Monthly Archives

October 2015

Akira Kurosawa Film studies Literature Văn học & Điện ảnh Văn học Nhật Bản

Truyện “Rashomon” và “Trong rừng trúc” – Akutagawa Ryunosuke

1) Cổng Rashomon – Akutagawa Ryunosuke

Chuyện vào một ngày nọ lúc trời đã về chiều. Có một gã nô bộc đang chờ tạnh mưa dưới cổng Rashomon.
Dưới chiếc cổng lớn, ngoài gã đàn ông này ra chẳng có ai khác. Trên chiếc cột lớn sơn son đỏ mà nước sơn đã bị bong loang lổ đó đây, chỉ có mỗi một con dế mèn đang đậu ở đấy. Cổng Rashomon ở ngay trên đại lộ Suzaku cho nên ngoài gã đàn ông này bình thường lẽ ra cũng có thể có thêm vài ba người khác, đàn bà thì đội nón lá ichimegasa hay đàn ông đội mũ momieboshi đứng tránh mưa. Thế nhưng ngoài gã ra không có ai cả.
Số là vì mấy năm gần đây kinh thành Kyoto cứ bị hết hoạ này lại đến nạn kia, hết động đất, giông bão, hoả hoạn, lại đến nạn đói kém. Vì thế mà chốn kinh sư tiêu điều xơ xác thật khác thường. Cổ thư còn ghi chép lại những chuyện như tượng Phật và đồ thờ tự bị chẻ ra, gỗ sơn son hay thếp bạc cũng bị chất đống bên đường để bán làm củi đốt. Chốn kinh thành mà còn như thế, huống hồ cổng Rashomon này, chẳng ai ngó ngàng đến chuyện trùng tu sửa sang. Cổng bị bỏ mặc tiêu điều hoang phế, chỉ tổ cho chồn cáo cùng quân trộm cắp thừa cơ đến dùng làm nơi trú ẩn. Thậm chí cả những xác chết đường chết chợ không người tới nhận cũng được đem vứt ở đây, như đã thành một cái lệ. Vì thế hễ trời chạng vạng tối là mọi người đều ghê sợ, chẳng một ai dám bén mảng đến gần.
Thay vào đó, vô số quạ không biết từ đâu kéo cả về đây. Ban ngày nhìn về phía cổng thấy không biết bao nhiêu là quạ bay thành vòng tròn, vừa kêu vừa lượn lờ quanh miếng ngói phù điêu trên cùng. Nhất là hễ đến lúc ráng chiều nhuộm đỏ khoảng trời phía trên cổng, thì nom cứ như là nền trời có rắc vừng đen. Dĩ nhiên lũ quạ đến rỉa xác người chết vứt nơi cổng.
Thế nhưng hôm nay, có lẽ kể về giờ giấc thì cũng đã muộn, chẳng thấy bóng dáng một con quạ nào cả. Chỉ thấy đó đây lốm đốm màu bạc phếch của phân quạ dính vào những bậc đá chỉ chực lở và cỏ mọc um tùm từ nhũng kẽ nứt. Gã nô bộc ngồi ở bậc trên cùng của bậc đá có bảy bậc, đặt mông trên vạt sau của chiếc áo xanh lam đã giặt đến bạc màu, vừa mân mê mụn trứng cá to tướng mọc trên má bên phải vừa lơ đãng nhìn mưa rơi.
Tác giả vừa viết ở trên rằng “gã nô bộc đang chờ tạnh mưa”. Nhưng dù trời có tạnh mưa đi nữa, gã nô bộc này cũng chẳng có việc gì để làm. Thông thường dĩ nhiên là gã sẽ đi về nhà chủ. Nhưng gã lại mới bị chủ cho thôi việc từ bốn năm hôm nay. Như đã viết ở trên, lúc bấy giờ Kyoto đã suy tàn lắm rồi. Gã nô bộc này bị người chủ mà gã hầu hạ lâu năm cho thôi việc, thật ra cũng là ít nhiều do sự suy tàn ấy mà ra chứ chẳng phải gì khác. Vì thế thay vì viết “gã nô bộc đang chờ tạnh mưa”, phải viết là “gã nô bộc không đi đâu được vì trời mưa, và gã đã đến bước đường cùng chẳng biết về đâu nữa” mới đúng. Hơn nữa, bầu trời u ám hôm nay chẳng nhiều thì ít cũng đã khiến gã nô bộc thời Heian(°)này chạnh lòng. Cơn mưa đổ xuống từ giờ thân đến giờ vẫn chẳng có vẻ gì là muốn ngớt. Vì thế trước mắt, gã chưa biết ngày mai sẽ phải làm gì để sống qua ngày, từ nẫy đến giờ gã vẫn vừa miên man nghĩ ngợi tìm cách xoay sở làm sao ra khỏi bước đường cùng, vừa lơ đãng nghe tiếng mưa rơi trên đại lộ Suzaku .
Mưa rào rào từ xa tới bao trùm lên cổng Rashomon. Bóng chiều như kéo màn trời sa xuống thấp, ngẩng nhìn lên thấy hàng ngói chênh chếch đầu hồi trên mái cổng như đang đỡ cả một màn mây nặng trĩu u ám.
Một khi đã không còn cách nào khác, không làm sao hơn được, thì đâu còn có thể kén chọn nữa. Nếu còn kén chọn, thì chỉ có mà chết đói, không chết trong nhà thì cũng chết đường chết chợ, rồi sẽ bị đem ra vứt trên cổng này như người ta vứt xác của một con chó mà thôi.
Nếu đừng kén chọn nữa- gã nô bộc cứ nghĩ tới nghĩ lui quanh quẩn mãi không biết bao lần để rồi cuối cùng ngừng lại ở chỗ đó. Tuy vậy ngay cả khi đã nghĩ tới “nếu đừng kén chọn” rồi, nhưng quanh đi quẩn lại vẫn còn dừng lại ở chỗ “nếu đừng kén chọn.” này, thì rút cuộc vẫn mãi mãi chỉ là một chữ “nếu “. Dù gã nô bộc đã nhủ lòng sẽ không kén chọn -không từ bất cứ điều gì- , thế nhưng gã vẫn không có can đảm tiến thêm đến chỗ khẳng định cái điều đương nhiên phải đến tiếp theo sau câu “nếu đừng kén chọn ” -để ngã ngũ cho xong chuyện -, tức là ” thì chẳng còn cách nào khác là đành làm quân trộm cắp vậy.”
Gã nô bộc hắt hơi thật mạnh, rồi uể oải đứng dậy. Hơi lạnh buổi chiều ở Kyoto đã đến độ cần có lò than để sưởi ấm. Gió luồn giữa những hàng cột, cùng với bóng chiều đang dần xuống, lồng lộng thổi. Con dế mèn đậu trên chiếc cột loang lổ nước sơn đã bò đi đâu mất.
Gã nô bộc vừa kéo cao cổ áo màu lam mặc bên ngoài chiếc áo cánh màu vàng, rụt cổ lại, vừa đưa mắt nhìn quanh cổng. Gã nghĩ bụng nếu có chỗ nào không sợ bị mưa gió, không ngại có người trông thấy, để đánh một giấc ngon lành, thì gã sẽ ngủ ở đó cho qua đêm nay. Tức thì, may đâu chiếc cầu thang cũng sơn son đỏ, bề ngang khá rộng, bắc lên tầng gác của chiếc cổng đã lọt vào mắt gã. Ở trên ấy thì dù cho có người chăng nữa, chắc cũng chỉ toàn là người chết. Gã nô bộc bèn vừa cẩn thận giữ cho thanh đao đeo bên hông khỏi tuột ra khỏi vỏ, vừa đặt bàn chân mang đôi dép rơm lên bậc dưới cùng của cầu thang.
Thế rồi, một vài phút sau đó. Trên bậc giữa của cầu thang bắc lên gác cổng Rashomon, một gã đàn ông đang co người lại như con mèo, nín thở nghe ngóng động tĩnh trên gác. Một ánh lửa leo lét chập chờn trên gác lờ mờ soi xuống gò má bên phải của gã, gò má có một cái mụn trứng cá mưng mủ sưng đỏ lên ở giữa đám râu ria lởm chởm. Thoạt đầu gã nô bộc cứ đinh ninh rằng ở trên ấy chỉ toàn là người chết. Nhưng chỉ mới bước lên được hai ba bậc thang và nhìn xem thử, gã thấy ở trên đó có ai đang thắp lửa, mà ánh lửa ấy hình như đang chuyển động về phía này. Đó là một ánh lửa đục tối và vàng vọt, chập chờn chiếu lên trần nhà có giăng đầy mạng nhện đến khắp mọi xó xỉnh, thoạt nhìn đã nhận ra ngay. Một kẻ dám đốt đèn trên gác cổng Rashomon trong đêm mưa như thế này ắt chẳng phải là người bình thường.
Gã nô bộc rón rén lần bước như một con thạch sùng, mãi mới lên đến bậc trên cùng của chiếc cầu thang dốc dác. Thế rồi gã cố nằm bẹp xuống bám mình vào sàn gác, cần cổ thì cố vươn về phía trước, rụt rè dòm vào trong gác.
Gã nhìn thử thì thấy trong lòng gác, quả đúng như lời đồn đại, có một vài xác chết bị vứt nằm ngổn ngang. Chỗ có ánh lửa soi tới hoá ra không rộng lắm nên cũng không rõ là trên ấy có bao nhiêu xác chết. Chỉ có điều là lờ mờ trông thấy trong đó
có xác thì trần truồng, có xác thì có mặc quần áo. Dĩ nhiên hình như trong đó cũng có cả xác đàn ông lẫn với xác đàn bà. Và tất cả những xác chết ấy đều như những hình nhân nặn bằng đất sét, miệng há hốc, tay thò ra, nằm lăn lóc trên sàn, thật không ngờ trước đó đã từng là những con người có sự sống. Hơn nữa những phần thân thể nhô cao như vai và ngực phản chiếu ánh lửa mơ hồ đổ bóng xuống làm cho những phần thân thể thấp hơn càng thêm u tối, lặng thinh câm nín ngàn đời.
Gã nô bộc vội bịt mũi vì mùi hôi thối của những xác chết đã rữa nát ấy. Nhưng chỉ trong một phút sau đó, bàn tay ấy đã quên cả bịt mũi lại. Đó là vì một cảm xúc vô cùng mãnh liệt đã cướp trọn khứu giác của gã đàn ông này.
Lúc ấy lần đầu tiên mắt gã nô bộc mới nhìn thấy có bóng người lom khom giữa đống xác chết. Một bà lão mặc chiếc áo kimono màu nâu vỏ dà, thấp bé, gầy gò, đầu tóc bạc phơ như một con khỉ. Bà lão ấy tay phải cầm một mẩu gỗ thông để đốt lửa, đang nhìn như soi vào mặt một trong những cái xác chết. Mái tóc dài cho thấy có lẽ đấy là xác của một người đàn bà.
Hết sáu phần là hoảng sợ, bốn phần còn lại là tò mò, nên lúc ấy gã nô bộc đã quên cả thở. Nếu mượn lời cổ thư thì đó là gã nô bộc cảm thấy như tóc trên đầu mình đang dựng đứng cả lên. Bấy giờ bà lão đặt mẩu gỗ thông xuống sàn gác, rồi đưa hai tay lên đầu của xác chết mà nẫy giờ bà vẫn nhìn chầm chập, làm như thể khỉ mẹ đang bắt chấy cho khỉ con, bà bắt đầu nhổ từng sợi của mái tóc dài ấy. Những sợi tóc dường như cứ thế rụng ra theo bàn tay của bà lão.
Nhìn từng sợi tóc rụng dần, nỗi kinh hoàng cũng biến dần trong lòng gã nô bộc. Và cũng đồng thời, dần dần mỗi lúc gã cảm thấy căm giận bà lão này hơn. Ồ không, nói rằng đó là lòng căm giận đối với bà lão này thì có lẽ là không đúng. Mà đúng ra đó là mối ác cảm đối với tất cả những điều ác trên đời, cứ mỗi lúc một bùng lên mãnh liệt trong lòng gã. Lúc này nếu có ai lại đem chuyện nên chịu chết đói hay nên thành kẻ trộm mà gã đàn ông này đã nghĩ đến khi còn ở dưới cổng lúc nẫy ra hỏi lại gã, thì có lẽ gã đã trả lời ngay không một chút nuối tiếc rằng gã sẽ chịu chết đói. Lòng căm ghét cái ác của gã đang bùng lên mãnh liệt như thế đó, giống như mẩu gỗ thông đang cháy mà bà lão để trên sàn kia.
Dĩ nhiên gã nô bộc không biết vì sao bà lão lại nhổ tóc của xác chết. Vì thế không biết có thể quy kết rằng đây là một việc thiện hay ác, một cách rạch ròi phân minh hay không. Thế nhưng đối với gã nô bộc này thì, chỉ nội chuyện nhổ tóc của xác chết trên gác cổng Rashomon trong đêm mưa hôm nay cũng đã đủ thành một điều ác không thể nào tha thứ được. Dĩ nhiên, gã nô bộc cũng đã quên bẵng rằng mãi cho đến lúc nẫy thì chính gã cũng đã có ý định trở thành quân trộm cắp đấy thôi.
Thế là gã nô bộc bỗng bước thật mạnh trên chiếc cầu thang và leo lên gác. Rồi vừa đặt tay lên thanh đao, gã vừa bước sải mấy bước đến trước mặt bà lão. Đương nhiên là bà lão hết sức ngạc nhiên.
Bà lão nhìn thấy gã nô bộc thì giật bắn cả người, như thể tên vừa bị bật khỏi nỏ.
-Mụ kia, mụ định chạy đi đâu ?
Gã nô bộc chận đường bà lão đang bị vấp phải xác chết khi bà hớt hải tìm đường chạy trốn, và quát mắng như thế. Bà lão vẫn cố gạt gã ra để chạy đi. Gã nô bộc lại đẩy bà lão lui lại, cố không cho bà chạy thoát. Hai người chẳng nói chẳng rằng cứ giằng co xô đẩy nhau như vậy giữa đống xác chết. Nhưng thắng bại thì đã rõ ngay từ đầu. Cuối cùng gã nô bộc nắm lấy cánh tay bà lão bẻ vặn sang một bên, cánh tay chỉ còn đúng có da bọc xương như một cái chân gà.
-Mụ làm gì ở đây nẫy giờ. Nói, nói ngay không thì mụ biết tay ta ! .
Gã nô bộc bỗng thình lình gạt bà lão ra, tay rút đao ra khỏi vỏ, khua thanh đao bằng thép sáng loáng trước mắt bà lão. Thế nhưng bà lão vẫn làm thinh. Hai tay bà run lẩy bẩy, vai co lại thở dốc, hai mắt mở trừng trừng tưởng chừng con ngươi sắp văng ra ngoài, và bà vẫn một mực nín thinh như thể một người câm. Thấy thế, gã nô bộc chợt hiểu rõ rằng mạng sống của bà lão này giờ đây hoàn toàn ở trong tay mình. Nghĩ đến đấy sự căm ghét đang bừng cháy trong lòng gã nẫy giờ chẳng mấy chốc đã dịu xuống. Và rồi sau đó chỉ còn lại sự đắc ý dễ chịu, hài lòng vì làm được một việc, và đã hoàn thành công việc ấy thật mỹ mãn. Gã nô bộc cúi nhìn bà lão, hạ giọng nói:
-Ta chẳng phải là sai nha coi việc xét xử gì cả, mà chỉ là khách đi đường qua dưới cổng này chiều nay. Vì vậy ta không trói mụ hay làm gì mụ đâu. Thế nhưng, mụ làm gì trên gác này nẫy giờ, mụ chỉ cần kể cho ta nghe là đủ rồi.
Bấy giờ đôi mắt đã mở to của bà lão lại càng trợn lên nhìn chòng chọc vào mặt gã nô bộc. Vành mắt đỏ lòm, bà lão nhìn gã bằng đôi mắt sắc như của loài cú vọ chuyên ăn thịt. Thế rồi đôi môi nhăn nheo và hầu như đã dính liền với mũi khẽ động đậy như đang nhai cái gì. Cục yết hầu xương xẩu nhọn hoắt chạy lên chạy xuống trên cổ trông thấy rõ. Đúng lúc đó, từ trong cái cổ họng ấy phát ra một thứ âm thanh nghe như tiếng quạ kêu, hổn hển lọt vào tai gã nô bộc.
-Ta định nhổ những sợi tóc này, nhổ những tóc này, để kết tóc giả.
Gã nô bộc thất vọng vì câu trả lời của bà lão không ngờ lại tầm thường quá. Trong lúc thất vọng như thế thì đồng thời, lòng căm giận lúc nẫy cùng với sự lạnh nhạt khinh bỉ lại ùa vào lòng gã. Bà lão có vẻ cũng nhận ra được điều đó. Một tay vẫn còn cầm mớ tóc dài mới nhổ vừa đoạt từ xác chết, bà lão lẩm bẩm, nghe như một con cóc gớm ghiếc đang ộp oạp trong miệng như sau
– ƯØ, thì cho là nhổ tóc của xác chết như thế này có lẽ ác lắm cũng không chừng đấy . Nhưng lũ người chết đang nằm đây cũng toàn là một bọn đã làm những chuyện đáng để bị như thế. Như con đàn bà mà ta đang nhổ tóc của nó đây, nó đã bắt rắn chặt ra thành từng khúc đem phơi khô mà bảo đó là cá khô, đem bán cho bọn lính gác ở Đông Cung. Nếu nó không bị bệnh dịch mà chết thì bây giờ có lẽ nó cũng đang đi bán đấy. Ấy thế mà cá khô của nó bán lại có tiếng là ngon, không lần nào mà bọn lính tráng không mua về ăn. Ta không nghĩ rằng việc con đàn bà này làm là điều ác. Vì không làm thế thì chết đói, chẳng qua là bất đắc dĩ thôi. Đã vậy, thì bây giờ cũng thế, ta cũng không cho rằng điều ta đang làm là điều ác. Vì nếu không làm như vậy sẽ phải chết đói, đó chẳng qua chỉ là một điều bất đắc dĩ mới phải làm đấy sao. Vì thế con đàn bà này cũng đã biết rõ rằng có những điều bất đắc dĩ mới phải làm, cho nên có lẽ nó cũng bỏ qua cho việc mà ta đang làm.
Bà lão nói đại khái như thế.
Gã nô bộc tra đao vào vỏ, vừa chận tay trái lên chuôi đao, vừa nghe câu chuyện của bà lão với vẻ lãnh đạm. Tai nghe mà bàn tay phải vẫn mân mê mụn trứng cá lớn đang mưng mủ đỏ lòm trên má. Thế nhưng, trong lúc nghe bà lão nói như thế, lòng gã dần dần trở nên can đảm hơn. Đó là sự can đảm mà lúc nẫy khi còn ở dưới cổng gã còn thiếu. Và đó là sự can đảm hoàn toàn trái ngược với lòng dũng cảm khi gã leo lên gác của chiếc cổng này và đã tóm lấy bà lão. Gã nô bộc không chỉ không còn phân vân không biết nên đành chịu chết đói hay trở thành kẻ trộm cắp nữa. Trong bụng của gã lúc này, nói thẳng ra là, cái ý nghĩ đành chịu chết đói gì đó hầu như đã bị xua đi mất tiêu, khiến gã như không còn bận tâm gì về điều ấy nữa.
-Ra thế ! Chắc phải thế !
Bà lão vừa kể xong, gã nô bộc cười khẩy nói như tự nhủ. Và rồi, gã bước tới một bước, tay phải bỗng rời cái mụn trứng cá trên má, gã nắm lấy cổ áo bà lão gằn giọng nói :
-Vậy ta có lột áo của mụ thì mụ cũng đừng có oán trách gì nhé . Vì ta mà không làm thế này thì cái thân ta cũng chết đói thôi.
Gã nô bộc lột phắt cái áo của bà lão. Đoạn gã tàn nhẫn đá bà lão, còn đang cố ghì lấy chân gã , khiến bà ngã lăn ra trên những xác chết. Chỉ độ dăm bước là đến miệng cầu thang. Gã nô bộc cắp chiếc áo kimono màu nâu vỏ dà vừa tước đoạt của bà lão vào nách, chỉ trong chớp mắt gã đã theo chiếc cầu thang dốc dác tuột xuống đất, rồi mất hút vào bóng đêm.
Một lát sau, bà lão bị ngã tưởng suýt chết ngóc được dậy, trần truồng giữa những xác chết. Bà cất giọng vừa như lẩm bẩm vừa như rên rỉ, lần theo ánh lửa vẫn còn leo lét bò ra đến miệng cầu thang. Và rồi, từ miệng cầu thang ấy, một cái đầu tóc trắng ngắn ngủn thò ra dòm xuống cánh cổng . Bên ngoài chỉ có bóng đêm tối đen như mực.
Chẳng ai biết gã nô bộc ấy đã đi đâu .
( Tháng 9 năm Taisho thứ 4 )
DTTM ( Quỳnh Chi ) dịch
( Tokyo, 1993-3/2005)
Bản dịch theo nguyên tác Rashomon trong Tuyển tập Akutagawa Ryunosuke của nhà xuất bản Chikuma Shobo năm 1984.
Chú thích : (°) Heian : Tên gọi thời đại dài khoảng 400 năm của Nhật bản, từ khi kinh đô được dời về Heiankyo( Kyoto ngày nay ) vào năm 794.

2) Trong rừng trúc – Akutagawa Ryunosuke

(Dịch giả Phạm Vũ Thịnh)

Lời khai của người đốn củi với quan kiểm sát
Trong rừng trúc - Akutagawa RyunosukeĐúng đó, thưa quan lớn. Thấy được xác chết đó chính là tui đây chớ ai. Sáng nay tui lên rừng sâu đốn củi như mọi ngày, thì thấy có xác chết trong bụi cây khuất sau núi đó. Quan hỏi ở đâu hả? Thì cách chừng 4, 5 thôi đường[1] từ con đường lớn qua trạm thơ ở Yamashina đó mà. Chỗ đó vắng người, có nhiều cây tuyết tùng[2] nhỏ lẫn trong bụi tre.
Xác chết nằm ngửa, mặc áo bào màu xanh lơ, đầu vẫn còn đội mũ xếp kiểu nhà quan trên kinh đô. Nói là chỉ bị đâm một dao thôi, chớ thiệt ra, vết thương nhằm ngay ngực, cho nên lá tre rụng chung quanh xác chết thấm đầy máu thâm tím. Không, máu đã hết chảy rồi, mà vết thương ngó bộ cũng đã khô rồi, thưa quan lớn. Lại có một con ruồi trâu bám riết trên vết thương, như thể không nghe cả tiếng chân tui bước tới nữa.
Quan hỏi có thấy đao kiếm chi không hả? Không, tui chẳng thấy có đao kiếm chi hết. Chỉ thấy có một đoạn dây rớt ở gốc cây tuyết tùng gần đó. À, ngoài đoạn dây, còn có cái lược nữa. Chung quanh xác chết chỉ có hai vật đó thôi, thưa quan lớn. Nhưng mà, một vùng cỏ và lá tre rụng quanh đó thì bị giẫm đạp tan hoang, nên chắc chắn là anh ta trước khi bị giết chết, cũng đã chống chọi dữ lắm. Còn ngựa hả? Chỗ đó thì ngựa không vô lọt được. Lối cho ngựa chạy thì phải cách đó một cánh rừng mới có.
  • Lời khai của nhà sư lữ hành với quan kiểm sát
Trong rừng trúc - Akutagawa RyunosukeNgười chết đó thì quả thật tôi đã gặp hôm qua. À, có lẽ vào khoảng trưa, thưa quan lớn. Chỗ gặp là khoảng đường tôi đang đi từ Sekiyama tới Yamashina đó. Anh ta đi bộ, cùng với người đàn bà cưỡi ngựa, hướng về phía Sekiyama. Người đàn bà đội mũ có phủ khăn che mặt nên tôi không biết mặt mũi ra sao, chỉ thấy cái áo màu tím. Con ngựa màu hung đỏ… À, hình như đã cắt sạch bờm. Quan hỏi ngựa bao lớn à? Con ngựa nầy có lẽ cao hơn ngựa thường đến 4 tấc[3]. Người tu hành nên tôi không rành chuyện đó, thưa quan lớn. Anh ta mang gươm, và có cả cung tên nữa. Đặc biệt, bao đựng tên sơn đen, cắm hơn hai chục mũi tên đánh trận, thì tới bây giờ tôi cũng còn nhớ rõ.
Tôi đâu có ngờ anh ta rồi ra thân thể như vậy. Quả thật là đời người như sương như điện chớp. Chao ôi, thảm thương đến thế nầy thì còn lời nào mà nói nữa.
  • Lời khai của sai nha[4] với quan kiểm sát
Quan hỏi cái thằng mà tôi bắt được là ai ạ? Thưa quan lớn, thằng nầy chính thật là tướng cướp khét tiếng Tajomaru đó. Quả thật là tôi đã tóm được lúc hắn đã ngã ngựa, đang rên hừ hừ trên cầu đá ở Awadaguchi. Quan hỏi vào giờ nào ạ? Khoảng canh đầu đêm hôm qua đó, thưa quan lớn.
Trong rừng trúc - Akutagawa Ryunosuke
Lần tôi bắt hụt hắn trước đây, hắn cũng mặc áo bào màu xanh đậm, mang gươm dài như vậy. Lần nầy, như quan lớn thấy đó, lại mang thêm cung tên nữa. Dạ, quan dạy là người chết đã mang cung tên đó? Vậy thì giết chết người đàn ông đó chính là tên Tajomaru nầy rồi, chẳng sai chạy vào đâu được nữa. Cây cung bọc da, bao đựng tên sơn đen, tên đánh trận đuôi lông ó 17 cây, tất cả các thứ nầy hẳn là của người bị hắn giết rồi. Ngựa thì đúng như quan phán, là ngựa màu hung đỏ, cắt hết bờm.
Tên cướp nầy mà bị con vật đó hất ngã xuống thì hẳn là tiền duyên nghiệp báo chi đây. Con ngựa lúc đó vẫn còn kéo theo dây cương dài, đứng gặm cỏ bên đường, một đoạn phía trước cầu đá.
Trong đám mấy tên cướp hay lai vãng chốn kinh kỳ, thằng Tajomaru nầy nổi tiếng là háo sắc. Năm ngoái đây, trên núi phía sau chùa Toribedera thờ La Hán Binzuru, có một bà đi lễ chùa đã bị giết chết cùng với đứa con gái nhỏ, nghe đâu là thủ đoạn của thằng nầy.
Nếu đúng thật là tên nầy đã giết người đàn ông đó, thì người đàn bà cỡi con ngựa hung đỏ đã đi đâu, ra sao rồi, thật không còn biết nói sao nữa. Sợ quan mắng cho là dám nói leo, nhưng xin quan lớn xét cả việc ấy cho.
  • Lời khai của bà già với quan kiểm sát
Dạ phải, người chết đó là người đã cưới con gái của già nầy. Nhưng cậu ta không phải là người chốn kinh kỳ, mà là võ sĩ nhà Kokufu ở xứ Wakasa. Tên cậu ta là Takehiro dòng Kanazawa, 26 tuổi. Dạ không, cậu ta tính tình hiền lành, đâu có gây thù oán chi với ai.
Trong rừng trúc - Akutagawa RyunosukeCòn con gái tôi à? Con gái của già tên là Masago, 19 tuổi. Tuy tính tình có cứng cỏi không thua đàn ông con trai, nhưng mà ngoài cậu Takehiro ra, nó chưa hề biết tới đàn ông nào khác. Khuôn mặt nhỏ trái xoan, nước da bánh mật, đuôi mắt bên trái có một nốt ruồi đen.
Hôm qua, cậu Takehiro đã cùng con gái tôi lên đường đi Wakasa. Nhân quả chi mà ác đức đến ra nông nỗi nầy. Rể tôi phần số như vậy đã đành, nhưng con gái tôi ra sao thì già nầy lo lắng không sao ở yên được. Lạy quan lớn xét cho lời van xin cuối đời của người già cả nầy, mà cho dù phải vạch từng lá cỏ, kiểm từng gốc cây, cũng xin tìm cho ra con gái của già.
Dù gì đi nữa, già cũng căm hận tên cướp mà quan nói là Tajomaru gì đó. Đã giết chết con rể tôi, mà cả con gái của tôi cũng … (sau đó khóc ròng, không nói gì được nữa).
  • Lời thú của Tajomaru
Giết chết người đàn ông đó chính là tui đây. Nhưng tui không giết người đàn bà. Vậy thì cô ta đi đâu? Cái đó thì tui cũng không biết. Mà khoan đã, có tra tấn bao nhiêu đi nữa, chuyện tui không biết thì làm sao mà nói gì được chớ. Hơn nữa, đã tới nước nầy thì tui cũng quyết không giấu giếm hèn nhát đâu.
Hôm qua, khoảng sau trưa một chút, tui đã gặp hai vợ chồng đó. Đúng lúc gió thổi lật cái khăn che mặt trước mũ của cô đó lên, tui thoáng thấy được khuôn mặt cô ta. Mà chỉ một thoáng thôi. Tui vừa tưởng là thấy được mặt cô ta, thì đã không còn thấy nữa. Một phần có lẽ cũng vì chỉ thấy lướt qua nên tui thấy khuôn mặt cô đó giống như khuôn mặt nữ-bồ-tát. Chỉ trong chớp nhoáng đó, tui đã quyết sẽ chiếm đoạt cô ta, dù có phải giết người chồng đi nữa.
Trong rừng trúc - Akutagawa Ryunosuke
Ôi, có gì đâu. Giết người có phải là chuyện gì ghê gớm như các người nghĩ đâu. Thế nào cũng phải chiếm đoạt đàn bà, thì phải giết đàn ông đi thôi. Chỉ khác là tui giết người thì dùng đao kiếm, còn các người thì thay vì đao kiếm, lại dùng quyền lực, tiền bạc, hay có khi chỉ cần lời nói xảo quyệt là đủ để giết người ta rồi. Giết kiểu đó thì máu chẳng đổ, mà đàn ông đó vẫn thấy như còn sống đàng hoàng. Nhưng chung quy cũng là giết người đó thôi. Giết người kiểu nào đáng kết tội nặng, các người đáng tội nặng, hay tui đáng tội nặng, thật khó mà phán quyết được (mỉm cười mai mỉa).
Nhưng mà, tất nhiên nếu không cần giết đàn ông mà vẫn chiếm đoạt được đàn bà thì tốt hơn. Quả thật, lúc đó lòng tui đã nghĩ là nếu được thì chiếm đoạt người đàn bà mà tránh giết người đàn ông. Nhưng khổ là ngay trên đường lớn qua trạm thơ ở Yamashina thì không cách nào làm được việc đó. Cho nên tui đã phải dàn xếp để dụ hai vợ chồng đó vô sâu trong núi.
Chuyện nầy cũng chẳng khó khăn chi. Tui giả bộ đi cùng đường với họ, rồi đặt chuyện rằng trong núi phía trước có phần mộ cổ, tui đào lên thấy có vô số gương và kiếm, nên đã dời đi, chôn ở một bụi rậm khuất sau núi để không ai tìm thấy được, nếu có ai muốn mua thì tui sẽ để lại với giá rẻ. Người đàn ông nghe tui nói, dần dần cũng động lòng ham. Thấy chưa, lòng ham muốn là thứ đáng sợ như thế nào. Vậy là, không đầy nửa khắc sau, vợ chồng họ đã theo tui, rẽ ngựa vào rừng.
Tới chỗ ngay trước bụi rậm, tui nói là kho tàng chôn ở trong đó, gọi họ tới xem. Anh chồng trong lòng đã ham muốn quá rồi, chẳng có gì phải phản đối. Nhưng cô vợ thì không chịu xuống ngựa, nói là muốn ngồi đợi ở đó. Mà nhìn thấy bụi rậm cây cối um tùm kiểu đó thì cô ta nói như vậy cũng là chuyện đúng thôi. Tui thì thật tình lúc đó đã chắc mẫm là thú săn lọt bẫy rồi, chạy đâu cho thoát, nên cứ để mặc cô ta ở đó, chỉ đưa anh chồng vô sâu trong bụi rậm.
Lúc đầu thì chỉ toàn là bụi tre dày. Nhưng đi chừng nửa thôi đường thì tới chỗ thấy phía trước có đám cây tuyết tùng, có phần thưa hơn. Không còn chỗ nào tốt hơn chỗ đó, cho tui ra tay. Tui vừa rẽ bụi rậm bước tới, vừa kiếm lời lọt tai mà nói gạt rằng kho tàng chôn ở dưới đám cây tuyết-tùng đó. Anh chồng nghe tui nói, hăm hở rẽ bụi rậm tiến về phía đám cây đó. Một hồi thì tới chỗ chỉ có ít tre, có vài cây tuyết tùng mọc thành hàng.
Vừa tới chỗ đó, tui thình lình nhào tới vật anh ta xuống. Là một tay dùng đao kiếm, anh ta quả là có sức mạnh lắm chớ, nhưng bị đánh thình lình nên không làm gì được, tức thì bị trói chặt vô một gốc cây tuyết tùng. Quan hỏi dây trói à? Dây đó là thứ đồ tiện lợi cho kẻ cướp, phòng khi cần có để vượt qua rào tường, nên lúc nào tui cũng cột sẵn ở thắt lưng. Tất nhiên là để anh ta khỏi la lên, chỉ cần tọng đám lá tre khô vô miệng là khỏi phải lo lắng chi nữa.
Lo xong phần anh chồng, tui quay trở lại chỗ cô vợ, nói là anh ta có vẻ phát bệnh thình lình, biểu vợ tới coi sóc cho.
Chắc khỏi cần nói là chuyện này cũng song suốt như ý tui. Cô ta vất mũ, mặc cho tui nắm tay, tất tả bước sâu vô bụi rậm. Nhưng, tới nơi lại thấy chồng mình bị trói vô gốc cây tuyết tùng. Vừa thấy vậy, không biết đã lấy từ trong túi ra từ lúc nào mà cô ta đã tức thì rút lưỡi dao ngắn ra, sáng loáng trên tay. Cho tới bây giờ, tui chưa hề thấy một người đàn bà nào cường ngạnh như cô này.
Lúc đó, tui mà dễ ngươi một chút là đã bị đâm một nhát lủng hông rồi. Tui tràng người né tránh được, nhưng cô ta cứ đâm chém túi bụi nên tui mà có bị thương tích cũng chẳng có chi lạ. Nhưng mà, tui đây, đường đường là Tajomaru, cho nên không đến nỗi phải dùng tới đao kiếm, cuối cùng rồi cũng đánh rớt được con dao. Tính khí cương cường đến đâu đi nữa mà trong tay không có vũ khí thì cũng phải chịu phép thôi. Vậy là đúng như ý định, cuối cùng tui đã chiếm đoạt được người đàn bà mà không cần phải giết người đàn ông.
Khỏi phải giết người đàn ông. Đúng đó. Tui đâu có ý định giết anh ta làm chi nữa. Nhưng, lúc tui định rời thoát khỏi bụi rậm đó, bỏ lại cô ta đang nằm khóc lóc, thì thình lình, cô ta nắm cánh tay tui, rồi như điên cuồng, cứ ôm chặt lấy tui. Mà nghe những lời thổn thức đứt quãng đó thì ra là cô ta nói : hoặc là chồng cô ta phải chết, hoặc là tui phải chết, một trong hai người phải chết đi, chớ cô ta đã làm chuyện nhục nhã đó trước mắt cả hai người đàn ông, thì đau khổ còn hơn chết nữa.
Ai cũng được, người nào sống sót thì cô ta sẽ đi theo mà cung phụng người đó. Cô ta năn nỉ thảm thiết vậy đó. Riết rồi tui cũng phát khởi ý muốn giết chết anh chồng đi. (có vẻ xúc động buồn rầu).
Chuyện này nói ra như vậy, chắc là người ta thấy tui tàn nhẫn hơn các người. Nhưng các người đâu có nhìn thấy vẻ mặt cô ta. Nhất là trong thoáng chớp đó, đôi mắt cô ta bốc lửa như thế nào. Lúc đó, nhìn đôi mắt cô ta, tui đã nghĩ là cho dù có bị sấm sét đánh chết đi nữa, cũng phải lấy cô ta làm vợ mới thoả lòng. Phải, lấy cô ta làm vợ, trong lòng tui lúc đó chỉ có một ý nguyện đó mà thôi. Điều đó không phải như các người nghĩ là chuyện sắc dục bỉ ổi đâu. Lúc đó, nếu thật chỉ chuyên niệm chuyện sắc dục mà thôi, thì dù có phải đạp ngã cô ta, tui cũng đã bỏ đi rồi. Mà như vậy thì người chồng cũng khỏi phải đổ máu dưới lưỡi gươm của tui. Nhưng mà, trong bụi rậm mờ tối, trong thoáng chớp khi tui nhìn đăm đăm khuôn mặt cô ta, tui hiểu rằng nếu không giết chết anh chồng thì không thể rời chỗ đó mà đi được.
Nhưng có giết anh ta đi nữa, tui cũng không muốn giết bằng thủ đoạn đê hèn. Tui cởi trói cho anh ta, rồi biểu anh ta tuốt gươm ra. (Dây trói cởi bỏ lúc đó, sau này còn sót lại bên gốc cây tuyết tùng). Sắc mặt giận dữ, anh ta mới tuốt cây gươm to bản ra, không nói một lời, tức thì hầm hầm bay tới chém tui.
Trận đấu gươm đó cuối cùng ra sao thì khỏi nói các người cũng đã rõ. Tới thế thứ 23 thì lưỡi gươm của tui đã xuyên thấu ngực kẻ địch. Thế thứ 23 đó, xin các người nhớ cho. Điều này, cho tới bây giờ tui vẫn còn nể phục. Đấu gươm với tui mà đỡ được hơn 20 thế thì khắp thiên hạ chỉ có một mình anh ta mà thôi. (mỉm cười khoái trá).
Anh ta vừa ngã xuống, thì tui hạ mũi gươm nhuộm máu, quay lại nhìn cô vợ. Thì, các người nghĩ coi, cô ta chẳng còn ở đó nữa. Tui cố tìm kiếm trong mấy đám cây tuyết-tùng coi cô ta trốn đi đâu. Nhưng trên đám lá tre khô chẳng còn gì là dấu vết của cô ta cả. Có lắng tai nghe cũng chỉ nghe tiếng hấp hối trong cổ họng người chồng mà thôi.
Theo chuyện mà đoán thì ngay khi tui chém nhát gươm đầu, có lẽ cô ta đã luồn qua bụi rậm, trốn đi để kêu người tới cứu rồi. Nghĩ vậy nên đến phiên tính mạng mình bị nguy, tui bèn đoạt lấy gươm dài và cung tên, lập tức chạy trốn về phía đường rừng đã vô lúc trước. Ở đó vẫn còn con ngựa của cô ta đang yên lặng gặm cỏ.
Chuyện từ đó về sau thì chẳng cần phải nói ra làm chi nữa. Có điều, trước khi vô kinh đô, chỉ có thanh gươm thì tui đã vất đi rồi. Lời cung khai của tui chỉ có chừng đó. Đàng nào thì cũng một lần, côn trượng hay bêu đầu treo cổ, thôi thì xin chịu nhục hình cho rồi. (tỏ thái độ ngạo mạn).
  • Lời sám hối của người đàn bà đến chùa Shimizu
Tên đàn ông mặc áo bào màu xanh đậm đó, sau khi đã dày vò tôi xong, hắn nhìn chồng tôi mà cười chế diễu. Chồng tôi khổ tâm biết là dường nào. Nhưng dù cho chồng tôi có vặn vẹo bao nhiêu đi nữa, cũng chỉ làm cho các vòng dây trói khắp trên thân người càng siết chặt vào thêm mà thôi. Tội nghiệp quá, bất giác tôi lăn về phía chồng tôi.
Trong rừng trúc - Akutagawa Ryunosuke
Không, tôi mới định lăn lại thì ngay lúc đó tên cướp đã đạp tôi ngã chúi tới chỗ chồng tôi. Rồi trong thoáng chốc nhìn thấy tia sáng không sao diễn tả được loé lên trong mắt chồng tôi, tôi hiểu ra được điều gì chứa đựng trong ánh mắt ấy. Ánh mắt không lời nào diễn tả được. Cho đến bây giờ, nhớ lại ánh mắt ấy, tôi còn không khỏi rùng mình.
Dù miệng không nói ra được lời nào, nhưng trong khoảnh khắc ấy, chồng tôi đã truyền đạt được tất cả tâm tình anh ấy. Nhưng chiếu toả ra từ ánh mắt ấy không phải là cơn giận dữ, mà cũng không phải là nỗi buồn rầu. Mà chỉ là tia sáng lạnh lẽo của lòng khinh miệt đối với tôi. Hơn cả nỗi đau đã bị tên cướp kia đạp đá, tôi đã bị ánh mắt ấy tống mạnh vào tâm thần, bất giác thét lên lời gì không rõ, rồi ngã xuống bất tỉnh.
Đến lúc tỉnh lại được thì tên đàn ông mặc áo bào màu xanh đậm đó đã đi đâu mất. Chỉ còn lại chồng tôi bị trói ở gốc cây tuyết tùng. Tôi gượng ngồi dậy được trên đám lá tre khô, nhìn chăm chú vẻ mặt của chồng tôi. Nhưng ánh mắt của chồng tôi vẫn không thay đổi chút nào. Cũng vẫn biểu lộ một màu thù ghét từ dưới đáy lạnh băng của lòng khinh miệt. Hổ thẹn, đau buồn, tức giận, … tôi không còn biết lòng tôi lúc ấy là như thế nào nữa. Tôi lảo đảo đứng lên, lết lại gần chồng tôi :
– “Thưa anh. Đã đến nông nỗi này thì em không còn có thể cùng sống với anh được nữa. Em chỉ muốn chết ngay cho rồi. Nhưng mà, xin anh cũng chết đi. Bởi anh đã chứng kiến nỗi ô nhục của em. Em không thể nào để mặc anh sống như thế này được”.
Tôi gượng hết sức mình để tỏ bày điều ấy. Thế mà chồng tôi vẫn chỉ nhìn tôi trừng trừng kinh tởm. Tôi gắng dằn lòng mình đang muốn xé toang ra, vừa tìm kiếm thanh gươm của chồng tôi. Nhưng có lẽ tên cướp kia đã đoạt lấy mất rồi. Thanh gươm đã đành, mà cung tên nữa, cũng không còn thấy đâu trong bụi rậm ấy. Nhưng may thay, lưỡi dao ngắn thì còn rớt lại dưới chân tôi. Tôi giương con dao ấy lên, nói với chồng tôi một lần nữa :
– “Thôi thì xin anh giao mạng cho em. Rồi em cũng xin chết theo anh”.
Nghe thế, chồng tôi mới mấp máy môi. Tất nhiên là vì miệng ngậm đầy lá tre khô, nên tiếng nói không sao nghe được. Nhưng nhìn đôi môi mấp máy, tôi cũng hiểu ngay lời anh nói. Chồng tôi cũng vẫn khinh miệt tôi, chỉ nói một lời : -“Giết ta đi”. Tôi, như hoàn toàn trong mộng dữ, đã đâm phập một nhát dao xuyên thấu ngực chồng tôi, qua lớp áo bào màu xanh lơ ấy.
Và rồi, có lẽ tôi đã bất tỉnh một lần nữa. Hồi lâu sau, khi tỉnh lại nhìn quanh, thì chồng tôi, vẫn còn bị trói như cũ, đã tắt thở từ lâu rồi. Ánh nắng chiều xuyên qua kẽ lá tuyết tùng lẫn trong đám lá tre, rọi lên khuôn mặt người chết tái xanh. Tôi cố nén tiếng khóc, lần mở dây trói tử thi mà vất đi. Rồi, còn thân tôi thì ra thế nào? Tôi chẳng còn sức nào mà nói nữa. Chỉ biết là, tôi không có đủ nghị lực để chết đi.
Tôi đã kề dao lên cổ, đã gieo mình xuống hồ nước bên triền núi, đã thử chết nhiều cách, nhưng cuối cùng cũng không chết được, mà còn sống sót như thế này, thì có gì để tự hào đâu. (mỉm cười buồn bã). Một kẻ hèn nhát như tôi, có lẽ đến Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cũng chẳng muốn đoái hoài cho nữa. Nhưng là kẻ đành phải giết chồng, là kẻ đã bị tên cướp kia dày vò nhục nhã, tôi biết làm thế nào được chứ? Trời ơi, tôi phải làm thế nào bây giờ? (thình lình nức nở thảm thiết).
  • Lời kể lể của người chết qua miệng người ngồi đồng
Tên cướp dày vò vợ ta xong còn ngồi đó mà an ủi vợ ta đủ điều. Tất nhiên, ta không thể thốt ra được lời nào. Thân thể lại bị trói vào gốc cây tuyết tùng. Nhưng ta đã đưa mắt ra hiệu cho vợ nhiều lần. Đừng tin những gì tên cướp nói, cứ nghĩ tất cả những điều hắn nói đều là láo toét cả. Ta muốn truyền đạt như thế.
Trong rừng trúc - Akutagawa RyunosukeThế nhưng, vợ ta cứ ngồi trên đám lá tre khô, buồn rầu nhìn xuống đầu gối. Ta thấy có vẻ cô ấy đang lắng tai nghe tên cướp nói. Ta rung động cả người vì ghen. Nhưng tên cướp đã khéo léo kiếm lời nói này nói nọ. Những là, đã thất tiết với người khác một lần rồi thì không thể nào còn sống chung êm đẹp với chồng nữa. Đi theo người chồng như thế, chi bằng theo làm vợ hắn còn hơn. Chính vì hắn đem lòng yêu thương cô, nên mới làm chuyện táo tợn như thế. Tên cướp ấy thật là lớn mật, dám đặt điều đến cả chuyện như thế.
Vậy mà nghe tên cướp nói, vợ ta lại ngước khuôn mặt đờ đẫn lên. Ta chưa bao giờ thấy vợ mình đẹp đến như lúc ấy. Nhưng, người vợ tuyệt đẹp ấy, ngay trước mặt chồng là ta đây đang bị trói chặt, đã nói gì với tên cướp? Ta, dù lúc này đang thất thểu chờ dịp đầu thai, mà mỗi lần nhớ đến lời nói của cô ta, lại không thể không bốc lên lửa hận. Vợ ta quả thật đã nói như thế này : – “Vậy thì, xin ông cứ cho tôi theo, bất cứ nơi đâu”. (im lặng một hồi lâu).
Tội của vợ ta không phải chỉ có thế. Nếu chỉ có thế thì trong cõi tối tăm này, ta đâu đến nỗi đau khổ như thế này. Vợ ta, như trong cơn mộng mị, đã để cho tên cướp nắm tay dắt đi, dợm bước ra khỏi bụi rậm ấy, đột nhiên, mặt mày tái nhợt, chỉ tay vào ta đang bị trói vào gốc cây tuyết tùng mà nói :
– “Giết chết người đó đi. Người đó mà còn sống thì tôi không thể nào đi theo ông được”.
Vợ ta như điên cuồng, đã thét lên nhiều lần : – “Giết chết người đó đi”. Lời thét ấy như trận cuồng phong, cho đến bây giờ vẫn còn chực cuốn ngược đầu ta xuống đáy vực sâu tăm tối. Lời nói đốn mạt đến như thế mà có thể lọt ra từ miệng con người được sao, dù chỉ một lần đi nữa? Lời nói quỷ ám đến như thế mà có thể chạm tai con người được sao, dù chỉ một lần đi nữa? (thình lình phì cười như chế diễu).
Nghe lời nói ấy, chính tên cướp kia, mặt mày cũng tái mét. – “Giết chết người đó đi”.
Vợ ta vừa thét lên vừa nắm kéo cánh tay tên cướp. Hắn nhìn vợ ta đăm đăm, chẳng trả lời được là giết hay không giết. Rồi đột nhiên, vợ ta ngã xuống đám lá tre khô; chỉ một đạp, tên cướp đã đạp ngã cô ta xuống đấy. (lại phì cười như chế diễu một lần nữa). Tên cướp khoan thai khoanh tay, nhìn về phiá ta mà nói :
– “Ngươi định làm gì con đàn bà này? Chỉ cần gật đầu trả lời. Nào, giết nhé?”
Chỉ cần một câu nói này thôi, ta đã muốn tha tội cho tên cướp ấy rồi. (lại im lặng hồi lâu).
Vợ ta, trong lúc ta đang do dự, đã thét lên một tiếng rồi lập tức vùng chạy vào sâu trong bụi rậm. Tên cướp cũng nhanh nhẹn phóng tới chụp lại, nhưng không kịp nắm được dù là một chéo áo. Ta chỉ nhìn khung cảnh ấy như trong cơn mơ.
Sau khi vợ ta đã chạy trốn mất, tên cướp thu nhặt thanh gươm và cung tên, xong cắt một chỗ dây trói trên mình ta. – “Đến phiên tao phải lo lấy thân đây”.
Ta nhớ tên cướp đã lẩm bẩm như thế trước khi chạy ra khỏi bụi rậm, mất dạng. Sau đó, bốn bề chung quanh đều im vắng. À không, còn có tiếng ai khóc. Ta vừa tự cởi trói, vừa lắng tai nghe ngóng. Nhưng mà, tiếng khóc đó, nghĩ lại, chẳng qua là tiếng khóc của chính mình đó thôi. (lại im lặng hồi lâu, lần thứ ba).
Cuối cùng, ta đã nhấc thân mình mệt đến kiệt sức lên từ gốc cây tuyết tùng. Trước mặt ta là con dao ngắn vợ ta đã làm rớt lại, loé sáng. Ta nhặt con dao đó lên, đâm một nhát vào ngực mình. Có gì như một khối tanh tưởi cuộn dâng lên trong miệng. Nhưng, chẳng nghe đau đớn gì. Chỉ khi ngực ta lạnh băng đi rồi thì chung quanh như càng lặng im thêm một bậc nữa.
Ôi, sao mà tĩnh mịch đến như thế. Khoảng trời trong bụi rậm khuất sau núi này, đến một cánh chim nhỏ cũng không thấy. Chỉ thấy ánh nắng chiều phiêu lãng buồn rầu trên những thân tre và tuyết tùng. Mà ánh nắng chiều cũng dần dần nhợt nhạt đi, rồi tuyết tùng và tre cũng không còn thấy nữa. Rồi ta ngã xuống đó, bao phủ trong tĩnh mịch sâu thẳm.
Lúc ấy, có tiếng chân ai rón rén đến bên ta. Ta cố nhìn về phía ấy. Nhưng chung quanh ta, bóng tối mịt mùng bao phủ. Ai đó … bàn tay không thấy được của ai đó đã nhè nhẹ rút lưỡi dao ra khỏi ngực ta. Cùng lúc ấy, trong miệng ta, dòng máu lại trào lên, dâng đầy tràn một lần nữa. Từ đó, ta vĩnh viễn chìm mất vào tăm tối hư vô.

