Browsing Tag

Thanh giáo

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 4: Tiểu thuyết lãng mạn thời kỳ 1820-1860

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Walt Whitman, Nathaniel Hawthorne, Herman Melville, Edga Allan Poe, Emily Dickinson và các tác giả theo chủ nghĩa Siêu nghiệm chính là đại biểu của thế hệ các nhà văn lớn đầu tiên được sinh ra ở Mỹ. Với những nhà văn viết tiểu thuyết, cái nhìn lãng mạn có khuynh hướng biểu hiện trong hình thức mà Hawthorne gọi là “Tiểu thuyết lãng mạn” (Romance), một loại hình tiểu thuyết đạt đến đỉnh cao, gợi cảm và mang tính tượng trưng. Nhưng tiểu thuyết lãng mạn không phải là những câu chuyện tình, mà là những tiểu thuyết nghiêm túc sử dụng những kỹ thuật đặc biệt để truyền đạt những ý nghĩa vừa phức tạp vừa tinh tế.

Thay vì mô tả cẩn thận các nhân vật hiện thực thông qua vô số các chi tiết, như hầu hết các tiểu thuyết Anh hay Cựu lục địa đã làm, Hawthorne, Melville và Poe đã dựng lên những nhân vật anh hùng mang tính lý tưởng, thắp lên ngọn lửa của tinh thần huyền thoại. Nhân vật chính trong những tiểu thuyết lãng mạn Mỹ là những cá nhân kỳ dị với nhiều nỗi ám ảnh. Authur Dimmersdale hay Hester Prynne trong The Scarlet Letter (Chữ A màu đỏ) của Hawthorne, Ahab trong Moby-Dick (Cá voi trắng) của Melville, và nhiều nhân vật đơn độc có những ám ảnh trong nhiều truyện kể của Poe là những nhân vật chính cô đơn được chỉ định đấu tranh chống lại những số phận tối tăm, không thể hiểu được mà những số phận này, bằng một cách thức bí ẩn nào đo,á lại phát sinh từ cái tôi vô thức sâu thẳm nhất của họ. Những cốt truyện tượng trưng biểu lộ những hành động che đậy của một tâm hồn đau khổ với bao điều dằn vặt.

Một lý do giải thích cho hướng khai thác tiểu thuyết tập trung vào cái vùng sâu kín ẩn khuất của tâm hồn con người là sự thiếu vắng một đời sống cộng đồng có cội rễ và ổn định ở Mỹ. Những tiểu thuyết gia Anh – Jane Auster, Charles Dickens (nhà văn được ưa thích nhất), Anthony Trollope, George Eliot, William Thackeray – sống trong một xã hội truyền thống, được tổ chức quy củ và phức hợp, chia sẻ với độc giả các niềm tin, nhận thức đã định hình trong các tiểu thuyết hiện thực của họ. Các nhà văn Mỹ phải đối mặt với lịch sử đấu tranh và cách mạng, một vùng đất hoang dã mênh mông khó kiểm soát, và một xã hội dân chủ tương đối không còn giai cấp và sẵn sàng thay đổi. Các tiểu thuyết Mỹ thường phô bày sự vắng mặt khác thường của truyền thống. Nhiều tiểu thuyết Anh kể về một nhân vật chính nghèo khổ vươn lên trên những nấc thang kinh tế và xã hội, nhờ vào cuộc hôn nhân tốt đẹp hay nhờ việc khám phá ra nguồn gốc quý tộc của nhân vật đó. Nhưng cái bố cục kiểu ấy không thách thức cái trật tự bất di bất dịch của xã hội quý tộc Anh. Trái lại, còn khẳng định cái trật tự ấy -Sự đổi đời của nhân vật chính đã làm thỏa mãn ước mơ về một sự thành đạt của đa số độc giả trung lưu.

Trong khi đó, các nhà văn Mỹ phải dựa vào những chủ kiến của riêng mình. Nước Mỹ, trong một chừng mực nào đó, là một biên cương luôn mở rộng, không xác định bởi làn sóng lưu dân vẫn đổ đến Mỹ mang đến đây thứ tiếng nói xa lạ và những lối sống kỳ cục, thô lậu. Vì vậy nhân vật chính trong văn học Mỹ có thể thấy mình lạc lõng giữa những bộ tộc ăn thịt người, như trong Typee của Melville, hoặc đang khám phá một vùng đất hoang vu như nhân vật Leatherstocking của James Fenimore Cooper, hay đang nhìn thấy những hồn ma bóng quế từ dưới nấm mồ như những nhân vật trơ trọi của Poe, hoặc gặp gỡ ma quỷ dạo chơi trong rừng, giống như Young Goodman Brown- nhân vật của Hawthorne. Hầu như những nhân vật chính có tầm vóc trong văn học Mỹ là “những kẻ lạc loài”. Mỗi cá nhân dân chủ Mỹ, đã phải phát hiện ra chính mình, như từng xảy ra trong thực tế.

Một tiểu thuyết gia Mỹ thực sự cũng phải phát minh ra những hình thức thể hiện mới – từ đấy ra đời hình bóng bao trùm, kỳ dị của cuốn tiểu thuyếtMoby-Dick của Melville và cuốn Narrative of Arthur Gordon Pym (Thuật chuyện của ông Arthur Gordon Pym) mơ màng, phiêu lãng của Poe. Ít có cuốn tiểu thuyết Mỹ nào đạt được sự hoàn thiện mẫu mực, ngay cả hiện nay. Thay vì vay mượn những thủ pháp văn chương đã được thử thách qua thời gian, người Mỹ có khuynh hướng lao vào tìm tòi những biện pháp sáng tạo mới. Ở Mỹ, một cái gì đã được xã hội thừa nhận và noi theo truyền thống là chưa đủ, vì sự già cỗi và chính thống bị bỏ lại phía sau, chỉ có sức mạnh mới, sự sáng tạo là trung tâm của sự chú ý.

TIỂU THUYẾT LÃNG MẠN

Loại hình tiểu thuyết lãng mạn thì u ám và bất trắc, nó cho thấy việc tạo ra một diện mạo riêng trong một xã hội chưa ổn định là khó khăn đến thế nào. Hầu hết các nhân vật trong tiểu thuyết lãng mạn đều chết vào đoạn cuối, tất cả thủy thủ đoàn đều bị nhận chìm dưới đáy đại dương trong truyện Moby-Dick trừ Ishmael; vị mục sư có tâm hồn nhạy cảm đầy lỗi lầm – Arthur Dimmesdale – cũng chết ở cuối cuốn The Scarlet Letter. Cái giọng điệu bi ai, tự phân hóa trong văn học Mỹ trở nên nổi bật trong thể loại tiểu thuyết, thậm chí trước khi cuộc Nội chiến vào những năm 60, biểu hiện một tấn bi kịch lớn lao hơn của một xã hội tuyên chiến với chính mình.

Nathaniel Hawthorne 
(1804 – 1864)

Nathaniel Hawthorne thuộc thế hệ thứ 5 của những người Anh di cư. Ông sinh ở Salem bang Massachusetts, một hải cảng thịnh vượng nằm ở phía bắc Boston chuyên buôn bán với Đông Ấn[1]. Một trong những tổ tiên của ông là chánh án chuyên xét xử những người phụ nữ bị cáo buộc là phù thủy ở Salem, một thế kỷ trước. Hawthorne đã dùng cái ý tưởng về lời nguyền đối với dòng họ một ông chánh án xấu xa trong cuốn tiểu thuyết The House of the Seven Gables (Ngôi nhà bảy đầu hồi) của mình.

Nhiều câu chuyện của Hawthorne có bối cảnh ở New England thời Thanh giáo, và cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của ông The Scarlet Letter (1850), đã trở thành bức chân dung kinh điển về nước Mỹ Thanh giáo. Cuốn truyện kể về mối tình đầy đam mê, bị cấm đoán giữa một chàng trai trẻ, xác tín, hết sức nhạy cảm – mục sư Arthur Dimmesdale, và một người đàn bà thị dân đẹp, hết sức quyến rũ, Hester Prymn. Lấy bối cảnh ở Boston khoảng 1650 vào thời kỳ đầu thuộc địa Thanh giáo, cuốn tiểu thuyết đã nhấn mạnh nỗi ám ảnh của những người theo phái Calvin về đạo đức, sự ức chế tính dục, tội lỗi, sự thú tội, và sự cứu rỗi linh hồn.

Vào thời đó, The Scarler Letter là cuốn sách liều mạng hết sức báng bổ. Ngòi bút dịu dàng của Hawthorne, bối cảnh lịch sử xa xưa và mơ hồ đã làm dịu đi chủ đề dữ dội của ông và làm hài lòng công chúng, còn những tác giả sành điệu như Ralph Waldo Emerson và Herman Melville thì thừa nhận các sức mạnh “quỷ ám” của nó. Cuốn sách đã đụng chạm đến những lĩnh vực cấm kỵ ở Mỹ thế kỷ 19 như sự tác động của các hoạt động tự do, dân chủ và đổi mới đối với hành xử của mỗi cá nhân, đặc biệt trong vấn đề tính dục và tự do tôn giáo.

Cuốn sách được viết rất hay với bố cục tuyệt vời. Phép ẩn dụ, một thủ pháp mà người dân thuộc địa buổi đầu Thanh giáo thường dùng, cũng được sử dụng trong tác phẩm này một cách hợp lý.

Những tiểu thuyết và truyện kể khác của Hawthorne cũng góp phần xây dựng nên danh tiếng của ông. Trong The House of the Seven Gables (1854), ông trở về với lịch sử New England một lần nữa. Sự sụp đổ của “ngôi nhà” ngụ ý về một dòng họ ở Salem cũng như cái cấu trúc thật sự của nó. Chủ đề của truyện là về một lời nguyền truyền kiếp và cách hóa giải nó bằng tình yêu. Như một nhà phê bình lưu ý, nhân vật chính mang tính cách lý tưởng Holgrave đã nói lên tiếng nói về sự thiếu tin cậy mang tính dân chủ của bản thân ông vào những gia đình quý tộc già cỗi: “Sự thật là, mỗi một nửa thế kỷ, ít nhất một dòng họ sẽ hòa nhập vào đám đông mờ mịt, vĩ đại của nhân loại, và quên hết quá khứ oanh liệt của tổ tiên”.

Hai cuốn tiểu thuyết cuối cùng của Hawthorne ít thành công hơn. Cả hai đều dùng bối cảnh hiện đại, và chính vì vậy mà đánh mất đi cái ma lực trong ngòi bút của ông. Cuốn The Blithedale Romance (Bài ca thung lũng hạnh phúc – 1852) rất hấp dẫn bởi bức tranh mô tả cộng đồng Brook Farm theo chủ nghĩa xã hội không tưởng. Trong cuốn sách này, Hawthorne phê phán những nhà cải cách xã hội vị kỷ, thèm khát quyền lực, tự bản chất sâu xa không dân chủ chút nào. Cuốn The Marble Faun (Tượng thần Điền dã bằng cẩm thạch – 1860), tuy lấy bối cảnh là Roma, lại xoáy sâu vào những chủ đề Thanh giáo về tội lỗi, sự cô lập, sự đền tội, và cứu rỗi.

Những đề tài trên, và những bối cảnh đặc trưng ở thuộc địa New England thời kỳ Thanh giáo, là dấu hiệu đặc trưng của nhiều tác phẩm ngắn hơn nổi tiếng của Hawthorne: The Minister’s Black Veil (Mạng che mặt màu đen của ông mục sư), Young Goodman Brown (Brown trẻ người tốt bụng), và My Kinsman, Major Molineux (Người bà con của tôi, thị trưởng Molineux). Truyện này kể về một thanh niên từ nhà quê ra tỉnh – một mô thức phổ biến ở Mỹ thời kỳ đô thị hóa thế kỷ 19 -tìm sự giúp đỡ của một người bà con có thế lực, để lập nghiệp, một người mà anh chưa hề gặp. Robin trải qua rất nhiều khó khăn để tìm ra viên Thị trưởng, và cuối cùng tham gia vào một cuộc nổi loạn ban đêm kỳ lạ, trong đó có một người có vẻ như là một tên tội phạm “thành tích” bất hảo bị đuổi ra khỏi thị trấn một cách vừa nực cười vừa dã man. Robin lớn tiếng cười to hơn tất cả mọi người cho đến khi anh phát hiện ra rằng “tên tội phạm” này không phải ai khác mà chính là người anh cố công tìm kiếm – một đại diện của thực dân Anh mới vừa mới bị quần chúng cách mạng Mỹ lật đổ. Câu chuyện khẳng định sự ràng buộc của tội lỗi và đau khổ mà toàn nhân loại phải chia sẻ. Nó cũng ca ngợi mẫu người tự lập thân: Robin phải học tập, giống như mọi người Mỹ dân chủ, để trở nên giàu có nhờ sự lao động hăng say, chứ không phải do những ân huệ đặc biệt từ những người bà con giàu có.

My Kinsman, Major Molineux rọi ánh sáng lên một trong những yếu tố nổi bật nhất trong tiểu thuyết của Hawthorne: sự thiếu vắng nhân tố gia đình đầy đủ chức năng trong tác phẩm của ông. Mặc dầu cuốn Leather-Stocking Tales (Truyện kể về anh chàng đi bít tất da) của Cooper có đưa những hình mẫu gia đình vào những địa điểm ít hoang dã nhất, những câu chuyện và tiểu thuyết của Hawthorne lặp đi lặp lại cái chủ đề về những gia đình tan vỡ, bị nguyền rủa hoặc bị đổ vỡ và những khổ đau của cá nhân bị cô lập.

Ý thức hệ cách mạng cũng có‘ lẽ đã có một vai trò trong việc làm rạng rỡ ý thức về sự tự do đầy hãnh diện tuy có phần xa lạ này. Cuộc cách mạng Mỹ, nhìn từ quan điểm tâm lý lịch sử, là tương hợp với một cuộc nổi loạn bốc đồng muốn thoát ly khỏi cái bóng khổng lồ của Mẫu quốc, và một gia đình đế quốc Anh rộng lớn hơn. Người Mỹ đã dành được độc lập và lại đương đầu với tình thế nan giải đầy hoang mang trong việc khám phá nhân dạng riêng của mình tách ra khỏi những ràng buộc xưa cũ. Cái cảnh tượng này đã diễn ra vô số lần ở vùng biên cương tới mức mà, trong tiểu thuyết, sự thoát ly có vẻ như là điều kiện sống cơ bản ở Mỹ. Thanh giáo và hậu duệ theo Tin Lành của họ có thể đã làm suy yếu thêm nền tảng gia đình bằng cách rao giảng rằng trách nhiệm đầu tiên của mỗi cá nhân là việc cứu rỗi linh hồn mình.

