. Nhưng điều phân biệt các nhà văn địa phương với các bật tiền bối là sự tự ý thức và mối quan tâm đặc biệt đến việc thể hiện một nơi chốn nào đó với sự tả chân đầy ắp các sự kiện một cách chuẩn xác của họ.

Bret Harte (1836 – 1902) được mọi người nhớ đến như là tác giả của nhiều chuyện phiêu lưu như “The Luck of Roaring camp” (Vận may của một trại náo nhiệt) và “The Outcasts of Poker Flat (Những kẻ bị ruồng bỏ), lấy bối cảnh dọc theo vùng biên giới khai mỏ phía Tây. Là một nhà văn thành công vang dội đầu tiên của trường phái văn học mang sắc thái địa phương, Harte trong một thời gian ngắn có lẽ là tác giả nổi tiếng nhất ở Mỹ – sức hấp dẫn của những áng văn lãng mạn của miền Tây đầy tiếng súng của ông là thế. Là một nhà văn hiện thực đích thực, ông là một trong những người đầu tiên đưa những con người dưới đáy xã hội – những gã đánh bạc gian manh, những ả điếm diêm dúa, và những tên cướp thô lỗ – vào trong tác phẩm văn học nghiêm túc. Ông làm điều này rất thành công (giống như Charles Dickens ở Anh, người cũng rất mực ngưỡng mộ tác phẩm của Harte) bằng cách chứng minh rằng rốt cuộc trong số những con người có vẻ như cặn bã này cũng có những tấm lòng vàng.

Nhiều nhà văn nữ được độc giả nhớ đến vì những bức tranh mô tả vùng New England hết sức tinh tế của họ: Mary Wilkins Freeman (1852 – 1930), Harriet Beecher Stowe (1811 – 1896) và đặc biệt Sarah Orne Jewett (1849 – 1909). Sự độc đáo quan sát tinh tế và chuẩn xác về con người và cảnh vật vùng Maine và văn phòng trực cảm của Jeweett được thể hiện đậm nét trong truyện “The White Heron” (Con diệc trắng) trong tuyển tập Country of the Poited Firs (Quê hương những ngọn thông cao) (1896). Các tác phẩm đậm nét địa phương của Harriet Beecher Stowe đặc biệt là The Pearl of Orrs Island (Viên ngọc của đảo Orr – 1862) khắc họa những làng đánh cá bình dị ở Maine, đã có ảnh hưởng lớn đến Jewett. Những nhà văn nữ thế kỷ 19 đã tạo nên một thế giới riêng của họ với những ảnh hưởng và nâng đỡ về mặt đạo lý như có thể thấy trong những lá thư của họ. Phụ nữ trở thành giới độc giả chủ yếu của tiểu thuyết và nhiều phụ nữ còn viết những cuốn truyện, những bài thơ và những truyện cười rất nổi tiếng.

Mọi vùng trong đất nước tự ca ngợi chính mình trong các sáng tác văn học mang màu sắc địa phương. Một số tác phẩm thuộc loại này còn có cả nội dung phản kháng, chống đối mang tính xã hội, đặc biệt vào gần cuối thế kỷ khi mà sự bất bình đẳng xã hội và khó khăn về kinh tế trở thành vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Nạn phân biệt chủng tộc và bất bình đẳng giữa nam-nữ xuất hiện trong tác phẩm của các tác giả miền Nam như George Washington Cable (1844 – 1925) và Katee Chopin (1851 – 1904). Các tác phẩm đầy sức mạnh tố cáo của họ lấy bối cảnh ở Cajun (bang Lousiana thuộc địa của Pháp) đã bứt phá vượt lên trên dòng văn học mang sắc thái địa phương. Cuốn tiểu thuyết The Grandissimes (1880) của Cable bàn đến nạn phân biệt chủng tộc với một nghệ thuật tuyệt vời; cũng như tiểu thuyết táo bạo The Awakening (Bừng tỉnh – 1899) của Kate Chopin, về một phụ nữ với một nỗ lực định mệnh quyết tìm kiếm cho được bản thân mình qua nỗi đam mê, tác phẩm này đã đi trước thời đại. Trong The Awakening, một người đàn bà trẻ có một người chồng thành đạt, hết mực chiều chuộng vợ và những đứa con dễ thương đã từ bỏ gia đình, tiền bạc, địa vị xã hội, và cuối cùng chính cuộc đời mình để theo đuổi sự nhận chân về bản thân. Những cảnh tượng đầy chất thơ và hết sức gợi cảm về biển và chim chóc (bị nhốt trong lồng hay được tự do) và nhạc tính đã tạo cho cuốn tiểu thuyết ngắn này một sự phức tạp và mức độ sâu sắc không ngờ.

Thường đi đôi với The Awakening là câu chuyện thú vị “The Yellow Wallpaper” (Giấy dán tường màu vàng – 1892) của Charlotte Perkins Gilman (1860 – 1935). Cả hai tác phẩm đều bị lãng quên một thời gian dài, chỉ được các nhà phê bình văn học ủng hộ quyền phụ nữ khám phá ra vào cuối thế kỷ 20. Trong câu chuyện của Gilman, một bác sĩ ra vẻ khiêm nhường đã làm cho vợ mình phát điên vì nhốt bà vào trong căn phòng để “chữa” cho bà khỏi bệnh suy nhược thần kinh. Người vợ bị giam cầm này phản chiếu cuộc đời tù tội của mình lên tấm giấy dán tường; trong hình trang trí của nó, bà nhìn thấy những người phụ nữ bị giam cầm đang bò lê la sau những song sắt.

VĂN HỌC HIỆN THỰC VÙNG TRUNG TÂY

Trong nhiều năm làm chủ bút tạp chí Atlantic Monthly, William Dean Howells (1837 1920) đã xuất bản các tác phẩm mang phong cách hiện thực địa phương của Bret Harte, Mark Twain, George Washington Cable và những người khác. Ông còn là nhà văn hàng đầu của chủ nghĩa hiện thực và các tiểu thuyết của ông như A Modern Instance (Một trường hợp thời nay – 1882), The Rise of Silas Lapham (Sự thành công của Silas Lapham – 1885) và A Hazard of New Fotunes (Hiểm họa của vận hội mới – 1890), đan kết một cách cẩn thận những hiện trạng xã hội với cảm xúc của lớp người Mỹ trung lưu bình thường.

Lấy tình yêu, tham vọng, chủ nghĩa lý tưởng và sự cám dỗ những động lực cho các nhân vật của mình, Howells nhận thức một cách sắc sảo về sự băng hoại đạo đức của những nhà tài phiệt kinh doanh trong thời đại hoàng kim của thập niên 70, cuốn The Rise of Silas Lapham của HoWell dùng một tựa đề mỉa mai để xoáy sâu vào điểm này. Silas Lapham làm giàu bằng cách lừa lọc một người bạn kinh doanh già và hành động vô đạo đức của ông đã xáo trộn gia đình ông một cách sâu sắc, mặc dầu trong nhiều năm ông không nhận thức được hành động xấu xa của mình. Cuối cùng Lapham chuộc lại lỗi lầm bằng giải pháp hợp đạo lý, thà chịu phá sản hơn là thành đạt vô đạo. Silas Lapham cũng giống như Huckleberry Finn, là một câu chuyện về sự thất bại: công việc kinh doanh của Silas Lapham sụp đổ là sự lên ngôi về mặt đạo đức của ông. Vào giai đoạn cuối đời, Howells cũng như Twain, ngày càng trở nên tích cực hoạt động cho những lý tưởng chính trị, bảo vệ quyền của những người tổ chức nghiệp đoàn lao động và lên án chủ nghĩa thực dân của Mỹ ở Philippines.

CÁC NHÀ VĂN THEO QUAN ĐIỂM THẾ GIỚI CHỦ NGHĨA

Henry James
(1843 – 1916)

Henry James từng viết rằng nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật văn chương, “tạo ra cuộc sống, tạo ra mối quan tâm, tạo ra sự quan trọng”. Tiểu thuyết và sự nghiệp phê bình của James là những tác phẩm khó nhất, phức tạp nhất và tỉnh táo nhất trong thời kỳ đó. Cùng với Mark Twain, James thường được xếp vào hàng ngũ những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất của Mỹ vào nửa sau thế kỷ 19.

James nổi tiếng về “đề tài quốc tế” của mình – đó là mối quan hệ phức tạp giữa những người Mỹ ngây thơ và những người châu Âu có tư tưởng quốc tế. Những cuốn sách mà tác giả viết tiểu sử của ông là Leon Edel cho rằng thuộc vào giai đoạn đầu tiên, hay “giai đoạn quốc tế” của James bao gồm những tác phẩm Transatlantic Sketches (Những phác thảo xuyên Đại Tây Dương) gồm Những bài du ký (1875), The American (Người Mỹ) (1877),Daisy Miller (1879) và một kiệt tác, cuốn The Portrait of a Lady (Chân dung một mệnh phụ) (1881). Trong cuốn The American chẳng hạn, Christopher Neuman, một kỹ nghệ gia triệu phú tự lập thân, ngây thơ nhưng thông minh và lý tưởng, đi châu Âu tìm kiếm một ý trung nhân. Khi gia đình cô cự tuyệt vì ông thiếu một nguồn gốc quý tộc, ông lại có cơ hội để rửa hận cho mình khi quyết định không trả thù, ông đã chứng tỏ được sự hơn hẳn về mặt đạo đức của mình.

Thời kỳ sáng tác thứ hai của James là thời kỳ thử nghiệm. Ông khai thác những đề tài mới mẻ – phong trào nữ quyền và cải cách xã hội trong The Bostonians (Người Boston – 1886) và mưu đồ chính trị trong The Princess Casamassima (Công chúa Casamassima – 1886). Ông cũng cố gắng viết cho sân khấu, nhưng thất bại. Vở kịch Guy Domville (1895) bị la ó phản đối ngay đêm công diễn đầu tiên.

Vào giai đoạn thứ ba, hay “giai đoạn chủ yếu” của ông, James trở lại những đề tài quốc tế, nhưng xử lý chúng với sự nghiên cứu tâm lý sâu sắc và tính nghệ thuật được nâng cao. Cuốn The Wings of the Dove (Đôi cánh chim câu – 1902) rất phức tạp và hầu như huyền bí, The Ambassador (Ngài đại sứ – 1903) (mà James cho là cuốn tiểu thuyết hay nhất của mình) và The Golden Bow (Cái tô bằng vàng – 1904) ghi dấu giai đoạn quan trọng này. Nếu chủ đề chính của Twain là các hiện tượng cuộc sống và thế giới hiện thực, thì điều quan tâm thường xuyên của James là tri giác. Với James, chỉ có sự tự nhận thức về mình và tri giác rõ ràng về người khác mới mang lại sự khôn ngoan và một tình yêu vị tha. Trong khi James phát triển luận điểm này, tiểu thuyết của ông càng mang đậm tính chất tâm lý hơn và ít quan tâm đến những sự cố bên ngoài hơn. Trong tác phẩm sau này của James, những sự kiện quan trọng nhất đều mang tính cách tâm lý – thường là những khoảnh khắc giác ngộ thực sự cho phép những nhân vật thấy được sự mê lầm trước đây của mình. Ví dụ, trong The Ambassador, ông Lambert Strether đã luống tuổi nhưng sống rất lý tưởng khám phá một quan hệ yêu đương bí mật và cũng đồng thời phát hiện ra sự phức tạp mới mẻ trong đời sống nội tâm của mình. Sự cứng rắn, cương trực và đạo đức của ông trở nên người hơn và rộng lớn hơn khi ông thấy mình có khả năng chấp nhận những người đã sa ngã, phạm tội.

Edith Wharton
(1862 – 1937) 

Cũng như James, Edith Wharton có một quãng đời lớn lên ở châu Âu và cuối cùng chọn nó làm chốn dung thân. Bà xuất thân từ một gia đình giàu có, danh giá trong xã hội New York và tận mắt nhìn thấy sự suy vong của tầng lớp xã hội văn minh này. Cùng lọt vào tầm mắt của bà là sự phất lên của những gia đình kinh doanh, trưởng giả vừa học đòi vừa thô bạo. Sự chuyển đổi xã hội này là bối cảnh trong nhiều cuốn tiểu thuyết của bà.