———– ————————Phạm Vũ Thịnh dịch từ nguyên tác tiếng Nhật Yabu No Naka

(1) Chô : khoảng 119 yards, chừng 100 m, xin dịch là “thôi đường”. 5 chô khoảng 500 m.

(2) Sugi : cedar, cây tuyết tùng. Tự điển Hán Việt Thiều Chửu ghi là “cây sam”.

(3) Ki : (thốn) khoảng 3 cm, xin dịch là “tấc”. Ngựa thường chừng 4 shaku (1 shaku – thước : 30.3 cm), tính ra thân con ngựa này cao chừng 1m3 – 1m4.

(4) Hômen (Trong bản dịch là “sai nha”) : người phạm tội nhẹ, được tha, cho theo quan kiểm sát để đi bắt tội phạm.

 

http://radioplus.vn/nghe-doc-truyen/truyen-dem-khuya/trong-rung-truc-akutagawa-ryunosuke.html

Literature Văn học Nhật Bản

Genji Monogatari

Genji Monogatari 1

 

Genji Monogatari  2

 

Genji Monogatari 3

 

Genji Monogatari 4

 

Genji Monogatari 5

Genji Monogatari 6

 

Genji Monogatari  7

 

Genji Monogatari 8

 

Genji Monogatari 9

 

Genji Monogatari  10

 

Genji Monogatari  11

 

Literature Văn học Nhật Bản Văn học Trung Quốc 中文

从古代神话看中日不同的社会文化《嫦娥奔月》与《竹取物语》的对照

 

  • ○吕 娜(延安大学 外语学院,陕西 延安 716000)[摘 要] 每个民族都有自己的神话,这些流传下来的神话故事具有惊人的相似性。中国的《嫦娥奔月》与日本的《竹取物语》都讲述了仙女奔向月宫的故事,但不同文明产生的神话包含着不同的内涵。本文在参考各先行研究学说的基础上,通过对这两个神话传说的对比分析,探讨由此反映的不同社会文化。

    [关键词] 不死药;生死观;社会文化

    中图分类号: G 112 文献标识码:A 文章编号:1672-8610(2013)12-0072-02

    神话是人类文学的先河,它装点了我们的童年,充满了神奇的幻想。不论是世界文明产生最早地区的原始社会民族,还是当今世界上还处在原始社会的民族,流传的许多神话故事大同小异,也出现过对同一种现象的相似性描述。例如,关于上万年前的全球大洪水的神话在许多地区都有类似的描述。《嫦娥奔月》的故事几乎每个中国人在童蒙初启时就耳熟能详,而《竹取物语》在日本同样是家喻户晓的传说。1992年在卫视中文台播出的日本影片《竹取物语》让很多中国人了解到日本也有一位奔向月亮的仙女,神话故事的传奇色彩与辉夜姬的美让看过影片的人至今念念不忘,在后来的人生旅程中对这个故事加以回忆时,都会被那极为空灵美丽的梦境和纯净的感情震荡。

    近年来,随着中日两国友好交流的不断加深,关系密切却又存在很大不同的中日文化传统引起了不少学者的关注,学术界对两国文化的研究对比越来越多。对于日本的物语之祖《竹取物语》,有学者将其与我国神话故事、民间传说进行了对比分析,也有学者研究了其中的伦理、君权意识。李海蓉在《中日“奔月”神话比较研究》一文中,从探究中国嫦娥奔月传说对日本《竹取物语》影响的角度,对它们的相同部分进行了比较分析和探讨,最终揭示了中国的文学作品的母本对日本作家们的深层影响。赵虹的《<竹取物语>与<斑竹姑娘>的比较研究》认为《斑竹姑娘》是《竹取物语》的原型,也肯定了汉文学对《竹取物语》的影响。神话故事本身就具有惊人的相似性,究竟谁是谁的原型,这不是最重要的,本文且从《竹取物语》与《嫦娥奔月》这两个神话探析其反映的不同社会文化。

    一、故事简介

    早在《万叶集》第16卷中就有《竹取翁歌》,“歌序”云:“昔有老翁,号曰竹取翁也。此翁季春元月,登丘远望;忽值煮羹之九名女子,白娇无俦,花容无匹。”讲的是竹取翁与九名仙女相会的故事,与《竹取物语》不存在直接的影响关系,但也可以推测本来存在着类似“竹取翁歌”那样为数不少的“竹取翁”故事,现在的《竹取物语》也只是其中之一。

    一般认为,《竹取物语》成书于9世纪末至10世纪初,故事大致可以分为化生、求婚、升天三个部分。一位伐竹翁在发光的竹子中发现一个小女孩,带回家中抚养,不久就长成一位超凡脱俗、美貌绝伦的女子。因其容貌能使满屋生辉,故取名“辉夜姬”,又译“赫映姬”。许多贵族子弟向她求婚,她答应嫁给能寻得她喜爱的宝物的人,可是这些求婚者都失败了。后来天皇想凭借权势强娶她,用官爵与荣华富贵诱惑伐竹翁,也遭到拒绝。原来她是月宫中人,因过被贬凡间,惩罚期满后,会在中秋之夜,回到月宫中去。天皇得知后,派了很多侍卫到伐竹翁家,可是也没能阻挡天人带走辉夜姬。最后,辉夜姬给伐竹翁与天皇留下信与不死药,披上羽衣,在众人茫然失措之中升空飞向月宫。

    相对于《竹取物语》,嫦娥奔月的故事则显得扑朔迷离。最早讲到嫦娥的是《归藏》,较为完整的记录见于汉初的《淮南子·览冥训》:“羿请不死之药于西王母,娥窃以奔月,怅然有丧,无以续之。”后羿觉得对不起受他连累而谪居下凡的妻子,便到西王母那里去求来长生不死之药,好让夫妻二人在凡间永远和谐地生活下去。嫦娥却过不惯凡间的生活,不满足于长生不死,乘后羿不在家的时候,偷吃了不死药,成仙飞至月宫。而据屈原《天问》记载,说后羿后来对嫦娥有不忠行为,和河伯的妻子发生暧昧关系,引起嫦娥极大的不满,便离开后羿跑到天上去了。东汉张衡《灵宪》也有记载:“(嫦娥)窃西王母不死之药,奔月。将往,枚占于有黄,曰‘吉,翩翩归妹,独将西行,逢天晦芒,毋惊毋恐,后且大昌’。嫦娥遂讬身于月,是为蟾蜍。”又有说法认为嫦娥是为了避免不死药落入奸诈刁钻、心术不正的蓬蒙之手,不得已才吞下了不死药。中国的神话体系本来就错综复杂,后世在传说中演绎出多种不同的版本。不过,其中以第一种故事版本流传最为广泛。

    二、人物关系折射出的不同社会风貌

    神话是根据原始劳动者的自身形象、生产状况和对自然力的理解想象出来的。神话中神的人物形象,是原始人类的认识和愿望的理想化。例如,狩猎经济比较发达的部落,创造的神话人物大多与狩猎有关。人以刀斧、弓箭为武器,神话中的人物也就变成以这种工具武装起来的英雄。神话中的主人公大多具有超人的力量,但有时也要遇到挫折和厄运。因此,透过神话的折射,可以约略看到看到先民的一些事迹、当时的生产状况和社会风貌。日本著名民俗学家柳田国男认为《竹取物语》是“反映时代的作品”。

    《竹取物语》产生于平安时代,日本社会的文明刚刚确立,封建社会制度尚不成熟。整个故事以平安时代的贵族生活为背景,描绘出了一个较为自由、平等的社会环境。譬如,臣民竟然敢于违抗天皇的命令,这与中国封建集权专制统治形成了鲜明的对比;父亲允许女儿在婚姻问题上有自己的决定权,这完全违背了中国封建礼教关于婚姻“父母之命,媒妁之言”的家长制度,也违反了“老尊幼卑”的家庭伦理规范;男女互通诗文说明女子在当时也有受教育的机会;恋爱中的追求与考验,表达了当时人们自由浪漫的爱情理想。

    嫦娥奔月的传说最早产生于战国时期,到了汉初有了确切的文字记载,当时中国已经建立了较为健全的封建社会制度。嫦娥虽然成仙脱离了凡间,但害怕众仙嘲笑,不敢前往天庭,却奔向月宫,生活在寂寞冷清的广寒宫,落得个“寂寞嫦娥舒广袖,独揽月宫一片天”。按照《灵宪》的说法,嫦娥最后变成了蟾蜍。唐·李商隐更有诗云:“嫦娥应悔偷灵药,碧海青天夜夜心”,正是她倍感孤寂的心情写照。悲剧性的结局都在惩罚嫦娥抛弃后羿独自飞仙的行为,这正是封建礼教制度中“夫权”的折射。在中国古代社会,丈夫对妻子拥有绝对的支配权,违背丈夫的意志,势必遭到社会的谴责与惩罚。在中国封建社会的发展过程中,封建礼教成了人们难以摆脱的思想枷锁,支配着人们日常的言行。

    由此可见,无论中国文化对日本产生了多大的影响,日本民族文化还是显现出了其独特的一面,《竹取物语》展现了日本古代社会不同于中国封建社会较为平等自由的一面。

    三、不死药体现出的中日不同的生死观

    生死问题,是人类的原始性思考,也是一个永恒的话题。从宗教到科学,从医学到哲学,从达尔文的进化论到弗洛伊德的心理学,古今中外无数圣人先哲探索过,研究过,至今仍悬而未决。生较之于死无疑是美好的,是人类本能的追求。可无论尊为帝王,还是平民百姓,终将难免一死,谁都无法逃避。药物治疗疾病的神奇功效使人们产生不死药可以治疗死亡的幻想。中国人几千年以来相信有前生后世,更有人期望能够通过佛教修行成仙,从而长生不老。不死药,生死轮回的信仰,升仙,都是人类恐惧死亡试图逃脱的产物。

    在嫦娥奔月的传说中,后羿为了能使夫妻二人长生不老,不辞辛劳,翻越昼夜不熄的火焰山,渡过一片羽毛落下亦会沉没的弱水,才在西王母那里求得仅剩的一颗不死药。这不死药是用不死树结的不死果炼制的,不死树三千年开一次花,三千年结一次果,炼制成药又需三千年,可见不死药的珍稀。无论是后羿、嫦娥,还是其他故事版本中后羿的弟子蓬蒙等,人人都想服用不死药。可是在《竹取物语》中,不死药是天上的使者带来给辉夜姬服用,让她去除身体在凡间沾染的秽气的。辉夜姬为报答伐竹翁的养育之恩,转赠给了伐竹翁。伐竹翁因为失去女儿悲痛不已,不愿服用不死药,又献给了天皇。天皇看了辉夜姬的信,作诗一首:“不能再见辉夜姬,安用不死之灵药”,也不愿服用不死药,最后命侍从把辉夜姬留下的不死药与信拿到离月宫最近的山顶烧掉,此后,这个山就叫做“不死山”,即“富士山”。死亡是无法预测和抵抗的,但它无法震慑人的灵魂,作为一种自然现象,作为人的最终归宿,日本民族早已坦然接受。

    由此我们可以看出两个神话故事反映的截然不同的生死观,即对不死药的“争抢”与“谦让”,对于生死与情感的不同取向。嫦娥宁可放弃夫妻情分,承受来自社会伦理的谴责,忍耐孤寂的月宫生活,也不愿放弃摆脱死亡升仙的机会。而伐竹翁与天皇则认为失去了辉夜姬,即使活在人世间也没有意义。相比之下,《竹取物语》中反映出来的日本民族超越死亡的情感与超然的生死观更打动人心。

    通过以上对嫦娥奔月与《竹取物语》对比研究分析,可以看出中日社会文化的不同之处。日本的社会文化虽然受到中国古代文明的影响,但在整个历史发展过程中有其多元化的一面。两个神话传说虽然都讲述了“奔月”的故事,却显现出了不同的社会风貌和生死观,同时为读者勾勒出了两位美丽而性格迥异的女性形象。当然我们还可以从中看到更多相同与不同的内容,还需要进一步去研究和探索,以达到真正的互相理解,从而推动中日友好更上一个新台阶。

     

    【参考文献】

    [1]李海蓉.中日“奔月”神话比较研究[J].考试周刊,2009(10).

    [2]赵虹.《竹取物语》与《斑竹姑娘》的比较研究[J].日本研究,2003(02).

    [3]雷华.《竹取物语》与古代日本的伦理、君权意识[J].日本研究,2000(02).

    http://yuwen.zhuixue.net/jiaoxue/2141.html

  • http://wenku.baidu.com/view/7612c12abcd126fff7050ba0.html###
Literature 中文

游记的文体要素与游记文体的形成

王立群

内容提要 游踪、景观、情感是游记文体的三大文体要素,它们演进的程度与表达的详略,直接关系到游记文体的形成与游记文类的划分。游踪演进的缓慢导致柳宗元“永州八记”为代表的山水游记重大文体缺陷。重游踪,重地理记载,是地学游记的重要文体特征。重客观之景与重主观之情,又使文学游记分为再现型与表现型两大部类。

游记是散文中最自由的文体之一。作家可以灵活地采用笔记、日记、书信、诗歌等种种不同的形式去记游。不同的游记或以文学描写为主,或以地理考察为主,但不论游记的具体形态如何变化,游踪、景观、情感仍然是游记文体的三大基本要素,它们演进的程度与表达的详略直接关系到游记文体的形成与游记文类的划分。

一 游踪的演进发展与游记文体的形成

中唐作家柳宗元创立游记文体这一事实已经得到大多数中国古代文学研究者的首肯,但是,研究者很少注意到柳宗元以“永州八记”为代表的游记尚存在着重大的文体缺陷。

柳宗元游记的重大文体缺陷是游踪记写的不明显。游踪是游记中最为重要的文体要素之一,游踪的有无是区别山水游记与山水记的惟一标尺;游踪的详略是区别文学游记与地学游记的重要标尺之一。

山水记是与山水游记血缘关系最近的山水散文,山水记与山水游记的重要区别是山水记不写游踪只记方位。这种区别的实质是山水记以空间为线索组织成文,山水游记以时间为线索组织成文。游踪的本质是以时间为线索的山水游览历程的文字记载,方位的本质是以空间为线索的景观布局的文字记载。纵观柳宗元的全部游记,不少作品的方位记载较多,游踪记写不甚明显。《游黄溪记》游览的是黄溪,但作者的文字交代却是“黄溪距州治七十里”的方位介绍。《钴潭记》介绍钴潭的文字是“钴潭在西山西”,这显然是典型的方位介绍。《袁家渴记》开篇一段文字的方位介绍性质最为典型:“由冉溪西南水行十里,山水之可取者五,莫若钴姆潭。由溪口而西,陆行,可取者八九,莫若西山。由朝阳岩东南水行,至芜江,可取者三,莫若袁家渴。皆永中幽丽奇处也。”这段全面介绍永州山水的幽丽奇绝之处的文字,完全按方位记写。

柳宗元游记游踪记写的不明确源于柳宗元的游记脱胎于记载一山一水的山水记,而且与中唐作家元结的山水记承传关系最为密切。清末桐城派古文家吴汝纶曾精辟地指出:“次山放恣山水,实开子厚先声”。元结写下了许多山水记名篇,如《右溪记》等,这些山水记对柳宗元的山水游记影响甚大。这种影响表现为两个方面:一是表现为二者在山水描写上的一致,二是表现为在文体特征上的一致性。所谓文体特征上的一致,主要是指二者所写一是纯粹的山水记,一是带有山水记胎记的山水游记。

柳宗元“永州八记”的这一文体缺憾,源于在他之前,游踪这一文体要素相对于景观与情感两大文体要素,未得到充分的发展。

用散文语言写山水之景源于晋宋地记 ① 。在晋宋地记中,山水景观的描写达到了很高的水准,而且其精华部分多被郦道元《水经注》与隋唐类书所汲取。《水经注·江水注》有关三峡的那段传诵颇广的名文出自刘宋盛弘之的《荆州记》 ② ,它代表了晋宋地记山水散文的最高成就。柳宗元通过隋唐类书与《水经注》两条途径均可汲取以晋宋地记为代表的山水散文的写景成就,并将其移植于“永州八记”之中,因此,柳宗元“永州八记”在山水描写上取得了巨大成功。这一成功虽然不乏柳宗元本人的创造,但前人在山水描写上的成就促使了景物描写这一重要游记文体要素的成熟也是不争的事实。笔者仅举一例予以说明。柳宗元“永州八记”的代表作《至小丘西小石潭记》“潭中鱼可百许头,皆若空游无所依(一云“披拂潭中,俯视游鱼,类若乘空”)”二句受到历代读者的钟爱。明人杨慎曾指出这两句本自《水经注·洧水注》的“渌水平潭,清洁澄深,俯视游鱼,类若乘空”数句,只是《洧水注》是否源自晋宋地记,今已无考。但是,《水经注·夷水注》“东入于江”条却给我们透露了鱼游乘空源于晋宋地记的事实:

夷水又迳宜都北,东入大江,有泾渭之比,亦谓之佷山北溪水。所经皆石山,略无土岸。其水虚映,俯视游鱼,如乘空也;浅处多五色石。

《太平御览》卷六十地部“江”条载有东晋袁山松《宜都山川记》的一段文字:

大江清浊分流,其水十丈见底,视鱼游如乘空,浅处多五色石 ③ 。

二文相较,《水经注》的“泾谓之比”正是指清澈的夷水涌入大江处的“清浊分流”;“俯视游鱼,如乘空也,浅处多五色石”数句,恰源于“视鱼游如乘空,浅处多五色石”。显然,郦道元正是根据袁山松的《宜都山川记》才写出了《夷水注》“鱼游乘空”的那段妙文。因此,无论《水经注·洧水注》的“鱼游乘空”是否与晋宋地记有关,我们都可以说柳宗元《小石潭记》“鱼游乘空”的描写汲取了晋宋地记的山水散文成就。 至于情感抒发,可供柳宗元借鉴学习者更多。抒情诗是中国古代诗歌中最早成熟的诗体,各种抒情手法在诗歌、散文中都已大量运用。柳宗元“永州八记”中多种抒情手法的运用与这一文体要素的成熟密不可分。

在游记的二大文体要素中惟独游踪的演进最为缓慢。屈原《离骚》、《哀郢》、《涉江》等作品出现了中国古代文学作品中最早的行踪记述。两汉记行赋如班彪《北征赋》、班昭《东征赋》发展了屈原诸作的行踪记述。两晋南朝的诗序(如桓玄《南游衡山诗序》、庐山诸道人《游石门诗序》等)、书札(如鲍照《登大雷岸与妹书》等)产生了真正的游踪。但是,作为游记最重要的文体要素之一的游踪始终未能在魏晋南北朝得到充分的发展,人们对游踪在游记文体中重要性的认识亦严重不足。

在游踪这一游记重要文体要素尚未得到充分发展的条件下,柳宗元创作了部分无游踪记写却有方位记载的具有浓重山水记特征的游记当属必然。

二 景观、游踪的详略与游记次文类的文体划分

中国古代的游记可分为两大部类:一为诗人之游,二为学者之游。前者以描摹自然景色、表现作家审美情趣为主;后者以记载地理知识,有利于地理考订为主。这种区别导致了中国古代游记划分为文学游记与地学游记两大次文类。称文学游记为诗人之游,并非指这类游记的作者不是学者,而是强调这类游记以模山范水为主;称地学游记为学者之游,亦非说这类游记一无山水描写,只是说这类游记更注重地理知识的记载。因此,地学游记与文学游记相互区别的主要标志,是游记文体要素中景观描写、游踪记载的详与略。

文学游记以描摹自然景色、表现作家的审美情趣为主。因此,文学游记重视模山范水,重视作者主观感受的表达。柳宗元的《小石潭记》,苏轼的《石钟山记》、王安石的《游褒种山记》,都是中国古代游记中文学游记的精品。

地学游记以记载地理知识,有利于地理考订为主。因此,地学游记重视区域疆划、地理方位、山脉走向、水流聚分、地理沿革等地理知识的记载。地学游记的文体特征首先表现为对游踪记载的高度关注之上。

中唐作家李翱的《来南录》是中国古代地学游记的滥觞之作。此《录》详细记述了作者自长安经洛阳,入黄河,转汴河,过长江,经富春江,越玉山岭,渡鄱阳湖,溯漳江,逾大庾岭,沿浈江,出韶州,至广州,长达数千里的历程。这篇地学游记的开山之作对行踪的记载已非常详尽:“四月丙子朔,翱在衢州,与侯高宿石桥。丙戌,去衢州。戊子,自常山上岭,至玉山。庚寅,至信州。甲午,望君阳山,怪峰直耸,似华山。丙申,上于越亭。己亥,直渡担石湖。辛丑,至洪州。遇岭南使,游徐孺亭,看荷花” ④ 。笔者选载的四月全月的日记,表现出作者对游踪记写的高度关注。

李翱《来南录》结尾有如下一段:“自东京至广州,水道出衢、信,七千六百里;出上元、西江,七千一百又三十里。自洛州下黄河、汴梁,过淮至淮阴,一千八百有三十里。顺流自淮阴至邵伯,三自有五十里。逆流白邵伯至江,九十里。自润州至杭州,八百里。渠有高下,水皆不流。自杭州至常山,六百九十有五里。逆流多惊滩,以竹索引船,乃可上。自常山至玉山,八十里,陆道谓之玉山岭。自玉山至湖,七百有一十里,顺流,谓之高溪。自湖至洪州,一百有一十八里,逆流。自洪州至大庾岭,一千有八百里,逆流,谓之漳江。自大庾岭至浈昌,一百有一十里,陆道谓之大庾岭。自浈昌至广州,九百有四十里,顺流,谓之浈江。出韶州谓之韶江” ⑤ 。这段文字全面总结了李翱自东京至广州全程的游踪,作者对游踪的关注是任何一篇文学游记都无法比拟的。

徐宏祖的《徐霞客游记》是中国古代地学游记的翘楚,他的游记对游踪的记载同样非常详尽,而且在游踪记载中还常常穿插地理疆划之文,这就使得《徐霞客游记》的地学游记性质更为显豁。《楚游日记》“四月二十九日”条:“又五里,泊于黄杨铺。黄杨铺已属零陵,其东即为祁阳界,其西遥望大山,名驷马山。此山已属东安,则西去东安界约三十里。西北有大路通武岗州,共二百四十里。黄杨有小水自西而来,石梁跨其上,名大桥。桥下通舟,入止三五里而已,不能上也。” ⑥ 文中的“又五里泊于黄杨铺”的游踪记载,与记写游踪的同时准确介绍黄杨铺周边的地理疆划、道里行程相互融 合,成为《徐霞客游记》游踪记载的独特风貌。

更有甚者,徐霞客的《游太华山日记》“二月晦”条将游踪记载与地理形胜的总括融为—体:“入潼关,三十五里,乃税驾西岳庙。黄河从朔漠南下,至潼关,折而东。关正当河,山隘口,北瞰河流,南连华岳,惟此一线为东西大道,以百雉锁之。舍此而北,必渡黄河,南必趋武关,而华岳以南,峭壁层崖,无可渡者。” ⑦ 这段文字前三句的游踪记写,与下文对潼关一带地理形胜的总括融为一体,形成了徐霞客地学游记独特的游踪记述。

徐霞客《江右游日记》“丁丑正月初三日”条的某些文字己不是游踪记写与地理形胜的总括,而是演变为纯粹的疆划记写:“武功山东西横若屏列,正南为香炉峰。香炉西即门家坊尖峰,东即箕峰。三峰俱峭削,而香炉高悬独耸,并列武功南,若 门然。其顶有路四达:由正南者,自风洞石柱,下至棋盘、集云,经相公岭出平田、十八都为大道,余所从入山者也;由东南者,自观音崖下至江口,达安福;由东北者,二里出雷打石,又一里即为萍乡界,下至山口达萍乡;由西北者,自九龙抵攸县;由西南者,白九龙下钱山,抵茶陵州,为四境云” ⑧ 。其次,地学游记对山脉水脉的走向分合非常关注,这是地学游记对地理知识偏好的重要表现之一。清代桐城派大师刘大 《游百门泉记》曰:“辉县之西北七里许,有山曰苏门山,盖即太行之山麓。而山之西南,有泉百道,自平地石窦中涌而上出,累累若珠然,《卫风》所谓泉源者也。汇为巨浸,方广殆数十百亩。……水自户下出,其流乃驶,溉民田数百顷,世俗谓之卫河。自此而南,经新乡,东迳卫辉之城,北合淇水,历浚县、馆陶、临清,入漕河,以达于海。” ⑨ 从涓涓细流的百门泉水,到千流百折而入海的卫河,文章交代得清清楚楚。桐城派另一位大师姚鼐的《登泰山记》:“泰山之阳,汶水西流;其阴,济水东流。阳谷皆入汶,阴谷皆入济。”这篇典型的地学游记同样表现出对水脉走向的关注。

徐霞客《游白岳山日记》开首云:“出西门,其溪自祁门县来,经白岳,循县而南,至梅口,会郡溪入浙。” ⑩ 此处寥寥数笔就交代了一条溪的源流。他的《游黄山日记》写“初三日”的行程:“二十里,抵汤口。” 11 本来,写到这里,已经够了。但是,作者仍然顺手写了“香溪、温泉诸水所由出者”一句,似乎作者非把“香溪、温泉诸水”的由来补写清楚方可罢笔。这种写法在徐霞客手中成了一种惯例,自早期的名山游记到后期的西行日记,无不如是。《游庐山日记》“二十日”条:“越岭东向二里,至仰天坪,因谋尽汉阳之胜。汉阳为庐山最高顶,此坪则为僧庐之最高者。坪之阴,水俱北流从九江;其阳,水俱南下属南康”12 。在“越岭东向二里至仰天坪”这句游踪之后,作者对仰天坪南北水脉走向的关切表露无遗。

徐霞客《游武彝山日记》二月二十一日条云:“西北一溪自分水关,东北一溪自温岭关,合注于县南,通郡省而入海。” 13 四句话说明了两条溪水的走向。这种笔法的进一步发展则是对山脉、水脉、地理疆划的总结。前引《游太华山日记》开篇曰:“二月晦,入潼关,三十五里,乃税驾西岳庙。黄河从朔漠南下,至潼关,折而东。关正当河、山隘口,北瞰河流,南连华岳,惟此一线为东西大道,以百雉锁之。舍此而北,必渡黄河,南必趋武关,而华岳以南,峭壁层崖,无可渡者。”《楚游日记》“三月二十日”条:“由回龙庵沿江岸南行半里,水分二道来:一自山谷中出者,其水较大,乃沱水也;一自南来者,亦通小舟,发源自上武堡。盖西界则大佛岭班田嚣去云诸山迤逦而南去,东界则东岭苦马云诸峰环转而南接,独西南一坞遥开,即所谓上武堡也。其西南即为广西富川、贺县界” 14 。淡化景观描写是地学游记的第三个重要特征。地学游记关注地理知识,强化山脉、水脉、地理疆划的记载,必然以淡化模山范水为其代价。李翱的《来南录》虽然是地学游记的滥殇,但强化游踪记载、淡化景观描写的倾向已十分明显,可以说这篇游记几乎没有山水描写。

清康熙朝文士钱良择的《出塞纪略》记述了作者北游的全过程,本文节选其一天的行程,见其纪游中模山范水之笔的淡化:“初三日甲戌,……十五里,至居庸关城。城门额曰:天下第一雄关。盖京师北面之极冲。《淮南子》所谓天下九塞,居庸其一者也。出关,山峰插天,翠屏丹嶂,掩映复叠。三里至阴凉崖,山高蔽日,故名。又五里,至弹琴峡,水流潺湲。峡端缘崖置屋,若凌虚然。……又十二里,至八达岭,乃山之绝顶也。胡峤 记:‘自居庸西北入石门关,关路狭隘,一夫可以当百,乃中国控扼契丹之险。’或以为此即石门关,元人以此为居庸北口,筑城高戍焉。《山水记》:自八达岭下视居庸关,若建瓴,若窥井。昔人谓居庸之险,不在关城而在八达岭,信然。逾岭下,路渐坦。五里至岔道,即平原矣。《志》云:岔道有二路,自延庆州至四海冶,为北路。自怀来卫至宣府,为西路。八达岭为居庸之襟吭,岔道又居庸之藩篱也。自居庸南口至岔道,计程五十里,凡过长城六层,地势北高南下,岔道号称平地,然已高出京师万山之上矣” 15 。《出塞纪略》这一天的纪游,以道里行程“十五里”、“三里”、“复三里”、“又十二里”、“五里”作为游踪纪写的重点,最后以“五十里”收结。虽然尚有“水流潺 ”之类的模山范水之笔,但全天的重点不在山水之写已是不争的事实。这则记游日记实际上是以居庸关为轴心与参照系,详细交代北京北面的军事地理形势。