Herman Melville
(1819 – 1891)

Cũng như Nathaniel Hawthorne, Herman Melville là con của gia đình có truyền thống lâu đời, giàu có; đột ngột rơi vào cảnh cơ hàn do cái chết của người cha. Mặc dù được dạy dỗ, truyền thống vẻ vang của gia đình và bản thân rất siêng năng, chịu khó, Melville vẫn sống nghèo khổ và không học lên được đại học. Năm 19 tuổi, ông làm thủy thủ. Niềm yêu thích cuộc đời thủy thủ lớn dần một cách tự nhiên từ kinh nghiệm riêng của ông, và hầu hết những tiểu thuyết đầu tay của ông được thai nghén từ những chuyến đi biển. Từ những tác phẩm này chúng ta được biết đến tinh thần dân chủ và cởi mở của Melville và lòng căm phẫn của ông đối với sự chuyên chế và bất công. Typee, cuốn sách đầu tiên của ông, kể về những gì xảy ra với ông trong thời gian ông sống với bộ lạc Taipis bị coi là bộ lạc ăn thịt người nhưng thực ra rất hiếu khách ở vùng đảo Marquesas, Nam Thái Bình Dương. Cuốn sách ca ngợi những người dân đảo và đời sống hài hòa gần gũi với tự nhiên của họ, đồng thời phê phán các giáo sĩ Thiên Chúa giáo, những người mà Melville cho là thật sự kém văn minh hơn những người mà họ đến để khai hóa văn minh.

Moby-Dick, hay The Whale (Cá voi trắng), kiệt tác của Melville, là thiên sử thi về con tàu săn cá voi Pequod và truyền trưởng Ahab “một người giống thánh thần nhưng lại báng bổ thần linh” với nỗi ám ảnh phải tìm kiếm cho được con cá voi trắng đã dẫn con tàu và đoàn thủy thủ đến chỗ chết. Tác phẩm này, một tiểu thuyết phiêu lưu mang tính hiện thực, chứa đựng một loạt những suy gẫm về thân phận con người. Việc săn cá voi xuyên suốt câu chuyện, là một ẩn dụ lớn về khát vọng hiểu biết. Những miêu tả và liệt kê xác thực về các loài cá voi và công nghệ săn bắt cá voi rải rác đầy tác phẩm, nhưng chúng hàm nghĩa biểu trưng. Trong chương 15 The Right Whale’s Head (Đầu cá voi Thực), người dẫn chuyện cho rằng cá voi Right (còn gọi là cá voi Thực) là những người theo chủ nghĩa khắc kỷ còn cá voi Sperm (còn gọi là cá nhà táng) là trường phái Platon, ám chỉ đến hai trường phái triết học cổ điển.

Mặc dầu tiểu thuyết của Melville mang tư tưởng triết học, nó cũng đồng thời là một tấn bi kịch. Dù là một người anh hùng, Ahab đã gục ngã và có lẽ rốt cuộc bị hủy diệt. Thiên nhiên cho dù rất đẹp, nhưng vẫn xa lạ và ẩn chứa những nguy hiểm chết người. Trong Moby-Dick, Melville thách thức ý tưởng lạc quan của Emerson rằng con người có thể hiểu được tự nhiên.Moby-Dick, con cá voi trắng khổng lồ là một cái gì bí hiểm mang tầm vóc vũ trụ, đã ngự trị trong suốt cuốn tiểu thuyết, cũng như nó đã ám ảnh Ahab. Những dữ kiện về cá voi và săn cá voi không thể giải thích Moby-Dick, trái lại, những tình tiết đó, tự bản thân chúng có khuynh hướng trở thành biểu tượng, và mỗi dữ kiện đều có mối liên hệ mơ hồ với mọi dữ kiện khác trong vũ trụ. Tuy nhiên, sự tương quan này (như Melville gọi nó trong chương “Nhân sư”) không có nghĩa rằng con người có thể “đọc” được sự thật trong thiên nhiên, như nó đã có ý nghĩa như thế trong tác phẩm của Emerson. Đằng sau việc tích lũy dữ kiện của Melville là một cái nhìn huyền bí, nhưng cái nhìn này xấu xa hay tốt đẹp, nhân bản hay phi nhân, cũng không bao giờ được giải thích.

Tiểu thuyết này còn mang tính hiện đại trong cái khuynh hướng tự tham chiếu hay tự chiêm nghiệm của nó. Nói một cách khác, cuốn tiểu thuyết thường nói về chính nó. Melville thường bình luận về những quá trình của tư duy như viết lách, đọc sách và hiểu biết. Chẳng hạn, mỗi chương là một khảo cứu đích thực trong đó người kể chuyện đã cố gắng phân loại sự vật nhưng cuối cùng đành bỏ cuộc, nói rằng chẳng bao giờ có thứ gì to tát có thể được hoàn tất (“Thượng đế ngăn không cho tôi hoàn thành bất cứ điều gì. Cả cuốn sách cũng chỉ là một phác thảo – đúng hơn là một phác thảo của phác thảo. Ôi! Thời Gian, Sức Mạnh, Tiền Bạc và Lòng Kiên Nhẫn”). Quan điểm của Melville cho rằng một tác phẩm văn chương là một cái gì không hoàn hảo hoặc là một bản thảo bị bỏ dở là hoàn toàn hiện đại.

Ahab kiên quyết định hình một thế giới anh hùng, vượt thời gian của những điều tuyệt đối, trong đó ông ta đứng cao hơn mọi người. Thiếu khôn ngoan, ông đòi hỏi một điều hoàn tất, một câu trả lời. Nhưng cuốn tiểu thuyết cho thấy rằng không có cái hoàn tất trên đời, không có những câu trả lời cuối cùng, rằng nếu có thì chỉ là cái chết.

Các chi tiết liên hệ văn chương đầy ngụ ý ngân vang trong suốt cuốn tiểu thuyết. Ahab là tên một ông vua trong Cựu ước, khao khát có được một vốn hiểu biết tối cao, toàn bích như Faust. Giống Oedipus trong kịch của Sophocles, người trả giá quá đắt cho kiến thức lầm lạc, Ahab bị đánh mù mắt trước khi bị thương ở chân và cuối cùng bị giết chết. Moby-Dick được kết thúc bằng từ “mồ côi”. Ishmael, người kể chuyện, là một kẻ lang thang như trẻ mồ côi. Cái tên Ishmael được lấy từ cuốn chương Sáng thế ký trongCựu ước – anh ta là con trai của Abraham và Hagar (đầy tớ của Sarah, vợ Abraham). Ishmael và Hagar bị Abraham đuổi vào sống trong rừng sâu.

Cũng có những ví dụ khác. Rachel (một trong những bà vợ của tổ phụ Jacob) là tên của con tàu cứu Ishmael ở đoạn kết. Cuối cùng, con cá voi siêu hình nhắc độc giả Do Thái và Thiên Chúa giáo nhớ đến câu chuyện về Jonah trong Kinh thánh, người bị các bạn bè thủy thủ của mình ném khỏi tàu vì bị xem là người mang lại xui xẻo. Theo Kinh thánh, bị một “con cá lớn” nuốt, anh ta sống một thời gian trong bụng cá trước khi được Thượng đế can thiệp đưa trở về đất liền. Tìm cách thoát khỏi sự trừng phạt, anh ta chỉ rước vào mình thêm nhiều khổ đau.

Những tình tiết liên quan đến lịch sử cũng làm cho cuốn sách thêm phong phú. Con tàu Pequod được đặt theo tên của một bộ lạc Da đỏ bị xóa sổ ở New England, vì vậy cái tên ngụ ý rằng con tàu đó có số phận bị hủy diệt. Việc săn bắt cá trên thực tế là một ngành công nghiệp chủ yếu, nhất là ở New England: nó cung cấp dầu làm nguồn năng lượng chính, đặc biệt cho việc thắp sáng. Do vậy cá voi, theo nghĩa đen, đã “rọi sáng” vũ trụ. Nghề săn cá voi rõ ràng cũng có xu hướng bành trướng và nối kết với ý niệm về một định mệnh hiển nhiên, vì nó buộc dân Mỹ phải dong buồm đi khắp thế giới đánh bắt cá voi (sự thật là tiểu bang Hawaii hiện nay nằm dưới sự cai trị của Mỹ vì nó đã được dùng làm căn cứ tiếp nhiên liệu chính yếu cho những con tàu săn cá voi của Mỹ). Thủy thủ đoàn của con tàu Pequod tượng trưng cho tất cả các chủng tộc và tôn giáo khác nhau, gợi nên ý tưởng nước Mỹ có một đầu óc rộng mở như một miền đất lành cho mọi sắc dân. Cuối cùng, cuộc đời Ahab là một hóa thân đầy bi kịch cho chủ nghĩa cá nhân dân chủ kiểu Mỹ. Ahab khẳng định phẩm giá của mình như một cá nhân dám chống lại những sức mạnh bên ngoài không thể nào khuất phục được của vũ trụ.

Phần kết của tiểu thuyết cố làm dịu đi sự hủy diệt bi thảm của con tàu. Trong suốt tác phẩm, Melville nhấn mạnh tầm quan trọng của tình bạn bè và tinh thần cộng đồng con người đa văn hóa. Sau khi chiếc tàu bị đắm, Ishmael được cứu thoát nhờ một cỗ quan tài được chạm trổ bởi Queequeg, một người bạn thân của anh, một người thợ săn cá voi bằng lao rất anh dũng với đầy hình xăm trên người và cũng là hoàng tử xứ Polynesia. Những hình trang trí trên quan tài mang tính thần thoại nguyên sơ kết hợp với lịch sử của vũ trụ. Ishmael được thoát chết bởi vật tượng trưng cho cái chết. Từ cái chết, sự sống lại vươn lên ở đoạn kết.

Moby-Dick từ trước đến nay được coi là “sử thi thiên nhiên” -một vở kịch hoành tráng về đời sống tâm linh con người trong bối cảnh thiên nhiên sơ khai – bởi cái huyền thoại về những người đi săn của nó, cái chủ đề tiên khởi của nó, cái tính cách biểu tượng của hòn đảo Eden, cách xử lý tích cực của các dân tộc giai đoạn tiền kỹ thuật và niềm khát khao tái sinh của nó. Và cái bối cảnh con người cô độc giữa tự nhiên là rất đặc trưng cho tính cách Mỹ. Nhà văn và nhà chính trị người Pháp Alexis de Tocqueville đã tiên đoán, trong tác phẩm Democracy in America (Nền dân chủ Mỹ) năm 1835, rằng chủ đề này sẽ nổi lên ở Mỹ như kết quả của nền dân chủ của nó:

Thân phận con người, chính con người bị mang xa khỏi quê hương và thời đại của mình và tồn tại trước mặt Tự nhiên và Thượng đế, cùng với nỗi đam mê, sự nghi ngờ, những thiên hướng hiếm hoi và những khổ đau không sao hiểu nổi, sẽ trở thành chủ đề chính, nếu không phải là duy nhất của thi ca Mỹ.

Tocqueville lý luận rằng, trong một nền dân chủ, văn học sẽ đào sâu vào trong “những chiều sâu còn ẩn giấu của bản tính phi vật chất của con người” hơn là những biểu hiện thuần túy bên ngoài hoặc những phân biệt bề ngoài như là giai cấp và địa vị.

Chắc chắn rằng cả Moby-Dick và Typee cũng như Adventures of Huckleberry Finn (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) và Walden, phù hợp với những lời nhận định này. Đó là những tác phẩm ca ngợi thiên nhiên và là những cuộc lật đổ của đồng quê đối với nền văn minh đô thị nặng tính giai cấp.

Edgar Allan Poe
(1809 – 1849)

Edgar Allan Poe, một người miền Nam, đã chia sẻ với Melville cái nhìn siêu hình tăm tối trộn lẫn với những yếu tố của chủ nghĩa hiện thực, sự nhại hài hước và châm biếm. Ông đã gọt giũa thể loại truyện ngắn và sáng tạo ra tiểu thuyết trinh thám. Nhiều truyện ngắn của ông dự báo sự ra đời của tiểu thuyết khoa học giả tưởng, kinh dị và huyễn hoặc rất phổ biến ngày nay.

Cuộc đời ngắn ngủi và bi đát của Poe bị đọa đầy bởi nỗi bất an. Cũng như nhiều nhà văn hàng đầu của Mỹ thế kỷ 19, Poe mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Cuộc hôn nhân kỳ lạ của Poe vào năm 1835 với người em họ lớn nhất, cô Virginia Clemm, chưa đầy 14 tuổi, được giải thích như là một cố gắng tìm kiếm cuộc sống gia đình ổn định mà ông đang thiếu.

Poe tin rằng sự khác thường là thành tố thiết yếu của cái đẹp, và tác phẩm của ông thường quái lạ. Những câu chuyện và bài thơ của ông chen chúc những nhà quý tộc ưa tự vấn và bị đày đọa (Poe, cũng như những người miền Nam khác, ấp ủ một lý tưởng quý tộc). Những nhân vật buồn thảm này hình như không bao giờ làm việc hay tham gia cuộc sống xã hội; thay vì vậy họ tự giam mình trong những lâu đài mục nát, tăm tối, được bài trí một cách tượng trưng bằng những tấm thảm và màn cửa lạ lùng che giấu cái thế giới thật sự của mặt trời, cửa sổ, tường và sàn nhà. Những căn phòng bí mật phơi bày những thư viện cổ xưa, những tác phẩm nghệ thuật kỳ lạ và đồ cổ phương Đông được tuyển lựa. Những người quý tộc chơi nhạc hay đọc các sách cổ trong khi trăn trở dày vò về những tấn bi kịch, thường là cái chết của những người thân yêu. Chủ đề về cái chết-trong-khi-đang-sống, đặc biệt là bị chôn sống hoặc trở về từ nấm mồ như một con ma cà rồng, xuất hiện trong nhiều tác phẩm của ông, gồm The Premature Burial (Việc chôn cất vội vàng), “Ligeia”, The Cask of Amontillado (Thùng rượu của Amontillado), và The Fall of the House of Usher (Sự sụp đổ của gia đình Usher). Cái thế giới hỗn mang giữa sự sống và cái chết của Poe và những bối cảnh mang tính Gothic, màu mè, hào nhoáng của ông không chỉ thuần túy để làm phông trang trí. Chúng phản ánh đời sống nội tâm quá văn minh nhưng đượm màu chết chóc hoặc là tâm thần bấn loạn của những nhân vật của ông. Chúng là những biểu hiện tượng trưng của vô thức, và do vậy là trung tâm trong thi pháp của ông.