Cũng như James, Wharton nêu ra những tương phản giữa người Mỹ và người Âu. Điều cốt lõi trong mối quan tâm của bà là cái hố sâu ngăn cách giữa thực trạng xã hội và bản ngã bên trong của mỗi người. Thường thì một nhân vật nhạy cảm thấy mình bị mắc kẹt giữa những con người vô cảm hoặc là các thế lực xã hội. Bản thân Edith Wharton đã trải qua kinh nghiệm về cái bẫy đó khi còn là một nhà văn trẻ. Bà đã phải chịu đựng một sự suy sụp tinh thần kéo dài phần nào bởi sự giằng co giữa vai trò làm nhà văn và làm vợ của bà. Những cuốn tiểu thuyết hay nhất của Wharton có The House of Mirth (Ngôi nhà của niềm vui – 1905), The Custom of the Country(Tập tục địa phương – 1913), Summer (Mùa hè – 1917), The Age of Innocence (Thời thơ ngây – 1920), và cuốn tiểu thuyết ngắn được trau chuốt tuyệt vời Ethan Frome (1911).

VĂN HỌC TỰ NHIÊN VÀ HIỆN THỰC TRẦN TRỤI

Sự mổ xẻ những động cơ ám muội về tiền bạc và tính dục trong sáng tác của Wharton và James đã nối kết họ với những tác giả mà xét bề ngoài hình như hoàn toàn khác biệt: Stephen Crane, Jack London, Frank Norris, Theodore Dreiser và Upton Sinclair. Giống như những nhà văn có quan điểm thế giới chủ nghĩa, nhưng với độ xác thực cao hơn, những nhà văn tự nhiên chủ nghĩa này đã sử dụng cơ sở hiện thực để liên hệ giữa cá nhân với xã hội. Họ thường vạch ra những vấn đề xã hội và chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết Darwin và lý thuyết triết học có liên quan của chủ nghĩa định mệnh, xem cá nhân như những con cờ của những thế lực kinh tế – xã hội vượt ra ngoài tầm kiểm soát của họ.

Chủ nghĩa tự nhiên thực chất là biểu hiện văn học của thuyết định mệnh. Kết hợp với sự mô tả chân thực, lạnh lùng cuộc sống của tầng lớp hạ lưu, thuyết định mệnh chối bỏ tôn giáo như là một sức mạnh thúc đẩy trên thế giới và thay vào đó quan niệm thế giới như là một cỗ máy. Các nhà tư tưởng Ánh sáng thế kỷ 18 cũng tưởng tượng thế giới là một cỗ máy, nhưng là một cỗ máy hoàn hảo, do Thượng đế tạo nên và dẫn đường đến sự tiến bộ và sự cải thiện nhân bản. Các nhà văn tự nhiên chủ nghĩa trái lại cho rằng thế giới là một cỗ máy mù quáng, chẳng có gì là thiêng liêng và vượt ra ngoài sự kiểm soát.

Nhà sử học Mỹ thế kỷ 19 Henry Adams xây dựng nên một lý thuyết chi tiết về lịch sử có liên hệ đến ý tưởng một cỗ máy phát điện, hay sức mạnh máy móc và một sự chuyển hóa năng lượng hoặc sự suy sụp của sức mạnh này. Adams không nhìn thấy những tiến bộ xã hội, ông chỉ nhìn thấy sự đi xuống không thể tránh khỏi của xã hội loài người.

Stephen Crane, con trai của một mục sư, trình bày sự đánh mất Thượng đế một cách cô đọng nhất:

Một người nói với vũ trụ:
“Thưa ngài, tôi tồn tại!”
“Tuy nhiên”, vũ trụ đáp lời
“Sự kiện đã không tạo nên trong ta
Một ý thức bổn phận”.

Giống như chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa Tự nhiên xuất hiện đầu tiên ở châu Âu. Nó thường được xem là xuất phát từ những tác phẩm của Honoré de Balzac vào thập niên 40 và được nhìn nhận như là một trào lưu văn học Pháp gắn liền với tên tuổi Gustave Flaubert, Edmond và Jules Goncourt, Émile Zola và Guy de Maupassant. Nó mạnh dạn phơi trần mặt trái bị che khuất của xã hội và những đề tài như ly dị, tình dục, ngoại tình, khốn cùng và tội ác.

Chủ nghĩa Tự nhiên nở rộ khi người Mỹ bắt đầu công cuộc đô thị hóa và nhận thức được tầm quan trọng của các thế lực kinh tế và xã hội rộng lớn. Vào trước 1890, các cửa ngõ biên giới được công bố chính thức đóng cửa. Hầu hết người Mỹ sống ở các thành phố, và việc kinh doanh có vai trò thống trị ngay cả ở những vùng thôn quê xa xôi, hẻo lánh.

Stephen Crane
(1817 -1900) 

Stephen Crane sinh ở Jersey. Tổ tiên của ông có lẽ là một trong những chiến sĩ của cuộc chiến tranh Cách mạng, những mục sư, những cảnh sát trưởng, những quan tòa, và nông dân đã sống trước đó một thế kỷ. Lập nghiệp là một phóng viên, ông cũng viết tiểu thuyết, tiểu luận, thơ và kịch. Crane nhìn cuộc đời ở dạng thô thiển trần trụi nhất, ở trong những khu nhà ổ chuột về trên chiến trường. Những truyện ngắn của ông – đặc biệt “The Open Boat” (Con thuyền), “The Blue Hotel” (Khách sạn màu xanh da trời) và “The Bride Comes to Yellow Sky” (Cô dâu đến Yellow Sky[2]) – là những ví dụ cho thể loại đó. Cuốn tiểu thuyết không thể nào quên về Nội chiến,The Red Badge of Courage (huy hiệu đỏ anh dũng) được nhiệt liệt hoan nghênh khi xuất bản năm 1895, nhưng ông không có được thời gian để tắm mình trong vinh quang trước khi chết ở tuổi 29, vì quá khinh suất trong việc giữ gìn sức khỏe. Ông hầu như bị lãng quên suốt trong hai thập niên đầu của thế kỷ 20, nhưng lại được dựng tượng qua một tiểu sử ngợi ca do Thomes Beer viết năm 1923. Kể từ đó, ông càng ngày càng trở nên nổi tiếng như là một người bênh vực quyền lợi quần chúng, một nhà văn hiện thực và tượng trưng chủ nghĩa.

Tác phẩm Maggie – A Girl of the Streets (Maggie – Cô gái điếm – 1893) của Crane là một trong những tác phẩm hay nhất nếu không phải là sớm nhất của chủ nghĩa tự nhiên Mỹ. Đây là câu chuyện đau lòng về một cô gái trẻ đã nghèo lại nhạy cảm, xuất thân từ một gia đình mạt hạng, bố mẹ rượu chè, vô học, hoàn toàn ruồng bỏ cô. Yêu và nóng lòng muốn trốn thoát không khí địa ngục gia đình, cô đã bị một gã đàn ông trẻ dụ dỗ về sống với mình, sau đó chẳng bao lâu gã lại bỏ rơi cô. Khi mà ngay cả người mẹ tự cho mình là đứng đắn cũng chối bỏ cô, thì Maggie chỉ còn cách trở thành một cô gái đứng đường để nuôi thân, nhưng chẳng bao lâu cô tự tử vì tuyệt vọng. Đề tài và chất liệu hoàn toàn trần tục kết hợp với văn phong khoa học, khách quan, không răn dạy đạo đức, đã đánh dấu Maggie là một tác phẩm tự nhiên chủ nghĩa.

Jack London
(1876 – 1916) 

Từ công nhân nghèo, tự học ở California, nhà văn của chủ nghĩa tự nhiên Jack London đã có một cú nhảy ngoạn mục từ cảnh cơ hàn bước lên đài danh vọng bởi tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của mình, The Son of the Wolf (Đứa con của Sói – 1904), phần lớn bối cảnh là ở vùng Klondike ở Alaska và Yukon ở Canada. Những cuốn sách bán chạy khác của ông gồmThe Call of the Wild (Tiếng gọi nơi hoang dã – 1903) và The Sea-Wolf (Hải tặc sói biển – 1904), khiến ông trở thành nhà văn được trả nhuận bút cao nhất ở Hoa Kỳ vào thời đó.

Cuốn tiểu thuyết mang tính cách tự thuật Martin Eden (1909) miêu tả những căng thẳng nội tại của “giấc mơ Mỹ” mà bản thân London đã trải qua khi ông như một vì sao từ nghèo khổ tối tăm bay đến chỗ giàu sang và danh tiếng. Eden, một thủy thủ nghèo mạt rệp, không được học hành nhưng thông minh và ham hiểu biết, quyết tâm trở thành nhà văn. Cuối cùng tác phẩm của anh làm cho anh trở nên giàu có và nổi tiếng, nhưng cũng chính lúc đó Eden nhận ra rằng người con gái mà anh yêu chỉ quan tâm đến tiền bạc và danh tiếng của anh mà thôi. Sự vỡ mộng trong tình yêu vì người trong mộng của mình hoàn toàn không có khả năng yêu thương đã làm cho anh mất luôn lòng tin vào phẩm giá con người. Anh cũng là nạn nhân của sự tha hóa giai cấp, vì anh không còn thuộc về tầng lớp lao động nữa, trong khi anh chối bỏ những giá trị vật chất của tầng lớp quý tộc mà vì nó anh đã phải lao động và nỗ lực vượt bực. Trên chuyến tàu đến Nam Thái Bình Dương anh đã nhảy xuống biển tự tử. Cũng như nhiều cuốn tiểu thuyết hay nhất thời đó, Martin Eden là câu chuyện về sự thất bại. Nó là mẫu mực cho cuốn The Great Gatsby (Gatsby vĩ đại) của F. Scott Fitzgerald khi nó bộc lộ sự tuyệt vọng của con người giữa vinh hoa phú quý.

Theodore Dreiser 
(1871 – 1945) 

Năm 1925, tác phẩm An American Tragedy (Một bi kịch Mỹ) của Theodore Dreiser ra đời, cũng giống như Martin Eden của London, khám phá những hiểm họa của giấc mơ Mỹ. Câu chuyện tái hiện đến từng chi tiết nhỏ về cuộc đời của Clyde Griffiths, một cậu bé kém ý chí và có chút ít ý thức. Cậu lớn lên trong một gia đình nghèo khó, đi lang thang hành nghề thuyết giáo. Cậu bé sớm nuôi mơ ước được giàu sang và được một người phụ nữ đẹp yêu. Rồi anh ta được một người bác giàu có nhận vào làm trong nhà máy của ông. Khi người bạn gái Roberta của anh có thai, cô yêu cầu anh ta phải cưới. Trong khi đó, Clyde lại đem lòng yêu một cô gái thuộc xã hội thượng lưu là đại diện cho sự thành công, tiền tài và địa vị xã hội. Clyde cẩn thận vạch kế hoạch dìm Roberta chết trong một chuyến đi chơi thuyền, nhưng vào giây phút cuối cùng anh lại đổi ý; tuy nhiên cô vẫn ngẫu nhiên té xuống nước. Clyde vốn bơi giỏi đã không cứu cô, và cô chết đuối. Khi Clyde bị ra hầu tòa, Dreiser kể lại câu chuyện theo chiều ngược lại, đã khôn khéo sử dụng những vị trí thuận lợi của luật sư công tố và luật sư bào chữa để phân tích từng bước đi và động lực dẫn Clyde, một thanh niên tính tình vốn dịu dàng, rất mộ đạo và có quan hệ gia đình tốt đẹp, đến chỗ phạm tội giết người.

Mặc dầu không có được phong cách tinh tế nhưng Dreiser trong An American Tragedy lại chứng tỏ là ngòi bút bậc thầy. Những chi tiết chính xác của tác phẩm đã tạo được một cảm nhận mãnh liệt về một tấn bi kịch không thể nào tránh khỏi. Cuốn tiểu thuyết là một bức tranh cay độc làm tổn thương huyền thoại về sự thành công dễ dàng ở Mỹ, và nó cũng là một câu chuyện phổ biến về những áp lực của công cuộc đô thị hóa, hiện đại hóa, và sự tha hóa. Nó cũng nói lên nhiều khía cạnh về những tưởng tượng lãng mạn và nguy hiểm của những kẻ bị tước đoạt.

An American Tragedy phản ánh sự bất mãn, lòng ghen tị, và sự thất vọng làm dân nghèo và tầng lớp lao động phải đau khổ trong sự cạnh tranh gay gắt của xã hội Mỹ, nơi mà sự thành công vừa là động lực vừa là nỗi ám ảnh. Khi sức mạnh của ngành công nghiệp Mỹ trỗi dậy, cuộc sống hào nhoáng của lớp người giàu có xuất hiện hàng ngày trên báo ảnh và tạp chí là một sự tương phản rất rõ nét với cuộc sống ảm đạm buồn tẻ của đa số nông dân và tầng lớp công nhân ở đô thị. Truyền thông đại chúng đã thổi phồng lên những ước ao đổi đời và những ham muốn phi lý. Những vấn đề như thế là hết sức bình thường với những đất nước đang hiện đại hóa, tạo đất sống cho trào lưu báo chí có xu hướng khuấy bùn đó là một loại phóng sự điều tra phanh phui có chiều sâu, cung cấp tư liệu về những vấn đề xã hội và tạo ra sự thúc đẩy quan trọng cho việc cải tạo xã hội.