三 景、情的详略与文学游记的分类

文学游记以模山范水与表现作家的主观情思为主,但是,山水描写与情感抒发分属于客观之景与主观之情。文学游记或以客观之景为主,或以主观之情为主,造就了文学游记中的两种不同风貌。

苏轼是继柳宗元之后第一位大量创作游记的作家,他的游记以表现作家的主观情思为主。苏轼的游记主要保存在《东坡志林》中,下文选载《东坡志林》中《游沙湖》、《记游松江》、《记游庐山》、《记游松风亭》、《儋耳夜书》五篇游记:

游沙湖 16

黄州东南三十里为沙湖,亦曰螺师店,予买田其间。因往相田得疾,闻麻桥人庞安常善医而聋,遂往求疗。安常虽聋,而颖悟绝人,以纸画字,书不数字,辄深了人意。余戏之曰:“余以手为口,君以眼为耳,皆一时异人也。”疾愈,与之同游清泉寺。寺在蕲水郭门外二里许,有王逸少洗笔泉,水极甘,下临兰溪,溪水西流。余作歌云:“山下兰芽短浸溪,松间沙路净无泥,萧萧暮雨子规啼。谁道人间无再少?君看流水尚能西!休将白发唱黄鸡。”是日剧饮而归。

记游松江

吾昔自杭移高密,与杨元素同舟,而陈令举、张子野皆从余过李公择于湖,遂与刘孝叔俱至松江。夜半月出,置酒垂虹亭上。子野年八十五,以歌词闻于天下,作《定风波令》,其略云:“见说贤人聚吴分,试问,也应傍有老人星。”坐客欢甚,有醉倒者。此乐未尝忘也,今七年耳,子野、孝叔、令举皆为异物。而松江桥亭,今岁七月九日海风架潮,平地丈余,荡尽无复孑遗矣。追思曩时,真一梦耳。元丰四年十二月十二日,黄州临皋亭夜坐书。

记游庐山

仆初入庐山,山谷奇秀,平生所未见,殆应接不暇,遂发意不欲作诗。已而见山中僧俗,皆云:“苏子瞻来矣!”不觉作一绝云:“芒青竹杖,自挂百钱游。可怪深山里,人人识故侯。”既自 哂 前言之谬,又复作两绝云:“青山若无素,偃蹇不相亲。要识庐山面,他年是故人。”又云:“自昔忆清赏,初游杳霭间。如今不是梦,真 是庐山。”是日有以陈令举《庐山记》见寄者,且行且读,见其中云徐凝、李白之诗,不觉失笑。旋入开元寺,主僧求诗,因作一绝云:“帝遣银河一派垂,古来惟有谪仙辞。飞流溅沫知多少,不与徐凝洗恶诗。”往来山南北十余日,以为胜绝不可胜谈,择其尤者,莫如漱玉亭、三峡桥,故作此二诗。最后与 老同游西林,又作一绝云:“横看成岭侧成峰,到处看山了不同。不识庐山真面日,只缘身在此山中。”仆庐山诗尽于此矣。

记游松风亭

余尝寓居惠州嘉寺,纵步松风亭下,足力疲乏,思欲就林止息。望亭宇尚在木末,意谓是如何得到?良久忽曰:“此间有什么歇不得处!”由是如挂钩之鱼,忽得解脱。若人悟此,虽兵阵相接,鼓声如雷霆,进则死敌,退则死法,当什么时也不妨熟歇。

儋耳夜书

己卯上元,余在儋耳,有老书生数人来过,曰:“良月佳夜,先生能一出乎?”予欣然从之。步城西,入僧舍,历小巷,民夷杂揉,屠酤纷然,归舍已三鼓矣。舍中掩关熟寝,已 再鼾矣。放杖而笑,孰为得失?问先生何笑,盖自笑也,然亦笑韩退之钓鱼,无得更欲远去。不知钓者,未必得大鱼也。

上述五篇游记基本代表了苏轼游记的主要特点:略景存情与舍景存情。

在《记游庐山》这篇游记中,庐山胜景已淡化到可有可无境地了。“山谷奇秀,平生所未见,殆应接不暇”这种概括性的语言,代替了具体的景观描写,这与由晋宋地记开创的以逼真细腻的散文语言模山范水已差别甚大。相反,作者全力表现的是诗人畅游庐山的主观感受。这些感受集中反映在五首庐山记游诗中。因此,整篇游记实际上记录的是他的庐山记游诗及其创作始末。这些诗篇有的是对山中僧俗不忘故旧的感念,有的抒发了他意欲畅游庐山的夙愿得以实现的兴奋,有是对李白、徐凝庐山瀑布诗的评价,有的道出了入内出外才能了解一个复杂事物全貌的哲理。仅有的两首描写漱玉亭、三峡桥胜景的诗篇,作者却一首也未写入文中。苏轼游记重主体意识,表现自我感受的特点,表现得相当鲜明。

苏轼游记在景与情的关系上不求以景来维系游记的审美力,而是力求最大限度地表达自我感受。《游沙湖》,他着意抒写得友之乐;《记游松江》,他沉缅于丧友之痛,松江夜色与涉湖美景则不得不退到次要地位,以致一笔带过。《记游松风亭》表达的是要善于摆脱人为的拘牵,一切听从自然。《儋耳夜书》是作者的另一感悟:欲睡则不得游,欲游则不得睡。有得必有失,敢失方可能得。这类游记都是一时游兴引发了作者长期积淀的人生经验。

苏轼的游记多以表现作者的主观感受为主,多数以描写自然山水为主的游记以再现客观景物为主。前者是表现型游记,后者是再现型游记。

文学游记与地学游记共同组成了中国古代游记。文学游记中又因偏重于情或偏重于景,形成了表现型游记和再现型游记。

四 小 结

中国古代游记的三大文体要素对游记文体的形成和游记次文类的划分关系甚大。游踪发展的缓慢,直接导致了柳宗元游记的重大文体缺陷。重视游踪,强化地理知识而淡化模山范水,产生了中国古代的地学游记。在文学游记中,情与景的比重不同,又形成了表现型与再现型两类游记。

注释

①参王立群《晋宋地记与山水散文》,载《文学遗产》1990年第1期。

②参王立群:《中国古代山水游记研究》第二章,河南大学出版社1996年版。

③(宋)李 等:《太平御览》,中华书局1960年版,第290页。

④⑤(清)董诰等:《全唐文》,上海古籍出版社1990年版,第2854页。

⑥⑦⑧⑩11 12 13 14(明)徐弘祖:《徐霞客游记》,上海古籍出版社1982年版,第266页、46页、163页、10页、13页、26页、18页、223页。

⑨(清)王锡祺:《小方壶斋舆地丛钞》第7册,第4帙,杭州古籍书店1985年版,第1031页。15同上第3册,第3帙,第274页。

16本文所列5篇游记俱载《东坡志林》,中华书局1981年版。

原载:《文学评论》2005年第3期

http://www.literature.org.cn/Article.aspx?ID=6185

Literature 中文

日本最早的和歌物語《伊勢物語》導讀

【日本版羅密歐與茱麗葉】

賴振南 輔仁大學日本語文學系教授兼系主任

《伊勢物語》與《竹取物語》差不多同期問世,是日本文學史當中現存最早的和歌物語,也是和歌物語文學的代表作品。作者不詳。物語內容,是以著名和歌為主,敘述和歌的由來,或將戀愛故事、傳說逸事附會其上,形成一篇篇的物語。這部物語是由一百二十五話,總共二百零六首〈也有的版本為二百零九首〉和歌構成。

一般認為《伊勢物語》是以在原業平〈八二五至八八○年〉為原形塑造的「以前有一個男子〈以下統稱「某男子」〉」為主角貫穿全篇作品,描述他的家族關係、親戚關係、朋友關係、主從關係,以及分量占了七成以上的戀愛關係。時間上則由第一話的「某男子」初冠,一直描寫到一二五話的年老辭世,構成了一部一位多情男子的一代傳奇。整體而言,《伊勢物語》是一部以在原業平的和歌為中心
所構成的戀愛詩文集,堪稱日本人的戀愛聖經、文學的不朽名著。首先看一下第一話就可看出這位「某男子」是如何的一位戀愛高手。

第一話

從前有一個男子,方始束髮加冠之年,因在奈良都春日野附近的鄉村中有自家的領地,所以到那地方去打獵。在這鄉村裡,住著高貴而美貌的姐妹兩人。這男子就在牆垣的隙縫中窺看她們。想不到在這個荒涼的鄉村裡,無依無靠似的住著這麼兩個美人,他覺得奇妙,心中迷惑不解。就在自己的獵裝上割下一片布,在布上寫了一首歌,送給這兩個女子。此人穿的是信夫郡出產的麻布製的獵裝。

歌曰:
誰家姐妹如新綠,
使我春心亂似麻。

年紀還很輕,而說話全是大人口氣。
那兩個女子,大概也覺得這樣地詠歌是富有趣味的吧。

從前有一首古歌:
君心何故如麻亂,
我正為君夢想勞。
上文的歌,是巧妙地運用這古歌的意思吟成的。

從前的人,雖然年紀很輕,就會試行即興地表現風流情懷。《伊勢物語》這部作品,是由各個不同的章話集合構成,有些章話各別獨立,但也有些與鄰接的章話相互關聯。由於這個特殊性質,使得《伊勢物語》在發展過程當中出現了章話排列不同的異本。多數以「某男子」的初冠做為第一話,但亦有以「某男子」與伊勢齋宮之戀做為第一話等等不同的版本。因此有學者說,與伊勢齋宮之戀為首的版本,是《伊勢物語》的書名由來。

《伊勢物語》中多彩華麗的戀愛故事,尤以二條皇后物語及齋宮物語為最。男子與二條皇后之間的愛情,早在《伊勢物語》的前半,便以無法實現的悲戀形式出現。這場悲戀,也致使男子離開京城下放東國,進行其後的「下東國」的傷心之旅。

若將《伊勢物語》所有的章話視為一整個連貫的故事,是無法解釋、分析的。為理解這部作品的內容,應該將《伊勢物語》的各個章話分類為章話群來鑑賞。本導讀特別挑選其中有「日本版羅密歐與茱麗葉」之稱的《伊勢物語》第三、四、五、六、八話以及第六十四話、七十五話的二條皇后章話群加以介紹。

《伊勢物語》中,敘述男主角「某男子」的戀愛故事章話,占了全篇的七成左右。然而成為男子戀愛對象之女子,在故事中被明示身分者並不多。但在《伊勢物語》當中最具代表性的兩篇戀愛故事─二條皇后物語及伊勢齋宮物語中,不但明白點出男子戀愛對象的身份,而且兩者都是史實上的人物,地位高貴特殊,但最後卻以悲戀收場。

《伊勢物語》開頭的第三、四、五、六話裡,寫男子與二條皇后藤原高子之間的戀愛故事,形成一個章話群。

第三話裡,男子將珍奇的「鹿尾菜」隨著和歌「若教能免相思苦,枕袖臥薪亦不辭。」致贈給還是尋常人身份的二條皇后。

第四話敘述男子心儀的女子某日突然藏身不見之事。本話於首句點出女子身份:「皇太后住在東京的五條地方,其西邊的屋子裡住著一個女子。」此位居住於五條后順子宮西廂房之女子,根據史實,即是後來入宮的二條皇后高子。此話描寫了男子與女子兩人因偶然相遇,一見傾心,纏綿日久,終於情深如海,但女子忽然遷往別處去,男子只能抱著憂愁苦恨之心度送歲月。當隔年梅花盛開之際,男子想起了去年之事,便去尋訪那女子已經遷離的西廂房,站著眺望,坐著凝視,但見環境已經完全不一樣了。男子淌著眼淚,在荒寂的屋簷下,橫躺地面上,直到涼月西沈,回想去年的戀情,吟成詩歌:「月是去年月,春猶昔日春。我身雖似舊,不是去年身」到了天色微明之時,吞聲飲泣地回家去。

第五話描述男子和與第四話同樣居住於東五條大道的女子相戀,卻被女子居處的主人〈父母〉百般阻撓,但主人聽了男子所詠和歌「但願牆陰巡守者,達宵瞌睡到天明」,終於允許他們會面了。同時本話也在後注中明示此女子為二條皇后高子。

第六話則描寫男子「他和一個絕不能公開結婚的女子私通,持續了好多年。這女子也並不嫌惡這男子。因此這男子終於和女子約通,在某一天黑夜裡把她偷出,相偕逃走了。女子卻在途中被鬼吞食。文中後半話的解說中,特別述說女子被鬼吞食,其實是暗喻了男女私奔失敗,二條皇后中途被其兄長帶了回去。從第三話到第六話,短短的內容,雖沒有風花雪月的熱戀過程描述,但纏綿悱惻的
相思相戀的情境已填滿讀者的遐思空間,就算男子與女子的戀情因家人阻撓終究沒成功,也沒有導致「羅密歐與茱麗葉」的殉情場景,但在和歌情詩的助長下,也成就了一齣永垂千古抒情詩般的戀愛大悲劇。

第三至六話的二條皇后章話群之後,緊接著是第七至八話的「下東國」章話。一般認為,男子的東國之旅,是由於男子因為與二條皇后之間的戀愛絕望而進行的傷心之旅。其中第八話,男子於駿河國宇津山詠了一首思念京城戀人的和歌「都鳥應知都下是,我家愛侶近如何?」,再加上此話開頭的「認定自身在京都是個無用之人」描述,男子意氣消沈之情狀,可解釋為與二條皇后之間的戀情已絕望所致。

與二條皇后相關的章話, 其他還有六十四話及七十五話。第六十四話裡,「從前,某天皇時代,有一個女子,是恩寵深厚的侍女,特許她穿禁色的衣服。這女子是天皇母親的堂妹」,據推測這女子應是二條皇后高子,與「一個在殿上供職」,自稱「姓在原」的男子相戀。發現此事的「天皇」將男子流放,並將女子幽閉起
來,然而男子每天晚上從「流放地點」偷偷地混進來,到那女子禁閉的屋子旁邊,吹笛示愛,是一篇敘述男女激烈愛情的故事。這篇章話裡,不但寫出女子的身份,更點出男子是姓「在原」之人,很明顯地指出是在原業平與二條皇后高子之戀。

第七十五話,這是二條皇后還沒當皇后而稱為皇太子的母親的時候,有一天到寺院拜佛,賞賜隨從物品時,「某男子」以「在進衛府供職」的老人身份登場,也得到賞賜,於是就詠一首詩奉呈皇太子的母親:「原上老松樹,應多閱世勞。我今年已邁,閒夢憶前朝。」歌中隱含了對過去戀情的回顧與留戀。

在和歌與日常生活緊密結合的日本平安時代,人們對於和歌有著高度的敏感,無論是高雅的文藝雅趣,或是鄙俗的蜚短流長,都能夠入歌吟詠,或是隨著和歌本身流傳。而這些和歌與圍繞著和歌本身的傳聞,在口耳相傳的過程當中,也逐漸地被擴大、改造。這種形式為和歌物語所繼承,即使是空想之作,也將之渲染得煞有其事,虛實難辨。

二條皇后章話群中,與第四話、第五話以及第七十五話當中出現的和歌,也被收錄在《古今和歌集》裡,明示為在原業平所作之和歌。其餘第三話、第六話以及第六十四話中出現的多首和歌,部分收錄於《古今和歌集》中,但多為無名氏所詠之和歌。非在原業平所詠的和歌,卻將之視為業平作品,再加上背景敘述,便成為業平傳說的和歌物語的一部分,這就是《伊勢物語》的特色之一。

第六十四話龐大的戀愛物語,應是後人延續之前的二條皇后相關諸章話,利用多首和歌重新建構出來的虛構物語。寫下伊勢第六十四話的作者,閱讀過二條皇后相關章話後,嘗試將手邊的和歌解釋為在原業平與二條皇后之間的戀歌,而讀者亦被作者以明確的形態重新再構築的和歌物語所吸引,踏襲過去的和歌物語知識,享受新的創作。

另外,第六話前半充滿虛幻空想,後半則藉由說明敘述,將讀者帶回現實世界。此話男子所詠「問君何所似,白玉體苗條。君音如秋露,我欲逐君消。」的和歌,其實是一首作者不詳的名歌,而這篇章話的作者,賦予這首和歌虛實參半的故事情節,將和歌與故事記憶巧妙地結合在一起。《伊勢物語》第六話前半描述女子被鬼吞食,情節充滿非現實感,但作者籍由女子其實是被其兄長帶回的附
帶說明,將本篇故事與在原業平傳說結合在一起,使其成為《伊勢物語》的一環。 第六十四話的長篇和歌物語,亦是相同的手法,賦予了多首作者不詳的古歌新的生命詮釋。

在與二條皇后相關連的諸章話裡,男子被塑造成一個不畏身份差距,向困難挑戰的深情英雄。無論是第四話中,杳然音訊一年之後依然對女子情深的描述也好、第六話將女子盜出的情節也好,最為壓軸的,應該是第六十四話,可以說是挑戰天皇威權的追求行動了。男子此種「風流多情」的形象,是符合當時人們對於在原業平這類風流多情之士的期待。

二條皇后章話群,可以說是《伊勢物語》當中最富浪漫氣息的一話悲戀故事。《伊勢物語》的主角「某男子」─在原業平以及其戀愛對象二條皇后高子皆是史實上的人物。但是若從史實角度來考證,不符事實的部分很容易就會曝露出來。不過這種並非完全虛構,而是虛實參半的創作方法,讓讀者在欣賞物語的時候,多了一份想像的空間。

對於一個美好感人的故事,人們總是傾向於期望它是真實存在過的事。而《伊勢物語》的作者,便是巧妙地利用了讀者的此種心情,將史實存在的人物,以及和歌史上作者不詳的名歌,重新加以詮釋及再創作,寫出《伊勢物語》中篇篇膾炙人口的故事。其中二條皇后章話群所形成的「日本版羅密歐與茱麗葉﹂悲戀故事,更是本書的代表作。

最後,關於《伊勢物語》的中文翻譯,大陸豐子愷的簡體字版❶當然最早問世,台灣的林文月教授譯本❷也值得參考。不過,《伊勢物語》屬和歌物語的文學型態,在和歌的中文翻譯上就是各家顯現身手的重頭戲。雖然日本和歌中有五、七、五、七、七這樣的三一言固定形式,但中文翻譯則取決於各家翻譯手法而有所不同。像林文月教授翻譯《伊勢物語》中的和歌,是以共三句的形式翻譯,
並且會在譯文當中多加一個「兮」字,也就是仿楚辭的方式來翻譯和歌。林文月教授的翻譯特色,就是遵照和歌原有的三句形式,再以楚辭的修飾手法,展現和歌原貌。例如第一話的:「春日野の若紫のすり衣しのぶのみだれかぎりしられず」,林文月教授譯為:

「春日野兮信夫染,窺得卿貌心亂迷,若此紫紋兮情難斂。」林文月教授的翻譯手法近似楚辭,對於現代人在閱讀上可能會感覺較生硬。再對照豐子愷的譯文為:「誰家姐妹如新綠,使我春心亂似麻。」如此以七言對句的方式呈現。相較之下,我〈賴〉曾翻譯❸成:「春日郊野紫草嫩,貌美年輕情難忍,戀心恰似忍草染,模樣縱橫迷亂甚。」字數就更豐富,我的手法是以七言古詩的方式進行
和歌翻譯。我要說明的是,面對和歌的中文翻譯,雖是各家手法不盡相同,不過至少都會盡力將和歌中的涵義呈現出來,再以詩的方式來修飾文句。這其中很難評斷哪一家的手法較勝。其實有些和歌只要兩句就能夠將和歌的意思表達出來,但有時和歌具較深遠意義時,若仍侷限於兩句譯文要譯出,可能就略顯不足,所以這種情形就不易拿捏。因此當豐子愷翻譯和歌時,並沒有像林文月教授採取
三句的一貫翻譯手法,因此句意上會顯得比較淺顯易懂。相較之下,林文月教授的譯文就比較文言,含有較深的句意在裡面,讓讀者在閱讀的時候,還要再進一步思考中文的文言文涵義才能懂得整首和歌的意境。這種和歌的翻譯或許在詩境上會達到較深遠的層面,但也可能使讀者更難掌握其內容。

再者,關於《伊勢物語》第一二五段「つひにゆく道とはかねて聞きしかどきのふ今日とは思はざりしを」,豐子愷譯為:「有生必有死,此語早已聞。命盡今明日,教人吃一驚。」其中有文言,又有白話文〈教人吃一驚〉參雜。在此翻譯中,豐子愷犯了一個小錯誤。在原文「きのふ〈昨日〉今日」一句,應是指「昨日今日」,但他卻譯為「今明日」。一般在閱讀物語時,通常提到死期接近都是用「けふかあす〈今日明日〉」來形容,所以中文會用「今日或明日」來表達,但《伊勢物語》較特別,是用「きのふ今日」。一般人對於「きのふ今日」與「今日明日」的用法不會太在意,但我卻認為其中有很大的不同。從「きのふ今日」一詞中,讓我深深感受到,若死期本來應該是昨日,雖逃過一劫而延遲了一天,卻也是迫近到今天,感覺上吟詠此和歌者,受死神魔掌的壓迫已不見明日的曙光。但若是「今日明日」,則意指死神腳步才將接近,至少還有今天可以存活,因此緊迫、壓迫感就沒有「きのふ今日」來的強烈。換句話說,從《伊勢物語》當中用的「きのふ今日」一詞可以感覺出來,死神早已在昨日造訪過,其緊迫、壓迫感比用「今日明日」來得更加強烈。林文月教授譯為:「終將去兮此道途,亦曾聽聞非未曉,昨日今日兮竟逼吾。」有注意到「今明日」和「昨日今日」的差別,而且用字也相當好,可以感覺到其中的緊迫感。而我的翻譯仍採七言古詩方式,字數略多,「人生終往之死路,必至一事心有數,難料時日快且速,已至昨日今日處。」

足見翻譯一首和歌,非得面面俱到才行,一不留意和歌的日文意境,中文翻譯便會傳達錯誤。和歌是和歌物語文學《伊勢物語》的靈魂,再賦於感人的背景,
故事於是展現了生命力。《伊勢物語》在《源氏物語》名譯家豐子愷的巧筆妙譯下,呈現出不同於林文月教授譯本的另一番中文鑑賞樂趣。

①.豐子愷譯〈一九八四〉『落窪物語』日本文學叢書,人民文學出版社,內含『竹取物語﹄、『伊勢物語』、『落窪物語』三部作品。

②.林文月譯、圖〈一九九七〉《伊勢物語》洪範叢書,洪範書店。

③.賴振南譯〈一九九一〉「『伊勢物語』第一段.第一二五段」〈『東北學人』第八期,日本東北大學台灣留學生會〉。

第三話

從前有一個男子,他把一些製鹿尾菜❶。用的海藻送給他所戀慕的女子,附一首歌:

若教能免相思苦,
枕袖臥薪亦不辭。

這是二條皇后尚未侍奉清和天皇而還是普通身份的女子時的事。①.日語「鹿尾菜」與「枕袖」發音相似

第四話

從前,皇太后住在東京的五條地方。其西邊的屋子裡住著一個女子。有一個男子,並非早就戀慕這女子的,只因偶然相遇,一見傾心,纏綿日久,終於情深如海了。不意那年正月初十過後,這女子忽然遷往別處去了。向人打聽,得悉了她所住的屋子。然而這是宮中,他不能隨便前往尋訪。這男子就抱著憂愁苦恨之心度送歲月。

翌年正月,梅花盛開之際,這男子想起了去年之事,便去尋訪那女子已經遷離了的西邊的屋子,站著眺望,坐著凝視,但見環境已經完全變更。他淌著眼淚,在荒寂的屋簷下,橫身地面上,直到涼月西沉,回想去年的戀情,吟成詩歌如下:
月是去年月,春猶昔日春。

我身雖似舊,不是去年身。

到了天色微明之時,吞聲飲泣地回家去。

第五話

從前有一個男子,他和住在東京的五條地方的一個女子私通。本來是未得父母許可的偷情,所以不能公然地走進門去,而是從鄉間孩子們踏破了的泥牆的缺口處爬進去。這地方本來不大有人看見,但次數多了,女子的父母有了風聞,便在這戀愛的通路上每夜派人值班戒備。那男子去訪,不能逢到所戀的女子,只得折回。他悲慼地詠這樣一首歌:

但願牆陰巡守者,
連宵瞌睡到天明。

那女子聞知了,怨恨父母無情。但是後來,父母大約是可憐他們吧,允許他們會面了。

第六話

從前有一個男子,他和一個絕不能公開結婚的女子私通,持續了好多年。這女子也並不嫌惡這男子。因此這男子終於和女子約通,在某一天黑夜裡把她偷出來,相偕逃走了。他們沿著一條名叫芥川的河的岸邊走去,女的看見路旁的草上處處有露珠閃閃發光,便問男的:「那些是什麼東西呢?」然而前途遼遠,而且夜已很深,因此男的沒有答話的餘裕。

這期間忽然雷聲轟響,大雨傾盆。男的看見這地方有一所荒蕪了的倉屋,不知道這裡面有鬼,把女的隱藏在屋裡了,自己拿著弓,背著箭壺,站到門口。他一心希望天快點亮才好。這期間鬼早已把女子一口吞食。那女子大叫一聲「啊呀!」,然而這聲音被雷聲掩蓋,男的沒有聽到。

好容易雷雨停息,天色漸明。男的向倉屋中一看,不見了他所帶來的女子。他捶胸頓足地哭泣,然而毫無辦法了。於是他詠詩一首:

問君何所似,白玉體苗條。
君音如秋露,我欲逐君消。

說明: 這是二條皇后在她的當女御的堂姐宮中當侍從時的事。
這二條皇后氣品高尚,容貌美麗,因此有一個人背負了她,逃出宮去。她的哥哥堀河大臣籐原基經及其長子國經大納言,那時候身份還低微,這一天進宮去,在途中聽見一個女子痛哭的聲音,便把她喚回來,一看,原來這女子是他的妹妹,便把她帶了回去。前文說有鬼,便是暗指此事。這時候這二條皇后年紀還輕,還是普通人身份❶。

①.「堂姐女御」—籐原良房的女兒明子,是文德天皇的女御,清和天皇的母后。這物語是想像性的。國史大辭典中說:「在原業平看見良房欲將高子〈二十二歲〉送入宮中去當清和天皇〈十四歲〉的後室,欲設法攔阻,便和高子私通,誘她到五條宮來,出奔宮外。基經〈良房之養子,高子之兄〉等大怒,把業平的髮髻剪去,驅逐到東郡。」—原注

第六十四話

從前,某天皇時代,有一個女子,是恩寵深厚的侍女,天皇特許她穿禁色的衣服從前的皇宮中,有幾種顏色的衣服,只准天皇及皇族等穿著,臣下不得服用,即深紫、深紅、暗紅等,名曰禁色。。

這女子是天皇母親的堂妹。有一個在殿上供職的男子,自稱姓在原的,年紀還輕,和這女子相識。因為他是個少年人,所以應許他在殿上婦女所住的房間裡出入。有一次他來到這女子所住的房間裡,和她相對而坐。這女子很狼狽,對他說道:「這成什麼樣子呢!你這種行為,不是要使彼此身敗名裂麼?」那男子詠一首詩道:

莫得同歡會,相思苦不禁。
但能常相見,萬死也甘心。
他更無一點退避的樣子。這女子就走出殿上的房間,回到自己臥室裡去了。
殿上的房間,他尚且不怕,何況臥室裡,他更加無所顧忌,被人看見也不管,來得更勤了。這女子無計可施,就回到娘家去了。

這男子想道:「不怕,這樣反而方便。」便更加頻繁地訪問女子的家鄉。外人聞知此事,都笑道:「世間果有這樣恬不知恥的男子。」

這男子來到女子的家鄉,住了一晚,次日一早回到殿中,不讓早上打掃殿宇的執事人等看見,迅速地脫下自己的鞋子,一直丟進裡面,表示他昨晚在此值宿,現在上殿來了。

他每天扮演這樣的醜劇,卻私下考慮: 不久事情暴露,恐怕自己和那女子都要被視為無用之物而受免官處分,終於身敗名裂吧。

他便向神佛祈求:「如何是好呢?請佛菩薩消除我這熱狂的心情吧!」然而心情更加熱狂起來,竟會無緣無故地湧起戀愛之情。

於是請幾個陰陽師和神巫來,叫他們舉行祓禊,求神明消除他的戀情。準備了祓禊需用的種種物品,來到加茂川上。豈知在祓禊中,痛苦反而更加增長,戀情比以前更加狂熱了。他就詠一首詩:

求神憐憫我,剜我色情腸。
卻被神明誤,色情反更強。
便收拾回家去了。

此時的天皇,容姿端麗,每天早上修行,熱心念佛,聲音莊嚴清徹。那女子聽到了這聲音,私下痛哭。心念如此尊嚴的君王,她自己不能悉心侍奉,恐是前世作孽之故吧。受了那個少年的誘惑,行將身敗名裂了。

這期間,天皇聽到了這件事。這是應該處重刑的,但特地從寬,把那男子流放到附近地方。那女子的堂姐,命令她從宮中退出,把她禁閉在自己殿宇內的庫房中,以示懲戒。這個為戀愛而消瘦了的女子,哭哭啼啼地詠一首詩:

小蟲藏藻裡,被刈自喪身。
今我亦如此,責己不尤人。
她在禁閉中每天只是哭泣。

那男子還是忘不了她,每天晚上從流放地點偷偷地混進來,到那女子禁閉的屋子旁邊,專心一意地吹笛,並用優美的聲音歌唱悲哀的歌曲。女子閉居在庫房裡,聽到這聲音,知道是那個人,但是現在不能和他見面了。她不敢出聲歌唱,只是在心中默念一首詩:

知汝關心我,軻多苦辛。
我身遭禁閉,半死半生存。
那男子不得和女子相會,只得每夜到這裡來,歌唱這樣的詩:
去也徒然去,歸時空手歸。
只因貪接近,來往百千回。

第七十五話

從前,二條皇后還沒當皇后而稱為皇太子的母親的時候,有一天到寺院拜佛,那地方有一個在近衛府供職的老人。隨從人等受得了種種賞賜物品,這老人也得到一份。他就詠一首詩奉呈皇太子的母親,詩曰:

原上老松樹,應多閱世勞。
我今年已邁,閒夢憶前朝。

皇太子的母親看了這詩,是否也有所感而悲傷,筆者不得而知了。

http://www.books.com.tw/products/0010554099

Literature Văn học Mỹ Latinh

Jorge Luis Borges – Tlön, Uqbar, Orbis Tertius

Jorge Luis Borges

Tlön, Uqbar, Orbis Tertius

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Andrew Hurley

I

Tôi mắc nợ việc khám phá ra Uqbar từ sự kết hợp giữa tấm gương và một cuốn bách khoa thư. Tấm gương gây ra ưu phiền nơi tận sâu thẳm của lối hành lang tại một căn nhà miền quê ở Calle Gaona, thuộc Ramos Mejía [1] ; cuốn bách khoa thư với nhan đề sai lệch The Anglo-American Cyclopedia (New York, 1917), và nó là phiên bản in lại theo đúng từng chữ của cuốnEncyclopaedia Britannica bản năm 1902. Sự kiện đã diễn ra khoảng năm năm về trước.

Bioy Casares [2] đã đến dùng bữa tối tại nhà tôi buổi chiều đó, và chúng tôi đã lạc mất toàn bộ dấu vết của thời gian trong một cuộc tranh luận miên man về thể cách mà một người có thể thực hiện khi sáng tác một tác phẩm tiểu thuyết một nhân vật mà người dẫn chuyện trong đó sẽ bỏ đi hay làm méo mó đi các sự vật và dấn thân vào tất cả các dạng mâu thuẫn, để một vài độc giả – chỉ một số rất ít – có thể cảm nhận cái sự thật ghê sợ, hoặc tầm thường. Ở sâu thẳm của lối hành lang, cái gương treo lơ lửng, bí mật dõi theo chúng tôi. Chúng tôi phát hiện ra (vào thời điểm rất khuya thì một phát hiện như vậy là điều không thể né tránh) rằng có gì đó ghê sợ về những tấm gương. Đó là khi Bioy nhớ ra một câu nói của một trong những người thủ lĩnh phái dị giáo của Uqbar: Tấm gương và sự giao hợp đều đáng kinh tởm, vì cả hai đều làm nhân loại sinh sôi nảy nở thêm. Tôi hỏi anh ta rằng anh bắt gặp câu dí dỏm đáng nhớ đó ở đâu, và anh ta bảo tôi nó được ghi lại trong cuốn The Anglo-American Cyclopedia, trong bài viết nói về Uqbar.

Căn nhà to lớn già cỗi (chúng tôi đã cho sơn phết lại) sở hữu một bản sao của tác phẩm đó. Trong những trang cuối của Quyển XLVI chúng tôi phát hiện một bài viết về Uppsala; trong những trang đầu của Quyển XLVII, là về “Ural-Altaic Languages” – không một từ nào dành cho Uqbar. Bioy, hơi rối lên, đã tham khảo những quyển Chỉ mục. Anh ta cố gắng mọi khả năng viết có thể: Ukbar, Ucbar, Ookbar, Oukbar… tất cả đều vô dụng. Trước rời khỏi, anh ta bảo tôi đó là một vùng nằm ở Iraq hoặc ở vùng Tiểu Á. Tôi thú nhận là tôi đã gật đầu có hơi chút miễn cưỡng; tôi cho rằng cái quốc gia không có cơ sở kia và vị thủ lĩnh dị giáo vô danh tính là sản phẩm hư cấu mà Bioy đã dựng nên trong một giây phút bất chợt, bởi tính khiêm tốn, nhằm để xác minh một câu nói dí dỏm trông có vẻ hay ho. Cuộc tìm kiếm vô ích suốt cả cuốn tập bản đồ của Justus Perthes đã củng cố cho sự ngờ vực của tôi.

Ngày tiếp theo, Bioy ở Buenos Aires gọi điện cho tôi. Anh ta bảo tôi là anh ấy đã có bài viết về Uqbar nằm bên phải ngay trước mặt – ở trong Quyển XLVI [3] của bộ bách khoa thư. Tên của vị thủ lĩnh kia không được nêu ra, nhưng phần mục từ đó đã tường thuật lại cái học thuyết của ông ta, được trình bày rõ ràng bằng những ngôn từ mà gần như tương tự với những ngôn từ Bioy đã trích dẫn lại, mặc dù từ quan điểm văn chương thì chúng có lẽ hạ cấp hơn. Bioy đã nhớ về cái việc “giao hợp và những tấm gương đều đáng kinh tởm,” trong khi đoạn văn bản của bộ bách khoa thư thì chạy dòng chữ: Đối với một trong số những phái ngộ giáo kia, thì cái vũ trụ hữu hình là một ảo ảnh hay, chính xác hơn, là điều nguỵ biện. Những tấm gương và cái cương vị làm cha đều đáng ghét bởi vì chúng làm sinh sôi và trưng ra vũ trụ. Tôi bảo Bioy, giọng khá thành thật, rằng tôi muốn xem bài viết đó. Một vài ngày sau anh ta mang lại cho tôi – nó làm tôi kinh ngạc bởi vì các chỉ mục về thuật vẽ bản đồ rất tỉ mỉ trong phần Erdkunde (địa lí học) của Ritter đã cho thấy một thứ trống rỗng hoàn toàn và tuyệt đối về sự tồn tại của cái tên Uqbar.

Quyển mà Bioy mang về thật sự là Quyển XLVI của bộ The Anglo-American Cyclopedia. Cả trên cái bìa và cái gáy giả kia, thì những từ khoá bảng chữ cái cho biết nội dung quyển sách (Tor-Upps) tương tự như cái của chúng tôi, nhưng thay vì 917 trang, thì quyển của Bioy có tới 921 trang. Bốn trang thêm vào đó giữ một bài viết về Uqbar – một bài viết không được biểu thị (như độc giả sẽ chú ý) theo từ khoá bảng chữ cái. Chúng tôi sau đó đối chiếu hai quyển và thấy rằng không có khác biệt gì thêm giữa chúng. Cả hai (như tôi tin tôi đã nói vậy) đều là bản in lại của ấn bản thứ mười bộ Encyclopaedia Britannica. Bioy đã mua bản của anh ta tại một trong những quầy bán hàng.

Bọn tôi đọc bài viết khá cẩn trọng. Đoạn văn mà Bioy đã nhớ ra có lẽ là đoạn duy nhất có thế khiến độc giả nhướng mày lên;  phần còn lại xem ra khá hợp lí, phần nhiều được giữ theo giọng điệu chung của cả bộ bách khoa thư, thậm chí (theo lẽ tự nhiên) còn khá buồn tẻ nữa. Tuy vậy, đọc lại nó, chúng tôi khám phá ra rằng bài viết kĩ càng đó có một điều mơ hồ cơ bản làm cơ sở phía dưới. Trong số mười bốn cái tên vốn nằm trong phần nói về địa lí, chúng tôi chỉ nhận ra ba cái tên (Khorasan, Armenia, Erzerum), toàn bộ được đưa vào văn bản một cách nhập nhằng. Trong số những cái tên lịch sử, chúng tôi chỉ nhận ra một: vị pháp sư mạo danh Smerdis, và hắn ta được viện dẫn ra như là một ẩn dụ, thật sự vậy. Bài viết dường như xác định được các biên giới của Uqbar, nhưng các điểm tham chiếu mập mờ là những con sông và những hố to và những dãy núi của chính vùng đó. Ví dụ như chúng tôi đọc được rằng vùng châu thổ Axa và miền đất thấp Tsai Khaldun đánh dấu  đường biên giới phía nam, và rằng những con ngựa hoang sinh nở trên các hòn đảo ở vùng châu thổ đó. Đó là ở đầu trang 918. Ở phần bàn về lịch sử Uqbar (trang 920), chúng tôi biết được rằng sự ngược đãi tôn giáo ở thế kỉ mười ba đã buộc những kẻ chính thống phải tìm nơi tị nạn ở những hòn đảo tương đồng nhau kia, nơi mà những cột tháp vẫn còn đứng đó và những tấm gương đá thỉnh thoảng được đào bới lên. Phần có nhan đề “Ngôn ngữ và Văn chương” khá ngắn gọn. Một điểm đáng nhớ: bài viết nói rằng nền văn chương ở Uqbar là nền văn chương huyễn tưởng, và những thiên anh hùng ca và các huyền thoại chưa bao giờ có liên hệ với thực tại mà thay vào đó liên hệ tới hai địa hạt tưởng tượng của Mle’khnas và Tlön…Phần danh mục sách tham khảo liệt kê bốn quyển mà chúng tôi chưa tìm ra, mặc dù quyển thứ ba – cuốnHistory of the Land Called Uqbar [Lịch sử vùng đất có tên gọi Uqbar] (1874) của Silas Haslam – không nằm trong những danh mục xuất bản bởi người bán sách Bernard Quaritch [a]. Quyển đầu tiên, Lesbare und lesenswerthe Bemerkungen über das Land Ukkbar in Klein-Asien [Những nhận xét dễ đọc và đáng đọc về quốc gia Ukkar ở vùng Tiểu Á], xuất bản năm 1641, là tác phẩm của một người tên Johannes Valentinus Andreä. Sự kiện đó rất có ý nghĩa: hai hoặc ba năm sau đó, tôi tình cờ gặp cái tên đó trong những trang sách bất chợt của De Quincey (Writings, Quyển XIII) [4] , tại đó tôi biết được rằng nó thuộc về một nhà thần học người Đức, người mà trong đầu thế kỉ mười bảy đã mô tả một cộng đồng tưởng tượng, cộng đồng Thánh giá Đỏ hồng  – mà những người khác sau đó cũng tìm ra được, theo một lối bắt chước theo mà ông đã báo trước.

