BAR
The Reader (2008 film) by Stephen Daldry
Posted on September 19, 2015The Reader (2008 film)
The Reader is a 2008 German-American romantic drama film based on the 1995 German novel of the same name by Bernhard Schlink. The film was written by David Hare and directed by Stephen Daldry. Ralph Fiennes and Kate Winslet star along with the young actor David Kross. It was the last film for producers Anthony Minghella and Sydney Pollack, both of whom had died before it was released. Production began in Germany in September 2007, and the film opened in limited release on December 10, 2008.
It tells the story of Michael Berg, a German lawyer who as a mid-teenager in 1958 had an affair with an older woman, Hanna Schmitz, who then disappeared only to resurface years later as one of the defendants in a war crimes trial stemming from her actions as a guard at a Nazi concentration camp. Michael realizes that Hanna is keeping a personal secret she believes is worse than her Nazi past – a secret which, if revealed, could help her at the trial.
Winslet and Kross, who plays the young Michael, received much praise for their performances; Winslet won a number of awards for her role, including the Academy Award for Best Actress. The film itself was nominated for several other major awards, including the Academy Award for Best Picture.
汪峰 沧浪之歌 电影《狼图腾》主题曲
OST Wolf Totem
“Zen” is a 2009 film directed by Banmei Takahashi and starring Nakamura Kantarō II as Dogen, and Yuki Uchida as Orin.
The film is a biography of Dōgen Zenji (道元禅師) (19 January 1200 – 22 September 1253), a Japanese Zen Buddhist teacher. After travelling to China to study, Dogen founded the Sōtō school of Zen in Japan.
Plot Summary
-
‘Zen’ Buddhist teacher Dogen Zenji is a very important religious person during the Kamakura period, 750 years ago. After his mother died, he decides to move to China and settle as a Buddhist teacher. One bright morning, enlightened, Zenji returns to Japan as a devoted evangelist of the ‘new’ Buddhism. However, this new form of Buddhism is not accepted in all communities.
BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC QUA CÁC THỜI KỲ
Posted on September 18, 2015
‘To Kill a Mockingbird’ và bài ca về tình đồng loại
![]() |
|
Bộ phim “Giết con chim nhại” từng giành ba giải Oscar vào năm 1963 cho “Nam diễn viên chính xuất sắc” (Gregory Peck), “Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc” và “Kịch bản chuyển thể xuất sắc”. |
Được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn nữ Harper Lee,To Kill a Mockingbird khai thác chủ đề về sự khác biệt và khả năng chấp nhận sự khác biệt trong một cộng đồng. Từ ngôi kể thứ nhất của nhân vật chính là cô bé Scout, đạo diễn Robert Mulligan đưa người xem đến với miền Nam nước Mỹ những năm 1930 của thế kỷ 20. Đó là buổi đầu của kỷ nguyên nô lệ, của nạn phân biệt chủng tộc khắc nghiệt đánh dấu một thời kỳ đen tối, khủng hoảng bậc nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Scout, Jem và Dill là những đứa trẻ lớn lên trong một khu phố nhỏ ở Maycomb cùng người cha đáng kính Atticus Finch. Tuổi thơ của chúng là những kỳ nghỉ hè và những trò rình rập, quậy phá quanh ngôi nhà của một người đàn ông bí ẩn chỉ ra ngoài vào ban đêm, chuyên bắt sóc và mèo để ăn sống…
Đến một ngày, vụ án kinh động cả thị trấn xảy ra. Tom Robinson – một người da đen bị buộc tội cưỡng hiếp một phụ nữ da trắng. Atticus được giao làm luật sư phản biện cho bị cáo. Scout, Jem và Dill đồng hành cùng cha trong cuộc chiến đấu cho công lý, cho sự thật, sự công bằng ấy và từ đó mà nhận ra những bài học ý nghĩa trong cuộc sống và trưởng thành…
Lấy ý tưởng từ hình ảnh những con chim nhại – loài chim vô hại nhưng vốn bị kỳ thị, nhà văn Harper Lee đã viết nên cuốn tiểu thuyết đầu tiên và duy nhất của đời mình về tình đồng loại. Trên cơ sở đó, đạo diễn Robert Mulligan đã chuyển thể tương đối trung thành và trọn vẹn nội dung, tư tưởng của cuốn sách lên phim.
Câu chuyện của cô bé Scout kể cho khán giả về “những con chim nhại” của miền Nam nước Mỹ những năm 1930. Đó là Tom – một anh chàng hiền lành, lương thiện, hay giúp đỡ mọi người nhưng mang tội lỗi vì là người da màu. Đó là Boo – một cậu học sinh hiếu học, trong sáng nhưng gần suốt cuộc đời phải sống trong bóng tối vì là kẻ thiểu năng, nửa điên nửa dại trong mắt mọi người.
![]() |
|
Luật sư Atticus Finch và ba đứa trẻ Scout, Jem, Dill. |
Họ là cả những người da trắng, cả những người da đen, không trừ ai, đều phải sống sau những rào cản là định kiến xã hội mà không thể vượt qua. Không những thế, để chối bỏ họ một cách tuyệt đối, người ta còn sẵn sàng nghĩ ra những âm mưu, rắp tâm đẩy họ vào bước đường cùng.
Tom Robinson đã phải chịu một kết cục bi thảm để cứu lấy danh dự và lòng tự trọng của mình trước khi tiếp tục bị những kẻ xấu lặng mạ, vu khống theo cái cách phàm phu, thô bạo nhất. Boo Harley may mắn hơn khi cuối cùng cũng có người nhận ra anh, chấp nhận anh nhưng không có nghĩa vì thế mà anh thoát khỏi thân phận là một cái bóng dật dờ đi bên lề xã hội.
Ở một giới hạn nào đó, công lý đã lên tiếng khi lấy mạng để đền mạng cho một con người lương thiện phải chết oan. Tuy nhiên, bức tranh hiện thực xã hội Mỹ giai đoạn khủng hoảng ấy cũng không vì thế mà tươi sáng thêm khi quyền lực vẫn nằm trong tay kẻ cầm súng và những kẻ đặc quyền mang màu da của người làm chủ.
Trên một khía cạnh khác, To Kill a Mockingbird còn gửi đến một bài học sâu sắc về tầm quan trọng của giáo dục đối với mỗi người. Trường học, ngoài mục đích đầu tiên là truyền dạy kiến thức, còn có ý nghĩa lớn lao trong việc dạy cho con người biết sợ và biết kiểm soát, kiềm chế bản thân.
Sự khác nhau giữa người có học và người không có học nằm ở chỗ: Trong khi Bob Ewell sẵn sàng nhổ toẹt nước bọt vào mặt đối phương trước khi bất cứ cuộc trò chuyện nào kịp diễn ra thì Atticus Finch, trước hành động lỗ mãng ấy, tuyệt nhiên không có bất cứ hành động trả đũa nào. Ông chỉ im lặng, rút khăn lau mặt rồi quay lưng bỏ đi. Người có học sẽ biết kiểm soát và làm chủ cảm xúc thay vì hành xử hoang dại và thiếu suy nghĩ như những người chưa từng được đến trường.
Không chỉ thành công trong việc chuyển hóa nhuần nhuyễn và trọn vẹn nhiều tầng chủ đề trong dung lượng thời gian cho phép, To Kill a Mockingbird còn được xếp vào một trong những phim thành công về ngôn ngữ tạo hình điện ảnh. Những cuộc rình rập, rượt đuổi trong đêm với sự hỗ trợ đắc lực của âm nhạc dồn dập, căng thẳng như nhịp thở của đứa trẻ hoảng hốt trốn chạy thực sự kéo người xem vào cuộc để cùng tham gia vào những trò ú tim. Máy quay không rời người kể chuyện (Scout) nửa bước đã kéo khán giả gần lại chiếc xích đu cót két về đêm, những bờ rào lạnh lẽo hay những lối đi dưới hàng cây tăm tối… theo đúng như cách cô bé sáu tuổi lắng nghe và cảm nhận.