Truyền thống vững mạnh của báo chí điều tra Mỹ bắt nguồn từ giai đoạn này. Trong suốt thời gian ấy, tờ tạp chí tầm cỡ quốc gia như là McClures Collier’s đã xuất bản cuốn History of the Standard Oil Company[3] (Lịch sử của công ty dầu mỏ Standard Oil – 1904) của Ida M. Tarbell, The Shame of the Cities (Nỗi ô nhục của các đô thị – 1904) của Lincoln Steffens, và các vụ phanh phui đầy tai tiếng khác. Những cuốn tiểu thuyết bới móc sử dụng những kỹ thuật báo chí độc đáo để khắc họa những điều kiện sống khắc nghiệt và sự áp bức. Cuốn The Octopus (Bạch tuộc – 1901) của Frank Norris theo phái Dân túy đã phanh phui những vụ bê bối của những công Ty hỏa xa lớn, trong lúc đó cuốn The Jungle (Rừng rậm – 1908) của Upton Sinclair theo phái xã hội đã phơi bày sự dơ dáy bẩn thỉu của công nghệ làm thịt hộp ở Chicago. Cuốn The Iron Heel (Gót sắt – 1908) với cái nhìn bi quan của Jack London thì đi trước cuốn năm 1984 của George Orwell trong việc tiên đoán một cuộc chiến giai cấp và việc đảo chính cướp chính quyền.

Một phản ứng có tính nghệ thuật hơn là các chân dung hiện thực hay nhóm chân dung những nhân vật bình thường và những thất vọng trong cuộc sống nội tâm. Tuyển tập truyện ngắn Main-Travelled Roads (Những nẻo đường chính – 1891) của tác giả được William Dean Howell bảo trợ, Hamlin Garland (1860 – 1940) là phòng tranh trưng bày chân dung của những người bình thường. Nó khắc họa những bức tranh đáng kinh ngạc về sự khốn cùng của nông dân miền Trung Tây đòi cải cách nông nghiệp. Tựa cuốn sách ám chỉ về nhiều con đường chạy về hướng Tây mà những người khẩn hoang nhọc nhằn đã đi theo và những con đường chính đầy bụi bặm ở các làng định cư của họ.

Gần gũi với Main-Travelled Roads của Garland là Winesburg, Ohio (Thành phố Winesburg, bang Ohio) của Sherwood Anderson (1876 – 1941) được bắt đầu 1916. Đây là tuyển tập truyện ngắn rời rạc về các cư dân của một thành phố hư cấu Winesburg qua cái nhìn của một phóng viên trẻ thơ ngây George Willard, người cuối cùng cũng ra đi tìm kiếm cơ may của mình ở đô thị. Giống như Main-Travelled Roads và những tác phẩm theo trường phái tự nhiên khác của thời kỳ này, Winesburg, Ohio nhấn mạnh đời sống nghèo khổ âm thầm, sự cô đơn và tuyệt vọng của các thành phố nhỏ ở Mỹ.

“TRƯỜNG PHÁI CHICAGO” TRONG THI CA

Ba nhà thơ miền Trung Tây lớn lên ở bang Illinois và chia sẻ mối quan tâm của miền Trung Tây với quần chúng là Carl Sandburg, Vachel Lindsay và Edgar Lee Masters. Thơ của họ thường quan tâm đến những cá nhân của bóng tối, họ phát triển những kỹ thuật mang yếu tố hiện thực, những diễn tả đầy kịch tính, giúp họ thu hút được đông đảo độc giả hơn. Họ là một phần của văn học miền Trung Tây, hay trường phái Chicago nổi lên trước Thế chiến thứ nhất thách thức định chế văn học ở bờ Đông. Sự “Phục hưng của Chicago” là một bước ngoặt của nền văn hóa Mỹ: nó chứng minh rằng văn hóa của vùng đất này đã trưởng thành.

Edgar Lee Masters
(1868 – 1950)

Trước thềm của thế kỷ 20, Chicago đã trở thành một đô thị lớn, quê hương của nền kiến trúc cách tân và những bộ sưu tập nghệ thuật tầm vóc thế giới. Chicago cũng là nơi ra đời của tờ Poetry của Harriet Monnoe, một tạp chí văn học quan trọng nhất thời đó.

Trong số những nhà thơ đương đại đáng chú ý mà tạp chí này đã giới thiệu, có Edgar Lee Masters, tác giả tập thơ dấn thân Spoon River Anthology(Tuyển tập Spoon River – 1915). Tập thơ nổi bật với ngôn ngữ hàng ngày “chẳng thơ một chút nào” hết sức mới mẻ, một sự bộc bạch thẳng thắn về tính dục, cái nhìn phê phán về cuộc sống làng quê, và những miêu tả cường điệu về đời sống nội tâm của những con người chẳng có gì nổi bật.

Spoon River Anthology là tuyển tập những chân dung được trình bày như những đoạn bi ký viết bằng ngôn ngữ thông thường tóm lược cuộc đời của những người dân quê như thể bằng lời lẽ của chính họ. Nó vẽ ra toàn cảnh của một làng quê qua cái nghĩa trang của nó: 250 người chôn ở đấy đã lên tiếng bộc bạch những bí mật sâu kín nhất của họ. Nhiều người có quan hệ mật thiết với nhau; thành viên của 20 gia đình nói về những thất bại và giấc mơ của họ bằng những bài tự sự theo thể thơ-tự-do hiện đại một cách đáng ngạc nhiên.

Carl Sandburg
(1878 – 1967)

Một người bạn của ông đã nói: “Cố viết ngắn gọn về Carl Sandburg cũng giống như cố gắng chụp hình hẻm núi Grand Canyon([4]) bằng một tấm hình đen trắng”. Là nhà thơ, nhà sử học, nhà văn viết tiểu sử, tiểu thuyết, sáng tác nhạc và viết tiểu luận – Sandburg – con trai của một người thợ rèn đường sắt xứng đáng với tất cả những danh hiệu đó và còn hơn thế nữa. Sống bằng nghề viết báo, ông viết tiểu sử đồ sộ về Abraham Lincoln – một trong những tác phẩm kinh điển về thể loại này của thế kỷ 20.

Đối với nhiều người, Sandburg là một Walt White hiện đại. Ông viết những vần thơ yêu nước và những bài thơ đầy cảm xúc về đời sống đô thị, những giai điệu đơn giản trẻ thơ và những khúc ballad. Ông đi khắp nơi ngâm thơ và ghi âm thơ của mình bằng một giọng ngâm có âm điệu du dương, ngọt ngào, thực sự là một cách hát. Tự bản chất ông hoàn toàn khiêm tốn, dù cho tiếng tăm lừng lẫy cả nước. Điều ông mong muốn trong cuộc sống như một lần ông nói là “được thoát khỏi giam cầm… được ăn đều đặn… được in ra những gì tôi viết… một tình yêu nơi quê nhà và chút ít âu yếm trìu mến nơi đây và xa kia trong toàn cảnh nước Mỹ… (và) được ca hát mỗi ngày”.

Bài thơ “Chicago” (1914) là một ví dụ tuyệt vời cho những chủ đề trên và cho phong cách Whitman của ông:

Gã bán thịt heo cho toàn thế giới,
Người làm dụng cụ, kẻ chất đống lúa mì,
Người rong chơi với những đường xe lửa và
Người chuyển hàng của đất nước;
Như bão tố, ồn ào, đầy sức mạnh
Thành phố của những đôi vai vững vàng.

 

Vachel Lindsay
(1879 – 1931)

Vachel Lindsay là một mục sư theo phái Dân túy ở một thị trấn nhỏ miền Trung Tây và là người sáng tạo ra loại thơ có nhịp điệu mạnh mẽ làm ra để đọc lớn trước đám đông. Sáng tác của ông là một sự kết hợp kỳ ảo với một mặt là những hình thức thơ ca bình dân, hay dân gian, chẳng hạn như những bài hát phúc âm Thiên Chúa giáo và ca nhạc tạp kỹ và mặt khác là thi pháp tiên tiến của các trào lưu hiện đại. Là một nhà thơ đọc trước công chúng cực kỳ nổi tiếng thời đó, những cách đọc của Lindsay là tiền thân những cách đọc thơ của nhóm “Beat” thời sau thế chiến II có đệm nhạc Jazz.

Để phổ biến thơ cho công chúng, Lindsay phát triển cái mà ông gọi là một “loại ca nhạc tạp kỹ cao cấp”, dùng âm nhạc và các tiết tấu mạnh. Là người phân biệt chủng tộc dựa vào tiêu chuẩn hiện nay, bài thơ nổi tiếng của ông “The congo” (1914) ca ngợi lịch sử của những người Phi châu bằng cách pha trộn nhạc Jazz, thơ, âm nhạc và ca từ. Ông đồng thời làm cho những nhân vật lỗi lạc trong lịch sử nước Mỹ chẳng hạn như Abraham Lincoln (trong bài “Abraham Lincoln Walks at Midnight” Abraham Lincoln đi dạo giữa đêm khuya và John Chapman (“Johnny Appleseed” – Johnny hạt táo) trở nên bất tử bởi nghệ thuật pha trộn giữa hiện thực và huyền thoại.

Edwin Arlington Robinson
(1869 – 1935)

Edwin Arlington Robinson là nhà thơ Mỹ xuất sắc nhất vào cuối thế kỷ 19. Giống như Edgar Lee Masters, ông nổi tiếng vì những phát hiện về nét khôi hài, tính cách thiếu hoàn hảo của những con người bình thường. Nhưng không giống Masters, Robinson dùng âm luật truyền thống. Thị trấn Tilbury do ông tưởng tượng ra cũng giống như Spoon River của Masters chứa đựng bao cuộc sống mòn trong tuyệt vọng âm thầm. Một số những bài thơ tự sự nổi tiếng của Robinson là “Luke Havergal” (1896), về một tình nhân bị bỏ rơi, “Miniver Cheevy” (1910), hình ảnh một con người mộng mơ lãng mạn; và “Richard Cory” (1896), một chân dung ảm đạm về một con người giàu có đã tự kết liễu đời mình:

Mỗi khi Richard Cory đi ra phố,
chúng tôi tụ trên vỉa hè đứng nhìn ông:
Ông là một quý ông lịch duyệt
Ân cần, đẹp tươi; thon thả, uy nghiêm.

Và ông luôn ăn mặc thật chỉnh tề, nhã nhặn
Ông luôn nhân từ khi trò chuyện cùng ai
Ông vẫn thường đỏ mặt lên khi nói,
“Chào ông” và trông ông rạng rỡ mỗi bước đi.

Ông giàu có – vâng, còn giàu hơn cả một ông vua –
Ông được dạy dỗ để phong nhã trong từng cử chỉ:
Cuối cùng, chúng tôi nghĩ rằng ông là tất cả những gì Khiến chúng tôi ao ước được là ông.

Vì thế chúng tôi tiếp tục làm việc, và đợi chờ may mắn
Và qua ngày không có thịt ăn, và nguyền rủa bánh mì
Còn Richard Cory, một đêm hè êm vắng,
Đã về nhà và bắn một viên đạn vào đầu ông.

 

“Richard Cory” chiếm được một chỗ đứng bên cạnh Martin EdenAn American Tragedy, và The Great Gatsby như một lời cảnh tỉnh đầy sức mạnh chống lại huyền thoại về sự thành công được thổi phồng lên biến thành bệnh dịch hành người dân Mỹ trong thời đại của những nhà triệu phú.

HAI TIỂU THUYẾT GIA MANG SẮC THÁI ĐỊA PHƯƠNG

Hai nữ tiểu thuyết gia Ellen Glasgow (1873 -1945) và Willa Cather (1873 – 1947) chuyên khám phá về thế giới phụ nữ, và đặt họ vào trong những khung cảnh địa phương được xây dựng với một vẻ rực rỡ, huy hoàng. Thực ra, không ai trong hai người tuyên bố những vấn đề đặc biệt về phụ nữ. Trong các tác phẩm đầu tay của nhân vật chính là nam, và chỉ khi họ đã tạo được sự tự tin và một độ chín trong nghệ thuật, họ mới quay sang mô tả đời sống của phụ nữ. Glasgow và Cather chỉ có thể được xem là “các nhà văn nữ” theo nghĩa mô tả, vì tác phẩm của họ không thể phân loại được.

