Literature Văn học Mỹ

PHÁC THẢO VĂN HỌC MỸ – Chương 1: Thời kỳ lập quốc và thuộc địa cho đến năm 1776

Kathryn VanSpanckeren

Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/1998

Chương 1: Thời kỳ lập quốc và thuộc địa cho đến năm 1776

Văn học Mỹ khởi đầu bằng các truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ và những bài ca truyền miệng thuộc các nền văn hóa của dân Da đỏ. Trong hơn 500 ngôn ngữ và nền văn hóa bộ lạc khác nhau của dân Da đỏ tồn tại ở Bắc Mỹ trước khi những người châu Âu đầu tiên tìm đến đã chẳng có được một nền văn học thành văn nào. Kết quả là nền văn học truyền miệng châu Mỹ bản địa hết sức đa dạng. Những truyện kể của các nền văn hóa săn bắn sống gần như du mục của bộ lạc Navajo khác hẳn với các câu chuyện của những bộ lạc nông nghiệp định cư như dân tộc Acoma sinh sống trong làng; những câu chuyện của cư dân sống ven hồ ở phương Bắc như Ojibwa về cơ bản khác hẳn các câu chuyện của các bộ lạc sống trên sa mạc như Hopi.

Mỗi bộ lạc có tín ngưỡng riêng của mình – thờ thần thánh, linh vật, cây cỏ hoặc những nhân vật linh thiêng. Hệ thống nhà nước biến thiên đa dạng từ hội đồng bô lão có tính chất dân chủ cho đến chính thể thần quyền (hội đồng tăng lữ giáo sĩ). Sự đa dạng của các bộ tộc này cũng ảnh hưởng đến văn học truyền miệng.

Tuy vậy chúng ta vẫn có thể nắm được một vài nét khái quát. Chẳng hạn những câu chuyện của người Da đỏ rực lên sự tôn thờ thiên nhiên như một người mẹ vừa linh thiêng lẫn trần tục. Thiên nhiên luôn tràn đầy sinh lực và chất chứa những quyền lực thiêng liêng, những nhân vật chính dù là loài vật hay cỏ cây, thường là những linh vật gắn liền với một bộ lạc, một nhóm người hay một cá nhân nào đó. Ý niệm gần gũi nhất với ý niệm về tính linh thiêng của người Da đỏ trong văn học Mỹ sau này là khái niệm siêu nghiệm của Ralph Waldo Emerson “siêu linh hồn” trải khắp cuộc đời.

Những bộ lạc Mexico sùng bái thần Quetzalcoatl thiêng liêng, một vị thần của người Toltecs và Aztecs, và ở nhiều nơi khác cũng có một số câu chuyện về một vị thần linh tối cao hay một nền văn hóa nào đó. Tuy vậy, không có một hệ thống các sự tích tôn giáo chuẩn mực, lâu dài về một đấng thiêng liêng tối cao. Những sự tích tương đương gần gũi nhất với những câu chuyện tôn giáo của Cựu thế giới thường là những chuyện về thuyết pháp và các chuyến hành hương của các pháp sư. Ngoài các câu chuyện này còn có những câu chuyện về những nhân vật dân gian như Manabozho của bộ lạc Ojibwa hay Coyote của bộ lạc Navajo. Những kẻ hai mặt này được coi trọng hoặc khinh miệt tùy theo từng câu chuyện. Trong câu chuyện này họ hành động như những anh hùng, trong khi ở một truyện khác họ lại có vẻ ích kỷ và ngu xuẩn. Mặc dù các tác giả có thẩm quyền trong quá khứ, chẳng hạn nhà tâm lý học Thụy Sĩ Carl Jung, đã xem những câu chuyện về những kẻ lừa đảo này như là cách miêu tả khía cạnh thấp hèn, vô đạo của tâm thức con người, những học giả đương thời – nhiều người trong số đó là người Mỹ Da đỏ – chỉ ra rằng Odysseus và Prometheus, những anh hùng Hy Lạp đáng kính, tự bản chất cũng là những kẻ lừa lọc.

Người ta có thể tìm thấy được những ví dụ của hầu như mọi thể loại truyền miệng trong nền văn học Mỹ Da đỏ: thơ trữ tình, bài ca, huyền thoại, truyện cổ tích, giai thoại tiếu lâm, thần chú, câu đố, tục ngữ, sử thi và những câu chuyện dã sử. Truyện về tổ tiên và những cuộc di dân cũng như những bài sấm truyền hay những bài ca chữa bệnh và những câu chuyện về các tay hảo hán thì nhiều vô kể. Một vài truyện về sáng tạo muôn loài cũng rất phổ biến, trong đó có nhiều bộ lạc lưu truyền câu chuyện về một con rùa nâng được cả thế giới với nhiều dị bản khác nhau. Trong dị bản của người Cheyenne, đấng sáng tạo, Maheo, có bốn cơ hội để tạo nên thế giới từ một vũ trụ làm bằng nước. Vị thần này đã phái xuống bốn con chim lặn xuống nước cố mang trái đất từ dưới đáy lên. Ngỗng trời, chim lặn, vịt trời bay vút lên trời và nhào xuống lặn nhưng không thể xuống tới đáy được; nhưng con chim sâm cầm nhỏ bé, không bay được đã có thể mang lên được một ít bùn ở mõm. Chỉ duy nhất một tạo vật, Rùa Bà tầm thường, là hình dáng thích hợp để mang thế giới bùn lầy mà Maheo tạo dựng trên lưng của nó – từ đó người Da đỏ gọi châu Mỹ là Đảo Rùa.

Những bài hát hoặc thơ ca, cũng như những truyện kể bắt đầu từ thể tài linh thiêng đến những loại nhẹ nhàng, hài hước: đó là những lời ru, những bài ca chiến trận, những bản tình ca, và những khúc hát đặc biệt trong những trò chơi của trẻ con, đánh bài, cho đủ thứ công việc, cho những nghi lễ ma thuật hay nhảy múa. Nhìn chung những khúc ca này thường được lặp đi lặp lại. Những bài hát nên thơ ngắn ngủi hiện ra trong mơ đôi lúc có những hình tượng rõ ràng và tình cảm tinh tế rất gần với thơ haiku của Nhật hoặc loại thơ ca hình tượng chịu ảnh hưởng phương Đông. Một bài ca của người Chippewa như sau:

Tôi nghĩ đó là một con chim lặn
Nhưng lại là
Mái chèo khua nước
Của tình tôi.

Những bài hát thuộc loại tiên tri thường rất ngắn, được thể hiện bằng hình thức khác hẳn. Xuất hiện trong giấc mơ hay giữa những ảo ảnh, đôi khi không được báo trước, chúng có thể là những bài hát dùng trong chữa bệnh, khi săn bắn hay về tình yêu. Chúng thường mang đậm dấu ấn cá nhân, như trong bài hát này của người Madoc:

Tôi
là bài ca
trong khi đang bước.

Truyền thống văn học truyền miệng của người Da đỏ và mối quan hệ của nó với văn học Mỹ nhìn chung là một trong những đề tài phong phú nhất và ít được nghiên cứu nhất trong những nghiên cứu về nước Mỹ. Sự đóng góp của người Da đỏ cho nước Mỹ còn lớn hơn những gì mà người ta biết. Hàng trăm từ thông dụng của ngôn ngữ Anh Mỹ là bắt nguồn từ thổ dân Da đỏ: “canoe” (canô), “tobacco” (thuốc lá), “potato” (khoai tây), “moccasin” (giày da đế phẳng), “moose” (nai sừng tấm), “persimmon” (cây hồng), “racoon” (gấu trúc Nam Mỹ), “tomahawk” (cái rìu) và “totem” (vật tổ).