Chủ đề về sự phân biệt đối xử được đan cài khéo léo vào những tình tiết được xử lý tinh tế mà không quá phô trương. Người xem sẽ không thể quên cách cậu bé da màu lần đầu tiên loay hoay với bộ dao, dĩa để hì hục cắt những miếng thịt trong đĩa hay như cách một nhóm người da đen đang trò chuyện bỗng dưng im bặt khi gã nông dân người da trắng đến và sẵn sàng tuân theo mọi sai bảo của hắn mà tuyệt nhiên không thắc mắc gì.
![]() |
|
Phim nói về thời kỳ đen tối của nước Mỹ khi sự phân biệt giàu nghèo, giai cấp và màu da còn quá lớn. |
Những quy định ngầm về thân phận, địa vị xã hội được đạo diễn Robert Mulligan chuyển tải bằng một lối kể chuyện thông minh, giàu liên tưởng. Đặc biệt, dụng ý của việc sử dụng màu phim cũ (trắng – đen) thay vì phim màu như trào lưu đang lên vào những năm 1960 cũng là một lựa chọn hoàn toàn thuyết phục của ông. Chính mỗi thước phim sẽ là lời tố cáo trần trụi nhất cho một sự thật đen tối về nạn phân biệt chủng tộc của nước Mỹ một thời.
Một trong những điều phi thường khác của To Kill a Mockingbird có lẽ đến từ dàn diễn viên. Luật sư Finch – người cha đáng kính của những đứa trẻ chính là vai diễn đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của Gregory Peck. Vai diễn mang về cho ông một tượng vàng Oscar đồng thời đóng đinh ông vào hình tượng một người cha ân cần, lương thiện, đại diện cho công lý và lẽ phải.
Bên cạnh đó, Robert Mulligan cũng rất may mắn khi có được một dàn diễn viên đồng đều và xuất sắc đến thế. Họ có thể không phải là những người xuất sắc trong suốt sự nghiệp của mình nhưng chắc chắn đều đã “xuất thần” khi đứng cùng nhau ở đây.
Dù chỉ xuất hiện ở nửa sau và những phút cuối của bộ phim, James Anderson (vai Bob Ewell) với cách liếm môi, chiếc mũ phớt, ánh mắt nham hiểm và thái độ xấc xược cũng khiến khán giả chỉ muốn lao vào màn ảnh để đánh đập, rủa xả. Collin Wincox Paxton – người phụ nữ như hoá điên dại, tóc tai rối bời, vừa mấp máy môi vừa co giật sau cú sốc tâm lý vì bị bạo hành; Brock Peters – người da đen nhút nhát, lương thiện đến toát mồ hôi khi đứng trước toà… cũng là những vai diễn khó quên của bộ phim.
Anh Mai
http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/diem-phim/to-kill-a-mockingbird-va-bai-ca-ve-tinh-dong-loai-2937035.html
http://www.edmondschools.net/portals/3/docs/sue%20newman/tkam%20text/to_kill_a_mockingbird_text.pdf
Trong lịch sử của Việt Nam từ trước đến giờ hầu như chẳng nghe nhắc đến cụm từ: “Chế độ chiếm hữu nô lệ”. Nhà sử học Trần Trọng Kim trong “Việt Nam sử lược” – Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 cũng chẳng đề cập gì về chế độ này trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc? Vì sao vậy? Có gì mâu thuẫn với quy luật của Chủ nghĩa Mác – Lênin về tuần tự 05 chế độ xã hội mà loài người phải trải qua? Vậy có hay không một chế độ Chiếm hữu nô lệ, hay nó tồn tại ở hình thức đặc biệt nào ở lịch sử Việt Nam, bài viết này bằng kiến thức thu nhặt được, cùng lí lẽ chủ quan cũng xin góp thêm đôi điều bàn bạc.
Như chúng ta biết khi nhắc đến chế độ Chiếm hữu nô lệ thì tất cả nghĩ ngay đó là hình thức nhà nước đầu tiên trong lịch sử nhân loại nói chung và của phương Tây nói riêng. Nếu như hiện nay người ta còn bàn cải ở phương Đông cổ đại đã từng trải qua phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ hay phương thức sản xuất châu Á, thì đã từ lâu, sự tồn tại của phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp và La Mã đều đã được các nhà sử học Mác xít thừa nhận và đưọc coi đó là những xã hội chiếm hữu nô lệ có tính chất diển hình.
Thế thì phương Đông, nơi cũng là cái nôi vĩ đại của nền văn minh nhân loại, cũng cùng nhân loại đi từ xuống phát điểm là chế độ Cộng sản nguyên thủy sao lại ít được nhắc đến và trong đó bản thân Việt Nam lại dường như càng không có. Có phải không nhắc đến là không tồn tại chế độ Chiếm hữu nô lệ trong lịch sử nước ta?
Thực ra chế độ Chiếm hữu nô lệ xuất hiện và tồn tại trong lịch sử của nhân loại, cả trong phương Đông lẫn phương Tây. Ngay từ khi chế độ Cộng sản nguyên thủy tan rã, xã hội xuất hiện đầu tiên ở phương Đông, các con sông châu Á như sông Nin – Ai Cập, sông Ấn, Hằng ở Ấn Độ; Hoàng Hà – Trung Quốc… vào thiên niên kỉ IV-III TCN. Vậy căn cứ đầu tiên có thể khẳng định hầu hết các quốc gia Đông phương đã sớm tồn tại chế độ Chiếm hữu nô lệ, và trong xu thế tất nhiên của lịch sử ấy Việt Nam ta cũng phải mang trong mình cái chung ấy. Vậy cái chung ấy được thể hiện qua lăng kính của lịch sử nước ta qua cái riêng nào – đấy là nhiệm vụ cần làm rõ, tìm hiểu.
Thực ra, theo ý kiến chủ quan của tôi, từ thuở xa xưa khi tổ tiên ta vừa bước ra từ thế giới dã man, mông muội thì hết thảy họ đã chạm tay vào nền văn minh, chế độ mới – chế độ Chiếm hữu nô lệ “nửa vời”. Cái chế độ chiếm hữu nô lệ này ở nước ta nó không rõ ràng, đậm nét, sâu sắc như ở các quốc gia Tây phương và tôi cho rằng Việt Nam nói riêng, phương Đông nói chung đã nuôi nó trong một chế độ cùng sinh ra cùng thời – Chế độ phong kiến. Tại sao có thể nói trong lịch sử Việt Nam vừa có lại vừa không có tồn tại chế độ Chiếm hữu nô lệ, đấy là căn cứ vào một số phân tích sao.
Trước hết có thể luận giải dựa vào chế độ gia đình – gia đình “phụ hệ” đề cao vai trò tuyệt đôí của người đàn ông và được xem “ông chủ nô nhỏ” trong gia đình “nô lệ nhỏ”. Chính vì tư tưởng ăn sâu hình thành vào gia đoạn cuối của chế độ công xã nên khi bước vào chế độ chiếm nô đấy là tư tưởng thường trực và chủ đạo, chẳng hạn “tam cương ngũ thường”, “tam tòng tứ đức” dành cho nữ giới thực hiện… Tất cả hình thành nên mầm móng mà tôi gọi là những “áp đặt, cưỡng bức” đầu tiên, cơ bản và sơ khai nhất của Chế độ chiếm hữu nô lệ.