Glasgow người vùng Richmond bang Virginia, thủ phụ cũ của phe miền Nam thời Nội chiến. Các tiểu thuyết hiện thực của bà phản ánh sự biến đổi của miền Nam từ một nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp. Các tác phẩm có giá trị như Virginia (1912) xoay quanh những kinh nghiệm của người miền Nam, trong lúc những tác phẩm sau này như Barren Groand(Đất bạc màu (1925) – được công nhận là tác phẩm hay nhất của bà – kịch hóa cuộc đời những phụ nữ tài hoa cố gắng vượt qua những lề thói truyền thống bó hẹp của miền Nam, khuôn định thiên chức nội trợ, trách nhiệm gia đình và sự phụ thuộc của phụ nữ.

Cather, một người Virginia khác, lớn lên trên thảo nguyên Nebradka giữa những người di dân khẩn hoang – sau này làm cho họ sống mãi trong cuốnO Pionners! (Ôi! Những người khai hoang – 1913), My Antonia (Antonia của tôi – 1918), và câu chuyện nổi tiếng của bà Neighbour Rosicky (Người hàng xóm Rosicky – 1928). Trong cuộc đời, bà trở nên ngày càng xa lạ với chủ nghĩa vật chất của cuộc sống hiện đại và viết về những ảo mộng khác nhau ở Tây Nam nước Mỹ và trong quá khứ. Cuốn Death Comes for the Archbishop (cái chết của ngài giám mục – 1927) dựng lại tinh thần lý tưởng của hai tu sĩ thế kỷ 16 lập nên Giáo hội Công giáo ở sa mạc New – Mexico. Tác phẩm của Cather tưởng niệm những khía cạnh quan trọng của kinh nghiệm Mỹ bên ngoài dòng văn học chính thống – như việc khai khẩn, sự thành lập tôn giáo, và cuộc sống độc lập của phụ nữ.

SỰ VƯƠN LÊN CỦA NỀN VĂN HỌC MỸ DA ĐEN

Thành tựu văn học của người Mỹ Da đen là một trong những bước phát triển văn học nổi bật nhất sau Nội chiến. Các dòng văn học Mỹ da đen đã bắt rễ trong các tác phẩm của Booker T. Washington, W.E.B. Du Bois, James Weldon Johson, Charles Waddell Chesnutt, Paul Laurence Dunbar và những người khác, đáng chú ý nhất là thể loại tiểu sử tự thuật, văn học phản kháng, những bài thuyết giảng, thơ và âm nhạc.

Booker T. Washington
(1856 – 1915)

Booker T. Washington, nhà giáo dục và người lãnh đạo Da đen nổi bật nhất vào thời đó. Ông sinh ra và lớn lên trong thân phận nô lệ ở quận Franklin – bang Virginia, cha là người Da trắng chủ nô, mẹ là nữ nô lệ Da đen. Tiểu sử tự thuật đơn giản, rất hay của ông Up From Slavery (Đứng lên từ cuộc đời nô lệ – 1901), kể lại cuộc đấu tranh thắng lợi của ông trong việc tu dưỡng bản thân. Ông trở nên nổi tiếng bởi những nỗ lực trong việc cải thiện cuộc sống của những người Mỹ Da đen; chính sách hòa giải với người Da trắng của ông – một nỗ lực giúp đỡ những người Mỹ Da đen mới được giải phóng hòa nhập vào dòng chảy chung của xã hội Mỹ – được vạch ra trong diễn văn nổi tiếng của ông nhan đề “Atlanta Exposition Address” (1895).

W.E.B. Du Bois
(1868 – 1963) 

Sinh ở New England và được đào tạo ở Đại học Harvard và Đại học Berlin (Đức), W. E. B. Du Bois là tác giả của bài viết “Of Mr Booker T. Washington and Others” (Về ông Booker T. Washington và nhữngh người khác), một tiểu luận về sau được tập hợp trong cuốn sách nổi tiếng của ông The Souls of Black Folk (Tâm hồn người Da đen – 1903). Du Bois cẩn thận chứng minh rằng dù cho Washington có nhiều thành tích, ông thật sự đã chấp nhận sự kỳ thị chủng tộc – sự đối xử bất bình đẳng và phân biệt đối với người Mỹ Da đen – và sự kỳ thị ấy tất yếu sẽ dẫn đến địa vị thấp kém của người Da đen, đặc biệt là trong giáo dục. Du Bois, một sáng lập viên của Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu (NAACP), cũng viết những lời đánh giá nhạy bén, sắc sảo về truyền thống và văn hóa của người Mỹ gốc Phi; tác phẩm của ông giúp những người trí thức Da đen khai thác nền văn học và âm nhạc dân gian phong phú của dân tộc mình.

James Weldon Johnson
(1871 – 1938)

Cũng như Du Bois, nhà thơ James Weldon Johnson tìm cảm hứng trong những bài dân ca của người Mỹ Da đen. Bài thơ “O Black and Unknown Bards” (Ôi, những nhà thơ Da đen vô danh! – 1917) của ông có đoạn

Trái tim người nô lệ nào trào tuôn bao giai điệu
Như trong bài “Lẻn bước đến bên Chúa” một khúc nhạc dịu êm
Linh hồn anh chắc tự do bay lượn hằng đêm,
Dầu quanh đôi tay anh xích xiềng xiết chặt.

Mang trong mình dòng máu pha trộn giữa Da đen và Da trắng, Johnson đã tìm hiểu vấn đề phức tạp của chủng tộc trong cuốn tiểu thuyếtAutobiography of an Ex-Colored (Tiểu sử tự thuật của một người lai – 1912) viết về một người pha trộn hai dòng máu đã “vượt qua” định kiến (hay là được chấp nhận) làm người Da trắng. Cuốn sách chuyển tải một cách có hiệu quả sự quan tâm của người Mỹ Da đen với những vấn đề nguồn gốc lai lịch ở Mỹ.

Charles Waddell Chesnutt 
(1858 – 1932)

Charles Waddell Chesnutt, tác giả của hai tuyển tập truyện ngắn, The Conjure Woman (Nữ pháp sư – 1899), The Wife of His Youth (Người vợ thời son trẻ – 1899) tiểu thuyết The Marrow Of Trandittion (Cốt lõi của truyền thống – 1901), và một cuốn tiểu sử về Frederick Douglass, đi trước thời đại. Truyện ngắn của ông dựa trên các đề tài về chủng tộc, nhưng tránh né những kết cục có thể đoán trước được và những tình cảm chung chung, nhân vật của ông là những cá nhân rõ rệt với những thái độ phức tạp về mọi việc, bao gồm cả vấn đề chủng tộc. Chesnutt thường mô tả sức mạnh của cộng đồng Da đen và khẳng định những giá trị đạo đức và sự đoàn kết chủng tộc.


[1] Tinh thần chống sùng bái thánh tượng nổi lên đầu tiên ở châu Âu thể hiện đậm nét trong văn học trào phúng dân gian.

[2] Yellow Sky: tên một thị trấn trong truyện ngắn nổi tiếng này.

[3] Standard Oil Company: một công ty dầu lửa hàng đầu của Mỹ. Tên viết tắt của nó là S.O và đọc là ESSO.

[4] Grand Canyon: một thung lũng rộng mênh mông bị sông Colorado cắt ngang ở vùng cao nguyên thuộc Tây Bắc Arizona. Hẻm núi ngoạn mục đẹp như một tác phẩm điêu khắc này có chiều rộng từ 0,2 đến 29km và trải dài từ cửa sông Paria gần địa phận phía Bắc của Arizona đến vách núi Grand Wash gần Nevada, tức là vào khoảng 446 km.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_v.html

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 4: Tiểu thuyết lãng mạn thời kỳ 1820-1860

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Walt Whitman, Nathaniel Hawthorne, Herman Melville, Edga Allan Poe, Emily Dickinson và các tác giả theo chủ nghĩa Siêu nghiệm chính là đại biểu của thế hệ các nhà văn lớn đầu tiên được sinh ra ở Mỹ. Với những nhà văn viết tiểu thuyết, cái nhìn lãng mạn có khuynh hướng biểu hiện trong hình thức mà Hawthorne gọi là “Tiểu thuyết lãng mạn” (Romance), một loại hình tiểu thuyết đạt đến đỉnh cao, gợi cảm và mang tính tượng trưng. Nhưng tiểu thuyết lãng mạn không phải là những câu chuyện tình, mà là những tiểu thuyết nghiêm túc sử dụng những kỹ thuật đặc biệt để truyền đạt những ý nghĩa vừa phức tạp vừa tinh tế.

Thay vì mô tả cẩn thận các nhân vật hiện thực thông qua vô số các chi tiết, như hầu hết các tiểu thuyết Anh hay Cựu lục địa đã làm, Hawthorne, Melville và Poe đã dựng lên những nhân vật anh hùng mang tính lý tưởng, thắp lên ngọn lửa của tinh thần huyền thoại. Nhân vật chính trong những tiểu thuyết lãng mạn Mỹ là những cá nhân kỳ dị với nhiều nỗi ám ảnh. Authur Dimmersdale hay Hester Prynne trong The Scarlet Letter (Chữ A màu đỏ) của Hawthorne, Ahab trong Moby-Dick (Cá voi trắng) của Melville, và nhiều nhân vật đơn độc có những ám ảnh trong nhiều truyện kể của Poe là những nhân vật chính cô đơn được chỉ định đấu tranh chống lại những số phận tối tăm, không thể hiểu được mà những số phận này, bằng một cách thức bí ẩn nào đo,á lại phát sinh từ cái tôi vô thức sâu thẳm nhất của họ. Những cốt truyện tượng trưng biểu lộ những hành động che đậy của một tâm hồn đau khổ với bao điều dằn vặt.

Một lý do giải thích cho hướng khai thác tiểu thuyết tập trung vào cái vùng sâu kín ẩn khuất của tâm hồn con người là sự thiếu vắng một đời sống cộng đồng có cội rễ và ổn định ở Mỹ. Những tiểu thuyết gia Anh – Jane Auster, Charles Dickens (nhà văn được ưa thích nhất), Anthony Trollope, George Eliot, William Thackeray – sống trong một xã hội truyền thống, được tổ chức quy củ và phức hợp, chia sẻ với độc giả các niềm tin, nhận thức đã định hình trong các tiểu thuyết hiện thực của họ. Các nhà văn Mỹ phải đối mặt với lịch sử đấu tranh và cách mạng, một vùng đất hoang dã mênh mông khó kiểm soát, và một xã hội dân chủ tương đối không còn giai cấp và sẵn sàng thay đổi. Các tiểu thuyết Mỹ thường phô bày sự vắng mặt khác thường của truyền thống. Nhiều tiểu thuyết Anh kể về một nhân vật chính nghèo khổ vươn lên trên những nấc thang kinh tế và xã hội, nhờ vào cuộc hôn nhân tốt đẹp hay nhờ việc khám phá ra nguồn gốc quý tộc của nhân vật đó. Nhưng cái bố cục kiểu ấy không thách thức cái trật tự bất di bất dịch của xã hội quý tộc Anh. Trái lại, còn khẳng định cái trật tự ấy -Sự đổi đời của nhân vật chính đã làm thỏa mãn ước mơ về một sự thành đạt của đa số độc giả trung lưu.

Trong khi đó, các nhà văn Mỹ phải dựa vào những chủ kiến của riêng mình. Nước Mỹ, trong một chừng mực nào đó, là một biên cương luôn mở rộng, không xác định bởi làn sóng lưu dân vẫn đổ đến Mỹ mang đến đây thứ tiếng nói xa lạ và những lối sống kỳ cục, thô lậu. Vì vậy nhân vật chính trong văn học Mỹ có thể thấy mình lạc lõng giữa những bộ tộc ăn thịt người, như trong Typee của Melville, hoặc đang khám phá một vùng đất hoang vu như nhân vật Leatherstocking của James Fenimore Cooper, hay đang nhìn thấy những hồn ma bóng quế từ dưới nấm mồ như những nhân vật trơ trọi của Poe, hoặc gặp gỡ ma quỷ dạo chơi trong rừng, giống như Young Goodman Brown- nhân vật của Hawthorne. Hầu như những nhân vật chính có tầm vóc trong văn học Mỹ là “những kẻ lạc loài”. Mỗi cá nhân dân chủ Mỹ, đã phải phát hiện ra chính mình, như từng xảy ra trong thực tế.

