All Posts By

BAR

Film studies Trần Anh Hùng

Mùi Đu Đủ Xanh – The Scent of Green Papaya (1994) – Trần Anh Hùng

https://www.youtube.com/watch?v=pNlp_0sSAwA

Phong cách Trần Anh Hùng trong ‘Mùi đu đủ xanh’

“Mùi đu đủ xanh” không chỉ mang những ý nghĩa cụ thể mà chính những điều nó khơi gợi để khán giả tự suy tưởng lại khiến dư vị của bộ phim thêm sâu sắc. Dư vị đó có lẽ cũng như “mùi đu đủ xanh” – thứ mùi bình dị mà đặc biệt, khó quên… (Dạ Vũ)

Trong số những đạo diễn Việt kiều, Trần Anh Hùng là người đáng chú ý và có phong cách ấn tượng nhất. Ngay từ khi khởi đầu sự nghiệp điện ảnh với bộ phim Mùi đu đủ xanh, anh đã khẳng định tài năng của mình bằng giải Camera D’or tại Liên hoan phim Cannes năm 1993. Mùi đu đủ xanh cũng là bộ phim thể hiện rõ phong cách đặc trưng của đạo diễn Trần Anh Hùng.

S

Man San Lu và Trần Nữ Yên Khê – hai nữ diễn viên thể hiện vai Mùi lúc nhỏ và khi lớn lên. Ảnh: Président Films.

Phong cách luôn là điều mà bất cứ đạo diễn chân chính nào cũng cần và muốn tạo được trong những tác phẩm của mình. Nhưng để tạo nên một phong cách riêng lại là điều không hề đơn giản, bởi phong cách không chỉ thể hiện qua vài ba yếu tố, “mảng miếng” đạo diễn phô bày trình diễn mà phải biểu lộ ở mọi thành phần trong sự kết hợp nhuần nhuyễn, hài hòa và thống nhất. Chính vì thế, có thể khẳng định rằng chỉ những đạo diễn có tài mới có khả năng tạo nên được phong cách. Với Mùi đu đủ xanh, Trần Anh Hùng đã khẳng định mình là một đạo diễn tài năng, đầy triển vọng.

Xem Mùi đu đủ xanh, có thể nhận thấy phong cách Trần Anh Hùng xuyên suốt bộ phim, biểu hiện rõ nét qua tiết tấu đều chậm rãi (monotone). Tiết tấu này được tạo nên bởi hầu hết yếu tố trong chỉnh thể tác phẩm.

Yếu tố đầu tiên dễ nhận thấy là sự di chuyển chậm rãi của các nhân vật trong phim. Hầu hết nhân vật thường đi lại, cử động… một cách từ tốn, nhẹ nhàng. Hầu như không hoặc ít có những hành động mạnh, gấp gáp, di chuyển nhanh. Lời thoại của nhân vật cũng rất ít, được nói chậm. Giữa những đoạn đối thoại của các nhân vật thường có một khoảng im lặng hoặc chỉ có một nhân vật nói còn nhân vật kia không đáp lời. Chính những điều đó đã tác động trực tiếp đến cảm nhận của khán giả về tiết tấu chậm rãi của phim.

Một yếu tố nữa cũng có vai trò rất quan trọng làm nên tiết tấu monotone – đó là quay phim. Kết hợp với chuyển động từ từ của nhân vật, máy quay cũng thường di chuyển chậm theo chiều tiến của nhân vật – thường theo chiều ngang. Cách quay ấy rất phù hợp với diễn xuất từ tốn, nhẹ nhàng của diễn viên cũng như với không khí chung của bộ phim. Đạo diễn Trần Anh Hùng đã thể hiện những quan sát tinh tế của mình qua những khuôn hình cận và đặc tả được sử dụng rất nhiều trong phim. Đó như những cái nhìn ghi nhận tỉ mỉ về thiên nhiên, vì thế máy quay thường đứng yên tạo nên những cảnh tĩnh khá lâu. Những cảnh khá dài ấy (khoảng từ vài chục giây trở lên) lại thường được đặt nối tiếp với nhau, làm cho hiệu quả tiết tấu chậm càng rõ hơn.

S

“Mùi đu đủ xanh” có tiết tấu chậm và đi sâu vào tâm lý, cảm xúc của người xem. Ảnh: Président Films.

Nếu như diễn xuất và quay phim là những yếu tố có thể nhận thấy ngay qua hình ảnh thì kịch bản – cụ thể là cách triển khai các sự kiện lại phải tìm hiểu kỹ hơn mới thấy được. Trong bộ phim này, đạo diễn đã có ý đồ rất rõ ràng trong việc xử lý các tình huống, sự kiện để giữ được tiết tấu chậm nhất quán. Có thể thấy bộ phim được chia làm hai mảng khá khác biệt: một mảng là lúc cô bé Mùi còn nhỏ và mảng thứ hai là 10 năm sau, khi Mùi đã trở thành một thiếu nữ. Hai mảng này khác nhau cả về nội dung lẫn cách triển khai, kết cấu các sự kiện.

Ở mảng một, các sự kiện nối tiếp nhau không theo nguyên tắc nhân – quả, không gắn với nhau trong một đường dây liên tục chặt chẽ mà được sắp xếp một cách tự do, ngẫu hứng. Còn mảng hai lại triển khai sự kiện theo nguyên tắc kinh điển – “mối tình tay ba” nên các sự kiện được liên kết chặt hơn. Tuy có sự khác biệt như vậy nhưng cả hai mảng vẫn thống nhất trong phong cách xử lý của đạo diễn là việc ghìm các xung đột, mâu thuẫn, không thể hiện hết và đẩy chúng đến cao trào.