Các quốc gia cổ đại phương Ðông đều có những đặc trưng chung của một xã hội chiếm hữu nô lệ, ví như việc phân chia xã hội thành hai giai cấp đối kháng: Giai cấp quý tộc, chủ nô thống trị và giai cấp nô lệ bị áp bức, bóc lột một cách tàn nhẫn và thô bạo nhất. Nhưng các quốc gia này cũng có nhiều đặc điểm riêng làm cho người ta có thể phân biệt chúng với các quốc gia chiếm hữu nô lệ phương Tây, tức Hy Lạp và La Mã cổ đại, mà những đặc điểm riêng biệt đó chủ yếu là như sau:
Các quốc gia cổ đại phương Ðông ra đời ở thời kỳ mà sức sản xuất xã hội đang còn ở trình độ thấp kém. Trình độ sản xuất thời ấy không cho phép các quốc gia đó phát triển chế độ chiếm hữu nô lệ một cách “thành thụ và điển hình”.
Bên cạnh đó có thể căn cứ vào yếu tố lịch sử – chính trị. Từ năm 287 – 258 TCN Việt Nam sử lược” – NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2005, xã hội Việt Nam đã có nhà nước – nhà nước Văn Lang đầu tiên, bắt đầu có sự phân chia giai cấp và tầng lớp nô lệ cũng ra đời từ đó với tên gọi là –“Trâu”, xã hội có sự phân hóa sơ khai song chưa sâu sắc. Trải qua theo chiều dài lịch sử từ quá trình lập quốc đến cuộc giữ nước từ 174 TCN khi Triệu Đà đánh tan Thục Phán An Dương Vương. Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc giặc Tàu đầu thế kỉ X (938) nền tự trị của quốc gia lại được mở ra và kéo dài qua hàng ngàn năm của chế độ phong kiến tập quyền muôn vàn thống khổ cho gây ra. Từ sau thế kỉ X khi nền thịnh trị của tầng lớp bị trị. Từ thế kỉ X nền thái bình nước nhà ngày càng vững bền thì chính sách bóc lột của chế độ phong kiến càng rõ nét và lớn hơn bao giờ hết. Tổng kết giai đoạn từ X – XV các sử gia nhận xét rằng tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng cao. Những năm đói kém “nhân dân nhiều người phải bán ruông đất và bán con gái, con trai làm nô tì”. Quý tộc và địa chủ ngày càng chiếm nhiều ruộng đất” (1) . Chỉ qua lời nhận xét ấy, ta có thể rút ra 2 vấn đề để khẳng định chế độ Chiếm hữu nô lệ vẫn tồn tại ở nước ta, vì về mặt kinh tế là sự bóc lột, vơ vét sức người sức của của giai cấp nông dân, giai cấp bị trị làm cho đời sống nhân dân cùng khổ làm nảy sinh mâu thuẫn kéo đến hàng loạt phong trào khởi nghĩa của kẻ bị bóc lột chống lại bọn bóc lột như: Hàng loạt khởi nghĩa của nông dân Đàng ngoài cho chính quyền Trịnh thối nát – Khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu, Khởi nghĩa Hoàng Công Chất, phong trào Tây Sơn (2); đầu thế kỉ XIX có khoảng 400 cuộc khởi nghĩa, thời Minh Mạng có tới 250 cuộc (3) … đã phản ánh rõ nét thực chất của xã hội phong kiến chẳng qua là cái vỏ bọc thay cho cách gọi tên với chế độ Chiếm hữu nô lệ. Thực chất mà nói, giữa hai chế độ này trong thể nhất cũng chẳng khác nhau là mấy, vì sao? Tên gọi giai cấp chủ nô, nô lệ tương ứng xã hội phong kiến cũng cùng bản chất với địa chủ – quý tộc và nông dân tá điền. Cái tên gọi thực sự chỉ thể hiện được cái hiện tượng, vỏ bên ngoài nhưng suy xét cho đến cùng thì giữa hai chế độ này cùng một người mẹ sinh ra – mẹ của thống khổ, bóc lột mà thôi. Đôi khi cái tên gọi không đồng nhất vối cái bản chất của chế độ. Như vậy trên cơ sơ đầu tiên này chúng ta có thể khẳng định Việt Nam từng tồn tại Chiếm hữu nô lệ nhưng thông qua cái tên hoa mĩ và cái vỏ khác, cái vỏ của Chế độ phong kiến.
Nhưng, xin làm rõ thêm tại sao cụm từ “chiếm hữu nô lệ” lại không có trong lịch sử Việt Nam mặc dù nó từng tồn tại. Đấy bởi vì phạm vi, tính chất, mức độ thấp hay cao; nổi bật hay chỉ là hiện tượng thoáng qua, đơn thuần tồn tại cách yếu đuối trong cách thể hiện. Chẳng hạn:
Dưới góc độ văn hóa, “người phương Đông sống trong văn hóa duy tình” đã hằn sâu trong tâm thức của họ do vậy cũng chỉ thị cho hành động, trong cách cư xử, đối đãi giữa các tầng lớp với nhau là không tàn bạo, gay gắt như phương Tây. Mặc dù ở chế độ tập quyền chuyên chế “vua là con trời, tối cao” “quân bức thần tử thần bất tử bất trung” nhưng ta vẫn thấy có chút gì nhân đạo, nhân ái của các vị minh quân, vẫn luôn hướng nghe cuộc sống, than vãn của quần chúng. Vua vi hành, vua trực tiếp xử kiện nếu có án oan, vua tham gia cày ruộng, vua thường xuyên đặt xá, miễn thuế… cho nhân dân, chăm lo nhân sinh … Điều đó giải thích tại sao trong lịch sử dân tộc có rất nhiều ông vua – đại diện cho giai cấp thống trị lại được muôn dân kính yêu: Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Lí Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Hàm Nghi, Duy Tân…. Ở một chừng mực nào đó dù có mâu thuẫn giai cấp, có bóc lột song nó không tàn nhẫn, vô tâm “cừu ăn thịt người” như chế đô Chiếm hữu nô lệ phương Tây.
Dười góc độ kinh tế. Sự chênh nhau trong phát triển kinh tế cũng ảnh hưởng đến bản chất của chế độ Chiếm hữu nô lệ. Nếu như các quốc gia cổ đại Phương Tây bước vào chế độ chiếm nô bằng bẳng nền kinh tê “công thương nghiệp cổ đại” phát triển với lò, xưởng thủ công, nhiều sản phẩm nổi tiếng, chất lượng cao: dầu oliu, lúa mạch, đồ da,…được giao thương nhiều nơi thì cư dân phương Tây chỉ làm nông là chủ yếu “lấy nghề nông làm gốc”, dù phát triển đến đâu cũng chỉ nhằm mục đích duy nhất là hỗ trợ cho nghề nông. Chính vì trình độ kinh tế chênh nhau nảy sinh nhu cầu lực lượng người bị bắt buộc lao động cũng ờ mức khác nhau. Nếu ở Tây phuơng giai cấp chủ nô không những chiếm hữu mọi tư liệu sản xuất mà còn chiếm hữu cả bản thân người lao động sản xuất, giai cấp nô lệ thâm chí không có quyền được coi là một con người, hoàn toàn lệ thuộc chủ, lao động thật cực lực, vất vả là công cụ làm lợi cho chủ nô, ví dụ: Ở Hy lạp trong thời kỳ chiến tranh Ba Tư, con số nô lệ ở Ca-ran-tơ lên đến 46 vạn, ở E-gi-i-nơ lên đến 47 vạn, tức là tính theo dân số thì trung bình cứ 10 nô lệ mới có 1 người tự do – đây được xem là thứ hàng hóa đặc biệt thì tại phương Đông lại rất khác, nô lệ có nhưng chế độ ít tham gia vào các quá trình sản xuất ra của cải vật chất, chưa phải là lực lượng đông đảo nhất, chưa phải là lưc lượng duy trì toàn bô sự sống còn của xã hội mà có vai chủ yếu là tham gia xây dựng công trình kiến trúc, lăng điện thành trì, phục vụ tầng lớp quý tộc… và không phải là đối tượng bóc lột chủ yếu như ở phương Tây. Nhìn ở góc độ nào đó họ vẫn còn chút giá trị, họ vẫn có “lương” trong công việc phục vụ quý tộc dù ít, có thể hồi gia cùng gia đình lúc tuổi già, sức yếu; vẫn có quyền có nhu cầu cơ bản nhất; có thể đươc trọng dụng như nô gia Yết Kiêu, Giã Tượng – hai tướng tài dưới trướng Hưng đạo Vương vậy… Chính vì lí do này mà tôi khẳng bản thân xã hội Việt Nam có sự đan xen tồn tại giữa hai chế độ “chiếm hữu nô lệ” và “xã hội phong kiến” nhưng nhìn bao quát cái thể hiện của Chiếm hữu nô lệ ở chừng mực còn mờ nhạt, hạn chế “chế độ chiếm hữu nô lệ chưa thành thụ và điển hình” như ở phương Tây.