VĂN HỌC CỦA THỜI KỲ KHAI PHÁ

Nếu lịch sử rẽ sang một hướng khác, Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ rất có thể đã dễ dàng biến thành một lãnh thổ hải ngoại của Pháp hay Tây Ban Nha. Cư dân hiện tại của nó có thể nói tiếng Tây Ban Nha và cùng với Mexico tạo thành một quốc gia, hoặc sử dụng tiếng Pháp kết hợp với Quebec và Montreal trở thành người Canada. Tuy nhiên những nhà thám hiểm châu Mỹ sớm nhất không phải là người Anh, người Tây Ban Nha hay người Pháp.

Văn bản về cuộc chinh phục châu Mỹ đầu tiên mà châu Âu ghi lại được là bằng ngôn ngữ Scandinavia, cuốn Vinland Saga bằng tiếng Na Uy cổ kể lại cuộc phiêu lưu của Leif Ericson và một nhóm người Na Uy cổ định cư ngắn ngủi đâu đó trên bờ biển Đông Bắc châu Mỹ – có lẽ là Nova Scotia ở Canada – vào thập niên đầu của thế kỷ 11, gần 400 năm trước việc khám phá tiếp theo Tân thế giới còn được ghi chép ở châu Âu.

Tuy nhiên, cuộc tiếp xúc đầu tiên được biết đến và còn duy trì giữa châu Mỹ và phần còn lại của thế giới bắt đầu bằng cuộc du hành nổi tiếng của một nhà thám hiểm người Ý, Christopher Columbus, được Hoàng đế Ferdinand và Hoàng hậu Isabella của Tây Ban Nha tài trợ. Nhật ký của Columbus trong tập “Thư từ”([1]) của mình, in năm 1493, kể lại thảm kịch của chuyến du hành – đám người hoảng loạn, sợ những con thủy quái và nghĩ rằng họ sẽ rơi khỏi rìa trái đất([2]), cuộc nổi loạn suýt xảy ra; việc Columbus giả mạo nhật ký hải hành để thủy thủ không thể biết được họ đã đi xa hơn những người đi trước bao nhiêu; và cảnh lần đầu tiên nhìn thấy dải đất liền khi họ đến gần châu Mỹ.

Bartolomé de las Casas là nguồn tư liệu phong phú nhất về cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa người Da đỏ châu Mỹ và người châu Âu. Với tư cách là một giáo sĩ trẻ, ông ta đã giúp chinh phục được Cuba. Ông đã chép lại nhật ký của Columbus, và về sau đã viết cuốn History of the Indians (Lịch sử của người Da đỏ) thật đồ sộ và sinh động, phê phán việc người Tây Ban Nha bắt người Da đỏ làm nô lệ.

Những toan tính đầu tiên của người Anh biến châu Mỹ thành thuộc địa thật sự là những tai họa. Thuộc địa đầu tiên được thành lập năm 1585 ở Roanoke, ngoài khơi bang Bắc Carolina; sau đó tất cả những người lập thuộc địa ở đây đã biến mất, và cho đến nay người ta vẫn kể nhiều huyền thoại về người Da đỏ -Croatan mắt xanh trong vùng. Thuộc địa thứ hai bền vững hơn: Jamestown, thiết lập năm 1607. Nó chịu đựng được đói khát, bạo ngược và rối ren. Tuy nhiên, văn học thời kỳ này đã tô vẽ cho nước Mỹ những màu sắc rực rỡ như là một vùng đất giàu có và đầy hứa hẹn. Những chuyện kể về công cuộc thuộc địa hóa đã nổi danh khắp thế giới. Cuộc thám hiểm của Roanoke được Thomas Hariot ghi lại cặn kẽ trong cuốn A Brief and True Report of the New – Found Land of Virginia (Một báo cáo ngắn và chân thật về vùng đất mới tìm thấy thuộc Virginia – 1588). Cuốn sách của Hariot được nhanh chóng dịch ra tiếng Latin, tiếng Pháp và tiếng Đức; nội dung và hình ảnh được làm thành bản khắc và được tái bản rộng rãi suốt hơn 200 năm.

Tuy vậy chính các bài viết của thuyền trưởng John Smith, một trong những nhà lãnh đạo của thuộc địa là những ghi chép chủ yếu về thuộc địa Jamestown, lại ngược hẳn với bản tường trình rất khoa học, chính xác của Hariot. Smith là một người cực kỳ lãng mạn, hình như ông ta đã thêu dệt thêm cho những chuyến mạo hiểm của mình. Nhờ ông mà chúng ta mới biết được câu chuyện nổi tiếng kể về Pocahontas – một người con gái Da đỏ. Dù là có thật hay hư cấu, câu chuyện này đã cắm rễ sâu vào sức tưởng tượng có tính cách lịch sử của Mỹ. Câu chuyện kể lại rằng Pocahontas, con gái cưng của tù trưởng Powhatan, đã cứu sống thuyền trưởng Smith – một tù nhân của tù trưởng. Sau này, khi những người Anh thuyết phục Powhatan trao Pocahontas cho họ làm con tin, thì nét dịu dàng, óc thông minh và vẻ đẹp của nàng đã gây ấn tượng sâu đậm cho người Anh. Vào năm 1614, nàng lấy John Rolfe – một nhà quý tộc người Anh có thế lực. Cuộc hôn nhân đem lại hòa bình trong khoảng tám năm giữa những người thiết lập thuộc địa và người Da đỏ, đảm bảo sự sống còn của thuộc địa mới…

Vào thế kỷ 17, hải tặc, những kẻ phiêu lưu và các nhà thám hiểm mở đường cho một làn sóng thứ hai cho những người đi lập thuộc địa, cho phép họ mang theo vợ con, dụng cụ làm nông nghiệp và thủ công. Nền văn học non trẻ của thời khai phá chủ yếu là nhật ký, thư từ, ghi chép hành trình, nhật ký hải hành và những báo cáo tường trình gửi các nhà tài trợ các bậc vua chúa ở châu Âu hoặc các công ty cổ phần ở Anh và Hà Lan vốn có xu hướng trọng thương. Những ghi chép này từng bước nhường chỗ cho nhiều bản báo cáo của các thuộc địa đã ổn định. Bởi vì Anh quốc rốt cuộc chiếm hết những thuộc địa Bắc Mỹ, nền văn học thuộc địa phổ biến nhất và được đưa vào tuyển tập nhiều nhất là văn học Anh. Khi văn học của người Mỹ Da đỏ tiếp tục nở rộ vào thế kỷ 20 và đời sống Mỹ trở nên ngày càng đa văn hóa hơn, các học giả có xu hướng trở lại khám phá tầm quan trọng của di sản chủng tộc pha trộn của đại lục địa này. Mặc dầu giờ đây câu chuyện văn học chủ yếu là của người Anh, điều quan trọng là phải công nhận những giai đoạn khởi đầu phong phú mang tính quốc tế.