Ở cả hai mảng của bộ phim đều có những sự kiện gây kịch tính như tình huống bà chủ nhà bị ông chống lấy hết tiền bạc rồi bỏ đi hay cả sự việc ông chủ trở về bất ngờ trong mảng một, hay mâu thuẫn mối tình tay ba ở mảng hai đều không được đẩy lên để tạo sự căng thẳng mà lại bị ghìm xuống, xử lý một cách “nhẹ nhàng”. Thêm vào đó, tác giả không trình bày sự phát triển mà chỉ bộc lộ tính cách nhân vật. Điều đó làm người xem có cảm giác nhân vật trong phim hơi đơn giản, ít có sự thay đổi và không sắc nét. Những điều đó chắc hẳn hoàn toàn nằm trong ý đồ nghệ thuật của đạo diễn nhằm duy trì tiết tấu monotone từ đầu đến cuối phim.

S

Đạo diễn Trần Anh Hùng và vợ – nữ diễn viên Trần Nữ Yên Khê. Ảnh: S.T.

Tuy vậy, phong cách sẽ chỉ còn là sự phô diễn tay nghề của một đạo diễn nếu nó tách rời những giá trị, ý nghĩa, nghĩ suy mà người nghệ sĩ muốn gửi gắm đến khán giả. Trong phim Mùi đu đủ xanh, Trần Anh Hùng thông qua những cách thể hiện riêng đã bày tỏ những cảm nhận của bản thân cũng như gợi cho người xem nhiều suy tưởng về cuộc sống, con người Việt Nam. Qua những nhân vật trong phim, ta nhận ra những nét đặc trưng rất Việt: đó là thân phận nhẫn nại, cam chịu, hy sinh của người phụ nữ. Chính tiết tấu chậm thể hiện ở chuyển động của cả nhân vật và máy quay, lời thoại… đã góp phần xây dựng nên tính cách thầm lặng, nhẫn nhịn của những nhân vật như Mùi, bà chủ nhà, bà mẹ chồng… Ngoài ra, việc ghìm xung đột kịch tính ở các tình huống mâu thuẫn càng làm nổi bật hơn sự cam chịu, chấp nhận số phận của các nhân vật ấy. Tính cách nhân vật không thể hiện sự phát triển, thay đổi nên tạo ấn tượng về sự nhịn nhục trước số phận an bài.

Bên cạnh cảm nhận về thân phận con người, đạo diễn còn dẫn dắt người xem đến với những cảm nhận tinh tế về thiên nhiên. Qua những khuôn hình cận – đặc tả, nhà làm phim đã chỉ cho ta những vẻ đẹp thú vị ở những con vật, sự vật rất bình thường, bé nhỏ. Qua đó, người xem khám phá ra vẻ đẹp trong sáng, thuần khiết của tâm hồn con người Việt Nam: biết yêu và trân trọng những điều kỳ diệu của thiên nhiên. Khán giả yêu mến tâm hồn ấy qua hình ảnh cô bé Mùi ngây thơ, dường như cô bé luôn ngạc nhiên trước mọi thứ diễn ra quanh mình. Hình ảnh Mùi tròn xoe mắt nhìn những giọt nhựa đu đủ trắng như sữa nhỏ xuống tán lá xanh, hay cô bé thích thú ngắm nhìn những cái hạt xinh xắn trong trái xanh là những khuôn hình giàu sức biểu cảm và gợi lên sự trong sáng, thuần khiết.

Mùi đu đủ xanh không chỉ mang những ý nghĩa cụ thể mà chính những điều nó khơi gợi để khán giả tự suy tưởng lại khiến dư vị của bộ phim thêm sâu sắc. Dư vị đó có lẽ cũng như “mùi đu đủ xanh” – thứ mùi bình dị mà đặc biệt, khó quên.

Mùi đu đủ xanh đã trở thành cột mốc đáng nhớ trong sự nghiệp điện ảnh của Trần Anh Hùng. Bộ phim đã đánh dấu phong cách mà đạo diễn Việt Kiều tài năng này bước đầu hình thành và tiếp tục phát triển ở những tác phẩm sau này như Xích lô, Mùa hè chiều thẳng đứng, I Come With The Rain và sắp tới là Rừng Nauy.

* Thông tin phim:

Mùi đu đủ xanh (The Scent of Green Papaya)

– Năm sản xuất: 1993
– Đạo diễn và Biên kịch: Trần Anh Hùng
– Âm nhạc: Tôn Thất Tiết
– Hãng phát hành: Président Films (Pháp)
– Thể loại: Tâm lý/ Tình cảm
– Thời lượng: 104 phút
– Diễn viên: Trần Nữ Yên Khê, Man San Lu, Trương Thị Lộc…
– Doanh thu: 1,7 triệu USD
– Mùi đu đủ xanh là tác phẩm điện ảnh đầu tay của đạo diễn người Pháp gốc Việt Trần Anh Hùng. Phim từng giành giải Camera vàng tại LHP Cannes năm 1993 và giải César của Pháp dành cho Phim đầu tay xuất sắcMùi đu đủ xanh còn lọt vào đề cử Phim nước ngoài hay nhất tại lễ trao giải Oscar 1994.

Dạ Vũ

Nguồn:

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/cong-dong/binh-luan/phong-cach-tran-anh-hung-trong-mui-du-du-xanh-1908756.html

Film studies Wong Kar Wai

The Hand (Eros) by Wong Kar Wai

Củng Lợi và bàn tay thần ái tình

Bàn tay điệu nghệ của nàng kỹ nữ đã mở lối cho chàng thợ may học việc lần đầu bước vào vườn yêu. Chàng đã trúng mũi tên Eros ẩn trong bàn tay bỡn cợt ấy. Nhiều năm sau đó, bằng chính đôi bàn tay tài hoa, chàng trai âu yếm cảm nhận vóc dáng may cho nàng tấm áo đẹp cuối đời, với nguyên vẹn tình yêu ban đầu.