Ngoài ra, tiếp cận ở góc độ tâm sinh lí cũng có thể giải thích vì sao hình thái Chiếm hữu nô lệ có tồn tại nhưng nó không có tên trong bề dày lịch sử dân tộc. Đấy là, do sử dụng các sản phẩm chủ yếu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp trồng trọt nên con người “thuần tính” hơn. Các cư dân Việt có nguồn thức ăn chủ yếu từ thực vật: Rau quả, lúa gạo, khoai sắn…nên cũng phần nào tạo nên bản tính “người” hơn, sống và cư xử hòa nhã, có tình hơn so với người Tây phương họ “ăn thịt”, dùng “dao, thìa” lấy thức ăn phần nào nói lên bản chất “dữ tợn, tính con” của họ. Tiếp nhận từ góc độ này có thể lí giải vì sao con người Phương Đông phần nhiều thiên về nội tâm, nếu có “ bóc lột, thống trị” cũng không gay gắt, tàn bạo, dã man như người Tây phương. Chính vì thế khi chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời ở nước ta cũng bị “ru ngủ nhiều bằng sợi dây tình cảm”. Hơn nữa, do quan niệm của người phương Đông trong quan hệ giữa con người với trời, đất (Thiên – Địa – Nhân): “Người ta chỉ chịu làm cách mạng khi mà không còn cách nào khác sau khi đã cam chịu” khiến cho phần lớn các mâu thuẫn không trở nên quá gay gắt, không thể diều hòa.
Trên đây là những phân tích để đưa ra kết luận cuối cùng tìm lời đáp cho câu hỏi: “Có hay không chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam”. Qua đây có thể kết luận được rằng, theo quy luật chung của các nhà Mác xít thì nhân loại sẽ trải qua 5 hình thái xã hội nhưng mức thể hiện của mỗi chế đô là không giống nhau. Chế độ Chiếm hữu nô lệ theo tôi từng tồn tại ở Việt Nam nhưng xét vể bản chất, đặc trưng cũng như khả năng hợp “Thiên – địa – nhân – hòa” thì không cao, chưa phải đậm đặc nhất do vây nó phải “quá độ” và sống len lỏi dựa vào “xã hội phong kiến” để tồn tại cho hợp với cái bổn phận được sinh ra từ lịch sử (Điều này tương tự như chúng ta tiến lên Chủ nghĩa xã hội nhưng ngay trong thời kì quá độ này ta vẫn chấp nhận bàn tay chi phối của Tư bản chủ nghĩa…). Lịch sử ta không ghi nhận chế độ Chiếm hữu nô lệ cũng có cái lí của bản thân nó và tôi nghĩ cái lí ấy chính từ những suy nghĩ trên vậy ./.
NGUYỄN HỮU HOÀNG
(Phó chủ nhiệm Câu lạc bộ Lý luận trẻ
Học viện Hành chính cơ sở TP. Hồ Chí Minh)
——————————
(1) Sách Giáo khoa Lịch sử 10 (Nâng cao), Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008, trang 161.
(2) Sách Giáo khoa Lịch sử 10 (Nâng cao), Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008, trang 197.
(3) Sách Giáo khoa Lịch sử 10 (Nâng cao), Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008, trang 208.
http://hto.svhanhchinh.vn/2012/09/co-hay-khong-mot-che-do-chiem-huu-no-le-o-viet-nam.html
——————————
Ba thành tựu rực rỡ của nước Âu Lạc
Nhiều vấn đề của nước Âu Lạc cho đến nay đã được làm sáng tỏ ít nhiều, nhưng vẫn chưa đầy đủ về lịch sử – kinh tế – xã hội của quốc gia cổ đại từ hơn 2.200 năm trước. Để làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh của nước Âu Lạc, cần nêu lên một số thành tựu rực rỡ của quốc gia cổ xưa này.
Công nghệ luyện đúc đồng phát đạt
Nền văn hóa khảo cổ học Đông Sơn phân bố khắp lãnh thổ miền Bắc nước ta kéo dài từ suốt thiên niên kỷ thứ nhất TCN đến các năm SCN, mà tiêu chí là công nghệ luyện đúc đồng đạt đến trình độ điêu luyện
Các trung tâm lớn của văn minh Đông Sơn có nhiều, nhưng những địa danh liên quan đến Thục Phán – Âu Lạc lại nổi trội hơn hết, đó là Đào Thịnh – Yên Bái với sưu tập hiện vật đồ đồng đa dạng, trong đó có thạp đồng Đào Thịnh và nhiều trống đồng Đông Sơn. Đó là Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc, lại là địa danh văn minh Đông Sơn xuất sắc vùng hạ lưu sông Hồng phía dưới Việt Trì.
Ở Cổ Loa có nhiều trống đồng Đông Sơn thuộc trống loại I Hêgơ, có hàng vạn mũi tên đồng. Cũng tại khu vực Cổ Loa tìm thấy nhiều lưỡi cày đồng. Có lẽ chưa có một địa danh văn minh Đông Sơn nào lại quy tụ nhiều loại hiện vật có giá trị tiêu biểu như ở Cổ Loa.
Chinh phục đồng bằng sông Hồng
Việc dời đô về Cổ Loa, bỏ qua Việt Trì – Phú Thọ thời Hùng Vương chứng tỏ rằng, cư dân Việt cổ của nước Âu Lạc đã chinh phục được đồng bằng sông Hồng. Điều lý thú là hàng loạt lưỡi cày đồng tìm thấy ở Cổ Loa, chứng tỏ rằng lúc đó nghề nông làm lúa nước bằng cày (có thể do người kéo hay súc vật kéo) đã phát triển.
Cây lúa hạt thóc là lương thực chủ đạo của cư dân Âu Lạc, những ruộng lúa ven châu thổ sông Hồng đã chín vàng vào mùa khô là điều chắc chắn. Thời Âu Lạc của An Dương Vương đã khác thời Văn Lang của Hùng Vương về lương thực là rõ ràng. Bởi vì thời Hùng Vương đồng ruộng vùng trung du, những đồng bằng hẹp ven sông, lợi dụng thủy triều lên xuống để làm ruộng…
Tất nhiên, kết quả là có hạn. Đến thời An Dương Vương, ruộng đất được cày xới, nghề nông dùng cày hiệu quả hàng chục lần hơn nghề nông dùng cuốc thời Hùng Vương, là một tiến bộ vượt bậc. Với nông nghiệp dùng cày, kinh tế thời Âu Lạc đã đạt đến trình độ cao. Đó là thành tựu rực rỡ của Âu Lạc.