THỜI KỲ THUỘC ĐỊA Ở NEW ENGLAND

Có thể nói, không một nhóm người đi tìm thuộc địa nào trong lịch sử thế giới lại đạt đến trình độ tri thức cao như những người Thanh giáo. Khoảng giữa 1630 đến 1690, ở phần Đông Bắc Hoa Kỳ, được gọi là New England, đã có số người tốt nghiệp đại học nhiều bằng với Mẫu quốc – một dữ kiện gây ngạc nhiên vì người ta vẫn cho rằng hầu hết những người có học vấn thời đó vốn xuất thân từ quý tộc chẳng dại gì liều mạng sống trong môi trường hoang dã. Những người Thanh giáo tự lập và thường là tự học là những ngoại lệ đáng chú ý. Họ khao khát tri thức để có thể hiểu và thực thi được ý muốn Thượng đế trong khi họ thiết lập những khu định cư khắp New England.

Thanh giáo định nghĩa một lối viết hay là lối viết có thể giúp con người nhận thức đầy đủ về sự quan trọng của việc thờ phụng Chúa và những hiểm nguy tâm linh mà linh hồn phải đối mặt trên trần thế. Sự thể hiện của văn chương Thanh giáo rất đa dạng – từ những bài thơ siêu hình phức tạp, cho đến những ghi chép trong cuộc sống thông thường và lịch sử tôn giáo mang tính chất câu nệ và áp đặt. Bất luận phong cách thể loại gì, nhưng một số chủ đề vẫn không đổi. Cuộc sống được xem là cuộc thử thách; thất bại sẽ dẫn đến hỏa ngục và án phạt đời đời, thành công mang đến niềm phúc lạc Thiên đàng. Thế gian này là chiến trường của cuộc chiến muôn thưở giữa những thế lực của Thượng đế và thế lực của Satan, một kẻ thù đáng sợ thiên biến vạn hóa. Nhiều tín hữu Thanh giáo náo nức trông chờ cái “Thiên niên kỷ” Chúa Jesus sẽ trở lại trần thế, đặt dấu chấm hết cho sự khổ đau của loài người và khởi đầu một ngàn năm hòa bình thịnh vượng.

Từ lâu các học giả đã chỉ ra mối liên kết giữa Thanh giáo và chủ nghĩa Tư bản: cả hai đều đặt nền tảng trên tham vọng, cần cù và sự phấn đấu không mệt mỏi để đạt đến thành công. Mặc dù mỗi một tín đồ Thanh giáo không thể biết được, nói theo thuật ngữ Thần học nghiêm túc, mình có được “cứu rỗi” và có được ở trong số những người được chọn vào Thiên đàng hay không, họ có khuynh hướng nghĩ rằng những thành công ở trần thế là một trong những điều kiện của sự tuyển chọn đó. Họ tìm kiếm giàu sang và địa vị không chỉ vì cần có chúng mà còn bởi vì chúng được xem như những bảo đảm cho sự lành mạnh tâm linh và những hứa hẹn về một cuộc sống vĩnh cửu.

Hơn nữa, chính quan niệm về một sự cố gắng hết mình đã khích lệ thành công. Tín đồ Thanh giáo lý giải tất cả mọi điều, mọi biến cố như những biểu tượng với ý nghĩa tâm linh sâu sắc, và cảm thấy rằng trong khi cố gắng làm giàu cho mình và cho cộng đồng, họ cũng thực thi tốt hơn những ý muốn của Thượng đế. Họ đã không phân định ranh giới giữa thế giới trần tục và tôn giáo: cả cuộc đời là sự diễn đạt ý muốn thần linh ố một niềm tin về sau lại xuất hiện trong triết học Siêu nghiệm.

Khi ghi lại những biến cố đời thường để bộc bạch ý nghĩa tâm linh, các tác giả Thanh giáo thường trích dẫn Kinh thánh. Lịch sử được hình dung là một toàn cảnh tôn giáo mang tính biểu tượng dẫn đến sự toàn thắng của Thanh giáo và vương quốc của Thượng đế trên trần gian.

Những người thực dân Thanh giáo đầu tiên định cư ở New England đã nêu gương cho sự nghiêm túc của Thiên Chúa giáo cải cách. Được mệnh danh là “Những kẻ Pilgrim”, họ gồm một nhóm nhỏ các tín đồ di cư từ Anh đến Hà Lan – hồi ấy Hà Lan nổi tiếng vì sự dễ dãi với tôn giáo của mình – vào năm 1608, trong thời kỳ khủng bố tôn giáo.

Như hầu hết những người Thanh giáo, những tín đồ Thiên Chúa ở Anh và Hà Lan lý giải Kinh thánh theo nghĩa đen. Họ đọc và hành động theoSecond Book of Corinthians (Tập thư thứ hai gửi tín hữu thành Corinth của Thánh tông đồ Paul) -“Ngươi hãy tách ra khỏi họ và ly cách ngươi, lời của Chúa”. Không còn hy vọng thanh tẩy được Giáo hội Anh giáo từ trong nội bộ, “Những người ly khai” đã thành lập những giáo hội “giao ước” bí mật thề nguyền trung thành với hội nhóm thay vì với vua. Bị xem là những người phản bội hoàng đế cũng như là những kẻ phản đạo buộc phải xuống hỏa ngục, họ thường bị đàn áp. Cuối cùng sự ly khai đã đưa họ đến Tân thế giới.

William Bradford
(1590 – 1657)

Ông được bầu làm Thống đốc Plymouth ở thuộc địa vùng vịnh Massachusetts ngay sau khi những người Ly giáo đến. Ông là người cực kỳ sùng đạo, có tinh thần tự học, biết nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Do Thái cổ, chỉ để “tận mắt nhìn thấy sấm truyền của Thượng Đế trong vẻ đẹp nguyên sơ”. Cuộc di cư sang Hà Lan, rồi cuộc hành trình trên con tàu Mayflower đến Plymouth; cũng như những bổn phận của ông với cương vị thống đốc đã khiến ông trở thành sử gia đầu tiên của thuộc địa này một cách thật thích hợp. Cuốn sử của ông, Of Plymouth Plantation (Đồn điền Plymouth – 1651) là một bản tường trình rõ ràng và mạch lạc về thuở ban đầu của thuộc địa. Những trang ông ghi lại ấn tượng ban đầu của mình khi nhìn thấy châu Mỹ rất nổi tiếng:

Thế là vượt qua đại dương muôn trùng, và vô vàn những bất trắc… giờ đây họ chẳng có bạn bè chào đón, chẳng có một quán trọ để nghỉ ngơi và phục hồi những thân xác bị sóng gió dập vùi; không cửa nhà hay phố xá để dạo chơi hay để tìm sự an ủi… chỉ có những kẻ man rợ… vẻ như sẵn sàng trút lên họ cung tên hơn là thứ gì khác. Và bấy giờ là mùa đông, họ biết rằng mùa đông ở đây còn khắc nghiệt và dữ dội hơn nhiều và phải chịu đựng những cơn bão hung hãn và tàn ác… tất cả đều mang một khuôn mặt sương gió, và khắp nơi là rừng rậm, biểu hiện một sắc màu hoang dã sơ khai.

Bradford cũng ghi lại tư liệu đầu tiên việc tự quản thuộc địa ở Tân thế giới, “Hiệp ước Mayflower” được lập ra ngay khi những người hành hương còn ở trên con tàu. Hiệp ước là một bản nháp cho một bản Tuyên ngôn độc lập xuất hiện một thế kỷ rưỡi sau.