Đêm đó, Bioy và tôi ghé Thư viện Quốc gia, nơi đó chúng tôi nghiền ngẫm một cách vô ích hàng bao nhiêu cuốn tập bản đồ, danh mục, chỉ mục theo năm do những hội địa lí xuất bản, hồi kí của những kẻ du hành và các sử gia – không ai đã từng đến Uqbar. Phần chỉ mục tổng quát trong bản sao bộ bách khoa thư của Bioy cũng không chứa cái tên đó. Ngày tiếp đó, Carlos Mastronardi [5](người mà tôi đã kể toàn bộ điều này) nhận thấy những cái gáy màu đen và bằng vàng của bộ The Anglo-American Cyclopedia trong một tiệm sách nằm ở góc của Corrientes và Talcahuano… Anh ta đi vào và tham khảo Quyển XLVI. Theo lẽ tự nhiên, anh ta không tìm ra được một đề cập nhỏ nhoi nào về Uqbar.

II

Một kí ức hạn hẹp nào đó và đang phai mờ đi về Herbert Ashe, một kĩ sư của Tuyến Đường sắt Phương nam, vẫn còn đang sống lây lất trong một khách sạn ở Adrogué, giữa những cây nho đang tuôn trào và trong những chỗ sâu thẳm mang tính hão huyền của những tấm gương. Trong cuộc sống, Ashe bị cái hư ảo làm cho đau khổ, như nhiều người Anh khác; trong cái chết, anh ta thậm chí không phải là một bóng ma như anh ta đã từng trong cuộc sống. Anh cao và trầm tĩnh và bộ râu quai nón hình chữ nhật đầy mệt mỏi của anh đã từng có màu đỏ. Tôi hiểu rằng anh là kẻ goá vợ, và không có con cái. Cứ mỗi vài năm, anh sẽ trở về nước Anh, để thực hiện chuyến thăm (tôi đang đánh giá từ một số bức ảnh mà anh cho chúng tôi xem) đến cái đồng hồ mặt trời và mấy cây sồi. Cha tôi đã thiết lập một trong những tình bạn thân thiết đó (tính từ thân thiết xem ra hơi quá) bắt đầu từ những điều thầm kín không ai biết và sớm loại bỏ đi sự trò chuyện. Họ trao đổi sách báo; họ khởi xướng trận đánh im lìm ở bàn cờ… Tôi nhớ Ashe ở trong hành lang khách sạn, cầm một cuốn sách toán, thỉnh thoảng ngước nhìn những sắc màu tan biến đi của nền trời. Một chiều nọ, chúng tôi nói về hệ số thập nhị phân, trong đó số mười hai được viết là 10. Ashe bảo rằng bằng một sự trùng hợp, anh vừa mới chuyển đổi mấy bản số hệ thập nhị phân sang hệ thập lục phân (ở đó số sáu mươi được viết là 10). Anh ta nói thêm rằng anh ta được một gã đàn ông Norway uỷ thác làm công việc đó… ở Rio Grande do Sul. Ashe và tôi đã biết nhau được tám năm, và anh ta chưa từng đề cập đến việc ở lại Brazil. Chúng tôi nói đến đời sống thôn dã điền viên, nói đến capangas, [6]  nói đến ngữ nguyên của từ “gaucho” trong tiếng Brazil (mà một nhóm người già ở Uruguay vẫn còn phát âm nó là ga-úcho), và không gì khác hơn – Chúa tha tội cho tôi – là về những con số thập nhị phân. Vào tháng 9 năm 1937 (gia đình tôi và tôi không còn ở khách sạn nữa), Herbert Ashe chết vì bị vỡ túi phình mạch máu. Một vài sau trước cái chết, anh ta nhận được một kiện hàng được niêm phong và chứng nhận đến từ Brazil chứa một cuốn sách được in theo khổ tám. Anh để nó trên quầy rượu, là nơi tôi tìm thấy cuốn sách một vài tháng sau đó. Tôi bắt đầu giở lướt nhanh các trang sách và đột nhiên tôi cảm thấy một cơn choáng váng nhè nhẹ và gây kinh ngạc mà tôi sẽ không mô tả nó, bởi vì đây là câu chuyện không phải về cảm xúc của riêng tôi mà về Uqbar và Tlön và Orbis Tertius. (Vào một đêm Hồi giáo đặc thù, được gọi là Buổi đêm của những đêm, những cánh cổng bí mật của thiên đàng mở rộng và nước trong những vại nước thì ngọt ngào hơn những đêm khác; nếu những cánh cổng kia mở ra khi tôi ngồi đó, tôi chắc sẽ không cảm thấy cái mà tôi cảm thấy chiều hôm đó.) Cuốn sách viết bằng tiếng Anh, và nó bao gồm 1001 trang. Trên cái gáy vàng của quyển sách bọc bằng da thuộc tôi đọc những dòng chữ gây tò mò này, mà đã được lặp lại ở trên cái bìa sách giả kia: A First Encyclopaedia of Tlön. Vol. XI.Hlaer to Jangr. Không có ngày hay nơi xuất bản. Ở trang đầu tiên và một lần nữa trên trang giấy mịn màng bao trùm một trong những hình ảnh minh hoạ đầy màu sắc, có một hình oval màu xanh dương được in dấu lên với dòng chữ khắc này: Orbis Tertius. Hai năm trước đó, tôi đã khám phá ra có một bản mô tả ngắn gọn về một quốc gia không có thật ở trong một trong những quyển của một cuốn bách khoa thư bị sao chép lậu nào đó; giờ đây thì định mệnh đã tạo ra trước tôi một điều gì đó quí giá hơn và đòi hỏi công sức hơn nhiều. Tôi bây giờ nắm giữ trong tay một mảnh vô cùng to lớn và có hệ thống của toàn bộ lịch sử của một xứ sở vô danh, với những kiến trúc và những lá bài, hỗi kinh sợ của những huyền thoại và giọng nói xì xầm của những ngôn ngữ, những vị hoàng đế và những vùng biển, những quặng khoáng sản và những loài chim, loài cá, nền đại số học và lửa, nền thần học và những cuộc tranh cãi siêu hình học – tất cả hợp lại, khớp với nhau, dính kết chặt chẽ, và không có một mục đích nào liên quan một học thuyết bất kì hay một dấu hiệu giễu nhại nào hiện hữu.

Trong “Quyển Mười một” mà tôi nói đến, có những hàm ý đến những quyển sau và những quyển trước. Néstor Ibarra [7] , trong một bài viết nay đã thành kinh điển trong N.R.F., đã phủ nhận rằng những quyển đồng hành như thế có tồn tại; Ezequiel Martínez Estrada [8] và Drieu La Rochelle [9]đã bác bỏ lòng hoài nghi đó, có lẽ đã bác thành công. Sự việc là, những cuộc tìm kiếm kĩ lưỡng nào giờ đã trở thành vô dụng. Vô ích kể cả khi chúng tôi lật ngược mấy cái thư viện ở cả Mĩ lẫn châu Âu. Alfonso Reyes [10] , chán nản “những công việc lao dịch thấp kém của loại công việc điều tra” thế kia, đã đề nghị rằng chúng tôi nên đảm nhiệm việc tái xây dựng hầu hết những quyển sách đồ sộ này vốn đã bị thất lạc: ex ungue leonem (nhìn móng chân con sư tử là thấy ngay được cả con). Anh ta tính toán, nửa đùa nửa thật, rằng một thế hệ của người Tlön là đủ rồi. Việc phỏng đoán táo bạo đó đưa chúng tôi quay ngược về vấn đề ban đầu: Ai, số ít hay số nhiều, là người tạo ra Tlön? Số nhiều thì, theo tôi nghĩ, khó có thể tránh khỏi, bởi vì giả thuyết về một người sáng tạo độc nhất – một dạng Leibniz bất tận nào đó làm việc trong tình trạng bị lãng quên và khiêm nhường – được bãi bỏ từ sự đồng thuận của mọi người. Người ta phỏng đoán rằng cái “thế giới mới can trường” này là tác phẩm của một nhóm người bí ẩn của những nhà thiên văn học, nhà sinh vật học, kĩ sư, nhà siêu hình học, nhà thơ, nhà hoá học, nhà đại số học, nhà đạo đức học, hoạ sĩ, nhà hình học…, tất cả được hướng dẫn và chỉ đạo bởi một người đàn ông thiên tài ẩn mình trong bóng tối. Có nhiều người tài năng trong những lĩnh vực khác biệt nhau như thế, nhưng ít ai có khả năng sáng tạo – và ít người hơn nữa có cái khả năng sáng tạo ở cấp thấp hơn cho một kế hoạch tỉ mỉ và mang tính hệ thống. Kế hoạch to lớn đến mức sự đóng góp của mỗi nhà văn là vô cùng nhỏ bé.

Đầu tiên người ta nghĩ rằng Tlön là một thứ hỗn độn thật sự, một hành vi vô trách nhiệm từ sự phóng túng trong sáng tạo; ngày nay chúng tôi biết rằng nó là một vũ trụ, và rằng những qui luật thâm sâu nhất chi phối nó đã được hình thành nên, tuy nhiên cũng là tạm thời. Chỉ cần gợi nhắc lại cho độc giả nhớ rằng những mâu thuẫn rành rành của Quyển Mười một là viên đá nền tảng cho cái bằng chứng về sự tồn tại của những quyển kia: cái trật tự vốn được quan sát trong bản thân nó thì vừa rõ ràng và vừa phù hợp. Những tạp chí phổ thông đã loan báo, với sự thái quá có thể dung thú, về lĩnh vực động vật học và phép vẽ địa hình của Tlön. Theo quan điểm của tôi, những con cọp hiển hiện ra của vùng đó và những toà tháp đầy máu có lẽ không xứng đáng có được sự chú ý thường trực của toàn thể nhân loại, nhưng tôi có thể quá táo bạo về việc cầu xin một vài khoảnh khắc để phác hoạ cái quan niệm của Tlön về cõi vũ trụ.

Hume luôn khẳng định rằng những luận cứ của Berkeley thừa nhận không chỉ một sự bác bỏ nhỏ nhặt nhất, chúng cũng không gợi lên một niềm tin nào. Phát ngôn đó hoàn toàn là thật với sự liên hệ đến trái đất, và hoàn toàn sai nếu liên hệ với Tlön. Các quốc gia trong hành tinh đó bẩm sinh đã đạt được mức lí tưởng. Ngôn ngữ của họ và những sự vật kia bắt nguồn từ ngôn ngữ – tôn giáo, văn chương, siêu hình học – hàm ý cho thuyết lí tưởng. Đối với người Tlön, thế giới không phải là một hỗn hợp của những vật thể trong không gian; nó là một dãy không đồng nhất của những hành vi độc lập – thế giới là chuỗi liên tục, thuộc về thời gian, nhưng không thuộc về không gian. Không có danh từ nào trong Ursprache (ngôn ngữ gốc) mang tính phỏng đoán của xứ Tlön, mà từ đó hình thành những ngôn ngữ và phương ngữ “ngày nay”: có những động từ không ở ngôi nào cả, biến cách theo những hậu tố (hoặc tiền tố) đơn âm tiết mang chức năng như những trạng từ. Ví dụ, không danh từ nào tương ứng với từ “mặt trăng” của chúng ta”, nhưng có một động từ mà nếu theo tiếng Anh sẽ là “to moonate” hoặc “to enmoon”. “Mặt trăng mọc trên dòng sông” sẽ là “hlör u fang axaxaxas mlö”, hoặc, như Xul Solar [11] dịch ra khá chuẩn xác: Hướng lên trên phía sau những dòng nước đang chảy mọc lên một mặt trăng. [Upward, behind the onstreaming it mooned]

Qui tắc đó áp dụng cho những ngôn ngữ ở bán cầu nam. Ở bán cầu bắc (về những Ursprache của nó thì Quyển Mười một chứa khá ít thông tin), đơn vị chính không phải là động từ mà là một tính từ đơn âm tiết. Các danh từ được hình thành bằng cách nối lại các tính từ với nhau. Người ta không nói “moon” [mặt trăng] mà nói “aerial-bright above dark-round” [sáng trưng lửng lơ phía trên vòng tròn tối] hoặc là “soft-amberish-celestial” [trên bầu trời có màu hổ phách nhẹ] hay bất kì một chuỗi nào khác. Trong trường hợp này, tổ hợp của những tính từ tương ứng với một vật thể thực, nhưng đó chỉ đơn thuần là tình cờ. Nền văn chương của bán cầu bắc (như trong thế giới đang tồn tại của Meinong) được lấp đầy bởi những vật thể lí tưởng, được tạo nên và hoà tan trong chốc lát, theo như yêu cầu của thi ca. Thỉnh thoảng thì chúng được tạo ra bởi tính đồng thời. Có những vật bao gồm hai cụm, một về thị giác, cái còn lại về thính giác: màu sắc của mặt trời mọc và tiếng chim kêu thảm thiết từ đằng xa. Có những vật bao gồm nhiều: mặt trời và nước nổi bật trên bộ ngực của người đang bơi, sắc hồng lung linh mờ ảo mà người ta thấy khi nhắm mắt lại, cảm giác của việc bị cuốn đi bởi dòng sông, và cũng bởi thần Morpheus, vị thần của giấc mộng. Nhữn vật thể ở cấp độ thứ nhì này có thể được kết hợp với những cái khác; tiến trình, bằng cách dùng những chữ viết tắt cụ thể, hầu như là bất tận. Có những bài thơ nổi tiếng được tạo thành từ một chữ đơn lẻ dài đằng đẵng; từ này là “vật thể thi ca” được tạo ra bởi nhà thơ. Sự việc không ai tin vào thực tại được diễn tả bằng những danh từ như thế này có một ý nghĩa nghịch lí rằng không có giới hạn cho các con số của họ. Những ngôn ngữ của vùng bán cầu bắc xứ Tlön sở hữu tất cả các danh từ của những ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Ấn-Âu – và còn nhiều hơn thế nữa.

Không hề phóng đại khi nói rằng nền văn hoá cổ đại của Tlön bao gồm chỉ một lĩnh vực – tâm lí học – còn toàn bộ những cái kia chỉ là thứ yếu so với nó. Tôi vừa nói rằng con người của hành tinh đó quan niệm vũ trụ như là một chuỗi các tiến trình tinh thần xảy ra không phải ở không gian mà thay vào đó xảy ra liên tục ở thời gian. Spinoza hình dung ra vị thần không biết mệt mỏi của ông có những đặc tính của sự mở rộng không gian và của tư duy; không ai ở Tlön sẽ hiểu ra mối quan hệ kề nhau của cái đầu tiên, vốn điển hình chỉ ở những trạng thái nhất định, và cái thứ nhì – là một dạng đồng nghĩa hoàn hảo với vũ trụ. Hoặc đặt nó theo cách khác: không gian không được quan niệm như đang có thời lượng trong thời gian. Việc cảm thức một đám mây khói ở chân trời và rồi vùng quê chìm trong lửa và rồi điếu thuốc cháy một nửa tạo ra một khu đất cháy sém, được xem như là một ví dụ cho sự liên hệ các ý tưởng.

Niềm tin về độc thần, hay thuyết duy tâm, triệt để thế này đã khiến cho khoa học thành con số không. Lí giải (hoặc để đưa ra đánh giá) một sự kiện là liên kết nó với cái khác; ở Tlön việc kết-nối-lại-với-nhau như thế là một trạng thái xảy ra sau của chủ thể, và không thể tác động cũng như soi sáng cho trạng thái trước đó. Mọi trạng thái tinh thần đều ở mức tối giản: một hành vi đơn giản của việc đặt tên cho nó – tức là phân loại nó – sẽ giới thiệu ra một sự méo mó, một dạng “nghiêng về một bên” hoặc “thiên vị”. Một người có thể giỏi diễn dịch ra, do đó, ở Tlön không có khoa học – hoặc thậm chí bất kì “hệ thống tư duy” nào. Cái sự thật nghịch lí là các hệ thống tư duy có tồn tại, với một lượng lớn gần như vô tận. Triết học rất giống với các danh từ ở bán cầu bắc; thực tế rằng mọi nền triết học theo định nghĩa là một trò chơi biện chứng, một Philosophie des Als Ob, điều đó cho phép chúng phát triển nảy nở lên. Có những hệ thống trên những hệ thống khó tin nhưng sở hữu nghệ thuật kiến trúc hài hoà hay một thuyết duy cảm dễ chịu nào đó. Các nhà siêu hình học ở Tlön đi tìm không phải chân lí, hay thậm chí là sự hợp lí – họ tìm cái cách gây sửng sốt và làm kinh ngạc. Theo quan điểm của họ thì siêu hình học là một nhánh của văn chương huyễn tưởng. Họ biết rằng một hệ thống là con số không ngoại trừ việc là hình thức thấp kém hơn của toàn bộ những khía cạnh của cõi vũ trụ cho đến việc là một trong những khía cạnh đó – bất kì cái nào trong số đó. Thậm chí cả cụm từ “toàn bộ những khía cạnh” cũng nên được tránh đi, bởi vì nó hàm ý về việc không thể thêm vào khoảnh khắc hiện tại và toàn bộ những khoảnh khắc đó vốn đã đi qua rồi. Ngay cả dùng số nhiều trong cụm “những khoảnh khắc đó vốn đã đi qua rồi” cũng không hợp lệ, vì nó hàm ý một quá trình không thể xảy ra… Một trong những trường phái triết học ở Tlön đi quá xa về việc phủ nhận sự tồn tại của thời gian; nó biện luận rằng hiện tại là không xác định và bất tận, tương lai không có thực tại ngoại trừ có vai trò như một niềm hi vọng của hiện tại, và quá khứ không có thực tại ngoại trừ có vai trò như là kí ức của hiện tại [b]. Một trường phái khác đưa ra ý rằng mọi thời điểm đều đã trôi qua cả rồi, để cuộc đời chúng ta chỉ là kí ức lúc chiều tà, hoặc chỉ là những suy tưởng lúc chiều tà của một tiến trình không thể thu hồi được, vốn không thể nghi ngờ gì nữa là đã bị méo mó và huỷ hoại đi. Tuy vậy, một trường phái khác khẳng định rằng lịch sử vũ trụ – và trong lịch sử đó, cuộc sống chúng ta và những chi tiết mờ nhạt nhất trong cuộc sống chúng ta – là bản viết tay của một vị thần hạ cấp cố gắng giao tiếp với quỉ dữ. Một trường phái khác, bảo rằng vũ trụ có thể được so sánh với những bản mật mã mà ở đó không phải tất cả các biểu tượng đều được tính vào, và chỉ có điều xảy ra cứ mỗi ba trăm đêm là thật sự có thực. Một trường phái khác, bảo rằng trong khi chúng ta ngủ ở đây, thì chúng ta thức ở một nơi khác, để cho mọi con người thực tế là hai người.

Trong toàn bộ các học thuyết của Tlön, không cái nào gây ra náo động bằng thuyết duy vật. Một số nhà tư tưởng đã tạo nên nền triết học này (nhìn chung là ít sáng sủa hơn lòng nhiệt thành) như thể đưa ra một nghịch lí. Để làm cho luận đề bất khả hình dung này dễ hiểu hơn, một vị thủ lĩnh dị giáo ở thế kỉ mười một [c] đã trình bày sự nguỵ biện của chín đồng xu, một nghịch lí nổi tiếng nhờ tai tiếng ở Tlön cũng tựa như Eleatic aporiae [nghịch lí Eleatic] đối với bản thân chúng ta. Có nhiều phiên bản của “luận cứ đắt giá” đó, với lượng đồng xu và những khám phá khác nhau; phiên bản sau đây là thường gặp nhất:

Thứ ba, X đang đi bộ dọc theo con đường hoang vắng và làm mất chín đồng xu. Thứ năm, Y tìm ra bốn đồng trên con đường, vẻ bóng bẩy của chúng phần nào bị mờ đi do cơn mưa hôm thứ tư. Thứ sau, Z phát hiện ra ba đồng trên con đường. Sáng thứ sáu, X tìm được hai đồng ở trên hàng hiên nhà mình.

Từ câu chuyện này, vị thủ lĩnh kia mong muốn diễn dịch ra thực tại – tức là, tính liên tục trong thời gian – của chín đồng được thu hồi lại kia. “Thật lố bịch,” ông ta nói, “hình dung rằng bốn đồng trong số đó không tồn tại từ thứ ba đến thứ năm, ba đồng từ thứ ba đến chiều thứ sáu, hai đồng từ thứ ba đến sáng thứ sáu. Theo luận lí học mà nghĩ thì chúng thực tế có tồn tại – dù rằng theo một cách thức bí ẩn nào đó chúng ta không được phép hiểu – ở bất kì lúc nào trong số ba thời điểm đó.”

Ngôn ngữ của Tlön kháng cự lại việc hình thành nghịch lí này; hầu hết mọi người không hiểu nó. Cái trường phái theo “lí lẽ thông thường” đầu tiên đơn giản chỉ là phủ nhận sự thật của giai thoại đó. Họ khẳng định nó là một sự nguỵ biện ngôn từ dựa trên việc sử dụng hai cách diễn đạt từ mới một cách cẩu thả, những ngôn từ trái phép theo cách dùng chuẩn và xa lạ với toàn bộ quá trình tư duy kĩ lưỡng: hai động từ “tìm” và “mất,” theo sau một petitio principii [nguyên lí tưởng chừng là đúng], bởi vì chúng giả định tính đồng nhất của chín đồng đầu tiên và chín đồng sau đó. Những nhà phê bình này gợi cho người nghe nhớ rằng toàn bộ các danh từ (người đàn ông, đồng xu, thứ năm, thứ tư, mưa) chỉ có giá trị ẩn dụ. Họ phê phán kịch liệt chi tiết sai lệch về “vẻ bóng bẩy của [những đồng xu] phần nào mờ đi do cơn mưa hôm thứ tư”, cho nó như là một tiền giả định cho cái nó nỗ lực chứng tỏ: sự tồn tại liên tục của bốn đồng xu từ thứ ba đến thứ năm. Họ giải thích rằng “tính bình đẳng” là một thứ và “tính đồng nhất” là thứ còn lại, và họ hình thành một dạngreductio ad absurdum [chứng minh bằng phản chứng] – một trường hợp giả thuyết của chín người đàn ông những người trong chín đếm liên tiếp đã trải nghiệm một cơn đau buốt dữ dội. Họ hỏi rằng, liệu nó sẽ không vô lí để giả vờ rằng người đàn ông đã mắc phải cùng một cơn đau? [d]Họ cho rằng vị thủ lĩnh kia có động cơ từ lòng ham muốn báng bổ thần linh khi gán cái phạm trù thần thánh về tồn tại cho một nhúm đồng xu tầm thường, và cho rằng thỉnh thoảng ông ta phủ nhận tính đa nguyên và thỉnh thoảng lại không. Họ lập luận: Nếu tính bình đẳng theo sau tính đồng nhất, người ta sẽ phải thừa nhận rằng chín đồng xu là một đồng xu duy nhất.

Khó tin là những lời bác bỏ kia không đặt dấu chấm hết cho sự việc. Một trăm năm sau khi vấn đề lần đầu được trình ra hỏi, một nhà tư tưởng không kém thông minh hơn vị thủ lĩnh kia, nhưng thuộc về truyền thống chính đạo, đã trình bày một giả thuyết táo bạo. Phỏng đoán tài tình của ông ta là chỉ có duy nhất một chủ thể; cái chủ thể không thể ra chia ra được này là mọi sự tồn tại trong vũ trụ, và những tồn tại của vũ trụ là những cơ quan và vẻ mặt ngoài của đấng thần linh. X là Y và cũng là Z, Z phát hiện ra ba đồng bởi vì anh ta nhớ rằng X làm mất chúng; X tìm thấy hai đồng ở trên hàng hiên nhà mình bởi vì anh ta nhớ rằng những đồng khác đã được tìm thấy… Quyển Mười một đề xuất ý rằng thuyết phiếm thần duy tâm này đã thành công so với tất cả các trường phái tư tưởng khác vì ba nguyên nhân chính: đầu tiên, bởi vì nó bác bỏ thuyết duy ngã; thứ nhì, bởi vì nó để lại nguyên vẹn cả một nền tảng khoa học của tâm lí học; và thứ b a, bởi vì nó bảo toàn cái triển vọng của tôn giáo. Schopenhauer (một Schopenhauer nhiệt huyết mà minh bạch) đã trình bày rõ ràng ra một học thuyết tương tự vậy trong quyển đầu tiên của bộ Parerga und Paralipomena. [Parerga and Paralipomena]

Hình học của Tlön tạo thành từ hai lĩnh vực tương đối khác biệt – hình học thị giác và hình học xúc giác. Hình học xúc giác tương ứng với của chính chúng ta, và chỉ là thứ yếu so với hình học thị giác. Hình học thị giác dựa trên bề mặt, không phải một điểm; nó không có những đường thẳng song song, và nó khẳng định rằng khi cơ thể người ta di chuyển qua không gian, nó điều chỉnh những hình dạng xung quanh cơ thể đó. Nền tảng của số học Tlön là ý niệm về những con số bất định; nó nhấn mạnh tầm quan trọng của khái niệm “lớn hơn” và “nhỏ hơn,” là những khái niệm mà các nhà toán học của chúng ta kí hiệu bằng những biểu tượng > và <. Người dân Tlön được dạy rằng việc đếm sẽ điều chỉnh lại số lượng được đếm, sẽ chuyển cái bất định thành cái xác định. Sự việc một vài người đếm cùng một lượng rồi đi đến cùng một kế quả đối với những nhà tâm lí học ở Tlön là một minh hoạ cho sự liên hệ của các ý tưởng hoặc của sự ghi nhớ. – Chúng ta phải luôn nhớ rằng ở Tlön, chủ đề của tri thức chính là cái một và cái vĩnh hằng.

Trong địa hạt văn chương cũng vậy, ý tưởng về một chủ thể đơn lẻ có quyền năng tuyệt đối. Sách ít khi được kí vào, hay như khái niệm đạo văn cũng không tồn tại: Người ta đã quyết định rằng toàn bộ sách là tác phẩm của một tác giả đơn lẻ, một người tồn tại vĩnh cửu và vô danh. Phê bình văn chương thường sáng tạo ra các tác giả: Nó sẽ lấy ra hai tác phẩm không tương đồng nhau – cuốn Đạo đức Kinh và cuốn 1001 Đêm, ví dụ vậy – qui chúng về một tác giả duy nhất, và rồi bằng cả tấm lòng quyết định nền tâm lí học của homme de lettres [văn sĩ] thú vị này…

Những cuốn sách của họ cũng khác biệt so với của chúng ta. Tác phẩm hư cấu chỉ chứa duy nhất một cốt chuyện, với mọi cách hoán vị có thể nghĩ ra. Các tác phẩm về bản chất triết học luôn chứa cả chính đề lẫn phản đề, cả cái pro [thuận] lẫn contra [nghịch] của mọi luận cứ. Một cuốn sách mà không chứa đựng một phản thư thì đuợc xem là chưa hoàn chỉnh.

Hàng thế kỉ của thuyết duy tâm khó mà gây ảnh hưởng lên thực tại. Trong hầu hết các vùng cổ xưa của Tlön người ta có thể, không thường lắm, quan sát sự nhân đôi của các đồ vật thất lạc: Hai người đang tìm một cây bút chì, người thứ nhất tìm thấy nó, nhưng không nói gì; người thứ nhì tìm thấy cây bút chì thứ hai, cũng thực không kém, nhưng thích hợp với mong đợi của anh ta hơn. Những món đồ hạng hai này được gọi là hrönir, và chúng dù có vẻ bất tiện nhưng có phần trường tồn hơn. Cho đến gần đây, hrönir là đứa con ngẫu nhiên của sự xao lãng và sự đãng trí. Thật khó để tin rằng chúng được sản sinh ra có hệ thống chỉ mới khoảng một trăm năm, nhưng đó là những gì Quyển Mười một bảo chúng ta. Nỗ lực ban đầu không thành, nhưng cái modus operandi [cách làm] đáng để hồi tưởng lại: Người gác ngục của một trong những nhà tù quốc gia đã thông báo cho các tù nhân biết rằng có mấy cái mộ nằm dưới đáy một con sông cổ xưa gần đó, và ông ta hứa mang lại tự do cho bất kì ai tìm ra được một thứ gì đó quan trọng. Trong nhiều tháng truớc lúc khai quật, các tù nhân được đưa cho xem bức ảnh về cái mà họ sẽ đi tìm. Nỗ lực ban đầu đó cho thấy niềm hi vọng và lòng tham lam có thể kiềm nén lại; sau một tuần dùng cuốc xẻng, cái hrön duy nhất được đào lên là một cái bánh xe rỉ sét, có niên đại vào cái thời sau thời của cuộc thí nghiệm. Cuộc thí nghiệm được giữ bí mật, nhưng được lặ plại sau đó tại bốn trường trung học. Tại ba trường trong số gần như là thất bại hoàn toàn; ở trường thứ tư (ở đó vị hiệu trưởng bỗng nhiên lăn ra chết trong quá trình khai quật lúc đầu), mấy đứa học sinh đào lên được – hay đã tạo ra – một cái mặt nạ bằng vàng, một thanh kiếm cũ kĩ, hai hay ba vỏ hai quai bằng đất sét, phần thân bị mốc meo và huỷ hoại của một vị vua với dòng chữ khắc trên ngực mà vẫn chưa được giải mã. Do vậy người ta khám phá rằng không chứng nhân nào để ý đến bản chất thí nghiệm của cuộc tìm kiếm lại có thể được phép ở gần chốn đó… Những kế hoạch nghiên cứu tập thể đã tạo ra những phát hiện xung đột nhau; hiện giờ thì những kế hoạch cá nhân và gần như bất thình lình được chuộng hơn. Việc tạo ra có hệ thống những hrönir (theo Quyển Mười một) là sự trợ giúp vô giá đối với các nhà khảo cổ, khiến cho việc tra vấn, thậm chí chỉnh sửa quá khứ trở thành điều có thể, cái quá khứ đó dễ uốn, dễ nắn không kém gì tương lai. Một mẩu thông tin gây tò mò: hrönir ở cấp thứ nhì và thứ ba – hrönir bắt nguồn từ một hrön khác, và hrönir bắt nguồn từhrön của hrön – điều này phóng đại tính khác thường của cái đầu tiên; những cái ở cấp thứ năm gần như tương tự nhau; những cái cấp thứ chín có thể bị lầm lẫn với cấp thứ nhì; và những cái ở cấp mười một trưng ra tình trạng tinh khiết của đường kẻ mà ngay cả vật nguyên bản cũng không có. Tiến trình này có chu kì: Cái hrönir của cấp thứ mười hai bắt đầu phân rã. Thỉnh thoảng kì lạ hơn và tinh khiết hơn bất kì hrön nào là ur – vật được tạo ra theo đề nghị, vật được sản sinh ra bởi niềm hi vọng. Cái mặt nạ bằng vàng lộng lẫy mà tôi từng đề cập là một ví dụ tiêu biểu.

Những vật tự nhân đôi chúng ở Tlön; chúng cũng có xu hướng trở nên mờ ảo hoặc “sơ sài,” và xu hướng đánh mất chi tiết khi chúng bắt đầu bị lãng quên. Một ví dụ kinh điển là cái ô cửa vốn tiếp tục tồn tại cho đến khi có một kẻ hành khất nào đó lui tới nó, nhưng nó sẽ biến mất khi hắn ta chết đi. Thỉnh thoảng một vài con chim, một con ngựa, đã cứu được đống đổ nát của giảng đường.

Salto Oriental, 1940

TÁI BÚT – 1947

Tôi tái tạo bài viết ở trên chính xác như nó đã xuất hiện trong cuốn Anthology of Fantastic Literature (1940) [Hợp tuyển Văn chương Kì ảo], những thay đổi duy nhất từ việc biên tập cắt bỏ một vài ẩn dụ và một tóm tắt mang vẻ đùa cợt mà giờ đây được xem như là điều khiếm nhã. Có quá nhiều thứ xảy ra kể từ năm 1940… Cho phép tôi hồi tưởng lại một số việc:

Vào tháng ba năm 1941, một lá thư viết tay từ Gunnar Erfjord được phát hiện trong một cuốn sách của Hinton, vốn thuộc về Herbert Ashe. Phong bì được đóng dấu bưu điện ở Ouro Preto; bí ẩn của Tlön trở nên rõ ràng ra hoàn toàn bởi lá thư này. Nó xác nhận giả thuyết của Martínez Estrada: Câu chuyện huy hoàng đã bắt đầu vào một thời điểm nào đó đầu thế kỉ mười bảy, vào một đêm ở Lucerne hay Luân-đôn. Một hội thân thiện bí mật (trong số những thành viên của nó có Dalgarno và sau đó là George Berkeley) ra đời; nhiệm vụ của hội: tạo ra một quốc gia. Trong cái chương trình ban đầu không rõ ràng, thì có “ngành luyện đan,” lòng nhân ái, và Kabbalah. (Cuốn sách gây tò mò của Valentinus Andreä có từ giai đoạn ban đầu kia.) Sau vài năm bàn bạc và cùng nhau phác thảo vội vã, những thành viên trong hội nhận ra rằng một thế hệ sẽ không đủ để tạo ra và mang đến một dáng vẻ hoàn chỉnh cho một đất nước. Họ quyết định rằng mỗi bậc thầy thuộc hội này sẽ chọn ra một môn đồ tiếp nối công việc. Sự sắp xếp theo di truyền được tiếp theo sau; sau khoảng thời gian chuyển tiếp dài hai trăm năm, cái hội bị đối đãi tệ bạc kia xuất đầu lộ diện ở Tân Thế giới. Vào năm 1824, ở Memphis, Tennessee, một trong những thành viên đã có cuộc nói chuyện với nhà triệu phú đơn độc Ezra Buckley. Buckley, phần nào đó khinh bỉ, đã để người đàn ông kia nói – và rồi cười ha hả vào cái sự khiêm nhường của kế hoạch đó. Ông triệu phú bảo người đàn ông kia rằng ở Mĩ thì việc tạo ra một đất nước là điều ngớ ngẩn – cái mà họ cần làm là tạo ra một hành tinh. Với ý tưởng vĩ đại kia, ông ta thêm vào cái khác nữa, sản phẩm từ thuyết hư vô của ông ta [e]: Công trình khổng lồ đó phải được giữ bí mật. Vào lúc đó, người ta đang mê điên cuồn bộ hai mươi quyển Encyclopaedia Britannica; Buckley gợi ý một quyển bách khoa thư có hệ thống về một hành tinh tưởng tượng. Ông ta sẽ để lại cho họ hàng núi vàng, những con sông mà tàu bè có thể đi lại được, những vùng thảo nguyên với tiếng kêu la của trâu bò, mấy tay da đen, những căn nhà thổ, và những đồng dollar, ông ta nói vậy, nhưng với một điều kiện: “Tác phẩm đó sẽ không thoả hiệp với kẻ mạo danh Chúa Jesus.” Buckley không tin vào Chúa, do vậy mà ông ta muốn chứng tỏ với vị chúa trời không tồn tại kia rằng những con người khả tử có thể hình dung ra và tạo nên hình hài cho thế gian. Buckley bị đánh thuốc độc ở Baton Rouge vào năm 1828; năm 1914, hội gửi đến các thành viên của mình (giờ đây bao gồm ba trăm người) quyển cuối cùng của bộ First Encyclopedia of Tlön. Quyển sách được xuất bản bí mật: bốn mươi quyển tạo thành một tác phẩm (tác phẩm chữ nghĩa vĩ đại nhất mà loài người từng thực hiện) sẽ là căn bản cho cái khác, một tác phẩm công phu hơn, được viết vào thời điểm này không phải bằng tiếng Anh mà bằng một trong những ngôn ngữ ở Tlön. Bản mô tả khái quát của thế giới tưởng tượng đã được đặt tạm thời một cái tựa là Orbis Tertius, và một trong những đấng tạo hoá khiêm nhường của nó là Herbert Ashe – đại diện hoặc là đồng nghiệp của Gunnar Erfjord, tôi không thể nói chắc được. Việc anh ta nhận một bản sao của Quyển Mười một dường như nghiêng về giả thuyết sau hơn. Nhưng còn những người kia thì sao? Vào năm 1942, câu chuyện được tô điểm thêm. Tôi hồi tưởng lại rất rõ ràng về một trong những sự kiện đầu tiên xảy ra, một điều gì đó của cái tính chất điềm báo mà tôi tin là tôi cảm thấy được thậm chí ngay lúc đó. Nó xảy ra tại một căn hộ ở Laprida, bên kia con đường, từ trên một ban-công cao, sáng sủa hướng về phía mặt trời lặn. Công chúa Faucigny Lucinge đã nhận được một hộp gỗ từ Poitiers trong đó chứa món đồ bằng bạc của cô. Từ bên trong lòng của cái hộp chứa đồ có mấy con tem hải quan quốc tế trang trí trên đó, cô ta lấy đi, từng thứ một, những vật bất động tinh tế: cái dĩa bạc từ Utrecht và Paris được chạm khắc bằng những huy hiệu cứng cáp hình thú vật, …, một ấm đun trà kiểu Nga. Trong số các món đồ, rung lên nhè nhẹ mà dễ nhận biết, như một chú chim say ngủ, là tiếng đập, một cách bí ẩn, từ cái la bàn. Cô công chúa không nhận ra nó. Cái kim màu xanh khao khát hướng về cực bắc; vỏ kim loại của nó lõm vào; những kí tự trên mặt la bàn thuộc về bản chữ cái của Tlön. Đó là sự thâm nhập đầu tiên của thế giới kì ảo Tlön vào thế giới thực tại.