Phát triển đô thị cổ
Với thành Cổ Loa, lâu nay giới nghiên cứu nói nhiều đến ý nghĩa quân sự của tòa thành này. Nhưng điều mà ít người nói đến Cổ Loa là ở vị thế đô thị cổ của nó.
Có thể là trung tâm hành chính không phải là đô thị cổ và trung tâm quân sự chưa phải là đô thị cổ. Nhưng Cổ Loa là đô thị cổ đích thực, bởi trình độ kinh tế thời Âu Lạc đã được thể hiện ở Cổ Loa, từ làng mạc vươn tới đô hội, nơi có tất cả mọi ngành nghề, quay về hướng nam, nơi có đồng bằng màu mỡ, có nhiều con sông nối với Cổ Loa, sông Hồng, sông Cầu…
Ba hạng mục thành tựu rực rỡ của Âu Lạc như vẫn còn đó trong những gì mà người Việt cổ lưu lại cho con cháu, từ truyền thuyết – di tích – hiện vật đến tâm tưởng của mọi thế hệ con cháu của Âu Lạc.
11 cuốn sách nên đọc nếu bạn là fan Haruki Murakami
Posted on September 17, 2015Được mệnh danh như một kẻ mê sách trong nhóm bạn của mình, tôi giới thiệu cho mọi người rất nhiều tác phẩm văn chương. (Xét đến nghề nghiệp hiện tại của tôi, thì việc này cũng không hẳn ngạc nhiên). Khi ai đó hỏi tôi xem họ nên đọc gì, tôi luôn bắt đầu bằng cách cố khơi gợi cảm hứng trong họ – với việc hỏi, “Vậy, bạn thích đọc gì?” Câu trả lời phổ biến nhất tính đến bây giờ vẫn là “Thứ gì đó là lạ nhưng ấn tượng… giống Haruki Murakami”
Sự ám ảnh về Murakami đối với các bạn của tôi có lẽ không có gì bất ngờ, dựa vào việc ông được xem như là một trong những nhà văn còn sống vĩ đại nhất thế giới – nhiều năm qua, ông vẫn đứng đầu trong bảng dự đoán Vegas sẽ thắng giải Nobel Văn học. Nhà văn lập dị này thậm chí còn nổi tiếng hơn ở Nhật Bản, nơi mà gần đây ông vừa kết thúc cuộc dạo chơi của mình như một nhà tư vấn chuyên mục quái gỡ nhất thế giới, trong đó ông thú nhận mình không quan tâm đến những gì sẽ xảy ra sau cái chết miễn là ông được ăn những con hàu chiên giòn và nhắc đến Ray Charles với một chàng trai trẻ đau khổ.
Cảm giác lạ thường này chính là phần quan trọng góp nên độ nổi tiếng của Murakami. Sách của ông viết về nỗi cô đơn và mất mát, vâng, thế nhưng chúng cũng tràn đầy những tội ác đáng sợ, sự liên lạc thông qua những giấc mơ, và có phần xa rời thực tế.
11 cuốn sách sau có nội dung diễn biến còn hơn cả kỳ quái và rùng rợn có thể giúp bạn giải trí giữa những lần đọc lại cuốn “The Wind-up Bird Chronicle” (Biên niên ký chim vặn dây cót)
1. Geek Love (tạm dịch: Tình yêu kỳ quái) – Katherine Dunn
Cuốn tiểu thuyết của Dunn kể về những bi kịch, những câu chuyện méo mó của Binewskis, một gánh xiếc gia đình bình dân được dựng nên để chứa những thứ quái đản như: Một cậu bé xanh nhợt, một cặp song sinh dính liền cơ thể, một tên gù, và một đứa trẻ có vẻ bình thường. Dunn có cách viết hàm xúc tỉ mỉ – Đoạn tả cảnh nữ chủ nhân của gia đình bị gãy mất răng vẫn ám ảnh tôi trong những giấc mơ.
2. The Isle Of Youth (tạm dịch: Hòn đảo thanh xuân) – Laura Van Den Berg
Các câu truyện trong đây kể về những người phụ nữ trẻ tuổi trong những hoàn cảnh bức bối lại thiếu vắng đi sự phi thực tế trắng trợn vốn tồn tại trong những thế giới và những linh vật hợp thể chết người của Murakami. Thế nhưng, chúng lại có cùng âm điệu dự cảm ung dung của ông. Trong cả hai thế giới ấy, người ta đều có cảm giác mọi thứ không hẳn là đúng, nhưng cũng không biết lý do thật sự là vì sao.
3. Gun, With Occasional Music (tạm dịch: Súng, và những bản nhạc đặc biệt) – Jonathan Lethem
Cuốn tiểu thuyết đầu tay thường xuyên bị cho vào quên lãng của Lethem là một câu truyện tội phạm công nghệ cực kỳ thú vị kể về một thám tử tư đang điều tra về vùng đất Oakland của tương lai, nơi mà muôn thú đều có việc làm, mọi người đang phê thuốc, và những gã cảnh sát cố kiếm vài món hời. Đó chính là Murakami với những yếu tố thể loại đạt đến cực đại – kỳ lạ đến khó tin và tài tình đến dị thường.
4. Out – Natsuo Kirino
Không có bất cứ điều gì đặc biệt cụ thể để nói về tiểu thuyết của Kirino. Truyện kể về bốn phụ nữ bị đẩy vào một âm mưu tội ác sau khi một trong số họ ra tay sát hại người tình của chồng mình. Thế nhưng mảng tối gay gắt về vị trí của người phụ nữ trong văn hóa Nhật Bản này lại cho chúng ta một chân dung vững chãi của rất nhiều đề tài lẫn chủ đề trong sách của Murakami, và cuốn tiểu thuyết cũng có một chỗ đứng riêng nhờ vào yếu tố li kì giật gân của nó.
5. The Sacred Book Of The Werewolf (tạm dịch: Thánh kinh của Ma sói) – Victor Pelevin
Bạn có thể miêu tả một cách hợp lý rằng tác phẩm The Sacred Book Of The Werewolf tựa như một cuốn tiểu thuyết được kể bởi một trong những “con đĩ” tinh thần của Murakami. Thế nhưng làm như vậy sẽ là đối xử bất công đối với lối kể chuyện đặc sắc của Pelevin: Một con sói thành tinh 2000 năm tuổi đã sống bằng trí tưởng trượng của những người đàn ông và những nàng thơ trong triết học của Phật giáo.
6. The Haunting Of Hill House (tạm dịch: Ngôi nhà bị ám trên đồi) – Shirley Jackson
Bạn có thể sẽ không biết Shirley Jackson là ai, ngoài một phụ nữ viết truyện kinh dị về những người ném đá tới chết mà thầy cô bắt bạn đọc khi còn học lớp 7. Nhưng sau nhiều thập kỷ bị thờ ơ lãnh đạm, các tác phẩm của bà cuối cùng đã được nhìn nhận như những cuốn sách đáng được khen ngợi. Jackson là bậc thầy của của sự ma quái lẫn nỗi bất an, và trong cuốn tiểu thuyết này, bà đã nhúng tay vào ranh giới giữa sự siêu nhiên và tâm lý học một cách nhã nhặn, để lại cho bạn sự bấp bênh đến tận cùng như với những gì đang thật sự xảy ra trong ngôi nhà trên danh nghĩa.