Tín đồ Thanh giáo không tán thành những thú vui trần tục như khiêu vũ và bài bạc mà họ cho rằng luôn đi kèm với đám quý tộc vô đạo và cách sống vô luân. Đọc và viết những loại “nhẹ nhàng” cũng bị xếp vào phạm trù này. Trí óc người Thanh giáo luôn dồn hết mọi năng lượng vào những thể loại phi tiểu thuyết và tôn giáo: thi ca, thuyết giảng, thần học và lịch sử. Nhật ký và suy nghiệm riêng tư của họ ghi lại cuộc sống nội tâm phong phú của những con người sâu sắc hướng nội này.

Anne Bradstreet 
(Khoảng 1612 – 1672)

Tập thơ đầu tiên cũng là cuốn sách đầu tiên ở Mỹ là của một phụ nữ – bà Anne Bradstreet. Cũng chẳng có gì phải ngạc nhiên khi cuốn sách này được xuất bản ở Anh, hẳn nhiên trong những năm tháng sơ khai, các thuộc địa đầu tiên ở châu Mỹ thiếu cơ sở in ấn. Sinh trưởng và được học tập ở Anh, Anne Bradstreet là con gái của một viên quản lý điền trang của một Nam tước. Bà di cư cùng với gia đình năm 18 tuổi. Chồng bà là Thống đốc thuộc địa Vịnh Massachusetts, sau này trở thành thành phố Boston. Bà thích những bài thơ dài của mình về tôn giáo theo những đề tài ước lệ như 4 mùa, nhưng độc giả đương thời thích nhất những bài thơ thông minh giàu chất trí tuệ về những đề tài trong cuộc sống hàng ngày và những bài thơ tràn đầy tình yêu thương nồng nàn bà dành cho chồng con. Thơ ca siêu hình Anh đã tạo cho bà nguồn cảm hứng và cuốn The Tenth Muse Lately Sprung Up in America (Nàng thơ thứ mười xuất hiện muộn màng ở Mỹ) của bà (1650) cho thấy ảnh hưởng của Edmund Spencer, Philip Sidney cũng như các nhà thơ Anh khác. Bà thường sử dụng những câu thơ dí dỏm cầu kỳ và những ẩn dụ có phần cường điệu. Bài thơ To my Dear and Loving Husband (Gửi người chồng thương yêu, quý mến của tôi -1650) dùng những hình tượng phương Đông, đề tài tình yêu và một thủ pháp so sánh phổ biến ở châu Âu thời đó, nhưng bà đã khoác cho chúng một ý nghĩa tôn giáo ở đoạn cuối.

Nếu có bao giờ hai người là một, thì chắc sẽ là đôi ta
Nếu có bao giờ người chồng được vợ yêu thương, thì đấy là anh
Nếu có bao giờ người vợ hạnh phúc với bạn đời
Hãy so sánh với em, những người phụ nữ của anh, nếu được
Tình yêu của anh quý hơn cả mỏ vàng mỏ bạc
Hơn tất cả châu báu ở phương Đông
Tình yêu của em là điều mà mọi dòng sông không thể nhận chìm
Cũng chẳng gì bù đắp được, ngoại trừ tấm tình anh
Tình yêu của anh là điều em không thể đền đáp được
Em cầu trời cao ban phước lành cho anh vạn bội
Để trong cuộc đời này tình yêu luôn ở lại
Và cả khi ta không tồn tại nữa, ta vẫn sống bên nhau đến muôn đời.

Edward Taylor 
(Khoảng 1644 – 1729)

Cũng như Anne Bradstreet, và hẳn nhiên, như tất cả những tác giả đầu tiên của New England, nhà thơ mục sư năng nổ, tài hoa, Edward Taylor sinh ở Anh. Là con trai của một tiểu nông -một nông dân độc lập sở hữu ruộng đất riêng – Taylor, một thầy giáo thà di cư đến New England vào năm 1668 còn hơn là giữ lời thề trung thành với Giáo hội Anh Giáo. Ông học ở đại học Harvard. Như hầu hết các mục sư được đào tạo ở Harvard, ông biết tiếng Hy Lạp, Latin và Do Thái cổ. Là một người vị tha và sùng đạo, Taylor đã hoạt động như một nhà truyền giáo giữa đám dân định cư khi ông chấp nhận sứ mệnh mục sư trọn đời ở thị trấn biên giới Westfield, Massachusetts, đi sâu vào vùng rừng rậm hoang vu đến 160km nữa. Taylor là người có học nhất trong vùng, và ông đã sử dụng kiến thức của mình một cách hữu ích với cương vị một mục sư, một bác sĩ và một nhà lãnh đạo thị trấn.

Khiêm tốn, sùng đạo và làm việc hết mình, Taylor chưa bao giờ xuất bản thơ mình. Thơ ông chỉ được phát hiện vào thập niên 30 thế kỷ 20. Chắc chắn, ông đã thấy sự khám phá ra tác phẩm của mình như là điều thuận theo ý Chúa. Còn độc giả ngày nay rất cám ơn vì đã có được những bài thơ của ông -những bài thơ hay nhất của thi ca thế kỷ 17 ở Bắc Mỹ.

Sáng tác của Taylor thật phong phú: điếu văn trong lễ tang, khúc bi ca, một cuộc “bàn luận” trung cổ, và một cuốn sách dày 500 trang Metrical History of Christianity (chủ yếu là một cuốn sử về những vị thánh tử vì đạo). Những tác phẩm hay nhất của ông, theo các nhà phê bình ngày nay, là hàng loạt những chiêm nghiệm.

Michael Wigglesworth 
(1631 – 1705)

Michael Wigglesworth, một mục sư Thanh giáo cũng giống như Taylor, sinh trưởng ở Anh và được đào tạo ở Harvard, hành nghề y, là nhà thơ nổi bật thứ ba của thuộc địa New England. Ông tiếp tục những chủ đề Thanh giáo trong tác phẩm nổi tiếng nhất của mình: The Day Of Doom (Ngày tận thế – 1662). Một truyện thơ dài thường rơi vào thể loại vè nhàm chán, tính phổ cập đáng sợ này của chủ thuyết Calvin([3]) là bài thơ phổ biến nhất của thời thuộc địa. Tác phẩm bán chạy nhất đầu tiên ở Mỹ này là hình ảnh đáng sợ về hình phạt địa ngục được làm theo thể thơ ballad.

Đó là một thứ thi ca khủng khiếp – nhưng lại được mọi người yêu thích. Nó gắn kết sự quyến rũ của một câu chuyện kinh dị với quyền lực của John Calvin. Trong hơn hai thế kỷ, người ta thuộc lòng tác phẩm dài hơi và rùng rợn về nỗi kinh hoàng tôn giáo này. Trẻ con tự hào ngâm nga nó, người lớn trích dẫn nó trong giao tiếp hằng ngày. Từ những hình phạt khủng khiếp trong bài thơ này đến vết thương đáng sợ tự gây cho mình của vị mục sư Thanh giáo tội lỗi – Arthur Dimmesdale, trong The Scarlet Letter (Chữ A màu đỏ – 1850) của Nathaniel Hawthorne hay đến viên thuyền trưởng Ahab tật nguyền của Herman Melville, một Faust([4]) của New England mà vì sự kiếm tìm tri thức bị ngăn cấm của mình đã làm đắm con tàu nhân bản Mỹ trong Moby-Dick (Cá voi trắng – 1851) cũng chẳng phải một bước nhảy xa xôi gì (Moby-Dick là cuốn tiểu thuyết yêu thích của William Faukner, nhà văn của thế kỷ 20, tác giả của những cuốn tiểu thuyết sâu sắc có sức chấn động dữ dội dự báo rằng cái nhìn siêu hình, tăm tối của nước Mỹ Tin lành vẫn lẩn quất đâu đây).