Đạo diễn Hong Kong Vương Gia Vệ đã thể hiện quan niệm về tình yêu và tình dục của ông trong Bàn tay, phần đầu trong ba phần của bộ phim Eros. Ba đạo diễn, ba phim ngắn về tình yêu và tình dục, đó là ý tưởng của Eros do nhà sản xuất phim Stéphane Tchal Gadjieff đưa ra. Ông nghĩ đến một tác phẩm điện ảnh của đạo diễn lão thành người Italy Michelangelo Antonioni cùng với hai “đạo diễn trẻ” chịu ảnh hưởng từ các tác phẩm của Antonioni. Dĩ nhiên là khi dự án này được đưa ra hồi năm 1995, cả Steven Soderbergh lẫn Vương Gia Vệ đều chưa nổi tiếng như hiện nay.

Tình yêu luôn là đề tài được khai thác trong điện ảnh. Qua tình yêu của chàng thợ may, đạo diễn Vương Gia Vệ đưa ra quan niệm của ông về tình yêu: Tình yêu lãng mạn vẫn có thể bắt đầu từ sự khoái cảm, và khi đã yêu, người ta yêu luôn mọi thứ thuộc về người đó, để rồi sẵn sàng tha thứ mọi thói hư tật xấu, sẵn sàng mở rộng vòng tay đón nhận khi người đó trở lại.

Chuyện xảy ra vào một buổi chiều mùa hè nóng nực năm 1963. Dương (Trương Chấn đóng), chàng thợ may học việc, lo lắng, bồn chồn trong lần đầu tiên đi thử áo cho khách hàng ruột của tiệm. Vị khách hàng đó là Miss Hua (Củng Lợi đóng), một gái bao hạng sang xinh đẹp nổi tiếng kiêu kỳ. Ngồi chờ trong căn phòng lộng lẫy xa hoa của nàng kỹ nữ, chàng thợ may trẻ tuổi trở nên lúng túng, ngượng nghịu khi nghe lỏm những âm thanh vọng ra từ phòng ngủ của nàng.

Khi những âm thanh đó lắng đi và người đàn ông ra về, Dương được gọi vào phòng của Hua. Dù đã cố kìm nén, chàng trai trẻ vẫn còn trong trạng thái bị kích thích bởi những âm thanh đã trót nghe lỏm. Xấu hổ vì những suy nghĩ đó, chàng đứng ở cuối giường của nàng, hai tay nắm chặt. Trễ nải trong tấm áo ngủ bằng ren, nàng vẫn đẹp lộng lẫy và gây ấn tượng thật sâu sắc. Thế rồi nàng hách dịch lên tiếng: “Đứng như trời trồng thế… bỏ tay xuống nào”, Dương làm theo lời nàng một cách vô thức.

“Cởi quần ra”, tiếng nàng lại thánh thót vang lên. “Hay là tôi sẽ mách sư phụ anh?”. Dương nín thở, gần như lịm đi, chẳng còn biết gì cả. “Trước giờ chưa bao giờ chạm đến người phụ nữ nào à? Thế thì làm sao anh có thể trở thành thợ may, một công việc mà anh sẽ phải sờ mó rất nhiều đàn bà”. Nàng đặt tay vào giữa hai chân Dương và nghịch ngợm phần đùi của anh. “Bây giờ nghe đây: sư phụ của anh già rồi. Ông ta nói anh là người có tài. Một ngày nào đó anh sẽ trở thành thợ may của tôi. Hãy nhớ cái cảm xúc này và anh sẽ may cho tôi những tấm áo thật đẹp”. Nàng lại xê dịch bàn tay. Dương bị giằng xé giữa tâm trạng bị kích thích, hưng phấn với sự ngượng ngùng, xấu hổ. Và rồi, cũng bất ngờ như khi bắt đầu, mọi chuyện đột ngột kết thúc.

Chàng thợ may đem lòng yêu nàng kỹ nữ từ đó… Rồi Dương trở nên một thợ may danh tiếng, còn sự nghiệp của nàng lại tuột dốc. Cuối cùng nàng sa vào cảnh túng thiếu. Thêm nhiều năm nữa trôi qua. Một lần, nàng gọi Dương đến để may giúp nàng một tấm áo mới, nàng chuẩn bị gặp lại người tình cũ sắp trở về từ Mỹ. Đó sẽ là cơ hội cuối cùng của nàng. Dương nói không cần phải lấy số đo, bởi anh biết rất rõ về cơ thể nàng, anh có thể đo bằng đôi tay của anh. Và khi những ngón tay của anh di chuyển trên cơ thể mảnh mai của nàng, nàng đã nắm lấy tay anh òa khóc. Thật chẳng may khi anh trở lại khách sạn với tấm áo, anh phát hiện ra nàng đã gia nhập đội ngũ gái đứng đường và đang mắc bệnh nặng.

Ba phần trong Eros nói về tình yêu, tình dục hay cả hai vấn đề? Mỗi đạo diễn trả lời bằng một cách riêng. Vương Gia Vệ chọn xoáy vào cả hai đề tài trên trong Bàn tay, Steven Soderbergh bàn về tình dục trongEquilibrium, còn phần The Dangerous Thread of Things của Michelangelo Antonioni thì chẳng dính dáng gì đến cả ba phương án trên.