Thơ của Poe, cũng như thơ của nhiều tác giả miền Nam, đầy nhạc tính và tuân thủ âm vận nghiêm nhặt. Bài thơ nổi tiếng nhất của ông, trong lúc sinh thời và cả ngày nay, là The Raven (Con quạ -1845). Trong bài thơ kỳ bí này, người kể chuyện mất ngủ, bị maám, chỉ đọc sách và khóc than cái chết của “Lenore đã khuất” của mình vào đêm khuya được một con quạ viếng thăm (một con chim ăn thịt xác chết, từ đó là biểu tượng của cái chết). Con quạ đậu trên cánh cửa nhà ông và lặp đi lặp lại một điệp khúc nổi tiếng của bài thơ, “không bao giờ nữa” như một điềm gở. Bài thơ kết thúc bằng một cái cảnh lạnh lẽo của một cái chết-trong-khi-đang-sống:

Và con Quạ, không hề động đậy, chỉ lặng yên cứ ngồi, ngồi yên lặng
Trên bức tượng bán thân nhợt nhạt của Pallas ngay trên cửa phòng tôi
Và đôi mắt của nó có tất cả dáng vẻ của một con quỷ đang mơ màng,
Cái ánh sáng ngọn đèn trên đầu quạ
Đổ dài cái bóng nó trên sàn;
Và linh hồn tôi thoát ra từ chiếc bóng đó bay lượn trên sàn
Sẽ được nâng lên – không bao giờ nữa!

Những câu chuyện của Poe – như đã dẫn trên đây – đã được mô tả như là những câu chuyện kinh dị. Những câu chuyện như The Gold Bug (Con bọ vàng) và The Purloined Letter (Lá thư bị đánh cắp), là những câu chuyện của suy lý hay biện luận. Những câu chuyện kinh dị của ông dự báo trước những tác phẩm của các tác giả chuyên viết truyện kinh dị Mỹ như H.P. Lovecraft và Stephen King, còn những truyện suy lý là những con chim báo hiệu của loại tiểu thuyết trinh thám của Dashiell Hammett, Raymond Chandler, Ross Macdonald, và John D. MacDonald. Cũng có một dấu hiệu về cái mà sau này xuất hiện với tên gọi là truyện khoa học giả tưởng. Tất cả những câu chuyện này bộc lộ niềm say mê của Poe với trí tuệ và kiến thức khoa học đang ngày càng có xu hướng thế tục hóa thế giới quan của nhân loại vào thế kỷ 19.

Trong mỗi thể loại, Poe cố khám phá đời sống nội tâm. Sự thấu hiểu tâm lý sâu sắc ánh lên trên mỗi trang sách. “Có ai không thấy mình hàng trăm lần phạm lỗi hay hành động một cách xuẩn ngốc, không vì một lý do nào khác hơn là anh ta biết điều đó không nên làm”, đó là một đoạn trong The Black Cat (Con mèo đen). Để khám phá lãnh vực lạ lùng và hấp dẫn của những quá trình tâm lý, Poe lục lọi trong đống tư liệu về người điên và những cảm xúc tột cùng. Phong cách viết tỉ mỉ một cách gian khổ và sự giải thích cặn kẽ trong các câu chuyện làm tăng thêm cảm giác kinh hãi bằng cách tạo nên những biến cố có vẻ như thật và hợp lý.

Sự kết hợp giữa yếu tố suy đồi và chủ nghĩa nguyên thủy lãng mạn ở Poe có một sức hấp dẫn mãnh liệt giới văn nghệ châu Âu, đặc biệt là những nhà thơ Pháp như Stéphane Mallarmé, Charles Baudelaire, Paul Valéry và Arthur Rimbaud. Poe vẫn mang bản sắc Mỹ, mặc cho sự căm ghét mang màu quý tộc của ông với nền dân chủ, mặc cho lòng ưa thích những gì lai căng xa lạ và những chủ đề về sự phi nhân của ông. Trái lại, ông hầu như là một trường hợp tiêu biểu cho lời dự đoán của Tocqueville rằng nền dân chủ Mỹ sẽ sản sinh những tác phẩm bóc trần cái phần sâu thẳm nhất, ẩn khuất nhất của tâm thức. Một sự âu lo sâu thẳm và một trạng thái tâm thần bất an dường như xuất hiện ở Mỹ sớm hơn ở châu Âu, bởi vì ít nhất thì những người dân Cựu lục địa cũng đã có một cơ cấu xã hội ổn định và phát triển cao mang lại cho họ sự an toàn về mặt tâm lý. Ở Mỹ, đã không có được một sự bảo đảm tương ứng, mỗi người sống cho chính mình. Poe đã mô tả chính xác phía bên dưới của giấc mơ Mỹ về con người tự lập thân và phơi bày cái giá của chủ nghĩa thực dụng và cuộc cạnh tranh tàn bạo – sự cô đơn, tha hóa, và những hình ảnh của cái chết-trong-lúc-đang-sống.

Chủ đề “Sự suy đồi” của Poe cũng phản ánh sự xuống dốc của những biểu tượng xuất hiện vào thế kỷ 19 – cái khuynh hướng pha trộn những vật phẩm nghệ thuật hỗn tạp từ nhiều thời đại và xứ sở khác nhau trong quá trình tước bỏ đi tính cách của chúng và giảm chúng xuống chỉ còn là những vật trang trí thuần túy trong bộ sưu tập. Mớ hỗn độn các bút pháp phát sinh từ đó đặc biệt đáng chú ý ở Mỹ, nơi thường thiếu những phong cách truyền thống của riêng mình. Sự hỗn độn ấy phản ánh sự mất mát những hệ thống tư tưởng nhất quán khi việc di cư, đô thị hóa, và công nghiệp hóa đã nhổ tận gốc nền tảng gia đình và lối sống truyền thống. Trong nghệ thuật, sự rối loạn những biểu tượng này làm tăng thêm tính quái dị, một ý tưởng mà Poe đã lấy làm chủ đề của mình trong tuyển tập truyện hàng đầu của ông, Tales of the Grotesque and Arabesque (Truyện kinh dị) (1840).

CÁC NHÀ VĂN NỮ VÀ NHỮNG NHÀ CẢI CÁCH PHÁI NỮ

Trong thế kỷ 19, phụ nữ Mỹ phải chịu đựng nhiều sự bất bình đẳng: họ không có quyền bầu cử, không được bước chân vào những trường chuyên nghiệp và hầu hết bậc đại học, bị cấm nói trước đám đông và thậm chí tham dự những hội nghị công cộng, và không được có tài sản riêng. Mặc cho những chướng ngại trên vẫn nổi lên hoạt động của những người phụ nữ cấp tiến. Qua thư từ, quan hệ bè bạn riêng tư, những hội họp chính thức, báo chí phụ nữ, và sách vở, phụ nữ đẩy xa hơn những thay đổi xã hội. Phụ nữ trí thức đã vạch ra những cảnh ngộ tương đồng giữa họ và người nô lệ. Họ can đảm đòi hỏi những cải tổ căn bản, chẳng hạn như sự bãi bỏ chế độ nô lệ và quyền bầu cử của phụ nữ, bất chấp sự tẩy chay của xã hội và nguy cơ bị đổ vỡ tài chính. Những tác phẩm của họ là đội quân tiên phong trong hoạt động trí thức của một truyền thống văn học phụ nữ rộng lớn hơn bao gồm luôn tiểu thuyết tình cảm. Những cuốn tiểu thuyết tình cảm của phụ nữ, chẳng hạn Uncle Tom’s Cabin (Túp lều của chú Tôm) của Harriet Beecher Stowe, hết sức nổi tiếng. Chúng gợi cảm xúc sâu lắng và thường bi kịch hóa những vấn đề xã hội dễ gây tranh cãi, đặc biệt những vấn đề đụng chạm đến gia đình và vai trò, trách nhiệm của phụ nữ.

Lydia Child (1802 – 1880) một người chống chế độ nô lệ, đã ảnh hưởng rất lớn đến Margaret Fuller, là người lãnh đạo hoạt động phụ nữ của mạng lưới này. Cuốn tiểu thuyết rất thành công của bà, Hobomock (1824), bày tỏ nhu cầu khoan dung chủng tộc và tôn giáo. Bối cảnh của nó – vùng Thanh giáo Salem, bang Massachusetts – tiên liệu sự ra đời của Nathaniel Hawthorne. Là một nhà hoạt động xã hội, Child thành lập một ngôi trường nữ tư thục, sáng lập và biên tập tờ báo đầu tiên cho trẻ em ở Hoa Kỳ, và xuất bản tập sách tuyên truyền chống chế độ nô lệ đầu tiên, An Appeal in Favor of that Class of Americans Called Africans (Lời kêu gọi sự ủng hộ cho một lớp người được gọi là Mỹ – gốc Phi) vào năm 1833. Tác phẩm táo bạo này làm cho bà nổi tiếng và đồng thời cũng làm bà phá sản. Cuốn sách History of the Condition of Women in Various Ages and Nations (Lịch sử về hoàn cảnh của phụ nữ trong các thời đại và quốc gia khác nhau – 1855) tranh luận cho sự bình đẳng của phụ nữ bằng cách chỉ ra những thành quả của họ trong lịch sử.

Angelina Grimké (1805 – 1879) và Sarah Grimké (1792 1873) sinh ra trong một đại gia đình chủ nô giàu có ở vùng Charleston quý phái bang Nam Carolina. Hai chị em này đã chuyển lên phía Bắc để đấu tranh cho quyền lợi của người Da đen và phụ nữ. Là những người phát ngôn cho Hội chống chế độ nô lệ New York, họ là những người phụ nữ đầu tiên diễn thuyết công khai trước đám đông bao gồm cả đàn ông. Trong thư từ, tiểu luận và nghiên cứu, họ xem sự kỳ thị chủng tộc và phân biệt nam nữ là giống nhau.

Elizabeth Cady Stanton (1815 – 1902), nhà hoạt động vì quyền bình đẳng phụ nữ và sự bãi bỏ chế độ nô lệ, đã sống một thời gian ở Boston, nơi bà kết bạn với Lydia Child. Cùng với Lucretia Mott, bà tổ chức Hội Seneca Falls vì quyền bình đẳng phụ nữ; bà cũng phác thảo bản tuyên ngôn Declaration of Sentiments (Bản tuyên ngôn tình cảm) của hội. “Bản tuyên ngôn độc lập của phụ nữ” của bà mở đầu bằng câu “đàn ông và đàn bà sinh ra đều bình đẳng”, và bày tỏ một quyết tâm đấu tranh cho quyền bầu cử của phụ nữ. Cùng với Susan B. Anthony, Elizabeth Cady Stanton tổ chức chiến dịch đấu tranh cho quyền bỏ phiếu vào những năm 60 và 70, thành lập Liên đoàn phụ nữ quốc gia trung thành chống chế độ chiếm hữu nô lệ và Hiệp hội đầu phiếu phụ nữ, và cùng biên tập tờ tuần báo Revolution. Làm chủ tịch Hiệp hội đầu phiếu phụ nữ trong 21 năm, bà lãnh đạo cuộc đấu tranh cho nữ quyền. Bà diễn thuyết ở nhiều tiểu bang, một phần để hỗ trợ việc học hành của bảy người con bà.

Sau khi chồng chết, bà đào sâu phân tích sự bất bình đẳng về giới tính. Cuốn sách The Woman’s Bible (Kinh thánh của phụ nữ – 1895) của bà chỉ ra một định kiến áp bức phụ nữ bắt rễ sâu xa trong truyền thống Do Thái Thiên Chúa giáo. Bà diễn thuyết về những đề tài như ly dị, quyền lợi của phụ nữ, và tôn giáo cho đến khi bà mất ở tuổi 86, ngay sau khi vừa viết một lá thư cho Tổng thống Theodore Roosevelt ủng hộ quyền bỏ phiếu của phụ nữ. Rất nhiều cuốn sách của bà – thoạt đầu dùng bút danh, nhưng về sau xuất hiện dưới tên bà – gồm 3 tập viết chung của bộ History of Woman Suffrage (Lịch sử quyền bỏ phiếu của phụ nữ, 1881 – 1886) và một tiểu sử tự thuật khôi hài và chân thành.