Một tiểu thuyết gia Mỹ thực sự cũng phải phát minh ra những hình thức thể hiện mới – từ đấy ra đời hình bóng bao trùm, kỳ dị của cuốn tiểu thuyếtMoby-Dick của Melville và cuốn Narrative of Arthur Gordon Pym (Thuật chuyện của ông Arthur Gordon Pym) mơ màng, phiêu lãng của Poe. Ít có cuốn tiểu thuyết Mỹ nào đạt được sự hoàn thiện mẫu mực, ngay cả hiện nay. Thay vì vay mượn những thủ pháp văn chương đã được thử thách qua thời gian, người Mỹ có khuynh hướng lao vào tìm tòi những biện pháp sáng tạo mới. Ở Mỹ, một cái gì đã được xã hội thừa nhận và noi theo truyền thống là chưa đủ, vì sự già cỗi và chính thống bị bỏ lại phía sau, chỉ có sức mạnh mới, sự sáng tạo là trung tâm của sự chú ý.

TIỂU THUYẾT LÃNG MẠN

Loại hình tiểu thuyết lãng mạn thì u ám và bất trắc, nó cho thấy việc tạo ra một diện mạo riêng trong một xã hội chưa ổn định là khó khăn đến thế nào. Hầu hết các nhân vật trong tiểu thuyết lãng mạn đều chết vào đoạn cuối, tất cả thủy thủ đoàn đều bị nhận chìm dưới đáy đại dương trong truyện Moby-Dick trừ Ishmael; vị mục sư có tâm hồn nhạy cảm đầy lỗi lầm – Arthur Dimmesdale – cũng chết ở cuối cuốn The Scarlet Letter. Cái giọng điệu bi ai, tự phân hóa trong văn học Mỹ trở nên nổi bật trong thể loại tiểu thuyết, thậm chí trước khi cuộc Nội chiến vào những năm 60, biểu hiện một tấn bi kịch lớn lao hơn của một xã hội tuyên chiến với chính mình.

Nathaniel Hawthorne 
(1804 – 1864)

Nathaniel Hawthorne thuộc thế hệ thứ 5 của những người Anh di cư. Ông sinh ở Salem bang Massachusetts, một hải cảng thịnh vượng nằm ở phía bắc Boston chuyên buôn bán với Đông Ấn[1]. Một trong những tổ tiên của ông là chánh án chuyên xét xử những người phụ nữ bị cáo buộc là phù thủy ở Salem, một thế kỷ trước. Hawthorne đã dùng cái ý tưởng về lời nguyền đối với dòng họ một ông chánh án xấu xa trong cuốn tiểu thuyết The House of the Seven Gables (Ngôi nhà bảy đầu hồi) của mình.

Nhiều câu chuyện của Hawthorne có bối cảnh ở New England thời Thanh giáo, và cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của ông The Scarlet Letter (1850), đã trở thành bức chân dung kinh điển về nước Mỹ Thanh giáo. Cuốn truyện kể về mối tình đầy đam mê, bị cấm đoán giữa một chàng trai trẻ, xác tín, hết sức nhạy cảm – mục sư Arthur Dimmesdale, và một người đàn bà thị dân đẹp, hết sức quyến rũ, Hester Prymn. Lấy bối cảnh ở Boston khoảng 1650 vào thời kỳ đầu thuộc địa Thanh giáo, cuốn tiểu thuyết đã nhấn mạnh nỗi ám ảnh của những người theo phái Calvin về đạo đức, sự ức chế tính dục, tội lỗi, sự thú tội, và sự cứu rỗi linh hồn.

Vào thời đó, The Scarler Letter là cuốn sách liều mạng hết sức báng bổ. Ngòi bút dịu dàng của Hawthorne, bối cảnh lịch sử xa xưa và mơ hồ đã làm dịu đi chủ đề dữ dội của ông và làm hài lòng công chúng, còn những tác giả sành điệu như Ralph Waldo Emerson và Herman Melville thì thừa nhận các sức mạnh “quỷ ám” của nó. Cuốn sách đã đụng chạm đến những lĩnh vực cấm kỵ ở Mỹ thế kỷ 19 như sự tác động của các hoạt động tự do, dân chủ và đổi mới đối với hành xử của mỗi cá nhân, đặc biệt trong vấn đề tính dục và tự do tôn giáo.

Cuốn sách được viết rất hay với bố cục tuyệt vời. Phép ẩn dụ, một thủ pháp mà người dân thuộc địa buổi đầu Thanh giáo thường dùng, cũng được sử dụng trong tác phẩm này một cách hợp lý.

Những tiểu thuyết và truyện kể khác của Hawthorne cũng góp phần xây dựng nên danh tiếng của ông. Trong The House of the Seven Gables (1854), ông trở về với lịch sử New England một lần nữa. Sự sụp đổ của “ngôi nhà” ngụ ý về một dòng họ ở Salem cũng như cái cấu trúc thật sự của nó. Chủ đề của truyện là về một lời nguyền truyền kiếp và cách hóa giải nó bằng tình yêu. Như một nhà phê bình lưu ý, nhân vật chính mang tính cách lý tưởng Holgrave đã nói lên tiếng nói về sự thiếu tin cậy mang tính dân chủ của bản thân ông vào những gia đình quý tộc già cỗi: “Sự thật là, mỗi một nửa thế kỷ, ít nhất một dòng họ sẽ hòa nhập vào đám đông mờ mịt, vĩ đại của nhân loại, và quên hết quá khứ oanh liệt của tổ tiên”.

Hai cuốn tiểu thuyết cuối cùng của Hawthorne ít thành công hơn. Cả hai đều dùng bối cảnh hiện đại, và chính vì vậy mà đánh mất đi cái ma lực trong ngòi bút của ông. Cuốn The Blithedale Romance (Bài ca thung lũng hạnh phúc – 1852) rất hấp dẫn bởi bức tranh mô tả cộng đồng Brook Farm theo chủ nghĩa xã hội không tưởng. Trong cuốn sách này, Hawthorne phê phán những nhà cải cách xã hội vị kỷ, thèm khát quyền lực, tự bản chất sâu xa không dân chủ chút nào. Cuốn The Marble Faun (Tượng thần Điền dã bằng cẩm thạch – 1860), tuy lấy bối cảnh là Roma, lại xoáy sâu vào những chủ đề Thanh giáo về tội lỗi, sự cô lập, sự đền tội, và cứu rỗi.

Những đề tài trên, và những bối cảnh đặc trưng ở thuộc địa New England thời kỳ Thanh giáo, là dấu hiệu đặc trưng của nhiều tác phẩm ngắn hơn nổi tiếng của Hawthorne: The Minister’s Black Veil (Mạng che mặt màu đen của ông mục sư), Young Goodman Brown (Brown trẻ người tốt bụng), và My Kinsman, Major Molineux (Người bà con của tôi, thị trưởng Molineux). Truyện này kể về một thanh niên từ nhà quê ra tỉnh – một mô thức phổ biến ở Mỹ thời kỳ đô thị hóa thế kỷ 19 -tìm sự giúp đỡ của một người bà con có thế lực, để lập nghiệp, một người mà anh chưa hề gặp. Robin trải qua rất nhiều khó khăn để tìm ra viên Thị trưởng, và cuối cùng tham gia vào một cuộc nổi loạn ban đêm kỳ lạ, trong đó có một người có vẻ như là một tên tội phạm “thành tích” bất hảo bị đuổi ra khỏi thị trấn một cách vừa nực cười vừa dã man. Robin lớn tiếng cười to hơn tất cả mọi người cho đến khi anh phát hiện ra rằng “tên tội phạm” này không phải ai khác mà chính là người anh cố công tìm kiếm – một đại diện của thực dân Anh mới vừa mới bị quần chúng cách mạng Mỹ lật đổ. Câu chuyện khẳng định sự ràng buộc của tội lỗi và đau khổ mà toàn nhân loại phải chia sẻ. Nó cũng ca ngợi mẫu người tự lập thân: Robin phải học tập, giống như mọi người Mỹ dân chủ, để trở nên giàu có nhờ sự lao động hăng say, chứ không phải do những ân huệ đặc biệt từ những người bà con giàu có.

My Kinsman, Major Molineux rọi ánh sáng lên một trong những yếu tố nổi bật nhất trong tiểu thuyết của Hawthorne: sự thiếu vắng nhân tố gia đình đầy đủ chức năng trong tác phẩm của ông. Mặc dầu cuốn Leather-Stocking Tales (Truyện kể về anh chàng đi bít tất da) của Cooper có đưa những hình mẫu gia đình vào những địa điểm ít hoang dã nhất, những câu chuyện và tiểu thuyết của Hawthorne lặp đi lặp lại cái chủ đề về những gia đình tan vỡ, bị nguyền rủa hoặc bị đổ vỡ và những khổ đau của cá nhân bị cô lập.

Ý thức hệ cách mạng cũng có‘ lẽ đã có một vai trò trong việc làm rạng rỡ ý thức về sự tự do đầy hãnh diện tuy có phần xa lạ này. Cuộc cách mạng Mỹ, nhìn từ quan điểm tâm lý lịch sử, là tương hợp với một cuộc nổi loạn bốc đồng muốn thoát ly khỏi cái bóng khổng lồ của Mẫu quốc, và một gia đình đế quốc Anh rộng lớn hơn. Người Mỹ đã dành được độc lập và lại đương đầu với tình thế nan giải đầy hoang mang trong việc khám phá nhân dạng riêng của mình tách ra khỏi những ràng buộc xưa cũ. Cái cảnh tượng này đã diễn ra vô số lần ở vùng biên cương tới mức mà, trong tiểu thuyết, sự thoát ly có vẻ như là điều kiện sống cơ bản ở Mỹ. Thanh giáo và hậu duệ theo Tin Lành của họ có thể đã làm suy yếu thêm nền tảng gia đình bằng cách rao giảng rằng trách nhiệm đầu tiên của mỗi cá nhân là việc cứu rỗi linh hồn mình.

Herman Melville
(1819 – 1891)

Cũng như Nathaniel Hawthorne, Herman Melville là con của gia đình có truyền thống lâu đời, giàu có; đột ngột rơi vào cảnh cơ hàn do cái chết của người cha. Mặc dù được dạy dỗ, truyền thống vẻ vang của gia đình và bản thân rất siêng năng, chịu khó, Melville vẫn sống nghèo khổ và không học lên được đại học. Năm 19 tuổi, ông làm thủy thủ. Niềm yêu thích cuộc đời thủy thủ lớn dần một cách tự nhiên từ kinh nghiệm riêng của ông, và hầu hết những tiểu thuyết đầu tay của ông được thai nghén từ những chuyến đi biển. Từ những tác phẩm này chúng ta được biết đến tinh thần dân chủ và cởi mở của Melville và lòng căm phẫn của ông đối với sự chuyên chế và bất công. Typee, cuốn sách đầu tiên của ông, kể về những gì xảy ra với ông trong thời gian ông sống với bộ lạc Taipis bị coi là bộ lạc ăn thịt người nhưng thực ra rất hiếu khách ở vùng đảo Marquesas, Nam Thái Bình Dương. Cuốn sách ca ngợi những người dân đảo và đời sống hài hòa gần gũi với tự nhiên của họ, đồng thời phê phán các giáo sĩ Thiên Chúa giáo, những người mà Melville cho là thật sự kém văn minh hơn những người mà họ đến để khai hóa văn minh.

Moby-Dick, hay The Whale (Cá voi trắng), kiệt tác của Melville, là thiên sử thi về con tàu săn cá voi Pequod và truyền trưởng Ahab “một người giống thánh thần nhưng lại báng bổ thần linh” với nỗi ám ảnh phải tìm kiếm cho được con cá voi trắng đã dẫn con tàu và đoàn thủy thủ đến chỗ chết. Tác phẩm này, một tiểu thuyết phiêu lưu mang tính hiện thực, chứa đựng một loạt những suy gẫm về thân phận con người. Việc săn cá voi xuyên suốt câu chuyện, là một ẩn dụ lớn về khát vọng hiểu biết. Những miêu tả và liệt kê xác thực về các loài cá voi và công nghệ săn bắt cá voi rải rác đầy tác phẩm, nhưng chúng hàm nghĩa biểu trưng. Trong chương 15 The Right Whale’s Head (Đầu cá voi Thực), người dẫn chuyện cho rằng cá voi Right (còn gọi là cá voi Thực) là những người theo chủ nghĩa khắc kỷ còn cá voi Sperm (còn gọi là cá nhà táng) là trường phái Platon, ám chỉ đến hai trường phái triết học cổ điển.