7. Ficciones (tạm dịch: Hoang đường) – Jorge Luis Borges
Lần đầu tiên tôi đọc sách của Borgers là bằng tiếng Tây Ban Nha, ngôn ngữ mà tôi chỉ nói được ở mức tàm tạm . Vì thế những yếu tố kỳ lạ đáng kể trong tiểu thuyết của ông bỗng dưng lại tăng lên bởi những nhầm lẫn về ngôn ngữ của tôi. Tuy nhiên, khi đọc lại truyện của ông ấy bằng tiếng Anh, tôi có thể tự tin rằng sự tác động chưng hửng là có chủ ý. Ở những câu truyện trong thư quán lẫn trong những mê cung, Borgers đã đan cài giữa trí tượng thượng lẫn thực tế lại với nhau một cách liền mạch.
8. Cloud Atlas (tạm dịch: Vân đồ) – David Mitchell
Mitchel gần như cũng được hoan nghênh hệt như Murakami – Ít nhất là trong giới nói tiếng Anh – và ông cũng chia sẻ những trăn trở nhất định cùng với những nhà văn khác, bao gồm cả về lịch sử Nhật Bản cũng như những nối kết bí ẩn giữa các cá nhân. Tuy thế nơi mà Cloud Atlas thật sự tỏa sáng lại cởi mở rất không giống giống với Murakami. Mitchell mang đến 6 góc nhìn khác nhau ở 6 thể loại khác nhau, từ những lá thư của một nghệ sĩ dương cầm ở thế kỷ 19 đến những câu chuyện khoa học viễn tưởng của một người nhân bản nổi loạn trong thời kỳ đen tối của Hàn Quốc.
9. Super Sad True Love Story (tạm dịch: Câu chuyện tình buồn chân thật) – Gary Shteyngart
Nếu bạn thích những tác phẩm lãng mạn của Murakimi hơn là những tác phẩm uẩn khúc siêu hình của ông, thì tác phẩm cận tương lai của Shteyngart là một cuốn sách dành cho bạn. Chuyến hành trình đầy cam chịu của mối quan hệ giữa những người bạc nhược, người đàn ông trung niên Lenny Abramow và cô gái trẻ đẹp Eunice Kim được nêu rõ trong tựa đề cuốn tiểu thuyết. Thế như Shteyngart lại lèo lái những gì tưởng như chỉ là một câu chuyện tầm thường kể về một mỹ nhân nông cạn muốn tận dụng vẻ bề ngoài đượm buồn day dứt thành thứ gì đó phức tạp và chân thật hơn. Cuối truyện là một cái kết buồn, một miêu tả chân thật nhất về cuộc chia tay mà tôi có thể nhớ rằng mình từng đọc.
10. Paprika – Yasutaka Tsutsui
Cuốn tiểu thuyết này có lẽ là tác phẩm kỳ lạ nhất trong danh sách. Nó kể lại những nỗ lực của bác sĩ tâm thần Atsuko Chiba để ngăn những người đồng nghiệp đố kỵ sử dụng nghiên cứu của cô với mục đích xâm nhập vào giấc mơ của con người và lây truyền cho họ chứng tâm thần phân liệt. Tsutsui được biết đến rộng rãi ở Nhật Bản – Paprika được xuất bản năm 1993, và sau đó đã được chuyển thể thành một bộ phim nổi tiếng – Tuy nhiên ông xứng đáng với sự tuyên dương lớn hơn từ cộng đồng quốc tế.
11. The Passion (tạm dịch: Đam mê) – Jeanette Winterson
Cách cảm nhận của Winterson có đôi phần trái ngược có Murakami. Trong khi tác phẩm của bà đầy đam mê, thì của ông lại thờ ơ, bà ấm áp, ông lại lãnh đạm, bà dạt dào tình cảm, ông lại dè dặt. Thế nhưng cả hai tác giả đều có cùng một niềm say mê với cách mà lịch sử của chúng ta – Cá nhân và chính trị – hình thành nên chúng ta. The Passion kể câu chuyện về một trong những dấu chân chinh chiến của Napoleon và một phụ nữ, người có chồng đã mang trái tim của cô ra đặt cược.
Xuân Khanh
http://bookaholic.vn/11-cuon-sach-nen-doc-neu-ban-la-fan-haruki-murakami.html
Một kho tàng giàu có đang trở nên trống rỗng
TTCT – LTS: Bốn tháng sau khi Tô Ngọc Vân – tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam 1906-1954 hoàn tất, gặp lại tác giả khảo cứu này, ông Phan Cẩm Thượng, vẫn thấy ông than buồn.
![]() |
| Họa sĩ Phan Cẩm Thượng (phải) và nhà văn Nguyễn Văn Thọ – Ảnh: Tường Linh |
TTCT mời bạn nghe cuộc trò chuyện giữa nhà văn Nguyễn Văn Thọ với nhà nghiên cứu văn hóa và phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng.
Thấy được thân phận con người
* Nguyễn Văn Thọ: Năm nào, với tư cách như một nhà nghiên cứu văn hóa Việt, ông đã giới thiệu cuốn Văn minh vật chất của người Việt. Nay với tư cách nhà nghiên cứu hội họa, ông lại khảo cứu Tô Ngọc Vân – tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam 1906-1954 cho bộ sưu tập của nhà sưu tập Thái Tira Vanichtheeranont. Ngọn nguồn của quyển sách này là từ đâu, thưa ông?
|
Những công trình quan trọng của nhà nghiên cứu văn hóa và phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng: + Sách khảo cứu văn hóa: Văn minh vật chất của người Việt – Nhà xuất bản Tri Thức 2011. + Sách khảo cứu hội họa: 1- Những tác phẩm vô giá của hội họa Việt Nam hiện đại (đồng tác giả cùng Nguyễn Anh Tuấn) – Nhà xuất bản Mỹ Thuật 2010. 2- Tôn Đức Lượng ký họa lịch sử – Nhà xuất bản Mỹ Thuật 2012. 3- Tô Ngọc Vân – tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam 1906-1954 – Nhà xuất bản Tri Thức 2014. |
– Phan Cẩm Thượng: Năm 2012, nhà sưu tập người Thái Tira Vanichtheeranont có ý định mua toàn bộ tư liệu ký họa của cố họa sĩ Tô Ngọc Vân thông qua người con trai ông là họa sĩ Tô Ngọc Thành. Ông Tira có nhờ tôi qua xem trước, tôi vô cùng ngạc nhiên về chất lượng và những vấn đề xã hội mà họa sĩ Tô Ngọc Vân ghi chép.
Tôi hình dung nếu xây dựng từ những tư liệu này sẽ là cuốn sách tốt để làm sáng tỏ lứa họa sĩ Việt Nam cùng một hoàn cảnh xã hội. Sau đó, họ tiến hành mua các ký họa làm hai đợt, việc này tôi không được tham gia, chỉ biết là với 380 ký họa sổ tay của Tô Ngọc Vân, ông Tira đã nhờ tôi dựng nên cuốn sách này. Cuối năm 2013 tôi viết xong, đầu năm 2014 cuốn sách được Nhà xuất bản Tri Thức phát hành, ông Tira là người đầu tư làm và in sách.
Tô Ngọc Vân là họa sĩ lứa Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, theo giáo sư Nora A. Taylor là “một trong những nghệ sĩ quan trọng nhất của Việt Nam trong thế kỷ 20”. Có phải đó là lý do ông nghiên cứu Tô Ngọc Vân?