Sojourner Truth (khoảng 1797 – 1883) tiêu biểu cho sức chịu đựng và sức mạnh lôi cuốn quần chúng của nhóm phụ nữ kiệt xuất này. Sinh ra với thân phận một nô lệ ở New York, lớn lên bà nói tiếng Hà Lan. Bà thoát khỏi kiếp nô lệ năm 1827, định cư cùng với con trai và con gái trong sự bảo trợ của gia đình Van Wagener người Mỹ – Hà Lan mà bà vốn là người giúp việc cho họ. Họ giúp bà thắng trong cuộc đấu tranh pháp lý giành tự do cho con trai, và sau này bà mang tên họ. Khởi đầu sự nghiệp, bà làm việc với một giáo sĩ để huấn cải những cô gái điếm theo đạo Thiên Chúa và sống trong một ngôi nhà chung. Bà được đặt tên “Sojourner Truth” vì tiếng nói tiên tri và nhãn lực huyền bí của bà. Để phổ biến chân lý về những điều bà học được trong khi khải thị, bà thường rày đây mai đó một mình, để diễn thuyết, hát Thánh vịnh và truyền bá tư tưởng bãi bỏ chế độ nô lệ qua nhiều tiểu bang trong hơn ba thập kỷ. Được Elizabeth Cady Stanton động viên, bà ủng hộ quyền bỏ phiếu của phụ nữ. Cuộc đời của bà được kể lại trong cuốn The Narrative of Sojourner Truth (Truyện kể về Sojourner Truth – 1850), một câu chuyện mang tính chất tiểu sử tự thuật được Olive Gilbert viết lại và xuất bản. Suốt đời mù chữ, bà nói tiếng Anh giọng Hà Lan. Người ta kể rằng Sojourner Truth đã phanh bộ ngực mình ra trong một hội nghị về quyền phụ nữ khi bà bị tố cáo là một người đàn ông. Câu bà trả lời một người đàn ông khi ông ta nói phụ nữ là phái yếu đã trở thành huyền thoại:

Tôi đã cày bừa và trồng tỉa, đã lê la ở những quán rượu, và không một người đàn ông nào có thể chỉ huy tôi. Mà tôi không phải là một người đàn bà sao? Tôi cũng có thể làm việc nhiều và ăn nhiều như một người đàn ông – khi tôi có thể kiếm được -và còn chịu cả đánh đập mắng chửi nữa! Mà tôi không phải là một người đàn bà sao? Tôi đã sinh 13 đứa con, và phải chứng kiến hầu hết bọn chúng bị bán làm nô lệ, và khi tôi gào lên nỗi thống khổ của mẹ tôi, chẳng ai nghe tôi ngoài Chúa Giêsu! Vậy tôi không phải là một người đàn bà sao?

Nhà hùng biện khôi hài và không được đánh giá cao lúc sinh thời này được so sánh với những ca sĩ nhạc Blue vĩ đại. Harriet Beecher Stowe và nhiều người khác đã nhận ra sự khôn ngoan trong người đàn bà Da đen được khải thị này, người có thể tuyên bố “Lạy Chúa, Chúa ơi, con có thể yêu ngay cả người Da trắng!”.

Harriet Beecher Stowe 
(1811 – 1896)

Cuốn tiểu thuyết Uncle Tom’s Cabin (Túp lều của chú Tom), hay, Life Among the Lowly (Cuộc sống của đám người hạ đẳng) của Harriet Beecher Stowe là cuốn sách nổi tiếng nhất vào thế kỷ 19. Thoạt đầu được đăng nhiều kỳ trên tờ tạp chí National Era (1851 – 1852), và ngay lập tức tạo được thành công. Chỉ riêng tại Anh, bốn mươi nhà xuất bản khác nhau đã in nó, và nó được nhanh chóng dịch ra 20 thứ tiếng, nhận được lời khen ngợi của những tác giả như Georges Sand ở Pháp, Heinrich Heine ở Đức và Ivan Turgenev ở Nga. Lời kêu gọi thiết tha chấm dứt chế độ nô lệ ở Mỹ của nó đã làm bùng cháy lên cuộc tranh luận kéo dài một thập kỷ, dẫn đến cuộc nội chiến Mỹ (1861 – 1865).

Những nguyên nhân dẫn đến thành công của Uncle Tom’s Cabin thật rõ ràng. Nó phản ánh ý tưởng cho rằng chế độ nô lệ ở Mỹ, một quốc gia chủ trương mang lại dân chủ và bình đẳng cho tất cả mọi người, là một sự bất công, phi lý khổng lồ.

Stowe là một đại biểu hoàn hảo của một dòng dõi Thanh giáo lâu đời ở New England. Cha, anh và chồng bà đều là những giáo sĩ và những nhà cải cách Tin Lành có học và danh tiếng. Stowe thai nghén ý tưởng về cuốn tiểu thuyết này – khi nhìn thấy cảnh một người nô lệ già, tiều tụy bị đánh đập – trong lúc bà đi dự lễ ở nhà thờ. Sau này, bà nói rằng chính Chúa đã khơi nguồn cảm hứng và giúp bà viết cuốn sách này. Động cơ của bà là dùng tình cảm tôn giáo cải tạo cuộc sống làm cho nó trở nên thánh thiện hơn. Thời kỳ lãng mạn đã mang đến một kỷ nguyên của các xúc cảm: nền tảng đạo đức gia đình và tình yêu thương giữ địa vị tối cao. Cuốn tiểu thuyết của Stowe đã đặc biệt đả phá chế độ nô lệ vì nó làm băng hoại những giá trị của gia đình.

Chú Tom, người nô lệ và nhân vật trung tâm, là một vị thánh tử vì đạo thật sự, người đã lao động để hoán cải người chủ nhân hậu của mình là ông St. Clare; cầu nguyện cho linh hồn St. Clare khi ông này chết, bản thân Tom cũng bị giết chết khi bảo vệ những người phụ nữ nô lệ. Chế độ nô lệ được vẽ lên với tất cả sự tàn ác không phải vì những lý do chính trị hay triết học mà chủ yếu bởi vì nó phân ly gia đình, hủy hoại tình yêu tự nhiên của cha mẹ và tự bản chất không hề mang cái tinh thần Thiên Chúa giáo. Những cảnh tượng cảm động nhất là về một người mẹ nô lệ khốn khổ chẳng có thể làm gì cho đứa con đang gào thét và người cha bị bán đi khỏi gia đình. Đó là những tội ác chống lại sự thiêng liêng của tình cảm gia đình.

Cuốn tiểu thuyết của Stowe ban đầu hoàn toàn không có ý định công kích miền Nam. Trên thực tế, Stowe đã đi thăm miền Nam, yêu thích người miền Nam và khắc họa hình tượng họ một cách tốt đẹp. Những người chủ nô lệ miền Nam là những người chủ tử tế và đối xử tốt với Tom. Bản thân St. Clare căm ghét chế độ nô lệ và có ý định giải phóng toàn bộ số nô lệ của mình. Ngược lại, ông chủ Simon Legree độc ác, là một người miền Bắc và là một tên vô lại. Thật trớ trêu, cuốn sách có ý định hòa giải Bắc – Nam, khi cả hai đang tiến gần đến cuộc Nội chiến sau đó một thập kỷ. Mặc dù vậy, cuối cùng, cuốn sách được những người ủng hộ bãi bỏ chế độ nô lệ và những người khác dùng làm vũ khí trong cuộc luận chiến chống lại miền Nam.

Harriet Jacobs 
(1818 – 1896)

Sinh ra làm nô lệ ở bang bắc Carolina, Harriet Jacobs được bà chủ dạy cho đọc và viết. Khi bà chủ qua đời, Jacobs bị bán cho một người chủ Da trắng cố tình ép bà quan hệ tình dục với hắn. Bà chống lại người chủ, tìm đến một người tình Da trắng khác và có với ông hai đứa con rồi để chúng sống với bà ngoại. “Tự hiến thân có vẻ như ít hạ phẩm giá hơn là khuất phục trước sự áp bức”, bà viết một cách thật lòng như thế. Bà trốn thoát khỏi ông chủ và dựng nên tin đồn rằng bà đã trốn lên miền Bắc.

Lo sợ bị bắt, bị trả về làm nô lệ và bị trừng phạt, bà sống suốt 7 năm lẩn trốn ngay tại thị trấn của người chủ, trong một căn phòng áp mái, bé xíu, tối tăm trong căn nhà của bà ngoại. Bà chịu đựng được mọi nỗi đau khổ là nhờ được nhìn thấy những đứa con thân yêu của mình qua những cái lỗ mà bà khoan qua trần nhà. Cuối cùng bà thoát được đến miền Bắc, sống ở Rochester – bang New York, nơi Frederick Douglass đang xuất bản tờ nhật báo chống nô lệ North Start và gần Senaca Falls, nơi vừa diễn ra một hội nghị về quyền phụ nữ. Ở đây, Jacobs làm bạn với Amy Post, một người ủng hộ việc bãi bỏ chế độ nô lệ và quyền phụ nữ theo phái Quaker. Amy đã khuyến khích bà viết tiểu sử tự thuật của mình. Incidents in the Life of a Slave Girl (Những sự việc xảy ra trong đời của một nữ nô lệ) xuất bản dưới bút hiệu “Linda Brent” vào năm 1861, được Lydia Child biên tập. Cuốn sách lên án thẳng thừng tệ nạn bóc lột tình dục ở nữ nô lệ Da đen. Cuốn sách của Jacobs, cũng như cuốn của Douglass, là một phần của thể loại tự sự của dân nô lệ tiếp nối truyền thống từ Olaudah Equiano thời thuộc địa.

Harriet Wilson
(1807 – 1870)

Harriet là người Mỹ – Phi châu đầu tiên xuất bản một cuốn tiểu thuyết ở Mỹ – Our Nig: Or, Sketches from the Life of a Free Black, in a two – storey white house North; showing that Slavery’s Shadows Fall Even There (Phác họa về cuộc đời của một người Da đen tự do, trong một ngôi nhà trắng hai tầng, miền Bắc; chứng minh rằng bóng của những người nô lệ đã ngả dài xuống đây – 1859). Cuốn tiểu thuyết được hư cấu dựa trên cơ sở hiện thực cuộc hôn nhân giữa một người đàn bà Da trắng và một người đàn ông Da đen, và cũng mô tả cuộc sống khó khăn của một người đầy tớ Da đen trong một gia đình Thiên Chúa giáo giàu có. Trước đây, người ta nghĩ rằng đây là một cuốn tiểu sử tự thuật, nhưng giờ đây được hiểu là một tác phẩm hư cấu.

Cũng như Jacbos, Wilson đã không xuất bản dưới tên thật của mình (Our Nig, là một sự mỉa mai) và tác phẩm của bà bị lãng quên mãi cho đến gần đây. Ta cũng có thể có những nhận xét tương tự với các tác phẩm của hầu hết những cây bút nữ vào thời kỳ đó. Học giả Mỹ Da đen nổi tiếng Henry Louis Gates, Jr. – trong vai trò chỉ đạo dự án nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà văn Da đen – đã tái bản Our Nig vào năm 1983.

Frederick Douglass
(1817 – 1895)

Người lãnh đạo người Mỹ Da đen chống chế độ nô lệ nổi tiếng nhất và đồng thời là nhà hùng biện của thời đó là Frederick Douglass. Ông sinh ra với thân phận nô lệ trong một trang trại ở Maryland. Do may mắn, ông được đưa đến Baltimore tương đối tự do hơn khi ông còn trẻ, ở đó ông học đọc và viết. Trốn thoát tới Massachusetts năm 1838, vào lúc 21 tuổi, Douglass được ông chủ bút ủng hộ việc bãi bỏ chế độ nô lệ Wilson Lloyd Garrison giúp đỡ và bắt đầu diễn thuyết cho những hội nhóm chống chế độ nô lệ.

Năm 1845, ông xuất bản cuốn Narrative of the Life of Frederick Douglass, An American Slave (Tự thuật về cuộc đời Frederick Douglass, một nô lệ Mỹ) của mình (ấn bản lần hai năm 1855, sửa chữa lại vào năm 1892), là cuốn hay nhất và nổi tiếng nhất trong nhiều “chuyện kể về nô lệ”. Thường được những người ủng hộ bãi bỏ nô lệ ghi chép lại từ những người Da đen mù chữ dùng để tuyên truyền. Những chuyện kể nô lệ này rất nổi tiếng vào những năm ngay trước cuộc Nội chiến. Tự truyện của Douglass rất sống động, có giá trị nghệ thuật cao và nó mang lại những hiểu biết vô song về tình trạng tâm lý của nô lệ và sự thống khổ mà định chế này đã gây ra cho những người Da đen.

Chuyện kể về nô lệ là thể loại văn xuôi đầu tiên của văn học Da đen ở Mỹ. Nó giúp người Da đen rất nhiều trong việc vượt khó khăn để thiết lập một tính cách Mỹ -Da đen trong lòng nước Mỹ Da trắng và tiếp tục gây ảnh hưởng quan trọng lên những chủ đề và kỹ thuật viết tiểu thuyết của văn học Da đen suốt thế kỷ 20. Công cuộc tìm kiếm một diện mạo riêng, sự giận dữ chống lại nạn kỳ thị chủng tộc, và cảm giác về việc sống một cuộc sống vô hình, trong bóng tối, bị săn đuổi và không được đa số người Mỹ Da trắng thừa nhận, lại tái hiện trong những tác phẩm của những tác giả Mỹ Da đen thế kỷ 20 như Richard Wright, James Baldwin, Ralph Ellison và Toni Morrison.


[1] Đông Ấn: East India, tức Ấn Độ ngày nay, phân biệt với West Indies (quần đảo Tây Ấn) ở Trung Mỹ, vốn ngày xưa bị ngộ nhận là Ấn Độ, khi Christophe Colombus muốn đi đường biển sang châu Á (Ấn Độ -Trung Quốc) mà không phải đi qua Tây Á lúc đó đang bị các lực lượng Hồi giáo trấn giữ.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_iv.html

Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 1: Thời kỳ lập quốc và thuộc địa cho đến năm 1776

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Chương 1: Thời kỳ lập quốc và thuộc địa cho đến năm 1776

Văn học Mỹ khởi đầu bằng các truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ và những bài ca truyền miệng thuộc các nền văn hóa của dân Da đỏ. Trong hơn 500 ngôn ngữ và nền văn hóa bộ lạc khác nhau của dân Da đỏ tồn tại ở Bắc Mỹ trước khi những người châu Âu đầu tiên tìm đến đã chẳng có được một nền văn học thành văn nào. Kết quả là nền văn học truyền miệng châu Mỹ bản địa hết sức đa dạng. Những truyện kể của các nền văn hóa săn bắn sống gần như du mục của bộ lạc Navajo khác hẳn với các câu chuyện của những bộ lạc nông nghiệp định cư như dân tộc Acoma sinh sống trong làng; những câu chuyện của cư dân sống ven hồ ở phương Bắc như Ojibwa về cơ bản khác hẳn các câu chuyện của các bộ lạc sống trên sa mạc như Hopi.

Mỗi bộ lạc có tín ngưỡng riêng của mình – thờ thần thánh, linh vật, cây cỏ hoặc những nhân vật linh thiêng. Hệ thống nhà nước biến thiên đa dạng từ hội đồng bô lão có tính chất dân chủ cho đến chính thể thần quyền (hội đồng tăng lữ giáo sĩ). Sự đa dạng của các bộ tộc này cũng ảnh hưởng đến văn học truyền miệng.