Theo cây viết phê bình điện ảnh Roger Ebert, phim Bàn tay không có sự trần trụi, không có cảnh quan hệ rõ ràng, không có những cảnh quay khai thác vẻ đẹp hình thể của Củng Lợi. Phim tập trung vào tình huống và tính cách của nhân vật. Cô gái làng chơi gặp chàng thợ may trẻ, nắm bắt tâm lý của chàng thanh niên mới lớn, và rồi khiến chàng bị ám ảnh bằng một hành động gần như tình cờ của mình… “Những nhân vật của Bàn tay đọng lại trong ký ức và trí tưởng tượng của tôi. Tôi cảm thông với cả hai: nàng kỹ nữ buồn rầu chấp nhận sự thật: sắc đẹp phai tàn, những khách hàng biến mất, sức khỏe cũng không còn; còn chàng thợ may, người luôn luôn sẵn sàng làm nô lệ cho nàng. “Tôi trở thành thợ may bởi vì cô”, đó là lời ca tụng tuyệt vời nhất. Nàng hiểu điều đó và xúc động bởi lời ca ngợi đó, trong khi chưa bao giờ rung động trước vô số lời tâng bốc của hàng trăm khách hàng trước”, Roger viết.

Bàn tay không dài hơn 43 phút trong toàn bộ 104 phút của Eros, nhưng thật sự trở thành điểm nhấn trong ba phim, nói lên ý nghĩa thật sự của tình yêu và sự dâng hiến, xứng đáng được ca ngợi. Dẫu có nhiều luồng dư luận trái ngược về nội dung phim, nhưng Củng Lợi vẫn giữ im lặng. Cô chỉ nói đơn giản: “Tôi nhận lời đóng Bàn tay không chỉ vì tài năng của đạo diễn Vương Gia Vệ, mà còn vì tôi muốn tham gia Eros, một dự án chung với huyền thoại người Italy Michelangelo Antonioni…”.

Củng Lợi cũng không đề cập đến những khó khăn của đoàn làm phim khi phải thực hiện phim trong thời gian Hong Kong bị tê liệt bởi dịch SARS, khiến Bàn tay hoàn thành chậm hơn dự kiến. Với Eros, cả Củng Lợi, Trương Chấn và đạo diễn Vương Gia Vệ đã chứng tỏ một êkip rất nghiêm túc với công việc, dẫu có thể có những phá cách, những bước đi tiên phong không phải lúc nào cũng được đón nhận, đặc biệt là vấn đề tình yêu, tình dục, những vấn đề luôn được đánh giá bằng những cảm nhận riêng, đôi khi rất chủ quan.

Theo Tố Loan
Thanh Niên

http://dantri.com.vn/giai-tri/cung-loi-va-ban-tay-than-ai-tinh-1118035354.htm

Film studies Wong Kar Wai

2046 (2000) by Wong Kar Wai

https://www.youtube.com/watch?v=CYyC00altz4

2046 (2004) Full Movie With English Subtitles. For English Subtitles please click on caption button. Stars: Tony Chiu Wai Leung, Ziyi Zhang, Faye Wong. Director: Kar Wai Wong.

Plot : He was a writer. He thought he wrote about the future but it really was the past. In his novel, a mysterious train left for 2046 every once in a while. Everyone who went there had the same intention…..to recapture their lost memories. It was said that in 2046, nothing ever changed. Nobody knew for sure if it was true, because nobody who went there had ever come back- except for one. He was there. He chose to leave. He wanted to change.

Film studies Văn học Trung Quốc Zhang YiMou

HOÀNG KIM GIÁP – Curse Of The Golden Flower – 《黄金甲》

Curse of the Golden Flower is a 2006 Chinese epic drama film written and directed by Zhang Yimou. The Mandarin Chinese title of the movie is taken from the last line of a Qi Dynasty poem written by the rebel leader Emperor Huang Chao who was also the Emperor of the Qi Dynasty that was at war against the Tang Dynasty.

With a budget of US$45 million, it was at the time of its release the most expensive Chinese film to date, surpassing Chen Kaige’s The Promise. It was chosen as China’s entry for the Academy Award for Best Foreign Language Film for the year 2006; but did not receive the nomination. The film was however nominated for Costume Design. In 2007 it received fourteen nominations at the 26th Hong Kong Film Awards and won Best Actress for Gong Li, Best Art DirectionBest Costume and Make Up Design and Best Original Film Song for “菊花台” (Chrysanthemum Terrace) by Jay Chou.

The plot is based on Cao Yu’s 1934 play Thunderstorm (雷雨 pinyin: Léiyǔ), but is set in the Imperial court in ancient China.

(Wikipedia)

Film studies Wong Kar Wai

In The Mood For Love by Wong Kar Wai

https://www.youtube.com/watch?v=p0Q1bHqQT0E

In the Mood for Love

From Wikipedia, the free encyclopedia
In the Mood for Love
In the Mood for Love movie.jpg
Traditional 花樣年華
Directed by Wong Kar-wai
Produced by Wong Kar-wai
Written by Wong Kar-wai
Starring Maggie Cheung
Tony Leung
Music by Michael Galasso
Shigeru Umebayashi
Cinematography Christopher Doyle
Mark Lee Ping Bin
Edited by William Chang
Distributed by USA Films (US)
Release dates
  • 29 September 2000
Running time
98 minutes
Country Hong Kong
Language Cantonese
Shanghainese
French
Box office $12,854,953

In the Mood for Love is a 2000 Hong Kong film directed by Wong Kar-wai, starring Maggie Cheung and Tony Leung. It premiered on 20 May 2000, at the 2000 Cannes Film Festival, where it was nominated for the Palme d’Or.

The film’s original Chinese title, meaning “the age of blossoms” or “the flowery years” – Chinese metaphor for the fleeting time of youth, beauty and love – derives from a song of the same name by Zhou Xuan from a 1946 film. The English title derives from the song, “I’m in the Mood for Love”. Wong had planned to name the film Secrets, until listening to the song late in post-production. The movie forms the second part of an informal trilogy: The first part was Days of Being Wild (released in 1991) and the last part was 2046 (released in 2004).