Như hầu hết nền văn học thuộc địa, những bài thơ của New England buổi đầu đã bắt chước hình thức và kỹ thuật của Mẫu quốc, dù niềm say mê tôn giáo và sự ảnh hưởng Kinh thánh sâu đậm, cũng như bối cảnh mới, tạo cho văn học New England một diện mạo đặc biệt. Những tác giả của Tân thế giới bị cô lập lại sống trong thời kỳ trước khi có sự xuất hiện của những phương tiện vận chuyển và truyền thông điện tử nhanh chóng. Kết quả là những tác giả thuộc địa đã bắt chước một lối viết đã lỗi thời ở nước Anh: Edward Taylor, nhà thơ Mỹ hay nhất vào thời ông đã viết thơ siêu hình sau khi thể loại thơ này trở thành lỗi thời ở Anh. Tuy vậy, cũng có những tác phẩm có giá trị, thể hiện cá tính sáng tạo nổi bật vượt khỏi sự cô lập của thuộc địa.

Những tác giả thuộc địa dường như không biết đến những tác giả Anh tên tuổi như Ben Johnson. Vài người còn chối bỏ các thi sĩ Anh thuộc trường phái khác, do đó đã tách mình khỏi những khuôn mẫu lãng mạn và kịch tính thuần túy nhất mà tiếng Anh đã sản sinh được. Một nguyên nhân nữa khiến nhiều nhà văn thuộc địa không có đủ thông tin là do thiếu sách.

Khuôn mẫu vĩ đại cho cách viết, niềm tin và cách sống lại là Kinh thánh, mà bản dịch tiếng Anh được chuẩn y, thì đã lỗi thời ngay khi vừa xuất bản. Tuổi của Kinh thánh còn già cỗi hơn cả nhà thờ La Mã, chỉ điều đó thôi đã làm cho Kinh thánh trở nên có quyền lực hơn dưới mắt những người Thanh giáo.

Những người Thanh giáo ở New England bám vào các truyền thuyết về dân Do Thái trong Cựu Ước, tin rằng họ, cũng như những người Do Thái, bị ngược đãi vì niềm tin của mình, rằng họ biết được một Thượng đế thật sự, và rằng họ là những người được chọn để thiết lập Jerusalem mới – một Thiên đàng ở trần gian. Người Thanh giáo cũng ý thức được sự tương đồng giữa họ và người Do Thái cổ trong Cựu Ước. Moses đã dẫn dắt dân Israel ra khỏi vòng kiềm giữ của người Ai Cập, với sự giúp đỡ của Thượng đế dùng phép màu tách Biển Đỏ để có thể dắt đoàn người thoát, và cuối cùng nhận được bộ luật thiêng liêng dưới hình thức Mười điều răn. Tương tự Moses, những người lãnh đạo Thanh giáo cảm thấy mình đang cứu dân ra khỏi sự suy đồi tâm linh ở Anh, vượt qua biển dữ một cách kỳ diệu với sự hỗ trợ của Thượng đế, và tạo lập những luật lệ và hình thức chính quyền mới theo ý Chúa.

Những mảnh đất thuộc địa có khuynh hướng hoài cổ, và New England chắc hẳn không phải là ngoại lệ. Những người Thanh giáo ở New England nệ cổ là do cách chọn lựa, niềm tin và tình cảnh của họ.

Samuel Sewall 
(1652 – 1730)

Dễ đọc hơn loại thơ ca đậm màu sắc tôn giáo đầy những trích dẫn Kinh thánh là những bài viết về lịch sử và thế tục, kể lại những sự kiện có thật, sử dụng những tình tiết sống động. Tác phẩm Journal (Nhật ký – 1790) của Thống đốc John Winthrop cung cấp thông tin đáng tin cậy về những ngày đầu của Thuộc địa Vịnh Massachusetts và lý thuyết chính trị Thanh giáo.

Tác phẩm Diary (Nhật ký) của Samuel Sewall, ghi lại những sự kiện từ năm 1674 đến 1729, rất sống động và dấn thân. Sewall thích hợp với phong cách của những tác giả New England buổi đầu mà chúng ta gặp ở Bradford và Taylor. Sinh ở Anh, Sewall được đưa sang thuộc địa từ lúc còn nhỏ. Ông cư ngụ ở vùng Boston, nơi ông tốt nghiệp Harvard, và tạo được sự nghiệp trong lãnh vực luật, hành chính và tôn giáo.

Nhờ sinh sau đẻ muộn, Sewall may mắn được chứng kiến sự thay đổi từ đời sống tôn giáo khắc khổ buổi đầu của tín đồ Thanh giáo đến sau này, bước sang thời kỳ dân Bắc Mỹ buôn bán thịnh vượng hơn ở những thuộc địa New England. Nhật ký của ông, thường được so sánh với nhật ký của một người Anh cùng thời – Samuel Pepys – cũng ngẫu nhiên ghi lại giai đoạn giao thời.

Giống nhật ký của Pepys, nhật ký của Sewall cũng ghi chép tỉ mỉ về đời sống thường nhật của ông, phản ánh những mối bận tâm của ông về cách sống thánh thiện và tốt đẹp. Ông kể lại những chuyện nho nhỏ như mua kẹo tặng một phụ nữ mà ông yêu, cuộc tranh luận giữa họ về việc ông có nên có phong cách quý tộc và sống phù phiếm như mang tóc giả và đi xe sang trọng hay không…

Mary Rowlandson
(Khoảng 1635 đến khoảng 1678)

Là vợ của một luật sư, bà là người viết văn xuôi đầu tiên gây được sự chú ý. Bà đã kể lại một cách rõ ràng, cảm động mười một tuần bị người Da đỏ bắt giữ trong một cuộc tàn sát người Da đỏ năm 1676. Cuốn sách, cố nhiên đã thêm dầu vào ngọn lửa tinh thần chống đối người Da đỏ, như trong cuốn The Redeemed Captive (Tù binh được chuộc mạng 1707) của John William mô tả hai năm bị người Pháp và người Da đỏ bắt giam sau một cuộc thảm sát. Những tác phẩm do phụ nữ sáng tác thường là những câu chuyện kể về đời sống gia đình. Có thể cho rằng văn chương phái nữ hưởng lợi thế từ thế giới hiện thực ấm cúng của gia đình và sự tinh tế do kinh nghiệm sống; chắc chắn những tác phẩm như cuốn Journal (Nhật ký) rất sinh động của Sarah Kemble Knight (xuất bản năm 1825 sau khi bà mất) kể về chuyến đi đơn độc gan dạ năm 1704 từ Boston đến New York và trở về đã thoát ra khỏi sự rối rắm màu mè của lối viết mang phong cách Thanh giáo.