Tuy vậy chúng ta vẫn có thể nắm được một vài nét khái quát. Chẳng hạn những câu chuyện của người Da đỏ rực lên sự tôn thờ thiên nhiên như một người mẹ vừa linh thiêng lẫn trần tục. Thiên nhiên luôn tràn đầy sinh lực và chất chứa những quyền lực thiêng liêng, những nhân vật chính dù là loài vật hay cỏ cây, thường là những linh vật gắn liền với một bộ lạc, một nhóm người hay một cá nhân nào đó. Ý niệm gần gũi nhất với ý niệm về tính linh thiêng của người Da đỏ trong văn học Mỹ sau này là khái niệm siêu nghiệm của Ralph Waldo Emerson “siêu linh hồn” trải khắp cuộc đời.

Những bộ lạc Mexico sùng bái thần Quetzalcoatl thiêng liêng, một vị thần của người Toltecs và Aztecs, và ở nhiều nơi khác cũng có một số câu chuyện về một vị thần linh tối cao hay một nền văn hóa nào đó. Tuy vậy, không có một hệ thống các sự tích tôn giáo chuẩn mực, lâu dài về một đấng thiêng liêng tối cao. Những sự tích tương đương gần gũi nhất với những câu chuyện tôn giáo của Cựu thế giới thường là những chuyện về thuyết pháp và các chuyến hành hương của các pháp sư. Ngoài các câu chuyện này còn có những câu chuyện về những nhân vật dân gian như Manabozho của bộ lạc Ojibwa hay Coyote của bộ lạc Navajo. Những kẻ hai mặt này được coi trọng hoặc khinh miệt tùy theo từng câu chuyện. Trong câu chuyện này họ hành động như những anh hùng, trong khi ở một truyện khác họ lại có vẻ ích kỷ và ngu xuẩn. Mặc dù các tác giả có thẩm quyền trong quá khứ, chẳng hạn nhà tâm lý học Thụy Sĩ Carl Jung, đã xem những câu chuyện về những kẻ lừa đảo này như là cách miêu tả khía cạnh thấp hèn, vô đạo của tâm thức con người, những học giả đương thời – nhiều người trong số đó là người Mỹ Da đỏ – chỉ ra rằng Odysseus và Prometheus, những anh hùng Hy Lạp đáng kính, tự bản chất cũng là những kẻ lừa lọc.

Người ta có thể tìm thấy được những ví dụ của hầu như mọi thể loại truyền miệng trong nền văn học Mỹ Da đỏ: thơ trữ tình, bài ca, huyền thoại, truyện cổ tích, giai thoại tiếu lâm, thần chú, câu đố, tục ngữ, sử thi và những câu chuyện dã sử. Truyện về tổ tiên và những cuộc di dân cũng như những bài sấm truyền hay những bài ca chữa bệnh và những câu chuyện về các tay hảo hán thì nhiều vô kể. Một vài truyện về sáng tạo muôn loài cũng rất phổ biến, trong đó có nhiều bộ lạc lưu truyền câu chuyện về một con rùa nâng được cả thế giới với nhiều dị bản khác nhau. Trong dị bản của người Cheyenne, đấng sáng tạo, Maheo, có bốn cơ hội để tạo nên thế giới từ một vũ trụ làm bằng nước. Vị thần này đã phái xuống bốn con chim lặn xuống nước cố mang trái đất từ dưới đáy lên. Ngỗng trời, chim lặn, vịt trời bay vút lên trời và nhào xuống lặn nhưng không thể xuống tới đáy được; nhưng con chim sâm cầm nhỏ bé, không bay được đã có thể mang lên được một ít bùn ở mõm. Chỉ duy nhất một tạo vật, Rùa Bà tầm thường, là hình dáng thích hợp để mang thế giới bùn lầy mà Maheo tạo dựng trên lưng của nó – từ đó người Da đỏ gọi châu Mỹ là Đảo Rùa.

Những bài hát hoặc thơ ca, cũng như những truyện kể bắt đầu từ thể tài linh thiêng đến những loại nhẹ nhàng, hài hước: đó là những lời ru, những bài ca chiến trận, những bản tình ca, và những khúc hát đặc biệt trong những trò chơi của trẻ con, đánh bài, cho đủ thứ công việc, cho những nghi lễ ma thuật hay nhảy múa. Nhìn chung những khúc ca này thường được lặp đi lặp lại. Những bài hát nên thơ ngắn ngủi hiện ra trong mơ đôi lúc có những hình tượng rõ ràng và tình cảm tinh tế rất gần với thơ haiku của Nhật hoặc loại thơ ca hình tượng chịu ảnh hưởng phương Đông. Một bài ca của người Chippewa như sau:

Tôi nghĩ đó là một con chim lặn
Nhưng lại là
Mái chèo khua nước
Của tình tôi.

Những bài hát thuộc loại tiên tri thường rất ngắn, được thể hiện bằng hình thức khác hẳn. Xuất hiện trong giấc mơ hay giữa những ảo ảnh, đôi khi không được báo trước, chúng có thể là những bài hát dùng trong chữa bệnh, khi săn bắn hay về tình yêu. Chúng thường mang đậm dấu ấn cá nhân, như trong bài hát này của người Madoc:

Tôi
là bài ca
trong khi đang bước.

Truyền thống văn học truyền miệng của người Da đỏ và mối quan hệ của nó với văn học Mỹ nhìn chung là một trong những đề tài phong phú nhất và ít được nghiên cứu nhất trong những nghiên cứu về nước Mỹ. Sự đóng góp của người Da đỏ cho nước Mỹ còn lớn hơn những gì mà người ta biết. Hàng trăm từ thông dụng của ngôn ngữ Anh Mỹ là bắt nguồn từ thổ dân Da đỏ: “canoe” (canô), “tobacco” (thuốc lá), “potato” (khoai tây), “moccasin” (giày da đế phẳng), “moose” (nai sừng tấm), “persimmon” (cây hồng), “racoon” (gấu trúc Nam Mỹ), “tomahawk” (cái rìu) và “totem” (vật tổ).

VĂN HỌC CỦA THỜI KỲ KHAI PHÁ

Nếu lịch sử rẽ sang một hướng khác, Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ rất có thể đã dễ dàng biến thành một lãnh thổ hải ngoại của Pháp hay Tây Ban Nha. Cư dân hiện tại của nó có thể nói tiếng Tây Ban Nha và cùng với Mexico tạo thành một quốc gia, hoặc sử dụng tiếng Pháp kết hợp với Quebec và Montreal trở thành người Canada. Tuy nhiên những nhà thám hiểm châu Mỹ sớm nhất không phải là người Anh, người Tây Ban Nha hay người Pháp.

Văn bản về cuộc chinh phục châu Mỹ đầu tiên mà châu Âu ghi lại được là bằng ngôn ngữ Scandinavia, cuốn Vinland Saga bằng tiếng Na Uy cổ kể lại cuộc phiêu lưu của Leif Ericson và một nhóm người Na Uy cổ định cư ngắn ngủi đâu đó trên bờ biển Đông Bắc châu Mỹ – có lẽ là Nova Scotia ở Canada – vào thập niên đầu của thế kỷ 11, gần 400 năm trước việc khám phá tiếp theo Tân thế giới còn được ghi chép ở châu Âu.

Tuy nhiên, cuộc tiếp xúc đầu tiên được biết đến và còn duy trì giữa châu Mỹ và phần còn lại của thế giới bắt đầu bằng cuộc du hành nổi tiếng của một nhà thám hiểm người Ý, Christopher Columbus, được Hoàng đế Ferdinand và Hoàng hậu Isabella của Tây Ban Nha tài trợ. Nhật ký của Columbus trong tập “Thư từ”([1]) của mình, in năm 1493, kể lại thảm kịch của chuyến du hành – đám người hoảng loạn, sợ những con thủy quái và nghĩ rằng họ sẽ rơi khỏi rìa trái đất([2]), cuộc nổi loạn suýt xảy ra; việc Columbus giả mạo nhật ký hải hành để thủy thủ không thể biết được họ đã đi xa hơn những người đi trước bao nhiêu; và cảnh lần đầu tiên nhìn thấy dải đất liền khi họ đến gần châu Mỹ.

Bartolomé de las Casas là nguồn tư liệu phong phú nhất về cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa người Da đỏ châu Mỹ và người châu Âu. Với tư cách là một giáo sĩ trẻ, ông ta đã giúp chinh phục được Cuba. Ông đã chép lại nhật ký của Columbus, và về sau đã viết cuốn History of the Indians (Lịch sử của người Da đỏ) thật đồ sộ và sinh động, phê phán việc người Tây Ban Nha bắt người Da đỏ làm nô lệ.

Những toan tính đầu tiên của người Anh biến châu Mỹ thành thuộc địa thật sự là những tai họa. Thuộc địa đầu tiên được thành lập năm 1585 ở Roanoke, ngoài khơi bang Bắc Carolina; sau đó tất cả những người lập thuộc địa ở đây đã biến mất, và cho đến nay người ta vẫn kể nhiều huyền thoại về người Da đỏ -Croatan mắt xanh trong vùng. Thuộc địa thứ hai bền vững hơn: Jamestown, thiết lập năm 1607. Nó chịu đựng được đói khát, bạo ngược và rối ren. Tuy nhiên, văn học thời kỳ này đã tô vẽ cho nước Mỹ những màu sắc rực rỡ như là một vùng đất giàu có và đầy hứa hẹn. Những chuyện kể về công cuộc thuộc địa hóa đã nổi danh khắp thế giới. Cuộc thám hiểm của Roanoke được Thomas Hariot ghi lại cặn kẽ trong cuốn A Brief and True Report of the New – Found Land of Virginia (Một báo cáo ngắn và chân thật về vùng đất mới tìm thấy thuộc Virginia – 1588). Cuốn sách của Hariot được nhanh chóng dịch ra tiếng Latin, tiếng Pháp và tiếng Đức; nội dung và hình ảnh được làm thành bản khắc và được tái bản rộng rãi suốt hơn 200 năm.

Tuy vậy chính các bài viết của thuyền trưởng John Smith, một trong những nhà lãnh đạo của thuộc địa là những ghi chép chủ yếu về thuộc địa Jamestown, lại ngược hẳn với bản tường trình rất khoa học, chính xác của Hariot. Smith là một người cực kỳ lãng mạn, hình như ông ta đã thêu dệt thêm cho những chuyến mạo hiểm của mình. Nhờ ông mà chúng ta mới biết được câu chuyện nổi tiếng kể về Pocahontas – một người con gái Da đỏ. Dù là có thật hay hư cấu, câu chuyện này đã cắm rễ sâu vào sức tưởng tượng có tính cách lịch sử của Mỹ. Câu chuyện kể lại rằng Pocahontas, con gái cưng của tù trưởng Powhatan, đã cứu sống thuyền trưởng Smith – một tù nhân của tù trưởng. Sau này, khi những người Anh thuyết phục Powhatan trao Pocahontas cho họ làm con tin, thì nét dịu dàng, óc thông minh và vẻ đẹp của nàng đã gây ấn tượng sâu đậm cho người Anh. Vào năm 1614, nàng lấy John Rolfe – một nhà quý tộc người Anh có thế lực. Cuộc hôn nhân đem lại hòa bình trong khoảng tám năm giữa những người thiết lập thuộc địa và người Da đỏ, đảm bảo sự sống còn của thuộc địa mới…

Vào thế kỷ 17, hải tặc, những kẻ phiêu lưu và các nhà thám hiểm mở đường cho một làn sóng thứ hai cho những người đi lập thuộc địa, cho phép họ mang theo vợ con, dụng cụ làm nông nghiệp và thủ công. Nền văn học non trẻ của thời khai phá chủ yếu là nhật ký, thư từ, ghi chép hành trình, nhật ký hải hành và những báo cáo tường trình gửi các nhà tài trợ các bậc vua chúa ở châu Âu hoặc các công ty cổ phần ở Anh và Hà Lan vốn có xu hướng trọng thương. Những ghi chép này từng bước nhường chỗ cho nhiều bản báo cáo của các thuộc địa đã ổn định. Bởi vì Anh quốc rốt cuộc chiếm hết những thuộc địa Bắc Mỹ, nền văn học thuộc địa phổ biến nhất và được đưa vào tuyển tập nhiều nhất là văn học Anh. Khi văn học của người Mỹ Da đỏ tiếp tục nở rộ vào thế kỷ 20 và đời sống Mỹ trở nên ngày càng đa văn hóa hơn, các học giả có xu hướng trở lại khám phá tầm quan trọng của di sản chủng tộc pha trộn của đại lục địa này. Mặc dầu giờ đây câu chuyện văn học chủ yếu là của người Anh, điều quan trọng là phải công nhận những giai đoạn khởi đầu phong phú mang tính quốc tế.

THỜI KỲ THUỘC ĐỊA Ở NEW ENGLAND

Có thể nói, không một nhóm người đi tìm thuộc địa nào trong lịch sử thế giới lại đạt đến trình độ tri thức cao như những người Thanh giáo. Khoảng giữa 1630 đến 1690, ở phần Đông Bắc Hoa Kỳ, được gọi là New England, đã có số người tốt nghiệp đại học nhiều bằng với Mẫu quốc – một dữ kiện gây ngạc nhiên vì người ta vẫn cho rằng hầu hết những người có học vấn thời đó vốn xuất thân từ quý tộc chẳng dại gì liều mạng sống trong môi trường hoang dã. Những người Thanh giáo tự lập và thường là tự học là những ngoại lệ đáng chú ý. Họ khao khát tri thức để có thể hiểu và thực thi được ý muốn Thượng đế trong khi họ thiết lập những khu định cư khắp New England.