– Tôi không kén chọn nghệ sĩ, miễn là đủ tài liệu về chính họ và đủ khả năng để làm. Nhưng xem trong tất cả các họa sĩ Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương không ai bám vào hiện thực xã hội Việt Nam rõ như Tô Ngọc Vân. Nghiên cứu Tô Ngọc Vân có khả năng dựng lên bức tranh toàn cảnh về đời sống của người Việt nửa đầu thế kỷ 20, đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
* Tựa đề sách rất quan trọng và ấn tượng: Tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam, xin họa sĩ lý giải cụm từ này?
– Có nhiều họa sĩ vẽ đẹp, nhưng không có nhiều nghệ sĩ là tấm gương phản chiếu xã hội, hai việc đó cũng khác nhau. Thời kỳ Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và chín năm kháng chiến chống Pháp, chúng ta chưa phát hiện được nghệ sĩ nào bao quát đời sống xã hội sâu sắc đến như thế, còn rõ hơn cả những tác phẩm văn học mà tôi được đọc, có thể đây là cảm giác của những người làm mỹ thuật chúng tôi.
Nhưng qua những gì ông Vân vẽ, tôi thấy được thân phận của con người, đặc biệt là người nông dân trong cuộc chiến. Tôi có đọc loạt bài của Lênin viết về Tolstoy với nhan đề “Tolstoy – tấm gương phản chiếu cách mạng Nga”. Tôi nghĩ là ở Việt Nam, Tô Ngọc Vân cũng làm được như vậy.
* Trong từng bức ký họa chi tiết đều có những dòng nhận xét khá cụ thể, đó là ý kiến của cá nhân ông hay là một tập thể? Ông có sự giúp đỡ nào của các đồng nghiệp không?
– Để tiến hành cuốn sách, trước tiên tôi nhờ hai bạn trẻ là Nguyễn Hoàng Yến và Phan Tường Linh đến nhà họa sĩ Tô Ngọc Thành ghi chép bất kỳ tư liệu nào mà ông Thành có thể kể được, trước tiên là giải thích những gì ông Vân vẽ. Ngoài cung cấp ít nhiều thông tin, ông Thành cho tôi xem rất nhiều tư liệu, ghi chép, thư từ, nhật ký, bản kiểm thảo, giấy công tác, giấy quyết định của chính ông Tô Ngọc Vân giữ và viết. Đây đều là tài liệu gốc đáng quý từ chính họa sĩ – là người rất có ý thức về cá nhân mình.
Tôi còn đi hỏi vài người từng biết Tô Ngọc Vân như họa sĩ Mai Long, học trò ông Vân trong khóa kháng chiến, nhà văn Nguyên Ngọc về Đại hội văn hóa văn nghệ Việt Bắc năm 1948, ông Lại Nguyên Ân về văn bản học, hỏi nhà lịch sử quân sự Hồ Sơn Đài về những đơn vị bộ đội ông Vân đến vẽ…
Những tham khảo này không nhiều lắm, vì câu chuyện ông Vân đã qua lâu rồi, vài người có gợi ý tôi nên hỏi nhà văn Tô Hoài và nhà văn Vũ Tú Nam nhưng tôi không làm, vì nghĩ thôi tự mình tìm những dấu vết của ông Tô Ngọc Vân cũng được. Tôi dành thời gian tìm lại những địa điểm mà ông Vân di chuyển trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt ở Thái Nguyên và Phú Thọ.
Công trình Tô Ngọc Vân 421 trang, trong đó ông đã loại bỏ 28 bức ký họa mà theo cá nhân ông thiếu độ xác tín rằng của họa sĩ.
– 28 ký họa, tôi không tin chắc rằng ông Vân đã vẽ nên loại bỏ không in vào sách, vì chất lượng vẽ rất thấp, chỉ na ná giống ông Vân vẽ. Nhà sưu tập cũng nhất trí với tôi việc này. Còn một số bức khác tôi chấp nhận theo kiểu người phương Tây làm là nghi vấn nhưng có thể tham khảo về họa sĩ và đề là Artist Studio, tức là bức họa đó xuất phát từ xưởng vẽ của họa sĩ nhưng không khẳng định do chính họa sĩ vẽ ra, nhưng có giá trị tham khảo vấn đề xã hội từ đó.
Để làm được điều đó, tôi nghiên cứu rất kỹ phong cách và bút pháp của Tô Ngọc Vân, tìm ra được những đặc điểm riêng mà chỉ chính ông làm được.
![]() |
| Nông thôn Minh Cầu, năm 1952. Bút sắt và bút chì trên giấy |
![]() |
| Ký họa các dáng chiến sĩ trung đoàn Thủ đô. Khoảng những năm 1949. Bút sắt trên giấy |
![]() |
| Phác thảo thiếu nữ, khoảng những năm 1939-1942. Bút sắt và bút chì trên giấy |
Hoàn thành sách, chỉ thấy buồn
* Công trình này tiến hành trong hai năm, lại hai lần sang tận Thái Lan để trực tiếp thẩm tra từng trang tài liệu gốc của họa sĩ Tô Ngọc Thành. Theo tôi đây là một công trình lớn. Vậy chủ quan, nếu ở tầm nghiên cứu, Nhà nước phải chi phí khoảng bao nhiêu ở các công trình tương tự, và cá nhân ông thực tế được trang trải bao nhiêu để dành cho công trình này?
– Tôi không giấu gì việc này. Tôi chỉ có thể đi hai lần sang Bangkok để xem tư liệu, lần đầu để làm sách, lần cuối để đối chiếu xem mình có sai gì không, các chi phí cho chuyến đi nằm trong tiền nhà sưu tập trả một lần nên đi nhiều thì tự tốn thôi. Ông Tira trả cho chi phí biên soạn sách là 9.000 USD, tức khoảng 180 triệu đồng.
Chia ra cho hai năm làm việc, đi lại, tư liệu, coi như tôi nhận lương 10 triệu đồng/tháng để làm việc. Số tiền đó hoàn toàn hết sau khi cuốn sách in xong. Nhưng tôi thấy việc làm của ông Tira là vì nền văn hóa Việt Nam, Tô Ngọc Vân cũng xứng đáng như vậy, nên tôi không thấy thiệt thòi gì cả vì mình cũng đã làm được một việc tốt.
Tôi có hai lần được Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam cho 10 triệu đồng và hai lần của Hội Mỹ thuật cho 5 triệu đồng. Tổng cộng là 30 triệu cho cả 30 năm nghiên cứu, ngoài những đồng nhuận bút ít ỏi, nên số tiền của ông Tira với tôi là quá lớn rồi. Tôi không biết Nhà nước đầu tư cho các công trình nghiên cứu là bao nhiêu. Với số công trình tôi đã xuất bản mà không có đầu tư gì, tôi nghĩ đã được trời và tổ tiên thương rồi.
* Cuốn sách, một công trình đồ sộ về Tô Ngọc Vân, đã ra đời, nhưng tác động của nó như thế nào? Có ai quan tâm tới nó không?
– Sách in ra phần lớn thuộc về ông Tira, ngoài biếu một ít ở buổi giới thiệu, nhà xuất bản chỉ nhận 100 cuốn để bán, giá hơn 1 triệu đồng, cũng ít ai muốn mua. Có nhiều người biết, nhưng thật sự quan tâm, tôi nghĩ không nhiều. Báo chí, truyền hình cũng đưa tin giới thiệu rất trang trọng, nhưng rồi cũng như mọi chuyện khác thôi. Văn hóa chưa thật sự có được quan tâm theo chiều sâu và tâm hồn. Tôi không chắc Bộ Văn hóa, hội mỹ thuật, trường mỹ thuật biết có cuốn sách này.
* Ông suy nghĩ thế nào nếu như một nền hội họa với những người như Tô Ngọc Vân lại được người nước ngoài, những nhà sưu tập tranh nước ngoài quan tâm nhiều hơn trong nước?