Một sự trùng hợp đáng lo ngại khiến tôi trở thành chứng nhân cho sự thâm nhập thứ nhì. Sự kiện này xảy ra vài tháng sau đó, tại một nơi dạng như quán rượu kiêm cửa hàng tổng hợp ở miền quê, do một người đàn ông Brazil ở Cuchilla Negra làm chủ. Amorim [12] và tôi đang đi trở về Sant’Anna. Nước dâng lên tràn bờ sông Tacuarembó; khi mà không còn lối nào băng qua, chúng tôi buộc phải cố gắng dùng (tức là cố gắng chịu đựng) các dịch vụ khách hàng cơ bản sẵn có. Người chủ cửa hàng thu xếp hai chiếc giường xếp cọt kẹt cho bọn tôi trong một nhà kho lớn ngổn ngang những thùng và những đống da thuộc đang xếp lớp. Chúng tôi nằm xuống, nhưng cứ thức đến gần sáng bởi giọng say lè nhè của tay hàng xóm nào đó, hắn cứ nói này nói kia những lời thô lỗ và những ngôn từ thô tục được hát vang lên mà không ai hiểu được, của những điệu nhạcmilonga – hoặc những ngôn từ thô tục của cùng một milonga, thật sự là vậy. Như người ta có thể hình dung, chúng tôi cho rằng cơn giận dữ vô lối kéo dài đó là do thứ rượu rẻ tiền như lửa đốt của người chủ cửa hàng… Ngay sau khi trời sụp tối, người đàn ông chết ở lối đi hành lang. Tiếng kêu khô rát của hắn ta đã làm chúng tôi lầm tưởng – hắn là một chàng thanh niên trẻ. Trong trạng thái mê sảng, một vài đồng xu đã rơi ra khỏi dây thắt lưng cao bồi to bản của hắn, một vật hình nón bóng bẩy với kích thước bằng cục xí ngầu cũng rơi ra. Một cậu bé cố nhặt cái vật hình nón đó lên, nhưng vô ích; một gã đàn ông khó có thể nhặt nó lên. Tôi cầm nó trong lòng bàn tay vài phút; tôi nhớ lại sức nặng của nó không kham nổi, và thậm chí sau khi có ai lấy nó đi, thì cảm giác về sức nặng ghê gớm vẫn còn đó. Tôi còn nhớ cái hình tròn tinh xảo đó hằn vào da thịt mình. Cái bằng chứng về một vật tuy rất nhỏ mà lại nặng ghê gớm đã để lại một dư âm gây khó chịu của nỗi sợ và nỗi kinh hoàng. Một paisano [người ở nông thôn] bảo chúng tôi ném nó xuống con sông ngập nước kia. Amorim mua nó chỉ vài đồng peso. Không ai biết gì về người đàn ông đã chết kia, ngoại trừ chi tiết “hắn ta đến từ vùng biên giới.” Những vật hình nón nhỏ bé mà nặng không ngờ ấy (làm bằng thứ kim loại không thuộc thế giới này) là hình ảnh của đấng chúa trời của một số tôn giáo nào đó ở Tlön.

Tới đây thì tôi kết thúc phần tự thoại cá nhân của mình. Phần còn lại nằm trong kí ức của tất cả các độc giả (nếu không phải là trong niềm hi vọng hay nỗi sợ hãi). Nhiêu đó cũng đủ cho tôi để nhớ lại, hay đề cập đến những sự kiện tiếp sau đó, với một sự chuẩn xác giản đơn về ngôn từ mà cái kí ức phản chiếu của cộng đồng sẽ làm phong phú thêm và mở rộng ra:

Năm 1944, một điều tra viên từ tờ báo The Nashville American đã đưa ra ánh sáng bốn mươi quyển của bộ The First Encyclopaedia of  Tlön trong một thư viện ở Memphis. Thậm chí ngày này vẫn còn những bất đồng ý kiến về việc liệu khám phá đó là do tình cờ hay hoặc là được ưng thuận và chỉ dẫn bởi những vị điều hành của một Orbis Tertius vẫn còn rất mơ hồ; giả thuyết thứ nhì hoàn toàn hợp lí. Một số đặc điểm khó tin nổi của Quyển Mười một (ví dụ như sự nhân bản củahrönir) đã được loại bỏ hay được làm nhạt đi trong bản sao ở Memphis. Dường như có lí khi cho rằng việc cắt bỏ vậy tuân theo ý định trình ra một thế giới vốn không quá dị biệt đối với thế giới thực. Việc truyền rải các món đồ của Tlön khắp nhiều đất nước khác nhau sẽ bổ trợ thêm cho kế hoạch đó… [f] Ở bất kì mức độ nào, báo chí quốc tế đã kêu la dữ dội về “cái được tìm thấy” này. Những cuốn sổ tay, những hợp tuyển, những bản điều tra, “những bản dịch sát nghĩa,” các bản in lại của Kiệt tác Vĩ đại nhất của Nhân loại được cấp phép lẫn các bản được sao chép lậu, tất cả tràn ngập thế giới, và đến giờ vẫn còn ngập tràn. Gần như ngay tức thì, thực tại nhân nhượng nhiều hơn chỉ một điểm. Sự thật là, nó muốn nhân nhượng. Mười năm trước, bất kì sự đối xứng nào, bất kì hệ thống nào có sự xuất hiện của trật tự – thuyết duy vật biện chứng, chủ nghĩa bài Do-thái, Đức Quốc xã – có thể làm mê muội loài người. Làm thế nào mà thế giới không thể ngã quị dưới tầm ảnh hưởng của Tlön, làm thế nào mà nó không thể nhượng bộ cái chứng cứ to lớn và chi tiết đến từng chút của một hành tinh có trật tự? Thật vô nghĩa để trả lời rằng thực tại cũng có trật tự. Có lẽ nó có, nhưng trật tự theo những qui luật thần linh (đọc là: “những qui luật phi nhân bản”) mà chúng ta không bao giờ có thể có cách để thông hiểu được. Tlön có thể hoàn toàn là một mê lộ, nhưng nó là một mê lộ hun đúc nên bởi loài người, một mê lộ mà số mệnh của nó là để con người giải mã ra.

Việc giao tiếp với Tlön, tập quán của Tlön, đã tháo rời cái thế giới này ra thành từng mảnh. Bị mê hoặc bởi tính chuẩn xác của Tlön, tính nhân văn đã lãng quên, và tiếp tục quên lãng, rằng đó là tính chuẩn xác của những bậc thầy chơi cờ, chứ không phải của các thiên thần. “Ngôn ngữ nguyên sơ” của Tlön (theo phỏng đoán) đã thâm nhập vào môi trường học đường của ta; việc dạy dỗ nền lịch sử hài hoà của Tlön (lấp đầy bởi những chương hồi cảm động) đã xoá sạch nền lịch sử đã chi phối thời thơ ấu của chính tôi; cái quá khứ hư cấu, cái quá khứ của những thứ mà chúng ta không biết chắc chắn điều gì – thậm chí là nó có sai hay không, đã chiếm chỗ cái quá khứ kia trong kí ức của loài người. Lĩnh vực nghiên cứu tiền đúc, dược lí, và khảo cổ học đã được cải cách. Tôi hiểu rằng lĩnh vực sinh vật học và toán học cũng đang chờ đợi sự hiện thân khác của chúng… Một triều đại được phân bố rải rác của những kẻ ẩn dật đã làm thay đổi bề mặt trái đất – và tác phẩm của họ cứ tiếp tục. Nếu sự dự đoán của tôi là đúng, thì một trăm năm sau kể từ bây giờ sẽ có một ai đó khám phá ra một trăm quyển của bộ The Second Encyclopaedia of Tlön.

Vào lúc đó, tiếng Pháp, tiếng Anh, và cả Tây-ban-nha sẽ biến mất khỏi trái đất. Thế giới sẽ là của Tlön. Điều đó tạo ra rất ít khác biệt đối với tôi; bằng những ngày yên ả tại khách sạn này ở Adrogué, tôi tiếp tục duyệt lại (mặc dù tôi chẳng bao giờ có ý xuất bản) một bản dịch không rõ ràng, theo phong cách của Quevedo, của quyển Urne Buriall viết bởi Ngài Thomas Browne.

Chú thích của tác giả

[a] Haslam cũng là tác giả của cuốn A General History of Labyrinths.

[b] Russell (The Analysis of Mind [1921], trang 159) cho rằng thế giới được tạo ra chỉ trong những khoảnh khắc trước, tràn ngập những con người “nhớ” được cái quá khứ ảo ảnh.

[c] Một “thế kỉ,” được viết theo hệ thập nhị phân được dùng ở Tlön, là quãng thời gian kéo dài 144 năm.

[d] Ngày nay, một trong những tôn giáo ở Tlön xác nhận theo kiểu Plato rằng một nỗi đau nào đó, một màu sắc nào đó, một nhiệt độ nào đó, và một âm thanh nào đó đều cùng là một thực tại đơn lẻ. Toàn thể loài người, trong giây phút chóng mặt của cuộc giao hoan đều cùng là một người. Toàn thể loài người nói ra một dòng Shakespeare đều là William Shakespeare.

[e] Buckley là nhà tư tưởng tự do, một người theo thuyết định mệnh, và là người bảo vệ của tình trạng nô lệ.

[f] Dĩ nhiên là vẫn còn có vấn đề về vật chất mà ở đó một số đồ vật được tạo ra.

Chú thích của dịch giả tiếng Anh (Andrew Hurley)

[1] Ramos Mejía: “Một phần của Buenos Aires mà ở đó người giàu có những căn hộ dùng cho cuối tuần chứa một nhóm cộng đồng người Anh. Nó giờ đây là vùng ngoại ô công nghiệp” (Psiche Hughes và Evelyn Fishburn, A Dictionary of Borges)

[2] Bioy Casares: Adolfo Bioy Casares (1914- ): nhà tiểu thuyết người Argentina, bạn thân và cũng là cộng sự của Jorge Luis Borges trong vô số các dự án, trong đó có một số được kí bằng bút danh dùng chung. Trong ấn phẩm viết chung của họ, hai người tỏ ra hứng thú với truyện trinh thám, những kĩ thuật kể chuyện sáng tạo (như đoạn văn bản ở đây cho thấy), và những câu chuyện của một tính chất có phần “kì ảo.” Không may bị che phủ bởi Borges, đặc biệt trong thế giới nói tiếng Anh, Bioy Casares là nhân vật văn chương chủ đạo với phần thân đặc sắc trong tác phẩm; mô tả về ảnh hưởng tương hỗ giữa hai nhà văn này sẽ cần (ít nhất) phần nghiên cứu với độ dài bằng cả cuốn sách.

[3] Quyển XLVI: Cuốn Obras completas, là cuốn mà bản dịch này dựa vào, có “Quyển XXVI,” là cuốn mà dịch giả đã coi nó có một lỗi in chữ, chữ X thứ nhì được đưa vào chỗ chữ L đúng.

[4] Johannes Valentinus Andreä trong những bài viết của Thomas de Quincey: có lẽ đó là điều cần thiết khi de Quincey cho rằng Andreä (1586-1654) “sáng tạo” ra cộng đồng Rosicrucian bằng cách viết những tác phẩm châm biếm (và đặc biệt là phần: Fama Fraternitatis of the meritorious Order of the Rosy Cross, addressed to the learned in general and the Governors of Europe) mô tả một xã hội Thiên chúa giáo huyền bí bí mật và ngớ ngẩn liên quan không chỉ đến tinh thần phóng khoáng nói chung và sự cải thiện của tính nhân bản, mà còn về luyện đan và tạo ra vàng. Cộng đồng đã không nhận ra được  ý định châm biếm của Andreä, và nhiều người đổ xô nhau “gia nhập” cộng đồng này, mặc dù họ có thể chẳng bao giờ tìm thấy được một ai thừa nhận họ. Cuối cùng, theo de Quincey, một nhóm người “theo trường phái của Paracelsus” quyết định rằng nếu không còn ai thừa nhận là một Rosicrucian, họ sẽ chiếm cái tên đó và sẽ là cái cộng đồng đó.

[5] Carlos Mastronardi: Mastronardi (1901-1976) là “một nhà thơ, nhà tiểu luận, và nhà báo (ở Buenos Aires), một thành viên của nhóm nhà văn có mối liên hệ gần gũi với tạp chí văn chương mang phong cách avant-garde (tiền vệ) Martín Fierro” (theo Psiche Hughes và Evelyn Fishburn, A Dictionary of Borges). Balderston (The Literary Universe of Jorge Luis Borges: An Index …; New York: Greenwood Press, 1986) đưa ra một vài trong số những tựa sách của Mastronardi: Luz de Provincia, Tierra amanecida, Conocimiento de la noche. Mastronardi là một trong những người bạn thân của Jorge Luis Borges trong suốt thập niên ba mươi và bốn mươi (Borges cũng có mối liên kết gần gũi với Martín Fierro), và Rodríguez Monegal tường trình lại trong cuốn sách tiểu sử về Jorge Luis Borges rằng Borges vẫn còn gặp Mastronardi khi quyển tiểu sử (xuất bản năm 1978) được viết ra; do vậy, dường như chắc chắn khi nói rằng Borges và Mastronardi là bạn của nhau cho đến lúc Mastronardi chết.

[6] Capangas: Những người giám sát hay quản đốc của một nhóm công nhân, thường hoặc là nô lệ hoặc là dạng gần như nô lệ làm việc theo giao kèo, ở những vùng nông thôn, dùng cho việc đốn củi, v.v., mặc dù không ở trang trại, nơi mà ở đó các quản đốc được biết đến với cái tên capataz. Từ này là từ Guaraní, hay có lẽ có nguồn gốc châu Phi và thâm nhập vào tiếng Tây-ban-nha, như Jorge Luis Borges đã chỉ ra, từ một vùng thuộc Brazil.

[7] Néstor Ibarra: (b. 1908) “Sinh ra tại Pháp, là con của một người Argentina, người này là con của một người Pháp xứ Basque bị trục xuất khỏi nước mình. Néstor Ibarra học trường University of Buenos Aires vào khoảng năm 1925 để hoàn thành chương trình tốt nghiệp của mình. Trong khi ở đó, ông khám phá ra những bài thơ của Borges và …cố gắng thuyết phục các giáo viên cho ông ta viết luận văn về thi ca cực đoan của Borges” (Rodríguez Monegal, Jorge Luis Borges: A Literary Biography; New York: Paragon Press, 1988) . Công trình nghiên cứu đột phá và rất quan trọng của Ibarra về Jorge Luis Borges, Borges et Borges, và những bản dịch Jorge Luis Borges (cùng với những bản dịch của Roger Cailois) sang tiếng Pháp vào thập niên 1950 là công cụ để toàn thế giới nhận ra tầm vĩ đại của Jorge Luis Borges. Giữa những sự liên hệ kể chuyện khác về truyện này và những truyện khác là việc Ibarra và Borges sáng tạo ra một ngôn ngữ mới (“với những quan hệ siêu thực hay cực đoan”), một trường phái văn chương mới của Pháp, Thuyết đồng dạng (Identism), “ở đó các vật thể luôn được đối chiếu với chính chúng,” và một cuốn phê bình mới, có tựa Papers for the Suppression of Reality (xem truyện “Pierre Menard,” thông tin này theo Rodríguez Monegal, trang 240-241). N.R.F là Nouvelle Revue Française [New French Review], một tờ tạp chí văn chương cực kì quan trọng của Pháp, xuất bản gần như mọi nhà văn hiện đại có tầm quan trọng trong ba thập kỉ đầu tiên của thế kỉ 20.

[8] Ezequiel Martínez Estrada: Martínez Estrada (1895-1964) là nhà văn có tầm ảnh hưởng người Argentina, với tác phẩm Radiografia de la pampa (X-ray of the Pampa) mà Jorge Luis Borges phê bình rất tích cực vào năm 1933 trong phần phụ trương vă nchương (Revista Multicolor de los Sábados [“Saturday Motley Review”]) cho tờ báo ở Buenos Aires là Critica.

[9] Drieu La Rochelle: Pierre-Eugene Drieu La Rochelle (1893-1945) là biên tập cho tờ Nouvelle Revue Française trong một thời gian; ông ghé thăm Argentina năm 1933, nhận ra tính chất thiên tài của Jorge Luis Borges, và người ta bảo rằng ông đã nói thế này khi trở về nước Pháp: “Borges vaut le voyage” [Borges is worth the trip] (Psiche Hughes và Evelyn Fishburn, A Dictionary of Borges).

[10] Alfonso Reyes: Reyes (1889-1959) là nhà thơ và nhà viết tiểu luận người Mexico, đại sứ tại Buenos Aires (1927-1930 và lần nữa vào khoảng 1936-1937), bạn của Jorge Luis Borges (Psiche Hughes và Evelyn Fishburn, A Dictionary of Borges). Reyes được công nhận là một trong những nhà nhân văn vĩ đại của châu Mĩ trong thế kỉ hai mươi, một người đàn ông học thức vô biên, là bậc thầy về ngôn ngữ Tây-ban-nha cũng như phong cách của ngôn ngữ này (“thẳng thắn và gãy gọn mà không nhạt hay tầm thường” [Rodríguez Monegal, Jorge Luis Borges: A Literary Biography]).

[11] Xul Solar: Xul Solar là bút danh của Alejandro Schultz (1887-1963), người bạn cả đời của Jorge Luis Borges; Jorge Luis Borges so sánh Xul theo nghĩa tích cực với William Blake. Xul là hoạ sĩ và cũng có gì đó như là một “nhà ngôn ngữ học sáng tạo,” đã sáng tạo ra một ngôn ngữ mà ông gọi là creol: một “ngôn ngữ …tạo thành từ tiếng Tây-ban-nha được làm phong phú thêm bởi những từ mới sáng chế ra và những từ tiếng Anh đơn âm tiết… được dùng như trạng từ” (Roberto Alifano, người phỏng vấn và biên tập, Twenty-Four Conversation with Borges, chuyển ngữ sang tiếng Anh bởi Nicomedes Suárez Araúz, Willis Barnstone, và Noemí Escandell; Housatonic, Mass.: Lascaux Publishers, 1984; trang 119). Tại một nơi khác, Jorge Luis Borges cũng ghi chú một ngôn ngữ khác được sáng tạo bởi Xul Solar: “một thứ ngôn ngữ triết lí trên tinh thần của John Wilkins (“Autobiographical Essay,” trang 237: The Aleph and Other Stories: 1933-1969; New York: Dutton, 1970, trang 203-260). Jorge Luis Borges tiếp tục ghi chú rằng “Xul là phiên bản của anh ta về Schultz và Solar của Solari.” Tác phẩm hội hoạ của Xul Solar thường được so sánh với của Paul Klee; “kì lạ” và “bí ẩn” là nhữn tính từ được dùng để mô tả nó. Xul minh hoạ ba trong số những cuốn sách của Jorge Luis Borges: El tamaño de mi esperanza (1926), El idioma de los argentinos(1928), và Un modelo para la muerte, tác phẩm cộng tác giữa Jorge Luis Borges và Adolfo Bioy Casares và được kí bởi cái tên “B. Suárez Lynch.” Trong cuốn sách tiểu sử của Borges, Emir Rodríguez Monegal dành vài trang để nói về ảnh hưởng của Xul lên cách viết của Jorge Luis Borges; chính Borges cũng nói khá nhiều về Xul trong hợp tuyển các bài phỏng vấn như đã đề cập bên trên. Trên hết, Xul là một “nhân vật” ở Buenos Aires vào thập niên hai mươi và ba mươi và hơn thế nữa.

[12] Amorim: Enrique Amorim (1900-1960) là nhà tiểu thuyết người Uruguay, có quan hệ gia đình với Borges thông qua hôn nhân. Ông viết những cánh đồng hoang, những tay chăn bò, và cuộc đời chăn bò; Borges nghĩ rằng tác phẩm El Paisano của ông là “bản mô tả gần gũi nhất đối với đời sống của kẻ chăn bò hơn cả tác phẩm nổi tiếng hơn Don Segundo Sombra của Gülraldes (Psiche Hughes và Evelyn Fishburn, A Dictionary of Borges).

Chuyển ngữ tại Sài-gòn.
Có tham khảo thêm bản Anh ngữ của James E. Irby.
20111130.

 

Nguồn:

Borges, Jorge Luis. “Tlön, Uqbar, Orbis Tertius.” Jorge Luis Borges: Collected Fictions. Trans. Andrew Hurley. New York: Penguin, 1999.

Literature Văn học Mỹ Latinh

Jorge Luis Borges – Sự bất tử

 

Jorge Luis Borges

Sự bất tử

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Eliot Weinberger

Trong một cuốn sách tuyệt hảo như bao cuốn khác của ông, cuốn The Varieties of Religious Experience, thì William James chỉ dành ra một trang để tra vấn về sự bất tử cá nhân. Ông bảo rằng, đối với ông thì đây là vấn đề nhỏ nhoi, rằng việc tra vấn về sự bất tử của con người gắn liền với vấn đề tông giáo, và còn cho rằng đối với hầu hết mọi người ở cõi nhân gian này, đối với quần chúng nói chung, thì “Chúa là người sản sinh ra sự bất tử.”

Không hiểu lời nói đùa ấy , Don Miguel de Unamuno lặp lại điều đó trong cuốn The Tragic Sense of Life, ông ta còn nói khá nhiều lần rằng ông muốn tiếp tục là Don Miguel de Unamuno. Đến đây thì tôi không hiểu Miguel de Unamuno. Tôi không muốn tiếp tục là Jorge Luis Borges, tôi muốn thành người khác. Tôi hi vọng mình có cái chết tuyệt đối; tôi hi vọng chết cả về thể xác lẫn tâm hồn.

Khi tôi rán nói đến sự bất tử cá nhân– của phần hồn bảo toàn được kí ức về chính bản thân nó khi còn tồn tại trên cõi nhân gian, và ở cõi khác nhớ được cái chết của mình – thì tôi không biết như thế là tham vọng hay khiêm nhường, hay hoàn toàn có lí do chính đáng. Chị Norah của tôi ở nhà tôi hôm nọ, và chị nói, “Chị sắp vẽ bức tranh tên là ‘Nỗi hoài niệm về nhân gian’, chủ đề trong tranh sẽ là những điều mà một người may mắn trên thiên đàng cảm nhận được khi nghĩ về cõi nhân gian. Nó sẽ có các yếu tố của Buenos Aires lúc chị còn nhỏ.” Tôi có một bài thơ cùng chủ đề mà chị không hề biết. Trong bài thơ ấy, tôi nghĩ đến Jesus, ông nhớ đến cơn mưa tại Galilee, cái mùi trong xưởng gỗ, và một thứ ông chẳng bao giờ thấy được lúc ở thiên đàng và thế là ông lưu luyến điều đó: vòm trời đầy sao.

Chủ đề trên thiên đàng hoài niệm về cõi nhân gian cũng xuất hiện trong thơ của Dante Gabriel Rossetti. Bài thơ đề cập đến một người con gái ở chốn thiên đàng, dù vậy lại cảm thấy bất hạnh bởi tình nhân của nàng không ở cùng nàng; nàng hi vọng anh ta sẽ đến, nhưng anh sẽ không bao giờ tới được bởi lẽ anh đã phạm phải tội lỗi, thế là cô nàng cứ mãi nuôi hi vọng không bao giờ dứt. 

William James nói rằng, đối với ông đó chỉ là vấn đề nhỏ nhoi; rằng những vấn đề lớn lao của triết học là thời gian, là thực tại của cõi sống bên ngoài, và là giác tính. Bất tử chiếm một vị trí nhỏ nhoi, vị trí này phù hợp với thi ca nhiều hơn là triết học, và tất nhiên phù hợp với cả thần học nữa dù cho không phải loại thần học nào cũng hợp.

Có một giải pháp khác, đó là sự đầu thai của linh hồn, đây hẳn là một giải pháp thi ca, và một giải pháp nữa còn thú vị hơn, đó là việc tiếp tục tồn tại như chính bản thân mình và nhớ về chính con người mình – mà theo tôi thì đây là một chủ đề nghèo nàn.

Tôi nhớ được mười, mười hai hình ảnh từ thuở ấu thơ, và cố quên chúng. Khi tôi nghĩ đến thời niên thiếu, tôi không cam chịu con người mình lúc ấy; tôi hẳn là thích trở thành người khác. Đồng thời, toàn bộ việc này có thể được thi ca chuyển hoá, có thể trở thành chủ đề cho thi ca.

Đoạn văn xúc động nhất trong triết học nào giờ, xúc động một cách tự nhiên, chính là tác phẩm Đối thoại Phaidōn của Platōn. Tác phẩm đối thoại đó đề cập đến những ngày cuối cùng của Sokrates, khi bạn bè ông iết là chiếc thuyền từ Delos đã tới và biết Sokrates sẽ uống thuốc độc. Sokrates tiếp đón bạn bè trong ngục tù, biết rằng ông sẽ bị xử tử. Ông gặp tất cả bọn họ, ngoại trừ một người. Tới đây chúng ta phát hiện được câu chữ cảm động nhất mà Platōn từng viết trong suốt đời mình, như Max Brod đã ghi nhận. Ông viết: “Platōn, ta nghĩ anh ấy bệnh rồi.” Theo Brod, trong số tất cả những đoạn đối thoại thì đây là lần đầu tiên Platōn xướng tên mình. Nếu Platōn viết ra cuộc đối thoại ấy, thì rõ là ông ta có mặt ở đó – hoặc không ở đó, cũng như nhau thôi – nhưng ông tự xướng tên mình theo ngôi thứ ba. Điều này cho ta thấy ông khắc khoải khi chứng kiến khoảnh khắc hệ trọng đó.

Người ta suy xét rằng Platōn thêm vế đó vào để cho phép bản thân được tự do hơn, như thể muốn nói: “Tôi không biết Sokrates đã nói gì ngày cuối cùng hôm đó, nhưng tôi muốn nghĩ là ông ta đã nói những điều như thế.” Hoặc: “Tôi có thể hình dung ông nói ra những điều như thế.” Tôi tin Platōn cảm được cái đẹp văn chương tuyệt đỉnh trong câu nói “Ta nghĩ Platōn, anh ấy bệnh rồi.”

Sau đó xuất hiện một đoạn tuyệt diệu, có lẽ là đẹp nhất trong số những đoạn đối thoại. Mấy người bạn bước vào; Sokrates an toạ trên giường; gông cùm đã được tháo hết ra rồi. Ông xoa xoa đầu gối và cảm thấy khoan khoái khi không còn chịu sức nặng của xiềng xích nữa, và nói: “Lạ làm sao. Xiềng xích làm ta trĩu nặng, đó là một dạng đau đớn. Giờ đây ta cảm thấy nhẹ nhõm bởi họ gỡ bỏ chúng ra rồi. Lạc thú và đau đớn đi cùng nhau, chúng là một cặp sinh đôi.”

Lời lẽ thật tuyệt vời, trong khoảnh khắc ấy, vào ngày cuối cùng đời mình, ông không nói mình sẽ chết, thay vào đó ông lại chiêm nghiệm về chuyện lạc thú và đau đớn là hai thứ không thể tách rời nhau. Điều đó cho thấy đây là một người đàn ông can trường, một người đàn ông chuẩn bị chết mà không hề nói lời nào về cái chết đang cận kề.

Sau đó ông nói rằng bữa đó ông phải uống thuốc độc thôi, và khi ấy nảy sinh cuộc bàn luận mà theo ta đã bị sự kiện thế này làm hỏng hết: ông nói đến hai thực tồn, đến hai bản thể, thể xác và tâm hồn. Sōkratēs cho rằng phần bản thể tâm thần (tâm hồn) có thể sống tốt hơn mà không cần đến thể xác; cho rằng thể xác là thứ gây trở ngại. Ý này lặp lại học thuyết, thường gặp ở người xưa, cho rằng ta bị cầm tù trong chính thân xác mình.

Ở đây tôi muốn gợi lại vài dòng từ một nhà thơ vĩ đại người Anh Rupert Brooke, bằng những vần thơ tuyệt hảo nhưng triết lí tệ, ông nói rằng sau khi chết ta sẽ “cảm thấy được, những ai đặt đôi bàn tay mơn trớn của ta ra xa nhau; Và thấy được, mà không bị đôi mắt mình che mù.” Gustav Spiller trong bài luận văn xuất sắc về tâm lí học đã nói rằng nếu ta nghĩ đến những rủi ro khác của thân xác – một sự tổn thương, một quả đấm ngay vào đầu – thì chúng sẽ không có lợi cho phần hồn. Thật khó hình dung một cơn tai biến đối với thể xác lại tốt cho tâm hồn mình. Tuy thế, Sōkratēs, vốn tin vào hai thứ có thực này, xác và hồn, lại lập luận rằng tâm hồn nếu được giải phóng khỏi thể xác thì nó có thể tận hiến cho việc tư duy.

Ý tưởng này gợi nhắc đến huyền thoại về Dēmokritos. Người ta cho rằng một hôm trong khu vườn nọ ông ấy tự móc mắt mình để có thể suy tư và để không bị thế giới bên ngoài làm mình xao lãng. Điều này dĩ nhiên không thực, nhưng câu chuyện thật đẹp. Đây là một người thấy được thế giới hình ảnh – cái thế giới của bảy sắc màu mà tôi đã đánh mất – và ông ta coi đó là chướng ngại đối với tư duy thuần tuý và đã lôi cặp mắt mình ra để tiếp tục tư duy  trong cõi tịch mịch an nhiên.

Với chúng ta, những ý tưởng về thể xác và về tâm hồn này tất thảy đều đáng ngờ. Ta hãy nhắc lại sơ bộ lịch sử triết học. Locke bảo rằng thứ duy nhất tồn tại là cảm quan và cảm giác, và các kí ức cùng những cảm quan về những cảm giác đó. Sau đó Berkeley khẳng định vật chất là là một chuỗi những cảm quan và những cảm quan này là thứ bất khả tư nghị nếu không cảm quan thông qua ý thức. Màu đỏ là gì? Màu đỏ tuỳ thuộc vào mắt nhìn của ta, và đôi mắt ta thì lại phụ thuộc và hệ thống cảm quan. Rồi tới phiên Hume, ông này bác bỏ cả hai lí thuyết đó, và tiêu huỷ luôn cả hồn lẫn xác. Hồn là gì ngoại trừ cái cảm quan được, và vật chất là gì ngoại trừ cái được cảm quan? Nếu trên cõi đời này người ta đè nén đi những danh từ, thì chúng ắt được qui giảm đi thành các động từ. Chúng ta không thể nói, “tôi tư duy” bởi lẽ “tôi” là một chủ ngữ; ta nên nói, “tư duy đây” cũng như nói “trời mưa” vậy. Trong cả hai động từ, ta có được hành động mà không cần đến chủ ngữ. Khi Descartes nói, “tôi tư duy, do vậy tôi tồn tại”, thì lẽ ra ông ấy nên nói, “Có thứ gì đó tư duy” hoặc “tư duy đây” bởi lẽ “tôi” ở đây giả định một thực thể, và tôi không có quyền để giả định điều đó. Đáng lẽ ông ta nên nói, “tư duy đây, do vậy tồn tại thứ gì đó”.

Liên quan đến sự bất tử cá nhân, chúng ta sẽ xem thử có những luận cứ nào ủng hộ ý này. Tôi sẽ dẫn ra hai cái. Fechner bảo rằng ý thức con người đi kèm với chuỗi những ham muốn, thèm khát, hi vọng và nỗi sợ hãi vốn là những điều không tương ứng với quãng đời của ta. Khi Dante nói “n’el mezzo del cammin de nostra vita”, thì ông ấy gợi ta nhớ rằng Kinh thánh ban cho ta bảy mươi năm cuộc đời. Do vậy, lúc ông ấy có được cái nhìn như thế thì ông đã bước sang tuổi ba mươi lăm rồi. Trong diễn trình bảy mươi năm đời mình – không may là tôi đã đi vượt quá giới hạn: giờ tôi bảy mươi tám tuổi rồi – chúng ta cảm nhận được những thứ vốn chẳng có ý nghĩa gì trong cuộc đời này.  Fechner nghĩ đến thai nhi, về cái thân xác trước lúc nó rời khỏi bụng mẹ. Trong thân xác ấy có đôi chân không làm gì cả, có đôi cánh tay, đôi bàn tay – không có thứ nào có ý nghĩa: nó chỉ có thể có ý nghĩa ở cuộc sống sau này. Chúng ta phải tin rằng những chuyện thế cũng sẽ xảy đến với ta, rằng chúng ta tràn đầy hi vọng, sợ hãi, phỏng đoán, và chúng ta không thể nói chính xác chúng có nghĩa gì đối với một cuộc đời thuần tuý của con người khả tử. Chúng ta có thể nói chính xác loài vật có gì, nhưng chúng có thể lờ đi tất thảy mọi thứ đó, những thứ có thể được dùng đến ở một cuộc sống khác, vẹn toàn hơn. Đây là một luận cứ ủng hộ cho sự bất tử.

Ta hãy dẫn lời Thánh Tommaso d’Aquino, người đã để lại cho ta câu văn thế này: “Intellectus naturaliter desiderat esse semper”, trí tuệ vốn dĩ khao khát được tồn tại mãi mãi. Với câu nói đó ta có thể đáp lại rằng nó cũng ham muốn cả những thứ khác, và nó thường ham muốn cả việc ngưng tồn tại. Chúng ta có mấy trường hợp tự sát, và trường hợp phổ biến nhất của những ai cần phải ngủ, đó cũng là một hình thức của cái chết. Chúng ta có thể dẫn ra những đoạn thơ dựa trên  ý tưởng về cái chết và coi đó là một dạng cảm thụ. Ví dụ, copla tiếng Tây-ban-nha nổi tiếng sau: “Ven, muerte tan escondida / que no te sienta venir / porque of placer de morir / no me torne a dar la vida” (Đến đây, là cái chết ẩn tàng / đến mức tôi không cảm thấy được người đến / bởi niềm lạc thú được chết đi / đã làm tôi không thiết trở về cuộc sống). Rồi có một khổ thơ của thi sĩ Pháp Leconte de Lisle: “Giải phóng anh ta ra khỏi thời gian, ra khỏi con số, và ra khỏi không gian, rồi đưa anh trở về giấc an lành nơi anh đã rời bỏ.”

Chúng ta có nhiều khao khát, trong đó có khao khát cuộc sống, khao khát được tồn tại mãi mãi, không những thế còn có khao khát được ngừng sự tồn tại này, cũng như còn có nỗi sợ và điều đối nghịch với nó, niềm hi vọng. Hết thảy những điều này có thể tồn tại mà dù thiếu vắng sự bất tử cá nhân, và cũng không cần đến nó. Bản thân tôi không ham muốn nó, và tôi sợ nó, bởi lẽ thật kinh khiếp khi biết rằng tôi sẽ còn tiếp tục, sẽ còn sợ hãi khi nghĩ đến chuyện tôi vẫn cứ làm Borges như vầy. Tôi chán chường bản thân, chán tên mình, chán cả danh tiếng của mình và tôi muốn giải phóng bản thân thoát khỏi tất thảy những điều ấy.

Có một dạng thoả hiệp tôi phát hiện ở Tacitus, và sau này Goethe lấy lại ý đó. Tacitus, trong cuốn Cuộc đời của Agrippa, đã nói rằng: “Non cum corpore periunt magnae animae”, những tâm hồn vĩ đại không chết cùng với thân xác. Tacitus tin rằng sự bất tử cá nhân là món quà dành sẵn cho một số người, không phải những kẻ tầm thường, mà cho những tâm hồn nhất định xứng đáng được bất tử, ông tin là họ đáng được người đời ghi nhớ về con người mình. Goethe lấy lại tư tưởng này, và viết ra, lúc người bạn Wieland của ông lâm chung: “Thật kinh khủng khi nghĩ rằng Wieland đã chết đi chết lại muôn lần.” Ông không thể nghĩ được Wieland lại không tiếp tục được ở một nơi nào khác, ông tin vào sự bất tử cá nhân ở Wieland, nhưng không phải ở tất cả mọi người. Ta biết rằng bất tử là đặc ân của một vài người. Nhưng ai cũng tự đánh giá mình là cao cả, ai cũng có xu hướng tin rằng sự bất tử của họ là cần thiết. Tôi không tin điều đó.

Sau đó, tôi nghĩ ta sẽ có những sự bất tử khác vốn là những nhân vật quan trọng. Đầu tiên là ý tưởng về luân hồi. Ý tưởng này thuộc về Pythagoras, và Platon. Platon thấy luân hồi là điều có thể. Luân hồi giúp giải thích vận may và vận rủi. Nếu ta may mắn hoặc xui xẻo trong cuộc đời này, thì tức là ta mắc nợ nó ở kiếp trước; ta sẽ tiếp nhận hình phạt hoặc được tưởng thưởng. Có một thứ có thể khó hiểu: nếu cuộc đời cá nhân ta, theo như đức tin Hindu và đạo Phật, lại phụ thuộc vào kiếp trước, và kiếp trước đó tới phiên nó phụ thuộc vào một kiếp trước nữa, và do đó cứ tiếp diễn vô tận về miền quá khứ. Người ta nói rằng nếu thời gian là vô hạn, thì vô hạn các kiếp trước là điều mâu thuẫn. Nếu con số đó vô hạn, thì làm sao mà một thứ vô hạn lại chạm được tới hiện tại này? Ta nghĩ nếu thời gian vô hạn, mà tôi tin là vậy, thì thời gian vô hạn đó phải bao hàm tất thảy những thời vô hạn và, trong số toàn bộ những thời vô hạn, tại sao không phải là thời vô hạn này ở tại nơi đây, trong trường Đại học Belgrano, với tôi và các bạn ngồi lại cùng nhau như vầy? Tại sao cũng không phải là khoảng thời gian đó? Nếu thời gian vô hạn, thì tại bất kì thời điểm này chúng ta cũng ở trung tâm thời gian.

Pascal suy tư rằng nếu vũ trụ vô hạn, thì vũ trụ là một khối cầu với chu vi của nó nằm ở mọi nơi và tâm của nó không nằm ở đâu cả. Tại sao không nói rằng thời điểm hiện tại này có một quá khứ vô hạn đằng sau nó, một ngày hôm qua vô hạn, và nói rằng quá khứ này cũng đã băng qua thời hiện tại này? Ở bất kì thời điểm nào, ta cũng ở trung tâm của một đường thẳng vô hạn, bất kể ở chốn nào của cái trung tâm vô hạn ấy, ta cũng ở trung tâm của không gian, bởi thời gian và không gian đều vô hạn.

Các Phật tử tin rằng ta sống vô số kiếp, theo nghĩa con số vô tận, mà nếu xét từ ngữ nghiêm chặt hơn: con số vô thuỷ vô chung, giống với con số siêu hạn trong toán học của Cantor. Ta giờ đây đang ở trung tâm – toàn bộ mọi thời điểm đều là những trung tâm – của thời gian vô hạn đó. Lúc này ta đang nói chuyện, bạn đang nghĩ về những thứ tôi nói, bạn sẽ đồng ý hoặc phản đối.

Luân hồi ban cho ta khả năng chuyển tâm hồn từ thân xác này sang thân xác nọ, từ thân xác con người sang thân xác loài vật. Ta có bài thơ của Pietro di Agrigento trong đó ông cho biết làm thế nào mà ông nhận ra được tấm khiên từng là của ông trong cuộc chiến Trojan. Ta có bài thơ của John Donne “Sự phát triển của tâm hồn”, ra đời sớm hơn chút so với Shakespeare. Donne bắt đầu bằng câu nói: “ta ngợi ca sự phát triển của tâm hồn bất diệt”, và tâm hồn đó chuyển từ thân xác này sang thân xác kia. Ông tuyên bố mình sẽ viết một cuốn sách cao cấp hơn tất cả những cuốn khác, ngoại trừ Kinh Thánh. Dự án của ông rất táo bạo, và mặc dù không bao giờ thành hiện thực, nhưng nó có những đoạn thơ đẹp. Ông bắt đầu bằng một linh hồn ngụ trong quả táo – tức là, trong quả táo của Adam, quả táo của tội lỗi. Rồi nó ở trong bụng nàng Eve và sinh ra Cain; rồi ở mỗi khổ thơ nó đi từ thân xác này qua thân xác nọ (một trong những thân xác đó là Hoàng hậu Elizabeth). Bài thơ vẫn còn dang dở. Donne tin vào sự luân hồi của linh hồn, và một trong những đoạn mở đầu, ông đề cập đến những nguồn cội nổi danh về khái niệm này và đưa ra hai cái tên: Pythagoras và Socrates ở đoạn đối thoại cuối cùng.