Thanh giáo định nghĩa một lối viết hay là lối viết có thể giúp con người nhận thức đầy đủ về sự quan trọng của việc thờ phụng Chúa và những hiểm nguy tâm linh mà linh hồn phải đối mặt trên trần thế. Sự thể hiện của văn chương Thanh giáo rất đa dạng – từ những bài thơ siêu hình phức tạp, cho đến những ghi chép trong cuộc sống thông thường và lịch sử tôn giáo mang tính chất câu nệ và áp đặt. Bất luận phong cách thể loại gì, nhưng một số chủ đề vẫn không đổi. Cuộc sống được xem là cuộc thử thách; thất bại sẽ dẫn đến hỏa ngục và án phạt đời đời, thành công mang đến niềm phúc lạc Thiên đàng. Thế gian này là chiến trường của cuộc chiến muôn thưở giữa những thế lực của Thượng đế và thế lực của Satan, một kẻ thù đáng sợ thiên biến vạn hóa. Nhiều tín hữu Thanh giáo náo nức trông chờ cái “Thiên niên kỷ” Chúa Jesus sẽ trở lại trần thế, đặt dấu chấm hết cho sự khổ đau của loài người và khởi đầu một ngàn năm hòa bình thịnh vượng.

Từ lâu các học giả đã chỉ ra mối liên kết giữa Thanh giáo và chủ nghĩa Tư bản: cả hai đều đặt nền tảng trên tham vọng, cần cù và sự phấn đấu không mệt mỏi để đạt đến thành công. Mặc dù mỗi một tín đồ Thanh giáo không thể biết được, nói theo thuật ngữ Thần học nghiêm túc, mình có được “cứu rỗi” và có được ở trong số những người được chọn vào Thiên đàng hay không, họ có khuynh hướng nghĩ rằng những thành công ở trần thế là một trong những điều kiện của sự tuyển chọn đó. Họ tìm kiếm giàu sang và địa vị không chỉ vì cần có chúng mà còn bởi vì chúng được xem như những bảo đảm cho sự lành mạnh tâm linh và những hứa hẹn về một cuộc sống vĩnh cửu.

Hơn nữa, chính quan niệm về một sự cố gắng hết mình đã khích lệ thành công. Tín đồ Thanh giáo lý giải tất cả mọi điều, mọi biến cố như những biểu tượng với ý nghĩa tâm linh sâu sắc, và cảm thấy rằng trong khi cố gắng làm giàu cho mình và cho cộng đồng, họ cũng thực thi tốt hơn những ý muốn của Thượng đế. Họ đã không phân định ranh giới giữa thế giới trần tục và tôn giáo: cả cuộc đời là sự diễn đạt ý muốn thần linh ố một niềm tin về sau lại xuất hiện trong triết học Siêu nghiệm.

Khi ghi lại những biến cố đời thường để bộc bạch ý nghĩa tâm linh, các tác giả Thanh giáo thường trích dẫn Kinh thánh. Lịch sử được hình dung là một toàn cảnh tôn giáo mang tính biểu tượng dẫn đến sự toàn thắng của Thanh giáo và vương quốc của Thượng đế trên trần gian.

Những người thực dân Thanh giáo đầu tiên định cư ở New England đã nêu gương cho sự nghiêm túc của Thiên Chúa giáo cải cách. Được mệnh danh là “Những kẻ Pilgrim”, họ gồm một nhóm nhỏ các tín đồ di cư từ Anh đến Hà Lan – hồi ấy Hà Lan nổi tiếng vì sự dễ dãi với tôn giáo của mình – vào năm 1608, trong thời kỳ khủng bố tôn giáo.

Như hầu hết những người Thanh giáo, những tín đồ Thiên Chúa ở Anh và Hà Lan lý giải Kinh thánh theo nghĩa đen. Họ đọc và hành động theoSecond Book of Corinthians (Tập thư thứ hai gửi tín hữu thành Corinth của Thánh tông đồ Paul) -“Ngươi hãy tách ra khỏi họ và ly cách ngươi, lời của Chúa”. Không còn hy vọng thanh tẩy được Giáo hội Anh giáo từ trong nội bộ, “Những người ly khai” đã thành lập những giáo hội “giao ước” bí mật thề nguyền trung thành với hội nhóm thay vì với vua. Bị xem là những người phản bội hoàng đế cũng như là những kẻ phản đạo buộc phải xuống hỏa ngục, họ thường bị đàn áp. Cuối cùng sự ly khai đã đưa họ đến Tân thế giới.

William Bradford
(1590 – 1657)

Ông được bầu làm Thống đốc Plymouth ở thuộc địa vùng vịnh Massachusetts ngay sau khi những người Ly giáo đến. Ông là người cực kỳ sùng đạo, có tinh thần tự học, biết nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Do Thái cổ, chỉ để “tận mắt nhìn thấy sấm truyền của Thượng Đế trong vẻ đẹp nguyên sơ”. Cuộc di cư sang Hà Lan, rồi cuộc hành trình trên con tàu Mayflower đến Plymouth; cũng như những bổn phận của ông với cương vị thống đốc đã khiến ông trở thành sử gia đầu tiên của thuộc địa này một cách thật thích hợp. Cuốn sử của ông, Of Plymouth Plantation (Đồn điền Plymouth – 1651) là một bản tường trình rõ ràng và mạch lạc về thuở ban đầu của thuộc địa. Những trang ông ghi lại ấn tượng ban đầu của mình khi nhìn thấy châu Mỹ rất nổi tiếng:

Thế là vượt qua đại dương muôn trùng, và vô vàn những bất trắc… giờ đây họ chẳng có bạn bè chào đón, chẳng có một quán trọ để nghỉ ngơi và phục hồi những thân xác bị sóng gió dập vùi; không cửa nhà hay phố xá để dạo chơi hay để tìm sự an ủi… chỉ có những kẻ man rợ… vẻ như sẵn sàng trút lên họ cung tên hơn là thứ gì khác. Và bấy giờ là mùa đông, họ biết rằng mùa đông ở đây còn khắc nghiệt và dữ dội hơn nhiều và phải chịu đựng những cơn bão hung hãn và tàn ác… tất cả đều mang một khuôn mặt sương gió, và khắp nơi là rừng rậm, biểu hiện một sắc màu hoang dã sơ khai.

Bradford cũng ghi lại tư liệu đầu tiên việc tự quản thuộc địa ở Tân thế giới, “Hiệp ước Mayflower” được lập ra ngay khi những người hành hương còn ở trên con tàu. Hiệp ước là một bản nháp cho một bản Tuyên ngôn độc lập xuất hiện một thế kỷ rưỡi sau.

Tín đồ Thanh giáo không tán thành những thú vui trần tục như khiêu vũ và bài bạc mà họ cho rằng luôn đi kèm với đám quý tộc vô đạo và cách sống vô luân. Đọc và viết những loại “nhẹ nhàng” cũng bị xếp vào phạm trù này. Trí óc người Thanh giáo luôn dồn hết mọi năng lượng vào những thể loại phi tiểu thuyết và tôn giáo: thi ca, thuyết giảng, thần học và lịch sử. Nhật ký và suy nghiệm riêng tư của họ ghi lại cuộc sống nội tâm phong phú của những con người sâu sắc hướng nội này.

Anne Bradstreet 
(Khoảng 1612 – 1672)

Tập thơ đầu tiên cũng là cuốn sách đầu tiên ở Mỹ là của một phụ nữ – bà Anne Bradstreet. Cũng chẳng có gì phải ngạc nhiên khi cuốn sách này được xuất bản ở Anh, hẳn nhiên trong những năm tháng sơ khai, các thuộc địa đầu tiên ở châu Mỹ thiếu cơ sở in ấn. Sinh trưởng và được học tập ở Anh, Anne Bradstreet là con gái của một viên quản lý điền trang của một Nam tước. Bà di cư cùng với gia đình năm 18 tuổi. Chồng bà là Thống đốc thuộc địa Vịnh Massachusetts, sau này trở thành thành phố Boston. Bà thích những bài thơ dài của mình về tôn giáo theo những đề tài ước lệ như 4 mùa, nhưng độc giả đương thời thích nhất những bài thơ thông minh giàu chất trí tuệ về những đề tài trong cuộc sống hàng ngày và những bài thơ tràn đầy tình yêu thương nồng nàn bà dành cho chồng con. Thơ ca siêu hình Anh đã tạo cho bà nguồn cảm hứng và cuốn The Tenth Muse Lately Sprung Up in America (Nàng thơ thứ mười xuất hiện muộn màng ở Mỹ) của bà (1650) cho thấy ảnh hưởng của Edmund Spencer, Philip Sidney cũng như các nhà thơ Anh khác. Bà thường sử dụng những câu thơ dí dỏm cầu kỳ và những ẩn dụ có phần cường điệu. Bài thơ To my Dear and Loving Husband (Gửi người chồng thương yêu, quý mến của tôi -1650) dùng những hình tượng phương Đông, đề tài tình yêu và một thủ pháp so sánh phổ biến ở châu Âu thời đó, nhưng bà đã khoác cho chúng một ý nghĩa tôn giáo ở đoạn cuối.

Nếu có bao giờ hai người là một, thì chắc sẽ là đôi ta
Nếu có bao giờ người chồng được vợ yêu thương, thì đấy là anh
Nếu có bao giờ người vợ hạnh phúc với bạn đời
Hãy so sánh với em, những người phụ nữ của anh, nếu được
Tình yêu của anh quý hơn cả mỏ vàng mỏ bạc
Hơn tất cả châu báu ở phương Đông
Tình yêu của em là điều mà mọi dòng sông không thể nhận chìm
Cũng chẳng gì bù đắp được, ngoại trừ tấm tình anh
Tình yêu của anh là điều em không thể đền đáp được
Em cầu trời cao ban phước lành cho anh vạn bội
Để trong cuộc đời này tình yêu luôn ở lại
Và cả khi ta không tồn tại nữa, ta vẫn sống bên nhau đến muôn đời.

Edward Taylor 
(Khoảng 1644 – 1729)

Cũng như Anne Bradstreet, và hẳn nhiên, như tất cả những tác giả đầu tiên của New England, nhà thơ mục sư năng nổ, tài hoa, Edward Taylor sinh ở Anh. Là con trai của một tiểu nông -một nông dân độc lập sở hữu ruộng đất riêng – Taylor, một thầy giáo thà di cư đến New England vào năm 1668 còn hơn là giữ lời thề trung thành với Giáo hội Anh Giáo. Ông học ở đại học Harvard. Như hầu hết các mục sư được đào tạo ở Harvard, ông biết tiếng Hy Lạp, Latin và Do Thái cổ. Là một người vị tha và sùng đạo, Taylor đã hoạt động như một nhà truyền giáo giữa đám dân định cư khi ông chấp nhận sứ mệnh mục sư trọn đời ở thị trấn biên giới Westfield, Massachusetts, đi sâu vào vùng rừng rậm hoang vu đến 160km nữa. Taylor là người có học nhất trong vùng, và ông đã sử dụng kiến thức của mình một cách hữu ích với cương vị một mục sư, một bác sĩ và một nhà lãnh đạo thị trấn.

Khiêm tốn, sùng đạo và làm việc hết mình, Taylor chưa bao giờ xuất bản thơ mình. Thơ ông chỉ được phát hiện vào thập niên 30 thế kỷ 20. Chắc chắn, ông đã thấy sự khám phá ra tác phẩm của mình như là điều thuận theo ý Chúa. Còn độc giả ngày nay rất cám ơn vì đã có được những bài thơ của ông -những bài thơ hay nhất của thi ca thế kỷ 17 ở Bắc Mỹ.

Sáng tác của Taylor thật phong phú: điếu văn trong lễ tang, khúc bi ca, một cuộc “bàn luận” trung cổ, và một cuốn sách dày 500 trang Metrical History of Christianity (chủ yếu là một cuốn sử về những vị thánh tử vì đạo). Những tác phẩm hay nhất của ông, theo các nhà phê bình ngày nay, là hàng loạt những chiêm nghiệm.

Michael Wigglesworth 
(1631 – 1705)

Michael Wigglesworth, một mục sư Thanh giáo cũng giống như Taylor, sinh trưởng ở Anh và được đào tạo ở Harvard, hành nghề y, là nhà thơ nổi bật thứ ba của thuộc địa New England. Ông tiếp tục những chủ đề Thanh giáo trong tác phẩm nổi tiếng nhất của mình: The Day Of Doom (Ngày tận thế – 1662). Một truyện thơ dài thường rơi vào thể loại vè nhàm chán, tính phổ cập đáng sợ này của chủ thuyết Calvin([3]) là bài thơ phổ biến nhất của thời thuộc địa. Tác phẩm bán chạy nhất đầu tiên ở Mỹ này là hình ảnh đáng sợ về hình phạt địa ngục được làm theo thể thơ ballad.

Đó là một thứ thi ca khủng khiếp – nhưng lại được mọi người yêu thích. Nó gắn kết sự quyến rũ của một câu chuyện kinh dị với quyền lực của John Calvin. Trong hơn hai thế kỷ, người ta thuộc lòng tác phẩm dài hơi và rùng rợn về nỗi kinh hoàng tôn giáo này. Trẻ con tự hào ngâm nga nó, người lớn trích dẫn nó trong giao tiếp hằng ngày. Từ những hình phạt khủng khiếp trong bài thơ này đến vết thương đáng sợ tự gây cho mình của vị mục sư Thanh giáo tội lỗi – Arthur Dimmesdale, trong The Scarlet Letter (Chữ A màu đỏ – 1850) của Nathaniel Hawthorne hay đến viên thuyền trưởng Ahab tật nguyền của Herman Melville, một Faust([4]) của New England mà vì sự kiếm tìm tri thức bị ngăn cấm của mình đã làm đắm con tàu nhân bản Mỹ trong Moby-Dick (Cá voi trắng – 1851) cũng chẳng phải một bước nhảy xa xôi gì (Moby-Dick là cuốn tiểu thuyết yêu thích của William Faukner, nhà văn của thế kỷ 20, tác giả của những cuốn tiểu thuyết sâu sắc có sức chấn động dữ dội dự báo rằng cái nhìn siêu hình, tăm tối của nước Mỹ Tin lành vẫn lẩn quất đâu đây).