Cotton Mather
(1663 – 1728)

Không một biên khảo nào về văn học thuộc địa New England được gọi là đầy đủ mà không nhắc đến nhà giáo mẫu mực Cotton Mather. Là thế hệ thứ ba trong bốn thế hệ của dòng họ Mather ở Vịnh Massachusetts, ông viết thật tỉ mỉ về New England trong hơn 500 cuốn sách lớn và nhỏ. Cuốn ông viết vào năm 1702 Magnalia Christi Americana (Ecclesiastical History of New England -Lịch sử Giáo hội Cơ đốc ở New England) là tác phẩm thành công nhất của ông, một cuốn biên niên sử toàn diện về công cuộc định cư ở New England thông qua một loạt tiểu sử. Cuốn sách vĩ đại này kể về những cuộc chinh phục thiêng liêng vào những miền đất hoang dã của tín đồ Thanh giáo để thiết lập nên một đất nước của Chúa Trời. Cuốn sách được cấu trúc từ một chuỗi chuyện kể về cuộc đời của các vị thánh Mỹ tiêu biểu.

Nhiệt tâm của ông đã bù đắp một phần nào sự khoa trương trong văn chương của ông: “Tôi viết về những nhiệm màu của đạo Thiên Chúa, bay đi từ những tước đoạt ở châu Âu để đến bến bờ đại dương châu Mỹ”.

Roger Williams 
(khoảng 1603 – 1683)

Suốt từ thế kỷ 17 kéo sang thế kỷ 18, chủ nghĩa giáo điều đã từng bước suy tàn, mặc cho những cố gắng dữ dội và thất thường của người Thanh giáo nhằm cản trở tinh thần khoan dung tôn giáo. Mục sư Roger Williams đã phải đau khổ vì quan điểm riêng của mình về tôn giáo. Là con trai một người thợ may sinh trưởng ở Anh, ông bị trục xuất khỏi Massachusetts giữa mùa đông khắc nghiệt ở New England năm 1635. Được Thống đốc bang Massachusetts John Winthrop bí mật giúp đỡ, ông đã sống sót trong cuộc sống chung với người Da đỏ. Vào năm 1636, ông lập một thuộc địa mới ở Rhode Island, chào đón người dân thuộc mọi tôn giáo.

Dù là một người học vấn cao đã tốt nghiệp đại học Cambridge (Anh quốc), Roger Williams có niềm cảm thông sâu xa với người lao động và với cả những người có quan điểm trái ngược. Tư tưởng của ông đã đi trước thời đại. Ông sớm nhận ra mặt trái của chủ nghĩa đế quốc, duy trì quan điểm rằng những vị vua chúa châu Âu không có quyền ban phát đất đai bởi vì đất Mỹ thuộc về người Da đỏ. Williams cũng tin tưởng vào sự phân lập giữa giáo hội và nhà nước, cho đến nay vẫn còn là một nguyên tắc cơ bản ở Mỹ. Ông cho rằng Tòa án không có quyền trừng phạt người dân vì lý do tôn giáo – một quan điểm làm suy yếu chế độ thần quyền New England. Là người tin tưởng vào quyền bình đẳng và dân chủ, ông là người bạn trung thành của dân Da đỏ. Williams viết nhiều sách, trong đó có một cuốn dạy hội thoại bằng ngôn ngữ người Da đỏ: A Key Into the Languages of America (Chiếc chìa khóa bước vào kho tàng ngôn ngữ ở châu Mỹ -1643). Cuốn sách cũng là một công trình dân tộc học phôi thai, đưa ra những mô tả sắc nét về đời sống của người Da đỏ trong thời gian ông sống với các bộ lạc Da đỏ. Mỗi chương dành cho một chủ đề – ví dụ, ẩm thực và bữa ăn. Những từ và nhóm từ của người Da đỏ về các đề tài này được pha trộn với những lời bình, giai thoại và một bài thơ kết luận. Đây là bài thơ kết của chương đầu tiên:

Nếu những cháu con của Tự nhiên
Dù sơ khai hay đã sống văn minh
Đều lịch thiệp và giàu lòng nhân ái 
Thì tại sao chính những đứa con Ngài
Lại cần sống trong tình đồng loại

Trong một chương về những từ ngữ thuộc lĩnh vực vui chơi giải trí, ông bình luận rằng “có một sự thật lạ lùng là người ta thường tìm được sự nghỉ ngơi và giải trí tự do ở những người bán khai hơn là ở giữa những người tự cho mình là người Thiên Chúa giáo”.

Cuộc đời của Williams đầy những ngẫu hứng độc đáo. Trong một chuyến viếng thăm nước Anh vào thời gian ở đây diễn ra cuộc nội chiến đẫm máu, ông đã liều cả mạng sống của mình trong cái lạnh khủng khiếp ở New England để tổ chức việc cung cấp chất đốt cho những người nghèo ở London trong mùa đông, sau khi nguồn cung cấp than của họ đã bị cắt đứt. Ông cũng đã viết những lời bào chữa sống động cho sự khoan dung tôn giáo, không những chỉ cho những người thuộc giáo phái Thiên Chúa giáo mà còn cho cả những người không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo. Ông đã viết trong cuốn The Bloudy Tenent of Persecution for Cause of Conscience – 1644([5]) rằng: “Đây chính là ý nguyện và mệnh lệnh của Thượng đế… rằng lương tâm và tín ngưỡng cho dù mang tính chất Do Thái, Thổ Nhĩ Kỳ, vô thần hay phản Thiên Chúa giáo nhất, cũng được ban phát cho mọi người, ở mọi quốc gia…”. Không nghi ngờ gì nữa, chính thời gian sống hòa hợp với các bộ lạc Da đỏ hào hiệp và đầy tình người đã góp một phần lớn vào sự thông tuệ của ông.

Sự ảnh hưởng trong các thuộc địa đã diễn ra theo hai hướng. Ví dụ, John Eliot dịch Kinh thánh ra tiếng Narragansett. Trong khi nhiều người Da đỏ lại theo đạo Thiên Chúa. Cho đến ngày nay, giáo hội Mỹ bản địa là một sự kết hợp giữa Thiên Chúa giáo và tín ngưỡng truyền thống của người Da đỏ.

Tinh thần khoan dung và tự do tôn giáo dần phát triển và lớn mạnh ở những thuộc địa Mỹ đầu tiên được thiết lập ở Rhode Island và Pennsylvania, quê hương của giáo phái Quaker([6]) khoan dung, hay được biết đến dưới cái tên “Những người anh em”. Họ tin vào sự thánh thiện của lương tâm mỗi con người như là cội nguồn của trật tự và đạo lý xã hội. Niềm tin cơ bản của giáo phái Quaker vào tình yêu dành cho muôn loài và tình đồng loại đã khiến họ có tinh thần dân chủ sâu sắc và chống lại quyền bính tôn giáo giáo điều. Bị khai trừ ra khỏi Massachusetts hà khắc vì xứ này e sợ ảnh hưởng của họ, họ đã lập nên thuộc địa Pennsylvania rất thành công, đặt dưới sự lãnh đạo của Williams Penn vào năm 1681.

John Woolman
(1720 – 1772)

Tác phẩm Quaker nổi tiếng nhất là cuốn tiểu thuyết dài hơi Journal (Nhật ký – 1774) của John Woolman, ghi chép cuộc sống tinh thần của mình bằng giọng văn chân thành, trong sáng, ngọt ngào được nhiều tác giả Mỹ và Anh khen ngợi. Con người phi thường này từ bỏ căn nhà tiện nghi ở thành phố để lang thang đó đây cùng với những người Da đỏ trong các vùng đất hoang dã vì ông nghĩ rằng ông có thể học hỏi ở họ và chia sẻ ý tưởng với họ. Ông lý giải một cách giản đơn về đam mê của mình, muốn “cảm nhận và hiểu cuộc đời của họ cũng như đời sống tinh thần của họ”. Tinh thần yêu-công- lý của Woolman hẳn nhiên mang tính phê phán xã hội: “Tôi thấy nhiều người Da trắng bán rượu Rhum cho người Da đỏ và tôi tin đó là một tội lớn”.