– Trong họp báo, tôi nói khi sách hoàn thành tôi không thấy vui mà chỉ thấy buồn. Gọi là một danh họa mà tất cả sưu tập, xuất bản sách, gìn giữ đều do một người nước ngoài, trong khi trong nước ít ai quan tâm. Việc bộ ký họa đó của Tô Ngọc Vân ra nước ngoài là điều đáng tiếc với văn hóa Việt Nam – một kho tàng giàu có đang trở nên trống rỗng. Phải chăng đời sống văn hóa đang xuống cấp hiện nay vì cái kho trống rỗng này.
* Sau Tô Ngọc Vân, ông có dự kiến nghiên cứu ai nữa trong phạm vi nghiên cứu và phê bình hội họa?
– Nếu có người đặt viết sách như ông Tira, tôi vẫn có thể làm, còn để tự nhiên thì tôi dường như không còn khả năng (kinh tế) nữa. Tôi sẽ viết một vài cuốn cuối cùng về đời sống thôi, giống như cuốn Văn minh vật chất của người Viêt, vì tư liệu được chuẩn bị từ lâu rồi.
* Xin cảm ơn ông.
|
Một khám phá đầy trách nhiệm Danh họa Tô Ngọc Vân là một tài năng lớn. Đã có quá nhiều nhà nghiên cứu khai thác về ông nhưng chỉ qua Phan Cẩm Thượng, với kiến thức uyên thâm, sự làm việc cần mẫn, nghiêm túc và khoa học, thì con người và sự nghiệp của danh họa Tô Ngọc Vân mới được giải mã một cách chuẩn xác nhất. Tôi từng nghĩ mình đã hiểu về Tô Ngọc Vân, nhưng khi đọc và xem xong tập nghiên cứu của Phan Cẩm Thượng, tôi mới vỡ và hiểu thêm nhiều điều bổ ích khác. Công trình này là một sự khám phá đầy trách nhiệm. Mọi vấn đề phức tạp được Phan Cẩm Thượng trình bày một cách hết sức giản dị, chính xác, khoa học và dễ hiểu. Tập sách là một công trình nghiên cứu có giá trị cao, bổ ích và lý thú! (Họa sĩ Thành Chương nhận định về Tô Ngọc Vân – tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam 1906-1954) |
Thư của Tô Ngọc Vân gửi Matisse và Picasso
Trong tài liệu mà họa sĩ Tô Ngọc Vân để lại có hai bản thư nháp gửi danh họa Matisse và Picasso viết ngày 27-5-1951.
Kính gửi Họa sư Matisse
Tôi viết cho họa sư lá thư này ở một khu rừng rậm, chung quanh là những dẫy núi cao hiểm trở. Bên cạnh tôi mấy tấm chuyền bản in mầu một số tác phẩm của họa sư. Những chuyền bản này, khi tôi rời thủ đô Hà Nội, bị giặc tạm chiếm trở lại, tôi đã mang theo năm năm nay trong gói hành lý nhỏ của cuộc đời kháng chiến.
Lúc tôi mới vào học nghề họa năm 1926 ở Trường Mỹ thuật Đông Dương, lần đầu tiên được tiếp xúc với tác phẩm của các ông trong hàng ngũ mỹ thuật tân tạo (art modern), một số chúng tôi cảm thấy trong đó vẻ gì làm chúng tôi gần các ông lạ. Và xa lắc chúng tôi, những giáo viên người Pháp kiểu hàn lâm hồi đó có nhiệm vụ huấn luyện tại trường. Phải chăng cái vẻ ôn hòa, đầm ấm, thảnh thơi tiết ra ở mầu sắc của ông, của Marque, của Bonnard? Hay cái nhìn giản dị, hiền lành âu yếm của những tác phẩm ấy?
Ngày nay tôi được biết các ông cũng có nhiều người tranh đấu cho hòa bình, chống bọn thực dân xâm lăng, chúng tôi lại hiểu thêm tại sao chúng ta gần nhau đến thế…
![]() |
| Họa sĩ Tô Ngọc Vân |
…Hồi bọn Nazis Đức chiếm đóng nước Pháp, các ông tổ chức công việc họa thế nào? Những kinh nghiệm của các ông, nếu chúng tôi được biết sẽ giúp ích chúng tôi lắm.
…Chúng tôi theo quân đội, ở tiền tuyến, hoặc sống với đồng bào hậu phương, chung nỗi sướng khổ với nhau, tin tưởng chờ ngày toàn thắng. Những nét sinh hoạt ấy đa số chúng tôi chỉ mới kịp ghi chép trong những bức ký hình (croquis). Ngoài ra, anh em có làm một số tranh có tính chất xây dựng, nhưng chẳng là bao. Năm nay tôi hi vọng làm việc hơn nhiều. Một thời gian ngắn nữa, chúng tôi mong có sản phẩm để gửi sang các ông, trông ở các ông lời phê bình thành thực.
Ngoài tranh sơn dầu, chúng tôi đang cùng nhau cải tiến kỹ thuật sơn mài (laque), cái thứ sơn mà Dumand ở Paris dùng làm tranh trang trí, nhưng chúng tôi lại hướng nó về phía khác, phía hội họa. Sơn mài có một chất phẩm (matière) phong phú lạ kỳ, ông ạ! Giá chúng tôi được gần ông lúc này nhỉ, để ông thấy sơn mài và góp ý kiến chúng tôi…
Kính gửi Họa sư Picasso
Nhân có bạn chúng tôi sang dự Festival de Berlin, tôi trân trọng gửi lời chào họa sư. Họa sư là một người anh cả trong nghề họa, đã xây dựng hội họa Âu châu hiện đại, họa sư lại còn là người anh cả chúng tôi đứng vào hàng ngũ dân chủ để tranh đấu cho hòa bình tự do của nhân loại! Họa sĩ đã làm vinh dự cho giới họa.
Chúng tôi nghĩ rằng con người có được tự do thời người nghệ sĩ trong con người ấy mới được phát triển đầy đủ và xứng đáng. Bởi vậy bị ép nén dưới sự đàn áp của thực dân Pháp, hội họa Việt Nam đã không có cơ tiến bộ. Bởi vậy những người văn nghệ chúng tôi, cùng toàn dân Việt Nam, quyết đứng dậy đuổi bọn thực dân ra khỏi nước Việt Nam, đuổi đến kỳ cùng.
Họa sư có thể ngờ rằng đã có lần bọn cai trị Pháp cấm chúng tôi triển lãm ở Hà Nội (năm 1941 thì phải), mà đề tài tranh lúc ấy chỉ là tranh đàn bà, hoa quả, phong cảnh. Thật là lố bịch. Chúng tưởng có thể kéo dài sự chà đạp ấy mãi.
Ngày nay chúng tôi không chịu thế nữa. Thế giới lành mạnh cũng không để như thế nữa. Những người văn nghệ có uy tín thế giới như họa sư cũng không muốn nhìn thấy những cảnh ấy nữa. Thì những bọn thực dân ở Pháp hay ở bất cứ nơi nào trên thế giới sẽ phải tiêu diệt. Lúc ấy, cái vườn tinh hoa hội họa sẽ tươi nở khắp nơi”…
NGUYỄN VĂN THỌ thực hiện
http://tuoitre.vn/tin/tuoi-tre-cuoi-tuan/20140512/mot-kho-tang-giau-co-dang-tro-nen-trong-rong/606286.html
VỀ HỌA SĨ – NHÀ PHÊ BÌNH MỸ THUẬT PHAN CẨM THƯỢNG:









