Như hầu hết nền văn học thuộc địa, những bài thơ của New England buổi đầu đã bắt chước hình thức và kỹ thuật của Mẫu quốc, dù niềm say mê tôn giáo và sự ảnh hưởng Kinh thánh sâu đậm, cũng như bối cảnh mới, tạo cho văn học New England một diện mạo đặc biệt. Những tác giả của Tân thế giới bị cô lập lại sống trong thời kỳ trước khi có sự xuất hiện của những phương tiện vận chuyển và truyền thông điện tử nhanh chóng. Kết quả là những tác giả thuộc địa đã bắt chước một lối viết đã lỗi thời ở nước Anh: Edward Taylor, nhà thơ Mỹ hay nhất vào thời ông đã viết thơ siêu hình sau khi thể loại thơ này trở thành lỗi thời ở Anh. Tuy vậy, cũng có những tác phẩm có giá trị, thể hiện cá tính sáng tạo nổi bật vượt khỏi sự cô lập của thuộc địa.

Những tác giả thuộc địa dường như không biết đến những tác giả Anh tên tuổi như Ben Johnson. Vài người còn chối bỏ các thi sĩ Anh thuộc trường phái khác, do đó đã tách mình khỏi những khuôn mẫu lãng mạn và kịch tính thuần túy nhất mà tiếng Anh đã sản sinh được. Một nguyên nhân nữa khiến nhiều nhà văn thuộc địa không có đủ thông tin là do thiếu sách.

Khuôn mẫu vĩ đại cho cách viết, niềm tin và cách sống lại là Kinh thánh, mà bản dịch tiếng Anh được chuẩn y, thì đã lỗi thời ngay khi vừa xuất bản. Tuổi của Kinh thánh còn già cỗi hơn cả nhà thờ La Mã, chỉ điều đó thôi đã làm cho Kinh thánh trở nên có quyền lực hơn dưới mắt những người Thanh giáo.

Những người Thanh giáo ở New England bám vào các truyền thuyết về dân Do Thái trong Cựu Ước, tin rằng họ, cũng như những người Do Thái, bị ngược đãi vì niềm tin của mình, rằng họ biết được một Thượng đế thật sự, và rằng họ là những người được chọn để thiết lập Jerusalem mới – một Thiên đàng ở trần gian. Người Thanh giáo cũng ý thức được sự tương đồng giữa họ và người Do Thái cổ trong Cựu Ước. Moses đã dẫn dắt dân Israel ra khỏi vòng kiềm giữ của người Ai Cập, với sự giúp đỡ của Thượng đế dùng phép màu tách Biển Đỏ để có thể dắt đoàn người thoát, và cuối cùng nhận được bộ luật thiêng liêng dưới hình thức Mười điều răn. Tương tự Moses, những người lãnh đạo Thanh giáo cảm thấy mình đang cứu dân ra khỏi sự suy đồi tâm linh ở Anh, vượt qua biển dữ một cách kỳ diệu với sự hỗ trợ của Thượng đế, và tạo lập những luật lệ và hình thức chính quyền mới theo ý Chúa.

Những mảnh đất thuộc địa có khuynh hướng hoài cổ, và New England chắc hẳn không phải là ngoại lệ. Những người Thanh giáo ở New England nệ cổ là do cách chọn lựa, niềm tin và tình cảnh của họ.

Samuel Sewall 
(1652 – 1730)

Dễ đọc hơn loại thơ ca đậm màu sắc tôn giáo đầy những trích dẫn Kinh thánh là những bài viết về lịch sử và thế tục, kể lại những sự kiện có thật, sử dụng những tình tiết sống động. Tác phẩm Journal (Nhật ký – 1790) của Thống đốc John Winthrop cung cấp thông tin đáng tin cậy về những ngày đầu của Thuộc địa Vịnh Massachusetts và lý thuyết chính trị Thanh giáo.

Tác phẩm Diary (Nhật ký) của Samuel Sewall, ghi lại những sự kiện từ năm 1674 đến 1729, rất sống động và dấn thân. Sewall thích hợp với phong cách của những tác giả New England buổi đầu mà chúng ta gặp ở Bradford và Taylor. Sinh ở Anh, Sewall được đưa sang thuộc địa từ lúc còn nhỏ. Ông cư ngụ ở vùng Boston, nơi ông tốt nghiệp Harvard, và tạo được sự nghiệp trong lãnh vực luật, hành chính và tôn giáo.

Nhờ sinh sau đẻ muộn, Sewall may mắn được chứng kiến sự thay đổi từ đời sống tôn giáo khắc khổ buổi đầu của tín đồ Thanh giáo đến sau này, bước sang thời kỳ dân Bắc Mỹ buôn bán thịnh vượng hơn ở những thuộc địa New England. Nhật ký của ông, thường được so sánh với nhật ký của một người Anh cùng thời – Samuel Pepys – cũng ngẫu nhiên ghi lại giai đoạn giao thời.

Giống nhật ký của Pepys, nhật ký của Sewall cũng ghi chép tỉ mỉ về đời sống thường nhật của ông, phản ánh những mối bận tâm của ông về cách sống thánh thiện và tốt đẹp. Ông kể lại những chuyện nho nhỏ như mua kẹo tặng một phụ nữ mà ông yêu, cuộc tranh luận giữa họ về việc ông có nên có phong cách quý tộc và sống phù phiếm như mang tóc giả và đi xe sang trọng hay không…

Mary Rowlandson
(Khoảng 1635 đến khoảng 1678)

Là vợ của một luật sư, bà là người viết văn xuôi đầu tiên gây được sự chú ý. Bà đã kể lại một cách rõ ràng, cảm động mười một tuần bị người Da đỏ bắt giữ trong một cuộc tàn sát người Da đỏ năm 1676. Cuốn sách, cố nhiên đã thêm dầu vào ngọn lửa tinh thần chống đối người Da đỏ, như trong cuốn The Redeemed Captive (Tù binh được chuộc mạng 1707) của John William mô tả hai năm bị người Pháp và người Da đỏ bắt giam sau một cuộc thảm sát. Những tác phẩm do phụ nữ sáng tác thường là những câu chuyện kể về đời sống gia đình. Có thể cho rằng văn chương phái nữ hưởng lợi thế từ thế giới hiện thực ấm cúng của gia đình và sự tinh tế do kinh nghiệm sống; chắc chắn những tác phẩm như cuốn Journal (Nhật ký) rất sinh động của Sarah Kemble Knight (xuất bản năm 1825 sau khi bà mất) kể về chuyến đi đơn độc gan dạ năm 1704 từ Boston đến New York và trở về đã thoát ra khỏi sự rối rắm màu mè của lối viết mang phong cách Thanh giáo.

Cotton Mather
(1663 – 1728)

Không một biên khảo nào về văn học thuộc địa New England được gọi là đầy đủ mà không nhắc đến nhà giáo mẫu mực Cotton Mather. Là thế hệ thứ ba trong bốn thế hệ của dòng họ Mather ở Vịnh Massachusetts, ông viết thật tỉ mỉ về New England trong hơn 500 cuốn sách lớn và nhỏ. Cuốn ông viết vào năm 1702 Magnalia Christi Americana (Ecclesiastical History of New England -Lịch sử Giáo hội Cơ đốc ở New England) là tác phẩm thành công nhất của ông, một cuốn biên niên sử toàn diện về công cuộc định cư ở New England thông qua một loạt tiểu sử. Cuốn sách vĩ đại này kể về những cuộc chinh phục thiêng liêng vào những miền đất hoang dã của tín đồ Thanh giáo để thiết lập nên một đất nước của Chúa Trời. Cuốn sách được cấu trúc từ một chuỗi chuyện kể về cuộc đời của các vị thánh Mỹ tiêu biểu.

Nhiệt tâm của ông đã bù đắp một phần nào sự khoa trương trong văn chương của ông: “Tôi viết về những nhiệm màu của đạo Thiên Chúa, bay đi từ những tước đoạt ở châu Âu để đến bến bờ đại dương châu Mỹ”.

Roger Williams 
(khoảng 1603 – 1683)

Suốt từ thế kỷ 17 kéo sang thế kỷ 18, chủ nghĩa giáo điều đã từng bước suy tàn, mặc cho những cố gắng dữ dội và thất thường của người Thanh giáo nhằm cản trở tinh thần khoan dung tôn giáo. Mục sư Roger Williams đã phải đau khổ vì quan điểm riêng của mình về tôn giáo. Là con trai một người thợ may sinh trưởng ở Anh, ông bị trục xuất khỏi Massachusetts giữa mùa đông khắc nghiệt ở New England năm 1635. Được Thống đốc bang Massachusetts John Winthrop bí mật giúp đỡ, ông đã sống sót trong cuộc sống chung với người Da đỏ. Vào năm 1636, ông lập một thuộc địa mới ở Rhode Island, chào đón người dân thuộc mọi tôn giáo.

Dù là một người học vấn cao đã tốt nghiệp đại học Cambridge (Anh quốc), Roger Williams có niềm cảm thông sâu xa với người lao động và với cả những người có quan điểm trái ngược. Tư tưởng của ông đã đi trước thời đại. Ông sớm nhận ra mặt trái của chủ nghĩa đế quốc, duy trì quan điểm rằng những vị vua chúa châu Âu không có quyền ban phát đất đai bởi vì đất Mỹ thuộc về người Da đỏ. Williams cũng tin tưởng vào sự phân lập giữa giáo hội và nhà nước, cho đến nay vẫn còn là một nguyên tắc cơ bản ở Mỹ. Ông cho rằng Tòa án không có quyền trừng phạt người dân vì lý do tôn giáo – một quan điểm làm suy yếu chế độ thần quyền New England. Là người tin tưởng vào quyền bình đẳng và dân chủ, ông là người bạn trung thành của dân Da đỏ. Williams viết nhiều sách, trong đó có một cuốn dạy hội thoại bằng ngôn ngữ người Da đỏ: A Key Into the Languages of America (Chiếc chìa khóa bước vào kho tàng ngôn ngữ ở châu Mỹ -1643). Cuốn sách cũng là một công trình dân tộc học phôi thai, đưa ra những mô tả sắc nét về đời sống của người Da đỏ trong thời gian ông sống với các bộ lạc Da đỏ. Mỗi chương dành cho một chủ đề – ví dụ, ẩm thực và bữa ăn. Những từ và nhóm từ của người Da đỏ về các đề tài này được pha trộn với những lời bình, giai thoại và một bài thơ kết luận. Đây là bài thơ kết của chương đầu tiên:

Nếu những cháu con của Tự nhiên
Dù sơ khai hay đã sống văn minh
Đều lịch thiệp và giàu lòng nhân ái 
Thì tại sao chính những đứa con Ngài
Lại cần sống trong tình đồng loại

Trong một chương về những từ ngữ thuộc lĩnh vực vui chơi giải trí, ông bình luận rằng “có một sự thật lạ lùng là người ta thường tìm được sự nghỉ ngơi và giải trí tự do ở những người bán khai hơn là ở giữa những người tự cho mình là người Thiên Chúa giáo”.

Cuộc đời của Williams đầy những ngẫu hứng độc đáo. Trong một chuyến viếng thăm nước Anh vào thời gian ở đây diễn ra cuộc nội chiến đẫm máu, ông đã liều cả mạng sống của mình trong cái lạnh khủng khiếp ở New England để tổ chức việc cung cấp chất đốt cho những người nghèo ở London trong mùa đông, sau khi nguồn cung cấp than của họ đã bị cắt đứt. Ông cũng đã viết những lời bào chữa sống động cho sự khoan dung tôn giáo, không những chỉ cho những người thuộc giáo phái Thiên Chúa giáo mà còn cho cả những người không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo. Ông đã viết trong cuốn The Bloudy Tenent of Persecution for Cause of Conscience – 1644([5]) rằng: “Đây chính là ý nguyện và mệnh lệnh của Thượng đế… rằng lương tâm và tín ngưỡng cho dù mang tính chất Do Thái, Thổ Nhĩ Kỳ, vô thần hay phản Thiên Chúa giáo nhất, cũng được ban phát cho mọi người, ở mọi quốc gia…”. Không nghi ngờ gì nữa, chính thời gian sống hòa hợp với các bộ lạc Da đỏ hào hiệp và đầy tình người đã góp một phần lớn vào sự thông tuệ của ông.

Sự ảnh hưởng trong các thuộc địa đã diễn ra theo hai hướng. Ví dụ, John Eliot dịch Kinh thánh ra tiếng Narragansett. Trong khi nhiều người Da đỏ lại theo đạo Thiên Chúa. Cho đến ngày nay, giáo hội Mỹ bản địa là một sự kết hợp giữa Thiên Chúa giáo và tín ngưỡng truyền thống của người Da đỏ.

Tinh thần khoan dung và tự do tôn giáo dần phát triển và lớn mạnh ở những thuộc địa Mỹ đầu tiên được thiết lập ở Rhode Island và Pennsylvania, quê hương của giáo phái Quaker([6]) khoan dung, hay được biết đến dưới cái tên “Những người anh em”. Họ tin vào sự thánh thiện của lương tâm mỗi con người như là cội nguồn của trật tự và đạo lý xã hội. Niềm tin cơ bản của giáo phái Quaker vào tình yêu dành cho muôn loài và tình đồng loại đã khiến họ có tinh thần dân chủ sâu sắc và chống lại quyền bính tôn giáo giáo điều. Bị khai trừ ra khỏi Massachusetts hà khắc vì xứ này e sợ ảnh hưởng của họ, họ đã lập nên thuộc địa Pennsylvania rất thành công, đặt dưới sự lãnh đạo của Williams Penn vào năm 1681.

John Woolman
(1720 – 1772)

Tác phẩm Quaker nổi tiếng nhất là cuốn tiểu thuyết dài hơi Journal (Nhật ký – 1774) của John Woolman, ghi chép cuộc sống tinh thần của mình bằng giọng văn chân thành, trong sáng, ngọt ngào được nhiều tác giả Mỹ và Anh khen ngợi. Con người phi thường này từ bỏ căn nhà tiện nghi ở thành phố để lang thang đó đây cùng với những người Da đỏ trong các vùng đất hoang dã vì ông nghĩ rằng ông có thể học hỏi ở họ và chia sẻ ý tưởng với họ. Ông lý giải một cách giản đơn về đam mê của mình, muốn “cảm nhận và hiểu cuộc đời của họ cũng như đời sống tinh thần của họ”. Tinh thần yêu-công- lý của Woolman hẳn nhiên mang tính phê phán xã hội: “Tôi thấy nhiều người Da trắng bán rượu Rhum cho người Da đỏ và tôi tin đó là một tội lớn”.