Đáng chú ý là Socrates chiều hôm ấy khi đàm đạo cùng các bằng hữu, lại không muốn nói lời tạm biệt trong tình cảnh lâm li bi đát. Ông đuổi vợ con ra ngoài, ông muốn đuổi luôn cả người bạn đang khóc lóc, ông muốn có không khí êm đềm để đàm đạo, đơn giản chỉ để tiếp tục đàm đạo và suy tư. Cái chết cá nhân không làm ông phiền muộn. Vai trò của ông, thói quen của ông, là một thứ gì đó khác nữa: để bàn luận, bàn luận theo theo một lối nhất định nào đấy.

Tại sao ông lại uống thuốc độc? Không có nguyên do.

Ông nói ra những điều làm người đời tò mò: “Orpheus muốn biến mình thành chim sơn ca; Agamemnon, kẻ chăn chiên của loài người, thì muốn biến thành chim ưng; Ulysses thì lạ lắm, hắn muốn biết thành một gã hèn mọn và bí ẩn nhất ở thế gian này.” Socrates cứ nói, cái chết ngắt lời ông. Người ta thấy cái chết sầu muộn lần lên đôi chân ông. Ông đã uống thuốc độc. Ông bảo một người bạn rằng ông nhớ lời thề với Aesculapius, và nhớ sẽ tặng người đó một chú gà trống. Bằng lẽ đó ông muốn nói rằng Asculapius, vị thần y học, đã giải trừ ông khỏi cái ác thiết yếu. “Tôi mắc nợ Aesculapius một con gà trống, ông đã giải trừ tôi khỏi cuộc sống, tôi chuẩn bị chết đây.” Tức là ông ta không tin những gì mình nói lúc trước; ông nghĩ là mình chuẩn bị chết như ở vai trò cá nhân.

Ta có một văn bản cổ điển khác, De rerum natura của Lucretius là tác phẩm trong đó tác giả phủ nhận sự bất tử cá nhân. Những luận cứ đáng nhớ nhất do Lucretius đưa ra là thế này: Một người than phiền rằng mình sắp sửa chết. Anh ta nghĩ rằng tương lai sẽ lãng quên mình. Như Victor Hugo có nói: “Chàng đơn độc ngay giữa bữa tiệc / không thứ gì thiếu vắng đi trong cõi đời rực rỡ và tươi vui này.” Ở bài thơ tuyệt vời ấy, cũng đầy tham vọng như Donne, Lucretius dùng luận cứ sau: “Anh khổ đau bởi anh không nắm giữ được thời tương lai. Thế mà anh lại tin có một khoảng thời gian vô tận trước anh, tin rằng khi anh chào đời, thời điểm ấy cũng đã đi qua khi Carthage và Troy lao vào trận chiến giành quyền cai trị thế giới. Điều đó không nghĩa lí gì với anh. Thế sao cái gì sắp tới lại quan trọng đến vậy? Anh đã mất đi cái quá khứ vô tận, thì có gì quan trọng nếu anh mất đi thời tương lai vô tận?” Đây là điều Lucretius nói đến. Thật tiếc là tôi không không biết nhiều tiếng Latin để nhớ hết mấy dòng đẹp đẽ của ông, mà mãi gần đây tôi mới đọc được kèm theo trợ giúp của từ điển.

Schopenhauer trả lời – và tôi nghĩ Schopenhauer có thẩm quyền lớn nhất – rằng học thuyết luân hồi chẳng là gì cả ngoại trừ việc nó là hình thức phổ biến cho một loại học thuyết khác, vốn được Shaw và Bergson biểu hiện ra sau này, học thuyết về ý chí sống.  Có một thứ khao khát được sống, một thứ mở lối băng qua vật chất, hoặc bất chấp cả vật chất. Đó là thứ mà Schopenhauer gọi là wille, ông quan niệm nó như là ý chí tái sinh.

Sau đó, Shaw nói đến “sinh lực”, và cuối cùng Bergson bàn về cái “élan vital”, cái sức sống được biểu thị ở vạn vật, nó tạo nên vũ trụ, và nó nằm trong mỗi con người chúng ta. Nó chết trong chất khoáng, im lìm trong cỏ cây, như giấc mộng nơi loài vật, nhưng nó tự ý thức bản thân bên trong chúng ta. Ở đây ta có được lời giải thích cho câu chữ kia của Aquinas: ““Intellectus naturaliter desiderat esse semper”, trí tuệ vốn dĩ khao khát được tồn tại mãi mãi. Nhưng bằng cách nào trí tuệ khao khát điều ấy? Nó không khao khát điều ấy theo cách riêng mình; nó không khao khát theo nghĩa của Unamuno, tức muốn tiếp tục làm Unamuno; nó khao khát theo một kiểu tổng quát.

Cái “tôi” của chúng ta là thứ ít hệ trọng nhất. Nó có nghĩa gì khi ta tự cảm nhận mình là một “tôi”? Nó khác biệt theo kiểu ra sao khi tôi cảm nhận mình là Borges so với việc bạn tự cảm nhận mình là A, B hay C? Hoàn toàn không có gì khác. Cái tôi mà chúng ta chia sẻ, nó là cái ở hiện tại, ở hình thức này hay hình thức kia, trong mọi sinh vật. Chúng ta có thể nói rằng bất tử là điều cần thiết – không phải chuyện cá nhân mà là chuyện bất tử theo cách khác. Chẳng hạn mỗi khi có người yêu thương lấy một kẻ thù, thì sự bất tử của Đức Kitô hiện ra. Trong thời điểm đó anh ta là Kitô. Mỗi khi ta lặp lại một dòng chữ của Dante hay Shakespeare, thì bằng cách nào đó ta ở ngay thời khắc Dante hay Shakespeare sáng tạo nên dòng chữ ấy. Bất tử trong kí ức của kẻ khác và trong tác phẩm ta bỏ lại phía sau. Việc đó quan trọng gì nếu tác phẩm ấy bị người đời quên đi?

Tôi đã dành hai mươi năm qua cho lĩnh vực thi ca Anglo-Saxon, và tôi thuộc lòng nhiều bài thơ Anglo-Saxon. Thứ duy nhất tôi không nhớ là tên các thi sĩ. Việc đó quan trọng gì miễn là khi dẫn ra mấy bài thơ từ hồi thế kỉ mười chín, tôi vẫn còn cảm nhận được thứ mà người thời đó cảm nhận được? Người thi sĩ ấy sống trong tôi ở thời điểm ấy, tôi lúc ấy thành kẻ quá cố kia rồi. Mỗi người chúng ta bằng cách nào đó đều trở thành tất cả những người vốn đã chết trước ta. Và không chỉ giới hạn trong những người thuộc dòng máu của mình.

Dĩ nhiên ta thừa hưởng nhiều thứ từ dòng máu của mình. Từ lời kể của mẹ mà tôi biết được mỗi lần tôi dẫn ra những bài thơ tiếng Anh, tôi đã đọc chúng lên bằng giọng nói của cha tôi, ông mất hồi năm 1938. Khi tôi dẫn Shakespeare ra, thì cha tôi lúc ấy sống bên trong con người tôi. Những ai nghe tôi đều sẽ sống trong giọng nói tôi, đó là phản chiếu lại từ một giọng nói và có lẽ giọng nói ấy cũng là thứ phản chiếu lại từ giọng nói của các bậc cha ông. Cũng có thể nói điều tương tự thế cho âm nhạc và ngôn ngữ. Ngôn ngữ là sáng tạo, nó trở thành một loại hình bất tử. Tôi đang dùng tiếng Castile. Có bao nhiêu người Castile quá cố đang sống trong tôi?

Trong cõi sống hiện tại mỗi người chúng ta hợp tác với nhau bằng cách này hay cách nọ. Mỗi người chúng ta muốn cõi sống này sẽ tốt đẹp hơn, nếu nếu cõi sống này thật sự tốt đẹp hơn – một hi vọng bất diệ – nếu đất nước tự cứu lấy nó – và tại sao đất nước không tự cứu lấy nó được? – chúng ta trở nên bất tử ở trong sự cứu rỗi ấy, bất kể ta có biết tên mình hay không. Đó là điều ít hệ trọng nhất; điều quan trọng là người ta có được sự bất tử đó ở trong các tác phẩm, trong kí ức người này để lại cho kẻ khác.

Ý kiến của tôi nào có quan trọng gì, óc phán đoán của tôi cũng vậy; tên gọi của quá khứ không quan trọng miễn là ta cứ tiếp tục giúp ích cho tương lai thế giới này, sự bất tử của ta. Sự bất tử đó không có lí do gì thuộc về cá nhân, nó có thể có được mà không cần đến những cái tên ngẫu nhiên, nó có thể làm lơ kí ức của ta. Bởi vì sao mà tin rằng ta sẽ tiếp tục ở cuộc đời khác với kí ức của mình, như thể tôi phải tiếp tục nghĩ suốt cả đời mình về thời thơ ấu ở Palermo, ở Adrogué hoặc ở Montevideo? Tại sao tôi luôn phải quay lại chuyện đó? Đó là một cách cầu viện theo văn chương; tôi có thể quên hết những thứ đó và tiếp tục tồn tại, và tất thảy những thứ đó ắt vẫn sống trong tôi dẫu cho tôi không gọi tên chúng. Có lẽ điều quan trọng nhất là ta không thật sự nhớ được rằng mình có thể ghi nhớ trong vô thức.

Để chốt lại, tôi cho rằng mình tin vào sự bất tử, không phải bất tử cá nhân mà bất tử theo nghĩa toàn thể vũ trụ. Chúng ta sẽ tiếp tục bất tử; bên kia cái chết thể xác thì kí ức ta vẫn còn đó, bên kia kí ức thì vẫn còn đó hành động của ta, hoàn cảnh của ta, thái độ của ta, toàn bộ phần tuyệt diệu ấy trong lịch sử vũ trụ, dẫu cho chúng ta không biết được điều đó, mà tốt hơn là không biết được.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20130314

Nguồn:

Borges, Jorge Luis. “Immortality.” Selected Non-fictions. Ed. Eliot Weinberger. New York: Penguin, 1999.

https://chiecnon.wordpress.com/2013/03/14/jorge-luis-borges-su-bat-tu/

Literature Văn học Mỹ Latinh

The Paris Review – Nghệ thuật Hư cấu số 39: Jorge Luis Borges

 Phỏng vấn do Ronald Christ thực hiện

Buổi phỏng vấn này thực hiện vào tháng Bảy năm 1966, trong buổi chuyện trò với Borges tại văn phòng của ông ở Biblioteca Nacional (Thư viện Quốc gia Argentina), nơi ông làm giám đốc. Căn phòng, làm nhớ lại một Buenos Aires xưa cũ, thực sự không phải là văn phòng gì cả, mà nó là một gian phòng rộng lớn, trang hoàng lộng lẫy với trần nhà cao, ngụ trong một thư viện vừa mới sửa sang lại. Treo trên tường là những tờ giấy chứng nhận và các trích dẫn văn chương – nhưng lại được treo quá cao khó mà đọc được, như thể không muốn ai nhìn thấy. Cũng có vài bản khắc acid của Piranesi, làm nhớ lại tàn tích như cơn mộng dữ của Piranesi trong truyện “Kẻ bất tử” của Borges. Phía trên lò sưởi là tấm chân dung lớn; khi tôi hỏi cô thư kí của Borges, cô Susana Quinteros, về bức chân dung ấy, thì cô đáp lại bằng cung cách rất phù hợp, dù là tiếng vang vọng vô tình, theo kiểu Borges đơn giản: “Không quan trọng gì đâu. Nó là bức tái chế lại một bức hoạ khác thôi.”

Ở góc chéo đối diện trong căn phòng là hai kệ sách lớn, có thể xoay vòng, và cô Quinteros cho biết chúng chứa những cuốn sách mà Borges thường xuyên tra cứu, tất cả đều được sắp xếp theo trật tự nhất định và không bao giờ thay đổi để Borges, vốn gần như mù loà, có thể tìm thấy chúng theo vị trí và kích cỡ cuốn sách. Chẳng hạn, mấy cuốn từ điển được sắp cạnh nhau, trong đó có cuốn Webster’s Encyclopedic Dictionary of the English Language đã cũ sờn, được đóng gáy chắc chắn và một cuốn từ điển Anglo-Saxon cũng sờn cũ y như thế. Những cuốn khác, từ mấy cuốn bằng Đức ngữ và Anh ngữ về thần học và triết học cho đến văn chương và lịch sử, trong số đó có cuốn Pelican Guide to English Literature hoàn chỉnh, cuốnSelected Writings của Francis Bacon ấn bản nhà Modern Library, cuốn Poetic Edda của Hollander, cuốn The Poems of Catullus, cuốn Geometry of Four Dimensions của Forsyth, vài cuốn trong bộ English Classics (Kinh điển Anh ngữ) của Harrap, cuốn The Conspiracy of Pontiac của Parkman, và ấn bản Beowulf của nhà Chambers. Cô Quinteros cho biết, gần đây Borges đang đọc cuốn The American Heritage Picture History of the Civil War, mà mới đêm trước thì ông đã mang cuốn The Life of Mahomet của Washington Iriving về nhà mình, và ở đó mẹ ông, nay đã chín mươi, đọc cuốn đó cho ông nghe.

Mỗi ngày, lúc chiều muộn, Borges tới thư viện, nơi đây ông đã có thói quen đọc mấy bức thư và mấy bài thơ cho cô Quinteros đánh máy rồi đọc lại cho ông. Theo chỉ dẫn sửa chữa của ông, cô làm ra hai ba hoặc có lúc tới bốn bản sao cho mỗi bài thơ trước khi Borges hài lòng. Cứ chiều chiều, cô đọc cho ông nghe, và ông cẩn trọng chữa lại phát âm tiếng Anh của cô. Thỉnh thoảng, lúc muốn suy nghĩ, Borges rời văn phòng và chậm rãi đi vòng quanh căn phòng lớn có mái vòm của thư viện, ở lối đi phía trên bàn đọc sách của độc giả bên dưới. Nhưng ông không phải lúc nào cũng nghiêm nghị, cô Quinteros nhấn mạnh, xác nhận cái mà người ta có thể mong đợi từ những tác phẩm của ông: “Bao giờ cũng có những câu nói đùa, những câu đùa có chút thực tế.”

Khi Borges bước vào thư viện, đội mũ beret và bộ vét vải flannel xám đen treo hững hờ trên đôi vai rủ xuống tới chân, thì mọi người ngừng nói chuyện trong một đỗi, ngưng lại vì lòng kính trọng, có lẽ phát xuất từ sự ngập ngừng với vẻ thấu cảm dành cho người đàn ông không hoàn toàn bị mù. Ông bước đi ngập ngừng, mang theo cây gậy dùng làm vật dò đường. Người ông thấp, với mái tóc có chút không tự nhiên ở kiểu nó dựng lên trên đầu ông. Nét mặt ông không theo hình dáng rõ ràng, bệt ra do tuổi già, một phần bị làn da nhợt nhạt xoá nhoà đi. Giọng nói ông cũng rất dứt khoát, gần như đều đều, có thể là do ánh mắt ông không tập trung được vào một chỗ, điều đó khiến giọng nói ông dường như phát xuất từ một kẻ khác đằng sau gương mặt ấy; cử chỉ và biểu hiện của ông trông lờ phờ – đặc điểm là mí mắt vô tình rủ xuống. Nhưng khi ông cười – và ông hay cười – thì nét mặt ông co rút lại thành một thứ thực sự giống như dấu chấm hỏi nhăn nhó; ông hay có cử chỉ dang rộng tay khua một vòng hoặc khoác tay gạt ra và đặt bàn tay lên bàn. Hầu hết các câu phát biểu của ông đều ở hình thức câu hỏi tu từ, nhưng khi đặt ra câu hỏi thực sự thì Borges lại thể hiện nét tò mò hiện ra ngay trên mặt, một nỗi rụt rè, gần như là vẻ hoài nghi đầy xúc cảm. Khi ông chọn cách nói, như kể chuyện cười, thì ông dùng giọng khô khốc, gây xúc động; câu trích ông lấy từ Oscar Wilde khiến ông có thể sánh với diễn viên thời vua Edward VII bên Anh quốc. Ngữ giọng của ông dễ dàng chối từ việc phân loại: cách chọn từ theo lối quốc tế hoá xuất hiện từ phông nền Tây-ban-nha, được giáo dục bởi cách nói Anh ngữ chuẩn xác và ảnh hưởng từ nền điện ảnh Mĩ. (Hẳn nhiên không người Anh nào từng phát âm chữ piano thành “pieano”, và không người Mĩ nào nói “a-nee-hilates” cho chữ annihilates.) Phẩm chất nổi trội trong cách nói rõ ràng lưu loát của ông là cách những từ ngữ của ông khi phát ra thì chúng nhẹ nhàng nhoà vào nhau, làm mất dần các hậu tố  đến mức “couldn’t” hay “could” gần như đều giống nhau không phân biệt nổi. Lúc thì dùng chữ lóng và bình dân khi ông muốn thế, điển hình hơn cả là lối nói Anh ngữ đầy trịnh trọng và mang vẻ sách vở, dựa trên cách dùng tự nhiên những cụm từ như “that is to say” và “wherein”. Lúc nào câu chữ của ông cũng được liên kết với cụm “and then” theo kiểu dẫn chuyện hay từ “consequently” theo kiểu logic.

Nhưng trên hết, Borges là người rụt rè, thậm chí còn tự thu mình lại, ông tránh những phát biểu cá nhân đến hết mức có thể và gián tiếp trả lời những câu hỏi về bản thân bằng cách nói đến các nhà văn khác, dùng từ ngữ của mấy người đó và cả sách của họ nữa như là những biểu hiệu cho tư duy của chính ông.

Trong buổi phỏng vấn này, chúng tôi nỗ lực bảo toàn tính chất dân dã trong lời nói Anh ngữ của ông – một sự tương phản rõ nét đối với những bài viết của ông và là sự tiết lộ cho biết độ mật thiết của ông với một ngôn ngữ vốn có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành cách viết của ông.

Jorge Luis Borges

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông không phản đối việc tôi thu âm lại buổi nói chuyện này chứ?

JORGE LUIS BORGES

Không không. Anh cứ lắp đặt mấy thiết bị đó đi. Chúng gây cản trở đó, nhưng tôi sẽ cố gắng nói chuyện như thể chúng chẳng có ở kia. Giờ thì anh đến từ đâu nhỉ?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Từ New York.

BORGES

A, New York. Tôi từng ở đó rồi, và tôi thích chỗ đó lắm – tôi tự nhủ là “À, mình đã làm ra thứ này; đây là tác phẩm của tôi.”

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ý ông là những bức tường nơi mấy toà nhà cao tầng, và cái mê cung phố xá?

BORGES

Đúng đó. Tôi đã đi tản bộ vòng vòng mấy con đường – Fifth Avenue – và bị lạc, nhưng người dân chỗ đó lúc nào cũng tốt bụng. Tôi nhớ đã trả lời nhiều câu hỏi về tác phẩm của mình cho mấy người đàn ông cao cao có dáng vẻ rụt rè. Ở Texas họ bảo tôi nên e ngại thành phố New York, nhưng tôi thích nó. À mà anh sẵn sàng chưa?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vâng, máy đã chạy rồi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Giờ thì trước khi ta bắt đầu, thì anh tính đặt loại câu hỏi gì?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Phần lớn là về tác phẩm của chính ông và nói về mấy nhà văn Anh ngữ mà ông có hứng thú.

BORGES

À, vậy ổn. Bởi nếu anh hỏi tôi mấy câu về những nhà văn đương thời trẻ tuổi, thì tôi e là mình chẳng biết gì về họ. Trong khoảng bảy năm qua tôi đang cố hết sức để có thể hiểu biết chút ít về Old English (tiếng Anh cổ) và Old Norse (tiếng Đức cổ). Hệ quả là, tôi cách biệt với Argentina và các nhà văn Argentina khá xa cả về thời gian lẫn không gian, không phải sao? Nhưng nếu phải nói với anh về Finnsbury Fragment hoặc mấy khúc bi thương hoặc Battle of Brunanburg….

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có muốn nói về chúng không?

BORGES

Không, không đặc biệt muốn lắm.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Điều gì khiến ông quyết định nghiên cứu tiếng Anglo-Saxon và Old Norse?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi khởi sự từ chuyện vô cùng hứng thú với ẩn dụ. Và trong cuốn này, cuốn kia – tôi nghĩ trong cuốn History of English Literature của Andrew Lang – tôi có đọc về các thể kenning, các ẩn dụ của Old English, và theo kiểu cách phức tạp hơn nhiều trong thi ca Old Norse. Sau đó tôi bắt đầu hứng thú nghiên cứu Old English. Bây giờ, hay đúng hơn là đến hôm nay, sau nhiều năm nghiên cứu, tôi không còn hứng thú với các ẩn dụ nữa bởi tôi nghĩ rằng chúng phần nào làm cho chính các thi sĩ mỏi mòn xương cốt – ít nhất là đối với các thi sĩ dùng Old English.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Lặp lại chúng, ý ông là thế?

BORGES

Lặp lại chúng, dùng đi dùng lại các từ và cứ nói về hranrād, waelrād, hay “road of the whale” (con đường cá voi) thay vì “the sea” (biển cả) – kiểu như thế – và “the seawood”, “the stallion of the sea” (ngựa giống ở biển) thay vì “the ship” (con tàu). Do đó tôi cuối cùng quyết định nên ngưng sử dụng chúng, các ẩn dụ ấy; nhưng trong lúc đó, tôi đã bắt đầu học ngôn ngữ này, và đã phải lòng nó. Giờ tôi đã hình thành được một nhóm – khoảng sáu bảy sinh viên gì đó – và chúng tôi học gần như hàng ngày. Chúng tôi đi vào xem xét những đoạn nổi bật trongBeowulf, cuốn Finnsburg Fragment, và The Dream of the Road. Tuy thế chúng tôi cũng lao vào nghiên cứu văn xuôi của King Alfred. Giờ thì chúng tôi đã bắt đầu học Old Norse, có phần nào giống Old English. Ý tôi là từ vựng không quá thực sự khác biệt: Old English là một dạng lưng chừng nửa đường giữa Low German và tiếng Scandinavia.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Văn chương sử thi lúc nào cũng làm ông hứng thú rất nhiều, đúng không?

BORGES

Lúc nào cũng vậy, đúng đó. Chẳng hạn, có nhiều người đi coi phim rồi khóc này nọ. Chuyện đó lúc nào cũng diễn ra: Nó cũng diễn ra với tôi. Nhưng tôi chưa bao giờ khóc bởi mấy thứ ướt át, hay mấy trường đoạn thảm sầu. Nhưng, ví dụ như, khi tôi xem mấy phim gangster của Joseph von Sternberg, tôi nhớ là lúc có chỗ nào đó trông thật sử thi về mấy bộ phim đó – ý tôi là mấy tay cướp Chicago có cái chết dũng cảm – ờ đó, lúc ấy thì tôi cảm giác mình ngân ngấn nước mắt. Tôi cảm thơ mang chất sử thi nhiều hơn thơ trữ tình hoặc khúc ca bi thương. Tôi bao giờ cũng cảm thấy thế. Giờ có lẽ điều đó là do tôi xuất thân từ dòng dõi quân sự. Ông tôi, Đại tá Francisco Borges Lafinur, đã chiến đấu trong trận chiến biên giới với dân da đỏ, và ông chết trong một cuộc cách mạng; ông cố tôi, Đại tá Suárez, dẫn đầu cuộc đột kích của kị binh Peru tại một trong những trận đánh vĩ đại cuối cùng chống lại dân Tây-ban-nha; một ông cụ kị khác của tôi đã dẫn đầu toán quân tiên phong của quân đội San Martin – đại loại thế. Và tôi có, à, một trong những người bà cụ tổ nhà tôi là chị em với Rosas [1] – tôi đặc biệt không hãnh diện về mối quan hệ đó bởi tôi nghĩ Rosas là một loại người như Perón vào thời đó; nhưng dù vậy toàn bộ mấy điều đó đã liên kết tôi với nền lịch sử Argentina và với ý tưởng cho rằng đàn ông thì phải dũng cảm, phải không nào?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nhưng các nhân vật mà ông chọn làm anh hùng sử thi của mình – bọn gangster chẳng hạn – thì người ta lại không nghĩ đó thuộc dạng sử thi, phải không? Tuy thế dường như ông tìm được tính sử thi ở đó?

BORGES

Tôi nghĩ có lẽ có một loại sử thi cấp thấp ở mấy nhân vật – phải không nào?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ý ông là bởi vì ta rõ ràng không còn dùng được thể loại sử thi cũ kĩ nữa, nên ta phải suy xét đến loại nhân vật này cho các anh hùng của chúng ta?

BORGES

Tôi nghĩ về sử thi hay nói cho đúng là về văn chương sử thi – nếu ta loại trừ những nhà văn như T. E. Lawrence trong cuốn Seven Pillars of Wisdom hoặc một vài thi sĩ như Kipling, chẳng hạn như trong “Harp Song of the Dane Women” hay thậm chí trong truyện của ông – thì tôi nghĩ ngày nay, trong lúc giới văn sĩ dường như lờ đi nghĩa vụ sử thi của họ, thì sử thi lạ lùng thay vẫn được mấy bộ phim Western cứu vớt giữ đó cho ta.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi nghe nói là ông từng xem phim West Side Story nhiều lần.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nhiều lần, đúng đó. Dĩ nhiên West Side Story không phải phim Western.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Đúng là không phải, nhưng với ông thì có phải nó có cùng những tính chất sử thi?

BORGES

Tôi nghĩ là có, đúng vậy. Trong suốt thế kỉ này, như tôi đã nói, thì trong tất cả mọi nơi chỉ có Hollywood cứu vớt truyền thống sử thi cho cả thế giới này. Khi tôi đến Paris, tôi cảm giác mình muốn gây sốc cho người ta, và khi họ hỏi tôi – họ biết tôi hứng thú với điện ảnh, hoặc đã từng hứng thú, bởi thị lực của tôi giờ yếu lắm rồi – và họ hỏi tôi, “Ông thích loại phim nào?” Rồi tôi đáp, “Nói thật thì thứ tôi thích nhất là dòng phim Western”. Tất cả họ đều là dân Pháp; họ đồng tình hoàn toàn với tôi. Họ bảo, “Dĩ nhiên chúng tôi cũng xem những phim nhưHiroshima mon amour hoặc L’Anée dernière à Marienbad, xem do bổn phận thôi, nhưng khi chúng tôi muốn tiêu khiển bản thân, khi chúng tôi muốn bản thân tận hưởng, ờ, khi chúng tôi muốn mình thấy thật đã, thì chúng tôi sẽ xem phim Mĩ.”

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy thì chính nội dung, phần nội dung mang chất “văn học” trong phim, chứ không phải các khía cạnh kĩ thuật, mới là thứ làm ông hứng thú phải không?

BORGES

Tôi gần như chẳng biết gì về mảng kĩ thuật điện ảnh.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nếu tôi có thể thay đổi chủ đề cho tác phẩm hư cấu của chính ông, thì tôi muốn hỏi về chuyện ông có nói là mình từng rất e dè khoảng thời gian đầu viết truyện.

BORGES

Đúng vậy, tôi từng rất e dè bởi lúc tôi còn trẻ, tôi nghĩ bản thân là thi sĩ. Thế là tôi nghĩ, “Nếu mình viết truyện, thiên hạ sẽ biết mình là kẻ ngoài cuộc, rằng mình đang xâm phạm vào khu đất cấm.” Rồi tôi gặp tai nạn. Anh cũng thấy vết sẹo đó. Nếu anh chạm vào đầu tôi chỗ này đây, anh sẽ thấy. Cảm thấy mấy cái núi đồi chưa, mấy vết sưng ấy? Sau đó tôi ở trong bệnh viện nửa tháng trời. Tôi gặp ác mộng và không ngủ được – chứng mất ngủ đó mà. Sau đó họ bảo tôi rằng trước đó tôi rất có nguy cơ, à ờ, sắp chết đó mà, rằng thực sự tuyệt diệu khi ca phẫu thuật thành công. Tôi bắt đầu lo sợ về tình trạng nguyên vẹn của trí óc mình – tôi tự nhủ, “Có lẽ mình không thể viết lách được nữa rồi.” Sau đó cuộc đời tôi hẳn là sẽ kết thúc thật bởi vì văn chương rất quan trọng đối với tôi. Không phải vì tôi nghĩ mấy thứ tôi viết ra đặc biệt tốt gì, mà vì tôi biết mình chẳng thể nào sống sót mà không viết lách gì cả. Nếu không viết lách, ờ, thì tôi cảm thấy có gì đó hối tiếc, phải không nào? Rồi tôi nghĩ mình sẽ thử bắt tay viết báo hay bài thơ nào đó. Nhưng tôi lại nghĩ, “Mình đã viết hàng trăm bài báo và bài thơ rồi. Nếu giờ không thể viết thì mình sẽ biết ngay tức thì là tiêu rồi, mọi thứ đã chấm hết.” Do đó tôi nghĩ mình sẽ thử bắt tay viết thứ gì khác mà chưa từng làm: Nếu tôi không làm được thì chẳng có gì lạ hết bởi vì tại sao tôi viết truyện ngắn? Nó sẽ chuẩn bị tôi tiếp nhận đòn giáng cuối cùng không thể chống đỡ: đó là khi biết mình đã tới điểm giới hạn cuối cùng. Tôi viết một truyện, để tôi xem, tôi nghĩ nó có nhan đề “Hombre de la esquina rosada” [2], và người ta rất thích nó. Tôi cảm thấy thật nhẹ nhõm. Nếu tôi không có cú đập đặc biệt kia vào đầu mình, thì có lẽ tôi sẽ không bao giờ viết truyện ngắn.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Và có lẽ ông cũng sẽ không bao giờ dịch thuật?

BORGES

Và không ai nghĩ đến chuyện dịch tôi. Do đó có thể nói trong cái rủi có cái may. Những câu chuyện đó, bằng cách này hay cách khác, đã có lối đi của mình: Chúng được dịch ra tiếng Pháp, tôi đoạt giải Prix Formentor, rồi dường như tôi lại được dịch sang nhiều thứ tiếng khác. Dịch giả đầu tiên là Ibarra. Ông ấy là bạn thân của tôi, và ông đã dịch nhiều truyện sang tiếng pháp. Tôi nghĩ ông ta đã hoàn thiện chúng rất nhiều, không phải sao?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ibarra là dịch giả đầu tiên, không phải Caillois sao?

BORGES

Ông ấy và Roger Caillois [3]. Ở tuổi già như trái chín cây, tôi bắt đầu phát hiện ra trên toàn thế giới có nhiều người thích tác phẩm của tôi. Chuyện này trông lạ quá: Nhiều bài viết của tôi được chuyển sang tiếng Anh, tiếng Thuỵ-điển, tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng Bồ-đào-nha, một vài tiếng Slavic, tiếng Đan-mạch. Và lúc nào chuyện này cũng xuất hiện làm tôi ngạc nhiên quá đỗi bởi tôi nhớ mình đã xuất bản cuốn sách – ắt là phải từ năm 1932, tôi nghĩ vậy[4] – và cuối năm đó tôi thấy không ít hơn ba mươi bảy quyển được bán!

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Đó là cuốn Universal History of Infamy?

BORGES

Không, không. History of Eternity chứ. Ban đầu tôi còn muốn tìm từng người mua để xin lỗi vì cuốn sách ấy và cũng để cảm ơn họ vì những gì họ đã làm. Có một lời giải thích cho chuyện đó. Nếu anh nghĩ đến ba mươi bảy người – những người này toàn có thực hết, ý tôi là mỗi người trong số họ đều có gương mặt của chính mình, có một gia đình, họ sống ở những con phố cụ thể của riêng mình. Tại sao, nếu anh bán, cho là hai mươi ngàn bản, thì nó lại giống như thể anh không bán gì cả vì hai mươi ngàn quá sức lớn – ý tôi là, quá lớn để trí tưởng tượng có thể nắm bắt được. Trong khi ba mươi bảy người – có lẽ ba mươi bảy cũng nhiều, có lẽ mười bảy thì tốt hơn hoặc thậm chí bảy thôi – nhưng tuy thế ba mươi bảy vẫn nằm trong phạm vi tưởng tượng của ta.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nói đến các con số, tôi chú ý trong truyện của ông thì các con số nhất định cứ tái diễn.

BORGES

Ồ đúng đó. Tôi mê tín ghê lắm. Tôi thấy xấu hổ vì vậy. Tôi tự nhủ rằng rốt cuộc, chuyện mê tín, tôi cho là, là một hình thức điên rồ nhè nhẹ, không phải sao?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Hay là hình thức tông giáo?

BORGES

À, tông giáo, nhưng… tôi cho là nếu ta đạt được một trăm năm mươi tuổi, thì ắt là ta sẽ khá điên, không phải sao? Bởi vì toàn bộ những triệu chứng nhỏ đó sẽ phát triển lên. Tuy thế, tôi thấy mẹ mình, đã chín mươi rồi, và bà ít mê tín hơn tôi nhiều. Giờ thì khi đọc sách, đến lần thứ mười, tôi cho là vậy, cuốn Johnson của Boswell, thì tôi thấy là ông ấy mê tín ngập tràn, và đồng thời, thấy rằng ông ta có nỗi sợ hãi vô cùng đối với chứng điên. Trong những kinh cầu nguyện ông tạo ra, một trong nhữn điều ông thỉnh cầu Thượng đế là ông không muốn là gã điên, do đó ông ta ắt là phải lo lắng về nó lắm.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Có phải ông nói rằng cùng một lí do – mê tín – mà khiến ông dùng những màu sắc giống nhau – đỏ, vàng, xanh lục – lặp đi lặp lại?

BORGES

Nhưng tôi có dùng màu xanh lục à?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Không thường như các màu khác. Nhưng ông thấy là tôi có làm một chuyện khá vặt vãnh. Tôi đã đếm số màu sắc trong…

BORGES

Không không. Đó gọi là estilística [văn phong]; ở đây nó cần được nghiên cứu. Không, tôi nghĩ anh sẽ tìm thấy màu vàng.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nhưng màu đỏ cũng vậy, thường xê dịch, phai dần thành màu hoa hồng.

BORGES

Thật ư? À, tôi chưa bao giờ biết điều đó.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nó cứ như thể thế giới ngày nay là mẩu tro của đám cháy ngày hôm qua – đó là một ẩn dụ mà ông dùng. Ông nói đến “Adam đỏ” chẳng hạn.

BORGES

À, từ Adam, tôi nghĩ, trong tiếng Hebrew nghĩa là “đất đỏ” (red earth). Ngoài ra nó phát âm cũng ổn, không phải sao? “Rojo Adán”.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vâng, đúng thế. Nhưng đó không phải thứ ông định phô bày ra chứ: sự suy đồi của thế gian bằng việc dùng màu sắc theo lối ẩn dụ?

BORGES

Tôi không định phô bày ra gì hết. [Cười lớn.] Tôi không có ý định gì cả.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Chỉ mô tả thôi sao?

BORGES

Tôi mô tả. Tôi viết. Giờ nhắc đến sắc vàng, có một lời giải thích vật lí cho điều đó. Khi tôi bắt đầu mất thị lực, màu sắc cuối cùng tôi thấy được, hay đúng hơn là sắc màu cuối cùng nổi bật lên, bởi vì tất nhiên giờ tôi biết áo khoác của anh không cùng màu với cái bàn này hoặc với mấy món đồ gỗ sau lưng anh – cái sắc màu cuối cùng nổi bật lên đó là màu vàng bởi vì đó là màu sáng rõ nhất trong số các màu. Đó là lí do tại sao các anh có Yellow Cab Company (Công ti taxi vàng) ở Hoa-kì. Ban đầu họ nghĩ đến sơn mấy chiếc xe màu đỏ tươi. Rồi ai đó phát hiện ra vào ban đêm hay lúc có sương mù thì màu vàng nổi bật sáng rõ hơn màu đỏ tươi. Thế là các anh có xe taxi vàng bởi vì bất kì ai cũng có thể nhận ra chúng. Giờ, lúc tôi bắt đầu mất thị lực, khi thế gian bắt đầu nhạt nhoà dần đi, thì có thời điểm mà mấy người bạn của tôi… à họ đùa cợt, chế giễu tôi bởi tôi lúc nào cũng đeo cà-vạt màu vàng. Rồi họ tưởng tôi thực sự thích màu vàng, mặc dù nó thực sự quá chói. Tôi nói, “Vâng, với mấy anh thôi, chứ không phải với tôi, bởi vì đó là sắc màu duy nhất tôi có thể thấy, gần như vậy!” Tôi sống trong cõi sống xám xịt, khá giống cõi sống của màn bạc. Nhưng sắc vàng nổi bật lên. Điều đó có thể giải thích chuyện này. Tôi nhớ một câu đùa của Oscar Wilde: bạn ông ấy có cà-vạt màu vàng, màu đỏ, và cứ thế, rồi Wilde nói, Ồ, anh bạn thân mến của tôi ơi, chỉ có gã điếc mới mang cà-vạt như thế!

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông ấy có lẽ nói về cái cà-vạt màu vàng mà tôi đeo hiện giờ.

BORGES

À, ừ. Tôi nhớ đã kể câu chuyện đó cho một quý bà mà bà này vuột mất nguyên cả ý. Bà ta nói, “Dĩ nhiên, chắc là vì bị điếc ông ta không thể nghe những gì người ta nói về cà-vạt của mình”. Câu đó có lẽ sẽ làm Oscar Wilde khoái chí lắm, không phải sao?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi muốn nghe lời ông ấy đáp trả cho câu đó.

BORGES

Vâng, tất nhiên. Tôi chưa bao giờ nghe nói đến trường hợp nào mà bị hiểu lầm tuyệt đối hoàn hảo như vậy. Sự hoàn hảo của tình trạng ngu đần. Dĩ nhiên, nhận xét của Wilde là cách dịch hóm hỉnh của một ý tưởng; bằng tiếng Tây-ban-nha cũng như tiếng Anh các anh nói đến một “loud color” [sắc màu ồn ã]. “Loud color” là thành ngữ thông dụng, nhưng khi những thứ vốn được nói trong văn chương lúc nào cũng giống nhau. Cái quan trọng là cách chúng được nói ra. Chuyện tìm kiếm các ẩn dụ chẳng hạn: Hồi trẻ tôi luôn săn tìm các ẩn dụ mới. Rồi tôi phát hiện những ẩn dụ thực sự hay ho thì bao giờ cũng giống nhau. Ý tôi là các vị so sánh thời gian với con đường, cái chết với việc ngủ, cuộc sống với việc mơ, và những cái đó đều là những ẩn dụ tuyệt vời trong văn chương bởi chúng tương ứng với những điều căn cốt. Nếu bạn chế ra ẩn dụ, thì chúng phải có khả năng gây ngạc nhiên trong một tích-tắc, nhưng chúng lại không tạo ra chút cảm xúc sâu xa nào. Nếu bạn nghĩ đến cuộc đời như một giấc mơ, thì đó là một ý nghĩ, một ý nghĩ có thực, hoặc ít nhất thì đó là điều mà hầu hết người ta đều chắc chắn có, không phải sao? “Những điều thường là tư duy, lại không bao giờ được biểu lộ trơn tru.” Tôi nghĩ điều đó tốt hơn ý tưởng gây sốc cho người ta, hơn việc tìm ra những nối kết giữa những vật chưa từng được nối kết trước đây, bởi vì chẳng có nối kết thực sự nào cả, do vậy toàn thể sự vật là một loại sắp đặt thôi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Sắp đặt chỉ từ ngữ thôi à?