Woolman cũng là một trong những tác giả đầu tiên chống chế độ nô lệ, bằng việc xuất bản hai tiểu luận Some Considerations on the Keeping of Negroes (Vài nhận định về việc bắt giữ người Da đen) năm 1754 và 1762. Là một nhà văn nhân bản đầy nhiệt huyết, ông đã đi theo con đường “thụ động vâng lời” đối với các nhà cầm quyền và luật pháp mà ông cho là bất công. Tác phẩm của ông dự báo sự ra đời nhiều tiểu luận nổi tiếng của Henry David Thoreau ở các thế hệ sau tác phẩm Civil Disobedience (Sự bất tuân dân sự – 1849).

Jonathan Edwards 
(1703 – 1758)

Người chống lại các luận điểm của John Woolman là Jonathan Edwards, chỉ sinh ra trước tác giả Quaker kia có 17 năm. Woolman không được học tập một cách chính quy trong khi Edwards có học vấn cao. Woolman đi theo ánh sáng nội tâm mình; Edwards hiến mình cho luật pháp và quyền hành. Cả hai là những tác giả xuất sắc, nhưng họ là hai thái cực trong kinh nghiệm về tôn giáo ở thuộc địa.

Chính môi trường Thanh giáo hà khắc và ý thức trách nhiệm cao đã hun đúc nên Edwards, và hai yếu tố này kết hợp để khiến ông đứng ra bảo vệ cho học thuyết Calvin khắc nghiệt và u ám chống lại chủ thuyết tự do bấy giờ đang dấy lên đầy sức sống chung quanh ông. Edwards trở nên nổi tiếng bởi bài thuyết giảng đầy sức mạnh và gieo rắc nỗi kinh hoàng Sinners in the Hands of an Angry God (Những kẻ phạm tội trong bàn tay của một Thượng đế đang phẫn nộ – 1741). “Nếu Chúa buông ra, các ngươi sẽ lập tức chìm xuống, rơi xuống vực sâu của tội lỗi, và đắm chìm trong cái vực sâu vô tận ấy… Chính Chúa đã treo các ngươi trên miệng hỏa ngục như người ta đưa một con nhện hay một con côn trùng kinh tởm nào đó trên ngọn lửa. Ngài ghê tởm các ngươi và Ngài đang bị 27 khiêu khích dữ dội. Ngài nhìn các ngươi như thể các ngươi chẳng đáng gì ngoài việc bị ném xuống vực sâu không đáy ấy”.

Những bài thuyết giảng của Edwards có sức tác động ghê gớm, làm cho cả cộng đồng giáo dân kinh động. Mặc dầu vậy, cuối cùng sự cứng rắn đến mức quái đản của chủ thuyết Calvin mà Edwards dũng cảm bảo vệ đã khiến mọi người phải xa lánh. Những bài giảng giáo điều kiểu trung cổ của Edwards không còn phù hợp với những kinh nghiệm sống của người dân thuộc địa về thế kỷ 18 tương đối thịnh vượng, an bình. Sau Edwards, những khuynh hướng khoan dung tự do, mới mẻ của chủ nghĩa nhân văn ngày càng lớn mạnh.

VĂN HỌC Ở CÁC THUỘC ĐỊA MIỀN NAM VÀ MIỀN TRUNG

Trước Cách mạng, văn học miền Nam mang tính quý tộc và thế tục, phản ánh chế độ kinh tế và xã hội thống trị của những trang trại miền Nam. Những di dân Anh đầu tiên kéo đến những thuộc địa phía Nam vì cơ may kinh tế hơn là vì tự do tôn giáo.

Mặc dầu nhiều người miền Nam là nông dân nghèo hoặc là những người buôn bán nhỏ, sống không khá hơn dân nô lệ là mấy; nhưng giai cấp thượng lưu, trí thức miền Nam được nuôi dưỡng bởi khuôn mẫu lý tưởng của Cựu lục địa về giới quý tộc nắm trong tay đất đai do chế độ nô lệ tạo dựng. Chính thể chế này đã giải phóng những người Da trắng miền Nam giàu có thoát khỏi lao động chân tay, đồng thời mang lại cho họ thú vui và làm cho niềm ước mơ về một cuộc sống quý phái ở châu Mỹ nguyên sơ thành hiện thực.

Những điều mà Thanh giáo đề cao như sự cần cù, học vấn, và lòng nhiệt tình, nghiêm túc đã trở nên hiếm hoi -thay vào đó chúng ta thường nghe nói đến những thú vui quý phái như cưỡi ngựa và săn bắn. Nhà thờ là tâm điểm của đời sống xã hội thanh lịch, chứ không phải là diễn đàn cho sự tự vấn lương tâm một cách kỹ càng.

William Byrd
(1674 – 1744)

Văn hóa phương Nam tự nhiên xoay quanh lý tưởng về con người lịch lãm: Con người thời Phục hưng vừa giỏi quản lý trang trại vừa đọc được sách tiếng Hy Lạp cổ, con người ấy có quyền hành của một lãnh chúa thời phong kiến.

William Byrd đã mô tả lối sống sang trọng, lịch duyệt ở trang trại mình, Westover, trong bức thư nổi tiếng năm 1726 gửi cho một người bạn Anh, Charles Boyle, bá tước xứ Orrery như sau:

Bên cạnh lợi thế về không khí trong lành, chúng tôi còn có đủ các vật dụng dự trữ mà không cần phải tiêu pha tốn kém (tôi muốn nói chúng tôi có nhiều trang trại). Gia đình riêng của tôi rất đông người, và cánh cửa nhà tôi luôn rộng mở đón mọi người, mà tôi chả mấy khi phải tiêu tiền; và cái đồng bạc nửa crown([7]) cứ ngủ yên trong túi của tôi hàng mấy tháng trời.

Như một tộc trưởng, tôi có hàng đàn gia súc và đám đông nô lệ, đàn ông có, đàn bà có. Đám đầy tớ của tôi rất thạo công việc. Tôi sống độc lập với mọi người, ngoại trừ với Đấng Tối cao.

William Byrd tiêu biểu cho tinh thần của giai cấp thượng lưu thuộc địa miền Nam. Thừa kế 1040 mẫu đất, rồi nhân lên thành 7160 mẫu, ông vừa là nhà buôn, nhà ngoại thương vừa là chủ trại. Thư viện với 3.600 cuốn sách của ông lớn nhất miền Nam. Bẩm sinh thông minh lanh lợi, ông được cha mẹ gửi tới học tại các trường tốt nhất ở Anh và Hà Lan để phát triển tài năng. Ông từng đến thăm Cung đình Pháp, trở thành thân hữu của hoàng tộc, và kết bạn thân thiết với nhiều học giả Anh hàng đầu cùng thời với ông, đặc biệt là William Wycherley và William Congreve. Những trang nhật ký của ông về London ngược hẳn với những ghi chép của người Thanh giáo ở New England, đầy những bữa tiệc xa hoa, những dạ hội rực rỡ, rồi chuyện tán tỉnh phụ nữ và rất ít những đoạn suy ngẫm nội tâm.