Mặc dầu tiểu thuyết của Melville mang tư tưởng triết học, nó cũng đồng thời là một tấn bi kịch. Dù là một người anh hùng, Ahab đã gục ngã và có lẽ rốt cuộc bị hủy diệt. Thiên nhiên cho dù rất đẹp, nhưng vẫn xa lạ và ẩn chứa những nguy hiểm chết người. Trong Moby-Dick, Melville thách thức ý tưởng lạc quan của Emerson rằng con người có thể hiểu được tự nhiên.Moby-Dick, con cá voi trắng khổng lồ là một cái gì bí hiểm mang tầm vóc vũ trụ, đã ngự trị trong suốt cuốn tiểu thuyết, cũng như nó đã ám ảnh Ahab. Những dữ kiện về cá voi và săn cá voi không thể giải thích Moby-Dick, trái lại, những tình tiết đó, tự bản thân chúng có khuynh hướng trở thành biểu tượng, và mỗi dữ kiện đều có mối liên hệ mơ hồ với mọi dữ kiện khác trong vũ trụ. Tuy nhiên, sự tương quan này (như Melville gọi nó trong chương “Nhân sư”) không có nghĩa rằng con người có thể “đọc” được sự thật trong thiên nhiên, như nó đã có ý nghĩa như thế trong tác phẩm của Emerson. Đằng sau việc tích lũy dữ kiện của Melville là một cái nhìn huyền bí, nhưng cái nhìn này xấu xa hay tốt đẹp, nhân bản hay phi nhân, cũng không bao giờ được giải thích.

Tiểu thuyết này còn mang tính hiện đại trong cái khuynh hướng tự tham chiếu hay tự chiêm nghiệm của nó. Nói một cách khác, cuốn tiểu thuyết thường nói về chính nó. Melville thường bình luận về những quá trình của tư duy như viết lách, đọc sách và hiểu biết. Chẳng hạn, mỗi chương là một khảo cứu đích thực trong đó người kể chuyện đã cố gắng phân loại sự vật nhưng cuối cùng đành bỏ cuộc, nói rằng chẳng bao giờ có thứ gì to tát có thể được hoàn tất (“Thượng đế ngăn không cho tôi hoàn thành bất cứ điều gì. Cả cuốn sách cũng chỉ là một phác thảo – đúng hơn là một phác thảo của phác thảo. Ôi! Thời Gian, Sức Mạnh, Tiền Bạc và Lòng Kiên Nhẫn”). Quan điểm của Melville cho rằng một tác phẩm văn chương là một cái gì không hoàn hảo hoặc là một bản thảo bị bỏ dở là hoàn toàn hiện đại.

Ahab kiên quyết định hình một thế giới anh hùng, vượt thời gian của những điều tuyệt đối, trong đó ông ta đứng cao hơn mọi người. Thiếu khôn ngoan, ông đòi hỏi một điều hoàn tất, một câu trả lời. Nhưng cuốn tiểu thuyết cho thấy rằng không có cái hoàn tất trên đời, không có những câu trả lời cuối cùng, rằng nếu có thì chỉ là cái chết.

Các chi tiết liên hệ văn chương đầy ngụ ý ngân vang trong suốt cuốn tiểu thuyết. Ahab là tên một ông vua trong Cựu ước, khao khát có được một vốn hiểu biết tối cao, toàn bích như Faust. Giống Oedipus trong kịch của Sophocles, người trả giá quá đắt cho kiến thức lầm lạc, Ahab bị đánh mù mắt trước khi bị thương ở chân và cuối cùng bị giết chết. Moby-Dick được kết thúc bằng từ “mồ côi”. Ishmael, người kể chuyện, là một kẻ lang thang như trẻ mồ côi. Cái tên Ishmael được lấy từ cuốn chương Sáng thế ký trongCựu ước – anh ta là con trai của Abraham và Hagar (đầy tớ của Sarah, vợ Abraham). Ishmael và Hagar bị Abraham đuổi vào sống trong rừng sâu.

Cũng có những ví dụ khác. Rachel (một trong những bà vợ của tổ phụ Jacob) là tên của con tàu cứu Ishmael ở đoạn kết. Cuối cùng, con cá voi siêu hình nhắc độc giả Do Thái và Thiên Chúa giáo nhớ đến câu chuyện về Jonah trong Kinh thánh, người bị các bạn bè thủy thủ của mình ném khỏi tàu vì bị xem là người mang lại xui xẻo. Theo Kinh thánh, bị một “con cá lớn” nuốt, anh ta sống một thời gian trong bụng cá trước khi được Thượng đế can thiệp đưa trở về đất liền. Tìm cách thoát khỏi sự trừng phạt, anh ta chỉ rước vào mình thêm nhiều khổ đau.

Những tình tiết liên quan đến lịch sử cũng làm cho cuốn sách thêm phong phú. Con tàu Pequod được đặt theo tên của một bộ lạc Da đỏ bị xóa sổ ở New England, vì vậy cái tên ngụ ý rằng con tàu đó có số phận bị hủy diệt. Việc săn bắt cá trên thực tế là một ngành công nghiệp chủ yếu, nhất là ở New England: nó cung cấp dầu làm nguồn năng lượng chính, đặc biệt cho việc thắp sáng. Do vậy cá voi, theo nghĩa đen, đã “rọi sáng” vũ trụ. Nghề săn cá voi rõ ràng cũng có xu hướng bành trướng và nối kết với ý niệm về một định mệnh hiển nhiên, vì nó buộc dân Mỹ phải dong buồm đi khắp thế giới đánh bắt cá voi (sự thật là tiểu bang Hawaii hiện nay nằm dưới sự cai trị của Mỹ vì nó đã được dùng làm căn cứ tiếp nhiên liệu chính yếu cho những con tàu săn cá voi của Mỹ). Thủy thủ đoàn của con tàu Pequod tượng trưng cho tất cả các chủng tộc và tôn giáo khác nhau, gợi nên ý tưởng nước Mỹ có một đầu óc rộng mở như một miền đất lành cho mọi sắc dân. Cuối cùng, cuộc đời Ahab là một hóa thân đầy bi kịch cho chủ nghĩa cá nhân dân chủ kiểu Mỹ. Ahab khẳng định phẩm giá của mình như một cá nhân dám chống lại những sức mạnh bên ngoài không thể nào khuất phục được của vũ trụ.

Phần kết của tiểu thuyết cố làm dịu đi sự hủy diệt bi thảm của con tàu. Trong suốt tác phẩm, Melville nhấn mạnh tầm quan trọng của tình bạn bè và tinh thần cộng đồng con người đa văn hóa. Sau khi chiếc tàu bị đắm, Ishmael được cứu thoát nhờ một cỗ quan tài được chạm trổ bởi Queequeg, một người bạn thân của anh, một người thợ săn cá voi bằng lao rất anh dũng với đầy hình xăm trên người và cũng là hoàng tử xứ Polynesia. Những hình trang trí trên quan tài mang tính thần thoại nguyên sơ kết hợp với lịch sử của vũ trụ. Ishmael được thoát chết bởi vật tượng trưng cho cái chết. Từ cái chết, sự sống lại vươn lên ở đoạn kết.

Moby-Dick từ trước đến nay được coi là “sử thi thiên nhiên” -một vở kịch hoành tráng về đời sống tâm linh con người trong bối cảnh thiên nhiên sơ khai – bởi cái huyền thoại về những người đi săn của nó, cái chủ đề tiên khởi của nó, cái tính cách biểu tượng của hòn đảo Eden, cách xử lý tích cực của các dân tộc giai đoạn tiền kỹ thuật và niềm khát khao tái sinh của nó. Và cái bối cảnh con người cô độc giữa tự nhiên là rất đặc trưng cho tính cách Mỹ. Nhà văn và nhà chính trị người Pháp Alexis de Tocqueville đã tiên đoán, trong tác phẩm Democracy in America (Nền dân chủ Mỹ) năm 1835, rằng chủ đề này sẽ nổi lên ở Mỹ như kết quả của nền dân chủ của nó:

Thân phận con người, chính con người bị mang xa khỏi quê hương và thời đại của mình và tồn tại trước mặt Tự nhiên và Thượng đế, cùng với nỗi đam mê, sự nghi ngờ, những thiên hướng hiếm hoi và những khổ đau không sao hiểu nổi, sẽ trở thành chủ đề chính, nếu không phải là duy nhất của thi ca Mỹ.

Tocqueville lý luận rằng, trong một nền dân chủ, văn học sẽ đào sâu vào trong “những chiều sâu còn ẩn giấu của bản tính phi vật chất của con người” hơn là những biểu hiện thuần túy bên ngoài hoặc những phân biệt bề ngoài như là giai cấp và địa vị.

Chắc chắn rằng cả Moby-Dick và Typee cũng như Adventures of Huckleberry Finn (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) và Walden, phù hợp với những lời nhận định này. Đó là những tác phẩm ca ngợi thiên nhiên và là những cuộc lật đổ của đồng quê đối với nền văn minh đô thị nặng tính giai cấp.

Edgar Allan Poe
(1809 – 1849)

Edgar Allan Poe, một người miền Nam, đã chia sẻ với Melville cái nhìn siêu hình tăm tối trộn lẫn với những yếu tố của chủ nghĩa hiện thực, sự nhại hài hước và châm biếm. Ông đã gọt giũa thể loại truyện ngắn và sáng tạo ra tiểu thuyết trinh thám. Nhiều truyện ngắn của ông dự báo sự ra đời của tiểu thuyết khoa học giả tưởng, kinh dị và huyễn hoặc rất phổ biến ngày nay.

Cuộc đời ngắn ngủi và bi đát của Poe bị đọa đầy bởi nỗi bất an. Cũng như nhiều nhà văn hàng đầu của Mỹ thế kỷ 19, Poe mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Cuộc hôn nhân kỳ lạ của Poe vào năm 1835 với người em họ lớn nhất, cô Virginia Clemm, chưa đầy 14 tuổi, được giải thích như là một cố gắng tìm kiếm cuộc sống gia đình ổn định mà ông đang thiếu.

Poe tin rằng sự khác thường là thành tố thiết yếu của cái đẹp, và tác phẩm của ông thường quái lạ. Những câu chuyện và bài thơ của ông chen chúc những nhà quý tộc ưa tự vấn và bị đày đọa (Poe, cũng như những người miền Nam khác, ấp ủ một lý tưởng quý tộc). Những nhân vật buồn thảm này hình như không bao giờ làm việc hay tham gia cuộc sống xã hội; thay vì vậy họ tự giam mình trong những lâu đài mục nát, tăm tối, được bài trí một cách tượng trưng bằng những tấm thảm và màn cửa lạ lùng che giấu cái thế giới thật sự của mặt trời, cửa sổ, tường và sàn nhà. Những căn phòng bí mật phơi bày những thư viện cổ xưa, những tác phẩm nghệ thuật kỳ lạ và đồ cổ phương Đông được tuyển lựa. Những người quý tộc chơi nhạc hay đọc các sách cổ trong khi trăn trở dày vò về những tấn bi kịch, thường là cái chết của những người thân yêu. Chủ đề về cái chết-trong-khi-đang-sống, đặc biệt là bị chôn sống hoặc trở về từ nấm mồ như một con ma cà rồng, xuất hiện trong nhiều tác phẩm của ông, gồm The Premature Burial (Việc chôn cất vội vàng), “Ligeia”, The Cask of Amontillado (Thùng rượu của Amontillado), và The Fall of the House of Usher (Sự sụp đổ của gia đình Usher). Cái thế giới hỗn mang giữa sự sống và cái chết của Poe và những bối cảnh mang tính Gothic, màu mè, hào nhoáng của ông không chỉ thuần túy để làm phông trang trí. Chúng phản ánh đời sống nội tâm quá văn minh nhưng đượm màu chết chóc hoặc là tâm thần bấn loạn của những nhân vật của ông. Chúng là những biểu hiện tượng trưng của vô thức, và do vậy là trung tâm trong thi pháp của ông.

Thơ của Poe, cũng như thơ của nhiều tác giả miền Nam, đầy nhạc tính và tuân thủ âm vận nghiêm nhặt. Bài thơ nổi tiếng nhất của ông, trong lúc sinh thời và cả ngày nay, là The Raven (Con quạ -1845). Trong bài thơ kỳ bí này, người kể chuyện mất ngủ, bị maám, chỉ đọc sách và khóc than cái chết của “Lenore đã khuất” của mình vào đêm khuya được một con quạ viếng thăm (một con chim ăn thịt xác chết, từ đó là biểu tượng của cái chết). Con quạ đậu trên cánh cửa nhà ông và lặp đi lặp lại một điệp khúc nổi tiếng của bài thơ, “không bao giờ nữa” như một điềm gở. Bài thơ kết thúc bằng một cái cảnh lạnh lẽo của một cái chết-trong-khi-đang-sống:

Và con Quạ, không hề động đậy, chỉ lặng yên cứ ngồi, ngồi yên lặng
Trên bức tượng bán thân nhợt nhạt của Pallas ngay trên cửa phòng tôi
Và đôi mắt của nó có tất cả dáng vẻ của một con quỷ đang mơ màng,
Cái ánh sáng ngọn đèn trên đầu quạ
Đổ dài cái bóng nó trên sàn;
Và linh hồn tôi thoát ra từ chiếc bóng đó bay lượn trên sàn
Sẽ được nâng lên – không bao giờ nữa!