BORGES

Chỉ từ ngữ thôi. Tôi thậm chí không gọi chúng là những ẩn dụ thực sự bởi vì trong một ẩn dụ thực sự thì cả hai phần nghĩa đều thực sự liên kết với nhau. Tôi phát hiện được một ngoại lệ – một loại ẩn dụ lạ lùng, mới mẻ, và đẹp tuyệt đến từ thi ca Old Norse. Ở thi ca Old English thì một trận đánh được nói đến như là “cuộc chơi của gươm kiếm” hay “cuộc chạm trán của những ngọn giáo”. Còn trong Old Norse, và tôi nghĩ cũng có ở thi ca Celtic nữa, trận đánh được gọi là một “mạng lưới của những gã đàn ông”. Cái đó lạ quá phải không nào? Bởi vì trong mạng lưới thì anh sẽ có một mẫu hình, một hành động đan dệt của những gã đàn ông,un tejido [một chuỗi]. Tôi cho là trong trận đánh thời trung cổ anh có một loại mạng lưới bởi vì có được gươmg giáo ở hai đầu chiến tuyến và cứ thế. Do vậy ở đó tôi nghĩ anh sẽ có một ẩn dụ mới; và dĩ nhiên cùng với một cú đụng chạm ác mộng về nó, phải không nào? Ý tưởng về mạng lưới làm từ những gã đàn ông bằng xương bằng thịt, làm từ những vật sống, và vẫn là một mạng lưới, vẫn là một mẫu hình. Thật là một ý tưởng lạ, phải không nào?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nhìn chung thì nó tương ứng với ẩn dụ mà George Eliot dùng trong Middlemarch, xã hội đó là một mạng lưới và người ta không thể gỡ một phần trong đó ra mà không chạm vào tất cả những phần khác.

BORGES

[Với niềm thích thú tột đỉnh] Ai nói cái đó vậy?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

George Eliot, trong Middlemarch.

BORGES

A, Middlemarch! Đúng rồi, dĩ nhiên! Ý anh là toàn thể vũ trụ được liên kết với nhau; mọi thứ liên kết nhau. À, đó là một trong những lí do khiến các triết gia Khắc-kỉ tin vào các điềm báo. Có một bài viết, một bài viết rất đáng lưu tâm của De Quincey, như tất thảy các bài khác của ông, bàn về chuyện mê tín thời hiện đại, và ở đó ông có đưa ra lí thuyết của phái Khắc-kỉ. Ý tưởng cho rằng bởi vì toàn thể vũ trụ là một vật sống, thế nên có mối thân thuộc giữa các sự vật trông có vẻ xa xôi cách trở. Chẳng hạn, nếu mười ba người ăn tối cùng nhau, một trong số họ chắc chắn qua đời nội trong năm đó. Không chỉ đơn thuần bởi vì Jesus Christ và Bữa tối cuối cùng, mà còn bởi vì toàn bộ mọi thứ đều ràng buộc với nhau. Ông ta nói – tôi tự hỏi làm thế nào mà hình thành ra được câu chữ ấy – rằng mọi thứ trên cõi nhân gian này là một chiếc li bí mật hay một tấm gương bí mật của vũ trụ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông thường nói đến những người ảnh hưởng lên ông, như De Quincey…

BORGES

Từ De Quincey rất nhiều, đúng vậy, và Schopenhauer bên Đức ngữ nữa. Vâng, thực tế thì trong suốt thế chiến thứ nhất, tôi được Carlyle dẫn dắt – Carlyle: tôi không ưa ông này: tôi nghĩ ông ta đã chế ra Đức Quốc xã và mọi thứ khác, một trong những cha đẻ hay tổ tiên của những thứ kiểu vậy – à, tôi được Carlyle dẫn dắt trong chuyện học tiếng Đức, và tôi cố thử sức với cuốn “Phê phán lí tính thuần tuý” của Kant. Dĩ nhiên, tôi cũng bị sa lầy như bao người khác – như hầu hết những người Đức. Sau đó, tôi bảo, “À, cháu sẽ thử thi ca của họ vậy, bởi vì thi ca thì ngắn hơn do được làm ở thể thơ”. Tôi lấy một cuốn Lyrisches Intermezzo của Heine và một cuốn từ điển Anh-Đức, và cứ mỗi hai hay ba tháng trôi qua thì tôi phát hiện mình có thể xoay xở khá ngon lành mà không cần từ điển hỗ trợ.

Tôi nhớ cuốn tiểu thuyết Anh ngữ đầu tiên tôi đọc kĩ lưỡng là một cuốn tiểu thuyết Scotland với nhan đề The House with the Green Shutters.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ai viết cuốn đó thế?

BORGES

Một gã tên là Douglas. Rồi cuốn ấy bị gã khác đạo văn để viết nên cuốn Hatters Castle – Cronin – hai cuốn gần như cùng một cốt chuyện. Cuốn sách ấy được viết theo thổ ngữ Scotland – ý tôi là người ta thay vì nói money thì lại nói bawbees hoặc thay vì nói children thì lại nói bairns – đó là từ Old English và cũng là từ Norse – và họ nói nicht thay vì nói night: đó là tiếng Old English.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Và lúc đọc cuốn đó thì ông bao nhiêu tuổi?

BORGES

Chắc là khoảng – hồi ấy có nhiều thứ tôi chưa hiểu – hẳn là tôi khoảng mười hay mười một gì đó. Trước đó, dĩ nhiên tôi có đọc The Jungle Book, và tôi cũng đã đọc Treasure Island của Stevenson, một cuốn rất ổn. Nhưng cuốn tiểu thuyết thực sự đầu tiên là cuốn đó. Khi đọc nó, tôi muốn thành người Scotland, sau đó tôi hỏi bà tôi, và bà rất phẫn nộ về chuyện đó. Bà bảo, “Tạ ơn chúa là con không phải vậy!” Dĩ nhiên có lẽ bà sai. Bà đến từ Northumberland; họ ắt hẳn có chút dòng máu Scotland trong người. Có lẽ còn có cả dòng máu Đan-mạch từ hồi xa xưa.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Cùng với niềm thích thú dài hạn với Anh ngữ và tình yêu tuyệt vời của ông dành cho nó…

BORGES

Này nhé, tôi đang nói chuyện với một người Mĩ: Có một cuốn sách tôi phải đề cập tới – không có gì bất ngờ về nó hết – cuốn đó là Huckleberry Finn. Tôi cực kì ghét Tom Sawyer. Tôi nghĩ Tom Sawyer đã làm hư hết mấy chương cuối trong cuốn Huckleberry Finn. Toàn bộ mấy câu chuyện đùa ngớ ngẩn đó. Tất cả là những câu chuyện đùa cợt vô nghĩa; nhưng tôi cho rằng Mark Twain nghĩ bổn phận của ông là phải hài hước thậm chí khi ông không có tâm trạng. Bằng cách nào đó phải lồng vào mấy câu chuyện đùa. Theo những gì George Moore từng nói, người Anh luôn nghĩ: “Thà là chuyện đùa dở tệ còn hơn không có chuyện đùa nào.”

Tôi nghĩ Mark Twain là một trong những nhà văn thực sự vĩ đại, nhưng tôi nghĩ ông ấy hoàn toàn không ý thức đến sự thực đó. Nhưng có lẽ để viết nên cuốn sách thật sự tuyệt vời, bạnphải hoàn toàn không ý thức đến thực tế đó. Bạn phải è cổ ra vì tác phẩm và thay đổi mỗi tính từ sang một tính từ khác, nhưng có lẽ bạn có thể viết tốt hơn nếu bạn để lại sai sót. Tôi nhớ những điều Bernard Shaw từng nói, rằng khi nói về văn phong, một nhà văn sẽ có văn phong đa dạng ở mức niềm tin cho phép chứ không hơn. Shaw nghĩ ý tưởng về trò chơi văn phong là điều tương đối phi thực tế, hoàn toàn vô nghĩa. Chẳng hạn ông nghĩ đến Bunyan như một nhà văn vĩ đại bởi ông bị thuyết phục bởi những gì Bunyan nói ra. Nếu một nhà văn ngờ vực về những điều họ viết, thì họ khó lòng mong đợi người đọc tin nó. Dù vậy ở đất nước này, lại có khuynh hướng xem bất kì dạng viết nào – nhất là chuyện viết thơ – như một trờ chơi về văn phong. Tôi biết nhiều thi sĩ ở đây viết tốt lắm – cho ra mấy thứ ổn vô cùng – với lối hành văn thanh nhã và nhiều thứ khác – nhưng nếu anh nói chuyện với họ, thì thứ duy nhất họ bảo anh là mấy câu chuyện tục tĩu hoặc họ sẽ nói đến chính trị theo kiểu như bao người khác, thành thử thực sự thì lối viết của họ trở thành một loại lặt vặt nào đó thôi. Họ đã học cách viết như thể người ta học chơi cờ hoặc chơi bài bridge. Họ thực ra chẳng phải là thi sĩ hay nhà văn gì hết. Đó chỉ là mánh khoé họ học được, và họ học điều đó rất kĩ càng. Họ có cả toàn bộ mấy thứ vậy ở ngay mấy đầu ngón tay. Nhưng hầu hết họ – ngoại trừ bốn năm người, có thể nói vậy – dường như đều nghĩ đến cuộc đời như thể chẳng có gì thi vị hoặc bí ẩn gì hết. Họ cứ mặc nhiên cho mọi thứ là vậy. Họ biết rằng khi họ phải viết, thì, ừm, họ phải đột nhiên trở nên buồn rầu hoặc phải đột nhiên buông ra mấy lời mỉa mai.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Để có vẻ như nhà văn?

BORGES

Đúng đó, để có vẻ như nhà văn và để có được tâm trạng hợp hoàn cảnh, rồi viết ra. Sau đó, họ quay về nền chính trị hiện tại.

SUSANA QUINTEROS [bước vào]

Xin lỗi. Señor Campbell đang chờ ạ.

BORGES

À, xin hãy yêu cầu ông ấy chờ một chút nhé. À, có ông Campbell đang chờ đó mà; gia đình Campbell đang tới.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông viết truyện từ khi nào, mà ông có chỉnh sửa lại nhiều không?

BORGES

Ban đầu thì có. Rồi tôi thấy là khi người ta tới ngưỡng tuổi nào đó, họ đã tìm ra được giọng điệu thực sự cho mình. Ngày nay, tôi cố kiểm lại những gì mình viết sau nửa tháng hay khoảng đó, và dĩ nhiên có nhiều chỗ vấp váp và lặp từ cần tránh đi, những mánh khoé ưa thích nhất định mà ta không nên lạm dụng. Nhưng tôi nghĩ rằng những gì tôi viết ra ngày nay lúc nào cũng ở tầng mức nhất định và tôi không thể chỉnh cho nó tốt hơn nhiều được, cũng như tôi cũng chẳng thể làm nó hỏng bét đi nhiều được. Vậy là tôi cứ để nó đó, quên đi mọi thứ về nó, và nghĩ về chuyện tôi sắp làm lúc đó. Những thứ cuối cùng mà tôi viết nên là cácmilonga, những bài hát dân dã.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vâng, tôi có thấy một cuốn về chúng, một quyển sách đẹp tuyệt.

BORGES

Đúng vậy, Para las seis cuerdas [Dành cho đàn sáu dây], dĩ nhiên có ý là đàn guitar. Đàn guitar là một nhạc cụ phổ biến hồi tôi còn nhỏ. Rồi anh sẽ thấy người ta gảy đàn guitar, không thật điêu luyện, ở mỗi góc đường ở mỗi khu phố. Một số bài tango hay nhất được soạn ra bởi những người không có khả năng viết lẫn đọc chúng. Nhưng dĩ nhiên là họ chứa đựng âm nhạc trong tâm hồn mình, như Shakespeare có lẽ đã từng nói. Do vậy họ cất lên những bài hát ấy cho ai đó nghe: Chúng được chơi bằng piano, rồi được chấp bút viết ra, và được xuất bản cho những người biết chữ đọc. Tôi nhớ có gặp một người như vậy – Ernesto Poncio. Anh ấy viết bản “Don Juan”, một trong những bản tango hay nhất trước khi người đời làm hỏng nhạc tango bằng mớ bài hát Ý ở La Boca và nhiều thứ khác: Ý tôi là, thời điểm nhạc tango bắt nguồn từ dòng criolla. Có lần anh ta nói với tôi, “Tôi đã vào tù nhiều lần rồi Señor Borges ạ, nhưng bao giờ cũng là tội ngộ sát!” Ý muốn nói ở đây là anh ấy không phải một tên trộm hay một tay ma-cô.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Trong cuốn Antología Personal của ông…

BORGES

Này nhé, tôi muốn nói là cuốn sách ấy đầy lỗi in ấn. Thị lực tôi mờ rồi, và phần đọc bản in thử được giao cho người khác.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi hiểu, nhưng đó chỉ là những sai sót lẻ tẻ đúng không?

BORGES

Đúng, tôi biết thế, nhưng chúng cứ chui vào, làm bận tâm người viết, chứ không phải độc giả. Độc giả sẽ chấp nhận bất kì thứ gì, phải không nào? Thậm chí cả những điều vô lí rõ ràng nhất.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nguyên tắc tuyển chọn của ông trong cuốn sách đó là gì?

BORGES

Nguyên tắc tuyển chọn của tôi đơn giản là tôi cảm thấy mớ đó tốt hơn những thứ tôi gạt bỏ ra. Dĩ nhiên, nếu tôi khôn khéo hơn, tôi sẽ khăng khăng gạt bỏ ra mấy câu chuyện đó, rồi sau khi tôi chết thì sẽ có người nhận ra những thứ bị gạt bỏ đi đó thực sự rất ổn. Đó hẳn là một chuyện khôn khéo có thể làm, phải không nào? Ý tôi là, để xuất bản toàn bộ mớ yếu kém đó, rồi cho người ta phát hiện tôi đã gạt bỏ đi những thứ ngon lành thực sự.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông rất thích những câu chuyện đùa phải không?

BORGES

Đúng, tôi rất thích, đúng vậy.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nhưng những người viết về mấy quyển sách của ông, đặc biệt tác phẩm hư cấu của ông…

BORGES

Không, không – họ viết quá ư nghiêm trọng đó mà.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Họ hiếm khi nhận ra có một vài quyển rất khôi hài.

BORGES

Chúng được viết với ý khôi hài mà. Bây giờ có một cuốn chuẩn bị ra mắt, có nhan đề Cronícas de Bustos Domecq, viết chung với Adolfo Bioy Casares. Cuốn sách đó nói về các kiến trúc sư, các thi sĩ, các tiểu thuyết gia, điêu khắc gia, và nhiều người nữa. Toàn bộ nhân vật đều hư cấu, và toàn bộ họ đều là dạng người hợp mốt, rất thời thượng; họ quá nghiêm xét bản thân mình; nhà văn cũng thế, nhưng họ không hẳn là những nhân vật giễu nhại bất kì ai đó. Chúng tôi chỉ đơn giản đi tới một điều nào đó có thể được thực hiện. Chẳng hạn, nhiều nhà văn ở đây bao tôi, “Chúng tôi muốn biết thông điệp của ông”. Anh thấy đó, chúng tôi có thông điệp gì đâu. Khi viết ra, tôi viết bởi vì cần phải làm một điều gì đó. Tôi không nghĩ một nhà văn cần can dự quá nhiều vào chính tác phẩm của mình. Họ nên để tác phẩm tự viết ra câu chuyện cho chính nó, phải không nào?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông vừa bảo là đừng bao giờ phán xét nhà văn bởi các ý tưởng của họ.

BORGES

Đúng đó, tôi không nghĩ ý tưởng là thứ quan trọng.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy thì, phán xét họ dựa vào cái gì?

BORGES

Họ nên được phán xét bởi niềm vui thích họ trao cho tác phẩm và bởi những cảm xúc ta có được. Về chuyện ý tưởng, rốt cuộc thì nó không phải là thứ quá quan trọng bất kể nhà văn có quan điểm chính trị nào bởi vì tác phẩm sẽ cứ tiếp diễn đến rốt ráo bất chấp các ý tưởng, như trong trường hợp tác phẩm Kim của Kipling. Giả định anh xem xét ý tưởng về đế chế người Anh – à, trong Kim tôi nghĩ các nhân vật mà người ta thật sự thích không phải người Anh, mà là nhiều nhân vật Ấn-độ, những người theo Islam. Tôi nghĩ họ là những người thú vị hơn. Và đó bởi vì ông ấy nghĩ họ – Không! Không! Không phải vì ông ta nghĩ họ thú vị hơn – mà vì ông ta cảm thấy họ thú vị hơn.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Còn về những ý tưởng siêu hình học thì sao?

BORGES

À, ờ, những ý tưởng siêu hình học, vâng. Người ta nên gộp chúng vào các câu chuyện dân gian hay đại loại thế.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Độc giả thường hay gọi truyện của ông là truyện ngụ ngôn. Ông thích cách mô tả như thế chứ?

BORGES

Không, không. Chúng được viết ra đâu nhằm trở thành truyện ngụ ngôn. Ý tôi nếu chúng là truyện ngụ ngôn… [ngưng một quãng dài] …tức là, nếu chúng là truyện ngụ ngôn, thì chúngtình cờ trở thành truyện ngụ ngôn, nhưng tôi chưa bao giờ có ý viết truyện ngụ ngôn.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Thế là không như truyện ngụ ngôn của Kafka?

BORGES

Ở trường hợp Kafka, ta hầu như chả biết gì. Ta chỉ biết rằng ông ấy rất bất mãn với tác phẩm của chính mình. Dĩ nhiên là lúc ông ta nói với người bạn Max Brod rằng ông muốn mấy bản thảo của mình phải được đem đốt sạch, giống Virgil từng làm, thì khi ấy tôi cho là ông dư biết bạn mình sẽ chả làm chuyện đó đâu. Nếu ai đó muốn tiêu huỷ đi tác phẩm của chính mình, thì họ phải ném nó vào lửa, và thế là xong. Khi ông ấy bảo với người bạn thân rằng, “Tôi muốn ông huỷ hết mớ bản thảo đó đi”, thì ông dư biết là bạn mình sẽ chả bao giờ làm vậy, và người bạn ấy cũng biết là ông biết thế và còn biết là ông biết người kia cũng biết là ông biết, vân vân và vân vân.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tất cả mấy thứ đó rất giống kiểu James.

BORGES

Vâng, dĩ nhiên rồi. Tôi nghĩ rằng cả thế giới của Kafka sẽ được phát hiện theo một cách còn phức tạp hơn nhiều trong những truyện của Henry James. Tôi nghĩ cả hai người này đều tư duy thế giới như một cõi sống đồng thời vừa phức tạp vừa vô nghĩa.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vô nghĩa?

BORGES

Anh không nghĩ thế sao?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Không, thực sự tôi không nghĩ vậy. Trong trường hợp của James thì…

BORGES

Nhưng ở trường hợp của James, vâng. Trong trường hợp của James, vâng. Tôi không nghĩ là ông ta nghĩ thế giới có mục đích luân lí nào. Tôi nghĩ ông ấy không tin vào Thượng đế. Thực sự thì tôi nghĩ có một lá thư gửi cho anh ông ấy, nhà tâm lí học William James, trong đó ông ấy bảo rằng thế giới là một viện bảo tàng bằng kim cương, ta hãy nói đó là một bộ sưu tập các thứ kì dị, phải không nào? Tôi cho ý ông ta là thế. Giờ ở trường hợp Kafka, tôi nghĩ Kafka đang tìm kiếm thứ gì đó.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Cho một ý nghĩa nào đó?

BORGES

Cho ý nghĩa nào đó, đúng vậy; và không tìm được nó, có lẽ vậy. Nhưng tôi nghĩ cả hai người họ đều sống trong một dạng mê cung, phải không nào?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi sẽ đồng ý chuyện đó. Chẳng hạn một cuốn sách như cuốn The Sacred Fount.

BORGES

Vâng, The Sacred Fount và nhiều truyện ngắn khác. Ví dụ, “The Abasement of the Northmores” (“Sự khuất nhục của nhà Northmore”), trong đó cả câu chuyện là một sự trả thù tuyệt đẹp, nhưng lại là cuộc trả thù mà độc giả không bao giờ biết là nó có xảy ra hay không. Người phụ nữ vô cùng chắc chắn rằng công việc của chồng cô, mà dường như chẳng ai biết hay quan tâm đến, tốt hơn rất nhiều so với công việc mà người bạn nổi tiếng của chồng cô ta có được. Nhưng có lẽ toàn bộ chuyện đó không có thực. Có lẽ tình yêu của cô dành cho anh ta đã dẫn dắt cô nàng. Ta không biết liệu những lá thư đó, khi được công bố, có thực sự dẫn đến chuyện gì không. Dĩ nhiên James cố gắng viết hai ba truyện cùng lúc. Đó là lí do tại sao ông không bao giờ đưa ra giải thích. Lời giải thích ắt sẽ làm câu chuyện trở nên nghèo nàn hơn. Ông bảo The Turn of the Screw chỉ là dạng mì ăn liền, đừng bận tâm về nó. Nhưng tôi không nghĩ điều đó là thật. Chẳng hạn, ông ta nói, À, nếu tôi đưa ra giải thích, rồi câu chuyện sẽ nghèo nàn hơn bởi những lời giải thích khác sẽ bị gạt bỏ. Tôi nghĩ ông ấy làm vậy là có chủ đích.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi đồng ý; người ta không nên biết.

BORGES

Người ta không nên biết, mà có lẽ bản thân ông ấy cũng không biết!

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có muốn tác động tương tự thế đối với độc giả của ông không?

BORGES

Ồ vâng. Dĩ nhiên là tôi muốn. Nhưng tôi nghĩ truyện ngắn của Henry James vượt xa tiểu thuyết của ông. Những điều quan trọng trong truyện của Henry James là những tình huống được sáng tạo nên, chứ không phải các nhân vật. The Sacred Fount ắt sẽ tốt hơn nhiều nếu bạn có thể phân biệt nhân vật này với nhân vật khác. Nhưng bạn phải lê lết khoảng ba trăm trang nhằm phát hiện ra tình nhân của quí cô này kia là ai, rồi cuối cùng bạn có thể đoán rằng chính anh chàng này chứ không phải anh chàng Tên-gì-gì-đó. Anh không thể tách bạch họ ra được; tất cả họ đều nói năng theo cùng một kiểu; không có nhân vật thực sự nào hết. Chỉ có người Mĩ dường như nổi bật lên. Nếu anh nghĩ đến Dickens, ờ, mặc dù các nhân vật dường như không nổi trội, nhưng họ vẫn quan trọng hơn nhiều so với cốt truyện.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông nói rằng truyện của chính ông có điểm nguồn nằm ở tình huống, chứ không phải nhân vật, đúng thế không?

BORGES

Nằm ở tình huống, quả đúng vậy. Ngoại trừ ý tưởng về tính can đảm, mà tôi rất thích. Tính can đảm, có lẽ thế, vì bản thân tôi không được can đảm cho lắm.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Phải chăng đó là lí do tại sao có nhiều dao, gươm và súng trong truyện của ông?

BORGES:

Ừ, có thể vậy. Ồ, nhưng có hai nguyên do: đầu tiên, là việc thấy được mấy thanh gươm ở nhà, có được là do ông tôi và ông cố tôi và mấy người nữa. Việc thấy được toàn bộ mấy thanh gươm đó. Rồi tôi được nuôi dạy ở Palermo; khi ấy toàn bộ nơi này là khu ổ chuột, và người ta bao giờ cũng nghĩ đến bản thân mình – tôi không nói rằng điều đó là sự thật nhưng nói rằng họ luôn nghĩ đến bản thân mình – như những người tốt đẹp hơn mấy kẻ sống ở phía bên kia thị trấn, như những người chiến đấu cừ hơn và đại loại thế. Dĩ nhiên, điều đó có lẽ là rác rưởi thôi. Tôi không nghĩ là họ đặc biệt can đảm vậy. Gọi một kẻ, hay nghĩ hắn, là tên hèn nhát – cùng lắm là điều đó; đó là cái thứ mà hắn ta không chịu được. Tôi thậm chí còn biết chuyện một người đàn ông đến từ phía nam thị trấn để gây sự với người nào đó vốn nổi danh là kẻ chơi dao ở phía bắc và bị giết vì cơn đau đớn của anh ta. Họ không có lí do thực sự để gây nhau: Họ chưa từng gặp nhau trước đó; không có vấn đề gì về tiền bạc hay đàn bà hay bất kì thứ gì đại loại thế. Tôi cho rằng đó là điều tương tự ở miền Tây nước Mĩ. Ở đây thì sự việc không được giải quyết bằng súng đạn, mà bằng dao.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Việc dùng dao đã đưa vụ việc trở lại về với dạng hành vi xưa cũ?

BORGES

Một dạng xưa cũ, đúng vậy. Hơn nữa đó còn là ý tưởng về sự dũng cảm mang tính cá nhân nhiều hơn. Bởi vì anh có thể là tay thiện xạ cừ và đặc biệt không can đảm. Nhưng nếu anh sắp sửa tham gia trận đánh cận chiến với người ta, và anh có dao… Tôi nhớ có lần tôi thấy một gã thách thức người khác đánh nhau với hắn, và người kia rút lui. Nhưng tôi nghĩ anh ta rút lui vì một mẹo lừa. Một tay thì già, ông ấy bảy mươi, tay kia là chàng trai trẻ và đầy sinh lực, anh ta ắt hẳn tầm hai mươi lăm đến ba mươi. Đoạn ông già, ông ấy xin anh thứ lỗi, ông ta quay trở lại với hai con dao găm, và có một con dài hơn con kia chừng một gang tay. Ông ấy bảo, “Đây, chọn vũ khí đi”. Do vậy ông ta cho người kia cơ hội chọn vũ khí dài hơn, và lợi thế hơn ông ta; nhưng đó cũng có nghĩa là ông ấy cảm thấy chắc chắn là bản thân có đủ khả năng giải quyết trở ngại đó. Người kia xin lỗi và rút lui, dĩ nhiên rồi. Tôi nhớ rằng một gã đàn ông dũng cảm, khi tôi còn là thanh niên ở mấy khu ổ chuột, ông ta bao giờ cũng mang theo một con dao gămngắn, và nó được đặt ở đây. Như thế này (Borges chỉ vào nách ông), do đó có thể lấy nó ra bất thình lình, và cái từ của khu ổ chuột dành cho con dao – hay một trong những từ của khu ổ chuột – à, đó là từ el fierro, nhưng dĩ nhiên từ đó không có nghĩa gì đặc biệt. Nhưng một trong những cái tên, và nó đã bị thất truyền – thật tiếc – là el vaivén, việc “đi đi lại lại”. Ở từ đi đi lại lại (làm cử chỉ) bạn sẽ thế ánh sáng loé lên của con dao, ánh sáng bất ngờ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nó giống bao súng của bọn cướp phải không?

BORGES

Chính xác, đúng rồi, giống bao súng – ở bên trái. Rồi người ta có thể lấy nó ra bất thình lình, và anh đạt được el vaivén. Nó được đánh vần như một từ và ai cũng biết nó có nghĩa con dao.El fierro là cái tên nghèo nàn vì gọi nó là miếng sắt hay miếng thép thì chẳng có nghĩa gì cả, trong khi el vaivén thì có.

SUSANA QUINTEROS (bước vào lần nữa)

Señor Campbell vẫn đang chờ.

BORGES

Vâng, vâng chúng tôi biết. Nhà Campbell đang tới!

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Hai nhà văn mà tôi muốn hỏi ông là Joyce và Eliot. Ông là một trong những độc giả đầu tiên của Joyce, và thậm chí ông còn dịch một phần tác phẩm Ulysses sang tiếng Tây-ban-nha phải không?

BORGES

Đúng thế, tôi e là mình đã đảm trách một bản dịch đầy lỗi của trang cuối tác phẩm Ulysses. Giờ thì nói về Eliot, đầu tiên tôi nghĩ ông ấy làm nhà phê bình tốt hơn là làm thi sĩ; giờ thì tôi nghĩ thỉnh thoảng ông ta cũng là thi sĩ tuyệt hảo đó chứ, nhưng với tư cách nhà phê bình tôi phát hiện rằng ông ta quá có khiếu để lúc nào cũng có thể vạch ra những khác biệt tinh hảo. Nếu anh lấy một nhà phê bình vĩ đại nào đó làm ví dụ, chẳng hạn Emerson hay Coleridge, anh sẽ cảm thấy ông ta đọc được nhà văn, và phê bình của ông xuất phát từ cảm nghiệm cá nhân của ông ấy đối với nhà văn, trong khi ở trường hợp Eliot anh sẽ luôn nghĩ – ít nhất là tôi luôn cảm thấy – rằng ông ta sẽ đồng ý với một giáo sư nào đó hay hơi bất đồng với giáo sư khác. Hệ quả là ông ta không sáng tạo. Ông ấy là người thông minh, người vạch ra những khác biệt tinh hảo, và tôi cho là ông ấy đúng; nhưng đồng thời, ta lấy một ví dụ có sẵn, sau khi đọc xong Coleridge bàn về Shakespeare, đặc biệt bàn về nhân vật Hamlet, một Hamlet mới được sáng tạo dành cho anh, hay sau khi đọc Emerson bàn về Montaigne hay bất kì ai có thể. Ở Eliot không có những hành động sáng tạo như vậy. Anh cảm thấy là ông ta đã đọc nhiều sách về chủ đề đó – mà ông ấy đồng ý hay không đồng ý – thỉnh thoảng đưa ra những nhận xét hơi cáu kỉnh, phải không nào?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vâng, rồi sau đó ông ta rút lại.

BORGES

Đúng, đúng, ông ấy rút lại sau đó. Dĩ nhiên ông ta rút lại sau đó những nhận xét bởi vì ban đầu ông ấy là cái mà ta có thể gọi “một thanh niên giận dữ”. Rốt cuộc, tôi cho rằng ông ta nghĩ đến bản thân như một tác giả kinh điển Anh ngữ, và khi đó ông phát hiện rằng mình phải lịch sự với mấy ông bạn kinh điển của mình thôi, để sau đó ông rút lại hầu hết mọi điều mình từng nói về Milton hay thậm chí những lời chống lại Shakespeare. Sau rốt,ông cảm thấy rằng bằng cách thức lí tưởng nào đó tất cả họ đều san sẻ cùng một nền học thuật.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tác phẩm của Eliot, thơ ông ấy, có tác động nào đến cách viết của bản thân ông không?

BORGES

Không, tôi không nghĩ vậy.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi sửng sốt bởi sự giống nhau quá rõ giữa The Waste Land và truyện “Kẻ bất tử” của ông.

BORGES

À, có thể có điều gì ở đó, nhưng trong vụ này tôi hoàn toàn không để ý đến nó bởi vì ông ta không phải một trong những thi sĩ tôi yêu thích. Tôi sẽ xếp hạng Yeats ở trên ông ta rất nhiều, nếu anh không phiền tôi nói thế, tôi nghĩ Frost là một thi sĩ ổn hơn Eliot. Ý tôi là, mộtthi sĩ ổn hơn. Nhưng tôi cho rằng Eliot là người thông minh hơn rất nhiều; tuy vậy, trí thông minh gần như chẳng có liên quan gì đến thi ca. Thi ca đâm chồi nảy lộc từ một thứ sâu xa hơn; nó nằm bên kia trí thông minh. Nó thậm chí không thể liên kết được với trí tuệ. Nó là một thứ tự thân; nó có bản tính tự thân. Không thể định nghĩa được. Tôi nhớ – dĩ nhiên hồi còn thanh niên – tôi thậm chí tức giận khi Eliot nói về Sandburg bằng kiểu khinh thường. Tôi nhớ ông ta nói rằng thể văn kinh điển thì tốt – tôi không trích dẫn lời ông ta mà chỉ trích ý – bởi nó cho phép ta đối phó với những nhà văn như ngài Carl Sandburg. Khi người ta gọi một thi sĩ là “ngài” [cười to] thì đó là từ thuộc về những cảm nghĩ ngạo mạn; nó có nghĩa ngài Gì-gì-đó đã tìm ra cách đi vào thi ca và không có quyền ở đó, một kẻ thực sự ngoài cuộc. Trong tiếng Tây-ban-nha nó còn tệ hơn bởi vì thỉnh thoảng khi ta nói đến một thi sĩ thì ta sẽ nói, “El Doctor So-and-so”. Khi ấy nó sẽ thủ tiêu ông ta, nó sẽ tẩy xoá ông ta.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy là ông thích Sandburg?

BORGES

Đúng, tôi thích ông ấy. Dĩ nhiên, tôi nghĩ Whitman quan trọng hơn Sandburg nhiều, nhưng khi anh đọc Whitman, thì anh nghĩ đến ông ta như một người của văn chương, có lẽ là một người của chữ nghĩa không-có-quá-nhiều-học-thức, người làm hết sức mình để viết bằng thứ tiếng địa phương, và là người dùng càng nhiều tiếng lóng càng tốt. Ở Sandburg, tiếng lóng dường như đến một cách tự nhiên. Giờ thì dĩ nhiên có hai Sandburg: Có một gã du côn; nhưng cũng có một Sandburg rất mực thanh nhã, đặc biệt khi ông ấy đề cập đến phong cảnh. Thỉnh thoảng khi ông ta mô tả sương mù, chẳng hạn thế, bạn sẽ được gợi đến một bức hoạ Trung-hoa. Trong khi ở những bài thơ khác của Sandburg bạn sẽ phần nào nghĩ về, ờ, bọn cướp, bọn lưu manh, loại người kiểu thế. Nhưng tôi cho rằng ông ta có thể là cả hai, và tôi nghĩ ông ấy cũng là người chân thành: khi ông cố hết sức để thành thi sĩ vùng Chicago và khi ông viết trong một tâm trạng tương đối khác. Một điều khác mà tôi thấy lạ lùng ở Sandburg là thế này, ở Whitman – nhưng dĩ nhiên Whitman là bậc cha anh của Sandburg – Whitman tràn đầy hi vọng, trong khi Sandburg viết như thể ông đang viết ở hai hay ba thế kỉ sắp tới. Khi ông viết về những lực lượng viễn chinh, hay khi ông viết về đế chế hay cuộc chiến hay các thứ khác, ông viết như thể toàn bộ mấy chuyện đó đã chết và đã qua rồi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy là có yếu tố huyễn tưởng trong tác phẩm ông ấy – là điều dẫn tôi tới việc hỏi ông về cái huyễn tưởng. Ông dùng từ này rất nhiều trong tác phẩm của mình, và tôi nhớ ông gọi Green Mansions, ví dụ thế, là một tiểu thuyết huyễn tưởng.

BORGES

À, nó là vậy mà.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy thì ông định nghĩa huyễn tưởng như thế nào?

BORGES

Tôi tự hỏi anh có thể định nghĩa được nó không. Tôi nghĩ nó phần nào là tính ý hướng trong một nhà văn. Tôi nhớ đến một nhận xét vô cùng sâu sắc của Joseph Conrad – ông ấy là một trong những tác gia ưa thích của tôi – tôi nghĩ nó nằm trong lời nói đầu cho cuốn gì đó tựa như The Dark Line, nhưng không phải thế…

NGƯỜI PHỎNG VẤN

The Shadow Line?

BORGES

The Shadow Line. Ở lời nói đầu ông nói rằng một số người nghĩ rằng câu chuyện đó là một câu chuyện huyễn tưởng bởi vì hồn ma của vị thuyền trưởng đã làm con tàu đứng lại. Ông ấy viết – và điều đó làm tôi sửng sốt bởi vì bản thân tôi cũng viết truyện huyễn tưởng mà – rằng cố tình viết một câu chuyện huyễn tưởng không phải là việc cảm nhận rằng toàn thể vũ trụ là huyễn tưởng và bí ẩn; cũng không phải chuyện nó thiếu đi tính khả giác đối với một người ngồi xuống và viết thứ gì đó huyễn tưởng một cách cố ý. Conrad nghĩ rằng khi ta viết, thậm chí theo lối hiện thực, về thế giới này, ta sẽ viết một câu chuyện huyễn tưởng bởi vì bản thân thế giới này vốn mang tính huyễn tưởng, khôn lường và bí ẩn.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có cùng niềm tin này phải không?

BORGES

Đúng vậy. Tôi phát hiện là ông ấy đúng. Tôi có nói chuyện với Bioy Casares, ông này cũng có viết truyện huyễn tưởng – những truyện rất rất ổn – và ông ấy nói, “Tôi nghĩ Conrad đúng. Thực vậy, không ai biết được liệu thế giới này là hiện thực hay huyễn tưởng, tức là, liệu thế giới này là một quá trình tự nhiên hay nó là một loại giấc mơ, một giấc mơ mà chúng ta có thể hoặc không thể san sẻ cùng kẻ khác”.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông thường cộng tác với Bioy Casares phải không?

BORGES

Đúng vậy, tôi luôn cộng tác với ông ấy. Mỗi tối tôi tới nhà ông ấy dùng bữa, và sau bữa tối chúng tôi ngồi xuống và viết.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông mô tả phương pháp cộng tác của các ông được không?

BORGES

À, nó khá quái gở. Khi chúng tôi cùng nhau viết, khi chúng tôi cộng tác, chúng tôi tự gọi mình là “H. Bustos Domecq”. Bustos là cụ tổ nhà tôi, và Domecq là cụ tổ nhà ông ấy. Giờ, điều quái gở là khi chúng tôi viết, và khi chúng tôi viết ra những thứ gần như là khôi hài – cho dù câu chuyện bi thảm, chúng vẫn được kể theo lối khôi hài, hoặc chúng được kể như thể người kể chuyện gần như không hiểu ông ta đang nói gì – khi chúng tôi viết cùng nhau, những gì xuất hiện của tác phẩm, nếu chúng tôi thành công, và thỉnh thoảng thì có đó – tại sao không? sau rốt, tôi sẽ nói ở thể số nhiều, phải không nào? – khi tác phẩm của chúng tôi thành công, khi đó những gì hiện ra là một thứ gì đó tương đối khác so với mấy thứ của Bioy Casares và mấy thứ của tôi, thậm chí câu chuyện đùa cũng khác. Do đó chúng tôi đã sáng tạo nên một loại người thứ ba giữa hai chúng tôi; vì lẽ nào đó mà chúng tôi sinh ra một người thứ ba hoàn toàn khác với chúng tôi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Một tác giả tưởng tượng?

BORGES

Đúng rồi, một tác giả tưởng tượng với những cái ông ấy thích, những cái ông ấy ghét, và một văn phong cá nhân với ý định chứa phong cách buồn cười; nhưng dù vậy, đó là văn phong của chính ông ấy, khác biệt hoàn toàn với loại văn phong tôi viết khi tôi cố gắng sáng tạo nên một nhân vật buồn cười. Tôi nghĩ đó là cách duy nhất của việc cộng tác. Nói chung, chúng tôi cùng nhau xem xét cốt chuyện trước khi đặt bút xuống trang giấy – đúng hơn là tôi nên nói về máy đánh chữ bởi ông ta có một cái máy đánh chữ. Trước khi chúng tôi bắt đầu viết, chúng tôi bàn luận cả câu chuyện; sau đó chúng tôi xem xét các chi tiết, thay đổi chúng, dĩ nhiên rồi: chúng tôi nghĩ đến một khởi đầu, và rồi chúng tôi nghĩ phần khởi đầu có thể là phần kết hoặc nó có thể gây ấn tượng hơn nếu ai đó không nói gì cả hoặc nói gì đó hoàn toàn nằm ngoài mục đích. Một khi câu chuyện được viết ra, nếu anh hỏi chúng tôi liệu tính từ này hoặc câu cụ thể này phát xuất từ Bioy hay từ tôi, thì chúng tôi chẳng thể nào biết được.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nó phát xuất từ người thứ ba.