Chen Kaige Film studies

YELLOW EARTH – 《黄土地》 – Chen Kaige

https://www.youtube.com/watch?v=sEqfyZGYVrM
  1. In the spring of 1939, an idealistic communist soldier (Wang Xueqi) takes to the Chinese countryside on a mission to collect spirited folk songs from the people. However, he soon discovers that these peasants don’t sing songs of joy but ballads that tell of their hardscrabble existence. Though he returns to the army, his speech on freedom makes a powerful impact on Cuiqiao (Xue Bai), a young girl who dreams of crafting a new future by following his example and enlisting in the communist army.
  2. Initial release: 1984 (China)
  3. Director: Chen Kaige
  4. Running time: 1h 31m
  5. Cinematography: Zhang Yimou
  6. Cast: Wang Xueqi, Xue Bai, Tan Tuo, Qiang Li
  7. Screenplay: Chen Kaige, Ziliang Zhang
Film studies Zhang YiMou

Trương Nghệ Mưu và bốn thập kỷ làm phim

Từ những tác phẩm đầu tiên, vị đạo diễn họ Trương đã luôn đề cao nghị lực, sức sống tiềm tàng của con người khi đối diện với nghịch cảnh.

Trương Nghệ Mưu là một trong những đạo diễn thành công nhất của điện ảnh Hoa ngữ. Sự nghiệp của ông trải dài suốt bốn thập kỷ với 21 bộ phim đủ thể loại từ chính kịch (Cao lương đỏ, Cúc đậu, Đèn lồng đỏ treo cao) đến tân hiện thực (Không thiếu một em), phim lấy đề tài xã hội đen (Hội Tam Hoàng Thượng Hải), phim hài (Thời gian hạnh phúc, Vụ án ba phát súng) và phim sử thi võ thuật (Anh hùng, Thập diện mai phục, Hoàng kim giáp).

Trương Nghệ Mưu đã nhiều lần “đem chuông đi đánh xứ người” và giành được hàng loạt giải thưởng điện ảnh danh giá: hai đề cử Oscar cho “Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất”, giải Sư Tử Vàng và Sư Tử Bạc tại LHP Venice, Giải Grand Prix tại LHP Cannes, giải Gấu Vàng tại LHP Berlin… Những bộ phim của ông cũng là bệ phóng giúp Củng Lợi và Chương Tử Di trở thành những ngôi sao điện ảnh đẳng cấp thế giới.

Đạo diễn Trương Nghệ Mưu.

Đạo diễn Trương Nghệ Mưu.

Chủ đề chính trong những bộ phim của đạo diễn họ Trương là sức sống của người dân Trung Hoa. Từ bộ phim đầu tay Cao lương đỏ(1987) đến bộ phim gần đây nhất là Quy lai (2014), Trương Nghệ Mưu đều thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến số phận con người khi phải đối diện với nghịch cảnh. Họ bị đày đọa, lăng nhục, thử thách, chịu đựng mất mát, song vẫn không bao giờ gục ngã hay đầu hàng. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, những nhân vật của Trương Nghệ Mưu cũng luôn tìm cách phản kháng, vươn lên, đòi hỏi quyền sống, quyền được làm người.

Những bộ phim đầu tiên của ông tập trung vào đả phá chế độ phong kiến tàn nhẫn hà khắc. Nhân vật chính trong những bộ phim ấy thường là những người phụ nữ bị mua về làm vợ bởi những gã nhà giàu keo kiệt, độc ác. Họ không được trân trọng, đối xử như một con người mà bị hành hạ, đánh đập, bị biến thành một thứ nô lệ tình dục, một kiểu máy đẻ. Bị đè nén trăm bề, nhưng những người phụ nữ trong phim của Trương Nghệ Mưu vẫn luôn vùng lên, phản kháng mãnh liệt. Đặc biệt, họ đều là những người có khao khát ái ân rất mạnh. Những phim thời kỳ đầu của đạo diễn họ Trương đều gắn liền với Củng Lợi – nàng thơ và người tình lâu năm của ông.

Cao lương đỏ (1987) xoay quanh nhân vật chính là Cửu Nhi, cô gái đương tuổi thanh xuân thì bị ép gả cho một gã chủ xưởng rượu mắc bệnh phong. Ngày lên xe hoa, cô gái xinh đẹp tràn đầy khát vọng yêu đương đã phải lòng người phu kiệu khỏe mạnh, vạm vỡ. Trong lần cô gái về thăm nhà, người phu kiệu đã cướp cô chạy vào rừng cao lương đỏ. Cả hai đã có ba ngày ân ái mặn nồng trên “chiếc giường cưới” làm bằng thân cây cao lương, giữa bối cảnh thiên nhiên rộng lớn.

Cũng chịu chung số phận bị gả bán, nhưng nhân vật Cúc Đậu trong bộ phim cùng tên lại có phần bi thảm, khốn khổ hơn. Mang tiếng là vợ của một chủ xưởng nhuộm, nhưng ban ngày Cúc Đậu phải làm việc cực nhọc như một con ở. Đêm đến, cô lại bị gã chồng vũ phu đánh đập, hành hạ vì không thể sinh cho hắn ta một cậu con trai nối dõi tông đường. Đau khổ, tuyệt vọng, Cúc Đậu dan díu với người cháu ruột của chồng tên là Dương Thiên Thanh. Cô biết Thanh vẫn thường ngắm trộm cô tắm qua lỗ thủng của chuồng ngựa nhưng vẫn để yên, thậm chí còn nhiều lần “gợi ý”, “bật đèn xanh” cho chàng ta vượt rào. Hai người ái ân vụng trộm bên bể nhuộm vải, ở ngoài đồng hoang, lò gạch, giếng nước cạn – bất cứ nơi nào tránh được con mắt dòm ngó, soi mói của thiên hạ.