Những câu chuyện của Poe – như đã dẫn trên đây – đã được mô tả như là những câu chuyện kinh dị. Những câu chuyện như The Gold Bug (Con bọ vàng) và The Purloined Letter (Lá thư bị đánh cắp), là những câu chuyện của suy lý hay biện luận. Những câu chuyện kinh dị của ông dự báo trước những tác phẩm của các tác giả chuyên viết truyện kinh dị Mỹ như H.P. Lovecraft và Stephen King, còn những truyện suy lý là những con chim báo hiệu của loại tiểu thuyết trinh thám của Dashiell Hammett, Raymond Chandler, Ross Macdonald, và John D. MacDonald. Cũng có một dấu hiệu về cái mà sau này xuất hiện với tên gọi là truyện khoa học giả tưởng. Tất cả những câu chuyện này bộc lộ niềm say mê của Poe với trí tuệ và kiến thức khoa học đang ngày càng có xu hướng thế tục hóa thế giới quan của nhân loại vào thế kỷ 19.

Trong mỗi thể loại, Poe cố khám phá đời sống nội tâm. Sự thấu hiểu tâm lý sâu sắc ánh lên trên mỗi trang sách. “Có ai không thấy mình hàng trăm lần phạm lỗi hay hành động một cách xuẩn ngốc, không vì một lý do nào khác hơn là anh ta biết điều đó không nên làm”, đó là một đoạn trong The Black Cat (Con mèo đen). Để khám phá lãnh vực lạ lùng và hấp dẫn của những quá trình tâm lý, Poe lục lọi trong đống tư liệu về người điên và những cảm xúc tột cùng. Phong cách viết tỉ mỉ một cách gian khổ và sự giải thích cặn kẽ trong các câu chuyện làm tăng thêm cảm giác kinh hãi bằng cách tạo nên những biến cố có vẻ như thật và hợp lý.

Sự kết hợp giữa yếu tố suy đồi và chủ nghĩa nguyên thủy lãng mạn ở Poe có một sức hấp dẫn mãnh liệt giới văn nghệ châu Âu, đặc biệt là những nhà thơ Pháp như Stéphane Mallarmé, Charles Baudelaire, Paul Valéry và Arthur Rimbaud. Poe vẫn mang bản sắc Mỹ, mặc cho sự căm ghét mang màu quý tộc của ông với nền dân chủ, mặc cho lòng ưa thích những gì lai căng xa lạ và những chủ đề về sự phi nhân của ông. Trái lại, ông hầu như là một trường hợp tiêu biểu cho lời dự đoán của Tocqueville rằng nền dân chủ Mỹ sẽ sản sinh những tác phẩm bóc trần cái phần sâu thẳm nhất, ẩn khuất nhất của tâm thức. Một sự âu lo sâu thẳm và một trạng thái tâm thần bất an dường như xuất hiện ở Mỹ sớm hơn ở châu Âu, bởi vì ít nhất thì những người dân Cựu lục địa cũng đã có một cơ cấu xã hội ổn định và phát triển cao mang lại cho họ sự an toàn về mặt tâm lý. Ở Mỹ, đã không có được một sự bảo đảm tương ứng, mỗi người sống cho chính mình. Poe đã mô tả chính xác phía bên dưới của giấc mơ Mỹ về con người tự lập thân và phơi bày cái giá của chủ nghĩa thực dụng và cuộc cạnh tranh tàn bạo – sự cô đơn, tha hóa, và những hình ảnh của cái chết-trong-lúc-đang-sống.

Chủ đề “Sự suy đồi” của Poe cũng phản ánh sự xuống dốc của những biểu tượng xuất hiện vào thế kỷ 19 – cái khuynh hướng pha trộn những vật phẩm nghệ thuật hỗn tạp từ nhiều thời đại và xứ sở khác nhau trong quá trình tước bỏ đi tính cách của chúng và giảm chúng xuống chỉ còn là những vật trang trí thuần túy trong bộ sưu tập. Mớ hỗn độn các bút pháp phát sinh từ đó đặc biệt đáng chú ý ở Mỹ, nơi thường thiếu những phong cách truyền thống của riêng mình. Sự hỗn độn ấy phản ánh sự mất mát những hệ thống tư tưởng nhất quán khi việc di cư, đô thị hóa, và công nghiệp hóa đã nhổ tận gốc nền tảng gia đình và lối sống truyền thống. Trong nghệ thuật, sự rối loạn những biểu tượng này làm tăng thêm tính quái dị, một ý tưởng mà Poe đã lấy làm chủ đề của mình trong tuyển tập truyện hàng đầu của ông, Tales of the Grotesque and Arabesque (Truyện kinh dị) (1840).

CÁC NHÀ VĂN NỮ VÀ NHỮNG NHÀ CẢI CÁCH PHÁI NỮ

Trong thế kỷ 19, phụ nữ Mỹ phải chịu đựng nhiều sự bất bình đẳng: họ không có quyền bầu cử, không được bước chân vào những trường chuyên nghiệp và hầu hết bậc đại học, bị cấm nói trước đám đông và thậm chí tham dự những hội nghị công cộng, và không được có tài sản riêng. Mặc cho những chướng ngại trên vẫn nổi lên hoạt động của những người phụ nữ cấp tiến. Qua thư từ, quan hệ bè bạn riêng tư, những hội họp chính thức, báo chí phụ nữ, và sách vở, phụ nữ đẩy xa hơn những thay đổi xã hội. Phụ nữ trí thức đã vạch ra những cảnh ngộ tương đồng giữa họ và người nô lệ. Họ can đảm đòi hỏi những cải tổ căn bản, chẳng hạn như sự bãi bỏ chế độ nô lệ và quyền bầu cử của phụ nữ, bất chấp sự tẩy chay của xã hội và nguy cơ bị đổ vỡ tài chính. Những tác phẩm của họ là đội quân tiên phong trong hoạt động trí thức của một truyền thống văn học phụ nữ rộng lớn hơn bao gồm luôn tiểu thuyết tình cảm. Những cuốn tiểu thuyết tình cảm của phụ nữ, chẳng hạn Uncle Tom’s Cabin (Túp lều của chú Tôm) của Harriet Beecher Stowe, hết sức nổi tiếng. Chúng gợi cảm xúc sâu lắng và thường bi kịch hóa những vấn đề xã hội dễ gây tranh cãi, đặc biệt những vấn đề đụng chạm đến gia đình và vai trò, trách nhiệm của phụ nữ.

Lydia Child (1802 – 1880) một người chống chế độ nô lệ, đã ảnh hưởng rất lớn đến Margaret Fuller, là người lãnh đạo hoạt động phụ nữ của mạng lưới này. Cuốn tiểu thuyết rất thành công của bà, Hobomock (1824), bày tỏ nhu cầu khoan dung chủng tộc và tôn giáo. Bối cảnh của nó – vùng Thanh giáo Salem, bang Massachusetts – tiên liệu sự ra đời của Nathaniel Hawthorne. Là một nhà hoạt động xã hội, Child thành lập một ngôi trường nữ tư thục, sáng lập và biên tập tờ báo đầu tiên cho trẻ em ở Hoa Kỳ, và xuất bản tập sách tuyên truyền chống chế độ nô lệ đầu tiên, An Appeal in Favor of that Class of Americans Called Africans (Lời kêu gọi sự ủng hộ cho một lớp người được gọi là Mỹ – gốc Phi) vào năm 1833. Tác phẩm táo bạo này làm cho bà nổi tiếng và đồng thời cũng làm bà phá sản. Cuốn sách History of the Condition of Women in Various Ages and Nations (Lịch sử về hoàn cảnh của phụ nữ trong các thời đại và quốc gia khác nhau – 1855) tranh luận cho sự bình đẳng của phụ nữ bằng cách chỉ ra những thành quả của họ trong lịch sử.

Angelina Grimké (1805 – 1879) và Sarah Grimké (1792 1873) sinh ra trong một đại gia đình chủ nô giàu có ở vùng Charleston quý phái bang Nam Carolina. Hai chị em này đã chuyển lên phía Bắc để đấu tranh cho quyền lợi của người Da đen và phụ nữ. Là những người phát ngôn cho Hội chống chế độ nô lệ New York, họ là những người phụ nữ đầu tiên diễn thuyết công khai trước đám đông bao gồm cả đàn ông. Trong thư từ, tiểu luận và nghiên cứu, họ xem sự kỳ thị chủng tộc và phân biệt nam nữ là giống nhau.

Elizabeth Cady Stanton (1815 – 1902), nhà hoạt động vì quyền bình đẳng phụ nữ và sự bãi bỏ chế độ nô lệ, đã sống một thời gian ở Boston, nơi bà kết bạn với Lydia Child. Cùng với Lucretia Mott, bà tổ chức Hội Seneca Falls vì quyền bình đẳng phụ nữ; bà cũng phác thảo bản tuyên ngôn Declaration of Sentiments (Bản tuyên ngôn tình cảm) của hội. “Bản tuyên ngôn độc lập của phụ nữ” của bà mở đầu bằng câu “đàn ông và đàn bà sinh ra đều bình đẳng”, và bày tỏ một quyết tâm đấu tranh cho quyền bầu cử của phụ nữ. Cùng với Susan B. Anthony, Elizabeth Cady Stanton tổ chức chiến dịch đấu tranh cho quyền bỏ phiếu vào những năm 60 và 70, thành lập Liên đoàn phụ nữ quốc gia trung thành chống chế độ chiếm hữu nô lệ và Hiệp hội đầu phiếu phụ nữ, và cùng biên tập tờ tuần báo Revolution. Làm chủ tịch Hiệp hội đầu phiếu phụ nữ trong 21 năm, bà lãnh đạo cuộc đấu tranh cho nữ quyền. Bà diễn thuyết ở nhiều tiểu bang, một phần để hỗ trợ việc học hành của bảy người con bà.

Sau khi chồng chết, bà đào sâu phân tích sự bất bình đẳng về giới tính. Cuốn sách The Woman’s Bible (Kinh thánh của phụ nữ – 1895) của bà chỉ ra một định kiến áp bức phụ nữ bắt rễ sâu xa trong truyền thống Do Thái Thiên Chúa giáo. Bà diễn thuyết về những đề tài như ly dị, quyền lợi của phụ nữ, và tôn giáo cho đến khi bà mất ở tuổi 86, ngay sau khi vừa viết một lá thư cho Tổng thống Theodore Roosevelt ủng hộ quyền bỏ phiếu của phụ nữ. Rất nhiều cuốn sách của bà – thoạt đầu dùng bút danh, nhưng về sau xuất hiện dưới tên bà – gồm 3 tập viết chung của bộ History of Woman Suffrage (Lịch sử quyền bỏ phiếu của phụ nữ, 1881 – 1886) và một tiểu sử tự thuật khôi hài và chân thành.

Sojourner Truth (khoảng 1797 – 1883) tiêu biểu cho sức chịu đựng và sức mạnh lôi cuốn quần chúng của nhóm phụ nữ kiệt xuất này. Sinh ra với thân phận một nô lệ ở New York, lớn lên bà nói tiếng Hà Lan. Bà thoát khỏi kiếp nô lệ năm 1827, định cư cùng với con trai và con gái trong sự bảo trợ của gia đình Van Wagener người Mỹ – Hà Lan mà bà vốn là người giúp việc cho họ. Họ giúp bà thắng trong cuộc đấu tranh pháp lý giành tự do cho con trai, và sau này bà mang tên họ. Khởi đầu sự nghiệp, bà làm việc với một giáo sĩ để huấn cải những cô gái điếm theo đạo Thiên Chúa và sống trong một ngôi nhà chung. Bà được đặt tên “Sojourner Truth” vì tiếng nói tiên tri và nhãn lực huyền bí của bà. Để phổ biến chân lý về những điều bà học được trong khi khải thị, bà thường rày đây mai đó một mình, để diễn thuyết, hát Thánh vịnh và truyền bá tư tưởng bãi bỏ chế độ nô lệ qua nhiều tiểu bang trong hơn ba thập kỷ. Được Elizabeth Cady Stanton động viên, bà ủng hộ quyền bỏ phiếu của phụ nữ. Cuộc đời của bà được kể lại trong cuốn The Narrative of Sojourner Truth (Truyện kể về Sojourner Truth – 1850), một câu chuyện mang tính chất tiểu sử tự thuật được Olive Gilbert viết lại và xuất bản. Suốt đời mù chữ, bà nói tiếng Anh giọng Hà Lan. Người ta kể rằng Sojourner Truth đã phanh bộ ngực mình ra trong một hội nghị về quyền phụ nữ khi bà bị tố cáo là một người đàn ông. Câu bà trả lời một người đàn ông khi ông ta nói phụ nữ là phái yếu đã trở thành huyền thoại:

Tôi đã cày bừa và trồng tỉa, đã lê la ở những quán rượu, và không một người đàn ông nào có thể chỉ huy tôi. Mà tôi không phải là một người đàn bà sao? Tôi cũng có thể làm việc nhiều và ăn nhiều như một người đàn ông – khi tôi có thể kiếm được -và còn chịu cả đánh đập mắng chửi nữa! Mà tôi không phải là một người đàn bà sao? Tôi đã sinh 13 đứa con, và phải chứng kiến hầu hết bọn chúng bị bán làm nô lệ, và khi tôi gào lên nỗi thống khổ của mẹ tôi, chẳng ai nghe tôi ngoài Chúa Giêsu! Vậy tôi không phải là một người đàn bà sao?