BORGES

Đúng. Tôi nghĩ đó là cách duy nhất cho việc cộng tác bởi vì tôi đã thử cộng tác với những người khác. Đôi khi nó vận hành ổn thoả, nhưng đôi khi người ta cảm giác rằng người cộng tác là một dạng địch thủ. Hoặc, nếu không muốm nói – như trong trường hợp của Peyrou – chúng tôi bắt đầu cộng tác, nhưng ông ta rụt rè và là một dạng người rất nhã nhặn, rất lịch sự, và hệ quả là nếu ông ta nói bất kì thứ gì, và anh có bất kì phản đối nào, thì ông ấy sẽ cảm thấy tổn thương, và ông ấy sẽ rút lại ý kiến. Ông ta sẽ bảo, “Ồ vâng, tất nhiên, tất nhiên, vâng, tôi sai cả rồi. Đó là một lỗi ngớ ngẩn”. Hoặc nếu bạn đề xuất bất kì thứ gì, ông ấy sẽ bảo, “Ồ, ý đó thật tuyệt!” Giờ thì dạng sự việc kiểu đó không thể thực hiện được. Trong trường hợp tôi và Casares, chúng tôi không cảm giác như thể hai chúng tôi là địch thủ của nhau, hay thậm chí như thể chúng tôi là hai người đang chơi cờ. Không có trường hợp thắng thua gì hết. Những gì chúng tôi nghĩ đến là bản thân câu chuyện, là bản thân cái chất liệu.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi xin lỗi, tôi không biết rõ nhà văn thứ nhì mà ông nêu tên.

BORGES

Peyrou. Ông ta khởi đầu bằng cách bắt chước Chesterton và viết truyện ngắn, truyện trinh thám, không phải thứ vô giá trị, và thậm chí còn tiêu biểu cho phong cách Chesterton. Nhưng giờ đây ông ấy đã có được một loạt tiểu thuyết với mục đích phô bày cho thấy đất nước này trông ra sao suốt thời của Perón và sau khi Perón cao chạy xa bay. Tôi không quan tâm nhiều lắm cho thể loại tác phẩm đó. Tôi hiểu rằng tiểu thuyết của ông ấy rất ổn; nhưng, tôi nên nói thế, là từ quan điểm lịch sử, thậm chí từ quan điểm báo chí. Khi ông ấy bắt đầu viết truyện theo phong cách Chesterton, và sau đó ông viết một số truyện rất ổn – một trong số chúng làm tôi khóc, nhưng dĩ nhiên, có lẽ nó làm tôi khóc bởi vì ông ấy nói đến khu phố tôi được nuôi dạy, Palermo, và nói đến bọn lưu manh ngày ấy – một cuốn sách có nhan đề La noche repetida, với những truyện rất, rất ổn về bọn tội phạm, bọn lưu manh, bọn ăn cướp, loại như thế. Và tất cả thứ đó từ hồi rất lâu, ta hãy nói thế, ờ, hồi đầu thế kỉ. Giờ thì ông ấy đã bắt đầu loại tiểu thuyết mới này trong đó ông ta muốn phô bày ra cho thấy đất nước này trông ra sao.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Sắc màu địa phương, hầu như vậy?

BORGES

Sắc màu địa phương và nền chính trị địa phương. Khi đó các nhân vật của ông ta rất thích thú, ờ, về chuyện đút lót, cướp bóc, làm ra tiền, và cứ thế. Khi mà tôi ít lưu tâm hơn đến những đề tài đó, có lẽ là lỗi ở tôi, không phải ở ông ta, nếu tôi thích những thứ ban đầu của ông ấy hơn. Nhưng tôi lúc nào cũng nghĩ đến ông ta như là một nhà văn xuất sắc, một nhà văn quan trọng, và là ông bạn già của tôi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông nói rằng tác phẩm của chính ông đã chuyển từ biểu hiện ở thời kì ban đầu sang ám dụ ở thời kì sau.

BORGES

Vâng.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ý ông ám dụ là sao?

BORGES

Này nhé, ý tôi thế này: Khi tôi bắt đầu viết, tôi nghĩ mọi thứ nên được nhà văn định nghĩa. Chẳng hạn, nói “mặt trăng” bị cấm đoán hoàn toàn; người ta phải tìm ra một tính từ, một danh xưng cho mặt trăng. (Dĩ nhiên, tôi đang đơn giản hoá mọi sự. Tôi biết điều này bởi vì nhiều lần tôi đã viết ra “la luna”, nhưng đây là một dạng biểu tượng của những gì tôi đang làm.) Ờ, tôi từng nghĩ mọi thứ cần phải được định nghĩa và không nên dùng lối nói phổ biến. Tôi sẽ không bao giờ nói, “Người-này-người-kia đi vào và ngồi xuống,” bởi vì điều đó quá ư là đơn giản và quá ư dễ hiểu. Tôi từng nghĩ mình phải tìm ra cách ảo diệu nào đó để nói lên điều đó. Giờ thì tôi phát hiện rằng những thứ đó nhìn chung làm cho độc giả khó chịu. Nhưng tôi nghĩ toàn bộ gốc rễ của vấn đề nằm ở sự việc rằng lúc nhà văn còn trẻ anh ta sẽ cảm thấy phần nào đó điều mình sắp sửa nói khá là ngớ ngẩn hoặc hiển nhiên hoặc quá thường tình, thế là anh ta cố che đậy nó dưới lối văn vẻ kiểu baroque, dưới những từ ngữ lấy từ các nhà văn thế kỉ mười bảy; hoặc nếu không thì anh ta bắt đầu trở nên hiện đại, rồi anh ta làm ngược lại: Anh ta sẽ suốt ngày sáng chế ra các từ ngữ, hoặc ám chỉ đến các máy bay, tàu lửa, hoặc ám chỉ đến máy điện báo và điện thoại bởi vì anh ta đang cố hết sức mình để trở nên hiện đại. Rồi khi thời gian trôi đi, họ cảm thấy rằng những ý tưởng của mình, dù tốt dù xấu, phải được biểu lộ thẳng thừng ra, bởi vì nếu bạn có ý tưởng thì bạn phải cố gắng làm cho ý tưởng đó hay cảm giác đó hay tâm trạng đó đi vào trí óc độc giả. Nếu, đồng thời, bạn cố gắng trở thành, chẳng hạn, Sir Thomas Browne hoặc Ezra Pound, thì bạn không thể làm điều đó được. Do đó tôi nghĩ một nhà văn luôn khởi sự bằng cách trở nên quá phức tạp: Anh ta chơi nhiều trò cùng lúc. Anh ta muốn truyền tải một tâm trạng kì dị; đồng thời anh ta phải mang vẻ đương đại và nếu không đương đại thì anh ta sẽ là một kẻ phản động và một tay cổ điển. Nói về từ vựng, điều đầu tiên mà một nhà văn trẻ, ít nhất ở đất nước này, bắt đầu làm là chứng tỏ cho độc giả thấy mình sở hữu cả một cuốn từ điển, rằng anh ta biết tất những từ đồng nghĩa; do vậy chúng ta có, chẳng hạn, trên một dòng chữ, màu đỏ, rồi ta có màu đỏ tươi, rồi ta có những từ khác, gần như thế, cho cùng một màu: màu tía.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Thế là ông làm việc hướng đến một loại tản văn cổ điển?

BORGES

Đúng vậy, hiện tôi đang cố hết sức mình. Bất kì khi nào tôi tìm được một từ xa-xôi-hẻo-lánh, tức là, một từ có thể được dùng trong những tác phẩm kinh điển Tây-ban-nha hoặc một từ được dùng trong những khu ổ chuột ở Buenos Aires, ý tôi là một từ khác biệt với những từ còn lại, rồi tôi gạch bỏ nó, và tôi dùng một từ thông dụng. Tôi nhớ Stevenson viết rằng trên một trang giấy câu chữ rõ ràng thì tất thảy các từ ngữ nên trông cùng một kiểu. Nếu bạn viết ra một từ cục cằn hay một từ gây kinh ngạc hay một từ cổ xưa, thì qui luật đó bị phá vỡ; và điều quan trọng hơn hẳn là sự chú ý của độc giả sẽ bị từ đó làm cho xao nhãng. Ta cần đọc câu chữ đó thật mượt mà dẫu cho anh có đang viết siêu hình học hay triết học hay bất kì thứ gì.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Dr. Johnson đã từng nói điều tương tự thế.

BORGES

Vâng, ông ta hẳn là có nói vậy; trong bất kì trường hợp nào thì ông ấy hẳn đồng ý điều đó. Này nhé, tiếng Anh của bản thân ông ta khá là cồng kềnh, và điều đầu tiên anh cảm thấy là ông ta viết bằng thứ tiếng Anh cồng kềnh – rằng có quá sức nhiều từ ngữ Latin trong đó – nhưng nếu anh đọc lại những gì được viết ra, anh sẽ phát hiện đằng sau những cấu trúc phức tạp nơi cụm từ luôn có một ý nghĩa, nhìn chung thì đó là một ý nghĩa đáng lưu tâm và mới mẻ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Một ý nghĩa cá nhân?

BORGES

Đúng vậy, một ý nghĩa cá nhân. Do đó cho dù ông ấy viết theo văn phong Latin, tôi nghĩ ông ta là cây bút có chất Anh nhiều nhất. Tôi nghĩ đến ông ấy như là – đây là lời báng bổ, dĩ nhiên, nhưng tại sao không báng bổ trong khi chúng ta định làm vậy? – tôi nghĩ rằng Johnson là cây bút Anh ngữ xuất sắc hơn hẳn Shakespeare. Bởi vì nếu có một thứ điển hình của người Anh, thì đó là thói quen nói bớt nói giảm. Ờ, trong trường hợp Shakespeare thì không có lối nói bớt nói giảm nào. Ngược lại, ông ấy làm cho tình thế càng thêm bi thảm, như tôi nghĩ người Mĩ từng nói. Tôi nghĩ Johnson, người viết một dạng Anh ngữ theo kiểu Latin, và Wordsworth, người viết nhiều từ mang chất Saxon hơn, và còn có cây bút thứ ba mà tôi không thể nhớ tên – ờ – ta hãy nói Johnson, Wordsworth, và Kipling nữa, tôi nghĩa họ có chất Anh điển hình hơn cả Shakespeare. Tôi không biết tại sao, nhưng tôi lúc nào cũng nghĩ một thứ gì đó có chất Ý, thứ gì đó có chất Do-thái về Shakespeare, và có lẽ người Anh mến mộ ông ấy bởi vì chuyện đó, bởi vì khác họ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Và là lí do người Pháp ghét ông ta trong chừng mực có thể; bởi vì ông ta quá sức khoa trương.

BORGES

Ông ấy đã rất khoa trương. Tôi nhớ mình có xem một bộ phim vài ngày trước – phim không hay lắm – có tựa đề Darling. Có vài đoạn thơ của Shakespeare được trích dẫn trong đó. Giờ thì những đoạn thơ đó lúc nào cũng hay hơn khi được trích lại bởi vì ông định nghĩa nước Anh, và ông gọi nó, chẳng hạn, là “vườn địa đàng khác, cõi bán thiên đàng… Hòn đá quí giá này được đặt trên biển bạc” và cứ thế, và kết cuộc thì ông nói một thứ như, “địa hạt này, nước Anh này”. Giờ khi đưa đoạn trích đó vào, độc giả sẽ ngưng tại đó, nhưng trong văn bản tôi nghĩ những đoạn thơ cứ tiếp diễn để cho toàn bộ ý tưởng bị mất đi. Cái ý thực sự hẳn là ý tưởng về một người cố gắng định nghĩa nước Anh, yêu cô nàng rất nhiều và kết cuộc phát hiện ra điều duy nhất anh ta có thể làm là nói thẳng ra “England” – như thể anh nói “America” vậy. Nhưng nếu anh ta nói “địa hạt này, vùng đất này, nước Anh này,” và rồi tiếp tục “cõi bán thiên đàng này” và cứ thể, thì toàn bộ ý bị mất đi bởi vì England nên là từ cuối cùng. Ờ, tôi cho rằng Shakespeare luôn viết hối hả, như nhà viết kịch đã nói với Ben Jonson, và thế đó. Bạn không có thời gian cảm nhận rằng đó hẳn sẽ là từ cuối cùng, từ England, kết lại và che kín toàn bộ những từ khác, kiểu như, “À, tôi đang cố gắng đạt được thứ gì đó bất khả.” Nhưng ông ta tiếp tục với nó, với những ẩn dụ và những lời khoa trương của mình, bởi vì ông ấy khoa trương. Thậm chí trong một đoạn nổi tiếng như những lời cuối của Hamlet, tôi nghĩ thế: “The rest is silence” (Chỉ còn lại sự tĩnh mịch). Có điều gì đó bộ tịch ở câu này; nó có ý gây ấn tượng. Tôi không nghĩ có người sẽ nói điều gì như vậy.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ở bối cảnh vở kịch, dòng ưa thích của tôi trong Hamlet xuất hiện ngay sau cảnh cầu nguyện của Claudius khi Hamlet tiến vào thâm cung của bà mẹ và nói: “Now, Mother, what’s the matter?” (Giờ, Mẹ, có chuyện chi thế?)

BORGES

“What’s the matter?” là cái đối lập với “The rest is silence”. Ít nhất là với tôi, “The rest is silence” có vẻ giả dối. Người ta cảm giác Shakespeare đang nghĩ, “À, giờ thì Hoàng tử Hamlet xứ Đan-mạch đang chết dần: Anh ta phải nói điều gì đó gây ấn tượng.” Thế là anh ta chêm vào câu nói “The rest is silence”. Giờ thì câu đó có thể ấn tượng, nhưng nó không đúng! Ông ấy lúc đó vẫn cứ làm việc cật lực công việc thi sĩ của mình và không nghĩ đến nhân vật thực sự, nghĩ đến Hamlet người Đan-mạch.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Khi ông làm việc, loại độc giả nào ông hình dung ra để viết dành cho họ, nếu ông có hình dung? Ai sẽ là độc giả lí tưởng của ông?

BORGES

Có lẽ một vài người bạn thân quen của tôi. Không phải bản thân tôi bởi vì tôi không bao giờ đọc lại những thứ mình viết. Tôi quá sức e sợ phải có cảm giác xấu hổ về những gì mình đã viết.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có kì vọng nhiều người đọc tác phẩm của ông sẽ nắm được những ám dụ và tham chiếu trong đó?

BORGES

Không. Hầu hết những ám dụ và tham chiếu đó được đưa vào đơn thuần như một dạng câu chuyện đùa riêng tư.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Một câu chuyện đùa riêng tư?

BORGES

Một câu chuyện đùa không san sẻ với người khác, ý tôi vậy, nếu họ san sẻ nó thì tốt quá; nhưng nếu không thì tôi cũng chẳng bận tâm làm chi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy thì đó là cách tiếp cận đối lập cho ám dụ, chẳng hạn, xuất phát từ Eliot trong The Waste Land.

BORGES

Tôi nghĩ Eliot và Joyce đều muốn độc giả của mình đâm lúng túng và do đó sẽ cảm được ý nghĩa của những điều họ đã viết.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Dường như ông đọc sách phi hư cấu hoặc sách về sự kiện nhiều bằng, nếu không muốn nói là hơn, sách văn chương và thi ca. Có thật vậy không? Chẳng hạn, rõ ràng ông thích đọc bách khoa thư.

BORGES

À, đúng đó. Tôi rất thích. Tôi nhớ có lần mình thường tới đây đọc sách. Tôi khi đó còn rất trẻ, và tôi quá nhút nhát nên không thể yêu cầu một quyển. Rồi tôi khá là, tôi không nói nghèo, nhưng tôi cũng chẳng giàu có gì vào lúc đó – thế là tôi thường đến đây mỗi tối và lấy ra một quyển Encyclopaedia Britannica [Bách khoa thư Britannica], phiên bản cũ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Phiên bản thứ mười một?

BORGES

Mười một hoặc mười hai bởi vì những phiên bản đó hơn hẳn mấy phiên bản mới. Chúng làm ra với ý để đọc. Giờ thì chúng đơn thuần là sách tham khảo. Trong khi ở phiên bản thứ mười một hay mười hai của Encyclopaedia Britannica, anh sẽ có những bài viết dài của Macaulay, của Coleridge; không, không phải của Coleridge, của…

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Của De Quincey?

BORGES

Vâng, của De Quincey, và nhiều người nữa. Thế là tôi thường lấy bất kì quyển nào trên kệ – không cần phải yêu cầu chúng: Chúng là sách tham khảo – và sau đó tôi mở quyển sách đến khi tìm được một bài làm tôi hứng thú nhất, chẳng hạn, viết về những người theo đạo Mormon hoặc về bất kì nhà văn đặc biệt nào. Tôi ngồi xuống và đọc nó bởi vì những bài viết đó thực sự là một chuyên khảo, thực sự là những cuốn sách hoặc những cuốn sách ngắn. Điều tương tự cũng xảy ra đối với những bộ bách khoa thư tiếng Đức – Brockhaus hoặc Meyers. Khi chúng tôi có bản mới, tôi nghĩ bản đó là cái họ gọi là The Baby Brockhaus, nhưng không phải. Người ta giải thích với tôi rằng bởi vì nhiều người sống trong những căn hộ nhỏ nên không có đủ chỗ chứa ba mươi quyển sách. Bách khoa thư đã chịu đựng quá nhiều; chúng đã bị dồn lại.

SUSANA QUINTEROS [chen vào]

Tôi xin lỗi. Está esperando el Señor Campbell. [Ông Campbell đang chờ ạ]

BORGES

À, vui lòng kêu ông ta chờ thêm chút nữa. Nhà Campbell đó cứ tới.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Tôi có thể hỏi thêm vài câu nữa không?

BORGES

Vâng, xin cứ hỏi, dĩ nhiên rồi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Một số độc giả thấy truyện của ông giá lạnh, thiếu tình người, khá giống một số nhà văn Pháp mới nổi. Đó có phải ý định của ông?

BORGES

Không. (Buồn bã) Nếu chuyện đó xảy ra, đó đơn thuần là do sự vụng về. Bởi vì tôi đã cảm nhận chúng rất sâu sắc. Tôi đã cảm nhận chúng sâu sắc đến mức tôi đã kể chúng, ờ, bằng cách dùng nhiều biểu tượng kì lạ để người ta không thể phát hiện ra rằng chúng gần như chỉ mang tính tự truyện. Những câu chuyện đó là về bản thân tôi, về những trải nghiệm cá nhân tôi. Tôi cho rằng đó là tính rụt rè của người Anh, không phải sao?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy một cuốn giống tập sách nhỏ có nhan đề Everness hẳn sẽ là cuốn sách ổn dành cho những người đọc về tác phẩm của ông?

BORGES

Tôi nghĩ thế. Bên cạnh đó, quí bà viết nó là bạn thân của tôi. Tôi tìm thấy từ đó trong Roget’s Thesaurus. Sau đó tôi nghĩ từ này do Giám mục Wilkins sáng chế ra, người đã sáng chế một thứ ngôn ngữ nhân tạo.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có viết về điều đó.

BORGES

Đúng rồi, tôi đã viết về Wilkins. Nhưng ông ta cũng sáng chế một từ tuyệt diệu mà thật lạ lùng là chưa từng được các thi sĩ Anh ngữ dùng tới – một từ ghê hồn, thật sự, một từ rất tệ.Everness, dĩ nhiên, ổn hơn eternity, bởi vì eternity hiện giờ khá cũ mòn. Ever-r-ness thì ổn hơn hẳn từ Ewigkeit bên tiếng Đức, một từ tương tự. Nhưng ông ấy cũng tạo ra một từ đẹp, một từ mà tự thân nó là một bài thơ, tràn đầy sự vô vọng, buồn bã, và tuyệt vọng: từneverness. Một từ đẹp đẽ, không phải sao? Ông ấy đã sáng chế ra nó, và tôi không biết lí do tại sao các thi sĩ để nó nằm đó mà không bao giờ dùng.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông đã dùng nó phải không?

BORGES

Không, không, chưa bao giờ. Tôi đã dùng everness, nhưng neverness rất đẹp. Có điều gì đó vô vọng về nó, không phải sao? Và không có từ nào có cùng nghĩa với nó trong bất kì ngôn ngữ nào khác, hoặc cả trong tiếng Anh. Anh có thể nói impossibility, nhưng rất vô vị đối với neverness: tiếng Saxon kết thúc bằng –ness. Neverness. Keats dùng nothingness: “Till love and fame to nothingness do sink”; nhưng nothingness, theo tôi nghĩ, yếu hơn neverness. Trong tiếng Tây-ban-nha anh sẽ có từ nadería – nhiều từ tương tự – nhưng không có từ nào như từ neverness. Do đó nếu anh là thi sĩ, anh nên dùng từ đó. Thật tiếc là từ đó lại bị thất lạc trong những trang giấy từ điển. Tôi không nghĩ nó đã từng được dùng đến. Có lẽ nó được nhà thần học nào đó dùng; có thể vậy. Tôi cho rằng Jonathan Edwards hẳn sẽ thích thú dạng từ đó hoặc Sir Thomas Browne, có lẽ, và Shakespeare, dĩ nhiên, vì ông ta rất yêu thích từ ngữ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông phản ứng với tiếng Anh rất tốt, ông yêu nó rất nhiều, thế sao ông lại viết bằng tiếng Anh quá ít đến vậy?

BORGES

Tại sao à? Tại sao, tôi e sợ. Sợ hãi. Nhưng năm tới, có mấy bài giảng mà tôi sẽ đọc, tôi sẽ viết nó bằng tiếng Anh. Tôi đã viết thư cho Harvard rồi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Sang năm ông sẽ tới Harvard à?

BORGES

Đúng vậy. Tôi sẽ có những bài giảng về thi ca. Và do tôi nghĩ thi ca thuộc dạng gần như bất khả chuyển dịch, và do tôi nghĩ văn chương Anh ngữ – và cái đó gồm luôn cả Mĩ – thuộc dạng phong phú nhất trên thế giới, nên tôi sẽ lấy hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả ví dụ, từ thi ca Anh ngữ. Dĩ nhiên, do tôi có sở thích riêng mình, tôi sẽ cố gắng làm việc ở những thể thơ viết bằng Old English (tiếng Anh cổ), nhưng đó cũng là tiếng Anh! Thực ra, theo một số sinh viên của tôi, nó còn Anh ngữ hơn cả Anh ngữ của Chaucer!

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Trở về tác phẩm của ông trong một lúc: Tôi thường tự nhủ làm sao mà ông khởi sự sắp xếp các tác phẩm vào những tuyển tập đó. Hiển nhiên nguyên tắc không phải theo niên đại. Nó có cùng chủ đề chăng?

BORGES

Không, không phải dạng niên đại; nhưng thỉnh thoảng tôi phát hiện ra rằng tôi đã viết lại cùng một truyện ngụ ngôn hay một truyện nào đó đến hai lần, hoặc hai câu chuyện khác nhau cùng mang một ý nghĩa, và thế là tôi cố gắng đặt chúng cạnh nhau. Đó là nguyên tắc duy nhất. Bởi vì, chẳng hạn như, một khi tôi tình cờ viết một bài thơ, thì đó là bài thơ không hay lắm, và sau đó viết lại nó nhiều năm sau. Sau khi bài thơ được viết ra, một số người bạn bảo tôi: “À, đây là bài thơ giống hệt cái ông đã xuất bản năm năm trước.” Và tôi nói, “À, vậy thì nó đó!” Nhưng tôi chẳng có một tí khái niệm nào về nó. Sau rốt, tôi nghĩ rằng một thi sĩ có lẽ có năm hay sáu bài thơ để viết và không hơn được con số đó. Anh ta bắt tay vào thử viết lại chúng từ nhiều góc độ khác nhau và có lẽ với nhiều cốt chuyện khác nhau và ở những độ tuổi khác nhau và những nhân vật khác nhau, nhưng những bài thơ đó về mặt căn bản và xét về nội tại thì chúng tương tự nhau.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông đã viết nhiều bài điểm sách và nhiều bài đăng tập san.

BORGES

À, tôi phải làm chuyện đó.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có phải chọn những quyển mà ông muốn điểm không?

BORGES

Có, nhìn chung là tôi có chọn.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Do đó sự lựa chọn này bộc lộ sở thích riêng ông?

BORGES

Ờ vâng, vâng. Chẳng hạn, khi có người bảo tôi viết bài điểm sách cho một quyển “Lịch sử văn chương” nào đó, tôi phát hiện nhiều lỗi ngớ ngẩn và cẩu thả, và do tôi rất cảm phục tác giả ở vai trò thi sĩ, nên tôi bảo, “Không, tôi không muốn viết về cuốn đó, bởi vì nếu tôi viết về nó tôi sẽ chống lại nó.” Tôi không thích công kích người ta, đặc biệt lúc này – lúc tôi còn trẻ, thì có, tôi rất thích chuyện đó, nhưng khi thời gian qua đi, ta thấy điều đó chẳng tốt gì. Khi người ta viết ủng hộ hay chống lại bất kì ai, thì điều đó khó lòng mà giúp ích hoặc làm tổn thương họ. Tôi nghĩ rằng người ta có thể được giúp, ờ, người đó có thể được chấp nhận hoặc bị hạ gục bằng bản văn của chính họ, chứ không phải bằng những điều người ta nói về họ, do đó cho dù anh khoe khoang rất nhiều và người ta bảo anh là thiên tài – ờ, anh sẽ bị phát hiện thôi.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có phương pháp đặc biệt nào để đặt tên cho các nhân vật?

BORGES

Tôi có hai phương pháp: Một là đưa vào tên của ông nội, ông ngoại, ông cố, cứ thế. Cho họ một dạng của, ờ, tôi sẽ không nói tính bất tử, nhưng đó là một phương pháp. Phương pháp kia là dùng những cái tên tự nhiên chợt hiện trong đầu tôi. Chẳng hạn, trong một truyện, một trong những nhân vật đến rồi đi có tên Yarmolinsky bởi vì cái tên này chợt hiện ra trong đầu – đó là một từ lạ, không phải sao? Rồi một nhân vật khác có tên Red Scharlach bởi vì Scharlach nghĩa là scarlet (màu tía) trong tiếng Đức, và hắn là kẻ sát nhân; hắn mang sắc đỏ theo hai lối; không phải sao? Red Scharlach: Red Scarlet.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Còn về công chúa với cái tên đẹp từng xuất hiện trong hai truyện của ông?

BORGES

Faucigny Lucinge? À, cô ấy là người bạn tuyệt vời của tôi. Đó là một quí cô Argentina. Cô ấy cưới một chàng hoàng tử Pháp, và do cái tên rất đẹp, như hầu hết các nhan đề tiếng Pháp, đặc biệt nếu anh cắt đi chữ Faucigny, như cô ấy đã làm. Cô ta gọi mình là La Princesse de Lucinge. Đó là một từ thật đẹp.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Còn về Tlön và Uqbar?

BORGES

Ờ, ừ, đó chỉ đơn thuần có ý tục tằn. Sou-q-b-a-r.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Không thể phát âm, trong chừng mực nào đó.

BORGES

Đúng vậy, gần như không thể phát âm, và rồi Tlön: t-l- là cách kết hợp khá lạ, không phải sao? Rồi ö. Chữ Latin Orbis Tertius – ta có thể nói từ đó dễ dàng, không phải sao? Có lẽ trongTlön tôi nghĩ đến traum, từ tương đương với dream trong tiếng Anh. Nhưng rồi nó sẽ phải làTröme, nhưng Tröme có thể làm độc giả nghĩ đến tàu lửa: t-l- là sự kết hợp kì dị hơn. Tôi nghĩ tôi đã chế ra một từ dành cho những đối tượng tưởng tượng được gọi là hrön. Tuy thế khi tôi bắt đầu học Old English, tôi phát hiện rằng hran là một trong những từ dành cho cá voi. Có hai từ, wael và hran, thế nà hranrād là “whale road” (con đường cá voi), tức là muốn nói “biển cả” trong thi ca Old English.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy cái từ do ông sáng chế để mô tả một đối tượng được trí tưởng tượng gây ra cho thực tại, từ đó đã được sáng chế ra rồi và thực tế nó là một hran?

BORGES

Đúng, đúng, nó đến với tôi. Tôi muốn nghĩ rằng nó đến từ tổ tiên của tôi từ mười thế kỉ trước – đó là một lời giải thích có thể được, không phải sao?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Có phải ông nói rằng trong truyện của mình thì ông đã cố gắng lai truyện ngắn với tiểu luận?

BORGES

Đúng vậy – nhưng tôi làm thế có chủ đích. Người đầu tiên chỉ ra điều đó cho tôi là Casares. Ông ấy nói rằng tôi đã viết nhiều truyện ngắn thực sự thuộc dạng lưng chừng giữa tiểu luận và truyện.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Có phải điều đó phần nào bù đắp cho sự rụt rè của ông về việc viết thể văn kể chuyện?

BORGES

Vâng, có lẽ vậy. Đúng vậy; bởi vì ngày nay, hoặc ít nhất là hôm nay, tôi bắt đầu viết loạt truyện về bọn du đãng ở Buenos Aires: Đó là những câu chuyện cởi mở. Không có gì thuộc về luận ở chúng hoặc thậm chí không có gì thi ca. Chúng luôn bị nói giảm nói bớt đi. Chúng được kể lại từ những người cũng là những kẻ du đãng, và bạn khó lòng có thể hiểu chúng. Chúng có thể là bi kịch, nhưng họ không cảm nhận được bi kịch. Họ đơn thuần chỉ kể chuyện, và tôi cho rằng độc giả bị khiến phải cảm giác rằng câu chuyện sẽ đi sâu hơn bản thân câu chuyện. Không có gì được nói đến về những tình cảm nơi các nhân vật – tôi lấy điều đó từ saga [một dạng văn xuôi] bằng Old Norse (tiếng Đức cổ) – ý tưởng rằng ta nên biết nhân vật bằng ngôn từ của họ và bằng việc làm của họ, nhưng ta không nên đi vào hộp sọ của họ và nói những điều họ đang nghĩ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy là chúng thuộc dạng phi tâm lí học thay vì vô cảm?

BORGES

Đúng thế, nhưng có một dạng tâm lí ngầm ẩn đằng sau câu chuyện bởi vì, nếu không, nhân vật chỉ là những con búp-bê đơn thuần.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Còn về Cabala? Lần đầu tiên ông trở nên hứng thú với nó là lúc nào?

BORGES

Tôi nghĩ nó thông qua De Quincey, thông qua ý tưởng của ông ta cho rằng toàn bộ thế giới là tập hợp các biểu tượng, hoặc ý rằng mọi thứ đều mang ý nghĩa một thứ khác. Sau đó khi tôi sống ở Geneva, tôi có hai người bạn thân thiết, hai người bạn tuyệt vời – Maurice Abramowicz và Simon Jichlinski – tên họ cho anh biết dòng dõi xuất thân của họ: Họ là những người Do-thái ở Ba-lan. Tôi rất ngưỡng mộ Thuỵ-sĩ và bản thân đất nước đó, không đơn thuần về cảnh vật và các thị trấn; mà người Thuỵ-sĩ rất lạnh lùng; ta khó lòng có thể có một người bạn Thuỵ-sĩ bởi vì do họ phải sống nhờ vào người ngoại quốc, tôi cho rằng họ ghét người ngoại quốc. Điều đó cũng tương tự đối với những người Mexico. Họ chủ yếu sống nhờ vào người Mĩ, du khách Mĩ, và tôi không nghĩ có người thích trở thành chủ khách sạn cho dù không có gì đáng hổ thẹn về chuyện này cả. Nhưng nếu anh là chủ khách sạn, nếu anh phải tiếp đãi nhiều người đến từ nhiều nước khác, ờ, thì anh sẽ cảm thấy rằng họ khác với anh và về lâu về dài anh có thể ghét họ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Có phải ông đã cố làm cho những truyện của bản thân mang chất Cabala?

BORGES

Vâng, thỉnh thoảng tôi có cố gắng.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Dùng những diễn giải mang chất Cabala truyền thống?

BORGES

Không. Tôi đọc một cuốn sách nhan đề Major Trends in Jewish Mysticism.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Cuốn của Scholem?

BORGES

Vâng, của Scholem và cuốn khác của Trachtenberg bàn về những điều mê tín Do-thái. Rồi tôi đọc toàn bộ sách của đạo Cabala tìm thấy được và toàn bộ những bài viết trong mấy cuốn bách khoa thư và cứ thế. Nhưng tôi không có chút chất Do-thái nào. Có lẽ tôi có tổ tiên Do-thái, nhưng không thể biết được. Tên mẹ tôi là Acevedo: Acevedo có thể là tên dành cho người Do-thái ở Bồ-đào-nha, nhưng cũng có thể không phải. Giờ nếu anh được gọi là Abraham, tôi nghĩ không hề có chút nghi ngờ gì về nó, nhưng khi người Do-thái lấy tên Ý, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, thì không nhất định xảy ra chuyện nếu bạn có một trong những cái tên đó thì bạn xuất thân từ dòng dõi Do-thái. Từ acevedo dĩ nhiên có nghĩa là một loại cây; từ này không đặc biệt phải là Do-thái, mặc dù nhiều người Do-thái mang tên Acevedo. Tôi không thể biết được. Tôi ước gì mình có tổ tiên người Do-thái nào đó.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông từng viết rằng mọi người hoặc theo Platon hoặc theo Aristoteles.

BORGES

Tôi có nói đâu. Coleridge nói đó chứ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nhưng ông trích lại ông ấy.

BORGES

Đúng vậy, tôi trích lại ông ta.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Thế ông thuộc dạng nào?

BORGES

Tôi nghĩ mình theo Aristoteles, nhưng tôi mong muốn theo lối kia. Tôi nghĩ chính cái khuynh hướng Anh ngữ làm tôi nghĩ đến những điều và những người đặc thù là hiện thực thay vì những ý niệm tổng quát là hiện thực. Nhưng tôi e rằng giờ thì nhà Campbell đang tới.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Trước khi đi, ông có phiền nếu kí vào cuốn Labyrinths không?

BORGES

Tôi rất vui lòng. À vâng, tôi biết cuốn này. Có hình tôi – nhưng có phải thực sự tôi trông như vậy không? Tôi không thích bức hình đó. Tôi không quá u sầu phải không? Quá kiệt quệ phải không?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông không nghĩ nó trông có vẻ ưu tư?

BORGES

Có lẽ. Nhưng quá u tối? Quá nặng nề? Cái lông mày… ồ, ờ.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ông có thích tác phẩm mình ở phiên bản này không?

BORGES

Một bản dịch tốt, không phải sao? Ngoại trừ có quá nhiều chữ Latin trong đó. Chẳng hạn, nếu tôi viết, giả dụ như, habitación oscura (tôi sẽ không viết thế, dĩ nhiên, mà là cuarto oscuro, nhưng cứ giả dụ như tôi viết vậy), rồi có sự cám dỗ để dịch habitación bằng habitation, một từ có âm gần với từ gốc. Nhưng từ mà tôi muốn là room [căn phòng]: Nó rõ ràng hơn, đơn giản hơn, ổn hơn. Anh biết đó, tiếng Anh là ngôn ngữ đẹp, nhưng những ngôn ngữ cổ xưa hơn thì càng đẹp hơn: Chúng có những nguyên âm. Nguyên âm trong tiếng Anh hiện đại đã mất đi giá trị của mình, sắc thái của mình. Hi vọng của tôi dành cho tiếng Anh – dành cho ngôn ngữ tiếng Anh – là tiếng Mĩ. Người Mĩ nói năng rõ ràng. Giờ đây khi tôi đi xem phim, tôi không thể thấy nhiều thứ, nhưng ở phim Mĩ, tôi hiểu mọi từ. Ở phim Anh tôi không thể hiểu tốt như thế. Anh có từng phát hiện ra như vậy không?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Thỉnh thoảng, đặc biệt ở mấy phim hài. Diễn viên Anh dường như nói quá nhanh.

BORGES

Chính xác! Chính xác. Quá nhanh mà quá ít nhấn mạnh. Họ làm mờ đi các từ ngữ, các âm thanh. Một vết mờ vụt nhanh qua. Không, người Mĩ phải cứu lấy ngôn ngữ này; và, anh có biết là tôi nghĩ chuyện tương tự cũng đúng với tiếng Tây-ban-nha? Tôi thích cách nói ở Nam Mĩ hơn. Tôi luôn như vậy. Tôi cho rằng anh ở Mĩ không đọc Ring Lardner hay Bret Harte nhiều nữa đúng không?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Cũng có người đọc, nhưng hầu hết ở trường cấp hai.

BORGES

Còn về O. Henry?

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Cũng hầu hết trong trường học.

BORGES

Và tôi cho rằng ở đó hầu hết là vì kĩ thuật, cái kết bất ngờ. Tôi không thích thủ thuật đó, anh có không? Ồ, về lí thuyết thì ổn cả thôi; còn thực tế là chuyện khác. Anh có thể đọc chúng chỉ một lần nếu chỉ có sự bất ngờ. Anh nhớ những gì Pope nói: “nghệ thuật chìm lắng” (the art of sinking). Bây giờ ở loại truyện trinh thám, chuyện đó khác. Bất ngờ cũng ở đó, nhưng còn có các nhân vật; quang cảnh hay phong cảnh để thoả mãn chúng ta. Nhưng giờ tôi nhớ rằng nhà Campbell đang tới, nhà Campbell đang tới. Họ được cho là một bộ tộc tàn bạo. Họ đâu rồi?

* Toàn bộ phần thời gian thêm vào ở trên đều chỉ đến ấn phẩm dịch xuất bản ở Mĩ.

[1] Rosas, Juan Manuel de (1793-1877), nhà độc tài quân sự người Argentina.

[2] Đây có lẽ do nhớ sai: Truyện đó là “Pierre Menard, autor del Quijote”, xuất bản trong tập truyện Sur, số 56 (tháng Năm, 1939). Borges thực tế đã viết hai truyện trước truyện này – “The Approach to Al-Mu’tasim” (1938), bài phê bình về một cuốn sách không tồn tại (tương tự truyện “Pierre Menard”), và “Hombre de la esquina rosada”, truyện ngắn đầu tiên của ông, xuất bản lần đầu trong tập A Universal History of Iniquity năm 1935. Giải Prix Formentor, được đề cập sau đó trong bài phỏng vấn này, là dành cho tập truyện Ficciones của Borges, trong đó không có truyện “Hombre de la esquina rosada”.

[3] Callois là nhà xuất bản.

[4] Đó là năm 1936.

Duy Đoàn chuyển ngữ
Sài-gòn
20130718

Nguồn:

“Jorge Luis Borges, The Art of Fiction No. 39.” The Paris Review.http://www.theparisreview.org/interviews/4331/the-art-of-fiction-no-39-jorge-luis-borges

https://chiecnon.wordpress.com/2013/07/18/the-paris-review-nghe-thuat-hu-cau-so-39-jorge-luis-borges/