Ngày nay Byrd rất nổi tiếng với cuốn History of the Dividing Line (Lịch sử một đường phân chia ranh giới), một nhật ký sống động ghi lại cuộc hành trình dài 960 kilômet đi sâu vào nội địa để khảo sát đường phân chia giữa các thuộc địa láng giềng Virginia và Bắc Carolina vào năm 1729. Những ấn tượng sống động của ông về những vùng đất hoang dã mênh mông, người Da đỏ, người Da trắng bán khai, thú hoang, và cơ man những khó khăn xảy đến cho con người lịch lãm văn minh này đã làm nên một cuốn sách mang bản sắc Mỹ độc đáo và đậm đà khí chất miền Nam. Ông chế giễu đám thực dân đầu tiên ở Virginia, “khoảng một trăm gã đàn ông, hầu hết là những kẻ trụy lạc xuất thân từ những gia đình gia giáo” và đùa rằng ở Jamestown, “như người Anh thật sự, họ xây một cái nhà thờ chỉ tốn không hơn 50 bảng, và một cái quán rượu với giá 500 bảng”. Tác phẩm của Byrd là những ví dụ sắc sảo về sự quan tâm sâu sắc của người miền Nam về một thế giới cụ thể: đất đai, người Da đỏ, cây cỏ, muông thú và những người định cư.

Robert Beverley
(khoảng 1673 – 1722)

Robert Beverley là một trại chủ giàu có khác và là tác giả cuốn The History and Present State of Virginia (Lịch sử và tình trạng hiện thời của bang Virginia – 1705, 1722) ghi lại lịch sử của thuộc địa Virginia theo phong cách đầy nhân bản và mạnh mẽ. Cũng như Byrd, ông ngưỡng mộ người Da đỏ và chú ý đến những quan niệm mê tín khá lạ lùng của châu Âu về Virginia – ví dụ, có niềm tin “rằng vùng đất này biến mọi người đến đó thành đen”. Ông cũng ghi nhận lòng hiếu khách vô biên của người miền Nam, một tính cách nổi bật còn duy trì cho đến ngày nay.

Loại văn châm biếm trào phúng -một thể loại văn học đả kích, chế giễu những thói hư tật xấu và sự ngu xuẩn của con người thông qua sự mỉa mai, chế nhạo hoặc là sự hóm hỉnh là thể loại quen thuộc ở thuộc địa miền Nam. Một nhóm người định cư ưa gây gổ viết bài đả kích người sáng lập ra tổ chức từ thiện ở bang Georgia, tướng James Oglethorpe, trong một tập sách mỏng tựa đề A True and Historical Narrative of the Colony of Georgia (Chuyện kể lịch sử và chân thực về thuộc địa Georgia – 1741). Họ giả vờ khen ngợi ông vì ông đã khiến họ nghèo đói và lao động quá sức đến nỗi họ phải phát huy “đức tính khiêm tốn vô giá” và trốn chạy “những lo toan cho bất kỳ một tham vọng xa xôi nào”.

Bài thơ châm biếm rất thẳng thừng có tên “The Sotweed Factor” đả kích thuộc địa Maryland, nơi tác giả, một người Anh tên Ebenezer Cook, đã thử thời vận buôn thuốc lá nhưng không thành. Cook phơi bày những cung cách làm ăn thô bạo, trần trụi của thuộc địa với tinh thần trào lộng sâu sắc, và tố cáo những người dân thuộc địa lường gạt ông ta. Bài thơ kết thúc bằng một lời nguyền rủa cường điệu: “Cầu xin cơn giận dữ linh thiêng làm cho vùng đất này hoang tàn. Vùng đất không có người đàn ông trung thành, cũng như không có người đàn bà tiết hạnh”.

Nhìn chung, văn học thuộc địa miền Nam có thể nói là có mối liên hệ phần nào với truyền thống văn học hiện thực, gần gũi với cuộc sống, mang tính phổ quát và chứa nhiều thông tin. Bắt chước những trào lưu văn học Anh, người miền Nam thể hiện trí tưởng tượng phong phú trong sự quan sát sắc sảo và thông minh, chính xác những điều kiện sống đặc thù của Tân thế giới.

Olaudah Equiano (Gustavus Vassa) 
(khoảng 1745 – khoảng 1797)

Hai tác giả Da đen có tầm quan trọng và nổi bật trong thời kỳ thuộc địa là Olaudah Equiano và Jupiter Hammon. Equiano, một người Ibo đến từ Niger (Tây Phi), là người Da đen đầu tiên ở Mỹ viết một tiểu sử tự thuật mang tênThe Interesting Narrative of the Life of Olaudah Equiano, or Gustavus Vassa, the African (Tự thuật thú vị về cuộc đời của Olaudah Equiano hay Gustavus Vassa, người châu Phi – 1789). Cuốn sách là ví dụ đầu tiên của thể loại truyện kể về người nô lệ trong đó Equiano kể về mảnh đất quê hương mình, những nỗi hãi hùng và sự tàn ác mà ông phải chịu đựng trong thời gian ông bị cầm giữ và làm nô lệ ở West Indies([8]). Equiano đã cải giáo theo đạo Thiên Chúa, than vãn một cách đầy xúc động về cách đối xử “phi Thiên Chúa giáo” của những người Thiên Chúa giáo đối với mình – một cảm xúc mà nhiều người Mỹ – Phi châu sẽ lên tiếng tố cáo trong những thế kỷ tiếp theo.

Jupiter Hammon
(khoảng 1720 – khoảng 1800)

Nhà thơ Mỹ Da den này là nô lệ ở Long Island, New York. Ông được nhớ đến nhờ những bài thơ tôn giáo của mình cũng như nhờ tác phẩm An Address to the Negroes of the State of New York (Nói với người Da đen ở bang New York 1787), trong đó ông kêu gọi giải phóng con cái của người nô lệ thay vì kết án chúng phải làm nô lệ truyền kiếp. Bài thơ “An Evening Thought” (Suy tư buổi chiều hôm) của ông là bài thơ đầu tiên của một người đàn ông da đen được xuất bản ở Mỹ.

[1] Nguyên văn Epistola (tiếng Tây Ban Nha) có nghĩa là thư từ.

[2] Thời đó người ta tin rằng trái đất có hình cái điã.

[3] Calvin: John Calvin (1509-1564), nhà lãnh tự cải cách đạo Tin lành, người Pháp, chủ thuyết do ông khởi xướng và các học trò của ông noi theo được gọi là chủ nghĩa Calvin (Calvinism) có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống văn hóa và tôn giáo ở các nước phương Tây.

[4] Faust: tên nhân vật chính trong tác phẩm cùng tên của Goeth – thi sĩ vĩ đại người Đức.

[5] Tác phẩm này, cũng như một vài quyển sách khác chúng tôi chưa có đủ dữ kiện để dịch tựa sách ra tiếng Việt, xin cáo lỗi cùng bạn đọc.

[6] Quaker: là một giáo phái Thiên Chúa tôn thờ Chúa Jesus, từ chối những nghi thức trịnh trọng, giáo điều và có những hoạt động phản đối chiến tranh và bạo lực.

[7] Đồng crown trị giá 5 shilling (bảng Anh), đồng nửa crown là 2,5 shilling.

[8] West Indies: các đảo Tây Ấn, bao quanh biển Caribbean.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_amliterature_i.html

You Might Also Like