Tương tự, Đèn lồng đỏ treo cao (1991) cũng kể về một cô gái phải lấy lẽ cho một lão gia giàu có. Lão gia này trước đó đã có ba bà vợ, mỗi người sống trong một tòa nhà biệt lập. Họ tìm mọi thủ đoạn để hãm hại nhau và tranh giành sự ân sủng từ người chồng. Bộ phim đem lại cảm giác căng thẳng và nghẹt thở trong màu đỏ nhức nhối của những chiếc đèn lồng cùng tiếng búa gõ chân đầy ma mị. Đây cũng là bộ phim tố cáo chế độ phong kiến cùng những hủ tục của nó một cách mạnh mẽ và ấn tượng nhất.

Cách mạng Văn hóa cũng là một đề tài trở đi trở lại trong phim của Trương Nghệ Mưu. Ông từng chia sẻ với báo giới  “Nhiều năm qua, tôi muốn làm phim về Cách mạng Văn hóa, để được kể về những nỗi khổ đau, về số phận và những quan hệ của con người trong một thế giới đầy hận thù, nơi con người không có khả năng tự chủ. Tôi không chỉ muốn làm một mà là nhiều phim về thời kỳ này, những bộ phim mang tính tự truyện hoặc là câu chuyện của người khác”.

Trương Nghệ Mưu đã có ít nhất ba phim đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến Cách mạng Văn hóa là Phải sống (1994), Chuyện tình cây táo gai(2010) và gần đây nhất là Quy lai (2014). Ông đã rất “tỉnh” và khôn ngoan khi không đi sâu vào việc phân tích nguyên nhân hay hậu quả từ những quyết định sai lầm của các nhà cầm quyền.

Khi kể lại lịch sử, ông cố gắng tránhphán xét, đổ lỗi cho bất cứ ai. Thay vào đó, vị đạo diễn họ Trương tập trung tôn vinh tình yêu, nghị lực sống, lòng vị tha của những con người Trung Hoa bình thường. Nhân vật chính trong những bộ phim ấy thường là một cặp vợ chồng hoặc một đôi tình nhân trẻ. Bất chấp mọi oan ức phải chịu, mọi nỗi đau mất người thân hay mất danh dự phải trải qua, họ vẫn luôn tìm được sức mạnh để cùng nhau đi qua thế kỷ 20 đầy bão tố.

Những bộ phim tiêu biểu trong sự nghiệp đến nay của đạo diễn Trương Nghệ Mưu.

Những bộ phim tiêu biểu trong sự nghiệp đến nay của đạo diễn Trương Nghệ Mưu.

Ông cũng dành nhiều sự quan tâm đến những số phận bé mọn, sống ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, ít được mọi người biết tới. Thu Cúc đi kiện (1992) kể về một người phụ nữ nông dân, bụng chửa vượt mặt, vẫn lặn lội khắp nơi để đòi lại công bằng cho chồng mình. Không thiếu một em(1999) kể về một cô giáo vùng cao lên thành phố, quyết tâm tìm lại đứa học trò nghèo. Đường về nhà (1999) là câu chuyện tình yêu giữa một thôn nữ và một thầy giáo làng. Đặc điểm chung của những nhân vật này đều là những người phụ nữ ít học, ngây thơ, thô mộc. Sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo khổ, họ vẫn luôn rực rỡ, mạnh mẽ và hồn nhiên như cây cỏ.

Đề cập đến những vấn đề lớn lao như số phận con người, vận mệnh của một dân tộc, song Trương Nghệ Mưu rất ít dùng đại cảnh hoành tráng, hoặc nhiều tuyến nhân vật. Ông ưa thu câu chuyện lại nhỏ gọn trong cuộc đời của một con người hoặc một gia đình. Nhân vật chính trong phim của Trương Nghệ Mưu chưa bao giờ là một đám đông hay một thứ lý tưởng nào đó mà đều là những con người với tên gọi, hình hài cụ thể và những câu chuyện riêng tư xúc động lòng người.

Đặc biệt, ngay từ những bộ phim đầu tiên, Trương Nghệ Mưu đã rất ý thức về việc “xuất khẩu” văn hóa Trung Hoa ra thế giới. Nếu Lý An là một đạo diễn quốc tế và khán giả xem Brokeback Mountain hay Life of Pi của ông sẽ rất khó xác định đây là phim của nước nào thì Trương Nghệ Mưu lại khác hẳn. Phim của ông mang tính địa phương rất rõ, tính dân tộc rất đậm. Một nét đặc sắc trong phim ông là những phong tục của người Hoa luôn được đạo diễn họ Trương giới thiệu hoặc “cài cắm” một cách khéo léo.

Trong Cao lương đỏ, đó là tục nấu rượu thủ công mà đáng nhớ nhất là màn tế rượu đầy hào sảng. Với Cúc Đậu, khán giả được làm quen với nghề nhuộm truyền thống. Cảnh những phiến vải lớn được treo trên cao rủ xuống hay cảnh bể nhuộm đỏ rực đều để lại những ấn tượng thị giác rất mạnh. Gầy đây, Trương Nghệ Mưu có tham vọng mở rộng thị trường phim quốc tế nên bắt đầu sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ chính và những diễn viên hạng A của Hollywood.

Kim lăng thập tam thoa và dự án Vạn lý trường thành là những ví dụ tiêu biểu cho xu hướng này. Tuy vậy, trong nhiều bài phỏng vấn, ông vẫn khẳng định: “Tôi chỉ nhận những dự án có câu chuyện liên quan đến Trung Hoa và có các yếu tố Trung Hoa trong đó. Nếu không, thì tôi cũng sẽ chẳng làm được nhiều nhặn gì”.