Nhà hùng biện khôi hài và không được đánh giá cao lúc sinh thời này được so sánh với những ca sĩ nhạc Blue vĩ đại. Harriet Beecher Stowe và nhiều người khác đã nhận ra sự khôn ngoan trong người đàn bà Da đen được khải thị này, người có thể tuyên bố “Lạy Chúa, Chúa ơi, con có thể yêu ngay cả người Da trắng!”.

Harriet Beecher Stowe 
(1811 – 1896)

Cuốn tiểu thuyết Uncle Tom’s Cabin (Túp lều của chú Tom), hay, Life Among the Lowly (Cuộc sống của đám người hạ đẳng) của Harriet Beecher Stowe là cuốn sách nổi tiếng nhất vào thế kỷ 19. Thoạt đầu được đăng nhiều kỳ trên tờ tạp chí National Era (1851 – 1852), và ngay lập tức tạo được thành công. Chỉ riêng tại Anh, bốn mươi nhà xuất bản khác nhau đã in nó, và nó được nhanh chóng dịch ra 20 thứ tiếng, nhận được lời khen ngợi của những tác giả như Georges Sand ở Pháp, Heinrich Heine ở Đức và Ivan Turgenev ở Nga. Lời kêu gọi thiết tha chấm dứt chế độ nô lệ ở Mỹ của nó đã làm bùng cháy lên cuộc tranh luận kéo dài một thập kỷ, dẫn đến cuộc nội chiến Mỹ (1861 – 1865).

Những nguyên nhân dẫn đến thành công của Uncle Tom’s Cabin thật rõ ràng. Nó phản ánh ý tưởng cho rằng chế độ nô lệ ở Mỹ, một quốc gia chủ trương mang lại dân chủ và bình đẳng cho tất cả mọi người, là một sự bất công, phi lý khổng lồ.

Stowe là một đại biểu hoàn hảo của một dòng dõi Thanh giáo lâu đời ở New England. Cha, anh và chồng bà đều là những giáo sĩ và những nhà cải cách Tin Lành có học và danh tiếng. Stowe thai nghén ý tưởng về cuốn tiểu thuyết này – khi nhìn thấy cảnh một người nô lệ già, tiều tụy bị đánh đập – trong lúc bà đi dự lễ ở nhà thờ. Sau này, bà nói rằng chính Chúa đã khơi nguồn cảm hứng và giúp bà viết cuốn sách này. Động cơ của bà là dùng tình cảm tôn giáo cải tạo cuộc sống làm cho nó trở nên thánh thiện hơn. Thời kỳ lãng mạn đã mang đến một kỷ nguyên của các xúc cảm: nền tảng đạo đức gia đình và tình yêu thương giữ địa vị tối cao. Cuốn tiểu thuyết của Stowe đã đặc biệt đả phá chế độ nô lệ vì nó làm băng hoại những giá trị của gia đình.

Chú Tom, người nô lệ và nhân vật trung tâm, là một vị thánh tử vì đạo thật sự, người đã lao động để hoán cải người chủ nhân hậu của mình là ông St. Clare; cầu nguyện cho linh hồn St. Clare khi ông này chết, bản thân Tom cũng bị giết chết khi bảo vệ những người phụ nữ nô lệ. Chế độ nô lệ được vẽ lên với tất cả sự tàn ác không phải vì những lý do chính trị hay triết học mà chủ yếu bởi vì nó phân ly gia đình, hủy hoại tình yêu tự nhiên của cha mẹ và tự bản chất không hề mang cái tinh thần Thiên Chúa giáo. Những cảnh tượng cảm động nhất là về một người mẹ nô lệ khốn khổ chẳng có thể làm gì cho đứa con đang gào thét và người cha bị bán đi khỏi gia đình. Đó là những tội ác chống lại sự thiêng liêng của tình cảm gia đình.

Cuốn tiểu thuyết của Stowe ban đầu hoàn toàn không có ý định công kích miền Nam. Trên thực tế, Stowe đã đi thăm miền Nam, yêu thích người miền Nam và khắc họa hình tượng họ một cách tốt đẹp. Những người chủ nô lệ miền Nam là những người chủ tử tế và đối xử tốt với Tom. Bản thân St. Clare căm ghét chế độ nô lệ và có ý định giải phóng toàn bộ số nô lệ của mình. Ngược lại, ông chủ Simon Legree độc ác, là một người miền Bắc và là một tên vô lại. Thật trớ trêu, cuốn sách có ý định hòa giải Bắc – Nam, khi cả hai đang tiến gần đến cuộc Nội chiến sau đó một thập kỷ. Mặc dù vậy, cuối cùng, cuốn sách được những người ủng hộ bãi bỏ chế độ nô lệ và những người khác dùng làm vũ khí trong cuộc luận chiến chống lại miền Nam.

Harriet Jacobs 
(1818 – 1896)

Sinh ra làm nô lệ ở bang bắc Carolina, Harriet Jacobs được bà chủ dạy cho đọc và viết. Khi bà chủ qua đời, Jacobs bị bán cho một người chủ Da trắng cố tình ép bà quan hệ tình dục với hắn. Bà chống lại người chủ, tìm đến một người tình Da trắng khác và có với ông hai đứa con rồi để chúng sống với bà ngoại. “Tự hiến thân có vẻ như ít hạ phẩm giá hơn là khuất phục trước sự áp bức”, bà viết một cách thật lòng như thế. Bà trốn thoát khỏi ông chủ và dựng nên tin đồn rằng bà đã trốn lên miền Bắc.

Lo sợ bị bắt, bị trả về làm nô lệ và bị trừng phạt, bà sống suốt 7 năm lẩn trốn ngay tại thị trấn của người chủ, trong một căn phòng áp mái, bé xíu, tối tăm trong căn nhà của bà ngoại. Bà chịu đựng được mọi nỗi đau khổ là nhờ được nhìn thấy những đứa con thân yêu của mình qua những cái lỗ mà bà khoan qua trần nhà. Cuối cùng bà thoát được đến miền Bắc, sống ở Rochester – bang New York, nơi Frederick Douglass đang xuất bản tờ nhật báo chống nô lệ North Start và gần Senaca Falls, nơi vừa diễn ra một hội nghị về quyền phụ nữ. Ở đây, Jacobs làm bạn với Amy Post, một người ủng hộ việc bãi bỏ chế độ nô lệ và quyền phụ nữ theo phái Quaker. Amy đã khuyến khích bà viết tiểu sử tự thuật của mình. Incidents in the Life of a Slave Girl (Những sự việc xảy ra trong đời của một nữ nô lệ) xuất bản dưới bút hiệu “Linda Brent” vào năm 1861, được Lydia Child biên tập. Cuốn sách lên án thẳng thừng tệ nạn bóc lột tình dục ở nữ nô lệ Da đen. Cuốn sách của Jacobs, cũng như cuốn của Douglass, là một phần của thể loại tự sự của dân nô lệ tiếp nối truyền thống từ Olaudah Equiano thời thuộc địa.

Harriet Wilson
(1807 – 1870)

Harriet là người Mỹ – Phi châu đầu tiên xuất bản một cuốn tiểu thuyết ở Mỹ – Our Nig: Or, Sketches from the Life of a Free Black, in a two – storey white house North; showing that Slavery’s Shadows Fall Even There (Phác họa về cuộc đời của một người Da đen tự do, trong một ngôi nhà trắng hai tầng, miền Bắc; chứng minh rằng bóng của những người nô lệ đã ngả dài xuống đây – 1859). Cuốn tiểu thuyết được hư cấu dựa trên cơ sở hiện thực cuộc hôn nhân giữa một người đàn bà Da trắng và một người đàn ông Da đen, và cũng mô tả cuộc sống khó khăn của một người đầy tớ Da đen trong một gia đình Thiên Chúa giáo giàu có. Trước đây, người ta nghĩ rằng đây là một cuốn tiểu sử tự thuật, nhưng giờ đây được hiểu là một tác phẩm hư cấu.

Cũng như Jacbos, Wilson đã không xuất bản dưới tên thật của mình (Our Nig, là một sự mỉa mai) và tác phẩm của bà bị lãng quên mãi cho đến gần đây. Ta cũng có thể có những nhận xét tương tự với các tác phẩm của hầu hết những cây bút nữ vào thời kỳ đó. Học giả Mỹ Da đen nổi tiếng Henry Louis Gates, Jr. – trong vai trò chỉ đạo dự án nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà văn Da đen – đã tái bản Our Nig vào năm 1983.

Frederick Douglass
(1817 – 1895)

Người lãnh đạo người Mỹ Da đen chống chế độ nô lệ nổi tiếng nhất và đồng thời là nhà hùng biện của thời đó là Frederick Douglass. Ông sinh ra với thân phận nô lệ trong một trang trại ở Maryland. Do may mắn, ông được đưa đến Baltimore tương đối tự do hơn khi ông còn trẻ, ở đó ông học đọc và viết. Trốn thoát tới Massachusetts năm 1838, vào lúc 21 tuổi, Douglass được ông chủ bút ủng hộ việc bãi bỏ chế độ nô lệ Wilson Lloyd Garrison giúp đỡ và bắt đầu diễn thuyết cho những hội nhóm chống chế độ nô lệ.

Năm 1845, ông xuất bản cuốn Narrative of the Life of Frederick Douglass, An American Slave (Tự thuật về cuộc đời Frederick Douglass, một nô lệ Mỹ) của mình (ấn bản lần hai năm 1855, sửa chữa lại vào năm 1892), là cuốn hay nhất và nổi tiếng nhất trong nhiều “chuyện kể về nô lệ”. Thường được những người ủng hộ bãi bỏ nô lệ ghi chép lại từ những người Da đen mù chữ dùng để tuyên truyền. Những chuyện kể nô lệ này rất nổi tiếng vào những năm ngay trước cuộc Nội chiến. Tự truyện của Douglass rất sống động, có giá trị nghệ thuật cao và nó mang lại những hiểu biết vô song về tình trạng tâm lý của nô lệ và sự thống khổ mà định chế này đã gây ra cho những người Da đen.

Chuyện kể về nô lệ là thể loại văn xuôi đầu tiên của văn học Da đen ở Mỹ. Nó giúp người Da đen rất nhiều trong việc vượt khó khăn để thiết lập một tính cách Mỹ -Da đen trong lòng nước Mỹ Da trắng và tiếp tục gây ảnh hưởng quan trọng lên những chủ đề và kỹ thuật viết tiểu thuyết của văn học Da đen suốt thế kỷ 20. Công cuộc tìm kiếm một diện mạo riêng, sự giận dữ chống lại nạn kỳ thị chủng tộc, và cảm giác về việc sống một cuộc sống vô hình, trong bóng tối, bị săn đuổi và không được đa số người Mỹ Da trắng thừa nhận, lại tái hiện trong những tác phẩm của những tác giả Mỹ Da đen thế kỷ 20 như Richard Wright, James Baldwin, Ralph Ellison và Toni Morrison.


[1] Đông Ấn: East India, tức Ấn Độ ngày nay, phân biệt với West Indies (quần đảo Tây Ấn) ở Trung Mỹ, vốn ngày xưa bị ngộ nhận là Ấn Độ, khi Christophe Colombus muốn đi đường biển sang châu Á (Ấn Độ -Trung Quốc) mà không phải đi qua Tây Á lúc đó đang bị các lực lượng Hồi giáo trấn giữ.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_iv.html