Woolman cũng là một trong những tác giả đầu tiên chống chế độ nô lệ, bằng việc xuất bản hai tiểu luận Some Considerations on the Keeping of Negroes (Vài nhận định về việc bắt giữ người Da đen) năm 1754 và 1762. Là một nhà văn nhân bản đầy nhiệt huyết, ông đã đi theo con đường “thụ động vâng lời” đối với các nhà cầm quyền và luật pháp mà ông cho là bất công. Tác phẩm của ông dự báo sự ra đời nhiều tiểu luận nổi tiếng của Henry David Thoreau ở các thế hệ sau tác phẩm Civil Disobedience (Sự bất tuân dân sự – 1849).

Jonathan Edwards 
(1703 – 1758)

Người chống lại các luận điểm của John Woolman là Jonathan Edwards, chỉ sinh ra trước tác giả Quaker kia có 17 năm. Woolman không được học tập một cách chính quy trong khi Edwards có học vấn cao. Woolman đi theo ánh sáng nội tâm mình; Edwards hiến mình cho luật pháp và quyền hành. Cả hai là những tác giả xuất sắc, nhưng họ là hai thái cực trong kinh nghiệm về tôn giáo ở thuộc địa.

Chính môi trường Thanh giáo hà khắc và ý thức trách nhiệm cao đã hun đúc nên Edwards, và hai yếu tố này kết hợp để khiến ông đứng ra bảo vệ cho học thuyết Calvin khắc nghiệt và u ám chống lại chủ thuyết tự do bấy giờ đang dấy lên đầy sức sống chung quanh ông. Edwards trở nên nổi tiếng bởi bài thuyết giảng đầy sức mạnh và gieo rắc nỗi kinh hoàng Sinners in the Hands of an Angry God (Những kẻ phạm tội trong bàn tay của một Thượng đế đang phẫn nộ – 1741). “Nếu Chúa buông ra, các ngươi sẽ lập tức chìm xuống, rơi xuống vực sâu của tội lỗi, và đắm chìm trong cái vực sâu vô tận ấy… Chính Chúa đã treo các ngươi trên miệng hỏa ngục như người ta đưa một con nhện hay một con côn trùng kinh tởm nào đó trên ngọn lửa. Ngài ghê tởm các ngươi và Ngài đang bị 27 khiêu khích dữ dội. Ngài nhìn các ngươi như thể các ngươi chẳng đáng gì ngoài việc bị ném xuống vực sâu không đáy ấy”.

Những bài thuyết giảng của Edwards có sức tác động ghê gớm, làm cho cả cộng đồng giáo dân kinh động. Mặc dầu vậy, cuối cùng sự cứng rắn đến mức quái đản của chủ thuyết Calvin mà Edwards dũng cảm bảo vệ đã khiến mọi người phải xa lánh. Những bài giảng giáo điều kiểu trung cổ của Edwards không còn phù hợp với những kinh nghiệm sống của người dân thuộc địa về thế kỷ 18 tương đối thịnh vượng, an bình. Sau Edwards, những khuynh hướng khoan dung tự do, mới mẻ của chủ nghĩa nhân văn ngày càng lớn mạnh.

VĂN HỌC Ở CÁC THUỘC ĐỊA MIỀN NAM VÀ MIỀN TRUNG

Trước Cách mạng, văn học miền Nam mang tính quý tộc và thế tục, phản ánh chế độ kinh tế và xã hội thống trị của những trang trại miền Nam. Những di dân Anh đầu tiên kéo đến những thuộc địa phía Nam vì cơ may kinh tế hơn là vì tự do tôn giáo.

Mặc dầu nhiều người miền Nam là nông dân nghèo hoặc là những người buôn bán nhỏ, sống không khá hơn dân nô lệ là mấy; nhưng giai cấp thượng lưu, trí thức miền Nam được nuôi dưỡng bởi khuôn mẫu lý tưởng của Cựu lục địa về giới quý tộc nắm trong tay đất đai do chế độ nô lệ tạo dựng. Chính thể chế này đã giải phóng những người Da trắng miền Nam giàu có thoát khỏi lao động chân tay, đồng thời mang lại cho họ thú vui và làm cho niềm ước mơ về một cuộc sống quý phái ở châu Mỹ nguyên sơ thành hiện thực.

Những điều mà Thanh giáo đề cao như sự cần cù, học vấn, và lòng nhiệt tình, nghiêm túc đã trở nên hiếm hoi -thay vào đó chúng ta thường nghe nói đến những thú vui quý phái như cưỡi ngựa và săn bắn. Nhà thờ là tâm điểm của đời sống xã hội thanh lịch, chứ không phải là diễn đàn cho sự tự vấn lương tâm một cách kỹ càng.

William Byrd
(1674 – 1744)

Văn hóa phương Nam tự nhiên xoay quanh lý tưởng về con người lịch lãm: Con người thời Phục hưng vừa giỏi quản lý trang trại vừa đọc được sách tiếng Hy Lạp cổ, con người ấy có quyền hành của một lãnh chúa thời phong kiến.

William Byrd đã mô tả lối sống sang trọng, lịch duyệt ở trang trại mình, Westover, trong bức thư nổi tiếng năm 1726 gửi cho một người bạn Anh, Charles Boyle, bá tước xứ Orrery như sau:

Bên cạnh lợi thế về không khí trong lành, chúng tôi còn có đủ các vật dụng dự trữ mà không cần phải tiêu pha tốn kém (tôi muốn nói chúng tôi có nhiều trang trại). Gia đình riêng của tôi rất đông người, và cánh cửa nhà tôi luôn rộng mở đón mọi người, mà tôi chả mấy khi phải tiêu tiền; và cái đồng bạc nửa crown([7]) cứ ngủ yên trong túi của tôi hàng mấy tháng trời.

Như một tộc trưởng, tôi có hàng đàn gia súc và đám đông nô lệ, đàn ông có, đàn bà có. Đám đầy tớ của tôi rất thạo công việc. Tôi sống độc lập với mọi người, ngoại trừ với Đấng Tối cao.

William Byrd tiêu biểu cho tinh thần của giai cấp thượng lưu thuộc địa miền Nam. Thừa kế 1040 mẫu đất, rồi nhân lên thành 7160 mẫu, ông vừa là nhà buôn, nhà ngoại thương vừa là chủ trại. Thư viện với 3.600 cuốn sách của ông lớn nhất miền Nam. Bẩm sinh thông minh lanh lợi, ông được cha mẹ gửi tới học tại các trường tốt nhất ở Anh và Hà Lan để phát triển tài năng. Ông từng đến thăm Cung đình Pháp, trở thành thân hữu của hoàng tộc, và kết bạn thân thiết với nhiều học giả Anh hàng đầu cùng thời với ông, đặc biệt là William Wycherley và William Congreve. Những trang nhật ký của ông về London ngược hẳn với những ghi chép của người Thanh giáo ở New England, đầy những bữa tiệc xa hoa, những dạ hội rực rỡ, rồi chuyện tán tỉnh phụ nữ và rất ít những đoạn suy ngẫm nội tâm.

Ngày nay Byrd rất nổi tiếng với cuốn History of the Dividing Line (Lịch sử một đường phân chia ranh giới), một nhật ký sống động ghi lại cuộc hành trình dài 960 kilômet đi sâu vào nội địa để khảo sát đường phân chia giữa các thuộc địa láng giềng Virginia và Bắc Carolina vào năm 1729. Những ấn tượng sống động của ông về những vùng đất hoang dã mênh mông, người Da đỏ, người Da trắng bán khai, thú hoang, và cơ man những khó khăn xảy đến cho con người lịch lãm văn minh này đã làm nên một cuốn sách mang bản sắc Mỹ độc đáo và đậm đà khí chất miền Nam. Ông chế giễu đám thực dân đầu tiên ở Virginia, “khoảng một trăm gã đàn ông, hầu hết là những kẻ trụy lạc xuất thân từ những gia đình gia giáo” và đùa rằng ở Jamestown, “như người Anh thật sự, họ xây một cái nhà thờ chỉ tốn không hơn 50 bảng, và một cái quán rượu với giá 500 bảng”. Tác phẩm của Byrd là những ví dụ sắc sảo về sự quan tâm sâu sắc của người miền Nam về một thế giới cụ thể: đất đai, người Da đỏ, cây cỏ, muông thú và những người định cư.

Robert Beverley
(khoảng 1673 – 1722)

Robert Beverley là một trại chủ giàu có khác và là tác giả cuốn The History and Present State of Virginia (Lịch sử và tình trạng hiện thời của bang Virginia – 1705, 1722) ghi lại lịch sử của thuộc địa Virginia theo phong cách đầy nhân bản và mạnh mẽ. Cũng như Byrd, ông ngưỡng mộ người Da đỏ và chú ý đến những quan niệm mê tín khá lạ lùng của châu Âu về Virginia – ví dụ, có niềm tin “rằng vùng đất này biến mọi người đến đó thành đen”. Ông cũng ghi nhận lòng hiếu khách vô biên của người miền Nam, một tính cách nổi bật còn duy trì cho đến ngày nay.

Loại văn châm biếm trào phúng -một thể loại văn học đả kích, chế giễu những thói hư tật xấu và sự ngu xuẩn của con người thông qua sự mỉa mai, chế nhạo hoặc là sự hóm hỉnh là thể loại quen thuộc ở thuộc địa miền Nam. Một nhóm người định cư ưa gây gổ viết bài đả kích người sáng lập ra tổ chức từ thiện ở bang Georgia, tướng James Oglethorpe, trong một tập sách mỏng tựa đề A True and Historical Narrative of the Colony of Georgia (Chuyện kể lịch sử và chân thực về thuộc địa Georgia – 1741). Họ giả vờ khen ngợi ông vì ông đã khiến họ nghèo đói và lao động quá sức đến nỗi họ phải phát huy “đức tính khiêm tốn vô giá” và trốn chạy “những lo toan cho bất kỳ một tham vọng xa xôi nào”.

Bài thơ châm biếm rất thẳng thừng có tên “The Sotweed Factor” đả kích thuộc địa Maryland, nơi tác giả, một người Anh tên Ebenezer Cook, đã thử thời vận buôn thuốc lá nhưng không thành. Cook phơi bày những cung cách làm ăn thô bạo, trần trụi của thuộc địa với tinh thần trào lộng sâu sắc, và tố cáo những người dân thuộc địa lường gạt ông ta. Bài thơ kết thúc bằng một lời nguyền rủa cường điệu: “Cầu xin cơn giận dữ linh thiêng làm cho vùng đất này hoang tàn. Vùng đất không có người đàn ông trung thành, cũng như không có người đàn bà tiết hạnh”.

Nhìn chung, văn học thuộc địa miền Nam có thể nói là có mối liên hệ phần nào với truyền thống văn học hiện thực, gần gũi với cuộc sống, mang tính phổ quát và chứa nhiều thông tin. Bắt chước những trào lưu văn học Anh, người miền Nam thể hiện trí tưởng tượng phong phú trong sự quan sát sắc sảo và thông minh, chính xác những điều kiện sống đặc thù của Tân thế giới.

Olaudah Equiano (Gustavus Vassa) 
(khoảng 1745 – khoảng 1797)

Hai tác giả Da đen có tầm quan trọng và nổi bật trong thời kỳ thuộc địa là Olaudah Equiano và Jupiter Hammon. Equiano, một người Ibo đến từ Niger (Tây Phi), là người Da đen đầu tiên ở Mỹ viết một tiểu sử tự thuật mang tênThe Interesting Narrative of the Life of Olaudah Equiano, or Gustavus Vassa, the African (Tự thuật thú vị về cuộc đời của Olaudah Equiano hay Gustavus Vassa, người châu Phi – 1789). Cuốn sách là ví dụ đầu tiên của thể loại truyện kể về người nô lệ trong đó Equiano kể về mảnh đất quê hương mình, những nỗi hãi hùng và sự tàn ác mà ông phải chịu đựng trong thời gian ông bị cầm giữ và làm nô lệ ở West Indies([8]). Equiano đã cải giáo theo đạo Thiên Chúa, than vãn một cách đầy xúc động về cách đối xử “phi Thiên Chúa giáo” của những người Thiên Chúa giáo đối với mình – một cảm xúc mà nhiều người Mỹ – Phi châu sẽ lên tiếng tố cáo trong những thế kỷ tiếp theo.

Jupiter Hammon
(khoảng 1720 – khoảng 1800)

Nhà thơ Mỹ Da den này là nô lệ ở Long Island, New York. Ông được nhớ đến nhờ những bài thơ tôn giáo của mình cũng như nhờ tác phẩm An Address to the Negroes of the State of New York (Nói với người Da đen ở bang New York 1787), trong đó ông kêu gọi giải phóng con cái của người nô lệ thay vì kết án chúng phải làm nô lệ truyền kiếp. Bài thơ “An Evening Thought” (Suy tư buổi chiều hôm) của ông là bài thơ đầu tiên của một người đàn ông da đen được xuất bản ở Mỹ.

[1] Nguyên văn Epistola (tiếng Tây Ban Nha) có nghĩa là thư từ.

[2] Thời đó người ta tin rằng trái đất có hình cái điã.

[3] Calvin: John Calvin (1509-1564), nhà lãnh tự cải cách đạo Tin lành, người Pháp, chủ thuyết do ông khởi xướng và các học trò của ông noi theo được gọi là chủ nghĩa Calvin (Calvinism) có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống văn hóa và tôn giáo ở các nước phương Tây.

[4] Faust: tên nhân vật chính trong tác phẩm cùng tên của Goeth – thi sĩ vĩ đại người Đức.

[5] Tác phẩm này, cũng như một vài quyển sách khác chúng tôi chưa có đủ dữ kiện để dịch tựa sách ra tiếng Việt, xin cáo lỗi cùng bạn đọc.

[6] Quaker: là một giáo phái Thiên Chúa tôn thờ Chúa Jesus, từ chối những nghi thức trịnh trọng, giáo điều và có những hoạt động phản đối chiến tranh và bạo lực.

[7] Đồng crown trị giá 5 shilling (bảng Anh), đồng nửa crown là 2,5 shilling.

[8] West Indies: các đảo Tây Ấn, bao quanh biển Caribbean.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_i.html