Giới phê bình cũng dành nhiều lời khen ngợi cho việc sử dụng màu sắc trong phim của Trương Nghệ Mưu. Những phim thời kỳ đầu của ông rất hay sử dụng màu đỏ – tông màu mà theo đạo diễn Lý An thì là “khó xử lý nhất trong sản xuất phim”. Đó là màu đỏ từ mặt trời, màu đỏ của rượu, của máu (Cao lương đỏ), màu đỏ của bể nhuộm, của lửa (Cúc Đậu), màu đỏ từ lồng đèn treo cao, từ váy cưới truyền thống của các cô dâu (Lồng đèn đỏ treo cao).

Đến Đường về nhà, Anh hùng, Thập diện mai phục, Hoàng kim giáp… thì bảng màu đã được mở rộng hơn: đỏ, lam, lục, trắng, vàng. Phim của Trương Nghệ Mưu luôn là một cuộc chơi với màu sắc, để lại những ấn tượng thị giác đậm nét trong lòng người xem.

Trương Nghệ Mưu và

Trương Nghệ Mưu và “nàng thơ” Củng Lợi thời trẻ.

Ông cũng tỏ ra là một đạo diễn thức thời và nắm bắt nhanh thị hiếu khán giả. Trương Nghệ Mưu hiểu rằng người trẻ không thích xem những phim quá nặng nề. Họ thích những phim có chủ đề đơn giản, thiên về giải trí nhiều hơn. Từ năm 2000 ông bắt đầu chuyển sang dòng phim võ thuật, tiêu biểu là Anh hùng (2002), Thập diện mai phục (2004), Hoàng kim giáp(2006), Kim Lăng Thập tam thoa (2011)… Hai bộ phim đầu nhận được nhiều lời khen ngợi từ các nhà phê bình, đồng thời cũng thắng lớn ở phòng vé. Tuy nhiên, hai bộ phim sau lại thiếu thuyết phục vì câu chuyện trong phim hời hợt, tham lam.

Trương Nghệ Mưu từng nhiều lần chia sẻ mong muốn được “đi bằng hai chân”: sẽ đồng thời sản xuất những phim bom tấn thương mại nhưng cũng vẫn theo đuổi dòng phim nghệ thuật kinh phí thấp. Giữa các quãng nghỉ của các phim bom tấn, ông lại quay trở về với những câu chuyện riêng tư, giản dị về số phận con người. Nhưng giới mộ điệu khó tính vẫn chưa thực sự hài lòng vì dường như gần đây Trương Nghệ Mưu đã “chiều” khán giả quá.

Phim của ông đã có đôi chút thỏa hiệp, dễ dãi. Ngay cả Chuyện tình cây táo gai và Quy lai, hai phim gần đây được đánh giá cao của Trương Nghệ Mưu cũng có vẻ gì đó sạch sẽ, đỏm dáng, khác xa vẻ thô mộc, chân chất, thuyết phục trong những tác phẩm thời kỳ đầu.

Tuy gần đây có đôi chút giảm sút phong độ, nhưng nhìn lại tất cả những gì mà vị đạo diễn hơn 60 tuổi này làm được, Trương Nghệ Mưu vẫn xứng đáng được coi là một huyền thoại của điện ảnh Trung Hoa. Vẫn luôn khát khao đổi mới và tràn đầy tham vọng, đạo diễn họ Trương là một tấm gương sống về lao động hết mình trong nghệ thuật.

Anh Trâm

Nguồn:

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/sau-man-anh/truong-nghe-muu-va-bon-thap-ky-lam-phim-3117627.html

Film studies Zhang YiMou

9 phim kết hợp ấn tượng của Trương Nghệ Mưu – Củng Lợi

Gần 30 năm hợp tác, Nghệ Mưu – Củng Lợi để lại những tác phẩm kinh điển như “Phải sống”, “Cúc Đậu”…

cu6.jpg

Cao lương đỏ (1987) cải biên từ tiểu thuyết cùng tên của Mạc Ngôn. Tác phẩm đánh dấu lần hợp tác đầu tiên của Trương Nghệ Mưu – Củng Lợi.

Khi biên kịch cho phim, Mạc Ngôn cho rằng Trương Nghệ Mưu không tinh tường khi chọn Củng Lợi đóng chính, ông sợ Củng Lợi sẽ làm hỏng toàn bộ tác phẩm. “Nhưng sự thật chứng minh rằng, tôi đã phán đoán sai”, Mạc Ngôn nói khi phim hoàn thành.

Cũng từ tác phẩm này, đạo diễn – diễn viên nảy sinh tình cảm. Trương Nghệ Mưu vì Củng Lợi mà bỏ vợ.

cuc.jpg

Cúc Đậu (1990) do Trương Nghệ Mưu, Dương Phượng Lương đạo diễn, với hai diễn viên chính Củng Lợi – Lý Bảo Điền. Phim bị cấm chiếu ở Trung Quốc nhưng lại nhận được nhiều khen ngợi từ giới phê bình nước ngoài. Cúc Đậu trở thành tác phẩm Trung Quốc đầu tiên được đề cử Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất tại giải Oscar.

Củng Lợi cho biết, khi đóng Cúc Đậu, có ý kiến gì cô đều nói trực tiếp với Trương Nghệ Mưu: “Tôi hợp tác với Trương Nghệ Mưu nhiều nhất, mỗi phim đều đạt được hiệu quả tốt, tôi rất thoải mái khi đóng phim cùng đạo diễn Trương. Chúng tôi quen với cách làm việc nhau, vì thế hợp tác ngày càng ăn ý”.

cungloi-4179-1417842635.jpg

Ngoài kết hợp với vai trò đạo diễn – diễn viên, Nghệ Mưu, Củng Lợi từng là bạn diễn trong phim Cổ kim đại chiến Tần dũng tình (A Terracotta Warrior, 1990). Tác phẩm kể về mối tình truyền kiếp của Mông Thiên Phóng (Trương Nghệ Mưu đóng) và Hàn Đông Nhi (Củng Lợi). Hai người nếm “trái cấm”, sau đó bị khép tội “Khi quân” và chịu hình phạt xử tử.

do.jpg

Đèn lồng đỏ treo cao ra mắt năm 1991, kể về cuộc đời của những người phụ nữ được gả vào gia đình bề thế. Các bà vợ lẽ ganh đua giành vị trí, để rồi cuối cùng chịu bi kịch thảm khốc. Tác phẩm giành giải Sư Tử Bạc tại LHP Venice 1991, được đề cử Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất tại Oscar.

cuc_1417613039.jpg

Thu Cúc đi kiện (1992) là phim về cuộc sống người dân nông thôn Trung Quốc. Củng Lợi đóng Thu Cúc, người phụ nữ mang bầu đi đòi công bằng cho chồng. Củng Lợi lột tả chân thực và xúc động người phụ nữ thôn quê chân chất, giàu lòng tự tôn. Vai diễn mang về cho cô giải thưởng Nữ diễn viên chính xuất sắc tại Liên hoan phim Venice năm 1992. Ngoài ra, phim giành giải Sư Tử Vàng tại LHP này.

phai.jpg

Phải sống (1994) được đánh giá là tác phẩm đỉnh cao của Trương Nghệ Mưu. Phim đi sâu vào số phận con người, thông qua chặng đường khốn khổ của nhân vật chính.

Phải sống nhận giải thưởng của Hội đồng giám khảo tại Liên hoan phim Cannes năm 1994. Cát Ưu cũng được vinh danh ở hạng mục Nam diễn viên chính xuất sắc.

Tuy nhiên đến nay, phim bị cấm chiếu ở Trung Quốc.

l-1833-1417840247.jpg

Trong Hội Tam Hoàng Thượng Hải (Shanghai Triad, 1995), Củng Lợi vào vai ca nữ Tiểu Kim Bảo – người tình của ông trùm xã hội đen họ Đường (Lý Bảo Điền đóng). Cùng lúc đó, Kim Bảo lại có tư tình với người đàn ông khác.

Hội Tam Hoàng Thượng Hải đánh dấu sự kết thúc của mối tình Trương Nghệ Mưu – Củng Lợi.

giap-4224-1417840247.jpg

Dù không còn là người tình của nhau, Nghệ Mưu – Củng Lợi chứng minh họ vẫn là “cặp bài trùng” trong điện ảnh. Năm 2007, bộ phim cổ trang hoành tráng Hoàng Kim Giáp ra mắt, nhận được sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Tác phẩm quy tụ nhiều diễn viên nổi tiếng: Châu Nhuận Phát, Củng Lợi, Châu Kiệt Luân, Lưu Diệp… Nhờ tác phẩm này, Củng Lợi giành danh hiệu Nữ diễn viên chính xuất sắc tại giải Kim Tượng.

lai.jpg

Năm 2014, Trương Nghệ Mưu – Củng Lợi tái hợp với Coming Home (Trở về) – phim cảm động về số phận con người trong và sau Cách mạng Văn hóa. Trong phim, Trương Nghệ Mưu dành nhiều cảnh quay tập trung vào biểu cảm trên gương mặt Phùng Uyển Dụ (Củng Lợi đóng), cho thấy khả năng diễn xuất tuyệt vời của nữ diễn viên.

Trong một lần giới thiệu tác phẩm, Trương Nghệ Mưu nói rằng Củng Lợi là nữ diễn viên hợp tác với ông nhiều nhất và rất khó có người thứ hai như vậy. Với ông, Củng Lợi là duy nhất.

Hải Lan

Nguồn:

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/sau-man-anh/9-phim-ket-hop-an-tuong-cua-truong-nghe-muu-cung-loi-3113168.html

Film studies Zhang YiMou

CÚC ĐẬU – 《菊豆》

https://www.youtube.com/watch?v=p4IaNzofg0w
Đạo diễn:
Trương Nghệ Mưu, Dương Phượng Lương
Diễn viên:
Củng Lợi, Lý Bảo Điền, Lý Vĩ, Trương Nghị, Tùng Trí Quân
Thể loại:
Phim Tâm Lý
Quốc gia:
Trung Quốc
Thời lượng:
95 phút

Năm 1989, Trương Nghệ Mưu làm bộ phim Cúc Đậu với sự tài trợ của Nhật. Bối cảnh của bộ phim này đã được ông dời đến thời điểm những năm 20 để tránh sự “dòm ngó” của cơ quan kiểm duyệt Trung Quốc (thay vì những năm 40 như nội dung trong tiểu thuyết của Lưu Hằng). Khi mới ra đời, bộ phim đã bị cấm ở Trung Quốc vì các nhà chức trách cho rằng nó không phù hợp với khán giả trong nước.

Tuy nhiên, sau đó, bộ phim được gửi đi tranh giải Oscar và được đề cử Phim nước ngoài hay nhất, giúp Trương Nghệ Mưu trở thành nhà làm phim đầu tiên của Trung Quốc được đề cử tại giải thưởng uy tín này.

Bộ phim này đã gây tranh cãi sau khi Cục Điện ảnh Trung Quốc quyết định rút bộ phim khỏi cuộc tranh tài Oscar (nhưng không thành công).